Với những đặc trưng riêng về nguồn lực, những người công nhân này đang đứng ở trung tâm của sự biến đổi của đất nước, trong đó có những biến đổi về nhận thức, định hướng giá trị cũng nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2PHẦN 1 PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Sự phát triển kinh tế xã hội trong những năm gần đây đã tác động mạnh
mẽ tới nhiều tầng lớp và nhóm xã hội, trong đó có nhóm công nhân đang làm
việc tại một số doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Những điều tra Xã hội học đã cho thấy chính những thành công bước đầu nhưng đáng kể của sự đổi mới đất nước đã tạo ra thế hệ công nhân mới góp phần không nhỏ vào sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước Với những đặc trưng riêng về nguồn lực, những người công nhân này đang đứng ở trung
tâm của sự biến đổi của đất nước, trong đó có những biến đổi về nhận thức, định
hướng giá trị cũng như những hoạt động sống trong gia đình họ
Gia đình là một yếu tố cấu thành của xã hội tổng thể, nó cũng phản ánh chân thực những mối quan hệ đa dạng và phức tạp Trong quá trình chuyển đổi
từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, sự biến đổi những giá trị của gia đình truyền thống và sự hình thành những hình thái mới là một tất yếu Tuy nhiên diễn biến đó hết sức phức tạp Hiểu kỹ về thiết chế gia đình, những chuyển đổi về cơ cấu, chức năng, định hướng giá trị của gia đình sẽ giúp nhà nghiên cứu hiểu hơn về xã hội và gia đình Việt Nam
Trước sự thay đổi của bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay của đất nước, những giá trị đích thực trong gia đình đang được người dân quan niệm ra sao?
Có sự khác biệt trong định hướng giá trị về gia đình giữa công nhân đang làm việc tại doanh nghiệp Quốc doanh và công nhân đang làm việc tại doanh nghiệp ngoài Quốc doanh hay không? Từ việc tìm hiểu nhận thức, quan điểm, nhu cầu của công nhân về tiêu chuẩn lựa chọn con dâu, con rể; về giáo dục con cái; về
Trang 3vai trò vợ chồng trong gia đình tác giả mới hiểu được những định hướng cho sự phát triển nhân cách nói chung và định hướng giá trị về gia đình nói riêng họ
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả tiến hành một nghiên cứu Xã hội học
thực nghiệm để lý giải các sự kiện xã hội diễn ra trong đời sống những người
công nhân đang làm việc tại doanh nghiệp Họ đóng vai trò là một nhóm xã hội đặc thù, là một tiểu hệ thống trong một xã hội tổng thể Bên cạnh đó, luận văn chỉ ra những nét điển hình trong nhận thức về gia đình của công nhân trong doanh nghiệp ngoài Quốc doanh trên cơ sở so sánh với những công nhân trong doanh nghiệp Quốc doanh Từ đó nêu bật lên diện mạo nhóm công nhân này trong thời kỳ đổi mới qua nghiên cứu định hướng giá trị về gia đình của họ
2.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
2.1.Ý nghĩa khoa học:
Trong khuôn khổ tổng thể những vấn đề được đề cập đến, luận văn mang một ý nghĩa khoa học nhất định Từ cách tiếp cận Xã hội học với tư cách là bộ môn khoa học nghiên cứu về mối quan hệ cá nhân và xã hội, quá trình xã hội hóa
cá nhân, luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết Xã hội học cơ bản như thuyết Cấu
trúc - chức năng, thuyết Hành động xã hội, thuyết Vai trò để lý giải những sự
kiện xã hội diễn ra trong đời sống gia đình họ
Những đóng góp của luận văn sẽ giúp cho các nhà quản lý có cách nhìn nhận đúng đắn định hướng giá trị về gia đình của công nhân tại các doanh nghiệp hiện nay Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm đổi mới điều chỉnh và bổ sung cho việc hoàn thiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công nhân lao động Đồng thời, góp phần khẳng định sự biến đổi về chất lượng và số lượng
Trang 4của người lao động là trên cơ sở của sự biến đổi xã hội mạnh mẽ, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2.2.Ý nghĩa thực tiễn:
Trên cơ sở nhìn nhận mặt tích cực cũng như hạn chế trong định hướng giá
trị về gia đình của công nhân tại một số doanh nghiệp, luận văn là một tư liệu
sống mô tả thực trạng nhận thức về quan điểm và hành động của họ Nghiên cứu
định hướng giá trị về gia đình của người công nhân đang làm việc tại doanh nghiệp có một ý nghĩa thực tiễn quan trọng là giúp ta nắm bắt được kịp thời những biến đổi trong mức sống, trong tiêu chí lựa chọn hôn nhân, trong mối quan hệ vợ chồng của họ Từ đó, luận văn đưa ra những kết luận và khuyến nghị phù hợp để các nhà quản lý ở các cấp có chính sách và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của công nhân trong việc xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1.Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ định hướng giá trị về gia đình của công nhân trong lĩnh vực: định hướng giá trị trong hôn nhân, định hướng giá trị trong vai trò và quan hệ vợ chồng, định hướng giá trị trong việc giáo dục con cái và định hướng giá trị trong việc sử dụng thời gian rỗi
Đưa ra những khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và quan điểm của công nhân trong giai đoạn mới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 5Tổng thuật những kết quả của các công trình nghiên cứu khác có liên quan tới nội dung và mục đích nghiên cứu của đề tài
Khảo sát công nhân đang làm việc tại 2 doanh nghiệp thuộc địa bàn Hà Nội
Xử lý 300 phiếu sau khi điều tra bảng hỏi bằng chương trình SPSS
Trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài (như: thuyết Vai trò, thuyết Cấu trúc - Chức năng, thuyết Hành động xã hội)
Phân tích các số liệu thực nghiệm theo nội dung nghiên cứu: định hướng giá trị trong hôn nhân, định hướng giá trị trong vai trò và quan hệ vợ chồng, định hướng giá trị trong việc giáo dục con cái và định hướng giá trị trong việc sử dụng thời gian rỗi
4 Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Định hướng giá trị về gia đình của công nhân
trong doanh nghiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Công ty dệt may Hà Nội và Công ty TNHH Đức Nam Long Thời gian: Từ 03/2005 đến 01/2006
4.3 Khách thể nghiên cứu: Công nhân đang làm việc trong Công ty dệt
may Hà Nội (doanh nghiệp Quốc doanh) và công nhân đang làm việc trong Công
ty TNHH Đức Nam Long (doanh nghiệp ngoài Quốc doanh)
5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Phương pháp luận:
Trang 6Trong nghiên cứu này chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được xác định và vận dụng làm phương pháp luận nhận thức các hiện tượng được nghiên cứu
Một số yêu cầu về mặt nhận thức:
+ Cơ cấu xã hội, những qui luật vận động và phát triển của xã hội là đối tượng nghiên cứu của Xã hội học phải được xem xét như nó đang tồn tại, đang thể hiện chứ không phải theo ý kiến chủ quan của người nghiên cứu
+ Các hiện tuợng, qui luật của xã hội cần được xem xét như nó đang xảy
ra một cách bình thường: có nghĩa là các nghiên cứu Xã hội học không phải hướng tới các hiện tượng ngẫu nhiên, không bản chất
+ Quá trình nhận thức trong Xã hội học không chỉ dừng lại bên ngoài sự vật và hiện tượng mà cần nhận thức được bản chất bên trong cũng như qui luật khách quan của nó
+ Những hiện tượng xã hội cần phải được xem xét trong mối quan hệ phụ thuộc nhau, phải chỉ ra vai trò của từng yếu tố trong mối quan hệ đó
+ Các nghiên cứu Xã hội học thực nghiệm phải được xuất phát từ thực tế lịch sử của mỗi xã hội cụ thể
+ Sự hình thành, biến đổi và phát triển của sự vật hiện tượng phải được phân tích trên những cơ sở kinh tế - văn hoá - xã hội nhất định trong tính biện chứng và duy vật của nó
Vận dụng phương pháp luận trong đề tài này tác giả đặt định hướng giá trị
về gia đình của người công nhân trong tiến trình ảnh hưởng của bối cảnh đất nước chuyển từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường
5.2.Chọn mẫu nghiên cứu:
Trang 7Mẫu chính: luận văn thực hiện phương pháp chọn mẫu ở hai doanh nghiệp
sau:
- Công ty dệt may Hà Nội (doanh nghiệp Quốc doanh)
- Công ty TNHH Đức Nam Long (doanh nghiệp ngoài Quốc doanh)
Luận văn thực hiện phương pháp điều tra bằng bảng hỏi tại hai đơn vị trên với số lượng 314 phiếu và sử dụng 300 phiếu sau khi kiểm tra và làm sạch
Hà Nội (doanh nghiệp Quốc doanh) để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của luận văn
5.3 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
5.3.1.Phương pháp trưng cầu ý kiến
Đây là phương pháp thu thập thông tin thực nghiệm cơ bản nhất của luận văn
Trang 8Phiếu trưng cầu được xây dựng trên cơ sở của nội dung nghiên cứu bao gồm các câu hỏi về cơ cấu dân số - xã hội của người lao động trong doanh nghiệp và nhân tố ảnh hưởng
Dung lượng mẫu: 314 Đơn vị lấy mẫu: doanh nghiệp Phạm vi lấy mẫu: tại thành phố Hà Nội
Cơ cấu của đối tượng được lựa chọn trên cơ sở: giới tính, trình độ học vấn, tuổi, tình trạng hôn nhân…
5.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Các phương pháp này được sử dụng để bổ sung thông tin định tính cho hệ thống thông tin thu được qua phiếu trưng cầu Các vấn đề không trực tiếp thu nhận được trong phiếu trưng cầu ý kiến được tác giả đưa vào nội dung của các phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu 10 công nhân của doanh nghiệp Quốc doanh và 10 công nhân doanh nghiệp ngoài Quốc doanh Nội dung câu hỏi xoay xung quanh vấn đề lối sống trong gia đình, mối quan hệ vợ chồng và định hướng giáo dục cho con cái
5.3.3 Phân tích tài liệu
Đề tài sử dụng một số tài liệu chính (các kết quả khảo sát, các bài viết trên sách, báo và tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiên cứu trước ) Các thông
tin thu thập, được kế thừa và sử dụng một cách có chọn lọc, sáng tạo
5.3.4 Kỹ thuật xử lý thông tin:
Thông tin thu được qua phiếu trưng cầu ý kiến được xử lý bằng Computer với phần mềm xử lý thống kê xã hội SPSS for Windows 12.5
6 Giả thuyết nghiên cứu:
Mức sống của gia đình công nhân làm việc tại doanh nghiệp ngoài Quốc doanh khá hơn mức sống của gia đình công nhân làm việc tại doanh
Trang 9nghiệp Quốc doanh Tuy nhiên, quan điểm của họ về hôn nhân không có gì khác biệt
Mối quan hệ vợ chồng của gia đình công nhân làm việc tại doanh nghiệp được thể hiện một cách tương đối dân chủ, tuy nhiên hơi thiên lệch về phía người đàn ông
Trình độ học vấn của cha mẹ là nhân tố ảnh hưởng đến định hướng giáo dục cho con cái
Trang 107 Khung lý thuyết:
Các yếu tố Kinh tế - Chính trị - Văn hóa xã hội
về giáo dục cho con cái
ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ
VỀ GIA ĐÌNH CỦA CÔNG NHÂN
xã hội
Nhận thức của công nhân
về gia đình
Định hướng về vai trò và quan hệ
vợ chồng
Định hướng giá trị trong việc sử dụng thời gian rỗi
Trang 11PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
Trong những năm gần đây, chủ đề gia đình đã trở thành mối quan tâm của mọi Quốc gia trên thế giới Chính vì tầm quan trọng của gia đình nên nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan tâm nghiên cứu cả cấp độ vĩ mô và vi mô nhằm tìm ra mối quan hệ giữa gia đình và sự phát triển xã hội
Thực sự có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu mang tính khả thi đã đóng góp các phương án cũng như dự báo xu hướng vận động và biến đổi các mối quan hệ trong gia đình trong giai đoạn hiện nay
Chẳng hạn như đề tài mang mã số: KX 07 - 09 "Vai trò của gia đình trong
sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam" của Trung tâm nghiên cứu Khoa học về gia đình và Phụ nữ do GS Lê Thi làm chủ biên, đã đề cập đến một số nội dung cơ bản sau:
- Phân tích mô tả thực trạng vai trò của gia đình Việt Nam trong việc nuôi dạy, hoàn thiện nhân cách con người
- Nghiên cứu những vấn đề thuộc về mặt lý luận chỉ ra quá trình xã hội hoá con người và chức năng cuả xã hội hoá trong gia đình truyền thống và gia đình hiện đại
- Chỉ ra những hạn chế trong quá trình giáo dục gia đình trong việc hình thành nhân cách con người trong giai đoạn hiện nay; đồng thời đưa ra một số giải pháp tư vấn cho gia đình thực hiện các chức năng của mình
Trang 12Hay cuốn "Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá" của tác giả Lê Văn Ngọc - Nxb Giáo dục, 1996; đã đề cập đến quá trình xã hội hoá cá nhân, mối quan hệ giữa gia đình và các tác nhân xã hội hoá khác; bên cạnh đó tác giả còn chỉ ra phương pháp giáo dục cũng như xu hướng vận động và biến đổi chức năng gia đình trong giai đoạn hiện nay
Trong Công trình nghiên cứu khoa học đề tài cấp Nhà nước KX 07 - 18 do PGS - TS Nguyễn Trọng Bảo làm chủ biên: "Giáo dục, nhà trường, xã hội với việc phát hiện tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài" đã
đề cấp đến: Gia đình với việc hình thành và phát triển tài năng cho con người, hay nói cách khác sự cần thiết của gia đình trong việc hình thành và phát triển tư duy, năng khiếu của con người
Tạp chí Khoa học về gia đình và Phụ nữ, tác giả Lê Thi đã trình bày: "Gia đình với vấn đề xã hội hoá trẻ em, xây dựng nhân cách của con người", Ông đã
đề cập đến việc thực hiện chức năng của gia đình trong việc truyền thụ các giá trị văn hoá - xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác
Như vậy, về cơ bản các đề tài bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau các tác giả đã bám sát các vấn đề cơ bản, phác thảo bức tranh về gia đình cũng như vị trí, vai trò và chức năng của gia đình truyền thống và hiện đại Ở công trình nghiên cứu này, tác giả đi sâu và việc phân tích các khía cạnh định hướng giá trị trong các gia đình công nhân, viên chức và lao động, từ đó tìm ra nguyên nhân cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến sự định hướng giá trị cho con cái trong các gia đình công nhân, viên chức và lao động
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về gia đình nói chung, lối sống cũng là một vấn đề xã hội được rất nhiều nhà khoa học quan tâm Những công
Trang 13trình nghiên cứu khởi đầu cho những nghiên cứu của Xã hội học về lối sống gồm có:
“Thế nào là lối sống xã hội chủ nghĩa” của Thanh Lê chủ biên (Viện
thông tin khoa học, HN 1979, 114 trang) Cuốn sách được đánh giá là công trình khởi đầu cho hướng nghiên cứu Xã hội học lý thuyết về lối sống xã hội chủ nghĩa ở nước ta Cuốn sách đã đề cập đến những mặt, những vấn đề cơ bản của lối sống xã hội chủ nghĩa (khái niệm mức sống, lối sống và lối sống xã hội chủ nghĩa; cơ sở kinh tế, chính trị tinh thần của lối sống xã hội chủ nghĩa; những đặc điểm về nội dung của lối sống xã hội chủ nghĩa; sự phát triển của lối sống và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển đó; các đặc trưng của lối sống xã hội chủ nghĩa và lối sống tư bản )
“Về lối sống mới của tác giả", của các tác giả Phong Châu, Nguyễn Trọng
Thụ, NXB Sự thật, năm 1983 Cùng với một số nghiên cứu của Thanh Lê, cuốn sách là một trong số ít những công trình nghiên cứu Xã hội học lối sống đầu tiên
ở nước ta trong những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ này
Tuy lối viết còn nặng về lý luận, đôi chỗ còn sa vào việc tuyên truyền, kêu gọi Nhưng bằng 78 trang sách, các tác giả đã cung cấp cho người đọc một cách nhìn hệ thống về nội dung của lối sống mới cũng như vai trò nhiệm vụ và biện pháp để xây dựng lối sống mới ở nước ta
