Nhà trường đã chú trọng mở rộng những ngành đào tạo đáp ứng cho nhu cầu xã hội và tăng cường liên kết, hợp tác với thị trường sử dụng lao động bằng việc ký kết hợp tác với Hội các nhà qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA
HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Mã ngành: 60 31 30
HÀ NỘI 2009
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Việt nam sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng và nhà nước lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn Trong sự tăng trưởng kinh tế hội nhập với thế giới tiếp cận nền kinh tế tri thức đã làm thay đổi toàn bộ đời sống của nhân dân Bên cạnh những thành tựu mà nền kinh tế thị trường đem lại vẫn tồn tại tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp Điều này làm suy giảm sự tăng trưởng kinh tế của một đất nước và nảy sinh nhiều vấn đề mới bởi nền kinh tế thị trường không chỉ tác động trực tiếp đến sinh viên mà còn tác động đến nhận thức của các bậc cha mẹ Việc định hướng cho con cái học cái gì, ra làm nghề
gì, có trái với sở trường cũng như sự đam mê yêu thích của con cái họ hay không, điều này ít nhiều ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên trước khi ra trường
Hiện nay vấn đề việc làm của sinh viên sau khi ra trường là rất quan trọng và được cả xã hội quan tâm Sinh viên là một nguồn lực lớn đóng góp cho sự phát triển tương lai của đất nước Trong quá trình đào tạo đội ngũ này, Đảng và nhà nước không ngừng quan tâm thích đáng đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo Quan điểm của Đảng ta là đặt con người vào vị trí trung tâm, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân và cả cộng đồng dân tộc, kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần Phát huy trí tuệ con người thông qua phát triển giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn lực, đuổi kịp trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong văn kiện Đại hội VIII đã nhấn mạnh “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”, nhà nước cũng đã quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị dạy và học, đào tạo, bồi dưỡng
Trang 3đội ngũ giáo viên có đủ tố chất về năng lực cũng như trình độ giảng dạy cho sinh viên
Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những trường đại học lớn nhất Việt Nam đồng thời là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, giữ vai trò nòng cốt cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam Đại học Quốc gia Hà nội luôn đưa ra những chiến lược nhằm đào tạo ra một nguồn nhân lực xuất sắc phục vụ cho yêu cầu chung của đất nước Trong quá trình xây dựng và phát triển, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị,
có uy tín lớn ở trong nước và quốc tế Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là trường dẫn đầu về thành tích đào tạo khoa học xã hội cơ bản, cung cấp cán bộ giảng dạy và nghiên cứu cho các trường đại học, cao đẳng
và các viện nghiên cứu trong cả nước Với phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ thể hiện quyết tâm thực hiện khâu đột phá trong lộ trình nâng cao chất lượng đào tạo và hội nhập quốc tế Nhà trường đã chú trọng mở rộng những ngành đào tạo đáp ứng cho nhu cầu xã hội và tăng cường liên kết, hợp tác với thị trường sử dụng lao động bằng việc ký kết hợp tác với Hội các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam, các tập đoàn khách sạn Accor của Pháp, Sunway của Malaixia… đồng thời đẩy mạnh hoạt động hướng nghiệp trong học sinh trung học phổ thông và trong sinh viên Bên cạnh đó Nhà trường không ngừng bổ sung số lượng giảng viên
và bồi dưỡng chất lượng giảng viên nhằm chuẩn hoá đội ngũ cán bộ khoa học đầu đàn, đầu ngành của trường
Mỗi cá nhân từ khi sinh ra và lớn lên đều mong muốn có được một việc làm ổn định và yêu thích Mỗi gia đình đều mong muốn kỳ vọng con cái trưởng thành và có một việc làm ổn định Mỗi Quốc gia đều mong muốn giải quyết triệt để tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm, duy trì một
Trang 4xã hội tăng trưởng về kinh tế, ổn định về an ninh Để đạt được những mong muốn trên mỗi cá nhân cũng như gia đình đều có những hướng đi riêng
Định hướng nghề nghiệp một cách đúng đắn trước tiên có ích cho cá nhân vì nếu biết quyết định công việc đúng với khả năng, sở thích và năng lực của mình thì nó sẽ quyết định được sự thành đạt của chính cá nhân đó
Đó chính là tiền đề để cá nhân đó phát huy được khả năng của mình và trở thành người có ích cho gia đình và xã hội Định hướng nghề nghiệp đúng làm cho bộ máy cơ cấu của xã hội vận hành một cách suôn sẻ và giảm đi tình trạng thừa thầy thiếu thợ cho xã hội Bởi, nếu định hướng nghề nghiệp không đúng sẽ gây lãng phí nguồn nhân lực và làm rối loạn cơ cấu nghề nghiệp xã hội
Định hướng nghề nghiệp đúng nhằm điều hoà mối quan hệ cung- cầu trên thị trường lao động từ đó có thể hoạch định những chính sách đảm bảo cho người lao động được xếp đặt vào đúng vị trí thích hợp với chuyên môn và năng lực của họ Để từ đó, đảm bảo cho cơ cấu nghề nghiệp của xã hội được tái sản xuất và vận hành một cách suôn sẻ
Xuất phát từ những mong muốn trên đề tài: “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện nay” nhằm tìm hiểu động cơ học tập, định hướng cho công việc của sinh viên sau khi ra trường như thế nào? và những tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên hiện nay
Đề tài mong muốn góp phần làm sáng tỏ thực trạng, những yếu tố tác động và xu hướng chọn nghề của tầng lớp sinh viên nói chung và nhóm sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nói riêng
2 Ý nghĩa của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học:
Trang 5Đề tài “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện nay” tìm ra được những yếu tố tác động tới hành vi lựa chọn nghề nghiệp tương lai của sinh viên từ đó khái quát nên những quy luật và tính quy luật chi phối đến hành vi lựa chọn đó Đề tài tìm ra sự nhận thức về việc làm tương lai của sinh viên và những nguyên nhân dẫn tới sự nhận thức đó, đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp tích cực giúp cho họ nhận thức và hành động đúng đắn
Trong đề tài này, chúng tôi cũng sử dụng một số khái niệm công cụ
và những lý thuyết xã hội học để làm phương tiện cho việc nghiên cứu qua
đó phát hiện tính quy luật và những khám phá mới bổ sung hoàn thiện các khái niệm, lý thuyết đã sử dụng
2.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài này làm rõ thực trạng của việc định hướng nghề nghiệp, việc làm của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trong bối cảnh hiện nay Đồng thời chỉ ra những nguyên nhân và những yếu tố ảnh hưởng đến xu thế chọn nghề của sinh viên từ đó đưa ra những khuyến nghị mang tính thực tiễn giúp các cơ quan chức năng có cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách hợp lý đặc biệt là chính sách giáo dục và đào tạo
- Góp phần đưa ra các giải pháp giúp cho sinh viên định hướng nghề nghiệp tốt hơn, phù hợp với năng lực sở trường
Trang 64.1 Đối tượng nghiên cứu
