1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay

87 413 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nhận xét trên cơ sở đánh giá thực trạng nhu cầu dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của gia đình Hà Nội và các kiến nghị rút ra từ kết quả nghiên cứu chắc chắn sẽ có ích cho việc

Trang 1

=======000=======

NGUYỄN VĂN HÙNG

NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC HỌC TẬP

CHO CON CÁI CỦA CÁC GIA ĐÌNH HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

HỆ ĐÀO TẠO: CHÍNH QUY

Trang 3

Lời cảm ơn

PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Chương 1

Cơ sở lý luận của đề tài

3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới và chiến lược phát

triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển dịch vụ kinh tế xã hội nói

riêng

20

3.1 Các chủ trương của Đảng và nhà nước về đổi mới và chiến lược phát

triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển dịch vụ kinh tế xã hội nói

riêng

18

3.2 Một số thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển dịch

vụ kinh tế xã hội nói riêng sau đại hội VI của Đảng (12/1986)

21

Trang 4

gia đình Hà Nội hiện nay

3 Khả năng cung ứng của các cơ sở dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái

theo đánh giá của các hộ gia đình

38

3.1 Thực trạng tiếp cận thông tin của các hộ gia đình về cơ sở dịch vụ 38

4 Thực trạng nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của

gia đình Hà Nội hiện nay

54

6 Các nhân tốt tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập

6.1 Ảnh hưởng của độ tuổi đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập

cho con cái của gia đình Hà Nội

64

6.2 Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc

học tập cho con cái của gia đình Hà Nội

66

6.3 Ảnh hưởng của nghề nghiệp đến nhu cầu và việc sử dụng dịch vụ chăm

sóc học tập con cái

68

6.4 Ảnh hưởng của thu nhập đến nhu cầu và việc sử ụng dịch vụ chăm sóc

học tập của con cái

70

Chương 3 Kết luận và đề xuất

Trang 5

LUẬN VĂN THẠC SỸ

ĐỀ TÀI “NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SểC HỌC TẬP CHO

CON CÁI CỦA CÁC GIA ĐèNH HÀ NỘI HIỆN NAY”

PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Theo kết quả tổng điều tra Dân số và nhà ở 1/4/1999 cho thấy, tính

đến năm 1999, trong 16.661.366 hộ thì có 55% số hộ có từ 1- 4 ng-ời Gia

đình chủ yếu sống hai thế hệ gồm cha mẹ và con cái chiếm từ 70-75% tổng

số gia đình Điều đó cũng có nghĩa trong xã hội hiện đại, đông con nhiều cháu không còn là biểu t-ợng của gia đình hạnh phúc Quy mô gia đình lớn hay nhỏ phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân nh-, mức sinh của các cặp vợ chồng và mô hình chung sống giữa các thế hệ Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, nhờ thực hiện thành công ch-ơng trình dân số- kế hoạch hoá gia đình, tốc độ tăng dân số giảm nhanh đã tác động mạnh và trực tiếp đến quy mô gia đình, đặc biệt ở các thành phố lớn quy mô gia đình đang có xu h-ớng giảm đi nhanh chóng Theo một kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy các gia đình công nhân viên chức, phổ biến gia đình có từ 3 - 5 ng-ời. 1

Gia đình Việt Nam hiện nay có khuynh h-ớng lựa chọn loại hình gia

đình hạt nhân, nơi mà chỉ có hai thế hệ chung sống với nhau: cha mẹ và con cái Khi đú cỏc bậc cha mẹ sẽ dành nhiều tõm trớ, tỡnh cảm niềm tin cho con cỏi, nhiều gia đỡnh đó đầu tư mọi nguồn lực cho con cỏi học tập và coi đú là

sự đầu tư lõu dài và bền vững nhất của mỗi gia đỡnh Ngày nay, bản thõn gia đỡnh cũng đang đối mặt với những mõu thuẫn nhất định, một mặt là cụng việc, thu nhập và làm ăn kinh tế một mặt là chăm súc và giỏo dục con cỏi Đối với cỏc gia đỡnh thực tế mà núi việc nào cũng quan trọng, đối với cỏc bậc làm cha làm mẹ thỡ việc nào cũng thiờng liờng và cao cả

1 Lê Thi, Gia đình Việt Nam trong b-ớc chuyển từ truyền thống sang hiện đại, Khoa học về Phụ nữ 4/2003

Trang 6

Sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước Những thành tựu tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá - xã hội do công cuộc đổi mới và mở rộng giao lưu quốc

tế đưa lại trong thời gian qua đã làm thay đổi một cách rõ rệt cuộc sống của mỗi gia đình Việt Nam Nhu cầu về mọi mặt của các gia đình bước đầu đã tăng lên, ngày càng phong phú, đa dạng và phức tạp hơn trước, đặc biệt là khu vực đô thị Đáp ứng các nhu cầu trên, hàng loạt dịch vụ gia đình ra đời

đã làm cho bộ mặt xã hội thêm sinh động Sự phát triển của các dịch vụ gia đình là một tất yếu khách quan khi nền kinh tế đã phát triển lên một trình độ nhất định Đó là hệ quả của quá trình phân công lao động xã hội trong thời

kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã diễn tiến tại Việt Nam Các dịch vụ gia đình kể cả về số lượng và chất lượng đã góp phần giải quyết nhiều vấn

đề nan giải khi năng lực của gia đình không thể tự đáp ứng được tất cả các nhu cầu cần thiết cho đời sống sinh hoạt của mình, khi mà các thành viên gia đình cần dành nhiều thời gian, cường độ lao động vào các hoạt động khác như sản xuất kinh doanh, học tập, công tác, tìm kiếm thêm thu nhập cho mình

Vấn đề đặt ra là, các gia đình đã tiếp cận các loại dịch vụ nào và chất lượng của các dịch vụ đó ra sao? để đáp ứng yêu cầu phát triển của gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước?

Thực hiện đề tài: "Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con

cái của các gia đình Hà Nội hiện nay” là việc cần thiết nhằm giải đáp các

vấn đề trên Những nhận xét trên cơ sở đánh giá thực trạng nhu cầu dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của gia đình Hà Nội và các kiến nghị rút ra từ kết quả nghiên cứu chắc chắn sẽ có ích cho việc dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ này của các gia đình Hà Nội trong thời gian tới

2 Sơ lược tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trang 7

Gia đình luôn là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong những năm gần đây, nhiều khía cạnh của vấn đề gia đình đã được tiếp cận và khai thác Một trong những vấn đề đó là nhu cầu sử dụng của các hộ gia đình Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về việc tiếp cận các dịch vụ cho gia đình, các loại hình dịch vụ cho phụ nữ, trẻ em và người già được đặc biệt nhấn mạnh, cụ thể như:

- Nghiên cứu về các dịch vụ gia đình ở Mỹ có chuyên khảo: “All our

children: The American Family under Pressure” (1977) Trẻ em của chúng ta- sức ép đối với các gia đình Mỹ), trong đó đã đề cập tới vấn đề bảo vệ

chăm sóc và tôn trọng quyền chính đáng của trẻ thơ, nhiều câu hỏi liên quan đến trách nhiệm của chính phủ, mối quan hệ giữa bản chất của xã hội Mỹ với sự phát triển của trẻ; các nhu cầu tối thiểu của trẻ và bố mẹ chúng nhằm tạo một thế giới tốt đẹp hơn cho trẻ em

- Ở Đức có chuyên khảo “Sozialpolitische Massnahmen-Konkret fur

jeden” (Berlin, 1978) Những biện pháp chính trị - xã hội cụ thể cho mọi người) Trong đó, đã mô tả và phân tích nhu cầu chăm nom người không có

khả năng lao động do ốm đau, chăm nom người già, người tàn tật, bà mẹ và trẻ em trong xã hội Đức hiện nay

- Ở Hung-Ga-Ri có chuyên khảo : “Lối sống và gia đình Sự hình

thành những mối quan hệ con người trong gia đình” (Hungari, 1976);

- Ở Anh có chuyên khảo: “Gia đình và đời sống cộng đồng của người

già Mạng lưới xã hội và trợ giúp xã hội trong ba vùng đô thị” (London, New York, 2001), trong đó nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người già, mạng

lưới xã hội và trợ giúp xã hội cho tuổi già được đề cập, được phản ánh như

là một đối tượng thu hút sự quan tâm đặc biệt của xã hội

Tóm lại: Dịch vụ gia đình là một vấn đề xã hội mà nhiều nước quan tâm, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển Bởi ở những nước đó sự phân công lao động diễn ra rất lớn, chuyên môn hoá cao, nhu cầu phục vụ

Trang 8

đời sống vật chất và tinh thần cho mỗi người và gia đình nói chung phong phú và đa dạng

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam nghiên cứu nhu cầu về các loại dịch vụ, dịch vụ gia đình nói chung và dịch vụ giáo dục nói riêng là một vấn đề còn khá mới mẻ, các nghiên cứu về vấn đề này còn chưa nhiều

