1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu và thực trạng hoạt động nghề công tác xã hội hiện nay qua đánh giá của nhân viên công tác xã hội tại Hà Nội

127 2,9K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đặt ra những câu hỏi để phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam như: Nhiệm vụ của công tác xã hội, việc đào tạo nên được mở rộng ở cấp nào và phát triển như thế nào, làm thế n

Trang 1

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THANH HƯƠNG

NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HIỆN NAY QUA ĐÁNH GIÁ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2012

Trang 2

ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THANH HƯƠNG

NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HIỆN NAY QUA ĐÁNH GIÁ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI HÀ NỘI

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số:60 31 30 LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thu Hà

Hà Nội - 2012

LỜI CAM ĐOAN

Trang 3

v

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa của đề tài 8

3.1.Ý nghĩa lý luận 8

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 8

4 Câu hỏi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 9

4.1 Câu hỏi nghiên cứu: 9

4.2.Mục đích nghiên cứu 9

4.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 10

5.1 Đối tượng nghiên cứu 10

5.2 Khách thể nghiên cứu 10

5.3 Phạm vi nghiên cứu 10

6 Phương pháp nghiên cứu 10

6.1 Phương pháp luận nghiên cứu 10

6.2 Phương pháp thu thập thông tin 11

6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu 11

6.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 12

6.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm 13

6.2.4 Phương pháp quan sát 13

7 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 14

7.1 Giả thuyết nghiên cứu 14

7.2 Khung lý thuyết 11

NỘI DUNG CHÍNH 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1.Một số lý thuyết xã hội học vận dụng trong nghiên cứu 12

1.2 Hệ thống khái niệm công cụ 16

Trang 4

vi

1.2.1 Khái niệm nghề: 16

1.2.2 Công tác xã hội và nghề CTXH 16

1.2.3 Nhân viên CTXH 19

1.2.4 Khái niệm mạng lưới CTXH 20

1.2.5 Khái niệm nhu cầu xã hội 21

1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 21

Chương 2: ĐÁNH GIÁ CỦA NHÂN VIÊN CTXH VỀ NHU CẦU HOẠT ĐỘNG NGHỀ CTXH HIỆN NAY 24

2.1 Nhận thức của nhân viên CTXH về nghề CTXH 24

2.2 Vai trò của hoạt động CTXH qua ý kiến đánh giá của NV CTXH 33

2.3 Đánh giá nhu cầu xã hội về hoạt động CTXH trong một số lĩnh vực 40

Chương 3: ĐÁNH GIÁ CỦA NHÂN VIÊN CTXH VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHỀ CTXH HIỆN NAY 50

3.1 Đánh giá của nhân viên CTXH về chính sách CTXH hiện nay 51

3.2 Thực trạng nguồn nhân lực CTXH 54

3.2.1 Số lượng nhân lực CTXH hiện nay 54

3.2.2 Chất lượng nhân lực CTXH 55

3.3 Thực trạng mạng lưới CTXH 65

3.4 Hiệu quả bước đầu của hoạt động CTXH 69

3.5 Một số khuyến nghị về giải pháp phát triển nghề công tác xã hội trong giai đoạn tới 73

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC

Trang 6

viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Danh mục các bảng Trang

Bảng 2.1 Nhận thức của cán bộ CTXH về hoạt động nghề CTXH 26 Bảng 2.2 Đánh giá của nhân viên CTXH về nhu cầu của xã hội với CTXH hiện nay 42 Bảng 2.3 Đánh giá của nhân viên CTXH về lĩnh vực đòi hỏi nhu cầu CTXH… 44 Bảng 2.4 Thảo luận nhóm nhân viên CTXH đánh giá lĩnh vực hoạt động đòi hỏi nhu cầu cao về hoạt động nghề CTXH ở Hà Nội hiện nay 49 Bảng 3.1 Đánh giá của nhân viên CTXH tại Hà Nội về hệ thống chính sách CTXH hiện nay ………52 Bảng 3.2 Nhận xét của nhân viên CTXH về cán bộ làm CTXH tại Hà Nội………60 Bảng 3.3 Đánh giá của nhân viên CTXH về hiệu quả hoạt động CTXH trong cơ quan ………… 70

Danh mục hình biểu đồ

Biểu đồ 2.1: Đánh giá của nhân viên CTXH về vai trò CTXH 35 Biểu đồ 3.2: Đánh giá của nhân viên CTXH về mạng lưới CTXH……… 56 Biểu đồ 3.1: Nhận xét của nhân viên CTXH cán bộ làm CTXH tại Hà Nội…67

Trang 7

tế chi phối mối quan hệ của con người, các thành viên trong gia đình ít có thời gian quan tâm đến nhau đặc biệt là việc chăm sóc những thành viên yếu thế trong gia đình: người già, trẻ em, người khuyết tật Qua số liệu thống kê hiện nay cho thấy trẻ em, phụ nữ thường là nạn nhân của bạo lực gia đình, họ cũng chính là nhóm người bị ảnh hưởng bởi nguy cơ đói nghèo bệnh tật Hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh như: mại dâm, ma túy nghiện rươu thường xuyên gắn liền với thất nghiệp và ít

cơ hội phát triển kinh tế Cùng với vấn đề xã hội sức khỏe con người cũng bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của kinh tế Điều đó đòi hỏi phải có các nhà chuyên môn có kiến thức, kỹ năng chuyên nghiệp

Theo thống kê Bộ lao động thương binh Xã hội năm 2010 nước ta có khoảng 7,5 triệu người cao tuổi, 5.4 triệu người tàn tật, 1.7 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khoảng 3.5 triệu hộ gia đình thuộc hộ nghèo và cận nghèo Hiện nay cả nước

có 500 cơ sở bảo trợ xã hội dành cho người già cô đơn, trẻ mồ côi, trẻ khuyêt tật, nhiễm độc da cam và các trung tâm 05, 06 dành cho người nghiện ma túy, những người từng hành nghề mại dâm cùng nhiều đối tượng khác cần có sự bảo vệ hỗ trợ của những nhân viên công tác xã hội [10] Bên cạnh đó là các vấn đề xã hội nảy sinh như tệ nạn xã hội, cuộc sống nghèo khổ, vấn đề phát sinh trong nhóm gia đình tại các đô thị, làng quê chịu ảnh hưởng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, khoảng cách giầu nghèo giữa khu vực ngày càng tăng

Để đạt được mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá giải quyết vấn đề xã hội chúng ta cần phải chuyên môn hoá các hoạt động nghề nghiệp Công tác xã hội

đã ra đời đáp ứng nhu cầu xã hội phát triển và có vai trò quan trọng trong đời sống, bảo vệ quyền con người, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của cá nhân và gia đình Công tác xã hội ra đời góp phần hình thành những giải pháp cho các hậu

Trang 8

2

quả xã hội tiêu cực tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó là sự thay đổi trong cấu trúc và khủng hoảng gia đình, khoảng cách giàu nghèo, trẻ em lang thang, người già cô đơn, các tệ nạn xã hội mại dâm, ma túy Công tác xã hội phát triển góp phần thực hiện hiệu quả công bằng xã hội, giải quyết vấn đề nghèo đói và các vấn đề xã hội phức tạp khác mà nước ta cũng như các nước đang phát triển trên thế giới phải đối mặt Công tác xã hội ở nước ta hiện nay đã được coi là một nghề Với mục tiêu nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội đảm bảo công bằng ổn định xã hội

Những tác động của quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường đã xuất hiện nhiều đối tượng mới cần sự tư vấn và trợ giúp xã hội Sự xuất hiện đa dạng của các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương cùng các nhu cầu hỗ trợ rất khác nhau cho thấy công tác xã hội đóng vai trò không thể thay thế trong việc cung cấp các dịch

vụ xã hội Phát triển công tác xã hội là một đòi hỏi khách quan trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, công tác xã hội ở Việt Nam mới ở giai đoạn khởi đầu, là một nghề mới Đội ngũ cán bộ nhân viên công tác xã hội còn thiếu và chưa chuyên nghiệp Số cán bộ được đào tạo đúng chuyên môn chiếm tỷ lệ thấp, chủ yếu

là qua các lớp ngắn hạn về CTXH, các cán bộ không đúng chuyên ngành chiếm một

tỷ lệ lớn Mặc dù thâm niên công tác của nhân viên công tác xã hội tương đối cao nhưng chuyên môn, nghiệp vụ của họ lại rải rác ở nhiều lĩnh vực như y tế, điều dưỡng, giảng dạy, luật, xã hội học, kế toán Nhu cầu xã hội lớn nhưng có những đối tượng chỉ nhận được các hoạt động trợ cấp xã hội của đội ngũ cán bộ CTXH không chuyên ở các trung tâm bảo trợ xã hội, Hội chữ thập đỏ, các đoàn thể xã hội Do vậy, hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng dân cư không cao, thiếu tính bền vững Ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định đề án 32, công nhận CTXH là một nghề đồng thời cũng quy định giai đoạn 2010 – 2015 cần “phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức,

Trang 9

3

nhân viên, cộng tác viên CTXH trong cả nước, phấn đấu đến năm 2015 tăng khoảng 10% Trong đó mỗi xã phường, thị trấn ít nhất có từ 01 đến 02 cán bộ, viên chức, nhân viên CTXH thuộc chức danh không chuyên trách hoặc cộng tác viên công tác xã hội Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn

kỹ năng cho 50% số cán bộ, viên chức và nhân viên cộng tác viên CTXH đang làm việc tại các xã phường, thị trấn, các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH” [3]

Hà Nội là một trong những thành phố phát triển của cả nước nơi diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh chóng kéo theo những các vấn đề, tệ nạn xã hội Đồng thời là nơi có nhiều trung tâm dịch vụ, cán bộ CTXH ở các cấp ngành khác nhau Nhân viên công tác xã hội là những người đã được đào tạo hoặc làm việc trong lĩnh vực công tác xã hội Họ là những người có hiểu biết tương đối đối việc phát triển CTXH Việc đánh giá của nhân viên CTXH được xem là nguồn thông tin đáng tin cậy để từ đó có thể đánh giá xem xét sự phát triển CTXH nước ta đang diễn ra như thế nào, sự phát triển ấy đã đáp ứng nhu cầu về phát triển CTXH chưa Trong quá trình phát triển nghề CTXH có cần phải thay đổi gì để phát triển nghề CTXH theo hướng chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu mục tiêu đề án 32 của Chính phủ trong giai

đoạn tới Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Nhu cầu và thực trạng hoạt động nghề công tác xã hội hiện nay qua đánh giá của nhân viên công tác xã hội tại Hà Nội”

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Những vấn đề trong lĩnh vực hoạt động CTXH đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu đặc biệt là trong những năm gần đây Bởi tính cấp thiết của CTXH ra đời đáp ứng nhu cầu xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội Một số khía cạnh trong nghiên cứu CTXH như: nghiên cứu về nguồn nhân lực, nhu cầu đào tạo CTXH, mạng lưới dịch vụ CTXH, những lĩnh vực đòi hỏi đáp ứng nhu cầu CTXH, hệ thống cơ sở thực hành CTXH

Nghiên cứu về nhu cầu đào tạo và nhu cầu xã hội đối với CTXH

Theo kết quả nghiên cứu “Nguồn nhân lực và nhu cầu đào tạo công tác xã hội ở Việt Nam” – do Trường Đại học Lao động - Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 10

4

tiến hành trên địa bàn 4 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Lạng Sơn, Tp Hồ Chí Minh, và Đồng Tháp) với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Unicef, năm 2005 Nghiên cứu đưa ra những số liệu định lượng về thực trạng phát triển công tác xã hội Đồng thời tác giả phân tích bối cảnh phát triển công tác xã hội ở nước ta gắn liền với mục tiêu xoá đói giảm nghèo, công bằng trong tiếp nhận những lợi ích từ sự phát triển kinh

tế Việc phát triển công tác xã hội như một nghề được xem như việc giải quyết sự gia tăng của các vấn đề xã hội đi kèm theo phát triển kinh tế và đáp ứng đòi hỏi phải

có cách tiếp cận mang tính khoa học và hệ thống Tác giả đặt ra những câu hỏi để phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam như: Nhiệm vụ của công tác xã hội, việc đào tạo nên được mở rộng ở cấp nào và phát triển như thế nào, làm thế nào để có thể phát triển công tác xã hội một cách tập thể… Để có thể nắm bắt được bức tranh toàn cảnh về thực trạng công tác xã hội tại Việt Nam, Phòng bảo vệ trẻ em của UNICEF Việt Nam kết hợp cùng với Bộ Lao động thương binh Xã hội, Ủy ban dân

số Gia đình và Trẻ em, Bộ giáo dục Đào tạo và 3 trường đại học để tiến hành một cuộc khảo sát và phân tích hiện trạng về lĩnh vực an sinh xã hội, phạm vi kiến thức

về công tác xã hội và các quan điểm của nhiều tổ chức, ban ngành liên quan về phát triển công tác xã hội như một nghề ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy những người trả lời (60%) cho rằng họ đã được đào tạo công tác xã hội Việc đào tạo này phần lớn nhằm nói đến các khoá đào tạo ngắn hạn được cấp chứng chỉ, và chỉ có khoảng từ 15% đến 20% được đào tạo công tác xã hội cấp đại học Một số người trả lời họ được đào tạo công tác xã hội thực tế là những người có bằng đại học của một chuyên ngành hoặc lĩnh vực khác và họ có học qua những lớp đào tạo tại chức về công tác xã hội Loại hình công việc các cán bộ đang đảm nhận phần lớn là làm việc với cá nhân, gia đình và phát triển cộng đồng, còn công tác tham vấn, quản lý chương trình và công tác hành chính là loại hình công việc chiếm phần nhỏ nhất Từ những kết quả nghiên cứu như vậy, tác giả thảo luận khung chương trình phát triển công tác xã hội và đưa ra một số ý tưởng cho phát triển công tác xã hội ở Việt Nam

“Nguồn nhân lực Công tác xã hội và nhu cầu đào tạo” - Đặng Kim Khánh

Ly trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học 2010 – Đổi mới CTXH trong điều kiện nền

Trang 11

và nâng cao trình độ

Theo nghiên cứu tác giả Nguyễn Thị Thu Hà “Nhu cầu hoạt động CTXH

trong một số lĩnh vực tại Việt Nam hiện nay” – trong Tạp chí Xã hội học – Viện

XHH, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, ISSN 0866 – 7659, 2011 Nhu cầu phát triển CTXH ở Việt Nam ngày càng lớn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Cán bộ CTXH cần phải có những kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết để đáp ứng hiệu quả và hợp lý nhu cầu xã hội Với nhiều vấn đề xã hội đặt ra thì nhu cầu

về một đội ngũ CTXH đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng là rất cần thiết với Việt Nam Tác giả phân tích nhu cầu xã hội đối với hoạt động CTXH trên một số lĩnh vực cũng như một số nhóm đối tượng như:

Nhu cầu CTXH trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo vai trò của cán bộ nhân viên CTXH là rất quan trọng bởi cán bộ nhân viên CTXH là người giúp những người nghèo nhận ra và phát huy tối đa năng lực của mình cũng như gia đình để vươn lên thoát nghèo bền vững

Nhu cầu xã hội trong lĩnh vực chăm sóc trẻ em không chỉ giới hạn ở những nhóm trẻ khó khăn thiệt thòi về điều kiện vật chất hay thể chất mà còn với cả những trẻ em gặp khó khăn về tinh thần Trẻ em là nhóm đối tượng đặc biệt cần chú trọng đến công tác phòng ngừa, loại bỏ sớm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện cuả trẻ…

Nhu cầu xã hội trong lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi bởi có hàng triệu người cao tuổi đang cần đến sự hỗ trợ, trợ giúp xã hội trong khi đó về mặt lĩnh vực

Trang 12

6

nhu cầu trợ giúp là đa dạng và rất quan trọng Cần phải có một đội ngũ cán bộ CTXH chuyên nghiệp, đông đảo được đào tạo để đáp ứng nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi…Tác giả bàn đến nhu cầu xã hội trong một số lĩnh vực khác như thanh niên, nhu cầu hoạt động CTXH trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe Để phát triển CTXH chuyên nghiệp, CTXH ở Việt Nam cần phải giải quyết được những nhu cầu xã hội đặt ra mà trước hết là đào tạo về số lượng cũng như đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực CTXH

“Nhu cầu về hoạt động CTXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay” – tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa trong kỷ yếu hội thảo khoa học: Đổi mới

CTXH trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế những vấn đề lý luận

và thực tiễn - 2010 Tác giả đã đưa ra những nhu cầu hoạt động CTXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội Nhu cầu can thiệp CTXH trong một số lĩnh vực của đời sống như nhóm yếu thế trong xã hội, bất kỳ nhóm nào cần chăm sóc sức khỏe tâm thần, các lĩnh vực y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng CTXH đáp ứng nhu cầu nhóm đối tượng có hoàn cảnh bên cạnh những nhóm đối tượng bất ổn của xã hội Những nhu cầu trong hoạt động đào tạo CTXH, đội ngũ nhân viên CTXH còn thiếu và yếu chưa đảm bảo được chất lượng Trong thời gian tới cần đẩy mạnh hơn nữa phát triển CTXH theo hướng chuyên nghiệp hóa gắn liền với thực tiễn Những nhu cầu

về hoạt động nghiên cứu thuộc lĩnh vực CTXH: nghiên cứu vấn đề liên quan đến đối tượng yếu thế, những phương pháp, kỹ thuật, kỹ năng thực hành CTXH…Bên cạnh đó tác giả có một số phương hướng thúc đẩy hoạt động CTXH nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển CTXH: cần thể chế hóa ngành CTXH một cách chính thức, chú trọng hơn nữa công tác đào tạo sinh viên chuyên ngành CTXH

Những nghiên cứu về nhu cầu xã hội đối và nhu cầu đào tạo về CTXH các tác giả đều khẳng định: hiện nay CTXH có vai trò quan trọng, trong từng lĩnh vực hoạt động đòi hỏi nhu cầu về hoạt động CTXH chuyên nghiệp Để đáp ứng đòi hỏi của xã hội, chúng ta cần phải đào tạo đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp có kỹ năng, chuyên môn, phương pháp để hoạt động CTXH đạt được hiệu quả cao về bền vững

Trang 13

7

Nghiên cứu về thực trạng hoạt động CTXH

Đề tài cấp Bộ “Luận cứ khoa học để xác định công tác xã hội trở thành

một nghề” của PGS.TS Nguyễn Tiệp (chủ nhiệm) Đề tài đã đưa ra cơ sở khoa học

những luận cứ để xác định CTXH là một nghề, một hoạt động nghề nghiệp chuyên môn Những cơ sở, tiêu chí để xác định CTXH trở thành một nghề Trên cơ sở nghiên cứu tác giả đánh giá tình hình phát triển CTXH ở Việt Nam Kết quả điều tra

là bức tranh đánh giá thực trạng về đối tượng, cán bộ làm CTXH trực tiếp giúp đỡ các nhóm đối tượng: người già cô đơn, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, gái mại dâm, người khuyết tật, gia đình nghèo, nạn nhân chiến tranh, người thất nghiệp, người khuyết tật Qua đó nội dung hoạt động của CTXH cũng tập trung vào vấn đề như: Chăm sóc nâng đỡ những người yếu thế trong xã hội, công tác xóa đói giảm nghèo đặc biệt là vùng nông thôn, chăm sóc đời sống vật chất tinh thân cho người đã hoàn thành nghĩa vụ lãnh đạo người về hưu, bị tai nạn lao động… Phát triển CTXH ở Việt Nam là cần thiết và xu hướng tất yếu và phải xây dựng mô hình phát triển CTXH một cách chuyên nghiệp Tác giả đưa ra một số khuyến nghị để xây dựng phát triển nghề CTXH như: Xây dựng tiêu chuẩn, chức danh nghề CTXH, đối tượng nghề, xây dựng quy điều đạo đức nghề nghiệp cho CTXH, thành lập hiệp hội nghề nghiệp CTXH CTXH phát triển chuyên nghiệp phải chú ý đến trình độ đào tạo CTXH một cách chuyên nghiệp

Theo Viện Khoa học lao động và Xã hội đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ CTXH và đề xuất kế hoạch mô hình hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH từ trung ưng đến địa phương” – Dự án hỗ trợ phát

triển nghề CTXH tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014 Đề tài đã đánh giá tìm hiểu nhu cầu CTXH đồng thời đánh giá thực trạng phát triển nghề CTXH hiện nay Đánh giá năng lực của hệ thống trung tâm dịch vụ CTXH, hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội

Từ đó đề xuất mô hình trung tâm và hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH từ Trung ương đến cộng đồng Theo kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu về CTXH của các đối tượng rất lớn Trong tương lai một số nhóm đối tượng của CTXH sẽ tăng quy

mô và nhu cầu sử dụng dịch vụ CTXH Các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội của Nhà

Trang 14

8

nước hiện nay hoạt động dựa vào nguồn ngân sách đang gặp nhiều khó khăn do kinh phí thấp và phân bố chưa kịp thời Trong khi đó có nhiều cơ sở ngoài công lập được mở ra nhằm đáp ứng dịch vụ CTXH cho các đối tượng yếu thế trong cộng đồng Nghiên cứu cho thấy thực trạng nguồn nhân lực CTXH, cán bộ tại địa phương chủ yếu là cộng tác viên hoặc bán chuyên trách Hiện nay công tac đào tạo chưa sâu rộng, các cán bộ có chuyên môn chưa nhiều

Như vậy, đã có những nghiên cứu đến nhu cầu và thực trạng hoạt động CTXH đặc biệt là nghiên cứu về nhu cầu xã hội đối với hoạt động CTXH Tuy nhiên, đánh giá về nhu cầu và thực trạng hoạt động CTXH qua ý kiến của nhân viên CTXH trên địa bàn Hà Nội thì chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến Nhân viên CTXH là những người làm việc trực tiếp với nhóm đối tượng, là những người đang hoạt động trong lĩnh vực CTXH Vì vậy những ý kiến đánh giá của họ về nhu cầu

và hoạt động CTXH có ý nghĩa lớn đặc biệt tại khu vực Hà Nội – trung tâm kinh tế văn hóa phát triển của cả nước và cũng là nơi diễn ra nhiều vấn đề xã hội cần phải giải quyết

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1.Ý nghĩa lý luận

Đề tài nhằm vận dụng một số lý thuyết xã hội học như lý thuyết nhu cầu, lý thuyết phát triển, lý thuyết biến đổi xã hội nghiên cứu tìm hiểu thực trạng phát triển nghề CTXH hiện nay, qua đánh giá của nhân viên CTXH Kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài mong muốn góp phần phong phú hơn tri thức xã hội học, thúc đẩy phát triển nghề công tác xã hội trong giai đoạn tới

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài nhằm hướng đến nghiên cứu đánh giá nhu cầu và thực trạng phát triển nghề CTXH hiện nay qua đánh giá của nhân viên CTXH ở một số khía cạnh: nhu cầu về hoạt động CTXH được đánh giá qua: nhận thức của nhân viên CTXH về nghề công tác xã hội, vai trò của CTXH trong phát triền đời sống kinh tế xã hội và nhu cầu CTXH trong một số lĩnh vực Đồng thời đánh giá thực trạng phát triển CTXH dựa trên một số tiêu chí: chất lượng và số lượng nguồn nhân lực, mạng lưới

Trang 15

9

CTXH, hệ thống chính sách và hiệu quả bước đầu của hoạt động CTXH Trên cơ sở

đó có thể đưa ra một số khuyến nghị về giải pháp để phát triển nghề CTXH một cách chuyên nghiệp

4 Câu hỏi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

4.1 Câu hỏi nghiên cứu:

1 Nhân viên công tác xã hội nhận thức như thế nào về nghề công tác xã hội?

2 Nhân viên công tác xã hội đánh giá gì về vai trò của công tác xã hội với sự phát triển kinh tế xã hội? Những lĩnh vực nào đòi hỏi nhu cầu cao về hoạt động công tác xã hội?

3 Thực trạng hoạt động nghề công tác xã hội hiện nay như thế nào? Nguồn nhân lực công tác xã hội có đủ số lượng, tốt về chất lượng để đáp ứng nhu cầu phát triển không? Hiệu quả của hoạt động CTXH hiện nay như thế nào?

4 Cần làm gì để phát triển nghề công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp đáp ứng mục tiêu đề án 32 của chính phủ

4.2.Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm tìm hiểu nhu cầu và thực trạng hoạt động CTXH hiện nay qua đánh giá của nhân viên CTXH tại Hà Nội Từ đó đưa ra những khuyến nghị về giải pháp cần thiết phát triển CTXH theo hướng chuyên nghiệp ở Việt Nam hiện nay

4.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đánh giá nhận thức về nghề CTXH của nhân viên CTXH Đánh giá vai trò CTXH trong đời sống kinh tế xã hội

Tìm hiểu nhu cầu hoạt động CTXH trong một số lĩnh vực hoạt động cụ thể Nghiên cứu làm rõ thực trạng phát triển nghề CTXH hiện nay ở một số khía cạnh: đội ngũ cán bộ, hệ thống chính sách, mạng lưới CTXH và hiệu quả hoạt động bước đầu của nghề CTXH trong một số lĩnh vực

Chỉ rõ một số yếu tố quan trọng trong phát triển CTXH qua đó đưa ra một số khuyến nghị về giải pháp để phát triển CTXH chuyên nghiệp hiện nay

Trang 16

10

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhu cầu và thực trạng phát triển nghề CTXH hiện nay qua đánh giá của nhân viên công tác xã hội tại Hà Nội

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Tư tưởng Macxit là kim chỉ nam cho mọi hoạt động lý luận và thực tiễn, trong nghiên cứu xã hội học nói chung và cụ thể trong đề tài này chúng tôi cũng lấy

tư tưởng Macxit làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu

Hệ thống quan niệm duy vật biện chứng của Marx về các quá trình, hiện tượng xã hội là sự thống nhất của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về lịch sử

và xã hội gọi đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử Chủ nghĩa Mác – Lenin khẳng định, ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và do tồn tại xã hội quy định Chủ nghĩa duy vật lịch sử đòi hỏi nghiên cứu xã hội phải phân tích các cá nhân hiện thực và hoạt động của họ, các điều kiện sống vật chất của họ trong tương quan với thực tế lịch sử xã hội cụ thể Phép biện chứng đòi hỏi xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ tác

Trang 17

11

động qua lại, trong mâu thuẫn và vận động phát triển không ngừng, luôn lấy thực tiễn làm cái gốc của nhận thức, mọi nhận thức đều phải tiến tới bản chất của hiện tượng Chính vì thế, nhận thức xã hội được bắt đầu từ các nghiên cứu thực nghiệm, tiến xa hơn, đi sâu hơn vào các sự kiện xã hội nhằm chỉ ra các quy luật xã hội học,

bổ sung và làm phong phú thêm các lý thuyết và giả thuyết mà nghiên cứu có nhiệm vụ kiểm tra và đánh giá các giả thuyết này, qua đó giúp ta có được những nhận thức sâu sắc hơn về bản chất của thực tế xã hội

Dựa trên quan điểm Macxit khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi xem xét vấn

đề trong mối liên hệ tác động và phát triển không ngừng của quá trình phát triển kinh tế đã làm nảy sinh các vấn đề xã hội Điều đó đòi hỏi phải giải quyết để đảm bảo sự cân bằng, ổn định xã hội Nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu cũng như thực trạng hoạt động CTXH cùng với hàng loạt các vấn đề xã hội đòi hỏi đáp ứng Từ đó tìm hiểu một số yếu tố quan trọng trong sự phát triển của CTXH để nhằm thúc đẩy hoạt động CTXH đạt hiệu quả cao Vận dụng nguyên tắc này chúng tôi có thể khảo sát đối tượng một cách toàn diện, khách quan, biện chứng và nhờ đó chỉ ra đặc thù của đối tượng nghiên cứu

6.2 Phương pháp thu thập thông tin

6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích nguồn tài liệu thứ cấp: số liệu khảo sát, số liệu thống kê, những số liệu liên quan đến hoạt động CTXH ở Hà Nội Trọng tâm phân tích số liệu định lượng của đề tài dựa trên một phần số liệu khảo sát về thực trạng hoạt động CTXH trong khuôn khổ đề tài cấp Nhà nước (nghị định thư số 45/2011/HD – NĐT): “Đổi mới CTXH trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập Quốc tế (Nghiên cứu kinh nghiệm CHXH CN Việt Nam và Liên bang Nga)

do TS Nguyễn Thị Thu Hà phó chủ nhiệm khoa Xã Hội học – Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn chủ nhiệm đề tài Đề tài được nghiên cứu ở 03 tỉnh thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Trị

Tác giả của luận văn cũng là người trực tiếp tham gia cùng với nhóm nghiên cứu viên và được sự cho phép của chủ trì đề tài sử dụng một phần số liệu thống kê

Trang 19

13

ở các cấp, các lĩnh vực khác nhau và đối tượng phỏng vấn được lựa chọn trên cơ sở

họ đang làm việc, hoạt động về CTXH: cấp Bộ - cấp thành phố (02 cán bộ), nhân viên CTXH trong các trung tâm dịch vụ bảo trợ xã hội (08 nhân viên), nhân viên CTXH trong bệnh viên (02 nhân viên), ở cấp xã phường, thị trấn (02 cán bộ) và 01 nhân viên CTXH trong chùa

Qua đó thấy được cách nhìn nhận khác nhau về nhu cầu thực trạng hoạt động CTXH của cán bộ quản lý làm chính sách và những nhân viên CTXH làm việc trực tiếp với đối tượng ở các cấp, các ngành khác nhau

6.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm được tiến hành với nhân viên CTXH ở hai trung tâm: Trung tâm sống Độc lập Hà Nội và làng trẻ Hòa Bình SOS Thanh Xuân Là hai trung tâm với số lượng nhân viên CTXH và đối tượng lớn, đồng thời nhân viên CTXH tiếp xúc với nhiều đối tượng khác nhau Thảo luận nhóm nhằm đánh giá, tìm hiểu sâu hơn về nhận thức, vai trò, nhu cầu và thực trạng của nhân viên CTXH tại Hà Nội Đồng thời phương pháp thảo luận nhóm được tiến hành trong nghiên cứu nhằm bổ sung cho những thông tin từ nghiên cứu định lượng Đối tượng được chọn để tiến hành thảo luận nhóm được lựa chọn chủ yếu theo tiêu chí: là nhân viên CTXH hiện đang làm việc trong lĩnh vực CTXH, là những nhân viên CTXH Các nhóm thảo luận được thiết kế với số lượng mỗi nhóm từ 6 – 10 người để đảm bảo chất lượng của thông tin Nội dung thảo luận nhóm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài

6.2.4 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát được tiến hành nhằm quan sát hoạt động của nhân viên CTXH trong một số trung tâm công tác xã hội, trong việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực công tác xã hội Khi thực hiện đề tài người nghiên cứu đã tiến hành quan sát các trung tâm dịch vụ xã hội, các cơ quan có hoạt động CTXH Đồng thời quan sát thái độ của nhân viên CTXH với những câu hỏi phỏng vấn cũng như một

số kỹ năng của họ với công việc mà người nhân viên CTXH thực hiện

Trang 20

14

7 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết

7.1 Giả thuyết nghiên cứu

Hiểu biết của nhân viên CTXH về nghề công tác xã hội hiện nay chưa thực

sự sâu sắc, đầy đủ Tuy vậy họ cũng đã nhận thấy công tác xã hội cần thiết đáp ứng nhu cầu và có vai trò quan trọng trong sự phát triển ổn định, nâng cao đời sống xã hội

Nguồn nhân lực của CTXH hiện nay còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chính sách xã hội về CTXH đã tương đối đầy đủ nhưng việc thực hiện những chính sách này trong thực tế còn có những hạn chế Tuy vậy, hoạt động CTXH cũng thể hiện được những hiệu quả bước đầu trong một số lĩnh vực nhất định

Trang 21

11

7.2 Khung lý thuyết

Vai trò của CTXH

Nhu cầu về hoạt động CTXH trong một số lĩnh vực

Hệ thống chính sách

Nguồn nhân lực

Một số khuyến nghị về giải pháp phát

triển CTXH

Hiệu quả hoạt động bước đầu

Nhận thức của

nhân viên

CTXH

Mạng lưới CTXH

Điều kiện KTXH

Công tác xã hội

Trang 22

12

NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.Một số lý thuyết xã hội học vận dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội

Xã hội cũng như các thực thể vật chất khác luôn vận động và biến đổi không ngừng về chính trị, văn hóa, kinh tế….Biến đổi xã hội diễn ra theo nhiều yếu tố khác nhau Các nhà xã hội học đã khai thác phân tích sự biến đổi xã hội trên nhiều khía cạnh hiện tượng đa dạng, những biến đổi trên qui mô lớn nhỏ, từ cấp độ toàn cầu cho đến cấp

độ gia đình, những biến đổi tác động đến giá trị, chuẩn mực, hành vi, quan hệ xã hội… Các nhà xã hội học đã đưa ra quan điểm của mình về sự biến đổi xã hội [6, tr 35]:

Smelser cho rằng biến đổi xã hội là một quá trình “gia tăng giá trị” trong đó một loạt điều kiện hay giai đoạn liên tiếp gắn kết với nhau để tạo ra sự biến đổi xã hội Herbert Spencer tiếp cận biến đổi xã hội trong sinh học xã hội phát triển nhấn mạnh sự thích ứng nhưng lại qui quá trình biến đổi vào yếu tố gien di truyền của con người, biến đổi xã hội là nhu cầu tất yếu của xã hội loài người Các nhà sinh học xã hội lập luận rằng con người chúng ta là sản phẩm của hàng triệu năm thích ứng để sinh tồn Sinh tồn là vấn

đề then chốt nếu không nói là mục đích của biến đổi xã hội Lý thuyết Maxist về biến đổi

xã hội ủng hộ hành động tích cực, tập trung vào khả năng mà con người có thể thay đổi hành động của số phận mình thông qua hoạt động chính trị - đấu tranh giai cấp Nhìn chung các lý thuyết về biến đổi xã hội thế kỷ XIX đã nhìn biến đổi xã hội như là một quá trình tổng thể trong đó mọi phương diện của đời sống đều thay đổi theo Biến đổi xã hội

là một nhu cầu tất yếu của sự phát triển xã hội và con người phải thích nghi với những biến đổi đó Trong chừng mực nào đó con người có thể giải thích và tiên lượng được biến đổi xã hội Chúng ta có thể kiểm soát xã hội theo những chiều hướng mà mình mong muốn

Trang 23

13

Đặc điểm của biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ biến, nhưng nó diễn ra không giống nhau giữa các xã hội

Biến đổi xã hội khác biệt về thời gian và hậu quả

Biến đổi xã hội vừa có tính kế hoạch vừa có tính phi kế hoạch

Biến đổi xã hội cũng có những quy luật của nó và nó có 5 quy luật:

Tính thống nhất giữa sự biến đổi và phát triển kinh tế với sự biến đổi và phát triển của các mặt khác của đời sống xã hội

Nhu cầu xã hội và hoạt động của con người trong quá trình biến đổi xã hội Nhu cầu và hoạt động là hai mặt không thể thiếu của con người và cũng là hai mặt không thể tách rời nhau trong đời sống xã hội Sự tăng lên của hoạt động tỉ lệ thuận với sự tăng lên của nhu cầu Nhu cầu của con người không ngừng biến đổi và phát triển Nhu cầu này được đáp ứng thì nhu cầu khác lại được nảy sinh và cao hơn nhu cầu trước đó, và như vậy cùng với sự phát triển của nhu cầu thì hoạt động của con người cũng luôn biến đổi và phát triển theo Do đó các mặt của đời sống xã hội cũng biến đổi và phát triển

Trong xã hội dù ở giai đoạn nào cũng có những chuẩn mực chung, đây là một điều tất yếu của cộng đồng Và việc các chuẩn mực này có phù hợp hay không phù hợp cũng ảnh hưởng tới sự phát triển xã hội Vì vậy, ta cần có những thay đổi linh hoạt phù hợp với

sự phát triển của xã hội

Sự xuất hiện các xu hướng khác nhau trong quá trình biến đổi và phát triển là một tất yếu Sự kế thừa trong biến đổi và phát triển xã hội: sự thay thế xã hội cũ bằng xã hội mới diễn ra theo một quy luật nhất định Cái mới luôn nảy sinh trong lòng cái cũ và dần thay thế cái cũ Đây là một quy luật tất yếu của sự biến đổi xã hội

Vận dụng lý thuyết biến đổi vào trong đề tài nghiên cứu chúng ta thấy rằng: Biến đổi xã hội là một vấn đề tất yếu trong đời sống xã hội Sự phát triển của kinh tế xã hội, quá trình đô thị hóa nhanh đã đem lại những mặt tích cực nhưng bên cạnh đó nó kéo theo những biến đổi về mặt xã hội: số người thất nghiệp, thiếu việc làm ngày càng tăng, bệnh

Trang 24

14

tật, mại dâm, ma túy, khủng hoảng gia đình, người già cô đơn không nơi nương tựa ngày càng nhiều… Con người chúng ta trong một chừng mực nhất định có thể kiểm soát được những biến đổi xã hội Con người muốn tồn tại và phát triển buộc phải thích nghi với điều kiện hoàn cảnh Vì vậy,CTXH với chức năng vai trò của mình ra đời đáp ứng nhu cầu của xã hội, hạn chế những hậu quả tiêu cực cùng với quá trình phát triển, biến đổi xã hội CTXH có vai trò quan trọng điều hòa các mối quan hệ xã hội, phát triển một xã hội công bằng bình đẳng Sự ra đời và phát triển của CTXH là tất yếu đáp ứng nhu cầu đời sống của con người và sự biến đổi xuất hiện ngày càng nhiều vấn đề trong xã hội hiện nay

1.1.2 Lý thuyết về nhu cầu xã hội

Tiếp cận lý thuyết nhu cầu là một hướng tiếp cận theo quan điểm nhân văn hiện sinh, đánh giá cao khả năng của con người và bản thân họ tự quyết định lấy cuộc sống của mình [46, tr128] Tiếp cận thuyết nhu cầu cho thấy con người cần phải đảm bảo được những nhu cầu cơ bản Mọi vấn đề sai lệch xã hội đều do nhu cầu không được giải quyết Trị liệu không phải là để giải quyết nhu cầu mà giúp thân chủ phân tích nguyên nhân vì sao nhu cầu không đáp ứng và để đáp ứng nhu cầu này thân chủ cần có những điều kiện

gì Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đơi sống tâm lý cũng như hành vi của con người Nhân viên CTXH là những người gần gũi với đối tượng Họ phải thức tỉnh để thân chủ đạt được những nhu cầu mà họ cần thiết trong cuộc sống Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân Nếu nhu cầu được thoả mãn thù

sẽ tạo nên cảm giác thoải mái và an toàn cho sự phát triển và ngược lại, nếu không được đáp ứng thì sẽ gây nên sự căng thẳng và có thể dẫn tới những hậu quả nhất định gây mất

“thăng bằng” trong đời sống xã hội Xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao Vì thế nhu cầu là động lực bên trong kích thích cá nhân hoạt động, quyết định mọi hoạt động của con người

Hệ thống nhu cầu của Maslow được thể hiện dưới hình kim tự tháp Theo đó ông sắp xếp nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc: nhu cầu cơ bản (ăn uống, hít thở), nhu cầu

về sự an toàn (tình yêu thương, nhà ở, việc làm), nhu cầu xã hội (nhu cầu được hòa nhập

Trang 25

15

xã hội), nhu cầu được quí trọng (chấp nhận vị trí trong xã hội) và nhu cầu được thể hiện mình Theo Maslow viên mãn (đạo đức, sáng tạo chấp nhận thực tế, hoàn toàn tự chủ không bị ràng buộc bởi những khuôn sáo) là tầng cao nhất trong 5 tầng nhu cầu của con người [46, tr127]

Sự thỏa mãn nhu cầu ở tầng thấp là tiền đề cho sự thỏa mãn ở tầng cao hơn Con người chỉ đạt được thỏa mãn khi các nhu cầu ở tầng thấp hơn được thỏa mãn và ở trạng thái này người ta có khả năng chấp nhận thực tế, không chối bỏ sự thật, chấp nhận bản thân, yêu đời Trong bậc thang nhu cầu để tồn tại, con người cần phải đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống: ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc, dịch vụ xã hội Để phát triển con người cần phải được đáp ứng những nhu cầu cao hơn như nhu cầu an toàn, nhu cầu được thuộc về một nhóm, nhu cầu được hoàn thiện CTXH thường hướng tới giải quyết đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của đối tượng trước Khi xác định được nhu cầu nào là những nhu cầu quan trọng và cần được đáp ứng đầu tiên, nhân viên CTXH sẽ có

cơ sở thiết lập kế hoạch can thiệp, huy động các nguồn lực liên quan

Theo thuyết nhu cầu của Maslow con người cần được đáp ứng các nhu cầu thấp hơn trước khi nảy sinh ra những nhu cầu bậc cao hơn Mỗi người đều có nhu cầu cơ bản phục vụ cho cuộc sống của mình Thỏa mãn nhu cầu của con người cũng là mục đích chính của CTXH CTXH đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của đời sống con người Nhân viên CTXH cần phải nắm vững được những nhu cầu đó và trong từng hoàn cảnh khác nhau lại nảy sinh ra những nhu cầu khác biệt Cách tiếp cận này nhấn mạnh thân chủ là trọng tâm để giải quyết vấn đề và nhân viên CTXH có vai trò quan trọng Tiếp cận nhu cầu đòi hỏi nhân viên CTXH cần phải thực hiện tốt kỹ năng lắng nghe để thỏa mãn những mong muốn và nhu cầu của đối tượng Để hoàn thành nhiệm vụ của mình nhân viên CTXH cần có những kỹ năng riêng biệt

Vận dụng lý thuyết này nhằm tìm được hướng tiếp cận trong vấn đề nghiên cứu Trong đời sống con người cần phải được đảm bảo những nhu cầu cơ bản Và chỉ đạt được

sự thỏa mãn khi con người đạt được ở những nhu cầu cao hơn Nhân viên CTXH là người phải hiểu và có những kỹ năng cần thiết để can thiệp, trị liệu, giải quyết vấn đề hiểu được

Trang 26

vụ, chức năng

Ernest Green wood trong cuốn thuật ngữ nghề nghiệp đã chỉ ra một lĩnh vực hoạt động được xác định là một nghề khi hội tụ đầy đủ các yếu tố sau:

Thực hiện sự phân công chức năng và nhiệm vụ trước xã hội

Hệ thống cơ quan tổ chức cùng đội ngũ cán bộ thực thi cung cấp dịch vụ, hoạt động cho xã hội

Bao gồm hệ thống các quy định, tiêu chuẩn, yêu cầu đạo đức nghề nghiệp

Bao gồm hệ thống kiến thức, kỹ năng chuyên môn

Có hoạt động đào tạo chuyên môn, được xã hội thừa nhận qua các văn bản pháp lý như mã nghề, các luật định liên quan

Như vậy, CTXH hiện nay là một nghề được đào tạo, được công nhận qui định CTXH được xem là một nghề với tư cách pháp nhân nhưng chưa có tính chuyên nghiệp

Trang 27

17

Theo quan niệm của Hiệp hội chuyên gia công tác xã hội Mỹ: Công tác xã hội là một hoạt động chuyên môn nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội và tạo ra điêu kiện xã hội phù hợp để giúp họ thực hiện được mục đích cá nhân

Theo Hiệp hội công tác xã hội thế giới thì công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự phát triển của xã hội thông qua sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng Công tác xã hội giúp cho con người phát triển đầy đủ, hài hòa và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân “CTXH thúc đẩy sự thay đổi trong xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa con người, trao quyền và giải phóng con người đem lại sự bình yên cho xã hội Vận dụng lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, CTXH can thiệp vào các mặt ở đó con người tác động với môi trường sống của họ Nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là cốt lõi của CTXH Theo đó CTXH có thể được hiểu là: giúp đỡ các cá nhân, gia đình, nhóm người, cộng đồng và cả xã hội đạt được sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề xã hội và phát triển khả năng giải quyết vấn đề CTXH sử dụng khoa học về xã hội và con người để phát triển xã hội, phát triển chiến lược và kế hoạch giải quyết vấn đề can thiếp với mức

độ phù hợp CTXH luôn xem xét mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh của họ” [17, tr73]

Hiệp hội các nhân viên CTXH chuyên nghiệp của Mỹ xem “CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ các cá nhân, gia đình, nhóm cộng đồng phục hồi hay tăng cường năng lực và chức năng xã hội để tạo ra những điều kiện xa hội cần thiết giúp họ đạt được mục tiêu CTXH thực hành bao gồm sự ứng dụng các gia trị, nguyên tắc, kỹ thuật của CTXH nhằm giúp con người (cá nhân, gia đình, cộng đồng) tiếp cận và sử dụng dịch vụ trợ giúp tham vấn và trị liệu tâm lý Nhân viên xã hội cung cấp các dịch vụ xã hội, dịch vụ sức khỏe và tham gia vào tiến trình trợ giúp pháp lý khi cần thiết Để có thể thực hiện các hoạt động công tác xã hội trong thực tiễn người nhân viên CTXH đòi hỏi

Trang 28

vì hạnh phúc của người dân và bình an của xã hội Mục tiêu của CTXH là giải quyết các vấn đề hoặc loại bỏ những ngăn cản để con người sống một cuộc sống như mong muốn CTXH hỗ trợ con người với vai trò cá nhân hoặc một phần của gia đình, nhóm người, của cộng đồng để đạt hoặc nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và sự linh hoạt, mềm dẻo trong khia giải quyết vấn đề của cuộc sống tương lai” [17, tr75]

Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về CTXH nhưng chúng ta có thể hiểu CTXH được khẳng định là một khoa học, một hoạt động mang tính chuyên môn, chuyên nghiệp và được xã hội thừa nhận là một nghề, có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Mục đích của CTXH là can thiệp hỗ trợ cá nhân, gia đình, cộng đồng để giúp họ tự giải quyết vấn đề, thay đổi về mặt xã hội và tăng cường an sinh xã hội Giúp mọi người nâng cao năng lực, tăng thêm khả năng ứng phó và kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn Giúp mọi người tìm đến và thu thập các nguồn hỗ trợ, qua những quá trình chuyển giao, liên kết, điều động các nguồn và làm công tác biện hộ Vận động để các tổ chức và hệ thống

xã hội tăng thêm phần đáp ứng thiết thực với mỗi cá nhân Các hoạt động can thiệp của nhân viên CTXH đều hướng đến mục tiêu thúc đẩy xã hội, phát triển xã hội Trong phạm

vi rộng hơn, công tác xã hội còn chú trọng đến môi trường xã hội trong đó bao gồm cả việc tác động đến cơ chế chính sách có ảnh hưởng đến con người và cộng đồng Qua đó CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội Sứ mạng của ngành CTXH là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu: rào cản trong xã hội, sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội

Ngày 25/3/2010 Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 32/2010/QD – TTG phê duyệt đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020 với mục tiêu phát triển nghề CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ

Trang 29

19

ngày 10/5/2010 Các hoạt động chủ yếu của Đề án là: xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác xã hội, củng cố phát triển mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội Xây dựng hoàn thiện chương trình khung, giáo trình đào tạo cử nhân, sau đại học về CTXH Giai đoạn từ 2010 – 2015 xây dựng tối thiểu 10 mô hình điểm trung tam cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại một số quận huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Trung ương đại diện cho khu vực vùng miền của cả nước Tháng 5/2010 ngành CTXH đã chính thức được Bộ Lao động và Thương binh xã hội ban hành mã nghề chính thức – nghề Công tác xã hội

Như vậy CTXH được coi là một nghề khi nó có vai trò xã hội, có nền tảng khoa học, cung cấp dịch vụ cho xã hội, có các loại hình đào tạo và nguyên tắc, tôn chỉ nghề nghiệp được xã hội thừa nhận CTXH được xem như là một nghề chuyên nghiệp trong xã hội bởi nó hội tụ đầy đủ tiêu chí của một nghề: CTXH một nghề, một khoa học chuyên môn thực hiện nhiệm vụ, chức năng trong xã hội CTXH là một lĩnh vực hoạt động nhằm giúp đỡ các gia đình, cá nhân, công đồng gặp khó khăn để học có thể thực hiện tốt các chức năng xã hội Các chương trình, chính sách và dịch vụ CTXH được triển khai bởi một bộ máy tổ chức theo hệ thống từ trung ương đến địa phương cùng sự tham gia liên ngành như giáo dục, y tế, tòa án CTXH được thực hiện trên một nền tảng hệ thống giá trị, nguyên tắc, yêu cầu đạo đức nghề nghiệp được pháp lý quy định riêng CTXH bao gồm một hệ thống kiến thức lý thuyết và hệ thống kiến thức kỹ năng thực hành CTXH chuyên nghiệp có mục tiêu chính là giải quyết vấn đề và làm thay đổi điều kiện Nhân viên CTXH chuyên nghiệp sẽ là những tác nhân tích cực của sự thay đổi, thay đổi cuộc sống của cá nhân, gia đình, cộng đồng và nhóm đối tượng mà họ hướng đến phục vụ

1.2.3 Nhân viên CTXH

Nhân viên CTXH là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về công tác xã hội có bằng cấp chuyên môn Đó là những cán bộ chuyên gia có khả năng phân tích các vấn đề xã hội, biết tổ chức vận động, giáo dục, biết cách thức hành động nhằm mục đích tối ưu hóa sự thực hiện vai trò chủ thể của con người trong mọi lĩnh vực của đời

Trang 30

tới chính sách xã hội thông qua hoạt động nghiên cứu và thực tiễn (C.Zastrow, 1985)

“Nhân viên CTXH chuyên nghiệp không chỉ biết hướng vào các nhóm đối tượng yếu thế nhằm hỗ trợ bảo vệ tăng cường năng lực tự chủ của họ mà còn xây dựng những chương trình giải pháp nhằm bảo vệ xã hội Người nhân viên CTXH chuyên nghiệp phải

là người biết kết hợp chặt chẽ lý thuyết và thực tiễn, thành thạo các phương pháp và kỹ năng chuyên môn” [39, tr60] Nhân viên CTXH sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn được đào tạo để giúp đối tượng tăng năng lực và quyền lực trong việc giải quyết vấn đề của họ Đây có thể coi là quá trình nhân viên CTXH giúp đối tượng phát hiện được những khả năng tiềm tàng, những điểm mạnh và năng lực sẵn có của bản thân (cá nhân, gia đình, cộng đồng) và kết nối với các nguồn lực xã hội trong việc tự giải quyết các vấn

đề xã hội của mình Bên cạnh đó một người nhân viên CTXH chuyên nghiệp phải là người có những tri thức, kiến thức liên ngành để phân tích các đặc điểm, trạng thái tâm lý của cá nhân nhằm chuẩn đoán và trị liệu với các nhóm đối tượng trong xã hội

Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi coi nhân viên CTXH hiện đang là những người hoạt động chính thức trong lĩnh vực CTXH tại các tổ chức, đơn vị Họ hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ở các cấp các ngành khác nhau Nhân viên CTXH là những người hoạt động trong lĩnh vực CTXH ít nhất từ 1 – 2 năm trở lên

1.2.4 Khái niệm mạng lưới CTXH

Mạng lưới CTXH được định nghĩa là: “Bất cứ sự ràng buộc nào giữa hai hoặc nhiều đơn vị xã hội Đơn vị xã hội có thể là cá nhân, nhóm, tổ chức cộng đồng tương tác tham gia trao đổi để đạt được mục đích của họ”[24, tr78] Mạng lưới xã hội đòi hỏi có tương tác xã hội và con người để liên kết và ràng buộc Các mạng lưới và hệ thống nguồn

Trang 31

21

lực hỗ trợ xã hội tồn tại trong bất kỳ tình huống nào có trao đổi nguồn lực giữa các đơn vị

xã hội Mạng lưới có thể mang tính chất cá nhân, chuyên nghiệp, tổ chức, liên tổ chức hay liên dịch vụ

Theo Đề án phát triển CTXH mạng lưới CTXH được phát triển theo các hướng: Mạng lưới tổ chức cung cấp dịch vụ công tác xã hội

Mạng lưới nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội

Mạng lưới các trường dậy nghề công tác xã hội, mạng lưới các trường đại học, cao đẳng đào tạo CTXH, và mạng lưới cán bộ viên chức công tác trong lĩnh vực CTXH Tuy các mạng lưới CTXH này phát triển dưới mức độ khác nhau về qui mô, hình thức nhưng vẫn nhằm mục đích phát triển chuyên nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH

1.2.5 Khái niệm nhu cầu xã hội

Đối với con người để đảm bảo sự sống, sự phát triển cả về thể chất và tinh thần đòi hỏi phải có các yếu tố cần thiết Theo quan điểm của Mac: nhu cầu là đòi hỏi khách quan của con người trong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống và phát triển Nếu nhu cầu được thỏa mãn sẽ đem lại những yếu tố tích cực cho sự phát triển con người, ngược lại nếu nhu cầu không được đáp ứng sẽ gây ra những căng thẳng, mất “cân bằng”[39, tr58] Xã hội càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng cao

Theo từ điển Tiếng Việt: “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao”

Khái niệm nhu cầu xã hội trong nghiên cứu này được sử dụng với ý nghĩa là những đòi hỏi cần phải được đáp ứng trong xã hội để đảm bảo ổn định, nâng cao đời sống

xã hội

1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Quá trình phát triển kinh tế xã hội bên cạnh những mặt tích cực còn nảy sinh nhiều vấn đề xã hội Để giải quyết những vấn đề đó nhằm ổn định trật tự xã hội, Nhà nước ta đã xây dựng hệ thống pháp luật, ban hành luật Người cao tuổi, pháp lệnh Người tàn tật, chương trình xóa đói giảm nghèo cho đối tượng chính sách trợ giúp nhóm đối tượng khó

Trang 32

22

khăn yếu thế trong xã hội CTXH là những hoạt động mang tính chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội Nước ta bắt đầu đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp làm CTXH

ở các cấp, các ngành với những nhiệm vụ khác nhau Qua đó góp phần ổn định các vấn

đề của đời sống xã hội cùng với phát triển kinh tế thị trường Theo thống kê bộ Tài nguyên Môi trường, cả nước có khoảng 30 trường đào tạo công tác xã hội Ngành CTXH

là ngành mới đào tạo đang ở giai đoạn phát triển đầu của Việt Nam Hiện có khoảng 20.000 người hoạt động trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ CTXH, tuy nhiên, hơn 81%

là chưa qua đào tạo hoặc đào tạo trái ngành, chưa được học những kỹ năng khoa học cần thiết về CTXH Cả nước còn có khoảng 23 trường đại học, cao đẳng đang tham gia đào tạo nguồn nhân lực CTXH với số lượng sinh viên ra trường mỗi năm hơn 1.000 người Riêng trong năm 2009, đã có khoảng 1.500 sinh viên tốt nghiệp cử nhân CTXH trên cả nước Đây được xem là lực lượng được đào tạo chuyên nghiệp về công tác này [56]

Hà Nội là một trong những trung tâm thành phố lớn nhất của cả nước Là nơi phát triển kinh tế xã hội nhanh, đồng thời cũng xuất hiện nhiều vấn đề xã hội Bình quân thu nhập thành thị nông thôn và trong khu vực thành thị ngày càng lớn, các tệ nạn cờ bạc, mại dâm, bạo lực học đường, ly hôn ngày càng tăng cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại Cùng với đó là quá trình phát triển các khu công nghiệp Với số lượng dân

số tăng nhanh trong những năm gần đây, số lượng người di cư vào thành phố tìm kiếm việc làm ngày càng nhiều, đồng thời với nó là tình trạng thất nghiệp và tệ nạn xã hội Vì vậy, để ổn định trật tự xã hội và hạn chế các vấn đề xã hội mang tính tiêu cực CTXH cần phải phát triển với một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, hệ thống Qua đó, họ triển khai các chính sách xã hội trợ giúp các cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư giải quyết các vấn

đề xã hội nảy sinh trong cuộc sống, tạo điều kiện cho các đối tượng vươn lên hòa nhập với cộng đồng

Để phát triển cân bằng giữa kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển, trong nhiều năm qua thành phố Hà Nội cũng thực hiện nhiều cơ chế chính sách trợ giúp hộ nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội như cấp thẻ bảo hiểm y tế, miễn giảm học

Trang 33

23

phí, hỗ trợ xây dựng nhà ở, tiếp nhận chăm sóc người già, người tàn tật Bên cạnh đó thành phố có đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác bảo vệ trẻ em, trợ giúp người khuyết tật, người già cô đơn, hộ nghèo, cán bộ làm công tác phòng chống các tệ nạn xã hội Hiện tại thành phố đã thành lập 26 trung tâm liên quan đến CTXH bao gồm: 13 trung tâm nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội, 5 trung tâm điều dưỡng người có công và 9 trung tâm giáo dục, cai nghiện, chữa trị bệnh cho người nghiện ma túy, nhiễm HIV với gần 2.000 cán bộ nhân viên Thành phố còn có 4 trung tâm dân lập với trên 100 cán bộ nhân viên chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và người tàn tật [50, tr88]

Mặc dù CTXH mới ở giai đoạn đầu phát triển nhưng CTXH của thành phố Hà Nội

đã đạt được nhiều thành tựu Thành phố đã quan tâm chỉ đạo thực hiện chương trình giảm nghèo, trợ cấp xã hội, phòng chống ma túy, mại dâm, buôn bán phụ nữ trẻ em Bên cạnh

đó các ngành, hội, đoàn thể, quận huyện cũng tích cực phối hợp triển khai hiệu quả hoạt động “Chỉ tính tiêng nguồn lực hỗ trợ giảm nghèo và trợ cấp xã hội hàng tháng cho

75000 đối tượng tàn tật già yếu, cô đơn, người cao tuổi trên 85 tuổi trở lên, trẻ mồ côi của thành hố năm 2009 là 389,6 tỷ đồng và năm 2010 khoảng 530 tỷ” [50, tr89] Đồng thời

có nhiều tổ chức cá nhân hỗ trợ đóng góp đáng kể cho quỹ vì người nghèo, quỹ bảo trợ

xã hội của Thành phố Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận, huyện, thị xã có cán bộ trực tiếp thực hiện công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội, bảo vệ chăm sóc trẻ em và cán bộ phòng chống tệ nạn xã hội Tuy nhiên CTXH còn gặp nhiều khó khăn như nhận thức của người dân, cán bộ, các cấp các ngành còn hạn chế Ở tại các trung tâm bảo trợ

xã hội cơ sở vật chất, trang thiết bị phục hồi chức năng cho người tàn tật người tâm thần còn nghèo nàn, phương pháp chăm sóc điều trị trợ giúp đối tượng còn hạn chế

Hiện số đối tượng xã hội có hoàn cảnh khó khăn cần sự trợ giúp của cán bộ, nhân viên CTXH của thành phố Hà Nội chiếm 40% dân số Trong đó 91.000 hộ nghèo, 38.000

hộ cận nghèo, trên 630.000 người cao tuổi, gần 90.000 người khuyết tật, 75.000 đối tượng bảo trợ xã hội đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, trên 49.000 trẻ em nghèo và 16.000 trẻ em đặc biệt khó khăn, 22.000 người nghiện ma túy HIV [50, tr88]

Đó là những vấn đề xã hội cần phải tập trung giải quyết trong quá trình phát triển kinh tế

Trang 34

24

Nhân viên CTXH có một vai trò quan trọng để bảo vệ, trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội Nhân viên CTXH giúp người dân tạo ra những thay đổi, ra quyết định và tiếp cận các dịch vụ xã hội để cải thiện chất lượng cuộc sống Bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, phát triển khả năng của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng CTXH giúp con người phát triển hài hòa đem lại một cuộc sống tốt đẹp hơn

Đáp ứng nhu cầu xã hội cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội tại Hà Nội đã

có rất nhiều trung tâm dịch vụ xã hội được thành lập cùng với đó là các cán bộ xã hội, làm việc với các nhóm đối tượng khác nhau Hoạt động công tác xã hội vẫn còn nhiều khó khăn, các trung tâm còn mỏng và chủ yếu hoạt động dưới hình thức bảo trợ xã hội Điều kiện cơ sở vật chất tại các trung tâm còn thiếu thốn, lạc hậu, các thiết bị và phương pháp chăm sóc, điều trị, phục hồi chức năng cho đối tượng chưa đáp ứng yêu cầu… Đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác xã hội ở xã, phường, thị trấn chủ yếu làm kiêm nhiệm chưa được đào tạo những kiến thức và kỹ năng cơ bản về CTXH

Chương 2: ĐÁNH GIÁ CỦA NHÂN VIÊN CTXH VỀ NHU CẦU

HOẠT ĐỘNG NGHỀ CTXH HIỆN NAY

Trước khi đánh giá trực tiếp về nhu cầu hoạt động nghề CTXH hiện nay trên địa bàn Hà Nội Chúng tôi xem xét nhận thức của nhân viên CTXH về hoạt động CTXH Nhận thức của cán bộ xã hội những người trực tiếp làm việc trong lĩnh vực CTXH có ý nghĩa vai trò quan trọng để phát triển CTXH Đồng thời qua đánh giá của họ về vai trò của CTXH giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về nhu cầu CTXH trong từng lĩnh vực, CTXH đang cần thiết trong lĩnh vực nào

2.1 Nhận thức của nhân viên CTXH về nghề CTXH

CTXH đã được công nhận như một nghề, phát triển như một dịch vụ ở nhiều nước trên thế giới CTXH đã ngày càng khẳng định được vị trí với những chức năng hoạt động của mình CTXH được khẳng định là một hoạt động chuyên nghiệp tạo ra sự phát triển bền vững cho xã hội thông qua hoạt động tăng cường năng lực giải quyết cũng như phòng ngừa cho cá nhân và cộng đồng Tuy nhiên ở nước ta CTXH mới được phát triển trong

Trang 35

Bảng 2.1 Nhận thức của cán bộ CTXH về hoạt động nghề CTXH

Hoạt động nghề CTXH

Giúp người yếu thế tự phát huy năng lực 129 73.7

Tham gia nghiên cứu đào tạo về CTXH 86 49.1

Vận động người khác tham gia làm từ thiện 71 40.6

Giúp cộng đồng nhận diện, phát hiện vấn đề của mình 117 66.9

(Nguồn: Xử lý số liệu điều tra từ đề tài Nghị định thư cấp Nhà nước số 45/2010/HĐ - NĐT năm 2010 với nhóm đối tượng là nhân viên CTXH tại Hà Nội)

Qua đánh giá của cán bộ CTXH tại Hà Nội thì số lượng cán bộ trả lời câu hỏi ở các công việc chiếm tỷ lệ tương đối ở các phương án trả lời Tuy nhiên kết quả cho thấy 73.7% trong số họ cho rằng nội dung công việc của một người nhân viên CTXH là giúp

Trang 36

26

người yếu thế phát huy được năng lực của mình Nhân viên CTXH là người giúp cộng đồng nhận diện và phát hiện vấn đề của mình (chiếm 66.9%), là người kết nối nguồn lực (60%) Trong khi đó việc cán bộ CTXH tham gia nghiên cứu đào tạo và trực tiếp giúp người yếu thế giải quyết vấn đề được nhận biết là chiếm tỷ lệ thấp hơn Khái niệm CTXH có thể được hiểu với ba khía cạnh: là một nghề với nhiệm vụ kết nối nguồn lực, tăng cường hiệu quả trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội CTXH được coi là một môn khoa học ứng dụng với các phương pháp, biện pháp can thiệp CTXH còn là phương tiện để thực hiện đảm bảo an sinh xã hội, triển khai kết nối các chính sách trong

hệ thống an sinh xã hội Như vậy, những chỉ báo trên đều là nội dung trong khái niệm CTXH Nếu như các cán bộ CTXH hiểu rõ, đầy đủ về CTXH thì những câu trả lời của họ trong các phương án trả lời đều phải chiếm tỷ lệ cao nhất (100%) Như vậy ngay cả những cán bộ trực tiếp làm CTXH thì nhận thức của họ về hoạt động nghề nghiệp này còn mơ hồ và chưa đầy đủ Họ hiểu CTXH và nhiệm vụ của nhân viên CTXH chỉ trên

một khía cạnh một lĩnh vực hoạt động nhất định “Theo mình nhân viên CTXH họ đến trợ giúp, giúp đỡ những nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội Họ chia sẻ các hoạt động học tập vui chơi, là động lực giúp các em học sinh, trẻ khuyết tật phát triển trí tuệ đạt được những mốc trưởng thành cần thiết Họ có nhiệm vụ phát hiện sớm những khả năng của trẻ để can thiệp kịp thời và trị liệu” (PVS, nữ, nhân viên CTXH khoa phục hồi chức năng) Mục đích của CTXH là hướng đến việc cải thiện đời sống của người dân và đáp

ứng nhu cầu của xã hội Hạn chế trong nhận thức về CTXH là một trong những yếu tố cản trở lớn đối với ảnh hưởng đến công việc cũng như quá trình phát triển của CTXH Đặc biệt hạn chế này còn nằm trong nhận thức của những cán bộ CTXH – người trực tiếp làm việc Điều đó không chỉ ảnh hưởng tới khả năng làm việc, can thiệp trị liệu của nhân viên CTXH Nhân viên CTXH cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nhóm đối tượng yếu thế, nhóm cộng đồng Nhận thức còn ảnh hưởng đến việc triển khai hệ thống chính sách, dịch vụ xã hội tại cộng đồng Do còn thiếu kiến thức, kỹ năng nên họ còn hạn chế việc phát hiện những lỗ hổng của chính sách hay đề xuất những chính sách hợp lý đáp ứng nhu cầu của xã hội, đảm bảo hệ thống an sinh xã hội

Trang 37

27

Qua thông tin thu được từ thực tế cho thấy nhận thức về nghề CTXH còn mới, những hiểu biết về nghề CTXH còn phụ thuộc vào chuyên ngành mà cán bộ CTXH được đào tạo và lĩnh vực mà họ làm việc Số lượng cán bộ làm CTXH được đào tạo đúng chuyên ngành CTXH chiếm số lượng không nhiều Họ là những cán bộ xuất phát từ một

số ngành nghề như: tâm lý học, sư phạm, xã hội học, báo chí, kinh tế chính trị, bác sỹ Ở mỗi ngành nghề quan điểm của họ về CTXH có sự khác nhau Những cán bộ được đào tạo trên nền tảng tâm lý học cho rằng CTXH là nhằm chữa trị, chữa bệnh, trị liệu cho các

cá nhân Một số cán bộ chuyên ngành xã hội học khi nghiên cứu CTXH lại chú ý đến cộng đồng, phát triển cộng đồng Những giáo viên sư phạm lại cho rằng CTXH chú ý đến

kỹ năng, phục hồi phát triển những kỹ năng cần thiết cho các nhóm đối tượng trong xã hội Những nhân viên CTXH xuất phát từ chuyên ngành bác sỹ thì cho rằng CTXH chú ý đến phục hồi chức năng, cũng như quá trình điều trị cấp thuốc cho bệnh nhân cả về tâm

lý tinh thần và bệnh tật Nhân viên CTXH được đào tạo ở chuyên ngành nào thì có xu hướng giải quyết vấn đề theo sự chi phối của chuyên ngành mà mình đã học

Bên cạnh đó, cách hiểu về CTXH của người nhân viên CTXH qua khảo sát thực tế tại địa bàn nghiên cứu còn phụ thuộc vào những công việc, lĩnh vực mà họ đang làm việc, hoạt động Nhận thức của họ về CTXH nghiêng về phía những hoạt động mà họ đang trực tiếp làm Những nhân viên CTXH làm việc với nhóm đối tượng là người khuyết tật, trẻ em, xóa đói giảm nghèo thì cho rằng CTXH là lĩnh vực nghiên cứu giúp

đỡ nhóm đối tượng này phát huy được khả năng của mình, đạt được những mốc trưởng thành cần thiết và sống độc lập bằng năng lực mà họ có Nhân viên CTXH ở cấp cơ sở thì cho rằng CTXH là tham gia những hoạt động, phong trào xã hội Những cán bộ làm việc với đối tượng là bệnh nhân nhiễm HIV, mại dâm ở các trung tâm thì hoạt động CTXH là giúp họ nhận thức được vấn đề cũng như kết nối họ với những dịch vụ xã hội tạo việc làm Nhân viên CTXH trong một số bệnh viện cho rằng CTXH giúp bệnh nhân sớm phục hồi chức năng Người làm công tác xã hội được xem như là người hỗ trợ giúp đỡ

bệnh nhân tuân thủ chế độ điều trị tốt hơn “Nhờ có nhân viên CTXH mà có thể giải đáp được những thắc mắc, tư vấn cho bệnh nhân khám chữa bệnh tốt hơn, cấp phát thuốc cho

Trang 38

28

bệnh nhân Nhân viên CTXH là những người trò chuyện trực tiếp với bệnh nhân trực tiếp hoặc qua điện thoại về những vấn đề liên quan đến bệnh tật và báo cáo lại cho bác sĩ chuyên môn Ngoài ra nhân viên CTXH còn tư vấn thủ tục hồ sơ cho người nhà bệnh nhân một cách nhanh nhất” (PVS nữ, 42 tuổi, Y sĩ kỹ thuật viên phục hồi chức năng)

Nhận thức về nghề CTXH còn mơ hồ ngay cả đối với những nhân viên đang trực tiếp làm việc với các nhóm đối tượng, trong các cơ quan có lĩnh vực hoạt động CTXH Đây cũng

là một điều dễ hiểu bởi CTXH ở nước ta còn mới được đề cập chú ý phát triển Cụm từ nghề CTXH mới chỉ xuất hiện ở nước ta trong những năm gần đây Khi có quyết định thực hiện đề án 32 của Chính phủ, CTXH mới được chính thức hóa và bắt đầu có tác động lớn đến các cơ quan cũng như cán bộ làm CTXH tại các trung tâm dịch vụ và bắt đầu mới phát triển mạnh hoạt động CTXH Thông tin về nghề CTXH trên các phương tiện truyền thông đại chúng còn ít được đề cập đến Sự phổ biến của hoạt động CTXH hiện nay chủ yếu ở thành phố lớn với những loại hình trung tâm dịch vụ, trợ giúp xã hội

Vì vậy khi nói đến hoạt động CTXH không phải ai cũng hiểu hết, thậm chí có những người còn không biết đến thuật ngữ “nhân viên CTXH” và không phải ai cũng hiểu được công việc, vai trò của nhân viên CTXH trên đầy đủ các khía cạnh

Nhiều người lại hiểu CTXH một cách đơn giản chỉ mặc định trong phạm vi hoạt động nhỏ như chăm sóc người người già, trẻ em, người khuyết tật trong xã hội hay hoạt động bảo trợ xã hội Đây cũng chính là đặc điểm nổi bật của CTXH hiện nay ở nước ta

CTXH liên quan tới việc trợ giúp xã hội, bảo trợ xã hội “Theo tôi nhân viên CTXH giúp người khuyết tật, mại dâm, đối tương bạo lực gia đình nhận diện vấn đề của mình để phát huy năng lực bản thân của họ” (Thảo luận nhóm, nhân viên CTXH) Nhiều cán bộ hiểu

CTXH hoạt động trong phạm vi hẹp của việc trợ giúp những đối tượng như người già, trẻ

em lang thang Họ chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ về CTXH một phần do nhân viên CTXH đang còn hoạt động kiêm nghiệm ở nhiều vị trí hay không được đào tạo những kiến thức cơ bản về CTXH Họ khẳng định rằng đó là hoạt động của CTXH, và cần sự giúp đỡ trực tiếp của các nhân viên CTXH Ở một góc độ nào đó thì CTXH hướng đến mục tiêu rõ ràng là các nhóm yếu thế trong xã hội và an sinh của họ Đó là một lĩnh vực

Trang 39

29

hoạt động của CTXH hướng đến đối tượng nhóm người yếu thế Trong xã hội, họ là nhóm người lâm vào hoàn cảnh khó khăn, không vượt qua được khó khăn rào cản của xã hội Rào cản đó có thể là chưa có vốn, tài nguyên hay chưa tiếp cận được dịch vụ, rào cản

từ sự kỳ thị tâm lý, nghề nghiệp Tuy nhiên lĩnh vực và đối tượng hoạt động của CTXH không chỉ như vậy CTXH còn hướng đến những lĩnh vực khác, đến hệ thống chính sách, các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong xã hội CTXH còn tham gia tích cực vào việc tìm kiếm các nguồn, các dịch vụ xã hội để giúp đỡ các bộ phận dân cư chịu thiệt thòi

về cả vật chất và tinh thần (các nhóm dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa, người nghèo) CTXH hướng dẫn mọi người tận dụng các cơ hội và tăng cường năng lực, phát huy khả năng của cá nhân, nhóm, cộng đồng, chữa trị phục hồi chức năng giúp họ vươn lên sống hòa nhập với cộng đồng xã hội Trong thực tế CTXH hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội: trẻ em, người già, người khuyết tật, người cao tuổi CTXH cũng có vai trò quan trọng trong việc phục hồi và chăm sóc tâm lý cho người nhiễm HIV, mại dâm, ma túy, phụ nữ trẻ em bị buôn bán, bạo lực gia đình CTXH còn tham gia vào cac vấn đề khủng hoảng trong bệnh viện, trường học, cộng đồng Đồng thời CTXH cũng tham gia vào việc xây dựng hệ thống chính sách xã hội, nghiên cứu xã hội Nói tới CTXH

là nói tới việc giải quyết các vấn đề xã hội của con người, vấn đề phát triển xã hội, phát huy năng lực của mỗi người và tổ chức xã hội Vì vậy, người yếu thế chỉ là một trong những đối tượng đặc biệt mà CTXH hướng đến quan tâm

Nhiều nhân viên CTXH kiêm nghiệm, mà chưa qua khóa đào tạo tập huấn về kỹ năng, chuyên môn nên hiểu biết về CTXH còn hạn chế Thông tin thu được cho thấy các cán bộ còn chưa hiểu hết nội dung và ý nghĩa của CTXH trên cả phương diện lý thuyết

và hoạt động thực tiễn Ngay cả những cán bộ đang làm việc trực tiếp trong các cơ quan, nhân viên CTXH làm việc tại các trung tâm dịch vụ cũng chưa hiểu rõ về CTXH cũng như những hoạt động của CTXH Họ chủ yếu đưa ra cách hiểu của mình về CTXH dựa trên công việc mà họ đang làm, và những kinh nghiệm mà họ có được trong quá trình hoạt động Nhiều người trong số họ cho rằng CTXH giống như hoạt động chính trị, văn hóa xã hội gắn với tổ chức như công đoàn, Đoàn thanh niên, hiệp hội tự nguyện

Trang 40

30

Vì vậy, một số nhân viên CTXH vẫn cho rằng CTXH gần với hoạt động từ thiện CTXH là hoạt động cứu trợ giúp đỡ người khác vì vậy bất cứ ai cũng có thể làm CTXH

được.“Theo tôi nhân viên CTXH là những người hoạt động xã hội, tham gia vào các vấn

đề xã hội và họ có thể giúp đỡ những đối tượng khó khăn trong xã hội Nhân viên CTXH, hội phụ nữ có vai trò quan trọng trong các hoạt động đoàn thể xã hội Ở xã họ thường làm trong đoàn thanh niên, hội phụ nữ Tuyên truyền vận động các hoạt động xã hội Họ làm việc trong các cơ quan tổ chức có hoạt động xã hội…”(PVS số 10, nữ, cán

bộ phụ nữ) CTXH hướng đến hỗ trợ người dân tìm ra những phương thức đáp ứng nhu

cầu, tự mình phát huy những khả năng để hòa nhập vào cộng đồng xã hội Hoạt động từ thiện là hoạt động ban phát giúp đỡ khiến cho đối tượng trở lên thụ động CTXH không chỉ trợ giúp, trị liệu, phòng ngừa mà còn định hướng lâu dài cho đối tượng mà nó hướng đến CTXH không phải là hoạt động từ thiện mà nó luôn có mục tiêu riêng bằng phương pháp, kỹ năng để giáo dục, vận động phát huy khả năng của cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội

Nhận thức về CTXH cũng có sự khác nhau giữa những người làm việc ở các cơ quan khác nhau, cũng như ở các cấp, các ngành khác nhau Cán bộ làm CTXH tại địa phương chủ yếu là cộng tác viên, bán chuyên nghiệp và không ít người từ lâu vẫn nghĩ rằng hoạt động CTXH mang tính từ thiện Ở cấp cơ sở: xã (phường) do còn thiếu thông tin về chính sách cũng như hoạt động CTXH Do vậy, một số cán bộ xã hội cũng mơ hồ hiểu về hoạt động CTXH là hoạt động của Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên và các cá nhân tham gia hoạt động xã hội – được gọi là những cán bộ xã hội và vai trò của người cán bộ

xã hội đó như: “Họ làm nhiệm vụ tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình, các chính sách xã hội cũng như phát động các phong trào trong thanh niên, Hội phụ nữ…nói chung là tham gia hoạt động xã hội” (PVS số 10, nữ 35 tuổi, cán bộ phụ nữ) Chẳng hạn như Đoàn

thanh niên, Hội phụ nữ, tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động tình nguyện, chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công… Đây là những chủ thể tham gia vào hoạt động xã hội, những hoạt động này đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề trong xã hội Tuy nhiên nó chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong hoạt động nghề CTXH Trong quan điểm của

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Nhận thức của cán bộ CTXH về hoạt động nghề CTXH       Hoạt động nghề CTXH - Nhu cầu và thực trạng hoạt động nghề công tác xã hội hiện nay qua đánh giá của nhân viên công tác xã hội tại Hà Nội
Bảng 2.1. Nhận thức của cán bộ CTXH về hoạt động nghề CTXH Hoạt động nghề CTXH (Trang 35)
Bảng  2.4:    Thảo  luận  nhóm  nhân  viên  CTXH  đánh  giá  lĩnh  vực  hoạt  động  đòi  hỏi  nhu cầu cao về hoạt động nghề CTXH ở Hà Nội hiện nay - Nhu cầu và thực trạng hoạt động nghề công tác xã hội hiện nay qua đánh giá của nhân viên công tác xã hội tại Hà Nội
ng 2.4: Thảo luận nhóm nhân viên CTXH đánh giá lĩnh vực hoạt động đòi hỏi nhu cầu cao về hoạt động nghề CTXH ở Hà Nội hiện nay (Trang 59)
Bảng 3.1. Đánh giá của nhân viên CTXH tại Hà Nội về hệ thống chính sách CTXH  hiện nay - Nhu cầu và thực trạng hoạt động nghề công tác xã hội hiện nay qua đánh giá của nhân viên công tác xã hội tại Hà Nội
Bảng 3.1. Đánh giá của nhân viên CTXH tại Hà Nội về hệ thống chính sách CTXH hiện nay (Trang 62)
Bảng  3.3:  Đánh  giá  của  nhân  viên  CTXH  về  hiệu  quả  hoạt  động  CTXH  trong cơ  quan                                                                                                    (Đơn vị:%) - Nhu cầu và thực trạng hoạt động nghề công tác xã hội hiện nay qua đánh giá của nhân viên công tác xã hội tại Hà Nội
ng 3.3: Đánh giá của nhân viên CTXH về hiệu quả hoạt động CTXH trong cơ quan (Đơn vị:%) (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w