Thực tế cho thấy, chất lượng trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động thanh niên Vĩnh Phúc làm việc trong doanh nghiệp mặc dù tốt hơn so với lao động thanh niên nói ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN TRUNG HƯNG
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH
NIÊN NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA NGƯỜI
SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Ở TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, 2006
Trang 2NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS MAI THỊ KIM THANH
NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN TRUNG HƯNG
HÀ NỘI, 2006
Trang 3MỤC LỤC
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 11
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp 14
5.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học 14
CHƯƠNG I CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU 18
1 Lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons 22
Trang 42 Khái niệm lao động thanh niên 27
I Đặc điểm vị trí địa lý - dân số và lao động - việc làm
1 Đặc điểm vị trí địa lý - dân số - kinh tế 30
2 Đặc điểm lực lượng lao động và việc làm 30
3 Vài nét về hệ thống đào tạo nghề của tỉnh Vĩnh Phúc 36
II Thực trạng đào tạo nghề trên địa bàn Vĩnh Phúc 38
III Thực trạng sử dụng và nhu cầu lao động thanh niên qua
1 Thực trạng sử dụng lực lượng lao động thanh niên đã qua
2 Nhu cầu lao động thanh niên qua đào tạo nghề của doanh nghiệp 53
3 Đánh giá của doanh nghiệp về chất lượng lao động thanh niên 55
IV Các yếu tố tác động tới đào tạo nghề 57
1 Các yếu tố liên quan tới cơ sở đào tạo nghề 57
1.2 Yếu tố cơ sở vật chất, kỹ thuật của các cơ sở dạy ngh 61
1.3 Kinh phí hoạt động và đầu tư của cơ sở đào tạo nghề 63
1.4 Chương trình đào tạo của cơ sở đào tạo nghề 65
1.5 Đội ngũ cán bộ giáo viên trong các cơ sở đào tạo nghề 67
1.6 Phương pháp giảng dạy trong quá trình đào tạo 68
2 Yếu tố liên quan tới cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề 70
3 Yếu tố liên quan tới hệ thống trung tâm DVVL 73
Trang 5CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO THANH NIÊN NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC 79
1 Những quan điểm cơ bản về phát triển đào tạo nghề 79
2 Những phương hướng cơ bản trong hoạt động đào tạo nghề 80
3 Những giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho thanh niên 82
3.1 Đổi mới nhận thức cơ bản về hệ thống dạy nghề
3.2 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực đào tạo cho các
cơ sở dạy nghề và hệ thống đào tạo nghề 85
3.3 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề thông
qua hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề 96
3.4 Nhóm giải pháp liên quan tới doanh nghiệp nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo và sử dụng lao động thanh niên
3.5 Tăng cường mối liên hệ giữa cơ sở đào tạo, và
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chúng ta đều biết phát triển lao động thanh niên là phạm trù và đối tượng chủ yếu của phát triển nguồn nhân lực, là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động thanh niên ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sản xuất và thị trường lao động nhằm phát huy cao nhất nguồn lực thanh niên cho phát triển đất nước Phát triển lao động thanh niên về số lượng là nhằm đảm bảo lao động thanh niên chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng lực lượng lao động, chuẩn bị một lực lượng lao động trẻ, khỏe, có nhiều tiềm năng thay thế cho các thế
hệ lao động trước và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động ngày càng mở rộng
Về chất lượng là không ngừng nâng cao trình độ nghề nghiệp, khả năng làm việc của lao động thanh niên thông qua đào tạo và tích lũy trong cả cuộc đời sống và làm việc của họ, để đạt được cấp trình độ nào đó và có thể làm được các công việc phức tạp tương ứng Về cơ cấu là đảm bảo sự phù hợp tối ưu giữa cơ cấu cung lao động thanh niên (về số lượng và chất lượng) với cơ cấu cầu lao động thanh niên, bao gồm cơ cấu theo cấp trình độ công việc đang làm (bậc cao, bậc trung và bậc thấp); theo ngành, nghề của nền kinh tế quốc dân; theo thành phần kinh tế; theo vùng, miền, dạng việc làm và theo phân lớp thị trường lao động Bên cạnh đó, sử dụng hiệu quả thanh niên là nội dung rất quan trọng của phát triển lao động thanh niên, thanh niên lao động với năng suất và hiệu quả cao cũng là hướng quan trọng
để nâng cao khả năng cạnh tranh của lao động thanh niên
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng Trung du Bắc Bộ Đặc trưng cơ bản của Vĩnh Phúc trong giai đoạn 1999-2004 là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, điều này tất yếu dẫn tới quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động (từ khu vực nông nghiệp chuyển sang khu vực phi nông nghiệp) Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế-cơ cấu lao động nói trên cùng với những chủ trương chính sách, giải pháp khuyến khích, ưu đãi khác của chính quyền tỉnh (chính sách đất đai, thuế, tài chính-tín dụng ) đã dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ về số lượng các doanh nghiệp Theo số liệu thống kê hàng năm (Tổng cục Thống kê), số lượng doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã
Trang 8tăng từ 238 cơ sở năm 2000 lên 632 cơ sở năm 2004 (tốc độ tăng bình quân hàng năm về số lượng các doanh nghiệp trong giai đoạn 2000-2004 đạt 41,39%), bên cạnh đó còn có sự phát triển của hàng ngàn các doanh nghiệp qui mô vừa và nhỏ khác (không hoạt động theo Luật Doanh nghiệp) Sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp dẫn tới kết quả là số lao động làm việc trong khu vực này đã tăng lên mạnh mẽ từ 16113 người năm 2000 lên 40281 người năm 2004 (tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 37,50%) Phần lớn lao động làm việc trong các doanh nghiệp có
độ tuổi dưới 35 (85%) và đại đa số (95%) số lao động dự định tuyển mới trong thời gian tới của doanh nghiệp có độ tuổi dưới 30 Điều này được khẳng định trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-2010 với các mục tiêu trọng tâm là phát triển kinh tế theo hướng tiếp tục đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế-cơ cấu lao động, tập trung các nguồn lực cho đầu
tư phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực thanh niên Gắn chặt hoạt động đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực thông qua các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nói chung và cho lao động thanh niên nói riêng và để thực hiện thắng lợi các mục tiêu trên, khu vực doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng
Thực tế cho thấy, chất lượng (trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật) của lao động thanh niên Vĩnh Phúc làm việc trong doanh nghiệp mặc dù tốt hơn so với lao động thanh niên nói chung cũng như so với tổng lực lượng lao động nói riêng của tỉnh, song phần lớn những lao động thanh niên (đã qua đào tạo nghề) này khi vào làm việc trong doanh nghiệp vẫn chưa thể đáp ứng ngay được yêu cầu của doanh nghiệp và do đó doanh nghiệp đã phải tổ chức đào tạo lại, thậm chí đào tạo mới cho họ Trong khi đó, việc tuyển dụng lao động thanh niên phù hợp với yêu cầu sản xuất của doanh nghiệp không hề dễ dàng, nhất là những lao động thanh niên có tay nghề, có kỹ năng thực hành và có chuyên môn nghề nghiệp được đào tạo phù hợp với sản xuất Điều này có nghĩa nhiều ngành nghề doanh nghiệp đang rất cần song không có trong danh mục đào tạo của các cơ sở dạy nghề; cấp trình độ nghề được đào tạo trong các cơ sở dạy nghề còn thấp (chủ yếu là đào tạo nghề ngắn hạn); các kỹ năng bổ trợ của lao động thanh niên còn chưa được chú trọng (kỹ
Trang 9năng về ngoại ngữ, vi tính, tác phong làm việc công nghiệp, kỹ năng làm việc theo nhóm )
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình, đề tài khoa học nghiên cứu, đề cập tới vấn đề việc làm và đào tạo nghề cho lao động Tuy nhiên, phần lớn các công trình này chỉ tập trung làm rõ những vấn đề mang tính vĩ mô như: mối quan
hệ giữa đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực; tác động của việc làm tới phát triển kinh tế xã hội; những giải pháp phát triển thị trường lao động vv mà chưa có công trình nào đề cập một cách cụ thể về vấn đề đào tạo nghề cho thanh niên nhằm đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động, đặc biệt là những nghiên cứu khoa học phục vụ cho hoạch định chiến lược phát triển hệ thống đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp trên địa bàn một địa phương, một tỉnh đang có tốc độ đô thị hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nhanh như Vĩnh Phúc Hay nói một cách khác, vấn đề mối quan hệ giữa hệ thống đào tạo nghề với nhu cầu thực tế về chuyên môn của người lao động trong doanh nghiệp vẫn chưa được đề cập một cách cụ thể, rõ ràng, nhất là dưới góc độ xã hội học Những thực tế trên đây là cơ sở gợi nên cho học viên hướng suy nghĩ và lựa chọn nghiên cứu đề tài “Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho thanh niên nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động ở tỉnh Vĩnh Phúc” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành xã hội học của mình
2 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Ý nghĩa lý luận
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ một số lý thuyết trong
xã hội học như lý thuyết hệ thống xã hội, lý thuyết chức năng
+ Kết quả nghiên cứu góp phần hình thành nên một quan niệm khoa học về cách nhìn nhận, xem xét xây dựng chương trình/khung đào tạo nghề cũng như trong việc hoạch định chiến lược phát triển hệ thống dạy nghề
Trang 10+ Kết quả nghiên cứu cũng góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mối quan
hệ giữa đào tạo và sử dụng lao động, đặc biệt là lao động thanh niên, theo định hướng "cầu" của thị trường
+ Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn cho các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh trong việc xây dựng chương trình,
kế hoạch đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội
+ Kết quả nghiên cứu cũng góp phần giúp cho lao động thanh niên nói riêng
và người lao động nói chung thay đổi nhận thức và hành vi của mình đối với vấn đề đào tạo nghề, lựa chọn việc làm
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống đào tạo nghề và việc
sử dụng lao động thanh niên qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp nhằm phát hiện những tồn tại, hạn chế của hệ thống đào tạo nghề và những nguyên nhân/nhân
tố cơ bản ảnh hưởng tới hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên, qua đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống đào tạo nghề trong việc đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới
Trang 11Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Xây dựng cơ sở lý luận về vai trò của đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực và mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng lao động thanh niên
+ Đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo nghề đối với thanh niên
+ Đánh giá thực trạng việc làm của thanh niên đã qua đào tạo tại các doanh nghiệp
+ Tìm hiểu những nhân tố cơ bản tác động tới công tác đào tạo nghề cho thanh niên Từ đó, phát hiện những tồn tại, hạn chế trong đào tạo nghề và sử dụng lao động thanh niên qua đào tạo nghề tại các doanh nghiệp
+ Đề xuất những khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên nhằm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu của người sử dụng lao động
4 ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
+ Những giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho thanh niên nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động
4.2 Khách thể nghiên cứu:
+ Thanh niên đang học nghề tại các cơ sở đào tạo của tỉnh Vĩnh Phúc
+ Các cơ sở dạy nghề của tỉnh
+ Lao động thanh niên đã qua đào tạo nghề hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh
+ Các Trung tâm DVVL và cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề trong tỉnh
Trang 124.3 Phạm vi khảo sát:
+ Về thời gian: giai đoạn 1999-2004
+ Về không gian: Việc tổ chức điều tra nghiên cứu thực địa được tiến hành ở
ba địa bàn: Thị xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Tường và huyện Lập Thạch
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp luận: quan điểm lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin được
vận dụng theo: phương pháp tiếp cận hệ thống, hướng tiếp cận lịch sử cụ thể
Phương pháp tiếp cận hệ thống: Trong bộ Tư bản, Mác vận dụng nguyên lý
tính hệ thống trong mối quan hệ hữu cơ với nguyên lý phát triển để phân tích một
hệ thống kinh tế-xã hội cụ thể trong phép biện chứng duy vật Trên cơ sở này, hệ thống được quan niệm là một phức hợp các yếu tố có liên quan với nhau tạo ra một chỉnh thể thống nhất Các yếu tố này có thể là những đối tượng vật chất hay những cấu tạo tinh thần, còn tổng thể thì có thể thay đổi từ một tổng số cơ giới những đối tượng vật chất có quan hệ với nhau, cho đến những sinh vật, não người, cơ cấu tổ chức một xí nghiệp lớn, cấu trúc xã hội hoặc những cơ cấu còn lớn hơn nữa Các nghiên cứu hệ thống thường hướng tới những vấn đề phức tạp, phức hợp, qui mô lớn, nhằm không chỉ nhận thức ra bản chất các vấn đề và đối tượng nghiên cứu, mà còn tạo ra những phương tiện để điều khiển một cách hợp lý những đối tượng đó và giảI quyết những vấn đề nêu ra
Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho thanh niên nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động tỉnh Vĩnh Phúc theo quan điểm tiếp cận hệ thống để thấy một cách toàn diện các nhân tố tác động đến sự phát triển, các điều kiện kinh tế-xã hội, văn hoá, đặc điểm hộ gia đình người lao động, các doanh nghiệp, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước nói chung cũng như của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng… đang tác động đến nền tảng triết lý
Trang 13điểm này, đề tài nhất thiết phải đặt các cơ sở đào tạo nghề như hệ thống trong hệ thống xã hội, cụ thể xã hội Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, nhìn hiện tượng này trong mối quan hệ nhân quả với các hiện tượng khác Từ đó tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi trong hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên Theo đó, hoạt động đào tạo nghề và sử dụng lao động thanh niên trong các doanh nghiệp được coi
là một hệ thống tổng thể (hệ thống đào tạo và sử dụng) do các tiểu hệ thống hợp thành Mỗi tiểu hệ thống có cấu trúc và đảm nhận vai trò và chức năng riêng, các tiểu hệ thống hoạt động theo nguyên tắc "bảo tồn, duy trì" sự cân bằng của hệ thống tổng thể, tức là chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề phải đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động Do vậy, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu phân tích cấu trúc
và thực hiện chức năng của từng tiểu hệ thống trong hệ thống tổng thể, qua đó phát hiện những tồn tại, khó khăn cản trở tới sự vận hàng của cả hệ thống đào tạo và sử dụng trên địa bàn Vĩnh Phúc đang gặp phải, từ đó đề xuất những khuyến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập trên
Hướng tiếp cận lịch sử: Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo
nghề cho thanh niên nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động trong các điều kiện lịch sử cụ thể về thời gian, không gian của từng vùng, miền gắn với nền văn hoá, tôn giáo của từng dân tộc và quốc gia Cách tiếp cận này làm sáng tỏ những qui luật chung và những đặc điểm riêng trong lịch sử phát triển của từng cơ
sở đào tạo, khung chương trình của từng cơ sở đào tạo tại mỗi địa phương cụ thể Khung chương trình đào tạo nghề luôn luôn được thay đổi cho phù hợp với đặc thù
và nhu cầu của địa phương trong từng giai đoạn, vì thế có thể nói nó cũng được (và cần được) thay đổi theo thời gian do những động lực khách quan tạo ra và chịu sự chi phối, qui định của thực tại xã hội mà trong đó các cơ sở đào tạo là một bộ phận
Việc nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho thanh niên nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động được đặt trước bối cảnh đổi mới đất nước trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá và sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường trong nước, trên thế giới và những yêu cầu của nó đối với hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên, những đòi hỏi của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới về nguồn lực con người, xu thế toàn cầu hoá, việc
Trang 14nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho thanh niên nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động với quan điểm lịch sử cụ thể phai xuất phát từ đặc thù của các cơ sở đào tạo trong sự phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng miền cụ thể, không tách rời ảnh hưởng văn hoá và chính sách quốc gia về đào tạo và phát triển cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động và nghề nghiệp
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu Các nguồn tài liệu, số liệu thứ cấp được sử dụng bao gồm:
- Số liệu thông kê hàng năm về Lao động-Việc làm của tỉnh
- Báo cáo kết quả hoạt động hàng năm của công tác đào tạo nghề và trung tâm dịch vụ việc làm
- Các kết quả nghiên cứu khác có liên quan (đề tài cấp nhà nước "Nghiên cứu thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên", "Thực trạng
sử dụng lao động kỹ thuật trong các doanh nghiệp khu vực chính thức và phi chính thức" )
5.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học
5.2.2.1 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi (định lượng): Số lượng người được phỏng vấn bao gồm:
- 100 học viên học nghề tại các cơ sở dạy nghề
- 10 cơ sở dạy nghề (bao gồm cả chính qui và không chính qui) trên địa bàn một số huyện/thị xã tỉnh Vĩnh Phúc (thị xã Vĩnh Yên và huyện Lập Thạch,
Trang 15- 20 doanh nghiệp có sử dụng lao động thanh niên qua đào tạo nghề
- 190 lao động thanh niên làm việc trong doanh nghiệp
5.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu, sử dụng bảng hỏi phỏng vấn bán cấu trúc (định tính) Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu một số đối tượng sau:
- 10 lãnh đạo cơ sở dạy nghề
-20 người chủ doanh nghiệp có sử dụng lao động thanh niên qua đào tạo nghề
- 1 cán bộ lãnh đạo phòng “Quản lý Dạy nghề” Sở LĐTBXH và 2 cán bộ phụ trách quản lý dạy nghề tại các phòng Nội vụ-LĐTBXH thị xã Vĩnh Yên
và huyện Lập Thạch
- 2 cán bộ trung tâm DVVL trên địa bàn thị xã Vĩnh Yên
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
- Trong giai đoạn 1999-2004, mặc dù hệ thống đào tạo nghề đã có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của tỉnh, tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn tỉnh tăng nhanh qua từng năm, qui mô đào tạo nghề ngày càng lớn, tuy nhiên chất lượng đào tạo nghề cho thanh niên của hệ thống đào tạo nghề vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động
- Chất lượng đào tạo nghề cho thanh niên của hệ thống đào tạo nghề chưa cao là do các nguyên nhân như nhận thức của xã hội đối với vấn đề dạy nghề dù đang dần được cải thiện song vẫn chưa thực sự đầy đủ; sự yếu kém về năng lực của
cơ sở đào tạo (cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên….), hệ thống chính sách liên quan tới đào tạo chưa thực sự kích thích hoạt động đào tạo của cơ sở, mối liên hệ của cơ
sở đào tạo với doanh nghiệp và các đối tác xã hội khác có liên quan chưa phát triển gây nên
Trang 16- Để góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo nghề, cần có những giải pháp nhằm làm thay đổi nhận thức của xã hội đối với vấn đề dạy nghề, trong đó bao gồm cả những giải pháp nhằm thay đổi nhận thức của cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề
- Để hoạt động đào tạo của hệ thống dạy nghề tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng được yêu cầu về lao động thanh niên qua đào tạo trong thời kỳ mới, rất cần có những giải pháp toàn diện nhằm cải thiện, nâng cao một cách cơ bản năng lực đào tạo của cơ
sở dạy nghề
- Để lao động thanh niên sau khi tốt nghiệp các khoá đào tạo nghề trong các
cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng được yêu cầu của công việc và của người sử dụng lao động/doanh nghiệp, trong thời gian tới cần phải tăng cường,
mở rộng và phát triển mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp và các đối tác xã hội khác trong quá trình đào tạo và sử dụng lao động thanh niên, trong đó đặc biệt là tăng cường hơn nữa sự tham gia của các doanh nghiệp ngay từ khâu đào tạo cho thanh niên
7 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu đề tài
Chương 2: Kết quả nghiên cứu của đề tài
Chương 3: Khuyến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho thanh niên
nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động
8 KHUNG LÝ THUYẾT
Trang 17Yếu tố liên quan tới doanh nghiệp:
Yếu tố liên quan tới cơ sở dạy nghề:
- Đội ngũ giáo viên -Năng lực cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
- Cơ cấu, cấp trình độ đào tạo
- Khung chương trình, phương pháp đào tạo
Yếu tố liên quan tới học viên
- Trình độ -Giới tính
- Chính sách liên quan tới dạy nghề
- Hoạt động quản lý nhà nước về dạy
Hoạt động dạy nghề của các cơ sở đào tạo
Chất lượng
và mức độ đáp ứng của lao động thanh niên với nhu cầu của doanh nghiệp
Trang 18PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU
I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Đào tạo nghề cho người lao động và vai trò của đào tạo nghề với giải quyết việc làm, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đã và đang thu hút
sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới Có thể liệt kê một số công trình ở các nước khác trên thế giới đề cập tới vấn đề này như sau:
Trong công trình nghiên cứu về đào tạo nghề cho thanh niên ở Uruguay
“Vocational training for Youth in Uruguay”, tác giả Naranjo Silva cho rằng việc
thực hiện chương trình đào tạo nghề cho thanh niên tại các nước thuộc khu vực Châu Mỹ La tinh và vùng Caribbean đã thu được nhiều thành tựu, cả về mặt chính sách và phương pháp luận Bằng việc sử dụng một khung nghiên cứu với những phương pháp tiếp cận học thuật phù hợp với đối tượng thanh niên thất nghiệp, tác giả của công trình nghiên cứu này đã tập trung vào việc đánh giá kết quả đạt được
và những kinh nghiệm thu được từ những chương trình đào tạo nghề cho thanh niên được coi là thành công tại Uruguay Kết quả thu được tự bản thân nó đã mô tả một cách đầy đủ về sự thành công của chương trình đào tạo nghề cho thanh niên, qua đó rút ra được những khuyến nghị cho việc thiết kế và thực thi những chương trình tiếp theo trong tương lai
Tác giả Labarca.G.Coord trong công trình nghiên cứu về cải cách kinh tế và dạy nghề (Economic Reform and Training) đã chỉ ra rằng các chính sách và chương trình dạy nghề được ban hành thông thường chỉ mới đề cập tới những kỹ năng nghề nghiệp liên quan tới các ngành nghề có trình độ công nghệ phát triển, ví dụ như ngành điện tử và những ngành có liên quan tới những tổ chức kinh tế có cấu trúc tương đối linh hoạt mà không đề cập tới những yêu cầu đặc trưng của những ngành
Trang 19này, tác giả đã tóm tắt tổng quan và phân tích sâu sắc về sự phát triển của những nghành nghề mới và mối quan hệ của nó với đào tạo nghề, cũng như phân tích sự khập khiễng, thiếu sót trong việc đào tạo những nghề thuộc các nhóm ngành truyền thống tại một số nước thuộc khu vực Châu mỹ la tinh,ví dụ như Mê hi cô, Bra xin, Chi lê và Cộng hoà Đô mi ních Qua việc phân tích quá trình chuyển đổi nền kinh
tế và lao động-việc làm ở các nước trên, tác giả cho thấy bên cạnh việc tập trung ưu tiên cho đào tạo các ngành nghề mới với trình độ cao, thì đào tạo nghề cho các nhóm ngành thuộc khu vực truyền thống (nơi thu hút phần lớn số lao động và trình
độ lao động làm việc trong khu vực này vẫn còn thấp) cũng rất cần thiết và đang bị
về một lĩnh vực, ngành nghề nhất định, do đó, khi mà công nghệ thay đổi thường xuyên và nhanh chóng thì những kiến thức mà họ học được sẽ nhanh chóng trở nên lỗi thời Vì thế việc đội ngũ giáo viên không chỉ có trình độ chuyên sâu về lĩnh vực
mà họ đảm nhận thì họ cũng rất cần phải nắm được kiến thức cơ bản về những nghề khác có liên quan hoặc gần giống với chuyên môn mà họ đang làm, đồng thời giáo viên dạy nghề cũng cần phải thường xuyên cập nhật kiến thức và không ngừng nâng cao trình độ để có thể thích ứng được một cách nhanh nhất với sự thay đổi của công nghệ
Không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, nhiều chương trình/dự án về đào tạo nghề cũng đã được thiết kế và đưa vào thực hiện Ví dụ như trường hợp ở Zăm bi a, nơi mà đời sống của người nông dân a có thể coi là không ổn định, nguyên nhân là
do một số vấn đề như: kỹ thuật sản xuất nông nghiệp lạc hậu, tỷ lệ lạm phát tăng nhanh và thường xuyên bị hạn hán Việc đào tạo kỹ năng phát triển nông nghiệp
Trang 20bởi ICA kể từ năm 1991 Chương trình đào tạo này cho phép người nông dân có được nguồn thu nhập thông qua hoạt động sản xuất nông nghiệp thu nhập thấp, và ngày càng có nhiều người dân quan tâm tới hoạt động nông nghiệp Năm 1996, trung tâm dạy nghề thanh niên đã được thành lập tại làng Kapini, ở miền trung Zămbia Những khoá học về nghề hàn điện, mộc và chăn nuôi gia cầm đã giúp cho học viên và người nông dân có thể tự thiết kế ra những công cụ sản xuất (hơn là phải mua những thứ tương tự nhưng đắt tiền hơn) phục vụ cho công việc kiếm sống hàng ngày của mình Những chương trình đào tạo này đã cải thiện điều kiện sống ở vùng nông thôn và làm thay đổi thái độ của lớp thanh niên hướng về cuộc sống ở vùng quê hơn thay vì di cư tới các thành phố lớn để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn
Trong những nghiên cứu trên, thị trường lao động và đào tạo nghề cho lao động thanh niên chỉ là một trong những nội dung của nghiên cứu tổng thể về vấn
đề việc làm và hội nhập thị trường lao động của thanh niên Các kết luận từ các công trình nghiên cứu đó là những căn cứ quan trọng để Tổ chức Lao động quốc
tế trình Tổng Thư ký Liên Hiệp quốc thành lập một Hội đồng Cao cấp về mạng lưới việc làm cho thanh niên có trách nhiệm tư vấn cho Liên Hợp quốc và Tổ chức lao động quốc tế những vấn đề về chính sách, kỹ thuật và tài chính để giảm thất nghiệp, tăng việc làm cho thanh niên Như thế đủ thấy vấn đề việc làm, đào tạo nghề cho thanh niên đã được cộng đồng thế giới quan tâm ở mức cao nhất
2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề đào tạo nghề và việc làm cho thanh niên hiện nay cũng đang được rất nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước quan tâm Trong bài viết của mình có tên “Để có nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong thế kỷ XXI“, Giáo sư tiến sỹ Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng mọi người đều phải có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, phải cố gắng tối đa để tiếp thu được những tri thức khoa học tiến bộ nhằm phục vụ cho công việc mà mình đảm nhiệm Hơn bao giờ hết, việc học tập suốt đời, vừa làm việc vừa liên tục học tập không những là đòi hỏi mà còn là nhu cầu để người lao động phát triển và không
Trang 21không còn thích hợp và cần được thay thế bởi mô hình đào tạo mới Mô hình đào tạo mới này tạo điều kiện cho mọi người có thể học tập, tích luỹ kiến thức liên tục và suốt đời, có thể học tập mọi nơi, mọi lúc, tại trường lớp chính qui, tại các công sở, xí nghiệp cũng như tại gia đình
Đề cập tới vấn đề đào tạo nghề, PGS.TS Mạc Văn Trang (Viện Chiến lược
và Chương trình giáo dục) trong bài viết được in trong kỷ yếu hội thảo nghiên cứu “Văn hoá, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI” cho rằng bên cạnh việc đào tạo những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, người lao động cần phải được đào tạo cả về thái độ nghề nghiệp, bởi vì thực tế cho thấy rằng mặc dù có được sức khoẻ tốt, kỹ năng tay nghề vững vàng nhưng thái độ nghề nghiệp không đáp ứng được thì người lao động khó có chỗ làm việc tốt Ông chỉ ra rằng
từ trước tới nay, nhà trường và các cơ sở đào tạo chưa chú ý tới giáo dục thái độ
nghề nghiệp gắn liền với chức năng, nhiệm vụ, vị trí, yêu cầu công việc cụ thể
mà người lao động phải thể hiện trong nghề nghiệp, trong một xã hội không ngừng thay đổi Cuối cùng ông kết luận thái độ nghề nghiệp là một trong những yêu cầu quan trọng của mục tiêu đào tạo, một thành tố cơ bản trong cấu trúc nhân cách nghề nghiệp, trong điều kiện hội nhập quốc tế, cạnh tranh của kinh tế thị trường, thái độ nghề nghiệp là một tiêu chí cơ bản thể hiện giá trị sức lao động được giáo dục, đào tạo tốt ở mức nào
Vấn đề định hướng nghề nghiệp cho thanh niên là một trong những nội dung chủ yếu được nghiên cứu trong đề tài cấp Nhà nước về “Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên“ do Tiến sỹ Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động Xã hội-Bộ LĐTBXH, làm chủ nhiệm Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hoạt động định hướng nghề nghiệp cho thanh niên học sinh ngay từ khi còn theo học phổ thông là rất hạn chế Đại đa số (90%) học sinh lớp 12 đều có dự định học tiếp lên Cao đẳng-Đại học cho dù năng lực thực
sự của bản thân không phù hợp Trên 80% số sinh viên/học viên các trường Cao đẳng-Đại học và dạy nghề đều muốn được làm việc theo dạng “làm công ăn lương“ sau khi tốt nghiệp và yếu tố việc làm quan trọng nhất đối với họ là sự ổn định chứ không phải là yếu tố thu nhập cao
Trang 22Ngoài ra có thể kể thêm một số công trình nghiên cứu khác có liên quan tới vấn đề đào tạo nghề và việc làm cho người lao động trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế-cơ cấu lao động như: đề tài “Về chính sách giải quyết việc làm“ của TS Nguyễn Hữu Dũng và TS Trần Hữu Trung-NXB Chính trị Quốc gia, 1997; đề tài “Thị trường lao động: Thực trạng và giải pháp“ của TS Nguyễn Quang Hiển-Bộ LĐTBXH, năm 1996; công trình nghiên cứu “Tác động của Nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá ở nước ta hiện nay“ do TS Nguyễn Cúc chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia năm 1997 Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến các vấn đề đào tạo nghề, việc làm và thị trường lao động một cách tổng quát từ các góc độ khác nhau, có tính chất nền tảng cho những nghiên cứu về nhu cầu đào tạo nghề của người lao động Tuy nhiên, vấn đề hội nhập của lao động thanh niên trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu của người
sử dụng lao động vẫn chưa được đề cập một cách chi tiết, đâỳ đủ, rõ ràng, đặc biệt dưới góc độ xã hội học
II LÝ THUYẾT VẬN DỤNG NGHIÊN CỨU
1 Lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons
Theo Talcott Parsons (nhà xã hội học người Mỹ nổi tiếng), hệ thống xã hội là
sự trật tự trong những tương tác Sự trật tự này không chỉ bắt nguồn riêng từ hành động mà như ta đã thấy trong những định hướng giá trị, nó còn được đan kết trong nhữung chuẩn mực và qui ước cao hơn, nên Parsons giải thích vì sao lại có được những trật tự bền vững Để làm được điều này, ông xuất phát từ ba kết luận: (i) xã hội là một hệ thống tương đối khép kín, có phần đồng bộ của những hành động; (ii)
hệ thống tổng thể cũng giống như một cá thể luôn tự bảo tồn; (iii) hệ thống luôn hướng tới một trạng thái cân bằng
Hệ thống xã hội là một phương pháp toàn diện để tổ chức đời sống xã hội, nó
là kết quả của sự tương tác (các mối quan hệ) của hành động xã hội trên cơ sở
Trang 23tính trật tự và tự bảo tồn bằng những khuôn mẫu chuẩn mực và giá trị đảm bảo cả
sự phụ thuộc lẫn nhau của từng phần trong hệ thống và cả sự liên kết tiếp sau đó của cả chỉnh thể Trong hệ thống xã hội có các mối liên hệ xã hội vận hành, đó là
sự tương tác như là việc hiện thực hóa sự định hướng đến người khác Mọi thứ trong thế giới đều có chức năng và sự phụ thuộc chức năng Nhiệm vụ của xã hội học là tìm ra cái gì được ấn định sẵn cho cái gì trong hệ thống xã hội, có nghĩa là vạch ra vai trò của yếu tố này hay yếu tố kia của cấu trúc trong sự sắp xếp, bảo tồn
và hoạt động của hệ thống Mỗi một tiểu hệ thống, có các cấu trúc riêng tương ứng với những chức năng tương ứng Ví dụ, trong tiểu hệ thống kinh tế thì chức năng thích ứng là một vấn đề được đặt ra đối với các doanh nghiệp Doanh nghiệp cũng
có thể được xem như một tiểu hệ thống với bốn yêu cầu về mặt chức năng phù hợp với các thiết chế xã hội và những người thực hiện các chuẩn mực giá trị Khi nghiên cứu một hệ thống cụ thể thì Parsons miêu tả những cấu trúc đặc trưng và các chức năng của hệ thống trong quá trình tương tác giữa hai hoặc nhiều chủ thể hành động được hình thành cũng như được duy trì như thế nào Mục tiêu luôn nhằm để cho những nguyện vọng của chủ thể hành động tương ứng với nguyện vọng của người tham gia hoạt động tương tác sao cho phản ứng của đối tác đối với hành động của bản thể là một khuyến khích tích cực Những khái niệm cơ bản của lý thuyết hệ thống xã hội của ông gồm:
Hệ thống xã hội: được hình thành nhờ những trạng thái và quá trình tương
tác mang tính xã hội của những cá nhân hành động, hay nói cách khác hệ thống xã hội là sự trật tự trong những tương tác
Cấu trúc: là tổng thể những mối quan hệ tiêu chuẩn hóa, bền vững của các
cá nhân, của các hành thể xã hội Một đặc điểm nổi bật của cấu trúc xã hội là chủ thể hành động thực hiện những vai trò nhất định nào đó đối với nhau
Chức năng: là phức hợp các hành động nhằm đáp ứng một hay nhiều nhu
cầu của hệ thống Khái niệm này biểu thị việc xem xét một đơn vị cấu trúc từ góc
độ mối quan hệ của nó với các đơn vị cấu trúc khác trong hệ thống, sự thể hiện trong mối quan hệ nhất định Mọi thứ trong thế giới đều có chức năng và sự phụ thuộc chức năng, điều đó đem lại tính thống nhất cho tổng thể các thành tố
Trang 24Sự phân hóa chức năng chia xã hội thành những tiểu hệ thống độc lập phân
hệ Những tiểu hệ thống này có động thái riêng và được vận hành bằng sức mạnh riêng của mình, điều này đặt ra cho xã hội vấn đề liên kết, nếu khác đi thì hệ thống
có thể đánh mất sự tự kiểm soát và bắt đầu tan rã Từ đây thấy rằng vấn đề cơ bản của xã hội học là liên kết các hệ thống xã hội thuộc các cấp độ khác nhau Để làm được việc đó cần phải nghiên cứu các cấu trúc và các quá trình đã có mối quan hệ với sự liên kết các hệ thống, có nghĩa là chủ yếu về phương diện chức năng T.Parsons cho rằng mỗi hệ thống đều ẩn chứa trong nó bốn hệ biến vị chức năng (mà sự tồn tại của bất kỳ hệ thống xã hội nào đều phải tuân thủ) Những chức năng này được ông sắp xếp thành sơ đồ AGIL như sau:
Chức năng thích nghi (Adaptation): là nơi tiềm ẩn những khả năng ban đầu
của con người, tạo thành nền tảng cho những hệ thống khác Để tồn tại một hệ thống cần phải thích nghi với hoàn cảnh bên trong cũng như với những thay đổi của môi trường bên ngoài Trong hệ thống xã hội, tiểu hệ thống đảm nhận chức năng này là tiểu hệ thống kinh tế, nó cung cấp và phân phối sản phẩm vật chất cần thiết cho tất cả mọi thành viên trong xã hội để họ có thể tồn tại được
Chức năng định hướng mục đích (Goal attainment): Xác định những mục
tiêu cơ bản và duy trì quá trình đạt được các mục tiêu đó Tiểu hệ thống thực hiện chức năng này trong hệ thống xã hội là tiểu hệ thống chính trị (soạn thảo ra các phương châm hướng đích và thực hiện các hình thức hoạt động chính trị)
Chức năng liên kết (Intergration): là chức năng duy trì sự bền vững một
khối thống nhất bên trong Chức năng này được thực hiện bởi các hệ thống kiểm soát xã hội (bộ máy nhà nước và những phương tiện được thiết chế hóa hợp pháp) bằng việc tạo ra và giữ vững các chuẩn mực, giá trị chung
Chức năng duy trì khuôn mẫu (Latency): để giữ vững một trật tự đang tồn
tại thì hệ thống xã hội cần soạn thảo ra quá trình và cơ chế xã hội hóa cho các cá nhân, quá trình và cơ chế cho phép họ tiếp nhận cá tính của mình đồng thời nhập tâm hóa các chuẩn mực-vai trò của xã hội Tiểu hệ thống đảm nhận chức năng này
Trang 25trong hệ thống xã hội là tiểu hệ thống văn hóa thông qua các thiết chế gia đình, trường học, tôn giáo
Trong nghiên cứu này, các chức năng thích ứng (Adaptation), định hướng mục đích (Goal attainment) và chức năng liên kết (Intergration) trong lý thuyết xã hội học về hệ thống xã hội của Parsons sẽ được vận dụng để nghiên cứu về sự vận hành của hệ thống đào tạo nghề trong mối quan hệ với yêu cầu của các cơ sở sản xuất/doanh nghiệp Nếu coi hệ thống đào tạo và sử dụng là một hệ thống tổng thể bao gồm các tiểu hệ thống: doanh nghiệp/cơ sở sản xuất; các cơ sở đào tạo nghề; các cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo nghề; các trung tâm giới thiệu việc làm thì mọi hoạt động của tiểu hệ thống đào tạo nghề tỉnh Vĩnh Phúc phải hướng vào và phải thích ứng với những chức năng, yêu cầu, nhiệm vụ của hệ thống tổng thể
Ngược lại, muốn tiểu hệ thống đào tạo nghề hoạt động tốt, có hiệu quả thì hệ thống tổng thể cũng phải đáp ứng những yêu cầu nhất định của tiểu hệ thống Tức
là kết quả và hiệu quả của tiểu hệ thống đào tạo nghề (được thể hiện qua số lượng, chất lượng và cơ cấu học viên trong các nghề và các cấp trình độ được đào tạo) phải được xem xét trên góc độ đáp ứng như thế nào với việc sử dụng lao động trong các doanh nghiệp Mặt khác, để tiểu hệ thống đào tạo nghề hoạt động có hiệu quả, tiểu hệ thống doanh nghiệp và các tiểu hệ thống khác (cơ quản quan lý đào tạo nghề nhà nước; trung tâm dịch vụ việc làm) cũng phải tạo điều kiện thuận lợi cho
hệ thống đào tạo nghề hoạt động (về cơ chế hoạt động, đội ngũ cán bộ, đầu tư trang thiết bị, nguồn thông tin và các yếu tố nguồn lực khác)
2 Lý thuyết chức năng của R.Merton
Lý thuyết chức năng của R.Merton được coi là lý thuyết xã hội học cấp độ trung bình và được áp dụng cho các vấn đề có tính bộ phận của cấu trúc xã hội Một số khái niệm cơ bản trong lý thuyết chức năng của R.Merton gồm:
Khái niệm chức năng: theo R.Merrton, chức năng là sự giải thích một hiện
tượng xã hội bằng cách chỉ ra hệ quả (chức năng) của nó đối với những cấu trúc mà
nó là bộ phận cấu thành
Trang 26Khái niệm loạn chức năng (phản chức năng): loạn chức năng là những hệ
quả làm cản trở, thậm chí gây rối loạn, làm giảm khả năng tồn tại, thích ứng của cấu trúc
Một đóng góp khác của Merton trong xã hội học là việc phân loại chức năng trội và chức năng lặn dựa vào mức độ biểu hiện của chúng Ông chỉ ra cách phân tích chức năng là phải vượt qua quan niệm thông thường về mục đích, ý nghĩa mà các chủ thể gán cho sự vật, hiện tượng để xác định chính xác, khách quan tác dụng của chúng Khi tìm hiểu thiết chế và tổ chức xã hội cần chỉ ra đâu là hệ quả không chủ định, chưa thấy rõ, chưa biểu hiện công khai và đâu là hệ quả chủ định, thấy rõ, công khai
Merton cũng cho rằng trên thực tế trong xã hội luôn có "các cấu trúc chức năng thay thế nhau" để thoả mãn các yêu cầu chức năng mà xã hội đặt ra Một chức năng có thể do hai hay nhiều hơn các tổ chức, thiết chế xã hội cùng có khả năng thực hiện Các thiết chế xã hội luôn luôn có khả năng thay thế lẫn nhau trong việc đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho sự vận hành và hoạt động của xã hội Ví dụ như thiết chế gia đình có thể đảm nhận chức năng giáo dục trẻ em thay cho thiết chế trường học, thiết chế gia đình có thể trở thành một trong những thiết chế xã hội đóng vai trò tạo việc làm cho các thành viên trong gia đình
Đề tài cũng vận dụng khái niệm loạn chức năng và chức năng thay thế trong
lý thuyết xã hội học của R.Merton trong quá trình nghiên cứu phân tích, đánh giá
Ví dụ, doanh nghiệp có thể thực hiện chức năng đào tạo nghề cho lao động thay thế cho cơ sở đào tạo; hoặc một số yếu tố đã tác động tiêu cực tới công tác đào tạo nghề (yếu tố chính sách, mối liên hệ giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, yếu tố thông tin thị trường lao động ), qua đó đã hạn chế hiệu quả và chất lượng đào tạo nghề của cơ sở đào tạo
III CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ ĐƢỢC SỬ DỤNG
1 Khái niệm thanh niên
Trang 27Theo N.O’Higgins, thanh niên là lứa tuổi đang trong thời gian chuyển tiếp giữa thời thiếu niên và trưởng thành Tuy nhiên, theo cơ cấu lứa tuổi của dân số các nước trên thế giới có những qui định khác nhau về độ tuổi thanh niên, thông thường
từ 15 đến 24,25,29 hoặc 34 tuổi Theo Liên Hợp Quốc lứa tuổi 15-34 là thuộc cơ cấu lao động trẻ Còn thanh niên thường chỉ tính trong độ tuổi 15-24 để hàm ý ở độ tuổi này thanh niên bao gồm những người rời ghế nhà trường sớm nhất từ 15 tuổi
và kết thúc việc đào tạo nghề nghiệp ở bậc Đại học lúc 24 tuổi Nhiều nước qui định ở độ tuổi 15-24, riêng Việt Nam (theo Luật Thanh niên) qui định ở độ tuổi 15-
dưới 30 (tuổi còn sinh hoạt trong tổ chức Đoàn Thanh niên) {10} Như vậy, trong nghiên cứu này, đề tài sử dụng khái niệm thanh niên bao gồm những người nằm trong độ tuổi từ 15 - dưới 30 tuổi
2 Khái niệm lao động thanh niên
Để đi đến khái niệm lao động thanh niên, trước hết ta phải xuất phát từ khái niệm lực lượng lao động và khái niệm thanh niên
Theo tài liệu “Sổ tay thông tin thống kê thị trường lao động” (Viện Khoa học Lao động-Xã hội – Bộ LĐTBXH) thì Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số
hoạt động kinh tế) được định nghĩa “là tổng số người từ đủ 15 tuổi trở lên có việc làm hoặc thất nghiệp” {19} Theo định nghĩa này, không phải toàn bộ những
người từ đủ 15 tuổi trở lên đều có thể coi là lực lượng lao động, mà trong đó chỉ những người đang làm việc hoặc có nhu cầu làm việc thì mới được coi là thuộc lực lượng lao động, còn những người vì lý do nào đó mà không có nhu cầu làm việc (người giàu có không cần phải làm việc, người nội trợ, người đang đi học ) hoặc không thể làm việc (già cả, tàn tật, ốm đau mất sức lao động ) thì không được tính vào lực lượng lao động
Xuất phát từ khái niệm thanh niên và khái niệm lực lượng lao động, đề tài đi đến khái niệm lao động thanh niên, theo đó “lao động thanh niên” được hiểu là
những người trong độ tuổi từ 15-30 tuổi có việc làm hoặc thất nghiệp
Chức năng mà lao động thanh niên phải thực hiện trong hệ thống tổng thể về
Trang 28tạo nghề; và phát huy tối đa những kỹ năng, kiến thức có được trong quá trình đào tạo để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao khi làm việc tại các doanh nghiệp
3 Khái niệm đào tạo nghề
Đào tạo nghề là quá trình hoạt động đào tạo có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành nhằm hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ cho mỗi cá nhân người lao động ở các cấp trình độ để có thể hành nghề, làm công việc phức tạp với năng suất và hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ trong thực tế (Tài liệu “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam”, trang 29)
4 Khái niệm cơ sở đào tạo nghề
Cơ sở đào tạo nghề được hiểu là các đơn vị có tổ chức hoạt động đào tạo nghề cho người lao động và nằm trong hệ thống đào tạo lao động kỹ thuật theo các cấp trình độ theo các ngành, nghề (Tài liệu “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam”, trang 97) Chức năng của cơ sở đào tạo nghề bao gồm:
- Thực hiện các hoạt động đào tạo nghề trực tiếp đối với học viên (truyền thụ kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, các kỹ năng bổ trợ, giáo dục về ý thức kỷ luật, tác phong làm việc ) theo từng ngành nghề, cấp trình độ thuộc chức năng, phạm vi của mình
- Đề xuất và xây dựng những mô hình đào tạo nghề một cách có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu thị trường
- Tổng kết, đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động đào tạo nghề của mình
- Thiết lập, mở rộng mối quan hệ với các cơ sở đào tạo nghề, với các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề và những đối tác xã hội khác có liên quan một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và thường xuyên
Trang 295 Khái niệm “Người sử dụng lao động”
Người sử dụng lao động là lực lượng chủ động và tích cực nhất của thị trường lao động, có vai trò tạo việc làm và phát triển thị trường việc làm thông qua
hoạt động thuê mướn lao động (Tài liệu “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt
Nam”, trang 102) Người sử dụng lao động trong nền kinh tế nước ta rất đa dạng và không thuần nhất, bao gồm:
- Nhà nước; Doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài); Hợp tác xã; Chủ kinh tế hộ gia đình; Lao động tự do (tự làm việc)
Trong nghiên cứu này, đối tượng “Người sử dụng lao động“ được hiểu là các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
Trang 30CHƯƠNG II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I ĐẶC ĐIỂM VỊ TRÍ ĐỊA LÝ - DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 1999 - 2004
1 Đặc điểm vị trí địa lý - dân số - kinh tế
Vĩnh Phúc là tỉnh trung du Bắc Bộ thuộc vùng Đồng bằng sông Hông có diện tích tự nhiên 1371,4 km2 Vĩnh Phúc tiếp giáp với 5 tỉnh là: phía Bắc giáp Tuyên Quang; phía Tây Bắc giáp Phú Thọ; phía Đông Bắc giáp Thái Nguyên; phía Tây Nam giáp Hà Tây; phía Đông Nam giáp Hà Nội Với vị trí địa lý như vậy, Vĩnh Phúc được coi là một trong những cửa ngõ giao lưu kinh tế-xã hội giữa vùng trung du miền núi Bắc Bộ với vùng đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội Về mặt hành chính, năm 2004 Vĩnh Phúc có 9 huyện/thị (2 thị xã) với tổng số 152 xã/phường (9 phường và 8 thị trấn)
Qui mô dân số Vĩnh Phúc năm 2004 là 1154.8 ngàn người (mật độ dân số đạt
842 người/km2), trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số (96,64%), các dân tộc còn lại (22 dân tộc) chiếm xấp xỉ 3,36%, tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm trong giai đoạn 1999-2004 là 1,05% Tỷ lệ dân số nữ chiếm 51,66% và dân số nam chiếm 48,34% Chia theo khu vực, dân số thành thị chiếm 13,87%, dân số nông thôn chiếm 86,13%
Trong giai đoạn 1999-2004, kinh tế Vĩnh Phúc đã phát triển nhanh chóng, tổng giá trị GDP (tính theo giá so sánh) của tỉnh tăng từ 6,84 ngàn tỷ năm 1999 lên 11,93 ngàn tỷ năm 2004, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong giai đoạn này đạt 14,89% Cơ cấu GDP tiếp tục dịch chuyển theo hướng giảm dần tỷ trọng GDP trong nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng GDP trong các ngành phi nông nghiệp, tỷ trọng GDP nông nghiệp trong tổng GDP đã giảm từ 17,56% năm 1999 xuống còn 12,82% năm 2004
Trang 312 Đặc điểm lực lƣợng lao động và việc làm
2.1 Lực lượng lao động
Lực lượng lao động Vĩnh Phúc giai đoạn 1999-2004 đã tăng lên nhanh chóng (bình quân hàng năm tăng thêm 17,82 ngàn, tương ứng với tốc độ tăng bình quân hàng năm 3,21%), tỷ lệ lực lượng lao động trong tổng dân số đã tăng từ 50,67% năm 1999 lên 55,87% năm 2004
Mặc dù trong giai đoạn này, quá trình đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động đang diễn ra khá mạnh, nhưng đại đa số LLLĐ vẫn tập trung vào khu vực nông thôn, tỷ lệ lao động khu vực thành thị trong vòng 5 năm tuy có thay đổi song không đáng kể (9,63% năm 1999 và 10,45% năm 2004) Xét theo giới tính, tỷ lệ lao động nữ chiếm phần lớn trong tổng LLLĐ (52,79% năm 1999 và 53,29% năm 2004)
Bảng 1: Tình hình biến động về LLLĐ tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 1999-2004
Số lượng (nghìn người)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (nghìn người)
Tỷ lệ (%)
Trang 324 Tỷ lệ LLLĐ thanh niên trong
Nguồn: - Số liệu tổng điều tra Dân số 1999, Tổng cục Thống kê
- Niên giám thống kê lao động-TBXH 1999, 2004 Bộ LĐTBXH
Lao động thanh niên chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng LLLĐ (42,44% năm
1999 và 41,25% năm 2004) Tổng LLLĐ thanh niên đã tăng từ 235,32 ngàn năm
1999 lên 265,50 ngàn năm 2004, tương ứng với tốc độ tăng bình quân hàng năm 2,56% Tuy nhiên, tỷ lệ LLLĐ thanh niên so với tổng số thanh niên khá ổn định, không thay đổi nhiều trong vòng 5 năm qua (76,13% năm 1999 và 76,53% năm 2004) Phân bố theo giới tính và khu vực của LLLĐ thanh niên cũng tương tự như phân bố của tổng LLLĐ: tập trung vào khu vực nông thôn và tỷ trọng lao động nữ trong tổng số vẫn cao hơn so với nam giới
Mặt khác, số liệu thống kê ở bảng 2 dưới đây cho thấy trình độ học vấn của LLLĐ tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1999-2004 có sự thay đổi không đáng kể, đặc biệt
là đối với lao động không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học (5,05% năm 1999 và 5,12% năm 2004), thậm chí số lao động có trình độ tốt nghiệp phổ thông trung học còn giảm xuống cả về mặt tuyệt đối lẫn tương đối
Trang 33Bảng 2: Chất lượng của lực lượng lao động tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1999-2004
Số lượng (nghìn người)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (nghìn người)
Tỷ lệ (%)
II Lực lượng lao động
Nguồn: - Số liệu tổng điều tra Dân số 1999, Tổng cục Thống kê
- Niên giám thống kê lao động-TBXH 1999, 2004 Bộ LĐTBXH
Trang 34Trình độ học vấn của LLLĐ thanh niên cao hơn so với LLLĐ nói chung Tỷ
lệ lao động thanh niên không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng số (1,16% năm 1999 và 0,53% năm 2004), trong khi tỷ lệ lao động có trình độ phổ thông cơ sở và phổ thông trung học chiếm đa số Đây là điều kiện thuận lợi để thanh niên tiếp thu khoa học-kỹ thuật, công nghệ, nâng cao trình độ kỹ năng, nghề nghiệp
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của LLLĐ nói chung cũng như của LLLĐ thanh niên đã thay đổi khá nhanh trong vòng 5 năm qua Tỷ lệ LLLĐ nói chung có trình độ chuyên môn kỹ thuật đã tăng từ 7,16% năm 1999 lên 25,05% năm 2004 và
tỷ lệ lao động qua đào tạo của LLLĐ thanh niên tăng từ 4,17% năm 1999 lên 23,82% năm 2004 Bình quân mỗi năm số lao động qua đào tạo của tổng LLLĐ tăng thêm được 22,45 ngàn, còn số lao động qua đào tạo của LLLĐ thanh niên tăng thêm khoảng 10,54 ngàn
Mặc dù vậy, trong mục tiêu nghiên cứu của đề tài, để có thể thấy được sự cần thiết của đào tạo nghề đối với lao động thanh niên thì cần phải so sánh giữa chất lượng của lực lượng lao động thanh niên nói chung với lao động thanh niên hiện đang làm việc tại doanh nghiệp
Xét về trình độ học vấn, lao động thanh niên đang làm việc tại doanh nghiệp
có trình độ tốt hơn hẳn so với trình độ học vấn của lao động thanh niên nói chung, với 82,47% có trình độ phổ thông trung học (so với 44,81%) Tương tự, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động thanh niên đang làm việc tại doanh nghiệp cũng cao hơn, với chỉ 20,10% số lao động là không có trình độ chuyên môn kỹ thuật Sở
dĩ có điều này là do yêu cầu của doanh nghiệp đặt ra khi tuyển dụng lao động vào làm việc tại doanh nghiệp phải có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định
Tuy nhiên, cơ cấu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật vẫn còn bất hợp
lý không những đối với tổng số lao động thanh niên nói chung mà còn đối với cả số lao động thanh niên đang làm việc tại doanh nghiệp Nếu lấy tỷ lệ chuẩn về cơ cấu
Trang 35Công nhân kỹ thuật của các nước đang phát triển là 1-4-10 {10}thì tỷ lệ này của lao động thanh niên nói chung của Vĩnh Phúc năm 2004 mới là 1-0,8-2,63 và của lao động thanh niên đang làm việc trong doanh nghiệp là 1-1,53-1,63
Bảng 3: So sánh chất lượng lao động thanh niên nói chung và lao động thanh niên
đang làm việc tại doanh nghiệp Đơn vị: %
đang làm việc tại doanh nghiệp
Lao động thanh niên nói chung
Nguồn: - Niên giám thống kê lao động-TBXH, 2004 Bộ LĐTBXH
- Số liệu điều tra Thị trường lao động năm 2003, Tổng cục Dạy nghề, Bộ
LĐTBXH
2.2 Đặc điểm việc làm
Cơ cấu lao động làm việc theo nhóm ngành kinh tế của Vĩnh Phúc đang thay đổi theo hướng lao động chuyển dịch dần từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp xét về mặt tương đối Theo đó, tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực
Trang 36chuyển dịch cơ cấu việc làm theo nhóm ngành kinh tế của lao động thanh niên diễn
ra mạnh mẽ và rõ nét hơn
Hình thức việc làm của người lao động nói chung cũng như của lao động thanh niên nói riêng đã thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng lao động làm công ăn lương Tỷ trọng lao động làm công ăn lương của lao động nói chung đã tăng từ 12,34% năm 1999 lên 17,40% năm 2004 và tỷ lệ này ở lao động thanh niên lần lượt
là 14,36% năm 1999 và 20,15% năm 2004
Bảng 4: Phân bố lao động có việc làm theo nhóm ngành kinh tế và hình thức làm
việc của Vĩnh Phúc giai đoạn 1999-2004
Số lượng (nghìn người) Tỷ lệ (%) (nghìn người) Số lượng Tỷ lệ (%)
I Tổng số lao động có việc làm
1 Chia theo nhóm ngành
2 Chia theo làm công ăn
l-ơng và không làm công ăn
lơng
II Tổng số lao động thanh niên có việc làm
1 Chia theo nhóm ngành
2 Chia theo làm công ăn
lương và không làm công
ăn lương
2.2 Không làm công ăn lương
Trang 37Nguồn: - Số liệu tổng điều tra Dân số 1999, Tổng cục Thống kê
- Niên giám thống kê lao động-TBXH 1999, 2004 Bộ LĐTBXH
Sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu việc làm từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, cũng như tỷ trọng lao động thanh niên làm công ăn lương tăng lên khá nhanh, đã đặt ra những yêu cầu về việc phải có những kỹ năng nghề nghiệp nhất định đối với người lao động để có thể tìm được việc làm Hay nói cách khác vấn đề đào tạo trong thời gian tới đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho lao động trong nhóm tuổi này có thể tìm được việc làm trong khu vực phi nông nghiệp được thuận lợi hơn Đồng thời, xét về tổng thể, đào tạo nghề để tăng tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là khâu đột phá để thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của tỉnh theo hướng CNH-HĐH
3 Vài nét về hệ thống đào tạo nghề của tỉnh Vĩnh Phúc
Các cơ sở dạy nghề bao gồm: các trung tâm dịch vụ việc làm có dạy nghề, các trường dạy nghề (của tỉnh và một số bộ ngành đóng trên địa bàn tỉnh), các trường đại học/cao đẳng/trung học chuyên nghiệp có dạy nghề, các trung tâm dạy nghề (công lập, dân lập/tư thục), bộ phận dạy nghề của doanh nghiệp Chức năng chính của các cơ sở dạy nghề là thực hiện các hoạt động về dạy nghề như: tuyển sinh, xây dựng chương trình/nội dung giảng dạy, đào tạo nghề cho học viên, hỗ trợ học viên về việc làm sau khi tốt nghiệp (trong phạm vi, khả năng của đơn vị)
Bảng 5: Số lượng cơ sở dạy nghề ở Vĩnh Phúc giai đoạn 1999-2004
Trang 38Theo số liệu của Sở LĐTBXH Vĩnh Phúc (Báo cáo tổng kết hoạt động dạy nghề năm 2004, trang 2), tổng số cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã tăng từ 9 cơ sở năm 1999 lên 27 cơ sở năm 2004, phân bố số cơ sở dạy nghề năm
2004 như sau: 6 trường dạy nghề (trong đó 5 trường thuộc Bộ ngành trung ương quản lý và 1 trường dạy nghề của tỉnh); 10 trung tâm dạy nghề (bao gồm 3 trung tâm dạy nghề cấp huyện/thị, 2 trung tâm dạy nghề của các tổ chức chính trị/xã hội,
2 trung tâm dạy nghề tư nhân, 3 trung tâm dạy nghề thuộc doanh nghiệp mới được thành lập trong năm 2004); và 11 cơ sở khác có dạy nghề Có thể thấy rằng với 27
cơ sở đào tạo và 24200 người được đào tạo trong năm 2004 (bình quân mỗi cơ sở đào tạo ở đây bình quân/năm đã đào tạo được khoảng 896 người), điều này có nghĩa là đã xuất hiện vấn đề quá tải trong đào tạo (qui mô đào tạo thực tế lớn hơn qui mô đào tạo theo thiết kế), điều này cho thấy nhu cầu về học nghề trên địa bàn Vĩnh Phúc rất lớn và số lượng cơ sở dạy nghề chưa phát triển kịp so với nhu cầu
Bất cập hiện nay của hệ thống dạy nghề trên địa bàn Vĩnh Phúc còn thể hiện
ở sự phân bố không đồng đều số lượng cơ sở dạy nghề trên địa bàn các huyện/thị
xã Phần lớn trong số 27 cơ sở dạy nghề tập trung tại địa bàn thị xã Vĩnh Yên và thị trấn Phúc Yên (là những nơi có tốc độ đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu lao động mạnh nhất trong thời gian qua); mới chỉ có 3/9 huyện/thị có trung tâm dạy nghề cấp huyện, số lượng cơ sở/trung tâm dạy nghề ngoài công lập chưa phát triển (2 cơ sở dạy nghề tư nhân và 3 cơ sở dạy nghề thuộc doanh nghiệp) Sự phân bố không đồng đều về số lượng cơ sở dạy nghề đã hạn chế khả năng tiếp cận hệ thống dạy nghề của người lao động nói chung cũng như lao động thanh niên
Trang 39II THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN VĨNH PHÚC
Trang 401 Hình thức và loại hình đào tạo
Để có được kỹ năng nghề nghiệp, người lao động bắt buộc phải qua đào tạo, đào tạo ở đây bao gồm đào tạo qua trường lớp và tự đào tạo, trong đó đào tạo qua trường lớp đóng vai trò quan trọng Trong hình thức đào tạo qua trường lớp, ta có thể phân ra làm hai hình thức gồm: đào tạo tập trung (tại cơ sở đào tạo)
và đào tạo lưu động (đào tạo ngoài cơ sở)
Phân theo loại hình đào tạo gồm có: đào tạo mới (dành cho những đối tượng chưa từng được đào tạo trước khi tham gia khoá học nghề đó); đào tạo lại (chủ yếu dành cho những đối tượng đã từng được đào tạo nghề đang học song không đáp ứng được yêu cầu thực tế của nghề nghiệp); và đào tạo nâng cao (chủ yếu dành cho những người đã qua đào tạo nghề đang học và đáp ứng được yêu cầu công việc, nhưng do yêu cầu công việc thực tế đòi hỏi mức độ chuyên môn nghề nghiệp phải cao hơn, thông thường là do thay đổi dây chuyền công nghệ sản xuất)