Định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện nay
4.2Khách thể nghiên cứu:
Sinh viên trường ĐHKHXH&NV
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: tháng 1 năm 2008 đến tháng 10 năm 2008
- Địa bàn ngiên cứu: Trường ĐHKHXH&NV- ĐHQG Hà Nội
5 Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được áp dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, với phương pháp này chúng tôi có thể nắm bắt được một số thông tin sơ bộ tại địa bàn nghiên cứu Trong quá trình thu thập thông tin phương pháp này
đã giúp chúng tôi ghi nhận được những biểu hiện bên ngoài của sinh viên, những biểu hiện trong động cơ học tập cũng như định hướng về việc làm sau khi ra trường
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Ngoài phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi chúng tôi có sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu 10 - 15 đối tượng đã đi làm và 13 sinh viên ngẫu nhiên đại diện cho mỗi khoa để bổ trợ cho phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi nhằm thu nhận những thông tin định tính về suy nghĩ cũng như động cơ bên trong của sinh viên nhằm bổ sung những thông tin mà phương pháp định lượng không thực hiện được
- Phương pháp phân tích tài liệu
Các thông tin mà chúng tôi thu nhận được qua phiếu trưng cầu ý kiến
đã được xử lý qua chương trình phần mềm SPSS Chúng tôi tiến hành phân tích các thông tin thứ cấp để nhằm làm rõ động cơ, thực trạng và nguyên
Trang 7nhân dẫn tới nhận thức và định hướng nghề nhiệp của sinh viên đồng thời chỉ ra những mối quan hệ cũng như những yếu tố tác động tới việc định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường
Ngoài phương pháp phân tích trên chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu khác như sách báo, các thông tin trên mạng và các bài viết liên quan để bổ sung thông tin cho đề tài nhằm hoàn thiện đề tài
- Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu trưng cầu ý kiến: Đối
tượng là sinh viên K50 của 09 khoa: Khoa Lưu trữ, Khoa Văn học, Khoa Báo chí, Khoa Thông tin Thư viện, Khoa Triết học, Khoa Ngôn ngữ, Khoa Khoa học Quản lý, Khoa Du lịch, Khoa Xã hội học
Phương pháp phỏng vấn này bao gồm 18 câu hỏi với dung lượng là 398 phiếu, chúng tôi đã thu được những thông tin định lượng có độ chính xác cao cung cấp thông tin chủ yếu cho việc kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp chọn mẫu:
Cơ cấu giới tính: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có
tỷ lệ nữ là 80 - 85% là nữ, số sinh viên phỏng vấn có cơ cấu giới như sau:
Nam: 27 sinh viên: 7,0 %
Nữ: 371 sinh viên: 93,0 %
* Tỷ lệ học lực của sinh viên:
Giỏi (trên 8.0): 44 sinh viên chiếm 11.1%
Khá (7.0 - 8.0): 254 sinh viên chiếm 63.8%
Trung bình (6.0 -7.0): 99 sinh viên chiếm 24.9%
TB kém (5.0 - 6.0):1 sinh viên chiếm 0.3%
Trang 86 Giả thuyết nghiên cứu:
- Hà nội là địa bàn có nhiều tiềm năng về chính trị, kinh tế văn hóa
xã hội Sinh viên ra trường có nhu cầu tìm việc làm và sinh sống tại địa bàn này
- Định hướng nơi làm việc của sinh viên Trường ĐHKHXH&NV
có sự khác nhau giữa các ngành Một số sinh viên tập trung theo hướng vào các công ty tư nhân, nước ngoài
- Định hướng việc làm của sinh viên ảnh hưởng bởi: gia đình, nhà trường
Trang 97 Khung lý thuyết:
Điều kiện KT – VH - XH
Gia đình
Nhà trường
Định hướng nghề nghiệp hiện nay
Trang 10PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
1.1 Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu:
1.1.1 Thuyết hành động xã hội
M.Weber được xem là nhà xó hội học đầu tiên khởi xướng quan điểm hành động xó hội Theo ụng, đối tượng đích thực của xó hội học là hành động xó hội ễng núi: "Xó hội học là một khoa học cố gắng hiểu theo kiểu diễn giải hành động xó hội để bằng cách đó đạt tới việc giải thích nhân quả về chuỗi hành động và tác động của nó Hành động là hành vi con người khi và chỉ trong chừng mực cá nhân đang hành động gắn một ý nghĩa chủ quan vào đó"1 Với M.Weber, hành động xó hội là hành động hướng đến những người khác cú ý nghĩa và hướng đến cái mà chú thể gán cho một
ý nghĩa chủ quan ễng cho rằng giải thớch xó hội học đối với hành động phải bắt đầu bằng việc quan sát và lý giải trạng thỏi tinh thần chủ quan Trong khi nhà thực chứng luận nhấn mạnh đến sự kiện và quan hệ nhõn quả, thỡ nhà hành động luận nhấn mạnh đến sự thấu hiểu Vỡ khụng thể đi vào bên trong đời sống tinh thần của chủ thể, nờn nhà xó hội học phải phỏt hiện cỏc ý nghĩa, đạt được sự thấu hiểu bằng phương pháp lý giải, mà khụng thể bằng đo lường khách quan Vỡ cỏc ý nghĩa thường xuyên được dàn xếp trong quá trỡnh tương tác, nên không thể thiết lập được các quan
hệ nhân quả đơn giản
M.Weber thừa nhận sự tồn tại của các phạm trù như giai cấp, đảng phái, nhóm vị thế, quan liêu Nhưng tất cả những cái đó đều được tạo nên bởi những cá nhân đang thực hiện hành động xó hội Do đó, theo M.Weber, hành động xó hội phải là tõm điểm của xó hội học
1 Bailey, 2003, tr 185
Trang 11Định nghĩa hành động xó hội
Theo quan niệm của Weber, một hành động xó hội là một hành động của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hành động đó Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thỡ khụng thể là một hành động xó hội Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thỡ khụng phải là hành động xó hội Hành động không phải là kết quả của quá trỡnh suy nghĩ
cú ý thức thỡ khụng phải là hành động xó hội
Hành động xó hội gồm bốn kiểu: kiểu hành động truyền thống được thực hiện bởi vỡ nú vẫn được làm như thế từ xưa đến nay, kiểu hành động cảm tính bị dẫn dắt bởi cảm xúc, kiểu hành động duy lý - giỏ trị hướng tới các giá trị tối hậu, kiểu hành động duy lý - mục đích hay cũn gọi là kiểu hành động mang tính công cụ ễng giải thớch hành động như sau:
Trước khi có thể tỡm ra nguyờn nhõn của một hành động, cần phải hiểu được ý nghĩa mà chủ thể hành động đó gắn vào hành động đó Weber phân biệt hai kiểu thấu hiểu Thứ nhất, hiểu trực tiếp có thể hiểu được một người đang giận dữ bằng cỏch quan sỏt biểu hiện trờn nột mặt chỳng ta Kiểu thứ hai là sự thấu hiểu mang tớnh giải thớch Nhà xó hội học, ở đây hiểu ý nghĩa của một hành động theo nghĩa là những động cơ gắn vào đó Cách hiểu thứ hai là phải hiểu được vỡ sao người đó đang giận dữ Để đạt được kiểu hiểu này, ta phải đặt mỡnh vào tỡnh huống của chỳng ta để hiểu được những động cơ đằng sau hành động
Tuy nhiên, theo Weber, hai kiểu hiểu trên vẫn chưa đủ để giải thích được một chuỗi hành động Để có một giải thích nguyên nhân đầy đủ, cần phải xác định cái gỡ đó tạo nờn động cơ dẫn đến chuỗi hành động Đến chỗ này, Weber lại tiến đến tiếp cận thực chứng luận: ông cho rằng phải phát
Trang 12Weber cho rằng các hành động xó hội, nhất là những hành động xó hội lụi kộo số lớn người cùng hành động theo một cách tương tự cũng có thể dẫn đến những biến đổi xó hội quy mụ lớn Ngay cả khi liờn quan đến các nhóm, thiết chế, tổ chức, thỡ Weber vẫn cho rằng chỳng liờn quan đến một kiểu nhất định của các hành động xó hội của cỏc cỏ nhõn
1.1.2 Thuyết tương tác biểu trưng:
Người đại diện cho thuyết này là George H Mead, các tác giả của thuyết này cho rằng xã hội như là một mạng lưới đan kết các nhóm nhỏ và những vai trò cá nhân Do đó xã hội được coi là những tương tác đang móc nối, dựa trên những nhận thức của chủ thể và những tác động ảnh hưởng lẫn nhau Trong nội dung của thuyết hành động tương tác có việc học tập các hành vi phù hợp, việc ứng dụng các sáng kiến, hoặc việc phản ánh lại những cái do người khác áp đặt cho hành động của họ
Trong học thuyết tương tác biểu trưng Mead đã trình bày nội dung của hành động xã hội gồm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn kích thích: những kích thích từ môi trường tác động tới các giác quan và các cơ quan giác quan tiếp nhận các kích thích đó nhiệm
vụ của giai đoạn này là thu thập thông tin và chuyển về cơ quan phân tích
+ Giai đoạn nhận thức: phân tích các thông tin sau khi đã được tiếp nhận, chủ thể hành động đánh giá những yếu tố quan trọng, không quan trọng , những yếu tố phù hợp hay không phù hợp với nhu cầu của chủ thể
từ đó đưa ra phương án trả lời kích thích
+ Giai đoạn thao tác tình huống: các thao tác được hình thành chủ thể hành động cân nhắc, tính toán, dự báo những khả năng trả lời kích thích chuẩn bị sẵn mô hình hành động bên trong
Trang 13+ Giai đoạn thực hiện hành động: các chương trình hành động đã được thao tác từ phía bên trong nó được thể hiện ra hành vi bên ngoài dưới dạng các phản ứng để trả lời cho các kích thích nó nhận được2
1.1.3 Thuyết xã hội hóa:
Xã hội hóa là một quá trình, nhờ đó mỗi cá nhân lĩnh hội được các giá trị, chuẩn mực từ xã hội hay nói cách khác xã hội hóa là quá trình mỗi con người học tập và đóng các vai trò
Quá trình xã hội hóa diễn ra trong suốt đời của mỗi con người, thậm chí có tác giả còn cho rằng xã hội hóa được diễn ra trong giai đoạn bào thai Môi trường xã hội hóa gồm ba môi trường cơ bản là: Gia đình, Nhà trường và xã hội
Thực tế cho thấy, mỗi cá nhân không thể tách rời người khác, họ không thể thực hiện các vai trò nếu như không tồn tại trong mối quan hệ đối với những người xung quanh Các đặc điểm kinh tế văn hoá là những yếu tố chi phối mạnh nhất trong quá trình xã hội hoá của họ Có thể nói mỗi hoạt động của cá nhân là phức hợp tác động của cả những yếu tố chủ quan và khách quan Các nhà xã hội học khi nghiên cứu về các giai đoạn của quá trình xã hội hoá đã chỉ ra rằng, xã hội hoá ở lứa tuổi thanh niên là giai đoạn vô cùng quan trọng vì lứa tuổi này là lúc tốt nhất để kiểm nghiệm những tri thức thu nhận thụ động qua hoạt động thực tiễn Những kinh nghiệm xã hội cũng được bổ sung qua quá trình lao động Cá nhân lúc này
đã có thể phán xét, đánh giá về các giá trị chuẩn mực mà họ phải tuân thủ, cân nhắc xem lựa chọn như thế nào là có lợi nhất để làm theo Sự định hướng nghề nghiệp và lựa chọn việc làm của người sinh viên cũng tuân theo quy luật đó
1.1.4 Lý thuyết về giới và lao động
Trang 14Lý thuyết về giới và lao động giải thích sự khác biệt trong hoạt động lao động giữa hai giới nam và nữ Cụ thể là những khác biệt trong hoạt động lao động sản xuất và tiền lương, về việc nắm bắt và khai thác các
cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp hay vai trò kép của người phụ nữ ở hai khía cạnh là người phụ nữ trong gia đình và người phụ nữ trong hoạt động lao động nghề nghiệp …Một số quan điểm cho rằng sự khác biệt này bắt nguồn từ những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ Những đặc điểm bẩm sinh này đã quy định cho họ những thiên chức riêng, những việc
mà họ phải làm dù muốn hay không muốn vì giới kia không thể làm thay thế cho họ được
Một số nhà xã hội học khác lại cho rằng sự khác biệt này xuất phát
từ vai trò giới Đó là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với từng giới Vai trò này đã được quy định bởi các chuẩn mực giá trị xã hội cụ thể và chi phối hành vi của các cá nhân trong cuộc sống của họ
Quan điểm của các nhà xã hội học kinh tế không phủ nhận những khác biệt sinh học giữa nam và nữ nhưng tập trung sâu hơn vào một số vấn
đề như cơ cấu của xã hội, các thiết chế xã hội để tìm những tác nhân hình thành và củng cố sự bất bình đẳng giới trong kinh tế lao động và quản lý Vận dụng lý thuyết giới có thể lý giải sự khác biệt khi tham gia vào lĩnh vực nghề nghiệp giữa hai giới
1.1.5 Mạng lưới xã hội
Lý thuyết về mạng lưới xó hội là một vấn đề của phương pháp luận liên quan đến các nghiên cứu về xó hội học, nhõn học và nhiều chuyờn ngành khoa học xó hội Mạng lưới xó hội là một cỏch tiếp cận mới với cụng cụ nghiờn cứu được xây dựng trên 4 định đề cơ bản:
- Cỏc cỏ nhõn cỏ thể hoỏ trong cỏc mối quan hệ
Trang 15- Các kinh nghiệm được sử dụng và mang ý nghĩa trong cỏc hệ thống cỏc mối quan hệ
- Các mối quan hệ quyết định một phần các kinh nghiệm thực tế và các biểu hiện của nó
- Nghiờn cứu cỏc mối quan hệ giúp ta hiểu được các hiện tượng
xó hội
Các phân tích bằng thuyết mạng lưới xó hội xuất hiện lần đầu tiên năm 1954 trong bài viết của John A Barnes, nhà xó hội học thuộc trường
phái Manchester, công bố trên tạp chí “Quan hệ con người” Những tư
tưởng tiên phong xuất hiện trong triết học xó hội của Georg Simmel (đầu thế kỷ XX), tư tưởng tâm lý xó hội của Moreno (đầu những năm 30), nhân học cấu chức chức năng của Radcliffe Brown, nhân học cấu trúc của Claude Levis-Strauss, ngôn ngữ học của Roman Jakobson và cỏc lý thuyết toỏn học (đại số tuyến tính, ma trận và các lý thuyết về đồ thị) Nghiên cứu mạng lưới hoàn chỉnh và dựa vào lý thuyết về biểu đồ và ma trận để thể hiện và phân tích các dữ liệu về quan hệ nhằm làm rừ cỏc đặc tính cấu trúc mạng lưới Đặc điểm về mặt cấu trúc của một mạng lưới xó hội dựa trờn
cỏc yếu tố: đặc điểm của mối quan hệ (loại tương tác) định hướng – không
định hướng, đối xứng – phi đối xứng, trực tiếp gián tiếp, tính đồng nhất: sự tương đồng về đặc điểm giữa các nhân tố trong mối quan hệ, sức mạnh của cỏc quan hệ
Áp dụng thuyết mạng lưới xó hội trong nghiờn cứu này chỳng tụi muốn tỡm hiểu những tỏc động xung quanh của mối quan hệ gia đình trong việc định hướng việc làm cho con cái họ và nhận thức của sinh viờn về việc làm từ đú nhận biết xu hướng chọn việc làm của sinh viờn hiện nay
1.1.6 Thuyết gán nhãn
Trang 16Người đưa ra những quan điểm và phân tích có tính chất nền móng cho lý thuyết gỏn nhón hiệu là nhà xó hội học nổi tiếng người Mỹ George
Herbert Mead (1863 - 1931) Mead phõn tớch rằng cỏi tụi là nền tảng của
sự tồn tại của con người, nó chính là nhận thức của cỏ nhõn về tỡnh trạng
là một thực thể khỏc biệt trong xó hội Cỏi tụi cú nguồn gốc từ kinh nghiệm
xó hội và cú thể tỏch biệt trong sự liờn kết với xó hội, nếu bị cỏch ly khỏi
xó hội thỡ cỏi tụi khụng xuất hiện Kinh nghiệm xó hội là sự trao đổi các biểu tượng có ý nghĩa mà cỏc cỏ nhõn tham gia tương tác xó hội cựng chia
sẻ Con người cũng có khả năng tưởng tượng, phán đoán phản ứng của người khác đối với mỡnh và qua đó nhỡn nhận bản thõn mỡnh như người khác đang làm điều đó Quan điểm này được Charles Horton Cooley.
phỏt
triển thành cái tôi gương soi với hàm ý quan niệm của một người đang có
về cái tôi của mỡnh xuất phỏt từ sự phản ứng của người khác đối với người
đó Trong tương tác xó hội, người khác như là tấm gương giúp một cá nhân
có thể nhỡn thấy bản thõn mỡnh như đang đặt mỡnh vào vai trũ của người khác theo cách tưởng tượng, phán đoán Mead và Cooley cho rằng khả năng đảm nhận vai trũ của người khác dựa vào việc sử dụng biểu tượng trong tương tác xó hội là nền tảng của cỏi tụi và mọi kinh nghiệm xó hội Như vậy, đánh giá, phản ứng của người khác có thể gây tác động lớn đến việc một người tự nhận xét về bản thân mỡnh
Người đó cú cụng định hỡnh và phổ biến lý thuyết gỏn nhón hiệu là nhà xó hội học người Mỹ Howard Becker (1928) ễng khẳng định rằng sự
lệch lạc chỉ có thể định nghĩa như "hành vi mà con người được gọi như
A1n_nh%C3%A3n_hi%E1%BB%87u - cite_note-2#cite_note-2 vỡ sự lệch lạc cú tớnh tương đối và phụ thuộc vào tỡnh huống tương tác xó hội cụ thể ễng tập trung vào phõn tớch cơ chế và nguyên nhân dẫn đến một hành vi nào đó được xác định là lệch lạc hay phạm tội trong khi những hành vi tương tự lại không Lý thuyết của Becker nhấn mạnh đến phảm ứng của
Trang 17người khác cũng như những hệ quả của phản ứng đó là tạo ra sự lệch lạc Khi một người đó bị gỏn nhón hiệu lệch lạc, người đó sẽ trở nên bị tách rời khỏi xó hội, tỡm đến với những người cùng cảnh ngộ và đến một mức độ nào đó, sẽ phản ứng theo đúng những gỡ mà xó hội gỏn cho
1.2 Các khái niệm
1.2.1 Khái niêm sinh viên:
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ “Study” có nghĩa là người làm việc, học tập, người tìm hiểu, khai thác tri thức
Theo TS Phạm Minh Hạc: “Sinh viên là người đại biểu cho nhóm xã hội đặc biệt là thanh niên đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội’3
V.I Lênin khi phân tích tình hình và hoạt động của giới sinh viên cũng đã nói về sinh viên như sau: “Sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất trong giới tri thức, mà sở dĩ giới tri thức được gọi là tri thức chính vì nó phản ánh và thể hiện sự phát triển của các lợi ích giai cấp và của các nhóm chính trị trong toàn bộ xã hội một cách có ý thức hơn cả, kiên quyết hơn cả
và chính xác hơn cả” Có thể nêu ra một số đặc điểm để phân biệt sinh viên với các nhóm xã hội khác như sau:
- Sinh viên là nhóm xã hội có khả năng di động cao, do có tính chất hoạt động nghề nghiệp, họ có nhiều cơ hội hơn trong việc chiếm lĩnh những địa vị cao trong xã hội
- Có lối sống và định hướng giá trị đặc thù, năng động, khả năng thích ứng cao và tiếp thu nhanh những giá trị mới của xã hội
- Có những đặc thù về lứa tuổi và giai đoạn xã hội hoá khác nhau
với các nhóm thiếu niên, nhi đồng, nhóm trung niên và người cao tuổi
Trang 181.2.2 Khái niệm nhận thức:
Nhận thức là quá trình phức tạp tiếp nhận, xử lý và phân tích thông tin giúp con người hiểu biết ngày càng đầy đủ, chính xác về thế giới xung quanh
1.2.3 Khái niệm việc làm
Người có việc làm là người làm việc trong những lĩnh vực ngành nghề, dạng hoạt động có ích không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập
để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội
Khi nói tới việc làm hầu hết các khái niệm đều hay nhắc tới hai yếu tố rất quan trọng và bổ trợ cho nhau mà chúng tôi cấn phải làm rõ hơn đó là : hoạt động lao động và nguồn thu nhập
Thu nhập và nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó nguồn thu nhập là các khoản thu nhập nhận được trong một khoảng thời gian nhất định, thường tính theo tháng, năm(4)
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra cấc loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội
Như vậy, khi nói tới một việc làm là phải hội tụ được ba đặc điểm sau:
- Là hoạt động tạo ra những sản phẩm vật chất hoặc tinh thần
- Có mục đích tạo ra hoặc nhận được thu nhập bằng tiền bạc hiện vật
- Không bị pháp luật ngăn cấm
Chúng ta có thể phân biệt giữa lao động và việc làm ở chỗ lao động chủ yếu nhấn mạnh tới hoạt động cơ bắp hoặc trí tuệ của con người còn việc làm nói tới quá trình sử dụng sức lao động
(4) 941 – Hoàng phê: Từ điển tiếng việt , trung tâm từ điển ngôn ngữ viện ngôn ngữ Hà nội
Trang 19Việc làm và lao động là những khái niệm có liên quan chặt chẽ nhưng không hoàn toàn giống nhau Việc làm có giới hạn về số lượng, nguồn lao động cũng có giới hạn về số lượng và nhân khẩu học nhưng sức lao động thì không Việc làm thể hiện mối quan hệ giữa con người với những chỗ làm việc cụ thể, là những giới hạn xã hội cần thiết trong đó lao động diễn ra Việc làm là điều kiện cần thiết để thoả mãn nhu cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người Đứng ở góc độ kinh
tế việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất Như vậy việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, nó thuộc loại những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống
xã hội.5
1.2.4 Khái niệm định hướng
Theo nghĩa đen “Định hướng” là việc dùng la bàn để xác định phương
hướng, từ đó để tìm ra hướng đi đúng Khái niệm này thường được dùng trong ngành hàng hải, ngành hàng không hay trong quân sự hoặc các nhà thám hiểm thường dùng để xác định phương hướng khi hoạt động
Trong Tâm lý học “Định hướng” được hiểu là một hành động có ý chí xuất hiện do những kích thích gián tiếp, kích thích bằng ngôn ngữ, được cá nhân nhận thức phù hợp với các chuẩn mực xã hội
Hành động ý chí của con người bao giờ cũng có mục đích Mục đích chính là ý định cần thiết được thực hiện, là nguyện vọng muốn đạt tới một kết quả nhất định Vì vậy trước khi hành động con người thường đặt ra câu hỏi: Hành động để làm gi? Nhằm tới cái gì? Vì vậy trước khi và trong khi
5 [Trần Đình Hoan – Lê Mạnh Khoa; sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam: NXB
Trang 20xảy ra hành động, ý chí con người luôn ý thức được mục đích của hành động và biểu tượng rõ rệt về kết quả hành động đó 6
1.2.5 Khái niệm định hướng giá trị:
Định hướng giá trị là quá trình hình thành cơ chế biến đổi giá trị xã hội thành động cơ hành vi, thành cấu phần hữu cơ hoạt động sống của con người Đó là quá trình đa dạng và tổng hợp7
1.2.6 Khái niệm nơi làm việc:
Nơi làm việc là không gian vật chất xã hội, nơi mà việc làm được thực hiện Nơi làm việc bao gồm : Vị trí xã hội nhất định trong cơ cấu xã hội của một cơ quan hay tổ chức, bởi một môi trường tự nhiên, môi trường
xã hội ở đó hoạt động nghề nghiệp và việc làm được thực hiện Nơi làm việc cũng là giá trị mà con người trong xã hội định hướng tới Xu hướng chung người ta đều mong muốn được làm việc ở những nơi có điều kiện tốt Điều kiện tự nhiên như : môi trường tự nhiên, cảnh quan, khí hậu, nguồn nước, đất đai điều kiện xã hội như nhà cửa, giao thông, thông tin liên lạc, văn hoá xã hội, tôn giáo, chính trị pháp luật
Căn cứ theo các tiêu chí về các điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội trong phạm vi đề tài này chúng tôi nghiên cứu định hướng địa bàn làm việc của sinh viên là : thành phố, thị xã và nông thôn
1.2.7 Khái niệm thị trường
Thị trường là phạm trù kinh tế tổng hợp gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Thừa nhận sản xuất hàng hóa không thể phủ
6 Trần Thị Minh Đức: Tâm lý học đại cương NXB Giáo dục Hà nội, 1996
7 Vũ Hào Quang: Định hướng giá trị của sinh viên - con em cán bộ khoa hoc NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2001.
Trang 21định sự tồn tại khách quan của thị trường Qua nghiên cứu và phân tích lí thuyết về thị trường của các nhà kinh điển ta thấy một số vấn đề sau:
- Thị trường gắn với sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa là cơ sở kinh tế quan trọng của thị trường Thị trường phản ánh trình độ và mức độ của nền sản xuất xã hội
- Mối quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài ngày càng được nhận thức đầy đủ và đúng đắn Từ chỗ chỉ đề cao thị trường ngoài nước hoặc trong nước đến chỗ thấy được quan hệ thống nhất hữu cơ của hai loại thị trường này Phải có các giải pháp để biến thị trường trong nước thành bộ phận của thị trường thế giới
- Vai trò điều tiết của nhà nước đối với thị trường là cần thiết tất yếu Điều tiết thị trường theo yêu cầu của các quy luật kinh tế và sự vận động khách quan của thị trường
- Ngày nay không tồn tại thị trường dưới dạng thuần túy đơn nhất Trong nền kinh tế mỗi nước đều tồn tại nhiều dạng thức, nhiều thể loại và nhiều cấp độ thị trường khác nhau
Thị trường và kinh tế thị trường là những vấn đề phức tạp Từ những nghiên cứu sơ lược, cổ xưa cho đến những nghiên cứu quy mô khoa học ngày nay phạm trù thị trường luôn được đưa thêm những nội dung mới Tùy từng điều kiện và góc độ nghiên cứu mà người ta đưa ra các khái niệm thị trường khác nhau
Khái niệm cổ điển cho rằng: thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa Theo khái niệm này người ta đã đồng nhất thị trường với chợ và những địa điểm mua bán hàng hóa cụ thể Trong kinh tế hiện đại ít dùng khái niệm này
Khái niệm hiện đại về thị trường rất nhiều Theo sự tương tác của
Trang 22mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để giải quyết giá cả và số lượng hàng hóa mua bán Theo quan niệm này tác động và hình thành thị trường là một quá trình không thể chỉ là thời điểm hay thời gian cụ thể
Theo nội dung, chúng ta có thể quan niệm: thị trường là tổng thể các quan hệ về lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ, tổng thể các giao dịch mua bán và các dịch vụ Như vậy, thị trường vừa có yếu tố ảo, vừa có yếu
tố thực Bản chất của thị trường là giải quyết các quan hệ
Như vậy, có thể tổng hợp lại rằng, người bán và người mua là hai lực lượng cơ bản trên thị trường Đó cũng là hình ảnh cụ thể nhất của hai yếu
tố cung- cầu của thị trường Trong hệ thống thị trường, mọi thứ đều có giá
cả, đó là giá trị của hàng hóa và dịch vụ được tính bằng tiền
1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Lĩnh vực lao động - nghề nghiệp - việc làm là một trong những vấn
đề được các nhà khoa học quan tâm Các tác giả nghiên cứu tập trung chủ yếu tới việc định hướng giá trị, định hướng nghề nghiệp, dự định nghề nghiệp và việc làm, thực trạng lao động việc làm, tuy nhiên việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên trước khi ra trường có rất ít công trình đề cập tới Trong khi nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp phần lớn các tác giả chỉ hướng đến đối tượng là thanh niên nói chung mà ít bàn đến định hướng nghề nghiệp cho sinh viên nói riêng Trong việc nghiên cứu lĩnh vực này chỉ có một số ít tác giả đề cập như sau:
- Trong đề tài “Định hướng giá trị của thanh niên trong lĩnh vực nghề nghiệp và việc làm”, tác giả Trần Xuân Vinh cho rằng: nghề nghiệp và việc làm chính là mối quan tâm hàng đầu và là giá trị quan trọng nhất của thanh niên hiện nay Ở đây tác giả nhấn mạnh đến giá trị việc làm bên cạnh hàng loạt các giá trị khác mà người thanh niên cần đạt được như học vấn, phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống qua đó ta cũng thấy được tầm quan
Trang 23trọng của nghề nghiệp việc làm đối với tầng lớp thanh niên nói chung, sinh viên nói riêng
- Trong một nghiên cứu do Viện thanh niên tiến hành tháng 10 năm
1992 cho thấy: trong tổng số 1542 người được hỏi có tới 72,0% trong số đó
đã khẳng định việc làm là mối quan tâm số một hiện nay Trong khi đó mối quan tâm tới học tập và phát triển tài năng là 49,0%, quan tâm tới tình yêu hôn nhân gia đình là 37,0%, quan tâm đến thu nhập làm giàu là 24,0%, quan tâm tới xây dựng tổ chức Đảng, Đoàn là 26.7%
- Tác giả Vũ Hào Quang trong nghiên cứu về “Định hướng giá trị con em cán bộ khoa học”8
cũng đã đề cập tới vấn đề nghề nghiệp việc làm theo tác giả nghề nghiệp việc làm ở đây là một trong những giá trị quan trọng mà mỗi sinh viên hướng tới Trong nghiên cứu này tác giả đã đưa ra một số khía cạnh trong định hướng giá trị nghề nghiệp như: Người hướng nghiệp, những yếu tố quan trọng nhất của việc lựa chọn nghề nghiệp Theo kết quả nghiên cứu cho thấy đa số sinh viên có người hướng nghiệp là bố
mẹ, phần lớn sinh viên làm đúng ngành được học (80.8%), chỉ có 45,0% sinh viên chọn tiêu chí “có thu nhập cao”, 42,0% chọn giá trị được xã hội coi trọng Đây là một nghiên cứu quan trọng giúp chúng ta hiểu được xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của tầng lớp thanh niên hiện nay9
Trong những năm gần đây, ở nước ta có rất nhiều đề tài nghiên cứu
về việc làm của sinh viên như đề tài “Tìm hiểu định hướng giá trị của
thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” của tác giả Thái
Duy Tuyên Trong đề tài của mình tác giả đã cho rằng sự lựa chọn nghề nghiệp là một trong những vấn đề quan trọng của mỗi người, nhưng quan niệm về ngành nghề cũng như vị trí của chúng trong xã hội luôn có sự biến đổi cùng với sự biến đổi của kinh tế xã hội
Trang 24Tác giả Phạm Tất Thắng với đề tài “Định hướng chọn nghề và nơi
làm việc của sinh viên khi tốt nghiệp” đã đi sâu vào hai khía cạnh: Thực
trạng định hướng chọn nghề của sinh viên sau khi ra trường và định hướng nơi làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp
Tác giả Nguyễn Văn Buồm trong “Nghề nghiệp và việc làm của sinh
viên hiện nay” cũng đã đề cập đến ba vấn đề:
Thứ nhất là việc chọn nghề của sinh viên
Thứ hai là việc kiếm sống của sinh viên
Thứ ba là việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp
Nhìn chung, các nghiên cứu xã hội học về đề tài việc làm – nghề nghiệp của sinh viên là khá phong phú và đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về thực trạng lao động và việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp cũng như tầm quan trọng của đào tạo – việc làm Việc nghiên cứu đề tài
“Định hướng việc làm của sinh viên sau khi ra trường hiện nay” sẽ bổ sung cho điều đó đồng thời gợi mở một số biện pháp đối với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nhằm phát huy những kết quả đã đạt được
và góp phần thúc đẩy công tác đào tạo có hiệu quả nhất
- Nghiờn cứu của Trần Trung Dũng về động cơ học tập của sinh
viờn hiện nay cho thấy:
Thứ nhất, động cơ học tập của sinh viên rất đa dạng, chịu sự chi phối của các yếu tố kinh tế - xó hội và điều kiện hoạt động khác nhau nhưng nhỡn chung rất lành mạnh và luụn hướng tới các nhu cầu mưu sinh, lập nghiệp Nhu cầu này luôn thích ứng với xó hội, thoả món được các chuẩn mực và xu thế phát triển của xó hội
Thứ hai, động cơ học tập của sinh viên hiện nay chủ yếu hướng vào các động cơ mang tính cá nhân như học để kiếm việc, học để nâng cao tri thức, phát triển nhân cách cũn động cơ học để phục vụ yêu cầu phát triển
Trang 25đất nước được sinh viên lựa chọn với tỷ lệ thấp Điều này là do tác động của mặt trái cơ chế thị trường gây nên Nó làm cho sinh viên hiện nay lo cho cuộc sống cá nhân nhiều hơn, thực dụng hơn Kết quả này có thể làm cho một số người không hài lũng bởi vỡ bao giờ họ cũng muốn thế hệ trẻ phải hướng vào mục tiêu xó hội một cỏch rừ nột Tuy nhiờn, nếu sinh viờn trang bị cho mỡnh tri thức, bồi dưỡng những phẩm chất nhân cách để có nghề nghiệp chuyên môn cao giúp họ có điều kiện đảm bảo cuộc sống cá nhân thỡ họ càng cú khả năng cống hiến cho xă hội nhiều hơn Vŕ như vậy lợi ích quốc gia vẫn được đảm bảo trong khi đó lợi ích cá nhân cũng được tăng cường Điều này cũng cho thấy giáo dục đạo đức, lý tưởng cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay hết sức quan trọng để thanh niên nói chung, sinh viên nói riêng luôn đặt lợi ích cá nhân hài hoà với lợi ích xó hội và gúp phần đắc lực trong công cuộc xây dựng Việt Nam thành một nước cụng nghiệp húa, hiện đại hóa vào năm 2020
Thứ ba, tỷ lệ sinh viờn chọn tiờu chớ học vỡ khụng muốn thua kộm bạn bố là rất thấp Điều này cho thấy, sinh viên ngày nay học không phải
để ganh đua, mà học để có năng lực, đạo đức, có nghề nghiệp chuyên môn cao, đảm bảo vững chắc cho tương lai của mỡnh sau khi ra trường
Như vậy, mặc dù sự lựa chọn động cơ học tập của sinh viên rất đa dạng phong phú và có sự khác biệt nhau giữa các cá nhân, nhóm sinh viên
ở điều kiện khác nhau nhưng nhỡn chung những động cơ này luôn kích thích hứng thú, tạo động lực cho sinh viên học tập, rèn luyện đạt kết quả cao10
1.3.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Đặc điểm tình hình của trường ĐHKHXH&NV
10
Trích theo tạp chí Thanh niên
Trang 26Lịch sử phỏt triển
Hơn sáu mươi năm sau khi nhà Lí định đô ở Thăng Long, Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của nước Đại Việt đã được thành lập (năm 1076) – khởi đầu một kỷ nguyên phát triển rực rỡ của nền giáo dục và văn hóa dân tộc
Sau cách mạng tháng tám, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
kí Sắc lệnh số 45/SL thành lập Đại học Văn khoa tại Hà nội với mục đích đưa nền khoa học nước nhà “theo kịp bước các nước tiên tiến trên toàn cầu” Ngày 15/11/1945, Trường Đại học Quốc gia Việt Nam đã tổ chức lễ khai giảng năm học đầu tiên tại 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội
Trong chín năm kháng chiến trường kì, các trung tâm đại học đã được thành lập ở Việt Bắc, Liên khu Bốn, có cơ sở đặt ở Nam Ninh (Trung Quốc) Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nền đại học Việt Nam tiếp tục phát triển và mở rộng Ngày 04/6/1956, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định
số 2138/CP thành lập Trường Đại học Tổng hợp Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm cán bộ và sinh viên nhà trường
Từ năm 1956 đến năm 1995 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nhà trường với tư cách là trung tâm nghiên cứu và đào tạo khoa học cơ bản hàng đầu của nhà nước, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đội ngũ các giáo sư, các nhà khoa học hàng đầu của đất nước đã làm việc, cống hiến sức lực và trí tuệ ở nơi đây Những nền tảng cơ bản nhất của nền khoa học Việt Nam đã được xây đắp và khẳng định giá trị Cũng từ mái trường này, nhiều cán bộ và sinh viên đã lên đường nhập ngũ và anh dũng hi sinh vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc
Tháng 9/1995, trên nền tảng các ngành khoa học xã hội và nhân văn của Trường Đại học Tổng hợp, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chính thức được thành lập và trở thành một thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 27Quá trình xây dựng và phát triển của Nhà trường gắn liền với tên tuổi của những giáo sư nổi tiếng như: Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Cao Xuân Huy, Hoàng Xuân Nhị, Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Gia Khánh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Hoàng Như Mai, Lê Đình Kị, Trần Đình Hượu Đến nay, Nhà trường đã có 8 giáo sư được tặng giải thưởng Hồ chí Minh; 11 giáo sư được tặng giải thưởng Nhà nước; 10 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân; 43 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú
Phát huy truyền thống của Trường Đại học Văn khoa và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Nhà trường tiếp tục phát triển và trưởng thành trên tất cả các lĩnh vực để giữ vững vị tí hàng đầu của nhà nước về đào tạo đại học và sau đại học các ngành khoa học xã hội và nhân văn, tiến tới ngang tầm các trường đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới
Đúng vào dịp kỉ niệm 60 năm ngày thành lập Trường Đại học Văn khoa – tiền thân của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay - Nhà trường vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: ĐƠN VỊ ANH HÙNG LAO ĐỘNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện có 14 khoa, 3 bộ môn trực thuộc và 8 trung tâm, bao gồm: Khoa Báo chí và Truyền thông, Khoa Du lịch học, Khoa Đông phương học, Khoa Khoa học quản lý, Khoa Lịch sử, Khoa Lưu trữ và quản trị văn phòng, Khoa Ngôn ngữ học, Khoa Quốc tế học, Khoa Tâm lý học, Khoa Việt Nam học và Tiếng việt, Khoa Thông tin Thư viện, Khoa Triết học, Khoa Văn học, Khoa Xã hội học, Bộ môn Khoa học chính trị, Bộ môn tiếng nước ngoài, Bộ môn Giáo dục Thể chất
Trang 28Hiện nay, Trường ĐHKHXH&NV đang đào tạo 11609 sinh viên ở các ngành học và bậc học thuộc các khoa học xã hội và nhân văn (năm 2008)
Sứ mệnh
Là một trường đại học trọng điểm, đầu ngành, có uy tín và truyền thống lâu đời, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) có sứ mệnh đi đầu trong sáng tạo, truyền bá tri thức và đào tạo nguồn lực chất lượng cao về khoa học xã hội và nhân văn, phục vụ
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Tổng số cán bộ, viên chức năm 2008 như sau:
Cơ sở vật chất
Hiện tại, Trường đóng trên địa bàn có tổng diện tích là 23.000m2
, trong đó diện tích phòng làm việc là 12.000m2
và phòng học là 9.000m2với các trang thiết bị thiết yếu phục vụ việc dạy và học như hệ thống âm thanh, máy vi tính và các thiết bị trình chiếu hiện đại
Kho sách và các nguồn dữ liệu khác về khoa học xã hội và nhân văn của Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội đặt trong
Trang 29khuôn viên của trường, có đủ số lượng, chủng loại và luôn luôn được cập nhật, bổ sung để phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của cán bộ và sinh viên trong Trường
Hiện tại, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng đang vận hành một trung tâm đào tạo tin học với gần 100 máy vi tính và một phòng Internet gồm 40 máy vi tính phục vụ miễn phí cho sinh viên trong toàn trường
Trang 30CHƯƠNG II: NỘI DUNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1 Định hướng việc làm của sinh viên
Quá trình biến đổi xã hội cùng với những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường lao động, thị trường việc làm đã có ảnh hưởng lớn đến tình hình học tập và rèn luyện của sinh viên trong các trường đại học mà biểu hiện cụ thể của nó là sự biến đổi trong mục đích học tập, động cơ thái độ học tập (được chi phối bởi nhu cầu học tập) của họ
Lý thuyết hành động xã hội của M Weber đã chỉ ra rằng: Hành động chỉ được coi là hành động xã hội khi nó được chủ thể gán cho một ý nghĩa chủ quan Cá nhân chỉ hành động khi có một động cơ thúc đẩy, động cơ đó lại bị chi phối bởi chính nhu cầu của cá nhân, qua đó tạo ra mục đích hành động của chủ thể Ở đây sự thay đổi cơ cấu xã hội mà đại diện cho nó là thể chế kinh tế xã hội đã như một biện pháp “kích cầu” đối với nhu cầu học tập nâng cao kiến thức và việc làm của sinh viên làm thay đổi động cơ, thái độ hành vi trong học tập của họ
Thực tế đã cho thấy nhu cầu việc làm của sinh viên càng lớn thì đòi hỏi của thị trường lao động đối với họ càng cao, yếu tố cạnh tranh để tìm kiếm việc làm sẽ càng gay gắt Khi sinh viên có nhu cầu việc làm thì nhu cầu đó sẽ tạo ra một động cơ tác động tới chủ thể (là sinh viên) thúc đẩy họ phải hành động như thế nào để thoả mãn nhu cầu đó
Đối với sinh viên cách tốt nhất là học tập : tích luỹ kiến thức kinh nghiệm qua đó đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, để thoả mãn nhu cầu việc làm Tất cả các yếu tố đó đã quy định mục đích học tập của sinh viên Sinh viên học tập với mục đích cao nhất là để có việc làm,
để đủ điều kiện tham gia vào thị trường lao động Tuy nhiên quá trình chủ thể thực hiện hành động như thế nào, có đạt được hiệu quả không lại phụ
Trang 31thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh của chủ thể mà ở đây là điều kiện sống, hoàn cảnh gia đình, nơi ở của sinh viên theo mô hình sau:
Đứng trên khía cạnh của xã hội học kinh tế và trong điều kiện đòi hỏi thực tế của thị trường lao động thì quá trình học tập của sinh viên thực chất là một giai đoạn chuẩn bị điều kiện để tham gia thị trường lao động, nói chính xác hơn đây là giai đoạn sinh viên tích luỹ “vốn con người” của mình Xã hội học kinh tế coi khái niệm “vốn con người” dùng để chỉ học vấn, tay nghề và kỹ năng lao động Trong những năm học được học tập và rèn luyện dưới mái trường đại học sinh viên sẽ được trang bị những kiến thức cơ bản về ngành nghề mà mình lựa chọn, cùng với quá trình tích luỹ của bản thân, mỗi sinh viên sẽ hội đủ cho mình những điều kiện để có thể tham gia được thị trường lao động việc làm sau khi ra trường
Trường đại học là môi trường xã hội hoá toàn diện nhất đối với mọi
cá nhân, qua các quá trình xã hội hoá của nhà trường Mỗi sinh viên không những chỉ được trang bị kiến thức kỹ năng mà còn được giảng dạy cả về nhân cách đạo đức, cũng như những hiểu biết ứng xử mang tinh thần bản sắc dân tộc Đó chính là vốn văn hoá mà mỗi sinh viên tích luỹ được trong quá trình học tập
Tiếp cận nghiên cứu quá trình học tập của sinh viên dưới khía cạnh
xã hội học kinh tế thì ngoài hai loại vốn trên sinh viên còn tích luỹ được loại vốn thứ ba nữa là “vốn xã hội”, đó chính là các quan hệ xã hội mà sinh viên có được trong quá trình học tập Những mối quan hệ này sẽ giúp cho
Hoàn cảnh
Trang 32Có thể coi hành động học tập của sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay là một loại hành động duy lý mục đích - theo cách phân loại của Weber mà mục đích cao nhất của hoạt động này là việc làm sau khi ra trường Hiệu quả của hoạt động phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất của việc đầu tư, tích luỹ và sử dụng từng loại “vốn” trên của sinh viên
Như vậy, biến đổi xã hội đã tác động rất nhiều đến động cơ và mục đích học tập của sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay Từ chỗ sinh viên chỉ học tập mang tính chất đối phó, học để lấy tấm bằng thì động cơ thúc đẩy hoạt động học tập của sinh viên hiện nay đã là một việc làm sau khi ra trường Sự thay đổi trong động cơ học tập đã ảnh hưởng trước tiên đến thái độ học tập của sinh viên hiện nay
Để tìm hiểu vấn đề này, bước đầu chúng tôi tìm hiểu lý do chọn ngành của sinh viên trước khi vào trường
Bảng 1: Lý do chọn ngành học của sinh viên trước khi vào trường
Trang 33Trong tổng số 398 người được hỏi thì có 190 người chọn Lý do khác chiếm 47.7% điều này có thể cho ta thấy lý do chọn chuyên ngành của các
em rất thụ động, Bố mẹ chọn chiếm 8.3% đây là một bộ phận nhỏ chịu ảnh hưởng của gia đình khi lựa chọn khối ngành đại học và ảnh hưởng ở đây chủ yếu dựa trên khả năng xin việc sau này thông qua mạng lưới xã hội ít dựa trên đánh giá cân nhắc về hướng chuyên môn Chọn theo bạn bè chiếm 4.8%, 156 người nói rằng vì yêu thích nên chọn chuyên ngành đang học (39.2%) con số này cho ta thấy số sinh viên này đã so sánh cân nhắc giữa ý thức và năng lực của mình với nhu cầu của xã hội để lựa chọn và định hướng cho ngành nghề tương lai của mình Như vậy có thể thấy rằng một
bộ phận khá lớn sinh viên thi vào khoa, ngành dường như ít vì sự cân nhắc tới hướng chuyên môn cũng như định hướng nghề nghiệp sau này bởi khi lựa chọn một ngành nghề gì thì chí ít trước khi lựa chọn sinh viên đó phải hiểu được ngành nghề đó có phù hợp với sở thích và khả năng của mình hay không mà mục đích chủ yếu ở đây vì khả năng có một chỗ trong đại học và tương lai có bằng đại học để dễ xin việc Sự lựa chọn khối ngành đại học chủ yếu thể hiện nguyện vọng có bằng cấp để xin việc hơn là vì sự hứng thú hoặc gắn kết với một hướng nghề nhất định Vì thế nếu xét về mặt chuyên môn thì sự lựa chọn khối ngành của sinh viên khi thi đầu vào phần lớn là có tính ngẫu nhiên, bị tác động bởi các yếu tố khách quan
Bảng 2 : Ý kiến của sinh viên về mức độ yêu thích ngành học sau 3 năm
học ở trường
Trang 34đó là ý thức dành thời gian cho hoạt động học tập ngoài thời gian học trên lớp của sinh viên đã tăng lên Lý giải vấn đề này chúng tôi đã phỏng vấn sâu một số sinh viên về việc dành quỹ thời gian cho học tập qua câu hỏi “vì sao bạn lại dành nhiều thời gian để học như vậy?”
“Kiếm được một việc làm đúng chuyên ngành mình học khó lắm,
chắc gì sau này mình đã làm được nghề liên quan đến ngành mình học sau này Nên phải dành nhiều thời gian để học, không những chỉ bài vở trên lớp mà còn đọc những tài liệu của ngành khác để có kiến thức chung cho
dễ xin việc ” ( Nữ, 22 tuổi, khoa Văn thư Lưu trữ và Quản trị Văn phòng
-Trường ĐHKHXH&NV)
Như vậy “sự chọn lọc tự nhiên” khắt khe của thị trường lao động việc làm đã bắt đầu thâm nhập vào trong nhận thức của sinh viên, tác
Trang 35động lên thái độ học tập của sinh viên khiến họ phải có một thái độ chủ động và tích cực hơn trong học tập nếu như họ muốn có được việc làm sau khi ra trường
Khi phỏng vấn sâu một số sinh viên chúng tôi phát hiện một điểm khá mới trong thái độ học tập của sinh viên hiện nay đó là: trước đây hoạt động học tập của sinh viên thường không gắn nhiều với mục đích việc làm sau khi ra trường nhưng giờ đây sinh viên đã có thái độ rõ ràng trong việc tích luỹ kiến thức để ra trường mong muốn có cơ hội đi làm ngay
“Mình tập trung vào học không ngoài mục đích để có được việc làm sau
khi tốt nghiệp Xin việc bây giờ khó lắm, có bằng giỏi cũng chưa chắc xin được việc ngay chứ đừng nói đến bằng khá, trung bình” ( Nữ, 23 tuổi,
khoa TTTV, Trường ĐHKHXH&NV)
Qua việc xem xét thời gian đầu tư cho học tập của sinh viên hiện nay
có thể thấy: Dưới tác động của động cơ và mục đích thì thái độ trong học tập của sinh viên cũng có nhiều biến đổi Sinh viên ngày càng có thái độ tích cực và chủ động hơn trong học tập, mở mang kiến thức như một biểu hiện cụ thể của hoạt động chuẩn bị việc làm sau khi tốt nghiệp Lượng thời gian sinh viên đầu tư cho học tập, tích luỹ “nguồn vốn con người” đã là một minh chứng biểu hiện thái độ học tập ngày càng tích cực của sinh viên Đây cũng là một nguyên nhân lý giải tại sao một số sinh viên không đi làm thêm trong quá trình học tập
Như trên đã đề cập, những biến đổi trong cơ cấu xã hội và đòi hỏi ngày càng cao của thị trường lao động việc làm đã tác động đến động cơ thái độ học tập của sinh viên, từ đó đã làm thay đổi hành vi học tập của họ Một trong những dấu hiệu của sự thay đổi đó là việc sinh viên tập trung vào học tập để tích luỹ vốn kiến thức trên lớp và quan trong hơn cả là việc họ học thêm ngoại ngữ, vi tính và những ngành học khac để đảm bảo xác xuất
Trang 36của thị trường lao động Trong nền kinh tế tri thức người lao động không những phải có trình độ hộc vấn chuyên môn giỏi mà còn phải thông thạo cả ngoại ngữ và tin học
* Sinh viên ngày nay đã chủ động hơn trong việc tìm kiếm việc làm thêm và định hướng nghề nghiệp sau khi ra trường:
Dưới khía cạnh xã hội học kinh tế – lao động và trong khuôn khổ phạm vi của đề tài thì hành vi tìm kiếm việc làm thêm và đi làm thêm cũng
là một trong những hoạt động tiếp cận thị trường lao động việc làm trong quá trình học tập của sinh viên Như vậy, những sinh viên đang đi làm thêm là những sinh viên đã tiếp cận thị trường lao động việc làm, ngược lại những sinh viên không đi làm thêm là những sinh viên chưa tiếp cận thị trường lao động Việc tiếp cận thị trường lao động thông qua hoạt động đi làm thêm trong quá trình học tập là một biểu hiện của ý thức chuẩn bị việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên hiện nay Bởi lẽ quá trình học tập của sinh viên trong trường đại học chỉ dừng lại ở việc trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về chuyên ngành mà sinh viên đang theo học mặc dù sinh viên đã chủ động học thêm ngoại ngữ, tin học để tăng cường nguồn vốn tích luỹ của mình thì đó mới chỉ là “điều kiện cần”
để sinh viên tham gia thị trường lao động Để chiếm lĩnh được cơ hội việc làm ngay sau khi ra trường đòi hỏi sinh viên không chỉ có trình độ học vấn cao, kiến thức rộng mà còn đòi hỏi sinh viên còn có các mối quan hệ
xã hội tốt, phải biết cách ứng xử khéo léo, đúng mực nói cách khác là nó đòi hỏi sinh viên không chỉ tích luỹ về “vốn con người” mà còn phải được trang bị cả “vốn xã hội” và “vốn văn hoá” Đây mới là điều kiện đủ
để sinh viên tìm được việc làm sau khi ra trường
Chúng ta cũng biết, quá trình xã hội hoá của sinh viên trong các trường đại học thể hiện ở chỗ, tại đây sinh viên được tiếp thu những kiến
Trang 37thức, những kỹ năng lao động nghề nghiệp của các mối quan hệ xã hội và tương tác xã hội như thái độ ứng xử
Quá trình này bao gồm những nhiệm vụ:
- Thiết lập mối quan hệ với các thành viên khác tại nơi công tác, nắm vững các yêu cầu, nhiệm vụ công tác
- Xác định và nắm vững các vị trí và thể hiện các vai trò tương ứng trong tổ chức nhóm lao động
- Đánh giá việc thực hiện các vai trò nhiệm vụ
- Tiếp nhận, thể hiện duy trì và phát huy các giá trị văn hoá nơi làm việc
Vấn đề đặt ra đối với giai đoạn xã hội hoá này là bên cạnh việc phải giải quyết được mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân, lợi ích của tập thể và lợi ích của cộng đồng xã hội, cá nhân đồng thời phải dàn xếp tốt mối quan hệ giữa các vai trò “việc công” và “việc tư” Mà đối với người sinh viên ở đây
là vai trò do vị trí công việc đòi hỏi như: vai trò của người gia sư, người tiếp thị cùng với vai trò của họ trong học tập với tư cách là người sinh viên Họ cũng phải cân nhắc và khắc phục những mâu thuẫn vướng mắc có thể xảy ra khi tham gia vào nhóm nghề nghiệp khác nhau trong quá trình lao động Kết quả xã hội hoá ở giai đoạn này là việc thoả thuận nhu cầu vật chất – tinh thần trực tiếp liên quan tới vị trí vai trò mà cá nhân đảm nhiệm trong cơ cấu lao động - xã hội
Xuất phát từ những yêu cầu trên, một bộ phận nhỏ sinh viên đã tham gia vào việc đi làm thêm trong quá trình học tập với mục đích không ngoài việc để dễ kiếm việc làm mà còn để tích luỹ những loại vốn mà mình thiếu hụt trong quá trình học tập Thực tế đã cho thấy những kiến thức sinh viên học trong trường mới chỉ mang tính lý thuyết, khi ứng dụng vào thực tế đa phần sinh viên đều bỡ ngỡ Thông qua việc đi làm thêm, sinh viên sẽ có dịp
Trang 38kiểm chứng những kiến thức mà mình đã học Bên cạnh lý do đi làm thêm
để chuẩn bị việc làm trong tương lai thì ở đây, chính những biến đổi trong
xã hội, trong thể chế kinh tế đã thúc đẩy sinh viên đi làm thêm Sinh viên hiện nay không còn được bao cấp về chế độ học phí và học bổng như trước nữa mà để theo học họ phải tự túc mọi vấn đề như chỗ ăn, ở đến các chi phí cho hoạt động Tất cả các chi phí đó sẽ do gia đình của sinh viên gánh chịu Nếu như hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn không cung cấp nổi hoặc không đủ với nhu cầu của sinh viên và với mức sống đô thị thì vì mục đích mưu sinh và nhu cầu học tập sinh viên sẽ phải đi làm thêm Vấn đề đi làm thêm của sinh viên là một vấn đề rất phức tạp, nó bị chi phối bởi nhiều yếu tố đan xen lẫn nhau Hoạt động “làm thêm” của sinh viên là hệ quả của những biến đổi xã hội, là sự đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của thị trường lao động việc làm
Trong nghiên cứu về “Lối sống của sinh viên hiện nay” do khoa Xã
hội học tiến hành trên 9 trường đại học tại Hà nội vào tháng 8 năm 1999 cho thấy làm thêm của sinh viên là một kiểu định hướng giá trị nó vừa có ý nghĩa kinh tế vừa có ý nghĩa xã hội Làm thêm là một dạng hoạt động phụ của sinh viên nó xuất hiện vào thời kỳ đổi mới chính sách kinh tế xã hội ở nước ta Loại hoạt động này ngày càng có xu hướng phát triển và với quy
mô lớn hơn
Tiếp cận trên cơ sở xã hội học kinh tế và lao động có thể thấy thực chất hoạt động “làm thêm” của sinh viên là một biểu hiện cụ thể của sự tiếp cận tham gia thị trường lao động việc làm ngay trong quá trình học tập với nhiều mục đích và lý do khác nhau, có thể vì thu nhập, vì tích luỹ kinh nghiệm nhưng tựu chung lại đây chính là hoạt động thể hiện tính tích cực,
sự thích nghi nhanh chóng của sinh viên trước những biến đổi xã hội và đòi hỏi của việc làm
Trang 39Với việc đi làm thêm trong quá trình học tập sinh viên hiện nay không chỉ đơn thuần thực hiện một vai trò học tập như trước nữa mà sinh viên phải “đóng hai vai” một là vai của người sinh viên trên giảng đường đại học và vai nữa là người lao động trên thị trường lao động việc làm Sự
đa dạng hoá vai trò này là một điểm khác biệt của sinh viên trong giai đoạn kinh tế thị trường so với sinh viên trong thời kỳ bao cấp Từ chỗ sinh viên chỉ học “gạo” để lấy tấm bằng thì hiện nay nhu cầu học “thực lực” để kiếm được việc làm mới là động lực học tập chính của sinh viên Quá trình đi làm thêm là quá trình xã hội hoá thứ hai của sinh viên song song với quá trình xã hội hoá của trường đại học
Nếu như nhà trường là môi trường xã hội hoá trước lao động của sinh viên, ở đó sinh viên sẽ được trang bị những kiến thức loại “vốn con người” thì quá trình chuẩn bị cho sinh viên những điều kiện cần thiết để họ khỏi bỡ ngỡ khi chính thức bước vào thị trường lao động chịu sự tác động của quá trình xã hội hoá cá nhân trong lao động chính là quá trình đi làm thêm; những kiến thức mà sinh viên đã được học sẽ được họ trải nghiệm, ứng dụng qua thực tế qua đó họ tích luỹ kinh nghiệm, tạo dựng các mối quan hệ xã hội và thấm nhuần phương cách ứng xử theo một chuẩn mực nhất định Đó cũng chính là những ưu điểm của việc làm thêm trong giai đoạn đại học Bên cạnh đó những nhược điểm như: bỏ bê học tập, thái độ hành vi tiêu cực trong thi cử sẽ nảy sinh nếu như sinh viên không có mục đích đi làm thêm một cách chính đáng Đây chính là những biểu hiện gián tiếp của hiện tượng xung đột vai trò của sinh viên khi phải thực hiện nhiều vai trò cùng một lúc Để tìm hiểu thực trạng sinh viên trong việc tìm kiếm việc làm thêm chúng ta nhận thấy:
Bảng 3: Số lượng sinh viên đi làm thêm (%)
Trang 40họ ý thức được sự khó khăn khi đi kiếm việc làm, họ nhận thấy được tính chất cạnh tranh quyết liệt trong nền kinh tế thị trường Họ chứng kiến rất nhiều trường hợp các anh chị sinh viên khoá trước đã “thất nghiệp” như thế nào vì quá bỡ ngỡ do không có sự chuẩn bị tìm việc trước Bản thân họ đã từng trải qua các quá trình “chọn lọc tự nhiên” của công việc làm thêm, họ hiểu được sự cạnh tranh gay gắt đó Phải chăng vấn đề “thất nghiệp ” với tỷ
lệ ngày một gia tăng đã tác động đến các sinh viên đi làm thêm như một yếu tố động lực thúc đẩy các hoạt động chuẩn bị tìm kiếm thị trường lao động - việc làm của họ Điều này cho thấy thất nghiệp ở đây lại là “có lợi” đối với nhận thức của sinh viên và kinh tế xã hội vì đơn giản là nếu nó không có chức năng gì thì nó không thể tồn tại như “hình với bóng” với nền kinh tế thị trường Tình trạng thất nghiệp đã tạo ra một sự cạnh tranh trong lao động Nó buộc người đang có việc phải nâng cao tay nghề, phải tích cực làm việc hơn nếu như không muốn bị mất chỗ làm, buộc những người chưa có việc làm phải tích cực tìm kiếm việc làm và phải chủ động tích luỹ các loại “vốn” không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mình mà