Nhu cầu dịch vụ mới chỉ được nhấn mạnh chủ yếu trong lĩnh vực dân

số/KHHGĐ, trong đó phần nhiều đề cập đến chất lượng dịch vụ như “Chất

lượng dịch vụ và KHHGĐ và sử dụng các biện pháp tránh thai” (Hà Nội,

2000) Nhìn chung, các nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu việc chăm

sóc sức khoẻ, một trong những nội dung của dịch vụ gia đình như “Vai trò

của gia đình trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị niên” (Tạp chí khoa học Phụ nữ, số 2/2002), “Gia đình nông thôn và vấn đề chăm sóc sức khoẻ cộng đồng” (Trịnh Hoà Bình, Hà Nội, 1998), “Chăm sóc và khai thác những mặt tích cực của người già trong giáo dục gia đình” (Gia đình Việt Nam, các

trách nhiệm, các nguồn lực trong đổi mới đất nước, 1995),“Một số dịch vụ

với việc giảm nhẹ lao động trong công việc gia đình của phụ nữ nông thôn đồng bằng Bắc Bộ” (Vũ Thị Thảo, 1988) Nhìn chung, các nghiên cứu chưa

phản ánh đầy đủ và toàn diện về nhu cầu của gia đình, chưa có nghiên cứu sâu nào về nhu cầu về dịch vụ gia đình nói chung và nhu cầu sử dụng dịch

vụ chăm sóc học tập nói riêng của gia đình Hà Nội trong thời kỳ đổi mới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Mô tả và phân tích thực trạng nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập của gia đình Hà Nộ hiện nay;

- Chỉ ra những nguyên nhân cơ bản làm cản trở hay khuyến khích nhu cầu

sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập của gia đình Hà Nộ hiện nay;

Trang 9

- Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao năng lực tiếp cận dịch vụ chăm sóc học tập của gia đình Hà Nội, góp phần tạo điều thuận lợi cho việc cải thiện chất lượng cuộc sống gia đình nói riêng và chất lượng dân số nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định được hệ khái niệm liên quan đến quá trình hình thành nhu cầu, dịch vụ và nhu cầu sử dụng dịch vụ

- Khoanh vùng nhóm dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của gia đình Hà Nội Hiện nay dịch vụ chăm sóc học tập rất rộng và nhu cầu của các hộ gia đình rất nhiều, việc khoanh vùng đối các dịch vụ sẽ giúp cho việc nghiên cứu các loại hình dịch vụ được tập trung hơn

- Nghiên cứu sẽ tìm hiểu nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập của gia đình và khả năng cung ứng dịch vụ đó của các cơ sở dịch vụ

- Nghiên cứu sẽ đề xuất ra các giải pháp cho sự phát triển các dịch vụ xã hội

Hà Nội trong thời gian tới các giải pháp

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi và mẫu nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

“Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình

Hà Nội hiện nay”

4.2 Khách thể nghiên cứu

 Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm việc trong các cơ quan nhà nước;

 Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm việc trong các cơ sở tư nhân;

 Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm việc tự do;

 Người trực tiếp cung cấp các dịch vụ gia đình;

 Người quản lý các cơ sở hoạt động dịch vụ gia đình

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chọn 03 phường và thị trấn của Hà Nội làm địa bàn khảo sát

gồm có: Phường Cống vị, (đặc trưng đại diện cho phường nằm ở Trung tâm

thành phố, nơi có nhiều đặc điểm đáng chú ý về địa lý, chính trị, kinh tế, xã

Trang 10

hội); Phường Giáp Bát, (đặc trưng đại diện là phường nằm cửa ngõ phía Nam của TP, nơi có nhiều biến động về dân cư, nhà ở và mức sống do quá trình đô thị hoá); Thị trấn Đông Anh, (đặc trưng cho thị trấn ven đô đang trong quá trình đô thị hoá mạnh mẽ)

4.4 Mẫu nghiên cứu

Về cơ bản, mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp phân cụm địa lý - kinh tế - hành chính kết hợp với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

tại cấp cơ sở

- Khảo sát qua bảng hỏi: Gồm 200 phiếu hỏi hộ gia đình, cơ cấu như sau:

 60 phiếu hỏi đối với hộ gia đình làm việc trong cơ quan nhà nước;

 45 phiếu hỏi gia đình làm việc cho các cơ sở tư nhân;

 45 phiếu hỏi gia đình làm việc tự do và làm nông nghiệp (ven thị);

 50 phiếu hỏi gia đình cung cấp dịch vụ gia đình

- Khảo sát qua phỏng vấn sâu: Gồm 20 người đại diện, cơ cấu như sau:

 5 người trong hộ gia đình làm việc cho cơ quan nhà nước;

 9 người trong hộ gia đình làm việc cho các cơ sở tư nhân;

 03 hộ Chủ hộ làm việc tự do;

 03 người cung cấp dịch vụ cho các gia đình;

 03 người quản lý các cơ sở dung cấp dịch vụ

5 Phương pháp thu thập thông tin

5.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, chúng tôi xác định chọn 03 hướng tiếp cận chính sau đây:

a) Từ góc độ triêt học và xã hội học đánh giá nhu cầu dịch vụ chăm sóc

học tập cho con cái của gia đình Hà Nội

 Tổng hợp các lý thuyết đổi mới và phát triển tư duy lý luận

 Lý thuyết nhu cầu và sự hình thành nhu cầu của gia đình

 Lý thuyết nhu cầu của Maslow

 Lý thuyết xung đột

Trang 11

 Lý thuyết lựa chọn lợp lý

b) Từ góc độ kinh tế học để xem xét, đánh giá nhu cầu dịch vụ chăm sóc

học tập cho con cái của gia đình Hà Nội

c) Từ góc độ lối sống xã hội để xem xét, đánh giá nhu cầu dịch vụ chăm sóc

học tập cho con cái của gia đình Hà Nội

5.2 Các phương pháp cụ thể

Nghiên cứu này kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu, các phương pháp điều tra xã hội học, kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng nhằm khai thác mối quan hệ nhân quả về nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của gia đình Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Trong đề tài luận văn này, được sự cho phép của tác giả và cơ quan thực hiện đề tài là Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em, với tư cách

là người tham gia chính tôi đã sử dụng số liệu sẵn có của đề tài nghiên cứu kho học cấp Bộ “Nghiên cứu nhu cầu dịch vụ gia đình Việt Nam trong thời

kỳ đổi mới” do Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện làm đề tài nghiên cứu của luận văn Do phạm vi, tính chất của đề tài luận văn chỉ sử dụng một phần số liệu rất nhỏ (một địa bàn trong tổng số bảy địa bàn được điều tra), để viết báo cáo Do đó nghiên cứu này tác sử dụng hoàn toàn số liệu thứ cấp khi phân tích

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai đề tài lớn, đề tài đã sử dụng một

số phương pháp sau:

a Phương pháp phân tích tài liệu

Thu thập và phân tích các tài liệu bao gồm:

- Niên giám thống kê

- Các nghiên cứu liên quan đến nhu cầu dịch vụ gia đình của các hộ gia đình nói chung và nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội nói riêng

Trang 12

- Báo cáo hàng năm của xã và huyện về điều kiện tự nhiên - kinh tế, văn hoá xã hội

- Mục đích của phương pháp này là: Xác định được tổng quan của

vấn đề nghiên cứu

b Phỏng vấn sâu: Chủ yếu tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh các nhu cầu dịch

vụ gia đình, các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi hoặc cản trở đối với thực hiện đáp ứng nhu cầu dịch vụ gia đình

5.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng ngoài việc sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến nhằm đo lường thực trạng tiếp cận nhu cầu sử dụng dịch

vụ chăm sóc học tập của các gia đình Hà Nội hiện nay, chúng tôi còn sử dụng các số liệu thống kê, các báo cáo của địa phương, kết quả nghiên cứu của các đề tài liên quan

6 Giải thuyết nghiên cứu, các biến số và khung lý thuyết

6.1 Giả thuyết nghiên cứu

 Giả thuyết 1: Phát triển dịch vụ là nhu cầu tất yếu trong thời kỳ đổi mới, trong đó nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của gia đình Hà Nội phụ thuộc vào các điều kiện phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước; xu hướng phát triển các dịch vụ này phụ thuộc vào yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như sự đổi mới về kinh tế văn hoá xã hội ở địa phương

 Giả thuyết 2: Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của gia đình Hà Nội hiện nay phụ thuộc vào các đặc trưng nhân khẩu học xã hội của cá nhân như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, dân tộc và tôn giáo cũng như các đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của hộ gia đình, quy mô, cơ cấu, thu nhập, mô hình gia đình theo các thế hệ và nơi cư trú

 Giả thuyết 3: Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của gia đình Hà Nội hiện nay phụ thuộc vào sự tiếp cận các nguồn

Trang 13

thông tin quảng cáo của các hộ gia đình cũng như của nhóm và cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng

Biến số can thiệp

- Chủ trương đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của

trước yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá

Trang 14

- Thu nhập gia đình

Năng lực đáp ứng DVchăm sóc học tập

- Loại hình dịch vụ

- Chất l-ợng dịch vụ

Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của gia đình hà nội hiện nay

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI

Loại hỡnh dịch

vụ

Trỡnh độ chuyờn mụn

Thỏi độ phục vụ Chất lượng dịch

vụ

Trang 15

PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Dịch vụ như đã được xác định ở phần định nghĩa khái niệm, thuộc

phạm trù quan hệ và hoạt động trao đổi (bao gồm cả phân phối) Trao đổi là một khâu quan trọng trong toàn bộ quá trình hoạt động kinh tế: sản xuất -

trao đổi - tiêu dùng và hoạt động nói chung: sản xuất - giao tiếp - quản lý

Lý thuyết về trao đổi có tính độc lập tương đối Khi lựa chọn lý thuyết trao đổi nói chung, lý thuyết dịch vụ nói riêng thì vấn đề nan giải là phải đối diện với tình trạng có nhiều lý thuyết khác nhau, tạo thành các song đề lý thuyết Trong đó, sự đối lập giữa chủ thuyết mác xít và phi mác xít, là trung tâm chú ý của cuộc đấu tranh tư tưởng Nếu tiếp tục thế ứng xử như trước thời

kỳ Đổi mới, chỉ biết có một quan điểm lý luận Mác - Lênin được coi là duy nhất đúng đắn, bất chấp sự hợp lý của các quan điểm lý thuyết khác thì như thế là cố chấp Thời kỳ Đổi mới hiện nay đang khắc phục tình trạng cố chấp

này để đi tới một hệ quan điểm hiện đại, hợp lý hơn

Đổi mới tư duy nói chung, tư duy lý luận nói riêng có nghĩa là phải thấy rõ hạt nhân hợp lý của các quan điểm đối lập và tìm cách bổ sung hạt nhân hợp lý đó vào cơ sở lý luận và phương pháp luận đã lựa chọn để hoàn thiện Do vậy, khi nghiên cứu dịch vụ gia đình trong thời kỳ đổi mới ở nước

ta, chúng tôi xác định cần cần phải có cách nhìn tổng quan, tiếp cận vấn đề dựa trên một số cơ sở lý luận sau đây

Trang 16

2 Tổng hợp các lý thuyết trong đổi và phát triển tư duy lý luận

Những người theo chủ nghĩa hình thức thì cho rằng thị trường là lực lượng chính quyết định cả mức độ sản xuất và tiêu dùng trong xã hội Ở trình độ phát triển, đó là thị trường tư bản chủ nghĩa, còn kém phát triển thì

đó là sự hợp lý trong trao đổi, phân phối mà cơ sở của tính hợp lý này là ở

lợi ích cá nhân

Nhưng xu thế tất yếu đều tính toán hợp lý và hướng tới chuẩn phương

Tây, hợp lý từ bản chủ nghĩa Lý thuyết lựa chọn hợp lý (của J.S Coleman chẳng hạn) đề ra nguyên tắc “chi phí - lợi ích” để làm rõ sự tính toán hợp lý

trong trao đổi, phân phối Lý tưởng là lợi ích tối đa Trong thực tế, để tăng lợi ích người ta có thể giữ nguyên chi phí, cố gắng tăng hiệu quả, có thể giảm chi phí để tăng hiệu quả, cũng có thể tăng chi phí nhưng phải tăng hiệu quả gấp bội lần thì mới đạt lợi ích lớn hơn

Những người theo chủ nghĩa bản thể 2

thì cho rằng thị trường và đặc biệt là thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là loại hình trao đổi duy nhất Trong thực tế, nhất là ở các xã hội ngoài phương Tây có nhiều loại hình trao đổi tiền thị trường tiền tư bản chủ nghĩa Theo tổng kết của K Polangi thì có

3 loại hình cơ bản đó là: (1) Tương hỗ, (2) Phân phối lại và (3) Thị trường

Tương hỗ: là phương thức trao đổi cổ xưa và đơn giản nhất Trong đó

có tương hỗ gián tiếp (trong đó 2 bên liên quan không chờ đợi một sự đáp ứng ngay), tương hỗ cân xứng (trong đó những người tham gia chờ đợi sự đáp ứng có cùng giá trị được xác định rõ ràng), tương hỗ tiêu cực (theo đó ít

nhất một bên tìm cách lấy không một thứ gì đó mà không bị trừng phạt)

Phân phối lại: đòi hỏi phải có hình thức tổ chức xã hội tập trung thực

hiện quá trình thu gom đóng góp của các thành viên trong tổ chức và từ ngoài tổ chức để rồi phân phối lại cho các thành viên Loại hình này có thể thực hiện trong phạm vi gia đình, và đến các phạm vi xã hội rộng lớn hơn

2

Xem, ch¼ng h¹n, E A Shultz vµ R H.Lavenda Nh©n häc - mét quan ®iÓm vÒ t×nh tr¹ng nh©n sinh Nxb ChÝnh trÞ quèc gia, Hµ néi, 2001

Trang 17

như làng, thành phố, nhà nước…Như đã biết, loại hình chủ yếu của xã hội Việt Nam thời bao cấp trước đổi mới là nhà nước nắm giữ độc quyền phân phối lại hầu như tất cả các loại sản phẩm xã hội

Trao đổi qua thị trường: thực chất là quá trình mua - bán hàng hoá

(thương mại), tiền tệ (tín dụng), mua - bán dịch vụ theo cơ chế cung - cầu

hàng hoá và dịch vụ Thị trường tư bản chủ nghĩa là thị trường phát triển

Như vậy, không nên tuyệt đối hoá các lý thuyết về trao đổi và phân phối theo nguyên tắc loại trừ nhau, mà nên dung hoà Tuy nhiên để tránh tình trạng vô nguyên tắc, chiết trung trong lý luận thì có thể lựa chọn nguyên tắc chọn một trong hai làm cột trụ, bổ sung thêm yếu tố hợp lý của mặt đối lập Đó là tiếp cận toàn thể biện chứng có phân biệt cái quan trọng

và cái không quan trọng

Trên cơ sở cách tiếp cận tổng hợp biện chứng này chúng ta có thể tóm tắt lịch sử dịch vụ kinh tế và xã hội Việt Nam cho đến thời kỳ đổi mới ngày nay thành 2 thời kỳ (2 khuôn mẫu) quan trọng, đó là:

1 Khuôn mẫu truyền thống: có đặc điểm chủ yếu là coi trọng dịch vụ phi thị trường;

2 Khuôn mẫu đổi mới: có đặc trưng chủ yếu là coi trọng dịch vụ thị trường

Trong khuôn mẫu truyền thống có sự khác biệt giữa Nhà nước và xã

hội dân sự khi đối diện và giải quyết song đề (nan đề) thị trường - phi thị trường Nhà nước thực hành chủ trương trọng nông - ức thương, nghĩa là coi trọng cống nạp hiện vật trực tiếp, không mua - bán Trong khi đó xã hội dân

sự bị phân hoá thành xã hội nông dân trao đổi hiện vật, phi thị trường và xã hội phi nông nghiệp, hoạt động công - thương, theo cơ chế thị trường Hộ gia đình nông dân, thậm chí người nông dân cũng bị phân đôi, khi mà họ làm thêm nghề phụ (tiểu thủ công nghiệp) hoặc buôn bán, dịch vụ nông nhàn Nghĩa là, nông nghiệp vẫn phi thị trường, nhưng phi nông nghiệp thì tham gia thị trường

Trang 18

Khuôn mẫu bao cấp do Nhà nước ta thực hiện trong mấy chục năm

trước thời kỳ đổi mới có đặc điểm giống khuôn mẫu truyền thống ở chỗ coi trọng dịch vụ phi thị trường; nhưng có đặc điểm khác hẳn ở chỗ nhà nước ngăn cấm thị trường tự do, thủ tiêu thị trường tư bản chủ nghĩa, chỉ theo phép có một loại hình trao đổi, phân phối duy nhất đó là bao cấp XHCN do Nhà nước độc quyền quản lý Tuy nhiên, bất chấp Nhà nước cứng rắn trong chủ trương và thực hành cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thị trường tự do vẫn len lỏi hoạt động dưới hình thức kinh tế ngầm (bất hợp pháp) và có nơi,

có lúc thị trường tự do dưới hình thức kinh tế ngầm này đã lũng đoạn nền kinh tế quốc dân Khuôn mẫu dịch vụ bao cấp là sự lựa chọn không thành công và có thể coi là sự lệch lạc trong tiến trình đến hiện đại từ truyền thống trọng nông, ức thương của lịch sử dịch vụ kinh tế và xã hội Việt Nam

Vấn đề phi thị trường và thị trường trong lý luận và phương pháp nghiên cứu dịch vu kinh tế - xã hội không thể giải quyết hạn chế trong phạm

vi dịch vụ (tức là lĩnh vực trao đổi, phân phối) Cần phải đặt trong một hệ thống biện chứng rộng lớn hơn, một mặt đó là dịch vụ trong tương quan với

sản xuất và mặt khác, dịch vụ trong tương quan với tiêu dùng

Tiêu dùng và phương thức tiêu dùng cũng tác động tới dịch vụ nói chung, dịch vụ gia đình nói riêng có ít nhất 3 cách tiếp cận lý thuyết khác nhau về bản chất tiêu dùng:

(1) Mô hình tiêu dùng là do nhu cầu cơ bản của con người và xã hội

loài người quy định Đó là dinh dưỡng, sinh sản, tiện nghi vật chất, an toàn

di chuyển, phát triển và sức khoẻ;

(2) Sự khác biệt giữa các mô hình tiêu dùng không phải do nhu cầu

con người mà là do điều kiện sinh thái quyết định;

(3) Khuôn mẫu, bản sắc văn hoá định hình tập quán tiêu dùng

Các cách tiếp cận thiên vị, hoặc là đề cao vai trò của sản xuất (quyết định trao đổi và tiêu dùng), hoặc là đề cao vai trò của trao đổi (quyết định trao đổi và tiêu dùng), hoặc là đề cao vai trò của tiêu dùng (quyết định sản

Trang 19

xuất và trao đổi) đều có hạt nhân hợp lý; song nếu tuyệt đối hoá, sẽ sai lầm Bởi lẽ trong toàn thể biện chứng, mỗi nhân tố sản xuất, trao đổi, tiêu dùng đều có tính độc lập tương đối, nhưng mặt khác, lại bị phụ thuộc vào các nhân tố còn lại Dịch vụ thuộc lĩnh vực trao đổi, tuy có tính độc lập tương đối, có tác động tới sản xuất và tiêu dùng; nhưng mặt khác cũng bị sản xuất

và tiêu dùng tác đông trở lại

Từ điển Xã hội học3

cho biết 3 ý nghĩa chính của cụm từ “Nhu cầu" Thứ nhất: Đó là những đòi hỏi cơ bản cần thiết cho việc duy trì sự sống con người Có nhiều cách định nghĩa khác nhau: Maslow (1954) cho

rằng có nhiều thang bậc nhu cầu khác nhau, kể từ nhu cầu sinh lý như ăn

uống, an toàn, chỗ ở cho đến nhu cầu tâm lý như sở hữu, tán thành, tình yêu

và cao nhất là nhu cầu tự thực hiện Chỉ có nhu cầu sinh lý mới thực sự là nhu cầu sinh tồn và theo Maslow thì cần phải thoả mãn các nhu cầu sinh lý trước khi muốn thoả mãn nhu cầu cao cấp hơn Một số nhà Xã hội học cho rằng sự tồn tại các nhu cầu nhân sinh chứng tỏ những điều kiện chức năng tiên quyết của sự sống còn là phổ biến đối với mọi xã hội Các quan điểm này đều dựa trên mô hình hệ thống (xem lý thuyết hệ thống) về con người

và xã hội

Thứ hai: Những ham muốn, ý định cá nhân (tức là nhu cầu cá nhân), thu nhận được qua quan hệ và hoạt động xã hội, chẳng hạn như động cơ thành tích

Thứ ba: Có sự phân biệt giữa nhu cầu cơ bản và nhu cầu cảm nhận Trong kinh tế học, từ “ham muốn" được sử dụng theo cả 2 nghĩa là nhu cầusinh lý và nhu cầu cảm nhận về mặt xã hội và cả theo nghĩa hàng hoá kích thích những nhu cầu đó.”

3

Xem, ch¼ng h¹n, Collins Dictionary of Sociology David Jary & Julia Jary Harper Collins Publisher,

1991, p 419-420

Trang 20

Như vậy, “Nhu cầu” là những đòi hỏi của con người và của xã hội loài người nhằm đáp ứng, thoả mãn những gì cần thiết cho sự sinh tồn, biến đổi và phát triển cá nhân cũng như tập thể và toàn xã hội

2.1 Lý thuyết nhu cầu và sự hình thành nhu cầu của gia đình

Trên cơ sở nguồn gốc sự hình thành và phát triển của gia đình cho chúng ta thấy trong bất kỳ xã hội nào, sự tồn tại và phát triển của gia đình người Việt có vị trí rất quan trọng trong việc hình thành, phát triển nhân cách con người Vị trí đó được thể hiện trong chức năng của gia đình Hiện nay gia đình có nhiều chức năng cơ bản, như chức năng kinh tế; chức năng tái sản xuất sức lao động, chức năng thoả mãn nhu cầu tình cảm và chức năng giáo dục v.v Mỗi một giai đoạn phát triển của gia đình các chức năng này cũng thể hiện được tầm quan trọng khác nhau Trong giai đoạn hiện nay chức năng giáo dục luôn có một vị trí quan trọng đối với các gia đình Điều này xuất phát từ hai lý do:

Thứ nhất: Áp lực công việc ngày càng nhiều, các gia đình dành nhiều thời gian để lao động kiếm tiền tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống Nền kinh tế thị mang lại cho con người nhiều cơ hộ lựa chọn nghề nghiệp, có nhiều điều kiện để tiếp cận công nghệ thông tin và lựa chọn các công việc

có thu nhập cao Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường cũng mang lại những tác động tiêu cực nhất là với trẻ em vị thành niên như: lối sống buông thả, nghiện hút, ma tuý, cờ bạc, rượu chè v.v Xác định được những khó khăn

đó, để tạo ra mối quan hệ hài hoà giữa thời gian dành cho công việc và thời gian dành để giáo dục con cái, cha mẹ phải nhờ đến sự giúp đỡ của các cơ

sở dịch vụ Đó là lý do giải thích vì sao hiện nay nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình đã tăng cao

Như vậy chức năng giáo dục của gia đình trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này đã được mở rộng hơn, giáo dục không còn tồn tại trong phạm

vi gia đình mà cả phạm vi ngoài nhà trường, các tổ chức cá nhân và xã hội

Trang 21

Thứ hai: Hiện nay, người dân Thủ đô rất có ý thức trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách dân số - KHHGĐ

Số con của các gia đình càng ít, quy mô gia đình ngày càng thu nhỏ, gia đình hạt nhân đang dần chiếm uư thế, đông con nhiều cháu không còn là sự lựa chọn tối ưu nơi mỗi gia đình Do đó, cha mẹ lại càng có điều kiện để quan tâm đến con cái, nhiều gia đình cha mẹ đã dành tất cả tình cảm tinh thần, vật chất mong muốn cho con cái trưởng thành Thêm vào đó, với sự phát triển của khoa học như hiện nay đầu tư cho con cái học hành, nâng cao tri thức đáp ứng được nhu cầu công việc trong tình hình mới là việc quan trọng và cần thiết Nên cha mẹ đã không từ chối một nhu cầu nào của con cái trong việc đầu tư cho con cái học tập, đó cũng là lý do khiến nhu cầu sử dụng dịch vụ của các gia đình hiện nay tăng cao

2.2 Lý thuyết nhu cầu của Maslow

Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa

Thuyết nhu cầu của A Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung Cho đến nay, chưa có thuyết nào thay thế tốt hơn thuyết này mặc dù cũng có khá nhiều

“ứng cử viên" có ý định thay thế

Theo thuyết A Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ "đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ "cơ bản” của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội Việc sắp xếp nhu cầu theo thang bậc từ thấp đến cao cho thấy độ “dã man" của con người giảm dần và độ

“văn minh” của con người tăng dần

Nhu cầu sinh lý (Vật Chất): Là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người (như không khí, nước uống, thức ăn, đồ mặc, nhà ở, tình dục…) Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa

Trang 22

được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được mọi người

Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể

và sự đe dọa mất việc, mất tài sản…

Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người

có nhu cầu giao tiếp để phát triển

Nhu cầu được tôn trọng: Theo Maslow, khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn như: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin

Đây là mong muốn của con người nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội Việc họ được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người hữu dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công” Vì thế, con người thường có mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn vọng và kính nể

Nhu cầu tự hoàn thiện: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt tới Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành được một mục tiêu nào đó

Vận dụng lý thuyết “Nhu cầu” của Maslow vào đề tài này cho thấy, tuỳ nhu cầu các gia đình sử dụng các dịch vụ khác nhau Gia đình càng có điều kiện, có niềm tin và kỳ vọng vào con cái càng cao, điều đó tỷ lệ thuận với nhu cầu sử dụng dịch vụ giáo dục Có gia đình mong muốn sử dụng dịch

vụ chăm sóc học tập cho con cái vì mục tiêu giảm thiểu thời gian, nhưng cũng có những gia đình sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái để

Trang 23

nâng cao trình độ, giúp con cái thành đạt để mở mày mở mặt với bạn bè và người thân trong gia đình Đó là đặc thù trong tháp nhu cầu của Maslow

2.3 Lý thuyết xung đột

Xung đột vai trò thường xảy ra dưới ba hình thức

Xung đột vai trò giữa các thành viên trong một thế hệ vai trò khi các

kỳ vong mong đợi ở nhau, mâu thuẫn với nhau

Xung đột vai trò trong bản thân người giữ vai trò khi những mong đợi, hoặc nhu cầu mâu thuẫn với nhau Ví dụ người phụ nữ vừa thực hiện vai trò người vợ, người mẹ lại vừa thực hiện vai trò kinh tế và thành đạt xã hội

Xung đột vai trò giữa các thế hệ với nhau Nhiều vai trò giữa các thế

hệ mâu thuẫn với nhau, để cá nhân thực hiện tốt vai trò của mình, cần phải thực hiện các chuẩn mực xã hội và chuẩn mực nhóm phải rõ ràng Mặt khác, các cá nhân phải học hỏi vai trò trong quá trình xã hội hoá, tức là phải học hỏi về những yêu cầu mà họ cần thực hiện

Simmel cho rằng xung đột giữa các cá nhân là một vấn đề tất yếu của

xã hội vì xã hội là một quá trình thay đổi không tĩnh tại, xã hội luôn luôn biến đổi trong những mong muốn, trong những lĩnh vực và trong những mục đích của cá nhân Ông cho rằng xã hội tồn tại không có nhiều cá thể tham dự trong tác động qua lại và tất nhiên nó sẽ có những xung đột

Khi vận dụng lý thuyết này vào phân tích đề tài “Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay” cho thấy được hiện nay xung đột trong lĩnh vực giáo dục đang diễn ra ở cùng một thế hệ trong các gia đình Gia đình đang gặp khó khăn cho việc lựa chọn các chức năng của mình đó là chức năng kinh tế của gia đình và chức năng chăm sóc, giáo dục con cái

2.4 Lý thuyết lựa chọn hợp lý

Lý thuyết lựa chọn hợp lý cho chúng ta thấy trong cuộc sống con người có rất nhiều nhu cầu như nhu cầu ăn, ở, mặc, nhu cầu vui chơi giải trí

Trang 24

và nhu cầu thành đạt có vị trí xã hội v.v Tuy nhiên thực tế không phải tất

cả các mong muốn về nhu cầu của con người đều được đáp ứng vì nhu cầu mong muốn luôn cao hơn nhiều nhu cầu được đáp ứng trong thực tế Do đó,

cá nhân phải lựa chọn cho mình một một số nhu cầu phù hợp nhất Ví dụ: Thu nhập của một hộ gia đình A được 10 triệu đồng một tháng, 10 triệu này không phải gia đình A có thể chi trả đủ mọi thứ trong cuộc sống, họ phải lựa chọn xem cần mua cái gì trước, cần mua cái gì sau Cái gì nên mua và cái gì không nên mua, họ phải biết cân nhắc và lựa chọn

Khi vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý và đề tài này có giải thích hiện nay gia đình có nhu cầu trong việc sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái Nhưng thực tế lại không thể sử dụng tất cả các dịch vụ đó, xuất phát từ một số lý do (1) do điều kiện kinh tế gia đình không cho phép, (2) không phải gia đình nào cũng có như cầu về tất cả các dịch vụ mà chỉ cần sử dụng một số dịch vụ phù hợp và (3) không phải dịch vụ nào cũng đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các hộ gia đình Do đó các gia đình phải cân nhắc khả năng chi trả, chất lượng dịch vụ để lựa chọn một số loại hình chăm sóc học tập cho phù hợp hơn với điều kiện thực tế

3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển dịch vụ kinh tế - xã hội nói riêng

3.1 Các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước ta về về đổi mới

và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển dịch vụ kinh

tế - xã hội nói riêng

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam (2001) là công trình tổng kết 15 năm Đổi mới (1986-2000) đất nước ta dưới sự lãnh đạo theo tư duy mới của Đảng và sự quản lý theo kiểu mới của Nhà nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (12/1986) chủ trương chính thức đổi mới toàn diện, trước hết phải

Trang 25

là đổi mới tư duy kinh tế Có 3 chủ trương lớn có ý nghĩa quyết định khởi động toàn bộ công cuộc đổi mới, đó là:

1 Xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp để chuyển hẳn sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa

2 Mở rộng dân chủ hoá, đa dạng hoá hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá

3 Mở cửa, mở mang hợp tác, hội nhập quốc tế

Tại đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đánh dấu sự chuyển hướng có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành mô hình kinh tế vĩ mô phù hợp với quy luật khách quan và thực tế của Việt Nam Đặc trưng cơ bản của mô hình kinh tế mới được Đại hội VI đề ra là: Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật và các công cụ khác theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đường lối đổi mới kinh tế này lại được tiếp tục khẳng định và hoàn thiện thêm tại các Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, VIII

và IX

Đại hội Đảng lần thứ VIII tiến hành vào tháng 6/1996 đã khẳng định những nhiệm vụ do Đại hội VII (6/1991) đề ra cho 5 năm 1991-1995 đã được hoàn thành về cơ bản và đề ra nhiệm vụ từ năm 1996 đến năm 2000 là:

"Tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường và sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề

ra trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội năm 1996 đến năm

2000 là: Tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh,

Trang 26

cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền

đề vững chức cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ XXI” 4

Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài

và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh" 5

Mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 là: "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốcphòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao" 6

Một trong những nội dung quan trọng của đường lối đổi mới kinh tế

do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là đổi mới cơ cấu kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế Sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế đã phát triển theo chiều hướng tích cực theo cơ

444 Nguồn:Văn kiện Đại hội Đại biểu toà n quốc lần thứ VIII,, PhÇn thø hai: Ph-¬ng h-íng nhiÖm

vô chñ yÕu cña kÕ ho¹ch ph¸t triÓn kinh tÕ-x· héi 5 n¨m 1996-2000, tr,167,168 -Nhµ xuÊt b¶n chÝnh trÞ quèc gia)

Trang 27

chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN bằng pháp luật

Để thể chế hoá các chủ trương đổi mới đã nêu trong Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 27/HĐBT ngày 9/3/1988 về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng vận tải Việc ban hành văn bản này đã phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, huy động khả năng của nhân dân phát triển sản xuất hàng hoá

và dịch vụ, phục vụ đời sống và phục vụ xuất khẩu

Quốc hội Việt Nam quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới Hiến pháp 1992 quy định hàng loạt các vấn đề có tính nguyên tắc của nền kinh tế Điều 15, điều 16 của

Hiến pháp qui định như sau:

Điều 15: Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng

Điều 16: Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân

giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh

tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới1

3.2 Một số thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển dịch vụ kinh tế - xã hội nói riêng từ sau Đại hội Đảng VI (12/1986)

1 Nguồn: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 - Cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia - Văn phòng Quốc hội

Trang 28

Sau 18 năm kể từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, nhất

là sau 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội (1991-2000) Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn và rất quan trọng:

"Tổng sản phẩm trong nước năm 2000 tăng hơn gấp đôi so với năm

1990 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều Nền kinh tế từ trạng thái hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng nay sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế; từ cơ chế quản

lý tập trung quan liêu, bao cấp đã chuyển sang cơ chế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa; từ chỗ chủ yếu chỉ có 2 thành phân là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể đã chuyển sang có nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hụt hẫng về thị trường do những biến động ở Liên Xô

và Đông Âu gây ra; phá được thế bị cuốn sâu vào khủng hoảng tài chính - kinh tế ở một số nước châu Á mặc dù hậu quả của nó đối với nước ta cũng khá nặng nề; tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng và an ninh đợc tăng cường Sức mạnh về mọi mặt của nước ta đã lớn hơn nhiều so với 10 năm trước" 7

"Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống còn 24,3%, công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%, dịch

vụ từ 38,6% tăng lên 39,1%" 8

"Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Trình độ dân trí, chất lượng nguồn lực và tính năng động trong xã hội đuợc nâng lên đáng kể Đã hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước; bắt đầu phổ cập trung học

cơ sở ở một số thành phố, tỉnh đồng bằng Số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 6 lần Đào tạo nghề được mở rộng, năng lực nghiên cứu khoa học được tăng cường, ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến Các hoạt động văn

Trang 29

hoá, thông tin phát triển rộng rãi và nâng cao chất lượng Mỗi năm tạo thêm hơn 1,2 triệu việc làm mới Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn của nước ta) từ trên 30% giảm xuống 10% Người có công với nước được quan tâm chăm sóc Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm từ 2,3% giảm xuống 1,4% Tuổi thọ bình quân từ 65,2 tuổi tăng lên 68,3 tuổi Việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em, chăm lo sức khoẻ cộng đồng, phòng, chống dịch bệnh có nhiều tiến bộ Phong trào thể dục và rèn luyện sức khoẻ phát triển; thành tích thi đấu thể thao trong nước và quốc tế được nâng lên

Đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước ta về chính sách kinh tế đã tạo điều kiện để các thành phần kinh tế mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh vực và vì vậy nhiều loại hình dịch vụ mới đã xuất hiện nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của tất cả các tầng lớp nhân dân và có thể khẳng định rằng việc các loại dịch vụ này chỉ xuất hiện sau khi có chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước Có thể xem xét vấn đề đó cụ thể trong lĩnh vực giáo dục như sau:Trong 10 năm 1991 - 2000, ngành giáo dục đã có nhiều chuyển biến đáng kể Quy mô giáo dục đã không ngừng được tăng lên

và đang được điều chỉnh cho phù hợp với các điều kiện nhằm đảm bảo chất lượng, khắc phục tình trạng mất cân đối về cơ cấu cấp học, bậc học Đội ngũ giáo viên tiếp tục được tăng cường theo hướng chuẩn hoá Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành được củng cố và nâng cấp Mạng lưới trường lớp được duy trì và phát triển với hình thức đa dạng hơn

Ngoài hình thức quốc lập như trước đây, hiện nay nhiều trường dân lập, bán công, tư thục được mở rộng đáp ứng nhu cầu của các bậc phụ huynh và con em họ Bên cạnh đó các dịch vụ gia sư cũng đáp ứng thêm nhu cầu phục vụ tại nhà của các gia đình

4 Một số khái niệm chính

Đề tài nghiên cứu này có thể sử dụng nhiều khái niệm khác nhau làm

cơ sở cho quá trình nghiên cứu Tuy nhiên trong khuôn khổ của một khoá luận nhiên cứu khoa học Tác giả xin được sử dụng một số khái niệm sau:

Trang 30

Khái niệm “nhu cầu"

Trong “Từ điển bách khoa Việt Nam"1

định nghĩa về nhu cầu như sau: “Nhu cầu - sự phản ánh một cách khách quan các đòi hỏi về vật chất, tinh thần và xã hội của đời sống con người phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Nhu cầu hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Mức độ và phương thức thoả mãn nhu cầu về cơ bản phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, trước hết là trình độ phát triển kinh

tế Nhu cầu là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất và toàn xã hội phát triển Đặc điểm nhu cầu của các tầng lớp nhân dân được hình thành tuỳ theo địa vị của họ trong nền sản xuất xã hội, tuỳ thuộc vào những đặc trưng về nhân khẩu, chủng tộc, dân tộc…về các điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên Nhu cầu được phân thành nhiều loại Xét về mặt chủ thể, có nhu cầu cá nhân, nhu cầu tập thể, nhu cầu xã hội; xét về mặt hoạt động, có nhu cầu lao động, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu trao đổi, nhu cầu giải trí… Xét về mặt đối tượng:

có nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần Xét về mặt chức năng: có nhu cầu chính, nhu cầu phụ Xét về mặt đạo lý: có nhu cầu hợp lí, nhu cầu không hợp lý…Cơ cấu nhu cầu biến động khác nhau tuỳ theo giai cấp, theo các tầng lớp dân cư, các vùng lãnh thổ, tuỳ theo thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội"

1

Xem, Tõ ®iÓn B¸ch khoa ViÖt nam TËp 3 Nxb Tõ ®iÓn b¸ch khoa, Hµ néi, 2003, tr 267

Trang 31

cáo); Những dịch vụ liên quan đến đời sống và sinh hoạt công cộng (sức khoẻ, giáo dục, giải trí); những dịch vụ về chỗ ở,…

Từ điển Xã hội học 9

phân biệt rõ 2 loại hình dịch vụ, đó là dịch vụ

kinh tế và dịch vụ xã hội

Dịch vụ kinh tế, đó là “khu vực kinh tế phục vụ cá nhân hoặc phục vụ

kinh doanh chẳng hạn như du lịch, bảo hiểm hoặc ngân hàng Khu vực dịch

vụ với tư cách là khu vực thứ 3 của hoạt động kinh tế phân biệt với 2 khu vực khác của nó, đó là khu vực thứ nhất và khu vực thứ hai10

Xu hướng phát triển kinh tế là thay đổi tương quan giữa 3 khu vực kinh tế nói trên, theo hướng tăng tỉ lệ khu vực dịch vụ và giảm tỷ lệ khu vực 1 và 2"

Dịch vụ xã hội có 2 ý nghĩa:

1 Các dịch vụ do nhà nước cung cấp nhằm bảo đảm hoặc nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi công dân ;

2 Theo nghĩa rộng hơn, các dịch vụ công tác xã hội do chính quyền

địa phương tổ chức và phân phát cho trẻ em, người già, người mất sức và mắc bệnh tâm thần…Giống như sự cung cấp của Nhà nước, các hội đồng dịch vụ xã hội hầu như có mặt ở khắp các địa phương Những tổ chức ô, dù này hỗ trợ và điều phối việc cung cấp phúc lợi xã hội Cả 2 loại hình dịch vụ tài nguyên và dịch vụ Nhà nước phân biệt với khu vực tư nhân mới xuất hiện gần đây trong lĩnh vực dịch vụ xã hội"

Như vậy, Dịch vụ nói chung là một loại hình hoạt động cá nhân và xã hội Dịch vụ không phải là hoạt động sản xuất (không phải là nông nghiệp,

không phải là công nghiệp…), cũng không phải là hoạt động tiêu dùng mà chính là hoạt động trao đổi, bao gồm cả phân phối sản phẩm để tiêu dùng “Dịch vụ xã hội gồm những chi tiêu về y tế, giáo dục, nhà ở, phúc lợi,

bảo hiểm xã hội và các tiện nghi giải trí cho cộng đồng Nó cũng bao gồm

Trang 32

cả sự đền bù cho người ốm mất khả năng thu nhập và tạm thời mất khả năng làm việc; những khoản trả cho người cao tuổi, những người vĩnh viễn mất sức lao động và những người thất nghiệp, những khoản trợ cấp gia đình, phụ

nữ sinh đẻ và trẻ em; và chi phí về những dịch vụ phúc lợi như việc trông nom săn sóc người già, người mất sức và trẻ em Nhiều chi tiêu có liên quan tới bảo vệ môi trường như việc làm giảm ô nhiễm, cấp nước, những công việc vệ sinh và thu nhặt phế thải đều được gộp vào phạm trù này”11

Khái niệm “Gia đình”

Gia đình và hộ gia đình là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên quan, đặc biệt khi nghiên cứu chức năng của gia đình Gia đình được xem là

“ Một nhóm xã hội thu nhỏ với đặc trưng cơ bản của hôn nhân, từ đó hình

thành nên các quan hệ huyết thống, thân tộc giữa các thành viên” (Lê Tiêu

La và Lê Ngọc Hùng; Vấn đề giới trong kinh tế hộ: Tìm hiểu phân công lao động nam nữ trong gia đình ngư dân ven biển miền trung; tạp chí XHH; 3/1998) Còn hộ được định nghĩa law “Có một hoặc nhiều người cùng

chung sống trong một nhà hoặc một đơn vị nơi ở, chia sẻ việc chi tiêu và thường ăn chung” Có ba đặc điểm chính như là những tiêu thức để phân biệt gia đình và hộ, đó law: (1) quan hệ hôn nhân, huyết thống và than tộc;

(2) cư trú chung và (3) có chung cớ sở kinh tế (Vũ Tuấn Anh và Trần Thị

Vân Anh; Lịch sử và triển vọng phát triển kinh tế hộ; KTXH; Hà Nội)

Trong lịch sử ta thấy có sự đa dạng các hình thức gia đình Để phân tích sự sắp xếp gia đình đa dạng và phong phú đó, các nhà Xã hội học sử dụng 2 khái niệm chủ chốt, đó là gia đình mở rộng và gia đình hạt nhân Gia đình mở rộng là một nhóm người có quan hệ dòng họ từ 3 thế hệ trở lên chung sống với nhau (hoặc là rất gần gũi với nhau), thường tạo thành một

hộ độc lập Gia đình hạt nhân chỉ bao gồm cha mẹ (hoặc cha, hoặc mẹ) và những người con còn phụ thuộc vào họ…

11 Xem, NHTG, S®d, tr 309

Trang 33

Cũng giống như sự khỏc biệt giữa cỏc xó hội, mỗi gia đỡnh đều trải qua một chu trỡnh sống và cỏc thành viờn của nú cũng cú những thay đổi nhất định trong đời sống gia đỡnh của mỡnh

Theo trờn ta thấy gia đỡnh một mặt là một nhúm xó hội 12 ; mặt khỏc, là một thiết chế xó hội cơ bản 13

Cú nhiều định nghĩa về gia đỡnh, song để

thống nhất cỏch hiểu chớnh thống chỳng ta cú thể sử dụng định nghĩa sau :

“Gia đỡnh là tập hợp những người gắn bú với nhau do hụn nhõn,

quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nhận nuụi, làm phỏt sinh cỏc nghĩa

vụ và quyền lợi giữo họ với nhau theo luật định” 14

Ở Việt Nam khỏi niệm gia đỡnh và hộ gia đỡnh nhiều khi bị hiểu song trựng Trong cuộc điều tra dõn số năm 1989 đó đưa ra khỏi niệm “Hộ gia đỡnh” gồm những người cú quan hệ hụn nhõn, hoặc ruột thịt, hoặc nuụi

dưỡng, cú quỹ thu - chi chung Cú thể hiểu Hộ gia đỡnh là một nhúm xó hội

khụng bị bú chặt trong phạm vi cỏc quan hệ hụn nhõn, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nhận nuụi Nú cú cỏc quan hệ rộng hơn như bạn bố, họ hàng, người quen

Khỏi niệm “nhu cầu dịch vụ gia đỡnh”

Đõy là một khỏi niệm tổng hợp từ cỏc ý nghĩa đó được xỏc định của 3 khỏi niệm “nhu cầu”, “dịch vụ” và “dịch vụ gia đỡnh" Trước hết là ghộp cặp: Nhu cầu dịch vụ; Nhu cầu gia đỡnh; Dịch vụ gia đỡnh

Về nhu cầu dịch vụ cú thể hiểu theo 2 nghĩa:

- Một là nhu cầu tiếp cận, sử dụng dịch vụ ,

- Hai là nhu cầu cung cấp, cung ứng dịch vụ

12

“Nhóm xã hội là tập hợp các cá nhân khác biệt và tơng tác với nhau theo những cách thức phi hình thức

dựa trên cơ sở các chuẩn mực, mục tiêu và giá trị mà họ cùng chia sẻ' Xem, Donald Light, Suzane Keller, Craig Calhoun Sociology Fifth Edition Alfred A Knopf/New york, 1989, P.225

13

“Thiết chế là tập hợp bền vững của các chuẩn mực, giá trị, vị thế, vai trò và các nhóm tồn tại và phát

triển nhu cầu cơ bản của xã hội Thiết chế có xu hớng bảo thủ, có mối tơng quan chặt chẽ trong cơ cấu xã hội, điều chỉnh những thay đổi quan trọng trong thiết chế khác và là nơi có các vấn đề xã hội rộng lớn Xem Ian Robertson Sociology Third Edition Worth Publishers, Inc New York, 1987, P.111

14

Luật hụn nhõn và gia đỡnh.NXB Chớnh trị quốc gia.H; 2000, tr12

Trang 34

Về nhu cầu gia đình có thể hiểu theo 2 nghĩa:

- Một là nhu cầu tiếp cận, sử dụng dịch vụ của cả gia đình, vì gia đình

là một hệ thống chỉnh thể có những nhu cầu chung cho cả nhà

- Hai là nhu cầu của các thành viên trong gia đình, vì nhu cầu của ười lớn khác với nhu cầu của trẻ em, nhu cầu của nam giới khác với nữ giới… Sự đa dạng nhu cầu đã quy định đa dạng của các loại dịch vụ

có thể là gia đình tự dịch vụ cho bản thân)

Vậy nhu cầu dịch vụ gia đình, là tình trạng nhân sinh trong đó gia đình với tư cách là nhóm xã hội và là thiết chế xã hội cơ bản đòi hỏi được phân phối hoặc trao đổi vật chất, năng lượng, thông tin dưới dạng các sản phẩm, hàng hoá, tri thức… nhằm sinh tồn, biến đổi và phát triển các thành viên và toàn thể gia đình của họ, cũng như toàn thể xã hội

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi quan niệm tất cả các dịch vụ do Nhà nước, tập thể, hay tư nhân, các dịch vụ kinh tế và xã hội nói chung mà gia đình có nhu cầu và sử dụng đều được gọi là các dịch vụ gia đình

Dịch vụ chăm sóc học tập được thể hiện qua những yếu tốt sau

- Về mức độ thuận lợi của các cơ sở dịch vụ;

- Về trình độ chuyên môn của các dịch vụ;

- Về thái độ phục vụ;

- Về nội dung của dịch vụ trong sóc học tập cho con cái sẽ tập chung vào hai loại hình dịch vụ chính là dịch vụ nhằm giảm thiểu thời gian cho các gia đình và dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng học tập của con cái

Trang 35

Chương 2 NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC HỌC TẬP CHO CON

CÁI CỦA CÁC GIA ĐÌNH HÀ NỘI HIỆN NAY

1 Đặc điểm kinh tế xã hội địa bàn khảo sát

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú Với địa thế đẹp và thuận lợi, Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học lớn, đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam Địa giới hành chính Thành phố, phía Đông giáp với tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hưng Yên, phía Bắc giáp với tỉnh Thái Nguyên, phía Tây và phía Nam giáp với tỉnh Vĩnh Phúc và Hà Tây

Diện tích tự nhiên của Hà Nội là 921,8 km2 Dạng địa hình chủ yếu của Hà Nội là đồng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi đại, bãi bồi cao và các bậc thềm, xen giữa là các vùng trũng với hồ, đầm (dấu vết của các lòng sông cổ)

Dân số thành phố Hà Nội tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2006 có 3.216.700 người trong đó dân số nam là 1.612.400 người, dân số nữ là 1.604.300 người; dân số nội thành là 2.1.1.600 người (chiếm 65,3%), dân số ngoại thành là 1.115.100 người (chiếm 34,7%) Dân số Hà Nội phân bố không đều giữa các đơn vị hành chính Mật độ dân số trung bình của Hà Nội năm 2006 là 3.490 người/km2, mật độ này cao nhất cả nước

Phường Cống Vị 3,

Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Cống Vị là phường trung tâm của quận Ba Đình, có tổng diện tích là 1,78km2, trong đó đất đô thị chiếm 1,2km2, các loại đất khác chiếm 0,58km2.

Địa giới hành chính của phường, phía Đông giáp với phường Đội Cấn,

3

Báo cáo từ Uỷ ban nhân dân phường trong quá trình đoàn đi khảo sát

Trang 36

phường Kim Mã, phía Tây giáp với phường Quan Hoa, phường Nghĩa Đô, phía Nam giáp với phường Ngọc Khánh, phía Bắc giáp với phường Thuỵ Khuê, quận Tây Hồ

và làm việc tự do là 2.500 hộ chiếm 24.90% Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn phường là 350.000đ/tháng Số hộ giầu chiếm 4,5%, số hộ khá chiếm 40%, số hộ có mức sống trung bình là 55,32%, số hộ nghèo chiếm 0.18%

Về y tế: Toàn phường có 200 bác sĩ, 150 y sĩ, 180 dược sĩ Trong đó,

có 40 bác sĩ tư nhân, 12 quầy thuốc tư nhân đang hoạt động trên địa bàn ường Các dịch vụ trợ cấp xã hội (bảo hiểm y tế và trợ cấp khó khăn) cũng khá phát triển; 80% hộ dân trong phường có bảo hiểu y tế; số hộ được trợ cấp khó khăn là 333 hộ, trong đó có 300 hộ được trợ cấp khó khăn ngắn hạn (đột xuất), 33 hộ được trợ cấp khó khăn dài hạn

ph-Về giáo dục: Mô hình giáo dục tại phường rất phong phú, trên địa bàn phường hiện có 30 trường mẫu giáo (cả công lập và ngoài công lập) đáp ứng được nhu cầu học tập của 5.277 trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo trong địa bàn phường Trên địa bàn phường có 03 trường Tiểu học, đón nhận 2.900 học sinh tiểu học (trong tổng số 3.286 em trong độ tuổi tiểu học), có 02 trường Trung học cơ sở , tỷ lệ bỏ học trong độ tuổi THCS là 0,01%o

Hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển các dịch vụ xã hội

Trên địa bàn phường, trong tổng số 90 doanh nghiệp đang hoạt động, chỉ có 4 doanh nghiệp nhà nước chiếm 4,4%, còn lại là số doanh nghiệp tư nhân (86 doanh nghiệp) chiếm 95.6% Tính đến thời điểm này số lượng các

Trang 37

cơ sở dịch vụ phát triển chậm, theo số liệu thống kê, hiện nay toàn phường

có 3 cơ sở sản xuất dịch vụ, 70 cơ sở dịch vụ sinh hoạt, 14 cơ sở dịch vụ văn hoá vui chơi giải trí

Phường Giáp Bát 3

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Phường Giáp bát có tổng diện tích là 0.91298 km2,

địa giới hành chính phía Đông giáp với phường Tương Mai, phía Tây giáp với phường Định Công, phía Nam giáp với phường Thịnh Liệt, phía Bắc giáp với quận

hai Bà Trưng

Tình hình kinh tế xã hội

Phường có tổng dân số là 14.552 người, trong đó nam giới chiếm 46,7%, nữ giới chiếm 53,3% Số hộ trong phường là 3.449 hộ, trong đó có 1.129 hộ làm kinh doanh buôn bán dịch vụ chiếm 32,73% ; 1.061 hộ làm việc tại cơ quan nhà nước chiếm 30,76%; số hộ làm việc tự do là 687 chiếm 19,91% và 572 hộ làm việc tại cơ sở tư nhân chiếm 16,58%

Đời sống của người dân tại phường trong những năm gần đây đã

đư-ợc cải thiện Đến năm 2003 thu nhập bình quân 300 USD/năm/người; số hộ giầu chiếm 9,52%, hộ khá chiếm 40%, hộ trung bình chiếm 50%, hộ nghèo chiếm 0,48%

Chăm sóc y tế và giáo dục:

Chăm sóc y tế: Toàn phường có 24 bác sĩ, 4 y sĩ, 4 y tá, 2 nữ hộ sinh, trong đó có 21 bác sĩ đang làm việc tại cơ sở tư nhân Số dân được hưởng phúc lợi xã hội khá cao, 85% người dân có bảo hiểm y tế; số hộ được h-ưởng trợ cấp khó khăn là 57 (trong đó có 38 dài hạn, 19 ngắn hạn) Phường

có 635 số trẻ từ 0-5 tuổi, trong đó số trẻ bị suy dinh dưỡng là 24 em (cấp độ 1), số trẻ được tiêm chủng tại địa phương 630 cháu đạt 99%

3

Báo cáo từ Uỷ ban nhân dân phường trong quá trình đoàn đi khảo sát

Trang 38

Trong lĩnh vực giáo dục: Đội ngũ giáo viên cấp I có 40 người, giáo viên cấp 2 có 58 người Trên địa bàn là phường có 6 trường học, trong đó

có 4 trường mẫu giáo (2 trường công lập và 2 trường ngoài công lập) 1 trường tiểu học và 1 trường trung học cơ sở Số trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo có 227 em, trong đó số trẻ em được đến trường là 201; số trể em trong

độ tuổi tiểu học có 569 em, trong đó số đ ược đến trường là 569 em; số trẻ

em trong độ tuổi THCS có 625 em, trong đó số được đến trờng là 625 em

Về hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển các dịch vụ xã hội

Thời gian qua trên địa bàn phường các hoạt động kinh doanh nghiệp

và các điểm cung cấp dịch vụ xã hội phát triển không đều Theo số liệu thống kê tính đến năm 2003 trên địa bàn phường có 11 doanh nghiệp, trong

đó có 4 doanh nghiệp nhà nước chiếm 36,3%, 7 doanh nghiệp tư nhân chiếm 63,7% Ngược lại, số hộ làm kinh doanh, buôn bán, cung cấp các dịch

vụ chính tại phường rất cao chiếm tới 129 cơ sở Tính đến thời điểm này tại phường Giáp Bát có 76 cơ sở dịch vụ sinh hoạt, 32 cơ sở dịch vụ văn hoá,

vui chơi giải trí như massage, karaoke

Thị trấn Đông Anh 3

Vị trí địa lý và tổ chức hành chính

Thị trấn Đông Anh là trung tâm của huyện Đông Anh, giáp với 6 xã của huyện gồm: phía Đông giáp với xã Việt Hùng, xã Huy Lỗ; phía Tây giáp với xã Vĩnh Ngọc, xã Yên Dương; phía Nam giáp với Xuân nộn; phía Bắc giáp với Yên Khê

Tình hình kinh tế xã hội

Thị trấn có tổng diện tích là 453,73 ha, trong đó đất nông nghiệp có 50,66 ha, đất chuyên dùng có 278,91 ha, đất khác có 124,16 ha Dân số thị trấn tính đến tháng 12/2003 có 24.512 người, trong đó nam 13.352 người (54,47%) và nữ 11.160 người chiếm (45,53%) Trên địa bàn thị trấn có 6221

3

Báo cáo từ Uỷ ban nhân dân Thị trấn trong quá trình đoàn đi khảo sát

Trang 39

hộ dân Trong đó số hộ làm việc tại cơ quan nhà nước nhiều nhất với 4.986

hộ, bằng 20,3% Số hộ buôn bán dịch vụ có 1.117 hộ chiếm 4.5% Số hộ làm việc tại cơ sở tư nhân và làm nghề tự do 77 hộ chiếm 0.31%

Thu nhập bình quân theo đầu người là 500.000Đ /tháng/người dân Trong đó tổng số hộ gia đình có thu nhập khá là 2.050 hộ, số hộ có kinh tế nghèo là 49 hộ và số hộ có kinh tế trung bình là hộ 4.172 hộ

Về y tế: Theo thống kê, trên địa bàn Thị trấn có 23 bác sĩ, trong đó

có 4 bác sĩ làm việc trong cơ sở tư nhân Có 07 quầy thuốc tư nhân 80% tổng số dân số của Thị trấn có bảo hiểm y tế 57 hộ được hưởng trợ cấp khó khăn, trong đó 38 hộ được hưởng trợ cấp khó khăn ngắn hạn và 19 hộ được hưởng trợ cấp khó khăn dài hạn

Về giáo dục Tính đến năm 2003 toàn thị trấn Đông Anh có 1 trường PTCS, 2 trường tiểu học, 1 trường mẫu giáo do nhà nước quản lý, 8 trường mẫu giáo do cá nhân, gia đình quản lý và 2 trường công nhân kỹ thuật do sở Lao động quản lý

Tổng số trẻ em độ tuổi mẫu giáo là 961 em Số trẻ em trong độ tuổi Tiểu học 1.420, trong đó số trẻ đến trường là 1.419 em Số trẻ trong độ tuổi Trung học 1.082 em, trong đó số trẻ được đến trường là 1080 (có hai cháu tật nguyền)

Về sản xuất kinh doanh và phát triển dịch vụ

Đến giữa năm 2003 trên địa bàn Thị trấn có 54 doanh nghiệp, trong

đó có 18 doanh nghiệp nhà nước, chiếm 33% tổng số doanh nghiệp; 36 doanh nghiệp tư nhân, chiếm 67.0% Bên cạnh đó theo số liệu thống kê trên địa bàn Thị trấn còn có 57 cơ sở dịch vụ, trong đó có 17 cơ sở dịch vụ sản xuất, 12 số cơ sở dịch vụ sinh hoạt, 21 cơ sở dịch vụ văn hoá, vui chơi giải trí

2 Thông tin về mẫu khảo sát

Trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp, cuộc điều tra được tiến hành trên phạm vi một số quận huyện, xã phường của Thủ đô Hà

Trang 40

Nội là trung tâm kinh tế chính trị lớn nhất cả nước Tại thành phố, các quận/huyện; xã/phường được chọn một cách ngẫu nhiên Mẫu nghiên cứu của đề tài gồm hai loại đối tượng các hộ gia đình (làm các nghề nghiệp khác nhau) và người/cơ sở cung cấp dịch vụ, được chọn dựa trên sự kết hợp giữa phương pháp chọn mẫu phâm cụm địa lý – hành chính và phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên tại cơ sở Tổng số người được tham khảo ý kiến là 200, trong đó có 150 người đại diện cho các hộ gia đình có nhu cầu sử dụng dịch

vụ và 50 người là cá nhân hoặc đại diện cho cơ sở cung cấp dịch vụ Cơ cấu mẫu được phân bổ như sau:

Giới tính

Tại địa bàn khảo sát, các hộ gia đình được lựa chọn một cách ngẫu nhiên Trong tổng số 200 đại diện hộ gia đình được hỏi có 45 nam giới chiếm 22,5% và nữ 155, chiếm 77,5%

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Tự Đam – Gia đình và việc hình thành nhân cách thanh niên – NXB. Thanh niên – Hà Nội, 1997 Khác
2. Donald Light, Suzane Keller, Craig Calhoun. Sociology. Fifth Edition. Alfred A.Knopf/New York, 1989, P.225 Khác
3. Đinh Văn Vang, Đỗ Ngọc Hà - Người mẹ trẻ Hà Nội: Suy nghĩ về nguyên nhân, thói hư tật xấu biểu hiện ở con mình Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu khoa học về phụ nữ, 1991 Khác
4. E.A. Shultz và R.H.Lavenda. Nhân học - một quan điểm về tình trạng nhân sinh. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Khác
5. Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 1, NXB Trung tâm biện soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1995, tr 671-672 Khác
6. Từ điểm bách khoa Việt Nam, tập 2, NXB Nhà xuất bản từ điển bách khoa, Hà Nội, 2002, tr 84 Khác
7. Từ điểm bách khoa Việt Nam, tập 2, NXB Nhà xuất bản từ điển bách khoa, Hà Nội, 2002, tr 267 Khác
8. Collins Dictionnary of Sociology . David Jary & Julia Jary. Harper Collins Publishers, 1992: p 419. tr 563 và 593, 594 Khác
9. Ngân hàng thế giới. Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi. Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1997. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 1988, tr 309 Khác
10. Ian Robertson Sociology. Third Edition. Worth Publishers, Inc. New York, 1987, P111 Khác
11. J.C. Scott. Nền kinh tế đạo đức của nông dân. Bạo loạn và sinh tồn ở Đông Nam Á New Haven anh Lodon, Yale University Press, 1976 Khác
12. S.L. Popkin. Người nông dân hợp lý. Nền kinh tế chính trị của xã hội nông thôn Việt Nam. University of California Press. Berkeyly – LosAngeles – London; 1979 Khác
13. Nguồn văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Phần thứ hai: Phương hướng nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996- 2000, tr 167, 168 – Nhà xuất bản chính trị quốc gia) Khác
14. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, tr24 – Nhà xuất bản chính trị quốc gia Khác
15. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia, Văn phòng Quốc hội Khác
16. Luật Thương Mại- Cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia – Văn phòng Quốc hội Việt Nam, 15 năm đổi mới và định hướng phát triển đến năm 2010 – Nhà xuất bản chính trị quốc gia Khác
17. Niên giám thống kê 2002. Nhà xuất bản thống kê Hà Nội 2003 Khác
19. Tư liệu thu thập tại chỗ qua báo cáo của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân phường Giáp Bát, Ủy ban Nhân dân phường Cống Vị, 20. Ủy ban Nhân dân Thị Trấn Đông Anh Khác
21. Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên) – Gia đình, nhà trường và xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ người tài – NXB. Giáo dục – Hà Nội, 1996 Khác
22. Mai Huy Bích - Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng NXB. Văn hoá thông tin – Hà Nội, 1993 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ KHUNG LÝ THUYẾT - hu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay
SƠ ĐỒ KHUNG LÝ THUYẾT (Trang 14)
Bảng 1: Mức độ tiếp cận sử dụng các loại hình dịch vụ chăm sóc học - hu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay
Bảng 1 Mức độ tiếp cận sử dụng các loại hình dịch vụ chăm sóc học (Trang 49)
Bảng 2:  Đánh giá của các hộ gia đình về trình độ chuyên môn và thái - hu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay
Bảng 2 Đánh giá của các hộ gia đình về trình độ chuyên môn và thái (Trang 51)
Bảng 3:  Đánh giá của các hộ gia đình về mức độ thuận lợi và khó khăn  khi tiếp cận các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc học tập con cái - hu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay
Bảng 3 Đánh giá của các hộ gia đình về mức độ thuận lợi và khó khăn khi tiếp cận các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc học tập con cái (Trang 54)
Bảng 4: Mức độ sử dụng các loại hình dịch vụ chăm sóc giáo dục cho - hu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay
Bảng 4 Mức độ sử dụng các loại hình dịch vụ chăm sóc giáo dục cho (Trang 66)
Bảng 5: Nhu cầu và hành vi đang sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập - hu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay
Bảng 5 Nhu cầu và hành vi đang sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập (Trang 70)
Hình  dịch  vụ  nhằm  giảm  chi  phí  thời  gian  mà  còn  các  loại  hình  dịch  vụ  nhằm nâng cao chất lượng học tập - hu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay
nh dịch vụ nhằm giảm chi phí thời gian mà còn các loại hình dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng học tập (Trang 72)
Bảng 7: Ảnh hưởng của nghề nghiệp đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc - hu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay
Bảng 7 Ảnh hưởng của nghề nghiệp đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc (Trang 74)
Bảng 8: Nhu cầu và hành vi sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập con cái theo tương quan thu nhập - hu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay
Bảng 8 Nhu cầu và hành vi sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập con cái theo tương quan thu nhập (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm