Trong thời gian qua, Nhà trường đã từng bước phát huy những lợi thế của các nhà khoa học theo các mô hình làm việc theo nhóm, tăng cường tính liên ngành, liên thế hệ, hỗ trợ bổ sung kiến
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN VĂN KHAM
HỢP TÁC NGHIÊN CỨU TRONG CỘNG ĐỒNG KHOA HỌC HIỆN NAY
(QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQG HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI-2004
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN VĂN KHAM
HỢP TÁC NGHIÊN CỨU TRONG CỘNG ĐỒNG KHOA HỌC HIỆN NAY
(QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQG HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn An Lịch
HÀ NỘI-2004
Trang 3MỤC LỤC
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
1.1.1 Điểm luận những hướng nghiên cứu cơ bản trong lịch
sử xã hội học khoa học
10
1.1.2 Điểm luận những nghiên cứu về hợp tác nghiên cứu 11
1.1.3 Những công trình nghiên cứu về khoa học và hợp tác
nghiên cứu tại Việt Nam
13
1.2.2 Quan điểm xã hội học khoa học của R.Merton 16
1.2.3 Những quan điểm xã hội học trong giai đoạn chuyển từ
mô hình cũ sang mô hình mới
18
1.2.4 Lý luận về mạng lưới xã hội và lý thuyết trao đổi 19
Trang 4Chương 2: Hợp tác nghiên cứu trong cộng đồng khoá học (qua
nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội)
34
2.1 Một số nét khái quát về cộng đồng khoa học Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
34
2.2 Một số yếu tố thúc đẩy quá trình hợp tác nghiên cứu 46
2.4 Các hình thức giao tiếp trong hợp tác nghiên cứu 79
2.5 Lợi ích và chi phí đạt được trong quá trình hợp tác nghiên cứu 84
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Ngay sau khi thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định hoạt động khoa học là một trong những nội dung then chốt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những vấn đề cốt lõi trong việc xây dựng đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nghị quyết 37 của Đảng ngày 20/01/1981 được xem như là một điểm khởi đầu cho việc hoạch định chính sách khoa học và kỹ thuật nước nhà trong tình hình mới Quan điểm của Đảng được thể hiện trong Nghị quyết này
là: mọi hoạt động khoa học và kỹ thuật trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội phải hướng vào phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp công nghiệp hoá
xã hội chủ nghĩa, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm Trong những năm tiếp theo,
hoạt động khoa học và công nghệ nước nhà cũng có nhiều chuyển biến, có tác dụng hữu hiệu cho quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế nước nhà Sau
10 năm đổi mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 8 (ngày 24/12/1996) cũng xác định những chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm
2000 Đến Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Đảng và Nhà nước ta xác định tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII với phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ đến năm 2005 và đến năm 2010 theo tinh thần đổi mới quản lý, tổ chức
và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ… Đó là những vấn đề
cơ bản và cần thiết đối với sự phát triển xã hội
Phân công lao động và phối hợp các hoạt động là hai nội dung cơ bản của một tổ chức, nhóm xã hội Thực hiện được hai vấn đề này là điều kiện cần thiết để tổ chức, nhóm xã hội đó tồn tại và phát triển Cộng đồng khoa học cũng được xem như là một nhóm xã hội đặc thù, gồm những nhà khoa học tham gia vào các hoạt động khoa học và công nghệ Những cá nhân trong
Trang 6nhóm xã hội này có những đặc điểm chung về chức năng xã hội của họ, có liên quan đến vị thế, vai trò, địa vị xã hội… Nghiên cứu các khía cạnh của cộng đồng khoa học sẽ góp phần làm rõ các luận cứ khoa học quan trọng trong việc thực hiện tinh thần Nghị quyết TW2 khoá VIII Tuy nhiên, trong thời gian qua việc nghiên cứu những nội dung khác nhau của cộng đồng khoa học vẫn chưa thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu
Luật khoa học và công nghệ (2000) có xác định hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động xã hội hướng đến sản xuất, tạo dựng các tri thức khoa học, ứng dụng các tri thức khoa học, đáp ứng các nhu cầu phục vụ xã hội Theo UNESCO, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm tất cả các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ tới việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học và công nghệ, chẳng hạn các khoa học chính xác và khoa học tự nhiên, cơ khí và kỹ thuật học, y học, khoa học nông nghiệp cũng như các khoa học xã hội và nhân văn Đây là môi trường khoa học tạo dựng được nhiều hình thức tương tác lẫn nhau giữa các nhà khoa học
Để qua đó, các nhà khoa học thể hiện được mình, chứng tỏ được mình, tiếp thu được kinh nghiệm quý báu cho hoạt động chuyên môn của bản thân
Mối quan hệ giữa các thế hệ trong khoa học cũng như việc đào tạo lực lượng những nhà khoa học trẻ đang là vấn đề đáng lưu ý trong sự phát triển của cộng đồng khoa học (nghiên cứu và triển khai) Phối hợp, cộng tác nghiên cứu giữa các thành viên trong cộng đồng khoa học, giữa thành viên trong cộng đồng khoa học này với các thành viên cộng đồng khoa học khác là điều cần thiết, cần thúc đẩy Hành động xã hội đó là những yếu tố sơ khởi, tiềm tàng, tạo nên được những nhân tố mở rộng về số lượng và chất lượng của các nhà khoa học, của cả cộng đồng khoa học
Theo Nghị định 97/CP ngày 10/12/1993 của Thủ tướng Chính phủ, Đại học Quốc gia Hà Nội được hình thành dựa trên sự sắp xếp, điều chỉnh một số trường Đại học lớn ở Hà Nội Sứ mệnh của Đại học Quốc gia Hà Nội là phải
Trang 7trở thành một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội Nội dung hoạt động khoa học và công nghệ của Đại
học Quốc gia gồm 3 nội dung cơ bản: Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ Với tư cách là thành viên của
Đại học Quốc gia Hà Nội, với truyền thống gần nửa thế kỷ của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là nơi tập trung nhiều nhà khoa học với nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội
và nhân văn khác nhau, đã trở thành cộng đồng khoa học vững mạnh, đang dần đáp ứng những nhu cầu do thực tiễn xã hội đặt ra Trong 6 chương trình hoạt động định hướng phát triển Nhà trường theo hướng chuẩn hoá-hiện đại hoá đến năm 2010, việc đào tạo một lực lượng các nhà khoa học đủ chất lượng phục vụ nhu cầu thực tiễn xã hội, đòi hỏi có những hướng triển khai phù hợp Trong thời gian qua, Nhà trường đã từng bước phát huy những lợi thế của các nhà khoa học theo các mô hình làm việc theo nhóm, tăng cường tính liên ngành, liên thế hệ, hỗ trợ bổ sung kiến thức lẫn nhau, cùng tham gia thực hiện những nội dung hoạt động khoa học và công nghệ đã được các nhà khoa học tiến hành thực hiện… Những hoạt động đó đã làm cho diện mạo hoạt động khoa học và công nghệ của Nhà trường được đổi mới, hoà nhập cùng xu hướng phát triển nghiên cứu và đào tạo trong tình hình mới, dần đáp ứng được những nhu cầu của xã hội đặt ra
Từ những vấn đề trên, luận văn đi vào nghiên cứu vấn đề Hợp tác nghiên cứu trong cộng đồng khoa học hiện nay (qua nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội)
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
2.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Trên cơ sở học hỏi và kế thừa những hướng nghiên cứu và lý luận nghiên cứu đi trước, đề tài bước đầu vận dụng những lý luận về cộng đồng khoa học,
Trang 8hợp tác nghiên cứu, lý luận trao đổi… trong việc đánh giá, tiếp cận vấn đề nghiên cứu Đồng thời, thông qua việc vận dụng những phương pháp nghiên cứu mới về nghiên cứu lịch sử cuộc đời và đo lường xã hội (scientometrics), luận văn cũng nhằm định hình được những phương pháp nghiên cứu cụ thể, hữu hiệu đối với những hình thức nghiên cứu về mô hình hợp tác Mặt khác, luận văn cũng mong muốn tóm lược một số luận điểm mới của xã hội học khoa học đương đại phù hợp với đề tài nghiên cứu và những vấn đề hiện thực của xã hội Việt Nam
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Với những đánh giá, kết luận trong quá trình nghiên cứu, đề tài này sẽ
đề xuất một số giả định về mặt chính sách nhằm khuyến khích và đẩy mạnh hoạt động hợp tác nghiên cứu giữa các nhà khoa học (tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), góp phần vào sự nghiệp xây dựng Nhà trường theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá các mặt hoạt động, xây dựng Nhà trường, Đại học Quốc gia Hà Nội theo hướng Đại học
nghiên cứu ngang tầm với các trường đại học trong khu vực và trên thế giới
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tiến hành giải quyết những nhiệm vụ chính sau:
Nhiệm vụ thứ nhất: Xác định những cơ sở lý luận chính và hướng tiếp
cận chính cho vấn đề nghiên cứu
Trang 9Nhiệm vụ thứ hai: Mô tả và lý giải mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí
đạt được trong quá trình hợp tác giữa các nhà khoa học
Nhiệm vụ thứ ba: Xác định một số cách đo lường hoạt động hợp tác giữa
các nhà khoa học bằng việc ứng dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành
Nhiệm vụ thứ tư: Từ những đánh giá và kết luận ban đầu của vấn đề
nghiên cứu, luận văn sẽ gợi mở những giải pháp, chính sách hợp lý nhằm đưa hoạt động hợp tác nghiên cứu theo hướng xây dựng Nhà trường trở thành đại học nghiên cứu
4 Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: hoạt động hợp tác nghiên cứu của các nhà khoa học 4.2 Đối tượng nghiên cứu: Hợp tác nghiên cứu trong cộng đồng khoa học 4.3 Phạm vi nghiên cứu:
Do đây là vấn đề nghiên cứu khá phức tạp, đề tài nghiên cứu chỉ tập trung đến một số khía cạnh sau:
(i) Mô tả những khác biệt trong hoạt động hợp tác giữa những nhà khoa học trong cộng đồng khoa học (trường đại học); xác định được vị trí và vai trò của các nhà khoa học với nhiệm vụ chính là nhà sư phạm;
(ii) Lý giải những yếu tố tác động tạo nên sự khác biệt trong hoạt động hợp tác nghiên cứu giữa các nhà khoa học
5 Đối tƣợng khảo sát và phạm vi khảo sát:
5.1 Đối tượng khảo sát:
Đối tượng khảo sát của đề tài là những nhà khoa học đang làm việc tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
5.2 Phạm vi khảo sát:
Trang 10Do những hạn chế về điều kiện vật chất, khoa học, đề tài chỉ dừng lại nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Việc khảo sát được tiến hành từ tháng 3.2004 đến 9.2004
Những hoạt động hợp tác của các nhà khoa học được đề cập từ năm
2000 đến năm 2004
5.3 Mô tả mẫu nghiên cứu
Khảo sát 110 nhà khoa học bằng bảng hỏi với cơ cấu mẫu như sau:
- Về kết quả nghiên cứu trong 5 năm qua:
+ Dưới 5 công trình nghiên cứu: 72.2%
+ Từ 5 đến 10 công trình nghiên cứu: 18.2%
+ Trên 10 công trình nghiên cứu: 9.1%
Số công trình nghiên cứu trung bình trong mẫu nghiên cứu của các nhà khoa học trong 5 năm qua là 4 công trình
Trang 116 Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Khung lý thuyết
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
6.2.1 Giả thuyết 1: Hợp tác nghiên cứu là một mô hình hành động
được nhiều nhà khoa học quan tâm, thực hiện Hoạt động hợp tác được chủ yếu thực hiện qua các hoạt động đồng tác giả bài viết, đồng hướng dẫn luận
văn/luận án; đồng chủ trì đề tài… sự kết hợp giữa nhà khoa học già và trẻ có
xu hướng nổi bật hơn mô hình già-già, trẻ-trẻ
6.2.2 Giả thuyết hai: Lợi ích thu được từ hành động hợp tác nghiên
cứu được thể hiện đáng chú ý là sự chia sẻ - trao truyền: tri thức, kỹ năng, phương pháp; tạo nên những hình thức tranh luận, phê phán các quan điểm khoa học
SỨ MỆNH, VỊ THẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
Những hình thức giao tiếp
Lợi ích-chi phí thông qua hợp tác
TÍNH CỐ KẾT CỦA CỘNG ĐỒNG KHOA HỌC
Trang 126.2.3 Giả thuyết ba: Chi phí từ hành động hợp tác sẽ thể hiện rõ nét ở
khía cạnh kinh tế, thời gian, sự phức tạp trong quản lý
6.2.4 Giả thuyết 4: Hợp tác nghiên cứu trong cộng đồng khoa học tạo
thành chất cố kết cộng đồng khoa học
7 Bố cục và nội dung của luận văn:
Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Đối tượng khảo sát và phạm vi khảo sát
6 Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
7 Bố cục và nội dung của luận văn
Phần nội dung nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
1.1 Lược sử vấn đề nghiên cứu
1.2 Những nguyên tắc phương pháp luận
1.3 Những khái niệm cơ bản
1.3.1 Khái niệm cộng đồng khoa học
1.3.2 Khái niệm hợp tác nghiên cứu
1.4 Những luận điểm xã hội học về hoạt động hợp tác
1.5 Các phương pháp thu thập thông tin
Chương 2: Hợp tác nghiên cứu trong cộng đồng khoa học
2.1 Khái quát về trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
2.2 Những yếu tố thúc đẩy quá trình hợp tác
2.3 Một số hình thức của hợp tác nghiên cứu
2.4 Các mô hình giao tiếp trong hoạt động hợp tác nghiên cứu
Trang 132.5 Lợi ích và chi phí của hoạt động hợp tác nghiên cứu
Phần kết luận và đề xuất giải pháp
1 Kết luận
2 Đề xuất giải pháp
Tài liệu tham khảo và Phần phụ lục
Trang 14NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Lược sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Điểm luận những hướng nghiên cứu cơ bản trong lịch sử xã hội học khoa học:
Nguồn gốc chính của xã hội học khoa học được các nhà khoa học xã hội tạo dựng từ những năm 1850 đến 1920 K.Marx được xem như là một trong những thuyết gia đầu tiên đưa ra thuật ngữ khoa học là một sự kiện xã hội Hoạt động khoa học này vẫn được xem là một hành động xã hội ngay khi được một cá nhân đơn lẻ thực hiện, bởi lẽ hành động đó là vì con người Vào thời kỳ đó, E Durkheim cũng đưa ra những quan niệm mang tính lô gíc của hoạt động khoa học, đó là việc có sự hiện diện và sáng tạo của tập thể M.Weber cũng tập trung đến mối quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản, đạo tin lành
và khoa học hiện đại Trong bài viết của mình với tiêu đề “khoa học với tư cách nghề nghiệp” (science as vocation), Weber cũng đánh giá những biến
đổi mạnh trong đời sống học thuật ở Đức đầu thế kỷ 20 Những hình thức nghiên cứu khác của Fredrich Nietzsche, Peter Kropotkin, Michael Bakunin, Oswald Spengler vào những năm 1920 cũng giúp chúng ta nhận thức thêm về bản chất xã hội của khoa học [K.Marx, 1844; 104]
Lịch sử xã hội học đôi khi được nhìn nhận như là có sự tranh luận mạnh mẽ giữa Marx và Weber Cuộc tranh luận này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển xã hội học khoa học Nhưng những quan điểm của Weber có nhiều ảnh hưởng hơn đối với sự phát triển ban đầu của xã hội học khoa học, một chuyên ngành nghiên cứu mới của xã hội học R.Merton, được xem như là cha đẻ của xã hội học khoa học, ông bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu vào những năm 1930, qua việc tập trung nhiều đến mối quan hệ giữa khoa học và những hoạt động xã hội khác, cũng như về các thiết chế xã hội Vào những năm 1930, xã hội học tri thức cũng có nhiều bước phát
Trang 15triển, với những đóng góp quan trọng của các học giả Mác xít khi nghiên cứu
về khoa học và xã hội, đó là Boris Hessen và E.Colman Các nhà khoa học cấp tiến như J.D.Bernal cũng đi vào phê phán những bất bình đẳng xã hội về khoa học và xã hội và đưa ra các chương trình hành động nhằm xã hội hoá hoạt động khoa học
Giữa những năm 1940-1970, với những nghiên cứu của R.Merton và đồng nghiệp đã trở thành trào lưu chính trong xã hội học khoa học Quan điểm xã hội học khoa học của R.Merton xuất hiện khi có những hình thức khủng hoảng trong nhận thức chính trị và xã hội trong thời gian đó Xã hội học khoa học của ông nhanh chóng trở thành bộ công cụ hữu ích và hướng đến bảo vệ, thúc đẩy khoa học và nền văn hoá phương Tây Xã hội học khoa học chức năng được hình thành qua việc phục hồi lại những nghiên cứu của E.Durkheim về sự phân loại và cấu trúc xã hội, đó là những nghiên cứu của Spengler về các con số và nền văn hoá, đánh giá của Ludwig Wittgenstein về nhân học triết học, về khoa học và toán học; các nhà xã hội học khoa học mới cũng bạo dạn khám phá những khía cạnh xã hội, văn hóa và lịch sử về tri thức khoa học Rõ ràng là vào những năm 1970, đã có những xu hướng phát triển mạnh làm tách biệt mô hình xã hội học khoa học mới và cũ Nhưng nhìn chung, cho dù các nhà xã hội học khoa học mới hay cũ đều vẫn bao hàm trong
nó những quan điểm về giai cấp, quyền lực, hệ tư tưởng và sự hợp tác, liên kết
1.1.2 Điểm luận những nghiên cứu về hợp tác nghiên cứu:
Nhiều tác giả và hợp tác: Trong nhiều thập kỷ qua, những ấn phẩm có
nhiều tác giả thường đề cập đến những ấn phẩm đồng tác giả, dấu hiệu này được xem là đơn vị đánh giá cơ bản nhằm đo các hoạt động hợp tác trong hoạt động khoa học Smith là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên xem xét sự gia tăng về tỷ lệ các bài viết có nhiều tác giả và cho rằng những bài viết
đó được xem là phép đo tương đối về sự kết hợp giữa những nhóm các nhà nghiên cứu với nhau Ông cho rằng có một số hình thức tổng lược về các loại
Trang 16hình quan hệ và các hoạt động của cá nhân liên quan đến ấn phẩm đều có khả năng tạo nên những biến số biểu hiện về sự nỗ lực nhóm, cách làm việc theo nhóm, dự báo được sự phát triển về những kết quả nghiên cứu sau này
Subramanyan [Katz, 1997; 13] cũng đi vào nghiên cứu vấn đề tương tự như vậy Theo ông, một nhà khoa học cần thừa nhận một luận điểm toàn diện khi đánh giá sự hợp tác theo những lý do sau: Bản chất và cường độ của sự hợp tác không thể dễ dàng xác định thông qua các phương pháp về quan sát, phỏng vấn hay theo bản an két bởi vì bản chất phức tạp của các tương tác xã hội có thể biểu hiện ở một số nội dung ngầm định, xác định được vị trí quan trọng giữa những người hợp tác trong một khoảng thời gian nhất định Xét về bản chất và cường độ, sự đóng góp của từng cá nhân các nhà khoa học hợp tác với nhau đều hướng đến nhằm thay đổi quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Một số khía cạnh ổn định về hợp tác nghiên cứu cũng có thể được định lượng trong khi một số yếu tố khác thì lại không Thậm chí những đánh giá định tính về sự phối hợp, hợp tác cũng rất khó bởi vì mối quan hệ không xác định giữa các hoạt động đó có thể định lượng, còn những đóng góp của quá trình hợp tác đó thì có lẽ không thể nhìn nhận được
Subramanyan cho rằng một đánh giá tốt được một nhà khoa học tạo ra trong quá trình tranh luận có thể có giá trị hơn trong việc hình thành những luận điểm khoa học hoặc là kết quả của một đề tài nghiên cứu hơn là việc các nhà khoa học hợp tác mất hàng tuần hoạt động trong phòng thí nghiệm, trên nghiên cứu thực địa Mặc dù có những giới hạn trong việc đánh giá về đồng tác giả, nhưng đã có nhiều nghiên cứu áp dụng kỹ năng này để điều tra về sự phối hợp, hợp tác nghiên cứu, coi đó là hình thức, công cụ phù hợp của quá trình nghiên cứu
De Solla Price đã có nghiên cứu đến các bài viết đồng tác giả, coi hình
thức đồng tác giả như là cách đo những thay đổi trong hợp tác Ông có đưa ra những bằng chứng nhằm hỗ trợ thêm những quan sát của Smith, quyền tác giả đang ngày càng gia tăng, đó chính là xu hướng được nhiều cuộc điều tra
Trang 17khẳng định Mặc dù vậy, những nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng tỷ lệ gia tăng các bài viết nhiều tác giả rất đa dạng với các lĩnh vực Trong một số lĩnh vực
có sự gia tăng đáng kể, một số lĩnh vực khác lại chưa biểu hiện được sự gia tăng như vậy W.Hagstrom cho thấy có những dấu hiệu mà một số ấn phẩm
đã thực hiện liệt kê danh mục các tác giả Gần đây, điều tra về một số ví dụ về hoạt động khoa học cũng thấy được các hoạt động mà các đồng nghiệp đại học cùng tạo ra dựa trên đồng tác giả cũng trở nên ngày càng phổ biến
Mặc dù đánh giá về sự hợp tác có sử dụng ý nghĩa đồng tác giả chưa thật sự hoàn hảo lắm nhưng nó cũng tạo nên được nhiều khía cạnh thuận lợi
sau: Thứ nhất, nó không thay đổi nhiều về cách thức, phương pháp đo lường
và có thể xác định được Qua đó, những nhà nghiên cứu khác cũng có thể khai
thác tái tạo lại những kết quả đó Thứ hai, đó là một phương pháp không phải chi phí lớn lắm và là phương pháp thực tế để lượng giá được sự hợp tác Cuối Thứ ba, có một số đánh giá cho rằng những nghiên cứu bằng phương pháp đo
ấn phẩm lại không thực hiện được dễ dàng Những kết quả có được từ điều tra
số ấn phẩm có lẽ có ảnh hưởng đến các hoạt động hợp tác trong thời gian dài
1.1.3 Những công trình nghiên cứu về khoa học và hợp tác nghiên cứu khoa học tại Việt Nam
Trong thời gian qua, các hướng nghiên cứu về cộng đồng khoa họbaowr Việt Nam chưa được các nhà xã hội học và các nhà khoa học ở các lĩnh vực khác quan tâm nhiều Theo những đánh giá ban đầu của nhiều nhà khoa học, vấn đề hợp tác-gắn kết trong hoạt động nghiên cứu được nhìn nhận theo một số hướng cụ thể sau: (a) Nghiên cứu về các nhà tri thức Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử (Phạm Tất Dong, Trí thức Việt Nam-thực tiễn và triển vọng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995; TS Nguyễn Thanh Tuấn, Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998;
…), (b) hướng nghiên cứu về việc tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học (Trần Chí Đức, Đề tài V03, Một số khía cạnh tâm lý học và xã hội học trong
tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Viện quản lý
Trang 18khoa học, Hà Nội 5/1994; …); (c) vấn đề di động trong cộng đồng khoa học
và nhân lực khoa học và công nghệ (Trần Xuân Định, Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, Hà Nội-1997; Trần Chí Đức, Nhân lực cho nghiên cứu và đào tạo sau đại học ở Việt Nam, Báo cáo Hội thảo khoa học Nghiên cứu và đào tạo sau đại học ở Việt Nam, Hà Nội, 28-29 tháng 4 năm 2000; Nguyễn Thị Anh Thu, Đổi mới chính sách sử dụng nhân lực khoa học
và công nghệ trong cơ quan nghiên cứu và phát triển, NXB khoa học xã hội, 2000;…); (d) hướng nghiên cứu liên kết nghiên cứu đào tạo giữa các viện nghiên cứu; giữa trường đại học và các cơ sở sản xuất (Nguyễn Việt Hoà, Luận văn thạc
sỹ Xã hội học: Liên kết cộng đồng khoa học dưới tác động của hệ thống đổi mới quốc gia đang chuyển đổi (qua nghiên cứu Viện Cơ học), Viện Xã hội học năm 2003…)
Hướng nghiên cứu về hợp tác giữa các nhà khoa học trong hoạt động nghiên cứu (nhiệm vụ chủ đạo của các nhà khoa học) chưa được nhiều công trình nghiên cứu đặt thành chủ đề chính để nghiên cứu Có một số nghiên cứu cũng đề cập nhưng chưa tìm được những vấn đề thực chất của quá trình hợp tác Chúng tôi hy vọng, hướng nghiên cứu của luận văn sẽ phần nào gợi mở, định hướng thêm những cách tiếp cận mới trong nghiên cứu về quan hệ xã hội của một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù- hợp tác nghiên cứu giữa các nhà khoa học trong cộng đồng khoa học
1.2 Những luận điểm lý thuyết
1.2.1 Chủ nghĩa Mác Lênin: Cơ sở phương pháp luận của vấn đề nghiên cứu về hợp tác nghiên cứu giữa các nhà khoa học
Chủ nghĩa Mác Lê nin được xem là khoa học về những quy luật phát triển của
tự nhiên và xã hội; là thành tựu khoa học cao nhất của xã hội loài người “Chủ nghĩa Mác Lênin đã vạch ra được các đặc điểm của quy luật xã hội, vạch ra phép biện chứng của tự do với tính cách là cái tất yếu được nhận thức, đã xác định đúng đắn vai trò của con người trong đời sống và phát triển của xã hội” [Maccô, 1978; 13] Chủ nghĩa Mác Lênin có vai trò quan trọng về mặt
Trang 19phương pháp luận đối với các ngành khoa học xã hội Đối với ngành xã hội học khoa học, việc áp dụng những nguyên lý, quan điểm, phương pháp luận khác nhau của chủ nghĩa Mác Lênin là điều hiển nhiên, nhằm tiếp tục đi sâu vào các vấn đề của cộng đồng khoa học, sự biến đổi về cấu trúc-chức năng trong cộng đồng khoa học Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở để giải quyết sâu sắc nhất về mặt lý luận, phương pháp luận, những vấn đề mấu chốt của cộng đồng khoa học, cụ thể là những mô hình hành vi-tương tác trong chính cộng đồng khoa học đó Theo cách hiểu
đó, lý luận chung về cộng đồng khoa học, như đã được đề cập cần được tiếp tục làm rõ thông qua quá trình vận hành của các bộ phận cấu thành cộng đồng khoa học đó, cũng như những quy luật-chức năng xã hội khác cần thiết để cộng đồng khoa học đó tồn tại và phát triển
Khoa học, theo chủ nghĩa Mác Lênin, được xem như là hoạt động xã hội, có mục đích tạo ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy Hoạt động khoa học, nghiên cứu khoa học được xem như là kết quả tất yếu của phân công lao động xã hội Nó xuất hiện tiếp theo của quá trình tách lao động trí óc khỏi lao động chân tay; khoa học đã trở thành lực lượng chủ chốt của quá trình sản xuất vật chất Ý nghĩa và vai trò của khoa học còn được thể hiện sức mạnh của nó nếu được thể hiện ra qua các mối quan hệ xã hội, qua các mô hình tương tác, đi vào giải quyết-cải tạo những vấn đề cơ bản của xã hội Lý luận về cách mạng khoa học kỹ thuật cũng được nhiều nhà mác xít đề ra Các quan điểm khác nhau đó đều nhìn nhận được các khía cạnh khác nhau về bản chất của cuộc cách mạng khoa học trong mối liên hệ và quan hệ với những hiện tượng xã hội khác
Một trong những lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác đó là nguyên lý tính hệ thống Mặc dù cả Mác và Ăng ghel không để lại những công trình nghiên cứu riêng về hệ thống dưới dạng một phương pháp luận hoàn chỉnh, mà qua việc nghiên cứu xã hội là một chỉnh thể để nhìn nhận rõ sự phát triển xã hội, sự phát triển các mặt khác nhau của hệ thống xã hội đó Mác cũng đã tiến hành nghiên cứu bản thân tính hệ thống trên một số khía cạnh Đó là, ông coi xã
Trang 20hội là một loại hệ thống hữu cơ xác định, nó phát triển theo những quy luật của một hình thái kinh tế xã hội nhất định Qua ý nghĩa này, hình thái kinh tế
xã hội là một kiểu cơ chế xã hội có ý nghĩa lịch sử, còn các cơ chế xã hội khác của hoạt động và cải tạo các hình thái được coi như là việc phát hiện ra tính hệ thống Đồng thời, Mác cũng xem xét “tính hệ thống thể hiện qua việc nghiên cứu các hiện tượng xã hội, thông qua việc các hiện tượng đó về cơ sở của một hệ thống nhất định và giải thích chúng trong khuôn khổ những quy luật của hệ thống đó, thông qua việc nghiên cứu chúng qua lăng kính cấu trúc chung của hình thái xã hội”[Cu dơ min, 1986; 23]
Qua một số khía cạnh cụ thể của Mác về lý luận hệ thống, cũng cho phép tác giả có cách nhìn toàn diện về cộng đồng khoa học Chúng tôi xác định cộng đồng khoa học là một hệ thống cũng như là một tiểu hệ thống trong hệ thống rộng lớn hơn Các quá trình xã hội trong hệ thống cộng đồng khoa học đó được vận hành nhằm duy trì và phát triển hệ thống đó Sự vận hành đó không chỉ đảm bảo sự tồn tại-phát triển của các yếu tố cấu thành trong hệ thống đó
mà còn góp phần tạo sự ổn định và phát triển của bộ phận hệ thống lớn hơn
1.2.2 Quan điểm xã hội học khoa học của R.K.Merton:
Chúng tôi có áp dụng quan điểm của R.K.Merton về các chuẩn mực
trong hoạt động khoa học (gồm các chuẩn mực: Tính phổ biến, tính cộng đồng, tính không thiên vị, tính nghi ngờ có tổ chức và tính căn nguyên (bổ sung năm 1957) và khiêm tốn (bổ sung năm 1963) Việc đánh giá sự hợp tác
nghiên cứu của các nhà khoa học theo các chuẩn mực của Merton nhằm đưa các hoạt động hợp tác nghiên cứu của các thành viên trong cộng đồng vào
trong kiểm soát xã hội (kiểm soát bằng phần thưởng, kiểm soát bằng sự thừa
nhận chuyên môn)
Từ những năm 1930 đến những năm 1970, Merton được xem như là nhân vật quan trọng trong xã hội học khoa học Nội dung chính trong dạng thức nghiên cứu của Merton theo cách nói của Norman Storer chính là có sự xác định mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc chuẩn mực về khoa học với
Trang 21những hệ thống phần thưởng khoa học Những công trình nghiên cứu của ông
đã phản ảnh được mối quan tâm đến cách đánh giá về các nội dung còn tiềm
ẩn dưới hệ thống xã hội về khoa học [R.K.Merton, 1973:281] R.K.Merton cũng đã đưa ra cách phân chia chung nhất khi đề cập nhà xã hội học khoa học nào là Mác xít hay phi Mác xít, qua đó cả các nhà xã hội học xung đột hay chức năng đều rất quan tâm đến nội dung này Ông đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phá vỡ hoặc khả năng đàn hồi mang tính chức năng cao của khoa học, những nhân tố xã hội có trong sự hình thành và phát triển của khoa học hiện đại, những bối cảnh về văn hoá xã hội, qua đó giúp đẩy mạnh các hoạt động khoa học và những mối quan hệ về tuổi tác, cấu trúc tuổi tác của các nhà khoa học, cấu trúc nhận thức và sự phát triển khoa học Một trong những giả định quan trọng trong mô hình xã hội học khoa học của
R.K.Merton đó là: Thứ nhất, xem xét khoa học là một thiết chế xã hội, nó có ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng từ những thiết chế xã hội khác Thứ hai, có
những dấu hiệu cho xã hội học khoa học: những yếu tố xã hội và những yếu
tố nội tại xác định được bản chất và sự phát triển của khoa học Dựa trên những bài viết với nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp về lịch sử khoa học,
R.K.Merton cho rằng có bốn giá trị cơ bản của khoa học đó là: tính chung nhất, tính cộng đồng, không thiên vị và nghi ngờ có tổ chức Những giả thuyết của Merton bao gồm những việc phát hiện ra các hội chứng (sự hứng thú về
những khám phá và có những câu hỏi về sự thừa nhận là hai khía cạnh cơ bản
của mọi vấn đề nghiên cứu), hiệu ứng Matthew (hình thức gia tăng rất lớn về
sự thừa nhận những đóng góp khoa học của các nhà khoa học với việc thiết lập uy tín, sự thừa nhận mang tính tiềm tàng ở các nhà khoa học có ít danh
tiếng) [R.K.Merton, 1968:56-63], hiệu ứng Ratchet (một khi nhà khoa học
nhận được một địa vị nào đó, họ cố gắng duy trì cấp độ đó mặc dù họ có bị
giảm uy tín so với những người mới), và nguyên tắc thừa nhận quá khứ (các
nhà khoa học xác định với việc đồng tác giả, đặc biệt là những nhà khoa học mới, thậm chí họ còn thừa nhận những gì họ cống hiến nếu những nghiên cứu của mình được chú ý đến) Ông cũng đưa quan điểm về những phát hiện khoa
Trang 22học đã ngày càng tăng theo cấp số nhân, ít nhất là dưới góc độ nguyên lý (một
ý tưởng được đưa ra trong các bài viết của nhiều nhà quan sát khoa học trước đó) Và ông cũng hình thành được các giả thuyết và nghiên cứu về tính vô danh, về sự phác thảo và những rủi ro tiềm ẩn có từ Hiệu ứng Matthew và hệ thống phần thưởng trong khoa học đối với quá trình nghiên cứu
1.2.3 Những quan điểm của xã hội học khoa học trong quá trình chuyển đổi từ mô hình cũ sang mô hình mới
“Xã hội học khoa học là một phân ngành xã hội học với những nghiên cứu về các quá trình xã hội trong việc tạo dựng những tri thức khoa học, cũng như việc áp dụng tri thức khoa học này” [David Jary…, 1991; 479] Với nhiều công trình nghiên cứu về xã hội học khoa học, nhiều học giả đã phân định được mô hình cũ và mới trong lịch sử của ngành học này qua mốc thời gian là những năm 1960
Giai đoạn phát triển mạnh của xã hội học khoa học là vào những năm
1960 với những đóng góp quan trọng của Derek Price và Thomas Kuhn Họ là những nhân vật tạo cầu nối giữa xã hội học khoa học cũ và mới [Collins và Restovia, 1983; 53-83] Price và Kuhn đều được đào tạo là những nhà khoa học vật lý, nhưng toàn bộ sự nghiệp của hai ông lại gắn với lịch sử khoa học
Tác phẩm Khoa học từ thời kỳ Babylon (1963) của Price đã tạo nên những
định hướng về mặt định lượng trong phong trào “khoa học về khoa học” Ông
đã chỉ ra được có những mô hình khác biệt trong các nghiên cứu về khoa học
và công nghệ, góp phần tạo những cấu trúc ấn phẩm đối với những mạng lưới
hệ thống xã hội được gọi là “các trường đại học vô hình”(theo cách gọi của
Robert Boyle) Phân tích của Price về các mô hình trích dẫn (Citation) đã tiên
đoán được sự xuất hiện ngành phân tích trích dẫn Một tác giả khác là Diana Crane cũng xác định nhóm những nhà khoa học vô hình ở các chuyên ngành
Trang 23khoa học khác nhau Joseph Ben-David và Randa Collins đã sử dụng phương
pháp liên quan (mối quan hệ giảng viên và học viên) để phân tích các điều
kiện xã hội ẩn dấu dưới sự phát triển của tâm lý học thực nghiệm Nicholas Mullins đã tiến hành nghiên cứu cấu trúc mạng lưới dưới sự tiến hoá của sinh học về phân tử những năm 1950 Quan niệm về cách mạng khoa học cũng được Thomas Kuhn và nhiều học giả khác đưa ra năm 1960 Kuhn được xem
là người có ảnh hưởng nhiều đến xu hướng xã hội học khoa học mới Trong
số những tác động đến trào lưu nghiên cứu mới về xã hội học khoa học những năm 1970, thì Thomas Kuhn đã có nhiều ảnh hưởng nhất Cùng với những công trình nghiên cứu của Price và Kuhn, những đóng góp của Joseph Ben-David và Warren Hagstrom cũng là những nhân tố quan trọng trong sự phát triển xã hội học khoa học Ben David cũng bắt đầu bằng nghiên cứu so sánh lịch sử khoa học như là một thiết chế xã hội trong trào lưu xã hội học khoa học
Trong tác phẩm “Cộng đồng khoa học” (1965), Hagstrom có sử dụng
nhiều phương pháp khác nhau, đặc biệt là những cuộc phỏng vấn sâu nhằm đưa ra cách mô tả và lý thuyết về hành vi của các nhà khoa học theo các lĩnh vực khác nhau
Một số lượng các nhà nghiên cứu sau này cũng có nhiều ảnh hưởng qua nghiên cứu của Hagstrom Đó là Lowell Hargens đã có phân tích về những khác biệt tổ chức giữa các chuyên ngành khoa học Jerry Gaston nghiên cứu
về sự cạnh tranh và sự thừa nhận giữa các thuyết gia và những nhà thực nghiệm trong cộng đồng khoa học Mô hình lý luận của Hagstrom cũng được xuất phát từ phân tích về mạng lưới trao đổi phần thưởng của Marcel Mauss trong các xã hội sơ đẳng Mauss có gắn với những truyền thống cổ điển về xã hội được Durkheim thiết lập
1.2.4 Lý luận về mạng lưới xã hội và lý thuyết trao đổi:
Lý thuyết trao đổi của Blau và Homans nhấn mạnh đến yếu tố quyền lực trong quá trình trao đổi Sự bất bình đẳng về các nguồn lực, các cơ hội,
Trang 24các điều kiện sống tạo nên những khả năng khác biệt về quyền lực trong quá trình trao đổi xã hội Theo đánh giá của nhiều học giả, tiếp cận của Blau đã hội đủ những tư tưởng trong lý luận biện chứng của K.Marx và Dahrendorf
Lý thuyết trao đổi thường hướng đến phân tích các cấu trúc xã hội thường ẩn chứa những dấu hiệu về xung đột xã hội Phân tích về mạng lưới xã hội trong thời gian qua cũng hướng đến thao tác hoá các quan niệm về cấu trúc xã hội Với mỗi chủ thể trong quá trình tương tác đều được xem là những điểm mấu
chốt cho các dòng chảy của các sự kiện tạo nên chủ thể đó Richard Emerson
là người đã dung hoà, hoà trộn những quan điểm của lý luận trao đổi và lý luận mạng lưới tạo thành một quan điểm mới lý luận mạng lưới trao đổi:
R.Emerson với điểm khởi đầu là tâm lý học hành vi, ông đã rút ra được những nguyên tắc cơ bản của tâm lý học hành động cho việc phân tích các phức hợp xã hội Thông qua những hình thức triển khai hệ luận, Emerson đã
mở rộng các giả thuyết, làm cho các giả thuyết ngày càng phù hợp với các vấn
đề nghiên cứu đồng thời cũng tạo nên những định đề để đánh giá các mô hình
xã hội khác nhau, ở những thời điểm khác nhau Emerson đã xác định những
yếu tố trong quá trình tương tác, trao đổi, gồm có: Chủ thể hành động, sự ủng
hộ, hành vi, trao đổi, giá trị, phần thưởng, những hình thức lựa chọn, chi phí, quan hệ trao đổi, sự phụ thuộc, quyền lực và các nguồn lực Qua vấn đề này, quan điểm của Emerson có thể được nhìn nhận qua những khía cạnh sau: Thứ nhất, Emerson phân tích những mối quan hệ trao đổi giữa các chủ thể; Thứ hai, những yếu tố này được ông phân tích trong tính liên kết với nhau,
đây là những yếu tố mang tính định sẵn của quá trình trao đổi để hiểu được
quan điểm hành vi xã hội được bố trí là yếu tố tạo nên cấu trúc xã hội; Thứ
ba, những yếu tố sự phụ thuộc, quyền lực, cân bằng trong trao đổi đã trở thành những vấn đề trung tâm của thuyết mạng lưới trao đổi; Thứ tư, chủ thể
của hành động trao đổi là cá nhân đơn lẻ cũng như là một tập thể Sự khác biệt giữa Emerson và Homans khi nói về những yếu tố của quá trình trao đổi
Trang 25chính là việc Emeson đã hướng nhiều đến việc nghiên cứu về nhận thức giá trị của chủ thể trao đổi và cấu trúc xã hội của quá trình trao đổi
Những giả định trao đổi cơ bản của Emerson nhƣ sau:
Giả định 1: Càng có nhiều hình thức thể hiện hành vi của chủ thể A
trong một tình huống và càng có nhiều những hình thức khác biệt trong hành
vi đó thì càng có nhiều cách để A thể hiện những hành vi của mình nhằm đạt được những phần thưởng lớn:
+ Hệ luận 1.1: Những phần thưởng càng giảm đối với A trong mối quan
hệ trao đổi, càng có nhiều những hình thức khác biệt trong hành vi của A
+ Hệ luận 1.2: Càng có nhiều phần thưởng trong mối quan hệ trao đổi
hướng đến sự ủng hộ bằng không thì càng có ít những hoạt động khởi đầu của A
+ Hệ luận 1.3: Càng có nhiều lợi thế về quyền lực của A đối với B
trong mối quan hệ trao đổi, càng có nhiều cách thức để A sử dụng lợi thế đó thông qua những hình thức trao đổi liên tục
+ Hệ luận 1.4: Càng có nhiều quyền lực được cân đối theo mối quan hệ
trao đổi giữa A và B thì càng có nhiều cách để A làm tăng cách sử dụng quyền lực, B sẽ càng có nhiều cách để tăng việc sử dụng quyền lực đó
Giả định 2: Các phần thưởng được chủ thể A thừa nhận thường xuyên
và có giá trị hơn thông qua một tình huống về hành vi cụ thể, thì lại càng có ít khả năng chủ thể A thể hiện được những hành vi tương tự tức thì
+ Hệ luận 2.1: Càng có nhiều phần thưởng mà A nhận được về một
hình thức nào đó, càng có ít những hoạt động của A để dành được phần thưởng từ hình thức như thế này
Giả định 3: Chủ thể A thể hiện được càng nhiều hành vi về một hình
thức phần thưởng cụ thể nào đó thì càng có nhiều số lượng về phần thưởng và sức mạnh của hình thức này thì càng có nhiều cách để A thể hiện được hành
vi của mình theo một số hình thức trong chính tình huống như vậy
Trang 26+ Hệ luận 3.1: Càng có nhiều sự lựa chọn đối với A về một hình thức
phần thưởng cụ thể, càng có ít sự phụ thuộc của A đối với tình huống đó
+ Hệ luận 3.2: Một tình huống càng tạo ra nhiều nguồn lực, càng có
nhiều sự phụ thuộc của A vào tình huống đó
+ Hệ luận 3.3: Hình thức phần thưởng mà A nhận được trong một tình
huống xác định càng lớn bao nhiêu thì sự phụ thuộc của A đối với tình huống
đó cũng lớn bấy nhiêu
+ Hệ luận 3.4: Càng có nhiều sự bất định của A khi nhận được phần
thưởng trong một tình huống nào đó, càng ít có những tình huống để nhận được giải thưởng, càng có nhiều sự phụ thuộc của A vào tình huống đó
+ Hệ luận 3.5: Giá trị phần thưởng dành cho A trong mối quan hệ trao
đổi A, B càng ít bao nhiêu, sự lựa chọn các nguồn lực cho phần thưởng đối của A càng nhiều bao nhiêu thì càng ít có sự gắn kết trong mối quan hệ trao đổi giữa A và B, ngược lại giá trị phần thưởng dành cho A đó càng lớn bao nhiêu, ít có những nguồn lựa chọn về phần thưởng đó thì càng có sự gắn kết chặt chẽ trong mối quan hệ trao đổi giữa A và B
+ Hệ luận 3.6: Càng có nhiều mối quan hệ giữa A và B ở một thời
điểm nào đó được chuyển thành mối quan hệ A-B-C thì càng có nhiều sự phụ thuộc của B đối với A và càng ít sự lựa chọn của B trong mối quan hệ A, B, tiếp đó sự phụ thuộc của đối với A sẽ lớn hơn sự phụ thuộc của A đối với C
Giả định 4: Càng có nhiều những vấn đề bất định của chủ thể A trong
việc nhận được một phần thưởng xác định trong những mối quan hệ trao đổi, phần thưởng đó dành cho A càng có nhiều giá trị
+ Hệ luận 4.1: Trong một hệ thống các mối quan hệ trao đổi, càng có
nhiều hình thức duy trì của sự trao đổi ngăn ngừa những hình thức trao đổi khác trong hệ thống này, càng có nhiều chi phí của sự trao đổi này nhưng lại
ít có những chi phí thông qua sự trao đổi liên tục đó
Từ những giả định và hệ luận trên, Emerson đã đi đến đánh giá những
định đề cơ bản trong lý luận về mạng lưới trao đổi sau:
Trang 27Định đề 1: Giá trị của phần thưởng với A càng lớn trong một tình
huống thì càng có nhiều hoạt động khởi đầu mà A hiện lên các mô hình theo hình cong, với những sự khởi đầu ngày càng tăng qua những hình thức trao đổi và sau đó lại giảm theo thời gian (từ hệ luận 1.2 và 2.1)
Định đề 2: Càng có nhiều sự phụ thuộc của A về hệ thống các mối quan hệ
trao đổi, thì A lại càng giống với việc bắt đầu với các hành vi theo các hình thức về các mối quan hệ này (từ giả định 1 và 3)
Định đề 3: Càng có nhiều những vấn đề không xác định về A tăng
trong mối quan hệ trao đổi, càng có nhiều sự suy giảm vấn đề phụ thuộc của
A vào các tình huống và ngược lại (từ hệ luận 3.3 và định đề 4)
Định đề 4: Càng có nhiều sự phụ thuộc của B và A về các phần thưởng
trong mối quan hệ trao đổi giữa A và B, thì quyền lực của A đối với B càng lớn và càng có sự mất cân bằng trong mối quan hệ giữa A và B (từ giả định 1
và 3 và những khái niệm về chi phí, phụ thuộc và quyền lực)
Định đề 5: Càng có nhiều hình thức mất cân đối trong mối quan hệ trao
đổi giữa A, B ở một thời điểm nào đó, thì càng có hình thức cân bằng trong những khoảng thời gian sau đó
Ngoài ra ông còn triển khai thêm một số định đề sau: Càng có nhiều hình thức trao đổi giữa A và nhiều Bs tương tự như hình thức đơn phương, càng có ít những nguồn lực có giá trị được A cung cấp cho Bs thông qua những trao đổi liên tục (từ hệ luận 1.3, định đề 4 và hệ luận 4.1)
Càng có nhiều nguồn lực được phân phối không mang tính biến đổi qua
Bs theo một hình thức độc quyền đơn phương với A, từng yếu tố B lại càng nhằm thiết lập và chuyên môn hoá một mối quan hệ biến đổi tách biệt với A (từ những định đề không được bàn luận ở đây và những hệ luận 1.1 và 1.3.1)
Càng có nhiều trao đổi gần với một hình thức trao đổi cùng loại, càng
có nhiều mối quan hệ trao đổi gần gũi (từ định đề 5, hệ luận 1.3 và 1.1)
Trang 28Càng có nhiều nguồn lực cân bằng về giá trị, thì càng có nhiều nguồn lực không cân bằng về sự phân phối qua số lượng các chủ thể, càng có nhiều khả năng mạng lưới phân tầng theo những thuật ngữ về độ lớn của các nguồn lực và càng có nhiều chủ thể xác định cùng với các cấp độ nguồn lực sẵn có tạo nên những mạng lưới trao đổi (từ định đề 5, giả định 1 và 4)
Thông qua thời gian, việc phân phối quyền lực trong mạng lưới phức tạp đã làm phi tập trung hoá xung quanh những chủ thể của nó (các điểm) những người nắm giữ được khả năng tiếp cận cao nhất đến các nguồn lực (từ
Hệ luận 1.3.1 và các định đề 4 và 5)
Qua việc giới thiệu lý luận của R.Emerson về mạng lưới trao đổi, từ vấn đề nghiên cứu, luận văn xác định những xu hướng, bối cảnh mà chủ thể hành động của quá trình hợp tác (các nhà khoa học) xác định đâu là những yếu tốc tác động chính yếu thúc đẩy các nhà khoa học hợp tác Những yếu tố tác động đó được chi phối thông qua những tác động về phần thưởng, uy quyền, danh tiếng của đối tác hợp tác, về các nguồn lực đạt được từ quá trình hợp tác Đồng thời, cơ chế trao đổi trong mạng lưới cộng đồng khoa học có nhiều ý nghĩa đối với việc hình thành và tạo dựng phong cách làm việc theo nhóm, cách thức trao đổi thông tin, liên lạc giữa các nhà khoa học
Cụ thể hơn, những định đề, quan điểm trên sẽ là những cơ chế thực hiện, cơ sở cho luận văn có cách nhìn tổng hợp về quá trình vận hành tốt của quá trình hợp tác giữa các nhà khoa học
1.3 Những khái niệm cơ bản
1.3.1 Cộng đồng khoa học
1.3.1.1 Quan niệm chung:
Cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong xã hội học với nhiều quan điểm và ý nghĩa khác nhau F.Tonnies là người đầu tiên đề cập và đánh giá
cao ý nghĩa của cộng đồng trong sự phát triển xã hội học Trong cuốn “Cộng đồng và xã hội”(Gemeinschaft und Gesellschaft) xuất bản năm 1877, lần đầu
Trang 29tiên Tonnies đã đưa ra sự trình bày tương đối hệ thống về cộng đồng Cộng đồng mà ông nói đến là một chủ thể hữu cơ xã hội căn cứ vào quan hệ huyết thống hay tình cảm tự nhiên, gần giống với tiểu xã hội truyền thống nông thôn thường nói đến; còn “xã hội” lại là sự kết hợp máy móc (cứng nhắc) được tạo thành từ quan hệ khế ước và sự chọn lựa ý chí, như công ty cổ phần, đô thị, quốc gia…Tonnies cho rằng, sự phát triển của lịch sử nhân loại được biểu hiện là quá trình lí tính không ngừng nâng cao, hình thức biểu hiện cuộc sống cộng đồng của con người cũng là quá trình phát triển từ “thời đại cộng đồng” sang “thời đại xã hội” Những lí luận ban đầu này của Tonnies đã được các nhà xã hội học sau này phát triển thêm
Với Jadov, ông cũng xác định khái niệm cộng đồng là một phạm trù cơ bản của xã hội học “xã hội học là khoa học về sự hình thành, phát triển và vận hành của các cộng đồng xã hội, các tổ chức xã hội và các quá trình xã hội với tính cách là các hình thức tồn tại của chúng, khoa học về các quan hệ xã hội với tính cách là các cơ chế liên hệ và tác động qua lại giữa các cộng đồng xã hội đa dạng, giữa cá nhân và các cộng đồng, khoa học về các tính quy luật của các hành động xã hội và hành vi của chúng” [Tô Duy Hợp, 2000; 17]
Với J.H.Fichter, khái niệm cộng đồng được hiểu qua bốn yếu tố cơ bản sau: (a) tương quan cá nhân mật thiết với những người khác (tương quan mặt đối mặt); (b) có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc cá nhân trong những nhiệm
vụ và hoạt động của tập thể; (c) có sự hiến dâng tinh thần hoặc dấn thân đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa; (d) một ý thức đoàn kết trong tập thể [J.H.Fichter, 1974; 79-80]
Từ cách nhìn nhận của các nhà Mác xít, họ cho rằng mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân được quyết định bởi tính cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và các mô hình hoạt động Các hoạt động đó bao gồm các lĩnh vực sản xuất vật chất, các hoạt động khác có liên quan đến sự gần gũi về tư tưởng, tính ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về các điều kiện sống…
Trang 30Qua các cách tiếp cận khác nhau về cộng đồng được để cập ở trên, chúng tôi tiếp tục có những nhận định đánh giá cao về ý nghĩa của quan niệm cộng đồng trong nghiên cứu xã hội học Cộng đồng có thể được hiểu như là
sự xác định địa vực của một tập hợp những cá nhân có các mạng lưới tương quan giữa các thành viên trong đó hoặc là một tập hợp các cá nhân có mối quan hệ xã hội được tổ chức theo một hình thức nhất định tạo dựng được ý thức, tình cảm cộng đồng trong đó
Việc nhìn nhận cộng đồng có thể được quy chiếu qua nhiều tiêu chí khác nhau về địa vực, lĩnh vực liên quan Cộng đồng khoa học được nhìn nhận là tập hợp những nhà khoa học cùng tham gia vào các hoạt động khoa học, được xác định trên một phạm vi xác định, có sự đồng thuận chung về mục tiêu, nhiệm vụ
Xã hội học nhìn nhận cộng đồng khoa học và công nghệ là một nhóm
xã hội nghề nghiệp (có những đặc trưng nhân khẩu, xã hội riêng biệt); đồng thời nghiên cứu cộng đồng khoa học như một thiết chế xã hội
“Cộng đồng khoa học được xem như là tổng thể các nhà nghiên cứu với trình độ đào tạo khoa học ban đầu và đã được chuyên môn hoá, luôn có sự nhất trí trong quan niệm về các mục đích khoa học và mối quan hệ của nó với môi trường xã hội” [Từ điển, 1996]
Qua những hướng tiếp cận khác nhau, cộng đồng khoa học có thể được hiểu như là cộng đồng chuẩn mực theo quan điểm của R.Merton, cộng đồng đồng thuận (T.Kuhn), cộng đồng đoàn thể (nhìn từ góc độ nhân học của W.Hagstrom), cộng đồng khoa học như một mạng lưới (Karin Knorr-Certina), hay khi coi tri thức là quyền lực thì nhiều học giả coi cộng đồng khoa học lại mang ý nghĩa chính trị (Karl Popper, Langdon Winner, Helen Longino, Foucault), còn với Hobbes lại xem cộng đồng khoa học như là hình thức thực hiện được nhu cầu và mong muốn của các nhà khoa học, đó là sự tạo dựng sáng tạo của các cá nhân nhà khoa học riêng lẻ… Qua những vấn đề trên, cũng có thể hiểu cộng đồng khoa học là một nhóm xã hội đặc biệt, gồm các
Trang 31nhà trí thức khoa học nói chung và cụ thể hơn là các trường phái khoa học, các ngành khoa học, hoặc các tổ chức khoa học
1.3.1.2 Đặc điểm chung của cộng đồng khoa học:
Qua những quan điểm trên cho thấy cộng đồng khoa học có một số đặc điểm sau:
+ Cộng đồng khoa học là một tập thể sản xuất tri thức dựa trên những chuẩn mực và những lý tưởng trong hoạt động nhận thức Tri thức khoa học được hiểu: “Là những hiểu biết đã đạt đến trình độ khái quát cao về các thuộc tính, quan hệ giữa các thuộc tính, xu thế vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng, phương pháp, về con đường tác động vào sự vật, hiện tượng mà các nhà khoa học thu được qua quá trình nghiên cứu khoa học” [PVBCTT, 2001, tr.159] Việc sản xuất tri thức trong cộng đồng khoa học ở một chừng mực nào
đó là một sản phẩm phụ thuộc vào quan hệ giữa các thành viên của cộng đồng, giữa cộng đồng khoa học đó với các môi trường xã hội bên ngoài (qua hoạt động thực tiễn) Thông qua hoạt động của cộng đồng khoa học, những tri thức tản mạn của các nhà khoa học mới được tập hợp thành hệ thống, tác động ngược lại với các thành viên của cộng đồng đó hướng đến làm biến đổi năng lực, kỹ năng, phương pháp Đó là quá trình tự đào tạo của nội tại cộng đồng khoa học Quá trình này cũng cần có những cơ chế về phân công và phối hợp giữa các nhà khoa học, đây là yếu tố tất yếu tạo nên những kênh sáng tạo, tạo dựng tri thức, ý tưởng khoa học quan trọng
+ Cộng đồng khoa học là phức hợp của những giao tiếp xã hội: giao tiếp xã hội trong cộng đồng khoa học đã được Mulkay, R.K.Merton đề cập
nhiều Có thể thấy hình thức giao tiếp này ở hai cấp độ: Thứ nhất, ở cấp độ vĩ
mô, đó là sự giao tiếp giữa cộng đồng khoa học này và cộng đồng khoa học
khác Thứ hai, ở cấp độ vi mô, hình thức giao tiếp trong chính nội tại của
cộng đồng khoa học đó; trên cơ sở phân chia cộng đồng khoa học thành sự phân chia thành các chuyên ngành khoa học, các nhóm nhà khoa học Giao tiếp giữa các nhà khoa học là một trong những điều kiện thiết yếu mang tính
Trang 32tiên quyết đối với sự tồn tại của từng nhà khoa học Nó rất phong phú, đa dạng phù hợp với mục đích, quy mô, cơ hội… Trong nghiên cứu này, chúng tôi hướng nhiều đến giao tiếp giữa các nhà khoa học với nhau trong cộng đồng khoa học mà họ đang thể hiện là thành phần của nó
Hình thức giao tiếp này được xem là hình thức giao tiếp mang tính chất nghề nghiệp, nó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp; chính thức hoặc phi chính thức Thông qua cách thức giao tiếp này, tri thức khoa học được các nhà khoa học biểu lộ ra sẽ ngày càng được củng cố, được thực hiện thông qua những phép thử có ý nghĩa phê phán cao Đồng thời, tri thức khoa học đó cũng được truyền tải, phổ biến qua các kênh truyền dẫn khác nhau, và trở thành những giá trị, chuẩn mực chung trong cộng đồng khoa học đó (nếu được thừa nhận
và đánh giá là phù hợp)
+ Cộng đồng khoa học cũng hướng đến thừa nhận những giá trị chung của cộng đồng:
* Thống nhất về mặt đánh giá tri thức của cộng đồng khoa học: điều
này được tiến hành dựa phần nhiều trên các lĩnh vực, bộ môn khoa học nhất định Đây là vấn đề được các nhà khoa học tập trung đánh giá qua phương
pháp đo lường khoa học (scientometric), qua những kết quả đánh giá về vị thế
chuyên môn của các nhà khoa học, thành tích nghiên cứu, năng lực nghiên cứu khoa học Theo một số các nhà phân tích xã hội học khoa học, những chỉ
báo cho vấn đề này chính là: số lượng các ấn phẩm được công bố (trên tạp chí trong và ngoài nước); số lượng ấn phẩm được trích dẫn trong các chương trình nghiên cứu quan trọng…
* Thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học: Những kết quả
nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu phải đem lại những nhận thức mới, đảm bảo các tiêu chí về tính mới, tính tin cậy, tính thông tin, tính khách quan, tính kế thừa, tính tập thể và yếu tố rủi ro Thực tế cho thấy, một công trình nghiên cứu khoa học để đem lại những tiêu chí trên còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên trong cộng đồng cũng như những yếu tố tác động của bên
Trang 33ngoài cộng đồng Cộng đồng khoa học luôn chịu sự kiểm soát (từ bên ngoài cũng như bên trong của cộng đồng), điều đó cũng có thể dẫn đến sự thành công cũng như khả năng thất bại Do đó, cũng có những đánh giá cho rằng việc tìm
ra những yếu tố tác động bên ngoài đến cộng đồng khoa học là công việc nên
có định hướng
* Thông qua những chuẩn mực cơ bản của cộng đồng khoa học:
R.K.Merton có đề cập đến các chuẩn mực trong cộng đồng khoa học, gồm các
chuẩn mực: Tính phổ biến, tính cộng đồng, tính không thiên vị, tính nghi ngờ
có tổ chức và tính căn nguyên (bổ sung năm 1957) và khiêm tốn (bổ sung năm 1963) Chính thông qua những chuẩn mực này mà trong quá trình giao tiếp
giữa các thành viên trong cộng đồng khoa học tạo nên được những khía cạnh khác trong đời sống cộng đồng của các nhà khoa học, đó là những vấn đề về động cơ, cống hiến, đánh giá, uy tín, danh vọng Chính thông qua các chuẩn mực khoa học mà có thể tạo nên những tiền đề cơ bản cho việc triển khai, kiểm soát những cái mới cho hoạt động khoa học, tuy vậy nó cũng có thể tạo nên những trạng thái xung đột chuẩn mực hay cả tình trạng anomie trong hoạt động khoa học Thực tế cho thấy, những giá trị và chuẩn mực trong cộng đồng khoa học nhìn chung được các thành viên thừa nhận, tuân thủ phù hợp với các tình huống, hoàn cảnh nhất định
* Thông qua xung đột trong cộng đồng khoa học [T.S.Kuhn, 1970]:
Trong quá trình thực hiện sứ mệnh của mình trong cộng đồng khoa học, không phải lúc nào các thành viên cũng đều phải tuân thủ những chuẩn mực
cơ bản của cộng đồng vì động cơ và tính mới trong hoạt động khoa học luôn được đề ra và được các nhà khoa học đề cao Merton cũng đã dành phần lớn những nghiên cứu của mình trong những năm 1950 nghiên cứu về vấn đề này Ngoài những ý nghĩa tích cực trong xung đột của cộng đồng khoa học, cũng
có những khía cạnh tiêu cực đáng bị phê phán trong lĩnh vực này như là việc
ăn cắp công trình, gièm pha các nhà khoa học khác-các công trình nghiên cứu
khác, ngay cả những quan điểm nguỵ khoa học nữa… Với công trình “Cấu
Trang 34trúc của cách mạng khoa học” (1962), T.Kuhn đã đề ra được một dạng thức
khoa học (paradigm)- là vấn đề được cả cộng đồng khoa học chia sẻ, coi nó như là khung quy chiếu cho hoạt động lý luận Paradigm của một ngành học mất đi khi có được cuộc cách mạng khoa học, nó sẽ làm thay đổi cấu trúc của ngành học, hình thành những hệ chuẩn mới Qua đó, xung đột trong cộng đồng khoa học là một vấn đề khá cơ bản, nó sẽ giúp cho nhà khoa học nhìn nhận được một diễn trình phát triển của một ngành khoa học đi từ giai đoạn khoa học tiền dạng thức đến khoa học chuẩn mực, khủng hoảng chuẩn mực, cách mạng khoa học, hình thành một dạng thức-tạo cấu trúc ngành học mới…
*Thông qua quá trình kiểm soát xã hội, với quan niệm cộng đồng xã hội là một thiết chế xã hội: Qua những cách đề cập về các cơ chế để cộng
đồng khoa học tồn tại và thực hiện sứ mệnh, chúng ta nhìn nhận được ý nghĩa thiết chế xã hội của cộng đồng khoa học chính là sự tập hợp các chuẩn mực, giá trị của cộng đồng đó thừa nhận Sự thừa nhận đó mang tính lịch sử và sẽ biến đổi theo sự biến đổi chung, đến thời điểm không còn thích hợp với nhu cầu nhận thức của các thành viên của cộng đồng, nó sẽ dễ dẫn đến sự xung đột Chính điều này luôn làm cho thiết chế của cộng đồng khoa học ngày càng phức tạp Thiết chế xã hội thực hiện chức năng điều hoà các lợi ích có trong cộng đồng khoa học đó thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, kiểm soát bằng cơ chế thưởng phạt (hiệu ứng Matthew của K.Merton) Việc thừa nhận giá trị-chất lượng của các công trình khoa học giữa các nhà khoa học với nhau
là yếu tố khuyến khích, là phần thưởng vô giá trong cộng đồng khoa học Merton cho rằng, cộng đồng khoa học với tư cách là thiết chế xã hội đã có những chế độ phân phối đặc thù cho việc thực hiện các chức năng vốn có Đó
là việc đạt được những tri thức mới, tri thức tập thể; tạo được những kết quả mới qua sự tôn kính lẫn nhau từ nhà khoa học khác, từ chính cộng đồng khoa học Thông qua việc điều hoà-kiểm soát đó, cộng đồng khoa học mới hướng các hoạt động của mình theo hướng ổn định Nếu điều này không được thực hiện sẽ có xu hướng làm đảo lộn trật tự của cộng đồng khoa học, hoạt động
Trang 35nghiên cứu của các thành viên sẽ bị trì trệ hoặc đi lệch hướng khỏi sứ mệnh của cộng đồng Việc thực hiện chức năng này là cần thiết, tuy nhiên cũng cần mềm dẻo, linh hoạt, có khả năng nhận biết các ý nghĩa, sai lệch chuẩn mực
1.3.1.3 Mục đích, chức năng và nhiệm vụ của cộng đồng khoa học:
Mục đích cơ bản của cộng đồng khoa học là hướng đến nhằm thoả mãn nhu cầu xã hội thông qua việc nâng cao nhận thức, cải tạo những vấn đề cơ bản của thế giới Chức năng và nhiệm vụ lớn nhất của cộng đồng khoa học là tích luỹ tri thức và sản xuất ra tri thức nhằm đáp ứng và thoả mãn nhu cầu của
xã hội, quá trình này diễn ra trong việc tích luỹ tri thức Những chức năng và nhiệm vụ cơ bản của cộng đồng khoa học chính là việc: Thoả mãn nhu cầu xã hội; đáp ứng nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới Đồng thời, cộng đồng khoa học còn thực hiện chức năng tạo thành môi trường cố kết các nhà khoa học lại với nhau để không chỉ thực hiện nhiệm vụ nâng cao vai trò của cộng đồng khoa học mà còn nâng cao công tác đào tạo lẫn nhau, nâng cao khả năng hoạt động của từng thành viên trong cộng đồng khoa học
1.3.2 Hợp tác nghiên cứu:
Theo Từ điển Tiếng Việt “Hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ nhau trong một công việc, một công việc nào đó nhằm một mục đích chung” [Từ
Điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2003, 466]
Vấn đề hợp tác nghiên cứu là sự thoả thuận giữa những nhà khoa học, cũng có sự đồng thuận tiềm ẩn trong mối quan hệ đó, là mối liên hệ ít mang tính chính thức giữa mục đích của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu với hoạt động khởi đầu hợp tác Hợp tác nghiên cứu đã thể hiện được sự đa dạng
về ý nghĩa thông qua những hoạt động thực tế, đây là một vấn đề mang tính phức hợp
Trong hoạt động khoa học và công nghệ, hình thức hợp tác nghiên cứu
được thực hiện trong những mô hình sau (qua so sánh giữa hình thức trong và liên nhóm):
Trang 36Khoa Giữa các cá nhân hoặc nhóm
Giữa các trường với nhau
Khu vực Giữa các trường trong cùng khu
Người hợp tác sẽ bao hàm những khía cạnh sau:
(a) những ai làm cùng nhau trong một chương trình nghiên cứu thông qua khoảng thời gian của chương trình hoặc một phần lớn thời gian hoặc là những người có những đóng góp thường xuyên
(b) những ai có tên hay vị trí trong một đề án nghiên cứu
(c) những ai có trách nhiệm đối với một số khía cạnh nghiên cứu (ví dụ: thiết kế cuộc thực nghiệm, xây dựng công cụ nghiên cứu, thực hiện quá trình thực nghiệm, phân tích và lý giải dữ liệu, viết báo cáo)
Trong một số trường hợp, danh mục các nội dung về hoạt động hợp tác
Nhóm những người hợp tác nghiên cứu thường bao gồm:
Trang 37(i) những ai có những đóng góp thường xuyên hoặc một phần nào đó đối với chương trình nghiên cứu
(ii) những ai không được nhìn nhận hoặc được xét là những người nghiên cứu thích hợp (kỹ thuật viên, trợ lý nghiên cứu)
Thậm chí, với những tiêu chí để phân biệt trên giữa những người hợp tác
và những nhà nghiên cứu khác, có thể áp dụng trong những hoàn cảnh nghiên cứu, cũng dễ dàng chỉ ra được những trường hợp ngoại lệ với các tiêu chí trên
ở nhiều lĩnh vực cụ thể, ở các tổ chức, ở các quốc gia Hợp tác nghiên cứu không có hoặc khó xác định giới hạn Chính xác là giới hạn đó được đề ra như
là vấn đề của cam kết xã hội và nó luôn mở ra để tranh luận Nhận thức về vấn
đề này như vậy có liên quan đến quan điểm cho rằng giới hạn hợp tác là khác nhau đáng kể theo các tổ chức, khu vực, quốc gia cũng như về mặt thời gian
Có thể nhận thấy: hợp tác nghiên cứu được xác định như là việc nhiều
cá nhân làm việc với nhau, trao đổi các nội dung có liên quan đến công việc đang thực hiện theo một cách thức đã được xác định trong một quá trình hướng đến tạo được kết quả nghiên cứu hoặc theo nhiều cách thức khác nhau, nhiều công đoạn khác nhau nhưng đều hướng đến sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học
1.4 Các phương pháp thu thập thông tin:
+ Phân tích tài liệu: Chúng tôi tiến hành đánh giá tổng quan lịch sử
phát triển của chuyên ngành xã hội học khoa học và những nghiên cứu gần đây của Grit Laudel (Úc); J Sylvan Katz và Ban R.Martin (Đại học Sussex, Anh); các công trình nghiên cứu về khoa học của các tác giả trong nước cũng như những văn bản của nhà nước, Đại học Quốc gia về công tác nghiên cứu khoa học; định hướng phát triển Đại học nghiên cứu…
Trang 38+ Chúng tôi cũng tiến hành lấy thông tin qua bảng an két với số lượng mẫu 110 bảng hỏi và tiến hành phỏng vấn sâu, phỏng vấn chuyên gia với 30 nhà khoa học trong cộng đồng khoa học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Xử lý kết quả 110 bảng hỏi bằng phần mềm ứng dụng SPSS 12.5 (có phụ lục xử lý kết quả kèm theo); xử lý 30 phỏng vấn sâu bằng cách lựa chọn những câu trả lời, những vấn đề trả lời phù hợp với những luận điểm được đề cập trong luận văn
+ Các phương pháp khác: Phương pháp đo lường thư mục và đo lường
khoa học (bibliometric và scientometric) trong nghiên cứu các mô hình hợp tác trong hoạt động khoa học Những cách đo lường này được thực hiện dựa trên những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học được công bố trên danh mục các công trình khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội; Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nôi…
Trang 39CHƯƠNG 2 HỢP TÁC NGHIÊN CỨU TRONG CỘNG ĐỒNG KHOA HỌC (QUA NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN,
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)
2.1 Một số nét khái quát về cộng đồng khoa học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
2.1.1 Khái quát về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Trường
Đại học Quốc gia Hà Nội là trung tâm đào tạo đại học, sau đại học,
nghiên cứu và ứng dụng khoa học-công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao Tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội là Trường Đại học Đông Dương được thành lập vào ngày 16 tháng 05 năm 1906 Sau Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập Trường Đại học Quốc gia Việt Nam, khai giảng khoá đầu tiên ngày 15 tháng 11 năm 1945 Đây là trường học có cơ cấu tổ chức và chương trình đào tạo theo mô hình của một đại học đa ngành, đa lĩnh vực, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, vừa xây dựng trên nền tảng của giáo dục cách mạng Việt Nam Sau hoà bình lập lại, năm 1956 Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và trường Đại học Sư phạm Hà Nội được thành lập
Ngày 10/12/1993, Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập theo Nghị định số 97/CP của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở sắp xếp và tổ chức lại 3 trường đại học là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ
Ngày 12/02/2001, Đại học Quốc gia Hà Nội được tổ chức lại theo Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Hiện nay, Đại học Quốc gia Hà Nội gồm có các trường đại học thành viên và các khoa trực thuộc: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên; Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn; Trường Đại học Ngoại ngữ; Trường Đại học Công nghệ; Khoa
Trang 40Kinh tế; Khoa Luật; Khoa Sư phạm; Khoa Quản trị Kinh doanh; Khoa Sau đại học; Khoa Quốc tế Việt Nga
Trong hệ thống các trường đại học của Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội được tổ chức và hoạt động theo một quy chế riêng do Thủ tướng Chính phủ ban hành (Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg ngày 12/02/2001) Theo quy chế này, Đại học Quốc gia Hà Nội là trung tâm đào tạo nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Đại học Quốc gia Hà Nội có tư cách pháp nhân, có con dấu mang hình quốc huy, có tài khoản riêng, có quyền chủ động cao trong các hoạt động về đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế và tổ chức bộ máy Đại học Quốc gia Hà Nội được Nhà nước ưu tiên đầu tư về cán bộ, tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học – công nghệ để từng bước phát triển Đại học Quốc gia ngang tầm với các đại học có uy tín trong khu vực và quốc tế Đại học Quốc gia Hà Nội có một đội ngũ đông đảo cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học đầu ngành thuộc loại lớn trong các cơ sở đào tạo đại học Việt Nam, nhiều người là các nhà khoa học có danh tiếng và
uy tín cao trong nước cũng như quốc tế Số cán bộ giảng dạy hiện có: 1.548, trong đó có 102 Giáo sư; 219 Phó Giáo sư; 49 Tiến sĩ khoa học, 463 Tiến
sĩ, 447 thạc sĩ…
Sau khi có quyết định thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở sát nhập Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm Hà Nội Cấu trúc của Đại học Tổng hợp cũng thay đổi trở thành hai trường thành viên của Đại học Quốc gia
Hà Nội: Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Với tư cách là các đơn vị thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là đơn vị giữ những nhiệm
vụ và có vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của Đại học Quốc gia
Hà Nội, đặc biệt trong việc phát triển những hướng nghiên cứu cơ bản mang đặc thù chung của chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn Hiện tại