Các tác giả đã gắn nội dung và biểu hiện của lối sống mới với các lĩnh vực hoạt động cơ bản của đời sống xã hội như hoạt động lao động, hoạt động văn hoá tinh thần, hoạt động xã hội, sinh hoạt cá nhân Từ đó khái quát các đặc điểm của lối sống mới - lối sống xã hội chủ nghĩa
Cuốn sách có một chương dành cho việc phân tích mối quan hệ giữa lối sống và sự biến đổi của xã hội qua 3 cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản
Trang 14xuất; cách mạng KHKT; cách mạng văn hoá tư tưởng Chương này cũng dành một phần quan trọng để nói về những biện pháp cần thực hiện nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phát triển, xây dựng con người mới và lối sống mới
Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về lối sống trong thời kỳ 1985 - 1995:
Từ những năm sau 1986, nhiều vấn đề thực tiễn xã hội Việt Nam đặt ra cho các nhà nghiên cứu lý luận về lối sống Họ thấy sự cần thiết phải có sự thống nhất trong khái niệm lối sống, trong cơ sở lý luận khi nghiên cứu lối sống và vạch rõ khả năng của một chuyên ngành Xã hội học - Xã hội học về lối sống trong hệ thống các chuyên ngành Xã hội học hiện nay
Với “Góp phần nghiên cứu cách mạng tư tưởng văn hoá, năm 1987” , tác
giả Vũ Khiêu đặt vấn đề lý luận trong nghiên cứu lối sống: xác định rõ nội hàm của khái niệm lối sống, phân biệt khái niệm lối sống với một số khái niệm dẫn xuất khác ( nếp sống, mức sống, phong cách sống, chất lượng sống ), chỉ rõ sự cần thiết phải nghiên cứu lối sống xã hội chủ nghĩa trong sự đối lập với lối sống
tư sản chủ nghĩa và khẳng định đối tượng nghiên cứu của Xã hội học lối sống ngày nay
Trong “ Từ nghiên cứu "lối sống" đến nghiên cứu "phong cách sống” của
Nguyễn Đức Truyến, tạp chí Xã hội học, tác giả nêu ra những hạn chế trong cách tiếp cận lối sống trong những năm trước 1990, chỉ ra hướng tiếp cận phong cách sống trong việc xác định hướng nghiên cứu của “Xã hội học của đời sống hàng ngày”
Trang 15Trong thời gian từ sau 1990, Học viện Nguyễn ái Quốc, Trung tâm Xã hội học - tin học (nay là Trung tâm Xã hội học, Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh) đã đưa vào chương trình đào tạo cử nhân Xã hội học ( hệ 2 năm ) chuyên ngành Xã hội học lối sống Chuyên ngành này được Trung tâm xác định là một trong những chuyên ngành cơ bản khác ( Xã hội học đô thị, Xã hội học nông thôn, Xã hội học thanh niên, Xã hội học lao động )
Ngoài ra, trong thời gian này (1985 - 1995), còn một số nghiên cứu thực tiễn của một số cơ quan, Viện nghiên cứu và tổ chức đoàn thể về các khía cạnh như giá trị, định hướng giá trị, lối sống của thanh niên sinh viên trong bối cảnh mới của xã hội Việt Nam:
“Nữ thanh niên thập kỷ 90”, tập báo cáo những bài viết sau Hội nghị thông
tin khoa học về nữ thanh niên lần thứ 3 (tháng 9-1990) của các nhà khoa học và hoạt động thực tiễn, tập trung vào 3 vấn đề lớn: tình hình tư tưởng và lối sống nữ thanh niên; lao động, việc làm và một số chính sách với nữ thanh niên; nữ thanh niên trong hôn nhân - dân số - kế hoạch hoá gia đình
"Thực trạng lối sống văn hoá của thanh niên hiện nay", một tổng luận
phân tích của Phạm Bằng, Viện nghiên cứu Thanh niên, năm 1993
Mục tiêu của tổng luận là tiến hành phân tích một cách hệ thống về lối sống văn hoá của thanh niên ta ngày nay Trên cơ sở đó dự báo xu thế phát triển của lối sống thanh niên những năm tới, đề xuất một số kiến nghị với Đảng, Nhà nước, với Đoàn thanh niên về những giải pháp nhằm định hướng cho thế hệ trẻ hôm nay nhằm xây dựng cho mình một lối sống văn hoá hiện đại, lành mạnh, mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam
Trang 16“Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện
kinh tế thị trường” do Thái Duy Tiên chủ biên (chương trình KHCN cấp Nhà
“Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” (khuôn khổ
của đề tài KHCN cấp Nhà nước KX07 - 04), viết năm 1995 của nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn nhằm phát hiện những đặc trưng cơ bản của nhân cách con người Việt Nam hiện nay Phát hiện những mặt mạnh, yếu, xu thế phát triển và suy thoái của nhân cách trong sự chuyển đổi của điều kiện kinh tế - xã hội Chủ yếu tập trung vào 3 nội dung: Định hướng giá trị của nhân cách; tiềm năng, khả năng của nhân cách; phẩm chất, hành vi, nếp sống, thói quen của nhân cách Từ đó dự đoán và xây dựng mô hình nhân cách cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở nước ta
Những nghiên cứu này phần lớn được rút ra từ các cuộc nghiên cứu riêng
lẻ về những khía cạnh thực tiễn cụ thể
Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong thời gian từ 1996 đến nay
Tiếp tục triển khai những nghiên cứu về lối sống, phản ánh thực tiễn đời sống của cư dân ( đô thị, thanh niên, sinh viên ) trong điều kiện kinh tế thị
trường, làm phong phú thêm bức tranh về lối sống của họ
“Lối sống đô thị miền Trung, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn “ do Lê Như
Hoa chủ biên, NXBVHTT, HN 1998
Trang 17Các tác giả cuốn sách đã vạch ra những khía cạnh, những vấn đề lý luận cần thiết khi những lối sống đô thị: khái niệm đô thị và lối sống đô thị; lịch sử hình thành, thực trạng và biểu hiện của lối sống đô thị hiện nay Dựa vào các đặc trưng về điều kiện địa lý, các yếu tố lịch sử, văn hoá, tôn giáo, dân tộc v.v các tác giả đã phân tích nguyên nhân, thực trạng và xu hướng biến đổi, phát triển của đô thị miền trung Một số vấn đề cụ thể trong lối sống đô thị miền trung như: giáo dục gia đình, văn hoá đen, lối sống thực dụng được các tác giả tập trung bàn luận và coi đó là những vấn đề cần lưu ý trong quá trình xây dựng, phát triển lối sống văn hoá ở các đô thị miền trung
“Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật” của Đào Trí Úc (trong
khuôn khổ của chương trình KHCN KX07)
Từ các cuộc điều tra Xã hội học với nhiều đối tượng khác nhau trên một
số vùng đại diện của 3 miền và từ việc nghiên cứu các tài liệu lý luận trong và ngoài nước các tác giả đã phác hoạ hiện trạng ý thức, lối sống theo pháp luật của con người Việt Nam Qua đó làm sáng tỏ những ảnh hưởng của phương thức sản xuất, của hệ tư tưởng, văn hóa, đạo đức, điều kiện kinh tế chính trị đến ý thức lối sống của tác giả Các kết luận khoa học được rút ra là cơ sở quan trọng để hình thành hệ thống các biện pháp nhằm xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật cho các tầng lớp dân cư Đề tài nghiên cứu đặc điểm kiến thức pháp luật và lối sống pháp luật của người dân trên cơ sở đánh giá đúng các “kênh” của kiến thức pháp luật: qua đào tạo chuyên môn về pháp luật, qua phương tiện thông tin đại chúng Từ đó sẽ thấy rõ hơn phương pháp để hoàn thiện việc đưa tri thức pháp luật vào đời sống người dân, giúp hình thành trong họ văn hoá và tình cảm pháp luật Một nội dung quan trọng của đề tài là tập trung nghiên cứu về chính sách và
hệ thống pháp luật của Nhà nước, coi đó là tiền đề định hướng cho việc giáo dục
Trang 18lối sống theo pháp luật và làm giàu tư duy pháp lý của con người Đề tài cũng chú ý nghiên cứu về hoạt động áp dụng pháp lý, các thủ tục pháp lý, cơ chế bảo
vệ quyền con người như là phương tiện để xây dựng lối sống theo pháp luật Đây
là những đảm bảo về mặt thực tiễn và trực tiếp nhất cho việc nâng cao ý thức pháp luật, xây dựng lối sống theo pháp luật
“Văn hoá và lối sống - hành trang vào thế kỷ 21” của Thanh Lê
Chẳng hạn như đề tài mang mã số: KX 07 - 09 "Vai trò của gia đình trong
sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam" của Trung tâm nghiên cứu Khoa học về gia đình và Phụ nữ do GS Lê Thi làm chủ biên, đã đề cập đến một số nội dung cơ bản sau:
- Phân tích mô tả thực trạng vai trò của gia đình Việt Nam trong việc nuôi dạy, hoàn thiện nhân cách con người
- Nghiên cứu những vấn đề thuộc về mặt lý luận chỉ ra quá trình xã hội hoá con người và chức năng cuả xã hội hoá trong gia đình truyền thống và gia đình hiện đại
- Chỉ ra những hạn chế trong quá trình giáo dục gia đình trong việc hình thành nhân cách con người trong giai đoạn hiện nay; đồng thời đưa ra một số giải pháp tư vấn cho gia đình thực hiện các chức năng của mình
Trang 19Hay cuốn "Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá" của tác giả Lê
Văn Ngọc - Nxb Giáo dục, 1996; đã đề cập đến quá trình xã hội hoá cá nhân, mối quan hệ giữa gia đình và các tác nhân xã hội hoá khác; bên cạnh đó tác giả còn chỉ ra phương pháp giáo dục cũng như xu hướng vận động và biến đổi chức năng gia đình trong giai đoạn hiện nay
Trong Công trình nghiên cứu khoa học đề tài cấp Nhà nước KX 07 - 18 do
PGS - TS Nguyễn Trọng Bảo làm chủ biên: "Giáo dục, nhà trường, xã hội với
việc phát hiện tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài" đã
đề cấp đến: Gia đình với việc hình thành và phát triển tài năng cho con người, hay nói cách khác sự cần thiết của gia đình trong việc hình thành và phát triển tư duy, năng khiếu của con người
Tạp chí Khoa học về gia đình và Phụ nữ, tác giả Lê Thi đã trình bày: "Gia
đình với vấn đề xã hội hoá trẻ em, xây dựng nhân cách của con người", tác giả
đã đề cập đến việc thực hiện chức năng của gia đình trong việc truyền thụ các giá trị văn hoá - xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác …
Hay phải kể đến Vũ Tuấn Huy với “Những khía cạnh của sự biến đổi gia
đình” (Tạp chí Xã hội học số 4/1995) Tác giả đã phân tích thông tin thu được
qua một cuộc điều tra chọn mẫu và kết luận về sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong mô hình hôn nhân, về vai trò người phụ nữ trong gia đình, quan hệ vợ chồng trong gia đình Những biến đổi đó dưới sự tác động của những biến đổi xã hội và giao lưu văn hóa
Ngoài ra còn có công trình của GS Đỗ Thái Đồng với “Gia đình truyền
thống với những biến thái ở Nam bộ Việt Nam” (Tạp chí Xã hội học số 3/1990)
Tác giả kết luận: kiểu gia đình truyền thống ở nông thôn Nam bộ sẽ đứng vững
Trang 20trong một thời gian dài nữa và đặt ra câu hỏi: kiểu gia đình truyền thống Việt Nam ở Bắc cũng như Nam sẽ thay đổi như thế nào trong tương lai
Daniele Belanger và Khuất Thu Hồng với “Một số biến đổi trong hôn
nhân và gia đình ở Hà Nội trong những năm 1965 – 1985” Tác giả tập trung trả
lời hai vấn đề chính: vai trò cá nhân, gia đình và Nhà nước trong việc lựa chọn bạn đời; tiêu chuẩn người bạn đời trong hai mô hình hôn nhân khác nhau ra sao?
Nguyễn Hữu Minh với “Quyền tự do chọn bạn đời ở một số tỉnh đồng
bằng sông Hồng: truyền thống và biến đổi” (Tạp chí Xã hội học số 1/1999) Tác
giả tập trung phân tích quyền tự do chọn bạn đời trong truyền thống, các yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do lựa chọn bạn đời ở Đồng bằng sông Hồng
Như vậy, suốt trong 10 năm trở lại đây (không kể những nghiên cứu trước 1985), định hướng giá trị về gia đình đã trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và các tổ chức xã hội Những nghiên cứu này, một mặt đã phần nào đáp ứng được nhu cầu phản ánh thực tiễn xã hội (đặc biệt là biểu hiện sự định hướng giá trị của nhóm cư dân, trong đó có thanh niên, sinh viên Việt Nam) và ngày càng hoàn thiện dần hệ thống lý luận về lối sống, lối sống xã hội chủ nghĩa Mặt khác, đã góp phần giúp các nhà quản lý lập kế hoạch định hướng, giáo dục thanh niên sinh viên trên các bình diện rộng và hẹp của đất nước
Tuy nhiên, so với thực tế của sự biến động mạnh của nền kinh tế thị trường đang hàng ngày hàng giờ kéo theo những đổi thay về nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử, nhu cầu, lợi ích và định hướng giá trị của người dân thì các nghiên cứu đã có lại hầu như chưa phản ánh một cách đầy đủ Chưa có nhiều nghiên cứu riêng biệt, đi sâu vào những mặt, những vấn đề cụ thể trong đời sống sinh hoạt, tâm lý, nhận thức và tư tưởng của người dân hiện nay Trên thực tế
Trang 21của việc nghiên cứu lối sống từ trước đến nay, các nghiên cứu đa phần chỉ dựa
và phân tích kinh nghiệm, phân tích tài liệu sẵn có để khái quát vấn đề nhằm phác họa bức tranh về lối sống người dân nên có nhiều chỗ đậm nhạt khác nhau, cũng chính vì thế nên chưa có nhiều kết quả nghiên cứu dựa trên việc phân tích các thông tin trên cơ sở nghiên cứu Xã hội học thực nghiệm để đưa ra những đánh giá mang tính chất khách quan và khoa học cao Nhiều nghiên cứu về lối sống người dân nhưng lại chỉ được lựa chọn trong khuôn khổ một nghiên cứu mang tính tổng thể hay trên một “lát cắt” quá hẹp trong cái gọi là “lối sống” của
họ
“Định hướng giá trị của sinh viên - con cái cán bộ khoa học” của PGS
TS Vũ Hào Quang, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội là một công trình nghiên cứu
sử dụng những phương pháp và cách tiếp cận Xã hội học để lý giải một hiện tượng xã hội đó là định hướng giá trị của sinh viên hiện nay Tác giả công trình
đã xem xét định hướng giá trị không phải là một hiện tượng cá nhân hoặc cá biệt
mà xem nó như một hệ thống giá trị của một nhóm xã hội và ở đây là nhóm sinh viên Trên cơ sở bóc tách các tầng lớp giá trị trong hệ thống giá trị giúp tác giả nhận thức bản chất về chiều sâu của các quan hệ xã hội từ cấp vi mô là quan hệ giữa các cá nhân cho tới cấp vĩ mô là toàn xã hội, quốc gia, khu vực và thế giới
Như vậy, về cơ bản các đề tài bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau các tác giả đã bám sát các vấn đề cơ bản, phác thảo bức tranh về gia đình cũng như vị trí, vai trò và chức năng của gia đình truyền thống và hiện đại ở công trình nghiên cứu này, tác giả đi sâu và việc phân tích các khía cạnh định hướng giá trị trong các gia đình công nhân đang làm việc tại doanh nghiệp, từ đó tìm ra nguyên nhân cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến sự định hướng giá trị về gia đình của họ
Trang 222 Cơ sở lý luận của luận văn:
2.1 Những lý thuyết cơ bản vận dụng nghiên cứu:
2.1.1 Thuyết Vai trò:
Như chúng ta đã biết, vai trò của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng; nó chính là mặt động của vị thế xã hội và luôn biến đổi trong xã hội Vì vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi xã hội đối với từng vị thế nhất định để thực hiện quyền
và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó
Theo Parsson (1902 - 1979), chức năng xã hội hoá của gia đình được hướng vào những giá trị, qui chuẩn đạo đức phù hợp với vai trò sau này mà nó đảm nhận Vì vậy, những đứa trẻ học được là nhờ những khuôn mẫu về vai trò
và sự mong đợi đảm nhận vai trò của cha mẹ, thầy cô và những người xung quanh thực hiện Trong gia đình những đứa trẻ học được ở bố mẹ và anh chị em không những quan điểm hành vi, nhu cầu mà còn cả định hướng giá trị
Các nhà Xã hội học nghiên cứu về gia đình thuộc trường phái lý thuyết vai trò đều xác định gia đình như một hệ thống các vai trò Họ coi gia đình như một sân khấu, trong đó các thành viên lên sân khấu đều thực hiện những vai trò nhất định và mỗi thành viên lại có sự ràng buộc, phụ thuộc vào nhau khi đóng vai trò của mình Hệ thống các vai trò được chia như thế nào trong cấu trúc của gia đình, xã hội phân chia qui định nó như thế nào, tuân theo các khuân mẫu, hành vi ứng xử ra sao, … Trong gia đình mỗi người phải tự xác định cho mình một chỗ đứng và tương ứng với vị trí đó thì anh ta thực hiện những vai trò và nhiệm vụ nhất định Các vai trò trong gia đình luôn luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau Nội dung vai trò của người bố hay người mẹ luôn được ấn định bởi sự mong đợi
Trang 23của xã hội Tuy nhiên, khi nghiên cứu hệ thống các vai trò trong gia đình chúng
ta không thể không nghiên cứu mối quan hệ bên trong gia đình; điều đó nói lên mọi vai trò trong gia đình đều có liên quan chặt chẽ với nhau Mỗi khi các thành viên trong gia đình có sự thay đổi vai trò của mình, nó sẽ ảnh hưởng đến các thành viên khác trong gia đình và qua đó chúng ta thấy được sự vận động và biến đổi các định hướng, giá trị trong gia đình
Các nhà Xã hội học đã vay mượn từ kịch bản của sân khấu để miêu tả các vai trò ảnh hưởng như thế nào trong đời sống xã hội Giống như các nghệ sỹ trên sân khấu, tất cả chúng ta đóng các vai trò trong cuộc sống hàng ngày của mình Gắn với mỗi vai trò là một kịch bản mà nó nói với chúng ta sẽ ứng xử như thế nào với người ngoài khác và họ sẽ hành động trở lại với chúng ta ra sao? Một vai trò như là động lực, đưa những địa vị vào cuộc sống Như Ralph Linton (1936) nói, chúng ta chiếm giữ các địa vị, nhưng chúng ta đóng các vai trò
Một vai trò là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ
được gán cho một địa vị cụ thể Những mong đợi này xác định hành vi của con người được xem như là phù hợp hay không phù hợp đối với người chiếm giữ một địa vị
Một vai trò hay một địa vị thường được xem xét trên một mối quan hệ
nhất định Vai trò, do ý nghĩa mà nó được gán mang tính xã hội và trên một
phương diện nhất định nó cũng là một biểu trưng trong quá trình tương tác của con người
Như vậy, khi phân tích định hướng giá trị về gia đình công nhân lao động, dưới góc độ của lý thuyết tương tác biểu trưng và lý thuyết vai trò, cần phải đặt
chúng trong những quan hệ liên cá nhân, liên nhóm cụ thể
2.1.2.Lý thuyết cấu trúc - chức năng
Trang 24Theo Tallcott Parsons (1902-1979) - nhà Xã hội học người Mỹ Trong tác phẩm của mình: "Cấu trúc hành động xã hội - 1939" ông đã đưa ra lý thuyết cấu trúc chức năng "Nội dung của lý thuyết cấu trúc chức năng của ông là thuyết hành động" [Các lý thuyết Xã hội học hiện đại - của tác giả G Endrruweit chủ biên, Nxb Thế giới, 1999, Tr 76] Ông đã lý luận rằng: bất kỳ một hành động xã hội nào cũng có những nét chung và phải nằm trong một hệ thống nhất định Ông đã trình bày phân tích cấu trúc chức năng với tư cách là một phương pháp, ông cho rằng: "Phân tích cấu trúc chức năng tức là đóng góp từng phần cho việc giữ gìn ổn định của một cấu trúc Tuỳ theo điều kiện là đã hoàn thành đóng góp hay chưa mà cấu trúc được giữ ổn định hay thay đổi khi ta xét nó vào một thời điểm khác Sau đó, sẽ gắn những quá trình nhất định giữa hai thời điểm mà chúng được ghép vào chức năng của các cấu trúc con và tác dụng của chúng sẽ thay đổi được khi so sánh cấu trúc ở hai thời điểm "[Các lý thuyết Xã hội học hiện đại - của tác giả G Endrruweit chủ biên, Nxb Thế giới, 1999, 80 - 81] Lập luận của ông đưa ra rằng: giữa cấu trúc và chức năng có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó cấu trúc giữ vai trò quyết định Sự thay đổi về mặt chức năng
sẽ làm hoàn thiện cấu trúc của nó Cấu trúc xã hội đảm bảo tính cân bằng cho xã hội về mặt chức năng
Việc vận dụng lý thuyết này vào phân tích các vấn đề cơ bản trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài sẽ cho tác giả cơ sở lý luận để phân tích sự thay đổi các chức năng trong gia đình, đặc biệt là việc định hướng giá trị của công nhân trong tương lai để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay
2.1.3.Thuyết Hành động xã hội
Trang 25Lý thuyết Hành động xã hội với những người đề xướng phải kể đến như
V Rareto, M.Weber, G Mead, T Parson,… được vận dụng để giải thích về định hướng giá trị về gia đình của công nhân trong các doanh nghiệp
Theo M Weber, hành động được gọi là hành động xã hội khi nó tương quan và định hướng vào hành động của những người khác theo cái ý đã được nhận thức bởi chủ thể hành động [TS Vũ Hào Quang, 1997, 93]
M.Weber chỉ ra rằng khi con người hành động thì luôn có nội dung, ý nghĩa chủ quan Do đó, tác giả phải xâm nhập vào thế giới tình cảm, thế giới suy nghĩ nếu muốn giải thích hành động của người đó
Để nghiên cứu hành động xã hội, M.Weber đã xây dựng một hệ thống kiểu mẫu hành động xã hội, bao gồm 4 dạng hành động căn bản: Hành động hợp
lý so với mục đích, Hành động hợp lý so với giá trị, Hành động duy cảm và Hành động truyền thống 4 Hành động này không tách rời nhau một cách minh bạch Trong số những hành động của con người, có những hành động vì mục đích, có những hành động vì một giá trị nào đó hay hành động theo cảm xúc hoặc hành động tuân thủ các giá trị truyền thống Trên thực tế rất hiếm khi hành động con người thuần tuý thuộc về một trong bốn loại đã nêu, nó thường là sự kết hợp giữa những loại hành động đó Trong quá trình con người hành động, tương tác với nhau, con người luôn suy nghĩ lựa chọn phương án hành động, qua tìm hiểu phương thức hành động và cách biểu đạt ta có thể nhận ra ý nghĩ của
họ
Với cách tiếp cận của M.Weber, tác giả có thể hiểu rõ hơn về bản chất, cơ cấu của công nhân trong các doanh nghiệp, tìm ra động cơ mục đích của hành động Tuy nhiên, khi xem xét đến định hướng giá trị về gia đình không thể bỏ
Trang 26qua các yếu tố qui định hành động xã hội Một số yếu tố qui định hành động cần
kể đến như:
Quá trình xã hội hoá và cơ cấu xã hội:
Quá trình xã hội hoá còn được gọi là quá trình quá độ mà chúng ta tiếp
nhận được nền văn hoá của xã hội mà trong đó chúng ta đã được sinh ra, quá trình mà nhờ đó chúng ta đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội của chúng ta
[Tony Bilton và các tác giả, 1993, 27]
Định hướng giá trị là thể hiện về nhận thức, về nhu cầu của con người được truyền tải qua quá trình xã hội hoá Chính nhờ quá trình này, chúng ta có những định hướng giá trị về gia đình phù hợp với bản thân xã hội đang sinh sống
Lý thuyết Xã hội hoá là một lý thuyết quan trọng trong Xã hội học, việc áp dụng lý thuyết này vào trong nghiên cứu giúp tác giả hiểu được một số nhân tố tác động đến định hướng giá trị về gia đình của công nhân trong doanh nghiệp Quốc doanh và doanh nghiệp ngoài Quốc doanh
Cơ cấu xã hội qui định hành động xã hội:
Cơ cấu xã hội là một tập hợp phức tạp các quan hệ xã hội, vị trí xã hội và tương ứng với chúng là các vị thế, vai trò Mỗi cá nhân trong xã hội thường chiếm nhiều vị trí xã hội khác nhau, tức là có nhiều vai trò khác nhau Nhưng trong một mối quan hệ xã hội cá nhân chỉ có thể giữ một vị trí xã hội và thực hiện vai trò Các cá nhân luôn có xu hướng hành động phù hợp với vị thế và vai trò của họ trong từng mối quan hệ của cơ cấu xã hội [GS Phạm Tất Dong - TS
Lê Ngọc Hùng, 1999, 140 - 141]
Hành động xã hội là sự trao đổi xã hội:
Trang 27Theo Homans, các cá nhân hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi các giá trị vật chất và tinh thần, như sự ủng hộ, tán thưởng hay danh dự,… Hành động của con người, nói theo thuật ngữ của Homans là cân bằng giữa chi phí (costs) và phần thưởng (rewards) Xu hướng cân bằng này thể hiện ở chỗ các cá nhân mong muốn đạt được những phần thưởng lớn nhất so với chi phí bỏ ra
Homans cho rằng toàn bộ các tương tác xã hội là một tập hợp phức tạp của những trao đổi Tất nhiên, quan niệm về chi phí và lợi ích mang một nội hàm rất rộng, không chỉ có ý nghĩa vật chất mà còn cả những nguồn tượng trưng (tình cảm, ý tưởng, giao tiếp không bằng lời)
Hành động xã hội là sự tuân theo
Những thí nghiệm của M.Sherif và các đồng nghiệp, thí nghiệm của Asch
về hiện tượng tuân theo cho thấy rằng, các cá nhân khi thấy hành động của mình khác với số đông trong nhóm thì họ có xu hướng thay đổi quan điểm của mình theo số đông Họ làm như vậy để có cảm giác yên tâm cho rằng họ giống những người khác và do đó hành động của họ cũng là đúng, là chuẩn Hành động thoả hiệp trong thực tế là khá phổ biến [GS Phạm Tất Dong - TS Lê Ngọc Hùng,
1999, 141]
Hành động xã hội là phản ứng với xung quanh:
Theo quan điểm của E.Goffman, các cá nhân hành động rất khác nhau khi
họ ở trước những người khác so với khi ở một mình Nói cách khác, chính thái
độ, phản ứng của người khác sẽ qui định hành động của tác giả [GS Phạm Tất Dong - TS Lê Ngọc Hùng, 1999,142]
Tất cả những cách giải thích trên về những yếu tố qui định hành động xã hội đều có nhân tố hợp lý Để hiểu toàn vẹn về hành động xã hội, chúng ta cần
có cách nhìn tổng hợp từ tất cả các cách giải thích trên Do đó, khi áp dụng lý
Trang 28thuyết hành động xã hội vào nghiên cứu định hướng giá trị về gia đình công nhân trong các doanh nghiệp, ta cần thấy được cấu trúc của hành động, thấy được những nhân tố qui định hành động, cả những nhân tố bên trong lẫn nhân tố bên ngoài
2.2.Những khái niệm Công cụ cơ bản:
2.2.1 Khái niệm gia đình
Trong lịch sử phát triển xã hội loài người cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, tùy vào từng cách tiếp cận khác nhau và từng giai đoạn lịch sử khác nhau mà người ta đưa ra khái niệm gia đình Ở đây, tác giả chỉ xem xét một số khái niệm gia đình cơ bản sau:
Theo ĂngGhen [Tuyển tập Mác - ĂngGhen, tập VI, 1984, 26 - 27]: "Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, suy cho đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, ra thức ăn, quần áo, nhà ở và những công cụ để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự di truyền nòi giống Những thiết chế xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là
do hai loại sản xuất đó qui định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động
và mặt khác là do trình độ của phát triển của gia đình"
Theo từ điển tiếng Việt: Gia đình là tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái
Trong cuốn: "Hôn nhân và gia đình " A.G Kharchep định nghĩa: "Gia đình là một hệ thống cụ thể lịch sử của các quan hệ qua lại giữa vợ chồng, cha
Trang 29mẹ và con cái, là một nhóm xã hội nhỏ, bởi cộng đồng sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức và sự cần thiết xã hội của nó được ấn định bởi nhu cầu của xã hội trong việc tái tạo về tinh thần và sức khoẻ."
Khi nói về lý thuyết Xã hội học gia đình, khái niệm gia đình đã được đề cập đến Ở đây, tác giả chỉ nêu khái niệm gia đình như một khái niệm công cụ để giải thích và đo lường phần thực nghiệm
Giữa các ngành khoa học, các nhà khoa học khác nhau cũng có nhiều quan điểm khác nhau về gia đình Có quan niệm cho gia đình là “tế bào xã hội”, gia đình là “thiết chế xã hội”, là “nhóm xã hội”, là “tổ chức cơ bản của xã hội”…
Trong tác phẩm “Cấu trúc xã hội” (1949) G.P Murdock cho “Gia đình là một nhóm xã hội có đặc trưng là cùng cư trú, hợp tác và tái sản xuất kinh tế (người lớn và của cả hai giới), và ít nhất trong đó có quan hệ tình dục với nhau, được xã hội tán thành, một hoặc nhiều con cái (do họ sinh ra hoặc do họ nhận con nuôi)
Theo từ điển Xã hội học do nhà xuất bản Pháp Larousse ấn hành năm
1973 định nghĩa về gia đình như sau: “Gia đình là nhóm người gắn bó với nhau bằng các mối liên hệ hôn nhân, huyết thống hay là sự nhận con nuôi Có sự tác động qua lại giữa chồng và vợ, giữa bố và mẹ, giữa cha mẹ và con cái…, giữa anh chị em và họ hàng xa hơn”
Theo luật Hôn nhân và Gia đình nước ta (điều 10) cho rằng gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định của luật này
Trang 30Theo Kharơtriép A.G, ông định nghĩa về gia đình theo chủ nghĩa Mác: “Gia đình là một quan hệ, thông qua nó và nhờ nó mà việc tái tạo
con người
Kharơtriép A.G coi gia đình là thiết chế xã hội, nhờ vào cơ chế tái tạo con người cả về thể xác lẫn tinh thần thông qua các thiết chế xã hội khác như: Pháp luật, kinh tế , chính trị, đạo đức, tôn giáo, văn hoá v.v Từ
đó tác giả cho rằng quan hệ đã phát triển thành gia đình theo kiểu cộng đồng xã hội Gia đình được xem xét như là một yếu tố xã hội, nó phụ thuộc vào phương thức sản xuất, sự phân công lao động xã hội, cơ sở hạ tầng kinh tế, cũng như những yếu tố tâm lý xã hội, trong quan hệ giữa ba thành phần cơ bản của gia đình là vợ chồng - cha mẹ - con cái Tóm lại có thể định nghĩa vắn tắt gia đình như sau: “Gia đình là một cộng đồng đã được thiết chế hoá hình thành trên cơ sở của hôn nhân và việc trách nhiệm đạo đức, pháp luật của vợ chồng sinh ra bởi hôn nhân nhằm đảm bảo cuộc sống và sự giáo dục các con cái của mình”
Gia đình là một thiết chế xã hội
Tiếp cận nghiên cứu gia đình với tư cách là thiết chế xã hội là một quan niệm rộng rãi nhất trong xã hội học hiện đại Nhiều nhà xã hội học Mác-xít coi khái niệm “thiết chế” như là khái niệm trung tâm của xã hội học Mác-xít, nó phản ánh hình thức tổ chức xác định của các bộ phận nào
đó của thực tại xã hội, cũng như những vai trò chung nào đó của các nhóm nghề nghiệp [Vũ Tuấn Huy, 2004] “Thiết chế xã hội” đã được các nhà xã hội học Mỹ và châu Âu sử dụng rộng rãi, và các nhà xã hội học Mác-xít cũng thừa nhận nó Khái niệm thiết chế xã hội bao gồm bốn nội dung chính như sau:
Trang 311) Thiết chế xã hội là một thực tiễn xã hội tương đối phức tạp, chịu sự kiểm soát xã hội rộng khắp, mà trước hết là hệ thống các chế tài tích cực
và tiêu cực
2) Khái niệm thiết chế xã hội cũng có nghĩa là: Một tổ chức phức tạp bất
kỳ nào có qui mô khá lớn như: trường đại học, nhà tù, bệnh viện
3) Thiết chế xã hội là một hệ thống phức hợp các hành động, các quan hệ nhằm thực hiện những chức năng xã hội nào đó Ví dụ thiết chế kinh tế, thiết chế giáo dục, thiết chế gia đình, thiết chế chính trị v.v
4) Thiết chế xã hội là một thực tiễn xã hội đã được chuẩn hoá và thực tiễn
xã hội đó đã được ổn định, bền vững tương đối Trong đó cần phải hiểu thiết chế hoá là một quá trình, nhờ đó mà bất kỳ một hệ thống hoạt động
xã hội nào tuân thủ những khuôn mẫu giá trị, chuẩn mực một cách xác định sẽ trở thành thiết chế
Như vậy quá trình thiết chế hoá sẽ giúp cho những hành động xã hội của cá nhân hoặc của nhóm và của tập đoàn xã hội trở thành thiết chế Khái niệm thiết chế và thiết chế hoá rất quan trọng đối với việc phân tích các quá trình hình thành phát triển và tan rã gia đình Ví dụ: Trong các quan hệ thường ngày các cá thể sẽ tương tác với các cá thể khác, để cụ thể hơn ta phân tích trường hợp tìm hiểu của nam nữ thanh niên (hoặc giữa những người đàn ông đàn bà) với mục đích thành lập gia đình, ta thấy rằng không phải mọi quan hệ giữa họ đều dẫn tới hôn nhân, lý do là trong quá trình tìm hiểu các quan hệ bền vững có thể được thiết lập hoặc không, nếu giữa họ có mối quan hệ tốt (bền vững) họ quyết định đi tới hôn nhân - thành lập gia đình, lúc đó ta nói rằng “Thiết chế gia đình” được thành lập Trong thiết chế gia đình này nó đã bao gồm các vị thế có nghĩa là “chỗ
Trang 32đứng của vai trò” [Tương Lai, 1996] Vị thế xã hội là những quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm mà cá nhân hoặc nhóm xã hội phải đảm nhận trước xã hội Việc triển khai các quyền hạn, trách nhiệm nghĩa vụ của một
vị trí cụ thể trong thang bậc xã hội chính là các vai trò của người mang vị thế đó Vai trò xã hội được hiểu là việc thực hiện các chức năng do vị thế
xã hội mang lại Việc thực hiện vai trò của các thành viên trong gia đình
vợ - chồng , cha - mẹ ,con cái, những người ruột thịt trong tất cả các hoạt động sống của gia đình từ việc sản xuất, sinh con cái, tới việc giáo dục (xã hội hoá) trẻ em, nghỉ ngơi quan hệ họ hàng bên vợ bên chồng v.v đều được quy định rất chặt chẽ trong thiết chế gia đình Đặc biệt quan trọng trong sự vận hành của thiết chế gia đình đó là quan hệ giữa vai trò và các chuẩn mực xã hội Chuẩn mực xã hội có vai trò duy trì sự hoạt động đối nội (giữa các thành viên trong gia đình) và đối ngoại (quan hệ với các thiết chế xã hội khác như: Giáo dục, chính trị, tôn giáo, văn hoá ) Việc thực hiện chuẩn mực được kiểm soát bởi các chế tài trong thiết chế gia đình, nhằm thưởng những hành vi tốt (thực hiện tốt chuẩn mực) và phạt những hành vi xấu (thực hiện chưa tốt hoặc không thực hiện chuẩn mực) Các chuẩn mực trong thiết chế gia đình sẽ được thể chế hoá và trở thành các điều luật trong bộ luật hôn nhân và gia đình ở các nước xã hội chủ nghĩa và thành dân sự ở các nước tư bản chủ nghĩa
Việc nghiên cứu gia đình từ cách tiếp cận “thiết chế xã hội” có rất nhiều ưu điểm:
- Nó cho ta biết được cơ cấu tổ chức của gia đình thông qua vị trí và chức năng của các thành viên
Trang 33- Cho ta biết được trình độ hoạt động thực tiến của gia đình trên cơ sở đó
có thể xác định được mô hình và phân loại gia đình như gia đình gia trưởng nếu người đàn ông người chống nắm toàn quyền chỉ huy gia đình v.v
- Thông qua hoạt động của gia đình ta thấy mối liên hệ của nó với các thiết chế khác, qua đó đánh giá trình độ phát triển văn hoá của xã hội nói chung
- Thiết chế vận hành như thế nào thì độ ổn định của đời sống gia đình như thế ấy
Tóm lại, ta thấy rằng thiết chế gia đình vận hành từ khi nó hình thành cho tới khi nó tan rã trải qua các thời kỳ trước hôn nhân, trong hôn nhân và sau hôn nhân Trước khi đi đến hôn nhân người chồng và người
vợ cũng phải tuân thủ những chuẩn mực do xã hội quy định Những chuẩn mực này cũng rất khác nhau ở các địa phương vì vậy nó vừa mang dấu ấn của tiểu văn hoá và văn hoá chung thậm chí là phản văn hoá (trong những trường hợp riêng biệt nào đó) Trong hôn nhân các mối quan hệ của từng thành viên chiếm giữ những vị trí rất cụ thể, để giữ được những vị trí đó mỗi cá nhân phải thực hiện những vai trò và bị kiểm soát bởi các chuẩn mực Do vậy bộ máy gia đình dù “cồng kềnh” như thế nào nó cũng hoạt động rất nhịp nhàng để đảm bảo cho sự tồn tại cho chính nó Khi phân tích gia đình như là một thiết chế các nhà xã hội học chú ý tới việc phân tích đến nhu cầu của đời sống gia đình qua đó xem xét các mặt khác của nó như lối sống, hoạt động sống phù hợp hay không phù hợp với những đòi hỏi của xã hội trên cơ sở đó có thể dự báo những biến đổi của gia đình Các mối quan hệ cơ bản trong gia đình là sự biểu hiện mối tương quan
Trang 34giữa quyền lợi và trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của mỗi thành viên thể hiện qua các chuẩn mực được pháp luật quy định về những vấn đề như tài sản, trách nhiệm về mặt vật chất của vợ chồng đối với con cái và với nhau, tuổi tối thiểu để kết hôn và những trách nhiệm pháp lý khi hôn nhân tan
vỡ đối với nam và nữ và nhất là đối với con cái của họ sau khi ly hôn Theo Matxcốpski M.S thì thiết chế gia đình được xác định bởi sự phát triển của chính xã hội do sự biến đổi của nhu cầu xã hội Các yếu tố quan trọng nhất tác động với sự biến đổi đó là yếu tố kinh tế xã hội, hệ tư tưởng
và lịch sử cụ thể Do sự tác động của các yếu tố trên mà hệ giá trị, chuẩn mực và những chế tài cụ thể cũng biến đổi theo tương ứng với nó là các hành vi, lối sống, cách ứng sử biến đổi trong quá trình phát triển của gia đình
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận và có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, nhưng các nhà nghiên cứu đều có điểm chung, có thể khái quát trong đề tài nghiên cứu này như sau: Gia đình là một nhóm xã hội gồm hai hay nhiều người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (hoặc nhận con nuôi), vừa nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng tư của họ vừa nhằm thoả mãn những nhu cầu của xã hội về tái sản xuất dân cư cả nghĩa thể xác và tinh thần
2.2.2 Khái niệm nhóm xã hội:
Nhóm xã hội là khái niệm cơ bản của Xã hội học, chỉ các tập thể gồm từ 2 người trở lên, trong đó các cá nhân thiết lập những liên hệ xã hội của mình với các cá nhân khác và với tập thể [Nguyễn Khắc Viện, 1994, 210]
Theo Gurvitch: đó là một đơn vị tập thể hiện thực dựa trên những thái độ tập thể liên tục và tích cực và có một sự nghiệp chung để thực hiện
Trang 35Con người bao giờ cũng sống thành nhóm, giống như nhiều loài động vật sống thành bầy Nhưng ở con người, nhóm không chỉ có tính sinh học tự nhiên (do những nhu cầu sinh học qui định: kiếm ăn, tự vệ, tính dục…) mà còn mang tính xã hội tạo thành hiệu ứng nhóm có thể thực hiện và quan sát bằng những phương tiện Xã hội học [Nguyễn Khắc Viện, 1994, 211]
“Nhóm xã hội là nhóm người được xác định bởi tiêu chuẩn thành viên chính thức hoặc phi chính thức, họ chia sẻ cùng nhau những tình cảm chung và
mô hình tương tác ổn định trong quan hệ xã hội” [TS Vũ Hào Quang, 2001, 48]
Những dấu hiệu cần thiết để nhận dạng nhóm xã hội:
- Phải được các thành viên của nhóm và những người khác ngoài xã hội xác định quyền thành viên
- Có mối liên hệ về mặt chính trị xã hội trong cấu trúc xác định (liên quan tới quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm)
- Mỗi cá nhân trong nhóm đều có vai trò cụ thể
- Có mô hình hành vi ứng xử tương đối đồng nhất
- Có những giá trị và mục tiêu chung
- Chấp nhận những qui tắc chung trong quan hệ nhóm (cả quan hệ quyền lực giữa thủ lĩnh và các nhóm thành viên)
- Có mối liên hệ lẫn nhau tương đối ổn định và liên tục
Như vậy, nhóm xã hội rất rộng, từ nhóm gia đình tới nhóm giới tính và lứa tuổi… Nhóm xã hội có từ 2 người đến hàng triệu người Trong công trình nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu nhóm gia đình công nhân làm việc trong doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội
2.2.3 Khái niệm thời gian rỗi:
Trang 36Đời sống con người là quá trình bao gồm những kiểu loại hoạt động khác nhau, nhưng nhìn chung, trong bất cứ thời kỳ nào, con người cũng dùng thời gian vào 4 loại hoạt động sau:
- Những hoạt động thuộc lao động sản xuất để đảm bảo sự sống còn cho
cá nhân và xã hội nói chung Đó là nghĩa vụ xã hội của mỗi người
- Những hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân trong đời sống xã hội như dạy dỗ con em, chăm nom gia đình, họ hàng, bạn bè, xóm giềng… Đó là bổn phận xã hội của mỗi người
- Những hoạt động thuộc sự duy trì, bảo vệ đời sống vật chất cá nhân như nấu nướng, dọn dẹp chỗ ở, ăn uống, tắm giặt… Đó là nhu cầu vật chất cá nhân của mỗi người
- Những hoạt động thuộc đời sống tinh thần của cá nhân, được diễn ra bằng nhiều biện pháp khác nhau: xem sách báo, xem sân khấu, đánh cờ, làm thơ,
đi dạo… Đó là nhu cầu tinh thần của mỗi người
Với 4 loại hoạt động xã hội trên, ta thấy hoạt động thứ nhất được thực hiện theo qui chế xã hội, không tùy thuộc theo ý thích hoặc hoàn cảnh cá nhân
Số thì giờ dành cho hoạt động ấy được Marx gọi là thì giờ tất yếu 3 hoạt động còn lại đều không thể thiếu trong đời sống mỗi con người, nhưng việc thực hiện chúng lại phụ thuộc vào điều kiện riêng của từng cá nhân Bởi vậy, khoảng thời gian dành cho các hoạt động ấy được gọi là thì giờ tự do, tức là thì giờ mà xã hội dành cho cá nhân quyền tự do sử dụng Riêng đối với hoạt động thứ tư, nó diễn
ra trong khoảng thời gian không nhiều trong ngày Đó là số thì giờ còn lại của mỗi người sau khi đã làm xong 3 loại công việc trên Đặc điểm của nó là cá nhân được hoàn toàn tự do lựa chọn cái mình thích để hoạt động, thứ hai là chúng mang tính cách tinh thần, đó là sự nghỉ ngơi Như vậy là từ hoạt động tất yếu,
Trang 37cưỡng bức chuyển sang tự do, tự giác, tự nguyện Và để phân biệt, người ta gọi
số thì giờ dành cho chúng là thì giờ rỗi và những hoạt động trong thì giờ ấy là hoạt động rỗi Đó là những hoạt động để thỏa mãn nhu cầu giải trí - tái sáng tạo,
mà ngôn ngữ thông thường gọi là “chơi” Rỗi là từ nôm, nghĩa gốc là đã xong việc, còn rảnh là hết việc làm, ứng với từ Hán là nhàn hay hạ, nhưng ngày nay không có sự phân biệt giữa rảnh và rỗi mà người ta thường dùng là rảnh rỗi hay nhàn rỗi
Theo định nghĩa của TS.Đinh Thị Vân Chi: “Thời gian rỗi là khoảng thời gian mà trong đó con người không bị thúc bách bởi nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi bất cứ nghĩa vụ khách quan nào Nó được dành cho các hoạt động tự nguyện, theo sở thích của chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người” [Đinh Thị Vân Chi, 2003, 267]
Như vậy, có thể hiểu thời gian rỗi là khoảng thời gian còn lại sau khoảng thời gian chi phí cho các hoạt động tất yếu dành cho mưu sinh
Có hai loại hoạt động rỗi cơ bản: cấp ngày và cấp kỳ dịp Ở đây, tác giả chỉ nghiên cứu hoạt động rỗi cấp ngày
Một khái niệm nữa cũng cần làm rõ, đó là khái niệm tính cộng đồng Tính cộng đồng là chỉ mức độ liên kết với các cá nhân khác trong hoạt động Với ý nghĩa như vậy, tính cộng đồng trong bài có 3 cấp độ Cấp độ thấp nhất là cấp độ
cá nhân Ở cấp độ này các cá nhân thực hiện các hoạt động một mình, không có
sự chia sẻ với các cá nhân khác Đọc báo, xem truyện, tự học… thuộc cấp độ này Cấp độ thứ hai là cấp độ liên cá nhân Cá nhân hoạt động với sự tham gia của các cá nhân khác Tuy nhiên, phạm vi tham gia này chỉ dừng ở mức nhóm nhỏ Hoạt động đi chơi với bạn, thăm hỏi họ hàng, đến nhà bạn chơi… thuộc cấp
Trang 38độ này Cấp độ thứ 3 là cấp độ xã hội: cá nhân tham gia các hoạt động xã hội như: hội phụ nữ, hội cầu lông, các hoạt động tình nguyện…
2.2.4 Khái niệm giai cấp công nhân:
C Mac và Ph.Angghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản, giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ dựa vào việc bán sức lao động của mình, lao động làm thuê ở thế kỷ XIX, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại công nghiệp … như những cụm từ đồng nghĩa để biểu thị một khái niệm giai cấp công nhân - con đẻ của ngành đại công nghiệp Tư bản Chủ nghĩa, giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại
Dù khái niệm giai cấp công nhân có nhiều tên gọi khác nhau như thế nào
đi nữa thì theo C Mac - và Angghen vẫn chỉ mang hai thuộc tính cơ bản:
- Về phương thức lao động, phương thức sản xuất đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành những công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao
C.Mac và Angghen đã nêu: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển đại Công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân đại công nghiệp”
- Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà
tư bản bóc lột về giá trị thặng dư Tiêu chí thứ hai này nói lên một trong những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản nên C.Mac và Angghen còn gọi giai cấp công nhân là giai cấp vô sản
Trang 39Ngày nay, với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, bộ mặt của giai cấp công nhân tư bản hiện đại có nhiều thay đổi khác trước Cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân đã có những thay đổi to lớn: bên cạnh công nhân của nền công nghiệp cơ khí đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp tự động hóa, với việc
áp dụng phổ biến công nghệ thông tin vào sản xuất Song, dù cho trình độ kỹ thuật có thay đổi như thế nào đi nữa thì xét theo tiêu chí kinh tế - xã hội, giai cấp công nhân vẫn tồn tại như là một giai cấp đặc thù
Cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, giai cấp công nhân có xu hướng “tri thức hóa” ngày càng tăng và càng ngày càng tiếp thu đông đảo thêm những người thuộc tầng lớp trí thức vào hàng ngũ mình Nhưng trình độ trí thức không làm thay đổi bản chất của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa tư bản, với
tư cách là giai cấp làm thuê cho giai cấp tư sản trong hoạt động sản xuất công nghiệp Trước kia công nhân bán sức lao động chân tay là chủ yếu thì nay họ bán
cả sức lao động chân tay và trí óc Thậm chí một số bán sức lao động với kỹ thuật rất cao, giá trị ngày càng lớn và do đó càng bị bóc lột giá trị thặng dư theo chiều sâu
Do sự phát triển của sản xuất và văn minh, đời sống công nhân ở các nước
tư bản phát triển đã có những thay đổi quan trọng Phần đông họ không phải là những người vô sản trần trụi với hai bàn tay trắng Một số công nhân đã có một
số tư liệu sản xuất phụ có thể cùng gia đình làm thêm để làm các công đoạn phụ cho các xí nghiệp chính Một số công nhân có cổ phần ở xí nghiệp và tựa hồ như cũng là chủ xí nghiệp nhưng tất cả tình hình ấy không thể làm thay đổi một sự thật là toàn bộ tư liệu sản xuất cho nên phải bán sức lao động cho giai cấp tư sản
cả sức lao động trí óc và chân tay để kiếm sống, do đó vẫn bị bóc lột giá trị thặng
dư, dù cho những hình thức bóc lột giá trị thặng dư ngày nay tinh vi hơn
Trang 40Căn cứ hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể coi những người lao động trong các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp là công nhân Còn những người làm công ăn lương phục vụ trong các ngành khác như y tế, giáo dục, văn hóa (không liên quan trực tiếp đến sản xuất công nghiệp…) là những người lao động nói chung, đang được thu hút vào tổ chức công đoàn nghề nghiệp, nhưng không phải là công nhân
Sau khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền, không còn ở đơn vị giai cấp bị bóc lột nữa, mà nó đã trở thành giai cấp thống trị, giai cấp lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, đại biểu cho toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất
cơ bản đã được công hữu hóa Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân có đặc trưng chủ yếu nhất bằng tiêu chí thứ nhất Còn về tiêu chí thứ hai, nếu xét toàn bộ giai cấp, thì giai cấp công nhân đã là người làm chủ, nhưng trong điều kiện tồn tại nhiều thành phần kinh tế, thì còn có một bộ phận công nhân làm thuê trong các doanh nghiệp ngoài Quốc doanh Những người này về danh nghĩa tham gia làm chủ cùng toàn bộ giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nhưng xét về mặt cá nhân họ vẫn là những người làm công ăn lương và với những mức độ nhất định, họ vẫn bị những chủ sở hữu tư nhân bóc lột về giá trị thặng dư
Những quan điểm của C.Mac và Angghen về hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn là cơ sở phương pháp luận để chúng ta nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại Căn cứ hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa: giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội