ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ LAN KHÁC BIỆT GIỚI TRONG NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG THAM VẤN TÂM LÝ VỚI NHÓM KHÁCH HÀNG CỦA TRUNG TÂM TƯ V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LAN
KHÁC BIỆT GIỚI TRONG NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG THAM VẤN TÂM LÝ VỚI NHÓM
KHÁCH HÀNG CỦA TRUNG TÂM TƯ VẤN
LINH TÂM -CSAGA
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Xã hội học
Hà Nội-2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LAN
KHÁC BIỆT GIỚI TRONG NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG THAM VẤN TÂM LÝ VỚI NHÓM
KHÁCH HÀNG CỦA TRUNG TÂM TƯ VẤN
LINH TÂM - CSAGA
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Vân Hạnh
Hà Nội-2013
Trang 39.Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
Trang 41.2.2 Lý luận về tham vấn tâm lý 22
CHƯƠNG 2: NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG THAM VẤN TÂM LÝ CỦA NHÓM
KHÁCH HÀNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ THAM VẤN TÂM LÝ TẠI TRUNG TÂM
2.1 Nhu cầu tham vấn tâm lý của nhóm khách hàng tiếp cận dịch vụ tham vấn tâm
2.1.2 Khác biệt giới trong nhu cầu tham vấn 40 2.2 Thực trạng tham vấn tâm lý của nhóm khách hàng đã thực hiện tham vấn tâm
2.2.2.1 Các nội dung trong chủ đề sức khỏe sinh sản 56 2.2.2.2 Các nội dung trong chủ đề tình yêu – hôn nhân – gia đình 64
Trang 5Bảng 2.5: Cơ cấu giới tính trong các mốc thời lƣợng tham vấn
Bảng 2.6: Mối liên hệ giữa giới tính và loại hình tham vấn
Biều đồ 2.1: Các chủ đề tham vấn của nhóm khách hàng tại trung tâm tƣ vấn Linh Tâm Biều đồ 2.2: Cơ cấu giới tính trong nhóm khách hàng thực hiện tham vấn tâm lý tại trung tâm Linh Tâm
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu độ tuổi của nhóm khách hàng thực hiện tham vấn tâm lý tại trung tâm Linh Tâm
Biều đồ 2.4: Cơ cấu vùng miền cƣ trú của đối tƣợng tham vấn
Biểu đồ 2.5: Nội dung tham vấn trong chủ đề sức khỏe sinh sản
Biểu đồ 2.6: Nội dung tham vấn trong chủ đề tình yêu – hôn nhân – gia đình
Biều đồ 2 7: Cơ cấu giới tính trong chủ đề nuôi dạy con cái
Biểu đồ 2.8: Cơ cấu giới tính trong chủ đề kỹ năng sống
Biều đồ 2.9: Tần suất thời lƣợng tham vấn của các ca tham vấn tâm lý
Biểu đồ 2.10: Mối liên hệ giữa thời lƣợng tham vấn và nội dung tham vấn
Trang 6"Tham vấn tâm lý là một trào lưu xã hội và ở những nước công nghiệp có nhịp sống và làm việc căng thẳng dễ gây stress, nghề này luôn được chú trọng Đặt trong bối cảnh phát triển xã hội Việt Nam hiện nay, tốc độ phát triển xã hội nhanh nhưng khôngbền vững, tồn đọng nhiều vấn đề xã hội thì áp lực cuộc sống nhất là ở các thành phố lớn đè nặng lên mỗi cá nhân rất nhiều thì tầm quan trọng của tham vấn tâm lý càng thấy rõ rệt và người dân đã bắt đầu quen với các hoạt động tham vấn tâm lý" ( PGS.TSTrần Thị Minh Đức )
Xét về góc độ lý thuyết bản chất và vai trò của giới tính trong đời sống con người thì trong mỗi hoạt động xã hội đều có sự khác biệt giới nhất định do bản chất và vai trò giới tính của mỗi giới quy định Chính sự khác biệt về các đặc
Trang 7trưng giới tính mà vai trò giới hình thành ở mỗi giới khác nhau trong tổng thể các mối quan hệ, các hoạt động xã hội có sự có mặt của họ
Tham vấn tâm lýlà một hoạt động xã hội mà ở đó thể hiện rõ nét nhất, thực tế nhất những vấn đề xã hội mà mỗi giới gặp phải Tuy nhiên những nghiên cứu về giới, nhất là sự khác biệt giớitrong hoạt động này còn ít được nhiều người quan tâm đến
Trong hoạt động tham vấn tâm lý, những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ , tư tưởng, quan điểm … của mỗi giới được thể hiện sinh động và đa chiều trong những vấn đề xẫ hội mà họ đang phải đối mặt Do đó mà tìm hiểu có hệ thống
và khái quát nhu cầu, thực trạng tham vấn tâm lý giúp nhà nghiên cứu có cái nhìn khái quát hơn về đời sống tinh thần của mỗi cá nhân, nhận thấy rõ hơn vai trò xã hội mà mỗi giới đang đảm nhiệm và sự trông đợi của xã hội đối với mỗi giới như thế nào? Góp phần mở ra những hướng nghiên cứu mới về tham vấn tâm lý và giới nhằm đưa ra những biện pháp nâng cao nhận thức của thân chủ về nan đề của họ đồng thời cũng góp phần đưa ra một vài giải pháp cho hoạt động tham vấn tâm lý thực hiện hiệu quả hơn
Tìm hiểu vấn đề giới thông qua hoạt động tham vấn tâm lý giúp đưa ra cái nhìn khái quát hơn về tư tưởng, quan điểm,… sự tác động của môi trường, hoàn cảnh xã hội tới mỗi giới, từ đó bổ sung, đóng góp những tri thức về giới cho các ngành nghiên cứu về giới nói chung và xã hội học giới nói riêng Những chủ đề, lĩnh vực được mỗi giới đề cập đến thông qua hoạt động tham vấn tâm lý đều thể hiện rõ nét những tâm tư , tình cảm, những băn khoăn của mỗi giới về các vấn đề mà họ đang gặp phải Tìm hiểu có hệ thống và khái quát những nhu cầu và thực trạng hoạt động tham vấn tâm lý giúp có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về đời sống tinh thần của bản thân mỗi cá nhân, góp phần giúp các nhà hoặch định chính sách có được sự đúng đắn và hiệu quả đối với mỗi chính sách
xã hội mà họ đưa ra
Trang 8Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Khác biệt giới trong nhu cầu và thực trạng tham vấn tâm lý với nhóm khách hàng của trung tâm tư vấn Linh Tâm – Csaga” để không chỉ phát hiện sự khác nhau trong nhu
cầu và thực trạng của mỗi giới đối với các lĩnh vực mà họ cần tham vấn tâm lý
mà đề tài còn nhằm tìm hiều các quan điểm, tâm tư, tình cảm của mỗi giới đối với mỗi chủ đề, lĩnh vực mà họ cần tham vấn
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu khác biệt giới thông qua hoạt động tham vấn tâm lý góp thêm một cách cái nhìn khái quát hơn về sự khác biệt giới trong nhu cầu tham vấn tâm lý có thể bổ sung thêm tri thức cho khoa học nghiên cứu về giới, tâm lý và một số ngành khoa học xã hội khác
- Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu thực hiện nhằm tìm hiểu một số khía cạnh trong hoạt động tham vấn tâm lý của trung tâm tư vấn Linh Tâm: các lĩnh vực tham vấn, thời lượng, cách thức tham vấn của đối tượng tham vấn để thấy được
sự khác biệt của mỗi giới trong nhu cầu và cách tiếp cận tham vấn tâm lý, thấy được mối liên hệ giữa giới tính, độ tuổi với những lĩnh vực tham vấn tâm lý mà nhóm khách hàng có nhu cầu tham vấn, từ đó giúp trung tâm tư vấn có cái nhìn khái quát về nhu cầu và thực trạng tham vấn tâm lý trong nhóm khách hàng của
họ để có những biện pháp trang bị nguồn lực chất lượng và các phương tiện thực hiện tham vấn nhằm nâng cao hơn nữa khả năng đáp ứng của trung tâm với
khách hàng
3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Vấn đề giới trong xã hội từ lâu đã là mảnh đất màu mỡ để các nhà nghiên cứu khoa học xã hội khai thác Trong những năm gần đây, nghiên cứu về khác biệt giới trong và ngoài nước được quan tâm đáng kể, điển hình như nghiên cứu
về sự khác biệt trong khuôn mẫu, định hướng hành vi, định kiến của xã hội với mỗi giới, sự khác biệt giới trong hành vi tình dục, sự khác biệt giới trong mua
Trang 9sắm, tiêu dùng … Các nghiên cứu này tập trung làm rõ những khác biệt giới trong hoạt động hàng ngày của mỗi chủ thể để phần nào nhằm là giảm thiểu sự bất bình đẳng giới Tuy nhiên, nghiên cứu về giới thông qua hoạt động tham vấn tâm lý nhằm khái quát được sự khác biệt trong quan điểm, tư tưởng, tình cảm cũng như những băn khoăn, vướng mắc, cách thức giải quyết, khắc phục của mỗi giới trước những vấn đề xã hội lại ít được các nhà nghiên cứu quan tâm đến
Môt số công trình nghiên cứu liên quan đến khác biệt giới có thể kể đến như:
Nghiên cứu về “Sự khác biệt giới trong hành vi tình dục trước hôn nhân của vị thành niên và thanh niên” (Trần Thị Hồng) sử dụng số liệu Điều tra về vị thành niên và thanh niên (SAVY) năm 2003 nhằm phân tích các hành vi tình dục trước hôn nhân nhìn từ góc độ giới Kết quả cho thấy có sự khác biệt giữa nam và nữ, nhất là các hành vi liên quan đến lần quan hệ tình dục lần đầu tiên
Nữ vị thành niên và thanh niên có quan hệ tình dục lần đầu tiên sớm hơn nam Nam giới, ngược lại có thành phần bạn tình đa dạng và số lượng bạn tình lớn hơn so với nữ Nữ thường chọn nhà riêng trong khi nam thường chọn nhà nghỉ
là nơi gặp gỡ và có quan hệ tình dục lần đầu tiên Việc sử dụng các biện pháp tránh thai tăng lên cùng lứa tuổi, tuy nhiên, nhìn chung, nữ thành niên và thanh niên ít sử dụng các biện pháp tránh thai hơn so với nam giới Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra một yếu tố tác động đến hành vi tình dục trước hôn nhân như xem video, chơi với nhóm bạn [8]
Nghiên cứu về “Sự khác biệt giới trong tiêu dùng” của Nguyễn Thị Thanh Nga đã chỉ ra sự khác nhau trong nhu cầu tiêu dùng và mua sắm hàng hóa Trong việc mua sắm hàng hóa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, phụ nữ chiếm
đa số Người tiêu dùng là phụ nữ chẳng những đông mà còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động mua hàng Họ là người quyết định mua hàng tiêu
Trang 10dùng cho bản thân, gia đình … Mua sắm đồ điện tử được coi là lĩnh vực quan tâm của nam giới Đặc điểm giới tình giữa đàn ông và phụ nữ quy định sự khác nhau về thị hiếu, những sở thích khác nhau về tình thẩm mỹ, về hình dáng, màu sắc, mùi vị của từng loại sản phẩm… Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt giới trong việc lựa chọn các hoạt động giải trí trong thời gian rỗi của các cặp gia đình được lựa chọn khảo sát Nếu phụ nữ dành ít thời gian hơn nam giới cho việc đọc sách báo, chơi thể thao thì họ lại dành nhiều thời gian hơn cho việc đi lễ chùa, nhà thờ Sở dĩ có những sự khác biệt đáng kể này là do có sự khác nhau về đặc điểm vai trò giới Phụ nữ Việt Nam thường là người chủ chốt trong sinh hoạt của gia đình cả về mặt tinh thần lẫn vật chất Nam giới có trách nhiệm chủ đạo là đảm bảo kinh tế gia đình, quan hệ xã hội của họ rộng hơn, thời gian của họ rảnh rỗi hơn nữ giới nên việc tham gia các hoạt động giải trí của họ cũng nhiều hơn Với những người chưa có gia đình riêng thì sự khác biệt giới trong tiêu dùng các giá trị tình thần của nhóm này thể hiện ở việc lựa chọn các loại hình giải trí, trong khi nữ giới thích đi mua sắm, nói chuyện với bạn bè thì nam giới thích chơi điện tử, chát…[20]
Nghiên cứu “Xã hội hóa về giới trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (Kim Văn Chiến) thực hiện cuối năm 2002, chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu đối với hai tập sách giáo khoa Tiếng Việt 2 (Do Trịnh Mạnh, Đình Tấn Kỳ, Đỗ Quang Lưu biên soạn, NXB Giáo dục Quốc gia, Hà Nội) Nghiên cứu đã chỉ ra những khuôn mẫu về giới – những ý tưởng và mong đợi của em gái và em trai, đồng thời tác giả cũng chỉ ra sự sự ảnh hưởng của những khuôn mẫu trong bài học, bài đọc trong sách giáo khoa đối với quá trình xã hội hóa trẻ
em, đặc biệt là xã hội hóa về giới ngay từ những năm học đầu tiên của tiểu học.[3]
Nghiên cứu “Khác biệt giới trong hành vi đọc sách của học sinh Trung học phổ thông miền núi (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Chuyên Bắc
Trang 11Kan, trường THPT Bắc Kan, trường THPT dân lập Hùng Vương, trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Bắc Kan) của Nguyễn Thị Thái Hà (ĐH KHXH
&NV) đã chỉ ra sự khác biệt giữa học sinh nam và học sinh nữ trong việc đọc sách Học sinh nữ có xu hướng dành nhiều thời gian cho việc đọc hơn học sinh nam Các em nữ cũng chú ý tới những thể loại sách, truyện, những tác phẩm đòi hỏi cần thời gian suy ngẫm và sự kiên trì hơn các bạn nam Ngược lại học sinh nam lại ưa thích những cuốn sách có tư duy cao hơn và mang tính chất phiêu lưu, phức tạp hơn những cuốn sách mà các bạn nữ chọn Học sinh nữ thường coi việc đọc sách như một sở thích và thực hiện việc đọc sách như một thói quen thường nhật Nữ sinh thực hiện hành vi tự đọc nhiều hơn nam sinh Ngoài việc học và đọc trên lớp, học sinh nữ còn thực hiện việc trao đổi về những loại sách minh đọc hơn học sinh nam Trong khi đó, học sinh nam lại thích xem ti vi, xem các chương trình giải trí, trò chơi trực tuyến hơn là việc đọc sách Học sinh nam dành ít thời gian cho việc đọc sách hơn học sinh nữ, khả năng tự đọc của họ cũng kém hơn học sinh nữ Sự chủ động trong hành vi đọc sách của nữ cũng cao hơn học sinh nam.[7]
Một nghiên cứu khác của Vương Lan Mai (2005) về “Sự khác biệt về giới trong sẵn sàng chi trả cho mô hình BHYT dựa vào cộng đồng ở một vùng nông thôn Việt Nam” đã chỉ ra sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong việc sẵn sàng chi trả tiền cho BHYT Nam giới sẵn sàng chi trả cho BHYT nhiều hơn
nữ giới Trong đó các yếu tố về kinh tế - xã hội của nam và nữ ảnh hưởng trực tiếp đến việc chi trả cho BHYT của họ.[18]
Những công trình nghiên cứu khoa học trên đã chỉ ra những sự khác biệt của mỗi giới trong các một loạt các hành vi, hoạt động xã hội như: hành vi tình dục, hành vi đọc sách, hành vi mua sắm, tiêu dùng, hành vi chi trả cho BHYT… Trong mỗi hành vi, hoạt động cụ thể đều có sự khác biệt của mỗi giới trong
Trang 12nhận thức và cách thức thực hiện Trên cơ sở đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố xã hội tác động tới việc thực hiện hành vi của mỗi giới
Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung tìm hiểu nhu cầu và thực trạng tham vấn tâm lý của nhóm khác hàng đã thực hiện tham vấn tâm lý tại trung tâm Linh Tâm thông qua các chiều cạnh về nội dung tham vấn, thời lượng tham vấn
và loại hình tham vấn Từ đó tìm ra sự khác biệt giới trong các chiều cạnh: chủ
đề tham vấn, thời lượng tham vấn và loại hình tham vấn trong tham vấn tâm lý nhằm phác họa bức tranh về nhu cầu và hình thức tiếp cận tham vấn tâm lý của mỗi giới trong nhóm khách hàng tham vấn tâm lý tại trung tâm Từ đó đưa ra một số khuyến nghị góp phần nâng cao hơn nữa khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng của trung tâm
4 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hướng tới tìm hiểu chân dung xã hội của đối tượng có nhu cầu tham vấn tâm lý, tình cảm và tìm hiểu sự khác biệt giới trong nhu cầu và thực trạng tham vấn tâm lý, thông qua sự khác biệt trong nội dung tham vấn, thời lượng tham vấn, hình thức tham vấn của mỗi giới, mỗi độ tuổi Từ đó giúp các nhà tham vấn tâm lý hiểu rõ hơn nhu cầu tham vấn tâm lý và hình thức tiếp cận tham vấn tâm lý ở mỗi giới thực hiện.Trên cơ sở đó đề tài đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng đáp ứng của trung tâm với nhu cầu của khách hàng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá nhu cầu của nhóm khách hàng đã thực hiện tham vấn tâm lý tại trung tâm thông qua thực trạng về các chủ đề có mong muốn tham vấn tại trung tâm Linh Tâm
Mô tả thực trạng tham vấn tâm lý thông qua các chỉ báo: chân dung xã hội của đối tượng thực hiện tham vấn; nội dung tham vấn; thời lượng tham vấn và loại hình tham vấn
Trang 13 Chỉ rõ sự khác biệt giới trong nội dung, hình thức và thời lượng tham vấn
Đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao hơn nữa khả năng đáp ứng của trung tâm với nhu cầu tham vấn tâm lý của khách hàng thực hiện tại trung tâm
6 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Khác biệt giới trong nhu cầu và thực trạng tham vấn tâm lý với nhóm khách hàng đã thực hiện tham vấn tâm lý tại trung tâm tư vấn Linh Tâm – Csaga
- Khách thể nghiên cứu: - Nhân viên tham vấn
- Nội dung nhật ký tham vấn
Do những quy định bảo mật về danh tính khách hàng tại trung tâm tư vấn
mà việc tiếp cận trực tiếp các thân chủ/khách hàng của trung tâm rất hạn chế Vì vậy trong phạm vi của đề tài chỉ nghiên cứu trên khách thể là nhân viên tham vấn tâm lý và nội dung nhật ký tham vấn – tài liệu/phần mềm lưu trữ thông tin
về khách hàng và các ca tham vấn tâm lý của khách hàng tại trung tâm Linh Tâm
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung nghiên cứu: Chân dung xã hội, nhu cầu tham vấn và thực trạng tham vấn của nhóm khách hàng tiếp cận dịch vụ tham vấn tại trung tâm có thể được mô tả trên nhiều khía cạnh Nhưng do hạn chế trong cách tiếp cận khách thể nghiên cứu và đảm báo danh tính khách hàng của trung tâm nên
đề tài chỉ đi sâu tìm hiểu và mô tả:
- Chân dung xã hội của nhóm khách hàng tiếp cận dịch vụ tham vấn tâm lý tại trung tâm qua các đặc trưng về giới tính, độ tuổi, vùng miền
Trang 14- Nhu cầu tham vấn tâm lý của nhóm khách hàng tiếp cận dịch vụ tham vấn tại trung tâm qua thực trạng các chủ đề tham vấn và tìm ra sự khác biệt giới trong nhu cầu tham vấn của đối tượng
- Thực trạng tham vấn tâm lý của nhóm khách hàng tiếp cận dịch vụ tham vấn tại trung tâm trên các chiều cạnh: nội dung tham vấn, thời lượng tham vấn; hình thức tiếp cận dịch vụ tham vấn Từ đó tìm ra sự khác biệt của mỗi giới trong thực trạng tham vấn của nhóm khách hàng tại trung tâm
+ Địa bàn nghiên cứu: Trung tâm tư vấn Linh Tâm – CSAGA – Nhà A9 – Đường Cốm Vòng – Dịch Vọng – Cầu Giấy – Hà Nội
+ Thời gian: 3/2013 – 4/2013
- Mẫu nghiên cứu: 800 ca tham vấn qua điện thoại và 200 ca tham vấn trực
tuyến được ghi từ ngày 1/3/2013 đến ngày 7/4/2013
7 Câu hỏi nghiên cứu:
- Nhóm khách hàng đã tiếp cận dịch vụ tham vấn tâm lý tại trung tâm Linh Tâm có nhu cầu tham vấn tâm lý như thế nào?
- Đối tượng thường tham vấn tâm lý với những nội dung gì? Thời lượng tham vấn và loại hình tham vấn mà họ thực hiện như thế nào?
- Có sự khác biệt về giới trong nhu cầu và thực trạng tham vấn tâm
lý của nhóm khách hàng đã thực hiện tham vấn tâm lý tại trung tâm hay không?
8 Giả thuyết nghiên cứu
- Nhóm khách hàng đã thực hiện tham vấn tâm lý tại trung tâm có nhu cầu mong muốn được tham vấn tâm lý ở nhiều nội dung tham vấn khác nhau nhưng tập trung ở chủ để sức khỏe sinh sản và tình yêu – hôn nhân – gia đình
Trang 15- Nhóm khách hàng tiếp cận dịch vụ tham vấn tâm lý của trung tâm
đã thực hiện tham vấn ở nhiều chủ đề khác nhau với những hình thức và thời lượng khác nhau
- Trong nhóm khách hàng đã thực hiện tham vấn tâm lý tại trung tâm thì nữ giới có xu hướng sử dụng tham vấn tâm lý qua điện thoại còn nam giới có xu hướng sử dụng tham vấn trực tuyến
9 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
9.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Tài liệu được phân tích bao gồm nhật ký tham vấn, các tài liệu liên quan đến trung tâm tư vấn Linh Tâm – Csaga và các tài liệu chuyên ngành khoa học
xã hội liên quan đến nghiên cứu
Nhật ký tham vấn tâm lý của trung tâm tư vấn Linh Tâm là tài liệu chính được phân tích trong nghiên cứu này Phần mềm ghi lại đầy đủ thông tin của các ca tham vấn tâm lý tại trung tâm: Các đặc trưng về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp của đối tượng tham vấn, số điện thoại mà đối tượng gọi đến tổng đài đối với tham vấn điện thoại và các địa chỉ email của đối tượng tham vấn đối với tham vấn trực tuyến, thời gian thực hiện tham vấn, thời lượng tham vấn giữa nhân viên tham vấn diễn ra và nội dung tham vấn
Số liệu định lượng của các ca tham vấn tâm lý trong nhật ký tham vấn của trung tâm được thống kê, mã hóa, xử lý và phân tích qua phần mềm SPSS 15.0 Các ca tham vấn tâm lý qua điện thoại và tham vấn trực tuyến được mã hóa, nhập dữ liệu của các biến về: giới tính, các khoảng tuổi, vùng miền, các chủ đề tham vấn, các mốc thời lượng tham vấn, loại hình tham vấn và được
xử lý, phân tích theo yêu cầu của đề tài
Trang 16Các tài liệu khác liên quan đến quá trình xây dựng trung tâm tƣ vấn Linh Tâm và các tài liệu chuyên ngành khoa học xã hội khác cũng đƣợc phân tích phục vụ cho nghiên cứu
9.2 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Mục đích phỏng vấn sâu: Tìm kiếm thêm những thông tin định tính liên quan đến những khác biệt trong nhu cầu và thực trạng tham vấn tâm lý với nhóm khách hàng thực hiện tham vấn tâm lý tại trung tâm Linh Tâm mà nội dung trong nhật ký tham vấn của trung tâm chƣa thể hiện đƣợc
Đối tƣợng đƣợc phỏng vấn: Nhân viên tham vấn tại trung tâm Nội dung phỏng vấn liên quan đến các vấn đề nhu cầu tham vấn tâm lý của mỗi giới, các chủ đề mà mối giới có nhu cầu tham vấn, thời lƣợng tham vấn
và hình thức tham vấn của nhóm khách hàng đã thực hiện tham vấn tâm lý tại trung tâm
Số lƣợng phỏng vấn: Do số lƣợng nhân viên tham vấn của trung tâm không nhiều nên đề tài chỉ thực hiên 3 phỏng vấn sâu đối với 3 nhân viên tham vấn phụ trách tham vấn các lĩnh vực: sức khỏe sinh sản – giới tính và tâm lý –tình cảm
Trang 1710 Khung phân tích
Điều kiện kinh tế xã hội
Nhu cầu tham vấn tâm lý của mỗi giới
Định hướng hành vi mỗi giới
Thực trạng tham vấn tâm lý của mỗi giới
Loại hình tham vấn
Điên thoại tuyến Trực
Chủ đề tham vấn
Sức khỏe sinh sản
Tình yêu hôn nhân gia đình
Nuôi dạy con cái
Chủ đề khác
Kỹ năng sống
Thời lượng tham vấn
Vùng
miền
Trang 18CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm công cụ
1.1.1 Nhu cầu
Theo Từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện thì nhu cầu là “Điều cần thiết để bảo đảm tồn ta ̣i và phát triển Được thỏa mãn thì dễ chịu , thiếu hu ̣t thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức Có nhu cầu của cá nhân , có nhu cầu chung của
tâ ̣p thể, khi hòa hợp khi mâu thuẫn; có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có thứ yếu, giả tạo Nhu cầu do trình đô ̣ phát triển của XH mà biến đổi” [33]
Theo Henry Murray (1893 – 1988) thì nhu cầu được hiểu là một tổ chức
đô ̣ng cơ, nó tổ chức và hướng dẫn các quá trình nhận thức , tưởng tượng, hành
vi Nhờ nhu cầu mà hoa ̣t đô ̣ng của con người mang tính chất có mu ̣c đích Do đó hoă ̣c là đa ̣t được sự thỏa mãn nhu cầu , hoă ̣c là ngăn ngừa sự đu ̣ng đô ̣ khó chịu với môi trường Murray cho rằng: sự xuất hiê ̣n nhu cầu dẫn đến những thay đổi hóa ho ̣c trong não và do tác đô ̣ ng của chúng mà diễn ra hoa ̣t đô ̣ng tư duy và tình cảm Bất kỳ nhu cầu nào cũng gây ra trong cơ thể sự căng thẳng nhất đi ̣nh ,
mà việc giải tỏa nó chỉ bằng cách thỏa mãn nhu cầu Như vâ ̣y nhu cầu phóng ra các kiểu hành vi nhất đi ̣nh, mang la ̣i sự thỏa mãn cần tìm [21]
A.G Covaliop tiếp cận khái niê ̣m nhu cầu với tư cách là nhu cầu của nhóm xã hội Ông cho rằng : “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của nhóm xã hội khác nhau muốn có những đ iều kiê ̣n nhất đi ̣nh để sống và để phát triển Nhu cầu quy đi ̣nh sự h oạt động xã hội của cá nhân , các giai cấp và tập thể” Như vâ ̣y, dù là nhu cầu cá nhân hay nhu cầu xã hội , nó vẫn là sự biểu hiện mối quan hê ̣ tích cực của con người đối với hoàn cảnh sống
Theo A.N Leonchiev (1903 – 1979) thì nhu cầu là một trạng thái của con người, cần mô ̣t cái gì đó cho cơ thể nói riêng , con người nói chung sống và hoa ̣t
đô ̣ng Nhu cầu luôn có đối tượng , đối tượng của nhu cầu là vâ ̣t chất hoă ̣c tinh
Trang 19thần, chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu có vai trò đi ̣nh hướng đồng thời là đô ̣ng lực bên trong kích thích hoa ̣t đô ̣ng của con người
Theo Giáo sư – Viê ̣n sĩ Pha ̣m Minh Ha ̣c : “Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về mô ̣t cái gì đó Nhu cầu chỉ có được chức năng hướng dẫn khi có sự gă ̣p gỡ giữa chủ thể và khách thể” Nhu cầu là thành tố quan tro ̣ng ta ̣o nên xu hướng nhân cách của cá nhân , cùng với các thành tố khác như hứng thú , niềm tin, thế giới quan, lý tưởng thì nhu cầu là sự bộc lộ ra bên ngoài của xu hướng
Nhìn chung , các quan niệm về nhu cầu đã trình bày ở trên đều có sự tương đồng ở nhiều điểm:
- Khẳng định nhu cầu của con người và xã hội là một hệ thống đa dạng, bao gồm nhu cầu tồn ta ̣i (ăn uống, duy trì nòi giống , tự vê ̣…), nhu cầu phát triển (học tập, giáo dục, văn hóa…), nhu cầu chính tri ̣, tôn giáo… Nhu cầu của con ng ười xuất hiện như những đòi hỏi khách quan của xã hội, do xã hội quy đi ̣nh, đồng thời nhu cầu mang tính cá nhân với những biểu hiê ̣n phong phú
và phức tạp
- Nhu cầu là hình thức tồn ta ̣i của mối quan hê ̣ giữa cơ thể sống và thế giớ i xung quanh , là nguồn gốc của tính tích cực , mọi hoạt động của con người đều là quá trình tác đô ̣ng vào đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó
Do vâ ̣y , nhu cầu được hiểu là tra ̣ng thái cảm nhâ ̣n được sự cần thiế t của đối tươ ̣ng đối với sự tồn ta ̣i và phát triển của mình Nhu cầu khi được thỏa mãn sẽ tạo ra những nhu cầu mới ở mức độ cao hơn , con ngườ i sau khi hoa ̣t đô ̣ng để thỏa mãn nhu cầu thì phát triển , và nảy sinh ra nhu cầu cao hơn nữa Và như vậy, nhu cầu vừa được coi là tiền đề , vừa được coi là kết quả của hoa ̣t đô ̣ng Nhu cầu
là tiền đề của sự phát triển
Trên cơ sở tìm hiểu , phân tích các khái niê ̣m khác nhau về nhu cầu và trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi sử dụng định nghĩa của GS TS Nguyễn Quang Uẩn: “Nhu cầu là sự biểu hiê ̣n mối quan hê ̣ tích cực của cá nhân đối với
Trang 20hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn t ại
và phát triển” [31]
1.1.2 Giới
“Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn Nhân loại học nói
đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao
gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích Giới đề
cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân, vai trò giới được xác định theo nhiệm vụ, không theo khía cạnh sinh vật học và có thể biến đổi theo thời gian, theo các xã hội và các vùng địa lý khác nhau Khi sinh ra chúng ta không mang theo các đặc điểm giới mà chúng ta học được các đặc tính giới từ gia đình, xã hội và nền văn hóa của chúng ta” [10]
1.1.3 Vai trò giới
1.1.3.1 Khái niệm
Vai trò giới là tập hợp những hoạt động và hành vi ứng xử mà nam giới
và phụ nữ học được và thể hiện trong thực tế, dựa trên mong đợi từ phía xã hội
ở một người, tùy thuộc người đó là phụ nữ hay nam giới Các vai trò giới đa dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đổi theo thời gian (tương ứng với sự thay đổi của các điều kiện và hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thay đổi trong quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một hành vi
ứng xử vai trò nào đó) [28]
1.1.3.2 Loại hình
Vai trò sản xuất: Là những công việc do phụ nữ và nam giới thực hiện nhằm tạo ra thu nhập hoặc để tự tiêu dùng Chúng bao gồm các hoạt động tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần hoặc tạo ra những dịch vụ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của gia đình
Trang 21 Vai trò tái sản xuất và nuôi dưỡng Là những hoạt động tạo ra nòi giống và tái tạo sức lao động Chúng bao gồm việc sinh con, nuôi dạy con, chăm sóc các thành viên khác trong gia đình và làm các công việc nội trợ, giặt giũ, lau chùi nhà cửa…Các công việc này hầu hết do phụ nữ đảm nhiệm và là những công việc không trả thù lao
Vai trò cộng đồng, xã hội: Vai trò bao gồm những hoạt động nhằm đảm bảo sự cung cấp và bảo vệ những nguồn lực khan hiếm cho nhu cầu chung của cộng đồng như vệ sinh môi trường, nước sạch, dịch vụ chăm sóc sức khỏe
và giáo dục…Đây hầu hết là những hoạt động tình nguyện và không được trả thù lao
Khái niệm “vai trò giới” được áp dụng như là một giá trị xã hội mặc định cho mỗi giới, tác động đến các hoạt động xã hội nói chung và hoạt động tham vấn tâm lý của mỗi giới nói riêng Từ đó hình thành sự khác biệt giới trong nhu cầu và thực trạng tham vấn tâm lý của mỗi giới.[28]
1.1.4 Tư vấn
Hiệp hội Tham vấn Hoa Kì (1998) đã định nghĩa tư vấn là: mối quan hệ giữa một người trợ giúp chuyên nghiệp và người, nhóm người hoặc một chinh thể xã hội cần được giúp đỡ trong đó nhà tư vấn cung cấp sự giúp đỡ cho thân chủ trong việc xác đinh và giải quyết một vấn đề liên quan đến công việc hoặc người khác
Theo tài liệu của Tổ chức Lao động Quốc tế, tư vấn là một dịch vụ cho lời khuyên theo hợp đồng và phục vụ cho các tổ chức bởi những người có đủ trình độ chuyên môn và được đào tạo đặc biệt để giúp đỡ một cách khách quan
và độc lập với tổ chức khách hàng [5]
1.1.5 Sức khỏe sinh sản
Theo chương trình hành động của hội nghị Quốc tế về “Dân số và phát triển” họp tại Cairo năm 1994, thì “Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh
Trang 22hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là là bệnh tật hay ốm yếu trong tất cả mọi thứ liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng trong quá trình của nó Do đó sức khỏe sinh sản hàm ý là con người có thể có một cuộc sống tình dục thỏa mãn, an toàn, có khả năng sinh sản và được tự do quyết định khi nào và thường xuyên như thế nào trong việc này Điều kiện cuối cùng này ngụ ý muốn nói về quyền của phụ nữ và nam giới được thông tin và tiếp cận các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp tùy theo sự lựa chọn những phương pháp thích hợp nhằm điều hòa việc sinh đẻ không trái với pháp luật, quyền được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp giúp cho người phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn và tạo cho các cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có đứa con khỏe mạnh
[26]
Từ định nghĩa này có thể khẳng định rằng, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản là một tổng thể các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về sức khỏe sinh sản Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, chứ không chỉ là việc tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Trong Kế hoạch hành động sau Hội nghị Cairo của Qũi dân số Liên hợp quốc (UNFPA), sức khỏe sinh sản bao gồm sáu nội dung chính có liên quan mật thiết với nhau, đó là: sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe phụ nữ
và làm mẹ an toàn, vô sinh, bệnh nhiễm khuẩn và bệnh lây truyền qua đường tình dục, tình dục
Nội dung trên của khái niệm sức khỏe sinh sản được xem như các lĩnh vực được tham vấn tâm lý trong chủ đề sức khỏe sinh sản mà trung tâm tư vấn Linh Tâm đã thực hiện với khách hàng của họ
1.1.6 Kỹ năng sống
Trang 23Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa kỹ năng sống là "khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày" Trong giáo dục tiểu học và giáo dục trung học, kỹ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân), chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn đạt, và kỹ năng tổ chức Đôi khi kỹ năng sống, nhưng không phải luôn luôn, khác biệt với các kỹ năng nghiệp vụ (trong nghề nghiệp)
Cũng theo WHO, kỹ năng sống được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý
xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức,
tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận
và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết
1.2 Các cách tiếp cận lý thuyết
Các lý thuyết mà đề tài tiếp cận là: Lý thuyết nhu cầu của Maslow, lý luận về tham vấn tâm lý và lý thuyết về giá trị
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism)
Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới
Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu
Trang 24cầu (Hierarchy of Needs) của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các
nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu
ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước.[12]
Theo lý thuyết của ông thì nhu cầu của con người hình thành tạo nên một hệ thống và có thứ bậc từ cấp thiết đến ít cấp thiết hơn Hệ thống đó được trình bày theo mô hình sau:
Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh
và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn
cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao
Nhu cầu thể lý (sinh lý): Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của
con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục
Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con
Trang 25người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một
môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý,
an toàn nhân sự,…Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được
Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (giao lưu tình cảm và
được trực thuộc) Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong
xã hội và được người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn
đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý tưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại Qua đó chúng ta thấy được sức mạnh to lớn của nhu cầu được quan hệ và được thừa nhận trong sự phát triển của mỗi cá nhân
Trang 26Nó cũng cho thấy con người cần được yêu thương và thừa nhận hơn là cần thức
ăn, quần áo và chỗ ở cho sự tồn tại của mình
Nhu cầu được tôn trọng (quý trọng): Nội dung của nhu cầu này gồm hai
loại: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muốn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người
Nhu cầu phát huy bản ngã (tự thể hiện bản thân): Maslow xem đây là
nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân
Sự hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow giúp nhà tham vấn xác định được những nhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu còn chưa được thỏa mãn tại thời điểm hiện tại, đặc biệt là các nhu cầu tâm lý của thân chủ, nhận ra khi nào thì những nhu cầu cụ thể của thân chủ chưa được thỏa mãn và cần đáp ứng Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow, nhà tham vấn đã hiểu được con người
có nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần
Ai cũng cần được yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm giác an toàn, được phát huy bản ngã, Do đó trong việc trợ giúp cho thân chủ nhà tham vấn không chỉ trợ giúp thân chủ thỏa mãn nhu cầu sinh lý cơ bản mà cao hơn nữa phải tập trung trợ giúp cho thân chủ nhằm giúp thân chủ thỏa mãn các nhu cầu tinh thần để sống lành mạnh hơn Nhà tham vấn sử dụng thuyết nhu cầu để
Trang 27giúp đỡ thân chủ thỏa mãn các nhu cầu của họ Điều này có nghĩa là nhà tham vấn làm việc với thân chủ để giúp họ xác định các hành động có thể thực hiện được để thay đổi tình huống và tập trung vào các vấn đề tình cảm có thể đang cản trở thân chủ trong việc thỏa mãn nhu cầu của chính họ Trong một số trường hợp, thân chủ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, việc kết nối họ với các nguồn lực là hoàn toàn hợp lý nhưng đây là công việc của nghề công tác xã hội Còn nhà tham vấn tăng cường năng lực cho thân chủ bằng cách lắng nghe thân chủ, chú ý đến các nhu cầu tinh thần của thân chủ và giúp thân chủ hiểu được các tiềm năng của mình, sử dụng các tiềm năng đó để vượt lên nấc thang nhu cầu cao hơn
1.2.2 Lý luận về tham vấn tâm lý
1.2.2.1 Khái niệm
Ở nhiều nước trên thế giới, tham vấn (Counseling) là một thuật ngữ quen thuộc với người dân, đặc biệt là đối với cán bộ làm việc trực tiếp (còn gọi là cán
bộ thực hành – Practitioner), các nhà đào tạo hay nghiên cứu về lĩnh vực an sinh
xã hội (Social Welfare), công tác xã hội (Social Work) hoặc sức khỏe tâm thần (Mental Health)… Tuy nhiên, không ít các nhà nghiên cứu về vấn đề này đều nhận định rằng hiện chưa có một định nghĩa thống nhất về tham vấn, thậm chí
nó còn được sử dụng ở nghĩa rất rộng và tạo ra những cách hiểu khác nhau ở nhiều người Dưới đây là một số khái niệm về tham vấn:
- Carl Rogers đã mô tả tham vấn như là quá trình trợ giúp trong mối quan
hệ an toàn với nhà trị liệu, đối tượng tìm thấy sự thoải mái, chia sẻ và chấp nhận những trải nghiệm đã từng bị chối bỏ để hướng tới sự thay đổi
- D.R Riesman (1963) định nghĩa tham vấn tâm lý là một loại quan hệ xã hội nhằm đạt đến một quá trình hỗ trợ, quá trình giáo dục và quá trình phát triển [32, 8]
- Theo C Patterson (1967) thì tham vấn tâm lý là một loại quan hệ xã hội, trong mối quan hệ này, nhà tham vấn đưa ra điều kiện hoặc không khí tâm lý nhất định,
Trang 28nhằm làm cho đối tượng được tham vấn thay đổi, tự lựa chọn và giải quyết vấn
đề của chính mình, đồng thời hình thành nên một cá tính độc lập có trách nhiệm,
từ đó trở thành một người tốt, một thành viên tốt của xã hội” [32, 9]
- Trong bài viết “What is Counseling” năm 1981 của Hiệp hội Tư vấn Hoa Kỳ (American Counseling Association) đã định nghĩa: “Tham vấn là một quá trình tương tác mang tính hướng dẫn và khuyên dạy giữa người giúp đỡ và một hay một số người cần được giúp đỡ (thân chủ) từ đó giúp con người phát triển tối ưu” [14, 459]
- Rogers Jenny trong cuốn Caring for people USA, 1990, cho rằng: tham vấn là hoạt động nhằm giúp đỡ con người tự giúp chính họ, hoạt động này giúp đối tượng (người cần được tham vấn) nâng cao khả năng tự tìm giải pháp, đối phó với vấn đề và thực hiện tốt chức năng của mình trong cuộc sống
- J Mielke (1999) định nghĩa tham vấn là một quá trình, một mối quan hệ nhằm giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác, nhận thức và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của thân chủ
Ở Việt Nam, tham vấn mặc dù mới được xuất hiện trong thời gian gần đây, nhưng với nỗ lực nhằm phát triển loại hình hoạt động này trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra một số khái niệm về tham vấn như sau:
- Trong từ điển tâm lý học, tác giả Nguyễn Khắc Viện viết: “Tham vấn là quá trình các chuyên gia tâm lý chẩn đoán, tìm hiểu căn nguyên và thiết lập cách xử
lý đối với những trẻ em có vấn đề tâm lý” Ở đây, khái niệm tham vấn được nhìn nhận thiên về góc độ y học và giới hạn chủ yếu chỉ cho những trẻ em có vấn đề tâm lý
- Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai, “Tham vấn là một hoạt động mà nhà chuyên môn, bằng kiến thức hiểu biết và kỹ năng nghề nghiệp của mình, thấu hiểu những cảm xúc, suy nghĩ, hành vi của đối tượng (cá nhân, gia đình, nhóm), giúp họ khai thác nguồn lực, tiềm năng cho quá trình giải quyết vấn đề của mình”
Trang 29- PGS.TS Trần Thị Minh Đức định nghĩa tham vấn là một quá trình tương tác giữa nhà tham vấn – người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn – với thân chủ (còn được gọi là khách hàng) – người đang có vấn đề khó khăn về tâm lý cần được giúp đỡ Thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, tâm tình (dựa trên những nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp), thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình
Từ những định nghĩa khác nhau về tâm lý học đã trình bày ở trên, chúng tôi rút ra định nghĩa chung làm khái niệm công cụ để tiến hành nghiên cứu như sau: tham vấn tâm lý là một quá trình phát triển, trong đó người tham vấn cung cấp cho khách hàng sự hướng dẫn, động viên, khuyến khích, sự thách thức và nguồn cảm hứng để họ giải quyết vấn đề của cá nhân, nhằm đạt được mục đích đề ra và
tự nhận ra bản thân họ Hay nói cách khác, tham vấn tâm lý là quá trình tạo khả năng cho một người để họ có thể phân tích được vấn đề và có được quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của họ
Tham vấn tâm lý là một khái niệm tuy không còn là vấn đề mới mẻ tại Việt Nam song hiện nay vẫn còn nhiều sự nhầm lẫn trong việc sử dụng khái niệm
“tham vấn” và “tư vấn” của đông đảo các tầng lớp Do quen với thuật ngữ “tư vấn” được hiểu gần như với khái niệm “tham vấn” mà nhiều người/trung tâm vẫn đặt tên là “tư vấn tâm lý – tình cảm” và vẫn sử dụng “tư vấn” là cách gọi cho hình thức tham vấn tâm lý của họ Bản chất của các trung tâm tư vấn tâm lý – tình cảm hiện nay là sử dụng các phương pháp: lắng nghe, chia sẻ, thấu hiểu hoàn cảnh/tình huống của đối tượng có nhu cầu tham vấn dựa trên những kiến thức chuyên môn về các vấn đề tâm lý để giúp thân chủ hiểu rõ tình trạng, hoàn cảnh của họ và đưa ra những hướng giải quyết phù hợp để thân chủ lựa chọn Đây là hình thức tham vấn tâm lý chứ không chỉ đơn thuần là tư vấn tâm lý song do quen
Trang 30với cách gọi trên mà nhiều trung tâm thực chất làm công việc tham vấn tâm lý những vẫn sử dụng “tư vấn” là tên gọi cho công việc/trung tâm của họ
1.2.2.2 Nội dung tham vấn tâm lý
Con người sống trong xã hội hiện đại ngày càng chịu nhiều áp lực Bởi vậy mỗi khi có những khúc mắc không được giải quyết người ta thường nghĩ tới việc tìm lời khuyên, sự trợ giúp từ những nhà tham vấn chuyên nghiệp Chính vì vậy, nội dung tham vấn ngày càng được mở rộng ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Chúng ta có thể kể đến một số lĩnh vực tham vấn đang phát triển rộng rãi hiện nay như:
- Tham vấn Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình: Nhà tham vấn hỗ trợ thân chủ (khách hàng) trong việc giải quyết các vấn đề như: xung đột giữa nam và nữ, quan hệ tình dục trước hôn nhân, mang thai, các bệnh lây qua đường tình dục, mặc cảm tình dục, xung đột và bạo lực trong gia đình (cha mẹ - con cái, vợ - chồng, giữa các thế hệ với nhau…)…
- Tham vấn học đường: Tham vấn và trợ giúp cho học sinh, sinh viên về các vấn đề mà lứa tuổi này hay gặp phải trong cuộc sống, học tập như: các mối quan hệ bạn bè (áp lực bạn đồng đẳng…), gia đình, thầy cô; tham vấn hướng nghiệp; tham vấn về sức khỏe sinh sản; học lực, khả năng học tập…
- Tham vấn sức khỏe sinh sản vị thành niên: Nhà tham vấn hỗ trợ thân chủ giải quyết những vấn đề mà họ gặp phải liên quan tới giới tính, mang thai, nạo phá thai, các biện pháp phòng tránh thai, HIV/ AIDS, các trục trặc liên quan đến các chức năng tình dục…
- Tham vấn sức khỏe tinh thần: Nhà tham vấn trợ giúp khách hàng nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe tinh thần như stress, lo âu, trầm cảm, mặc cảm tội lỗi, sự tuyệt vọng… nhằm tạo điều kiện cho khách hàng
có được sự khỏe mạnh về mặt tâm trí, giúp họ thích nghi với áp lực cuộc sống tốt hơn
Trang 31- Tham vấn về y tế (những lo lắng của khách hàng về việc sử dụng thuốc như: an thần, ma túy, chất kích thích…), tham vấn về luật pháp…
có hiệu quả Trong tham vấn trực tiếp thường có ba loại cơ bản sau: tham vấn cá nhân, tham vấn nhóm, tham vấn gia đình Những hình thức tham vấn này thường thấy ở các phòng trị liệu và tham vấn tâm lý, trong đó tham vấn cá nhân
là phổ biến nhất
+ Tham vấn trực tiếp tại trung tâm tư vấn (các trung tâm này hoạt động độc lập): Nhà tham vấn và thân chủ đối thoại trực tiếp với nhau Loại hình này giúp nhà tham vấn và thân chủ có thời gian trò chuyện, trao đổi, thiết lập mối quan hệ gần gũi, điều này giúp nhà tham vấn hiểu sâu sắc hơn vấn đề của thân chủ Chính vì vậy đây là loại hình tham vấn mang lại hiệu quả tối ưu nhất Trong loại hình tham vấn này đòi hỏi nhà tham vấn phải phối hợp vận dụng các
kỹ năng khác nhau để khai thác thông tin, phản hồi, giải quyết vấn đề…
+ Tham vấn trực tiếp tại các phòng tham vấn trực thuộc các cơ quan như trường học, trường giáo dưỡng, trung tâm cai nghiện, bệnh viện, nhà máy… Ở hình thức này nhà tham vấn và thân chủ cũng đối thoại trực tiếp với nhau
- Hình thức tham vấn gián tiếp: Nhà tham vấn và thân chủ không đối thoại trực tiếp với nhau mà thường thông qua kênh liên lạc trung gian như: điện
Trang 32thoại, báo chí, thư từ, internet, đài phát thanh, đài truyền hình… Đặc điểm của hình thức này là thông tin một chiều, các kỹ năng tham vấn không được sử dụng một cách triệt để, có hiệu quả Tham vấn gián tiếp gồm có các hình thức sau:
+ Tham vấn qua điện thoại: loại hình tham vấn này khá phát triển trong thời gian gần đây Thân chủ có những khó khăn, khúc mắc trong cuộc sống gọi điện thoại đến để được hỗ trợ vượt qua những khó khăn này Thân chủ
có thể gọi điện đến trung tâm nhiều lần cho đến khi nào vấn đề được giải quyết hoàn toàn Hình thức này không giới hạn về mặt thời gian nên cả nhà tham vấn
và khách hàng đều có thời gian để trao đổi thông tin và xác định chính xác vấn
đề cần giải quyết Ở hình thức này nguyên tắc bí mật được đảm bảo tốt
+ Tham vấn qua internet: loại hình tham vấn này rất phát triển trong thời gian gần đây và nó bắt đầu đáp ứng được nhu cầu của những người sử dụng internet Với hình thức này khách hàng sẽ sử dụng thư điện tử hoặc tham vấn trực tuyến để cung cấp các vấn đề cũng như các thông tin của bản thân cho nhà tham vấn Nhà tham vấn sẽ phản hồi thông tin cho khách hàng qua thư điện
tử Hình thức này có ưu điểm là mọi vấn đề liên quan đến khách hàng chỉ có nhà tham vấn và khách hàng biết, thông tin phản hồi nhanh chóng, do vậy nguyên tắc giữ bí mật cũng khá đảm bảo Song do không gặp trực tiếp nên vấn đề giám sát thực hiện cách giải quyết vấn đề của khách hàng là khó tiến hành, do đó hiệu quả tham vấn không được đảm bảo
+ Tham vấn qua truyền hình: Đài truyền hình sẽ tổ chức các chương trình tham vấn Khách hàng có vấn đề sẽ gọi điện hoặc viết thư gửi về đài truyền hình, sau đó đài truyền hình sẽ chọn ra một số tình huống để các chuyên gia giải quyết trong chương trình truyền hình Hình thức này giới hạn về mặt thời gian, ngoài ra nguyên tắc giữ bí mật cũng không được đảm bảo
+ Tham vấn qua báo chí, thư từ: Đây là loại hình tham vấn gián tiếp xuất hiện sớm nhất ở nước ta, thường là tham vấn cho các khách hàng gặp rắc rối về các vấn đề như tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc gia đình Tham vấn
Trang 33qua báo chí, thù từ có một số đặc điểm riêng như: Khách hàng không biết ai ở trung tâm sẽ đọc và xử lí thư của mình, do đó thư được viết hoàn toàn do bản thân thân chủ tự suy nghĩ, không có một ảnh hưởng nào hay một tác động nào từ phía nhà tham vấn Tuy nhiên do không được gặp gỡ để nhận biết được khách hàng qua việc quan sát vẻ mặt, điệu bộ cử chỉ nên có nhiều thông tin về khách hàng bị thiếu Khi thân chủ có những bức xúc tâm lý, chuyên viên tham vấn không thể trấn an, chia sẻ kịp thời với thân chủ Vì vậy tham vấn qua báo chí, thư từ thường kém tính thời sự Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng nên nguyên tắc giữ bí mật không được thực hiện tuyệt đối Thông tin phải thông qua phương tiện trung gian là thư nên cần rất nhiều thời gian
+ Tham vấn qua đài: Các khách hàng sẽ gọi điện đến các chương trình tư vấn của đài phát thanh Qua thông tin khách hàng cung cấp, các nhà tham vấn sẽ đưa ra các lời khuyên, các gợi ý thích hợp và từ đó khán giả sẽ tự quyết định phương thức giải quyết vấn đề của mình Với hình thức này, nhà tham vấn chỉ tiếp nhận thông tin một chiều từ khán giả nghe đài nên không thể xác nhận thông tin cũng như đánh giá chính xác vấn đề trong một khoảng thời gian ngắn Chính vì vậy khó đem lại hiệu quả tham vấn như mong muốn Mặt khác, nguyên tắc giữ bí mật cũng không được đảm bảo do đài phát thanh là phương tiện thông tin đại chúng
1.2.2.4 Mục đích và chức năng của tham vấn tâm lý
Mục đích của tham vấn tâm lý
Tham vấn tâm lý có những mục tiêu chung như sau:
- Sứ mệnh của tham vấn tâm lý là hỗ trợ và phát triển
- Đạt được những thay đổi ở người đến tham vấn, những thay đổi ấy có thể diễn
ra ở ba lĩnh vực cơ bản sau:
+ Lĩnh vực cảm nhận: tham vấn tâm lý có thể làm thay đổi cách mà khách hàng cảm nhận về vấn đề và bản chất xã hội Thông thường đây là cái đầu tiên chúng ta đặt ra trong quá trình tham vấn, giúp cho thân chủ nhìn ra vấn đề,
Trang 34thay đổi cách nhìn nhận của họ Nhà tham vấn cũng phải đặt ra các mục tiêu trung gian (còn gọi là cái đích): thay đổi cảm nhận của thân chủ
+ Cái đích về niềm tin: Thân chủ thay đổi niềm tin, xây dựng niềm tin về bản thân và sự phát triển Tham vấn tâm lý hướng tới việc tạo ra những thay đổi Thông thường giai đoạn này trong TVTL thường diễn ra với thời gian khá dài mới xây dựng được niềm tin cho thân chủ
+ Cái đích về kỹ năng, thói quen: Tham vấn tâm lý hướng tới việc phát triển khách hàng, những kỹ năng mới để đương đầu một cách hiệu quả với các vấn đề của họ; Đó là những kỹ năng tận dụng tối đa các cơ hội, giảm thiểu những yếu tố trở ngại trong môi trường, hình thành thói quen ứng xử mới
Chức năng của tham vấn tâm lý
Tham vấn tâm lý thực hiện các chức năng cơ bản sau:
- Việc đầu tiên là phải cung cấp thông tin cho khách hàng: phải cung cấp những thông tin một cách khách quan, chính xác, rõ ràng Điều này sẽ giúp khách hàng tránh được những cách hiểu, những quan niệm lệch lạc, hiểu biết sai lầm
- Thể hiện sự hỗ trợ: tức là thể hiện sự trợ giúp về mặt tâm lý, tình cảm bằng những hình thức như chia sẻ, lắng nghe (Trong tham vấn tâm lý, lắng nghe
là một hoạt động chuyên biệt) Qua đó làm cho khách hàng đến tham vấn cảm thấy yên tâm, giúp họ giải tỏa tâm lý, những đè nén trong lòng
- Chức năng giải quyết các mâu thuẫn: nhà tham vấn không phải trực tiếp giải quyết, mà giúp đỡ khách hàng giải quyết những khác biệt, những mâu thuẫn của họ với người khác, và giải quyết những mâu thuẫn trong chính bản thân họ
- Chức năng giải quyết vấn đề: đứng trước những vấn đề mà khách hàng không giải quyết được, nhà tham vấn sẽ giúp khách hàng phân tích những khó khăn, tìm những giải pháp hành động (cùng khách hàng xây dựng kế hoạch hành động), tìm ra được những giải pháp quản lý vấn đề Với chức năng này, yêu cầu nhà tham vấn cần phải có vốn kinh nghiệm sống phong phú
Trang 35- Chức năng quyết định: nhà tham vấn giúp khách hàng xác định các phương án và lựa chọn các quyết định (quyết định cuối cùng là do khách hàng, nhà tham vấn chỉ phân tích những ưu, nhược của các phương án để giúp khách hàng lựa chọn quyết định đúng đắn) Đây chính là kĩ thuật hỗ trợ ra quyết định
- Thay đổi hành vi: nhà tham vấn trang bị cho khách hàng các kĩ năng sống phù hợp để khách hàng có thể ra được các quyết định, thực hiện được các thay đổi liên quan đến suy nghĩ, tình cảm, hành vi của họ
Theo “Từ điển Xã hội học” (Joachim Matthes) đã đưa ra định nghĩa về giá trị như sau: “ Giá trị là quan niệm về điều mong muốn đặc trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương thức, phương tiện và mục tiêu của hành động”.[13]
Các nhà xã hội học cổ điển Dukhiem và Werber đã đưa ra định nghĩa về giá trị: “Giá trị không thể là cái gì khác ngoài những sở hữu tập thể nảy sinh từ một bối cảnh thiết chế và thông qua bối cảnh mà chúng được hình thành, chúng góp phần điều chỉnh bối cảnh ấy.”[13]
Theo cách tiếp cận duy lý, George Homans cho rằng “cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của kết quả hành động đó và khả năng đạt được kết quả đó lớn nhất.[9]
Giá trị ảnh hưởng đến động cơ và hướng dẫn cho hành động của con người Giá trị là cái có thực và tồn tại trong hiện thực Nó phụ thuộc trực tiếp
Trang 36vào điều kiện kinh tế xã hội của từng xã hội Hệ giá trị của một xã hội là phương hướng phấn đấu cho toàn xã hội Ở mỗi cá nhân thường có các giá trị ưu tiên và luôn nhấn mạnh các loại giá trị này hơn các loại giá trị khác
Giá trị, là những hiện tượng nhất định của hiện thực có ý nghĩa đối với con người, đối với xã hội và với nền văn hóa Tất cả các đối tượng của hoạt động, các mối quan hệ xã hội, những hiện tượng tự nhiên… đều có thể trở thành những đối tượng của quan hệ giá trị, nghĩa là đều được đánh giá thật hay giả, đẹp hay xấu, thiện hay ác… Phương thức và tiêu chuẩn để tiến hành việc đánh giá các hiện tượng xã hội được củng cố trong các hành vi xã hội, trong văn hóa, trong ý thức cá nhân con người và đó là những giá trị chủ quan, đóng vai trò định hướng hành động con người Nghiên cứu, phát hiện những hiện tượng xã hội theo cách tiếp cận giá trị là hướng tới ý nghĩa đích thực của những hiện tượng ấy trong quan hệ biện chứng giữa giá trị chủ quan và giá trị khách thể Các sự kiện, hiện tượng được phơi bày và được các nhóm xã hội nhận thức, đánh giá theo những chuẩn giá trị có bản chất xã hội Một khi giá trị đã được xác lập, nó phải được tôn trọng và được phán xét đúng mức Giá trị khẳng định
tư cách tồn tại của các hiện tượng xã hội, nó phản ánh xu thế xã hội và một phần tâm trạng, ước muốn, nguyện vọng, tư tưởng… của các chủ thể xác lập giá trị
Mỗi xã hội đều có những giá trị riêng về văn hóa, lối sống mà trong đó các cá nhân luôn hướng mình hành động theo những giá trị đó Việc giải tỏa các vướng mắc trong tinh thần của mỗi cá nhân thông qua một chủ thể khác một mặt vừa là tâm lý chung của con người – khi gặp khó khăn luôn tìm đến đồng loại để được trợ giúp, mặt khác nó cũng chính là việc thực hiện theo giá trị xã hội của
cá nhân - tìm đến những nơi tin tưởng để sẻ chia Trong đề tài này, việc cá nhân tìm đến trung tâm để được tham vấn tâm lý nhằm tháo gỡ những vướng mắc của mình được xem như là một giá trị về tinh thần của cá nhân, tìm đến cộng đồng để giải quyết những vướng mắc trong cuộc sống
Trang 371.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về Giới - Gia đình - Phụ
nữ và Vị thành niên (CSAGA) là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận hoạt động vì quyền lợi và sự tiến bộ của phụ nữ và trẻ em CSAGA được thành lập từ ngày 1 tháng 7 năm 2001 theo giấy phép số 101 DK/KHCNMT của sở Khoa
học Công nghệ và Môi trường Hà Nội
Khởi nguồn đường dây tham vấn của CSAGA là hoạt động tham vấn
qua tổng đài 1088 Đây là đường dây tham vấn qua điện thoại đầu tiên của Miền Bắc Việt Nam, chính thức phục vụ từ ngày 1/1/1997 Hiện tại tham vấn đã trở thành một đơn vị độc lập bên cạnh CSAGA, hỗ trợ cho các hoat động của CSAGA
Năm 1997, phối hợp cùng đài 108 Hà Nội, đường dây tham vấn tâm lý tình cảm qua điện thoại đầu tiên tại miền Bắc lấy tên là Tư vấn tình cảm Linh Tâm ra đời dưới sự bảo trợ của Hội Thanh Thiếu Niên Việt Nam Tên gọi Linh Tâm lấy cảm hứng từ cụm từ "linh cảm từ trái tim (tâm)", nơi khởi nguồn sức mạnh, xúc cảm của con người Năm 1999, nhóm tư vấn chính thức thành lập công ty TNHH Linh Tâm với mong muốn chuyên nghiệp hóa nghề tham vấn nói riêng và các dịch vụ chăm sóc tinh thần con người nói chung Tháng 8/2009, Linh Tâm phối hợp cùng kênh VOV Giao thông 91Mhz đài tiếng nói Việt Nam ra đời chương trình tham vấn tình cảm trực tiếp đầu tiên trên Radio tại Việt Nam mang tên: "Câu chuyện tối thứ 7", sau gần 2 năm triển khai, chương trình tự hào đã trở thành một địa chỉ chia sẻ tình cảm tin cậy của các thính giả nghe đài trên toàn quốc
Hiện nay trung tâm tham vấn Linh Tâm có một số hình thức tham vấn như sau:
1 Tham vấn tâm lý qua điện thoại:
Trang 38Trung tâm tư vấn Linh Tâm là đơn vị tham vấn tình cảm qua điện thoại đầu tiên phía Bắc, 14 năm qua, tham vấn qua điện thoại vẫn được Linh Tâm xem là yếu tố làm nên uy tín, giá trị thương hiệu 14 năm tư vấn là 14 năm liên tục ngày lẫn đêm, ngày thường cũng như cuối tuần, trong năm cũng như lễ Tết, các chuyên gia tham vấn Linh Tâm song hành cùng khách hàng của mình, để yên tâm rằng bất cứ khi nào khách hàng nhấc máy, bấm số là có thể gặp chuyên gia Hơn 20.000.000 khách hàng đã chọn Linh Tâm là nơi tâm sự, trong đó nhiều chuyên gia đã may mắn được khách hàng tin cậy, chia sẻ mọi niềm vui nỗi buồn, không phải gói gọn trong một vài cuộc nói chuyện mà là người bạn tâm sự trong nhiều tháng, nhiều năm liền
Holine của đường dây tham vấn tâm lý qua điện thoại: (04) 1088, bấm
phím 1 lần thứ nhất (gặp Tham vấn tình cảm), bấm phím 1 lần thứ 2 (gặp Linh Tâm)
2 Tham vấn tâm lý trực tiếp:
Trung tâm tư vấn tình cảm Linh Tâm còn thực hiện tham vấn tâm lý trực tiếp Khách hàng có thể đăng ký tham vấn trực tiếp thông qua form đăng ký trên website của công ty để được các chuyên gia tâm lý tham vấn, giải tỏa những bế tắc tinh thần, giúp đỡ khách hành khắc phục những khó khăn về tinh thần mà họ đang gặp phải
3 Tham vấn tâm lý trên sóng Radio qua chương trình “Thức đêm cùng bạn”:
"Thức đêm cùng bạn" là chương trình trò chuyện, tham vấn tâm lý trực
tiếp trên kênh VOV Giao Thông 91Mhz từ 9h45 đến 11h30 tối thứ 6 hàng tuần, phát lại vào cùng giờ tối thứ 7 kế tiếp do VOV Giao thông và Linh Tâm phối hợp thực hiện từ tháng 8/2009 Chương trình mong muốn trở thành một diễn đàn đáng tin cậy dành cho các thính giả quan tâm đến các chủ đề tâm lý tình
Trang 39cảm, đời sống tinh thần, gia đình và các vấn đề xã hội có thể trao đổi bàn luận trực tiếp với các chuyên gia qua sóng Radio
Gọi 1900599930 để tranh luận trực tiếp cùng các chuyên gia trên sóng
Để nghe lại các chương trình trước bấm phím 8
4 Tham vấn tâm lý cộng đồng:
Hiện nay, ngoài các dịch vụ tham vấn qua điện thoại và trực tiếp thì một trong những hoạt động được Linh Tâm chú trọng phát triển và nâng cao chất lượng, đó là tham vấn cộng đồng Đây là dịch vụ thân thiện và gần gũi, thông qua 14 năm tiếp xúc với khách hàng, Linh Tâm hiểu rằng việc đem lại cho khách hàng những kiến thức và kinh nghiệm quý giá của những nhà tham vấn
có chuyên môn hàng đầu sẽ giúp khách hàng có thêm nhiều những trải nghiệm giá trị về cuộc sống Tham vấn cộng đồng mà trung tâm thực hực là hình thức một hoặc nhiều nhân viên tham viên tham vấn cùng nói chuyện, trao đổi, chia
sẻ với một nhóm người Hình thức tham vấn cộng đồng của trung tâm thường thực hiện tham vấn tâm lý cho đồng đảo học sinh/công nhân …của một trường/nhà máy nào đó Nội dung của tham vấn cộng đồng thường hướng tới trả lời các câu hỏi chung nhất, các vấn đề tâm lý chung nhất của nhóm người được tham vấn đồng thời có sự lồng ghép các kiến thức về tâm lý, giới tính của đối tượng được tham vấn trong những hoàn cảnh tham vấn cụ thể
Với đội ngũ chuyên gia có nhiều kinh nghiệm làm việc với khách hàng, đồng thời là những người có cách nói chuyện hứng thú và tạo tâm lý thoải mái, Linh Tâm đã tổ chức rất nhiều các buổi nói chuyện tại các công sở, các khu công nghiệp, các trường trung học phổ thông Điển hình như Linh Tâm đã có một số buổi nói chuyện tại khu công nghiệp Sumi- Hanel về vấn đề tình yêu, hôn nhân gia đình
Trang 40CHƯƠNG 2 NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG THAM VẤN TÂM LÝ CỦA
NHÓM KHÁCH HÀNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ THAM VẤN TÂM LÝ TẠI TRUNG TÂM TƯ VẤN LINH TÂM
Trong cuộc sống mỗi con người đều có rất nhiều nhu cầu khác nhau, từ nhu cầu cơ bản nhất (ăn, mặc, ở…) đến những nhu cầu cao hơn (được tôn trọng, được thể hiện…) Xã hội càng phát triển thì nhu cầu của cá nhân càng tăng, trong khi đó khả năng của con người là có giới hạn, do đó nếu có nhiều nhu cầu của cá nhân không được thỏa mãn sẽ dẫn tới stress, lo âu… Vì vậy xuất hiện nhu cầu tham vấn tâm lý Nhu cầu này chỉ được giải quyết khi có sự trợ giúp của nhà tham vấn được đào tạo đầy đủ về chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp Như vậy có thể thấy nhu cầu tham vấn là nhu cầu mong muốn được những nhà tham vấn giúp đỡ, chia sẻ, tháo gỡ những khó khăn, bế tắc trong cuộc sống mà chính bản thân cá nhân không tự mình giải quyết được
2.1 Nhu cầu tham vấn tâm lý của nhóm khách hàng tiếp cận dịch vụ tham vấn tâm lý tại trung tâm tư vấn Linh Tâm
Trung tâm tư vấn tình cảm Linh Tâm hiện thực hiện tham vấn tâm lý trên nhiều lĩnh vực và nhiều phương thức tham vấn Song để nhấn mạnh đến tham vấn tâm lý, chúng tôi chỉ nghiên cứu các ca tham vấn về tâm lý tình cảm – mang hình thức là những ca tham vấn tâm lý thực sự chứ không tìm hiểu các ca tham vấn chỉ cung cấp thông tin về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và các loại hình dịch vụ khác
Nhu cầu tham vấn tâm lý của mỗi giới được thể hiện trên nhiều nội dung, khía cạnh trong hoạt động tham vấn tâm lý Tuy nhiên xuất phát từ phạm vi nghiên cứu của đề tài mà báo cáo chỉ phân tích nhu cầu tham vấn tâm lý của đối
tượng khách thể là nhóm khách hàng tiếp cận dịch vụ tham vấn tâm lý tại