Phạm vi về nội dung Đề tài tập trung mô tả đặc điểm của di động nghề nghiệp liên thế hệ ở khu vực đồng bằng Sông Hồng qua nghiên cứu thực tế tại tỉnh Hải Dương, đồng thời chỉ ra các nhâ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
* * *
HOÀNG THỊ QUYÊN
DI ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP LIÊN THẾ HỆ
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
(Qua khảo sát xã hội học tại Phạm Trấn - Gia lộc - Hải Dương)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 8
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 15
7 Khung lý thuyết 16
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU DI ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP LIÊN THẾ HỆ 17
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 17
1.2 Một số lý thuyết xã hội học về phân tầng xã hội và di động xã hội 25
1.3 Thao tác hóa khái niệm 33
Chương 2: MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH CỦA CUỘC ĐIỀU TRA VỀ DI ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP LIÊN THẾ HỆ ĐƯỢC THỰC HIỆN TẠI PHẠM TRẤN, GIA LỘC, HẢI DƯƠNG 41
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 41
2.2 Một số đặc điểm của di động nghề nghiệp liên thế hệ ở khu vực đồng bằng sông Hồng 43
2.3 Các yếu tố tác động đến di động nghề nghiệp liên thế hệ ở khu vực đồng bằng sông Hồng 56
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 80
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU
1 Sơ đồ 1.1 Lý thuyết về thực hành của Bourdieu 29
2 Bảng 1.1 Di động từ thế hệ cha sang thế hệ con trai 33
3 Bảng 2.1 Cơ cấu lao động vùng Đồng bằng Sông Hồng
4 Bảng 2.2 Ma trận chuyển dịch nghề giữa cha và con 44
5 Bảng 2.3 Di động nghề giữa cha và con trai, giữa cha và
6 Bảng 2.4 Ma trận chuyển dịch nghề giữa mẹ và con 47
7 Bảng 2.5 Di động nghề giữa mẹ và con trai, giữa mẹ và
10 Bảng 2.8 Chỉ số Ysuda về di động xã hội qua khảo sát
mức sống hộ gia đình Việt Nam 2008
53
11 Bảng 2.9 So sánh cơ cấu nghề của cha, mẹ và con cái 57
12 Bảng 2.10 Một vài đặc điểm của người con di đông 60
13 Bảng 2.11 Mô hình hồi quy đa biến về các nhân tố tác
động đến di động ngề giữa cha và con
61
14 Bảng 2.12 Mô hình hồi quy đa biến về các nhân tố tác
động đến di động ngề giữa mẹ và con
62
15 Bảng 2.13 Di động đi lên và di động đi xuống của con 63
16 Bảng 2.14 Đặc điểm của cha, mẹ và trình độ học vấn của
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Người ta thấy trong tất cả các xã hội đều xuất hiện những tầng lớp khác nhau mà theo đó thì tầng trên bao gồm những người có nhiều lợi thế về của cải, tài sản cũng như quyền lực hay uy tín xã hội Những người ở tầng đáy thường chịu nhiều thua thiệt cả về vật chất lẫn tinh thần Xã hội học gọi đó là hiện tượng phân tầng xã hội Cũng theo các nhà xã hội học thì phân tầng xã hội là kết quả tất yếu do có sự bất bình đẳng giữa các nhóm người trên nhiều phương diện như kinh tế, văn hoá, chính trị, tôn giáo … Trong mỗi xã hội, trong mỗi thời kỳ lịch sử có sự phân tầng khác nhau về mức độ, quy mô hay những khác biệt trong nguồn gốc của phân tầng
Trên thực tế, các nghiên cứu ở Việt Nam trong nhiều năm qua cho thấy
có một sự chênh lệch rõ rệt và sâu sắc về nhiều mặt của đời sống xã hội giữa các nhóm dân cư Sau hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã thay đổi từ một xã hội theo đuổi chủ nghĩa xã hội bình quân thời kỳ trước đổi mới, trở thành một Việt Nam “có thể sẽ gia nhập nhóm các nước Châu Á có mức độ bất bình đẳng tương đối cao trong vòng 15 năm nữa” [24, tr 121] Vấn đề bất bình đẳng chiếm vị trí quan trọng trong các cuộc thảo luận về chính sách kinh tế xã hội Nó trở thành vấn đề đáng lo ngại bởi nó là nguy cơ tiềm ẩn và hiện hữu của những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay khi phân tầng xã hội ngày càng trở nên sâu sắc và ổn định, nó sẽ cơ cấu hoá những bất bình đẳng và làm cho bất bình đẳng có tính chất “cha truyền con nối” Do đó, đã đến lúc cần phải có những nghiên cứu
và phân tích một cách hệ thống những quá trình và cơ chế mà thông quá đó những ưu thế và bất lợi xã hội được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác trong xã hội Việt Nam đương đại
Trang 7“Tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, lao động
là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình Mức sống của hộ gia đình vì thế phụ thuộc vào phương thức các cá nhân hội nhập vào thị trường lao động” [12, tr 87] Do đó, khi phân tích về phân tầng và bất bình đẳng, chúng ta không thể bỏ qua việc xem xét cụ thể khả năng hội nhập vào thị trường lao động của các cá nhân nhằm chỉ ra nguyên nhân của phân tầng xuất phát từ vị thế trên thị trường lao động
Cùng với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, cơ cấu kinh tế xã hội của khu vực đồng bằng Sông Hồng đang có sự chuyển biến rõ nét Người ta nhận thấy có sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu ngành nghề theo hướng tăng tỷ lệ những người làm trong ngành công nghiệp và dịch vụ đồng thời giảm nhanh tỷ lệ lao động trong nông nghiệp Trong những năm tới chúng ta vẫn còn tiếp tục chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu lao động việc làm theo hướng này Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI xác định phương hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011- 2020 như sau: “phấn đấu đến năm 2015 cơ cấu GDP của nước ta là: nông nghiệp 17 – 18 %, công nghiệp và xây dựng 41 – 42 %, dịch
vụ 41 – 42 % tỷ lệ lao động trong nông nghiệp vào năm 2015 chiếm 40 – 41
% lao động xã hội” [4, tr 190, 198] Điều này chỉ ra rằng, có một sự di động tương đối mạnh mẽ giữa các ngành nghề nếu so sánh thế hệ này với thế hệ khác trong khu vực Di động nghề nghiệp liên thế hệ đang diễn ra một cách sâu rộng theo rất nhiều cách thức khác nhau Nhưng sự di động này lại diễn ra một cách không đồng đều giữa các nhóm dân cư Vì vậy, không phải tất cả mọi người đều được hưởng như nhau những lợi ích từ công cuộc đổi mới Có những nhóm người có được vị thế việc làm tốt hơn nên có đời sống cao hơn
những nhóm dân cư khác
Trang 8Vị thế trên thị trường lao động mà mỗi cá nhân có được phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có yếu tố liên quan đến điều kiện phát triển kinh tế
xã hội nói chung, có yếu tố thuộc về đặc điểm cá nhân như trình độ học vấn, năng lực, giới tính; có yếu tố thuộc về hoàn cảnh gia đình, môi trường sống…Tựu trung lại, việc làm mà mỗi cá nhân có được phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội cũng như các nguồn lực và việc sử dụng các nguồn lực mà mỗi cá nhân có được Điều này gợi ra rằng, các cá nhân có nhiều lượng và loại nguồn lực hơn (ví dụ được sinh ra trong một gia đình có điều kiện tốt hơn về kinh tế, về các mối quan hệ xã hội, hay có vốn văn hóa, có trình độ học vấn tốt hơn… ) thì cũng có ưu thế trong việc sử dụng và biến đổi chúng để đạt được các nguồn lực khác Điều này tạo nên sự tái sản sinh những ưu thế và bất lợi xã hội Vì vậy, câu hỏi các cá nhân có gì? Điều đó ảnh hưởng như thế nào đến cơ hội chuyển dịch nghề nghiệp và mức sống của họ?
đã hướng tôi đến việc nghiên cứu đề tài : “Di động nghề nghiệp liên thế hệ ở đồng bằng Sông Hồng (qua khảo sát xã hội học tại Phạm Trấn- Gia lộc - Hải Dương)”, bởi di động nghề nghiệp liên thế hệ, không chỉ phản ánh sự
thay đổi trong cơ cấu ngành nghề giữa thế hệ này với thế hệ khác mà quan trọng hơn, nó phản ánh sự tái sản sinh những ưu thế và bất lợi xã hội và cũng
là cơ chế tạo ra sự chuyển giao những ưu thế và bất lợi xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài: “Di động nghề nghiệp liên thế hệ ở đồng bằng Sông Hồng (qua
khảo sát xa hội học tại Phạm Trấn- Gia lộc- Hải Dương)” hướng đến làm rõ
một số vấn đề lý luận về di động xã hội, di động nghề nghiệp liên thế hệ Trên
cơ sở vận dụng quan điểm xã hội học về phân tầng xã hội và di động xã hội của các nhà xã hội học tiền bối đặc biệt là quan điểm của Karl Marx, Max
Trang 9Weber và Pierre Bourdieu vào giải thích hiện tượng di động nghề nghiệp liên thế hệ ở đồng bằng Sông Hồng nhằm tìm ra quy luật và tính quy luật của hiện tượng xã hội nói trên Qua đó làm sáng tỏ vấn đề lý thuyết xã hội học trong đời sống xã hội hiện thực của xã hội Việt Nam đương đại
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài hướng đến làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của hiện tượng di động nghề nghiệp liên thế hệ và mô tả khái quát bức tranh di động nghề nghiệp liên thế hệ đang diễn ra hết sức sôi động và phức tạp tại khu vực đồng bằng Sông Hồng Vì vậy, luận văn được hoàn thành là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu sử dụng trong quá trình học tập và làm việc trong quá trình nghiên cứu về di động xã hội nói chung và di động nghề nghiệp liên thế hệ nói riêng Đồng thời nó cũng có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam có cơ sở để đưa ra những chính sách thiết thực trong qua trình xây dựng và phát triển đất nước
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phân tích thực trạng di động nghề nghiệp liên thế hệ ở khu vực đồng bằng Sông Hồng
Phân tích định lượng (thông qua điều tra bằng phiếu hỏi) tìm hiểu thực trạng di động nghề nghiệp liên thế hệ và các tác động của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế cũng như tác động của các nguồn lực xã hội như: nguồn gốc xuất thân (nguồn lực kinh tế, vốn xã hội, vốn con người của thế hệ bố
Trang 10mẹ), đặc điểm cá nhân (trình độ học vấn, độ tuổi, giới tính,…) đên vị trí việc làm của bản thân các cá nhân trong xã hội
Phân tích định tính (thông qua các phỏng vấn sâu) để tìm hiểu cách thức
mà các cá nhân thừa hưởng các nguồn lực từ gia đình, từ môi trường xã hội cũng như sử dụng và biến đổi các nguồn lực này thành các nguồn lực của bản thân để tìm kiếm việc làm cũng như là phát triển trong công việc của mình
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Di động nghề nghiệp liên thế hệ ở khu vực đồng bằng Sông Hồng Trong
đó trọng tâm là các yếu tố tác động đến quá trình di động nghề nghiệp liên thế
hệ
4.2 Khách thể nghiên cứu
Để mô tả bức tranh di động nghề nghiệp liên thế hệ bằng các mô hình di động khác nhau nhằm tìm hiểu quá trình di động của các thế hệ khác nhau trong gia đình, tôi sử dụng cách tiếp cận hộ gia đình Tôi chọn các chủ hộ hay
vợ của chủ hộ gia đình Những người có độ tuổi từ 40 đến 70 (độ tuổi trung bình của người trả lời phiếu hỏi là 55 tuổi), trong đó có 42 người là nam giới chiếm 56% và 33 người là nữ giới chiếm 44%
4.3 Phạm vi nghiên cứu
4.3.1 Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung mô tả đặc điểm của di động nghề nghiệp liên thế hệ ở khu vực đồng bằng Sông Hồng qua nghiên cứu thực tế tại tỉnh Hải Dương, đồng thời chỉ ra các nhân tố tác động đến quá trình này nhằm mô tả quá trình tái sản xuất xã hội đang diễn ra trong khu vực đồng bằng Sông Hồng Ở đây, tôi chỉ quan tâm mô tả sự chuyển dịch về mặt nghề nghiệp giữa các thế hệ nghĩa là xem xét sự khác biệt về nghề của con cái so với cha, mẹ chứ không
Trang 11đi sâu vào mô tả sự di động nghề nghiệp của bản thân các cá nhân hay nhóm người (di động nghề nghiệp trong thế hệ)
4.3.2 Phạm vi thời gian
Di động nghề nghiệp liên thế hệ đã diễn ra từ rất lâu trong xã hội Việt Nam nhưng quá trình này diễn ra một cách phổ biến kể từ khi đất nước thực hiện công cuộc Đổi mới năm 1986 và đặc biệt diễn ra một cách sâu rộng trong khoảng 10 năm trở lại đây khi chúng ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đề tài tiến hành nghiên cứu sự di động nghề của cả ba thế hệ trong gia đình, do vậy quá trình di động nghề có thể diễn ra trước và sau quá trình đổi mới Nhưng tác giả chú trọng đặc biệt đến nhóm người có độ tuổi từ
20 đến 55 tuổi bởi đây là nhóm người ở vào độ tuổi tương đối ổn định trong tuổi đời lao động của mình, vì vậy, qua trình di dộng nghề nghiệp của họ so với thế hệ cha, mẹ họ lại diễn ra trong khoảng thời gian sau đổi mới và cùng với quá trình chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế - xã hội trong bối cảnh đô thị hóa
Thời gian tôi tiến hành thu thập thông tin từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được tiến hành dựa trên cơ sở vận dụng nguyên lý của phép duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Nghĩa là tác giả xem xét vấn đề nghiên cứu trong lịch sử cụ thể với bối cảnh kinh tế - văn hóa - chính trị cụ thể Mà ở đây là nghiên cứu hiện tượng di động nghề nghiệp liên thế hệ trong điều kiện kinh tế xã hội khu vực đồng bằng Sông Hồng Việt Nam thời kì đổi mới sau năm 1986 đặc biệt trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Điều đó cũng có nghĩa là khi xem xét hiện tượng di động nghề nghiệp của thế hệ này so với thế hệ khác không được tách
Trang 12rời khỏi các chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như bối cảnh
về kinh tế -văn hóa - chính trị - xã hội diễn ra hiện tượng đó Xem xét sự di động của nhóm xã hội này trong sự tương quan với sự di động của nhóm khác Sự di động nghề nghiệp với những di động xã hội khác
Các lý thuyết xã hội học của Karl Marx, Max weber và Pierre Bourdieu
về phân tầng xã hội và di động xã hội là những chỉ dẫn về mặt lý luận giúp tôi phân tích thực trạng của quá trình di động cũng như chỉ ra các yếu tố tác dộng tới quá trình di động nghề nghiệp liên thế hệ đang diễn ra tại đồng bằng Sông Hồng Karl Max đã chỉ cho tôi thấy rằng: quyền sở hữu về tư liệu sản xuất là một yếu tố quan trọng quyết định địa vị nghề của mỗi cá nhân Mở rộng hơn quan điểm của Marx, tôi không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu sự tác động của yếu tố quyền sở hữu với tư liệu sản xuất mà còn tìm hiểu tác động của quyền
sử dụng, quyền định đoạt tư liệu sản xuất đến quá trình di động nghề của các
cá nhân Cụ thể tôi tìm hiểu xem liệu việc con cái của những người nông dân
di chuyển sang làm các nghề khác có phải do sự thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp hay không? Các gia đình đã chuyển tư liệu sản xuất của mình cho con cái họ như thế nào? Và quá trình chuyển giao tư lệu sản xuất đó đã ảnh hưởng như thế nào đến quá trình di động nghề?
Lý thuyết của Weber chỉ cho tôi đến việc xem xét tác động của các yếu
tố cá nhân như : tuổi, giới tính, trình độ học vấn, sức khoẻ, sự cố gắng, nỗ lực hay tài năng của mỗi cá nhân đến quá trình di động nghề Bordieu lại chỉ cho tôi thấy rằng nguồn gốc xuất thân của các cá nhân, môi trường hành động, các tập tính của cá nhân hay các loại và lượng vốn mà các cá nhân chiếm giữ là những nhân tố quan trọng quyết định địa vị nghề của họ
Trang 13Đề tài kết hợp nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm; kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng nhằm chỉ ra các đặc trưng của vấn đề nghiên cứu
5.2 Các phương pháp cụ thể
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Tác giả tiến hành nghiên cứu các loại tài liệu như: sách, các luận văn, luận án, các bài báo đăng trên các tạp chí nghiên cứu khoa học và các bài viết,
số liệu thống kê trên các trang mạng… nhằm tìm ra cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phân tích đề tài của mình
5.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Tôi tiến hành phỏng vấn sâu 10 cá nhân là thành viên của các hộ gia đình tôi đã thu thập thông tin bằng phiếu hỏi, trong đó có 5 người là con của người trả lời phiếu hỏi và 5 người là chủ hộ gia đình hay vợ của chủ hộ gia đình- những người đã trả lời phiêu hỏi giúp tôi Mục đích của việc phỏng vấn sâu cá nhân là nhằm tìm hiểu sâu hơn các cách thức mà các cá nhân sử dụng các loại
và lượng nguồn lực sẵn có của gia đình và của bản thân trong quá trình tìm kiếm và phát triển công việc của mình nhằm tạo ra các loại nguồn lực cho bản thân và cho gia đình của họ Quá trình phỏng vấn sẽ được ghi biên bản với sự đồng tình của người trả lời với những cam đoan về mặt đạo đức của nhà nghiên cứu như phải đảm bảo tính khuyết danh và bảo mật thông tin cho người trả lời Các thông tin thu được của quá trình phỏng vấn sẽ được tác giả
sử lý và phân tích sau từng cuộc phỏng vấn nhằm phát hiện ra các nhân tố mới để có thể kiểm chứng chúng trong thực tế qua các cuộc phỏng vấn sâu đồng thời để điều chỉnh quá trình phỏng vấn của mình Sau khi thực hiện toàn
bộ các phỏng vấn thông tin thu được sẽ được nhóm lại thành các vấn đề để
phân tích theo yêu cầu đặt ra của chủ đề nghiên cứu
5.2.3 Phương pháp lấy mẫu nghiên cứu
Trang 14Tôi tiến hành lấy mẫu nghiên cứu theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên thuận tiện với dung lượng mẫu khảo sát là 75 hộ gia đình tại 7 đội của xã Phạm Trấn huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương Từ cách tiếp cận các hộ gia đình tôi tiến hành thu thập thông tin của ba thế hệ trong gia đình người trả lời Cụ thể , tôi phỏng vấn chủ hộ hoặc vợ của chủ hộ về nghề nghiệp đầu tiên của họ, nghề nghiệp chính của cha, mẹ - những người sinh ra họ ở thời điểm khi họ
có nghề đầu tiên và các thông tin cá nhân khác của họ và cha mẹ họ cũng ở thời điểm khi họ có nghề đầu tiên Cùng với đó tôi thu thập thông tin về nghề nghiệp đầu tiên của các con người trả lời và so sánh nó với nghề nghiệp chính của người trả lời, nghề nghiệp chính của vợ hoặc chồng người trả lời ở vào thời điểm khi con họ có nghề đầu tiên Các thông tin cá nhân khác của các con và người trả lời hay của vợ hoặc chồng người trả lời cũng được lấy ở vào thời điểm khi từng người con của họ có việc làm chính đem lại nguồn thu nhập đầu tiên Như vậy, từ 75 hộ gia đình tôi đã thu được thông tin của 272 cặp cha con và 272 cặp mẹ con (Người trả lời phiếu của tôi có độ tuổi trung
bình là 55 tuổi.)
5.2.4 Phương pháp định lượng, điều tra bằng phiếu hỏi
5.2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng
Với dung lượng mẫu nói trên tôi tiến hành thu thập thông tin bằng phiếu hỏi Tôi sử dụng các phiếu hỏi đã chuẩn bị trước sau đó tự mình đi hỏi từng khách thể nghiên cứu và tự mình điền các thông tin vào phiếu hỏi theo ý kiến của người trả lời
5.2.4.2 Phương pháp sử lý thông tin định lượng
Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS để sử lý cơ sở dữ liệu thu thập được Với phương pháp phân tích định lượng tôi thực hiện phân tích đặc điểm của
di động nghề nghiệp liên thế hệ qua ma trận vuông thể hiện mối tương quan giữa địa vị nghề nghiệp của cha và hoặc địa vị của mẹ với địa vị nghề nghiệp
Trang 15của con với các tỷ lệ: tỷ lệ di động tuyệt đối (tỷ lệ di động thực tế - tỷ lệ di động tổng thể); tỷ lệ di động cấu trúc (tỷ lệ di động cưỡng bức), tỷ lệ di động thuần, hệ số mở cho toàn xã hội qua chỉ số Yasuda tổng thể Với ma trận vuông tôi tìm được sự khác biệt trong tỷ lệ di động hay tỷ lệ không di động của từng nhóm nghề qua đó chỉ ra bức tranh tổng thể về di động nghề nghiệp đang diễn ra trên địa bàn nghiên cứu
Để chỉ ra các yếu tố tác động đến quá trình di động nghề nghiệp liên thế
hệ tôi sẽ phân tich tương quan hai chiều giữa các yếu tố như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, hoàn cảnh xuất thân, …với địa vị nghề nghiệp của các cá nhân Đồng thời tôi sử dụng mô hình hồi quy đa biến để xem xét sự tác động của nhiều biến độc lập đến biến phụ thuộc là di động hay không di động để chỉ ra sự tác động của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc với điều kiện các biến khác giữ nguyên ở mức không đổi Cùng với các phân tích mô tả khác tôi đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa nguồn gốc xuất thân, lượng và các loại nguồn lực mà cá nhân có với việc các cá nhân sử dụng các lượng và loại nguồn lực đó trong việc tìm kiếm phát triển nghề nghiệp của mình
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Toàn bộ luận văn tập trung vào trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu chính
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Di động nghề nghiệp liên thế hệ ở khu vực Đồng bằng Sông Hồng đang diễn một cách sâu rộng Tuy nhiên, sự di động lại diễn ra
Trang 16một cách không đồng đều giữa các nhóm nghề Con của những ông bố, bà mẹ làm nghề nông nghiệp và con của những ông bố, bà mẹ thuộc nhóm những nhà lãnh đạo quản lý, các nhà chuyên môn kỹ thuật có tỷ lệ di động nghề thấp
hơn con của những ông bố, bà mẹ thuộc các nhóm nghề khác
Giả thuyết 2: Các yếu tố thuộc về điều kiện kinh tế xã hội do quá trình
đô thị hóa đem lại, các yếu tố thuộc về đặc điểm cá nhân nhƣ tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn…và những yếu tố thuộc về nguồn gốc xuất thân – hoàn cảnh gia đình là các yếu tố quan trọng có tác động đến quá trình di động nghề nghiệp liên thế hệ
cá nhân của cha
mẹ nhƣ: nghề nghiệp, trình
độ học vấn,}
điều kiện kinh
tế của gia đình, cách nuôi dạy con cái …
Đặc điểm cá nhân của con nhƣ: giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi…
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - VĂN HÓA – XÃ HỘI
Di động nghề nghiệp liên thế hệ
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU DI
ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP LIÊN THẾ HỆ 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Di động xã hội từ lâu đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học xã hội trong đó có các nhà Xã hội học Khi nghiên cứu về di động xã hội, có một cuộc tranh luận giữa hai chương trình nghiên cứu khác nhau đó là: một bên là những nhà nghiên cứu di động trong bối cảnh của một trật tự thứ bậc xã hội, trong đó các cá nhân có thể được xếp loại theo thu nhập, trình độ giáo dục hay uy tín kinh tế xã hội Bên kia là những tác giả đặt
di động trong bối cảnh một cơ cấu giai cấp, bao gồm những vị trí xã hội được xác định bởi những mối quan hệ trong thị trường lao động và những đơn vị sản xuất Xuất phát từ các quan điểm khác nhau, các tác giả cũng chỉ ra nhiều nhân tố khác nhau có thể tác động đến di động xã hội nói chung và di động nghề nghiệp nói riêng
1.1.1.1 Quan điểm của các nhà nghiên cứu di động xã hội trong bối cảnh của một trật tự thứ bậc xã hội
Những năm đầu thế kỷ XX nhà xã hội học người Mỹ Sorokin đã bàn về
di động xã hội một cách khá hệ thống Trong tác phẩm Social mobility (di
động xã hội) (1927), Sorokin đã chỉ ra rằng: “các kênh lưu thông dọc tồn tại ở bất cứ xã hội phân tầng nào…đó là điều cần thiết cho sự phân phối tài năng vào các nghề nghiệp một cách hiệu quả” [2, tr 142] Sorokin là một trong các tác giả theo truyền thống phân tích theo vị thế đạt được Trong tác phẩm
Social mobility, Sorokin chỉ ra nguyên nhân của di động là do vai trò của các
yếu tố như nền tảng kinh tế, xã hội của nhóm, gia đình cũng như trình độ học
vấn của bản thân Peter M Blau và Otis D Duncan trong The American
occupational structure (cấu trúc nghề nghiệp ở Mỹ) cũng có cùng quan điểm
Trang 18với Sorokin Các tác giả này cũng chỉ ra được mối tương quan giữa nghề của
bố và nghề của con Các nghiên cứu của các ông cho thấy: “trình độ giáo dục của bố tác động đến sự đạt được về nghề nghiệp của người con trai và cho thấy rằng điều này xuất phát từ những ảnh hưởng của nghề nghiệp của bố Nhiều nghiên cứu cho rằng giáo dục của người con trai là cầu nối chủ yếu giữa gốc gác gia đình và sự thành đạt nghề nghiệp, một nửa các mối tương quan giữa hai yếu tố này đều thông qua yếu tố trung gian là giáo dục Trẻ em trong những gia đình có đặc quyền là những người có trình độ học vấn cao hơn những đứa trẻ cùng trang lứa xuất thân từ những gia đình kém hơn” [2, tr 143]
Khác với quan điểm trên, Tony Bilton lại chỉ ra rằng: trong xã hội công nghiệp các cá nhân có thể di động từ địa vị này sang địa vị khác bằng nỗ lực của cá nhân trong xã hội đó Địa vị xã hội của cá nhân không nhất thiết có quan hệ với địa vị xã hội của gia đình Nguồn gốc để cá nhân có thể di động
đi lên hay đi xuống là nhờ vào tài năng Quan điểm này của Tony Bilton có thể gần giống với quan điểm của Max Weber khi nói về vai trò của “tình huống thị trường” Theo Weber: “sự phân chia giai cấp bắt nguồn không chỉ
từ sự sở hữu, sự kiểm soát hay không kiểm soát tư liệu sản xuất, mà còn từ những khác biệt kinh tế không liên can gì tới tài sản Những nguồn lực đó bao gồm kỹ năng, kỹ xảo, bằng cấp và trình độ chuyên môn và tác động đến loại công việc mà người ta có thể kiếm được.” [36, tr 107]
Ngoài các yếu tố về giai cấp, hoàn cảnh gia đình hay tài năng của các cá nhân thì một số các nhà xã hội học khác như nhà xã hội học người Anh Stephen Aldrige hay nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu lại quan tâm đến các nhân tố về văn hóa như phong cách sống Theo Bourdieu “điều đáng chú ý tương tự như vốn kinh tế, vốn văn hóa có thể được tích lũy và hoán cải thành các vốn khác (kinh tế, xã hội)” [36, tr 111] Trong các nghiên cứu của
Trang 19mình, Bourdieu luôn quan tâm xem xét cách thức mà vốn văn hóa có thể tạo nên những ưu thế hay sự kém ưu thế của nhóm này so với nhóm khác Stephen Aldrige coi các vấn đề về vốn văn hóa của gia đình, cách dạy dỗ con cái của gia đình là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới giá trị và lối cư xử của cá nhân do đó mà ảnh hưởng tới cơ hội sống sau này của họ
1.1.1.2 Quan điểm của các nhà nghiên cứu di động xã hội trong bối
cảnh một cơ cấu giai cấp
Những người phân tích di động theo giai cấp khi phân tích di động luôn quan tâm lưu ý đến tổng tỷ suất di động hay tỷ suất di động tuyệt đối (bao gồm những biến đổi trong di động do những biến động về cơ cấu nghề nghiệp) với những biến đổi do tính lỏng lẻo xã hội hay sự mở rộng cấu trúc Karl Marx là một nhà nghiên cứu di động xã hội trong bối cảnh giai cấp tiêu biểu mà các nhà nghiêm cứu luôn nhắc tới Mặc dù trong các tác phẩm của mình Marx không dùng đến cụm từ “tính cơ động xã hội” nhưng các tác phẩm của ông tự nó toát nên những nội dung, tư tưởng về tính cơ động xã hội
“Trong khi nhấn mạnh yếu tố sở hữu, coi sở hữu như là dấu hiệu cơ bản nhất
để xem xét và sắp xếp các cá nhân vào các tầng xã hội khác nhau Marx đặc biệt lưu tâm tới những động thái và phương thức tạo ra sự biến đổi trong nội
bộ những cơ cấu xã hội hiện thực như chuyển dịch xã hội từ nghề này sang nghề khác, hay chuyển từ công việc có trình độ, chuyên môn, kỹ năng thấp lên những công việc có trình độ, chuyên môn, kỹ năng cao Đặc biệt là sự phân tích những chuyển dịch xã hội từ khu vực lao động nông nghiệp sang công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ…và sự chuyển dịch từ tầng lớp lao động lên tầng lớp trung lưu dưới, từ trung lưu dưới lên trung lưu trên và ngược lại.” [46, tr 98- 99] Theo quan điểm của Karl Marx: “sự tồn tại của chế độ sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất, kéo theo đó là sự phân phối bất bình đẳng về của cải vật chất, sản phẩm lao động trong xã hội là nét chung, phổ biến của mọi
Trang 20xã hội có giai cấp, là yếu tố thường xuyên, trực tiếp dẫn đến phân tầng xã hội, phân hóa xã hội.” [46, tr 97]
Với các tác giả có truyền thống phân tích giai cấp theo quan điểm của chủ nghĩa Marx cho rằng: “các cá nhân sinh ra trong các giai cấp xã hội khác nhau, mà điều này dẫn đến những hậu quả rõ ràng đối với cơ hội sống, các giá trị chuẩn mực, lối sống và các khuôn mẫu kết hợp” [2, tr 145]
Như vậy, dù nghiên cứu di động xã hội theo quan điểm nào thì các nhà nghiên cứu cũng luôn coi sự di động về mặt nghề nghiệp là yếu tố quan trọng
để chỉ ra sự di động xã hội của các cá nhân hay nhóm Các tác giả nêu trên đã chỉ ra 3 yếu tố quan trọng tác động đến sự di động nghề nghiệp của các cá nhân và nhóm đó là: yếu tố thuộc về sở hữu tư liệu sản xuất; yếu tố thuộc về hoàn cảnh xuất thân như: (điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của gia đình, nhóm xã hội); và các yếu tố thuộc về cá nhân như trình độ giáo dục, năng lực
và kỹ năng của bản thân…
Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng khi nghiên cứu về di động nghề nghiệp liên thế hệ các nhà nghiên cứu kinh điển ở Mỹ và châu Âu đều chỉ xem xét sự di động, sự thành đạt của con cái mà đặc biệt là của con trai so với nguồn gốc của cha thể hiện trong bảng quay vòng cha con (Father- son Turnover Table) Điều này đã bị phê phán về mặt lý thuyết và phương pháp Đặc biệt, các nhà nữ quyền cho rằng việc chỉ chọn mẫu là nam giới làm đơn
vị phân tích di động đã không phản ánh hết những khác biệt về giới tính cũng như hệ quả đối với sự phân công lao động nghề nghiệp theo giới tính trong nghiên cứu về di động xã hội nói chung cũng như di động nghề nghiệp nói riêng
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Sự dịch chuyển cơ cấu lao động và các nhân tố tác động đến địa
vị nghề nghiệp của các cá nhân
Trang 21Cùng với quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ở Việt Nam đang diễn ra quá trình chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ Cùng với quá trình này là quá trình chuyển dịch lao động từ nhóm ngành nông nghiệp sang nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ Trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu của các học giả Việt Nam về xu hướng đề cập trên, trong đó có thể kể đến: Các số liệu thống kê hàng năm của Tổng cục thống kê về cơ cấu kinh tế, lao động việc làm, Lê Hữu Nghĩa - Lê
Ngọc Hùng (2012), Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội trong điều kiện đổi
mới ở Việt Nam; Tạ Ngọc Tấn (2010), Một số vấn đề về biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam hiện nay; Nguyễn Thị Vân Anh, Chuyển dịch cơ cấu lao động vùng Đồng bằng Sông Hồng giai đoạn 2011- 2015; Nguyễn Thị Vĩnh Hà
(2006), Tác động của quá trình đô thị hóa đến cơ cấu lao động và việc làm
của các hộ gia đình ở Từ Liêm Hà Nội; Nguyễn Đình Tấn (2010), Sự hình thành tầng lớp xã hội ưu trội và vai trò của nó ở Việt Nam trong phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; Lê Hải Thanh (2005), Sự biến đổi cơ cấu lao động việc làm ở lao động nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn An Lịch trong sự tác động của yếu tố kinh tế đến sự di động xã hội và cơ cấu dân cư miền Bắc ở Việt Nam…Các công trình nghiên
cứu nêu trên cho thấy: mỗi năm tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp giảm
từ 1% - 1,5% hiện nay còn khoảng 25 triệu người tương đương với 56% tổng lực lượng lao động quốc gia Và theo dự tính con số này giảm xuống còn 30% vào năm 2020 [32, tr 32] Như vậy, có sự chuyển dịch nghề nghiệp rất lớn trong toàn xã hội và nếu chúng ta xem xét chúng trong một khoảng thời gian dài nghĩa là so sánh nghề nghiệp của các thế hệ với nhau chúng ta sẽ thấy ở Việt Nam đang diễn ra quá trình di động nghề nghiệp liên thế hệ
Trang 22Sự chuyển dịch cơ cấu lao động việc làm của toàn xã hội có quan hệ chặt chẽ với vị trí việc làm của từng cá nhân trong xã hội Việc các cá nhân làm nghề gì lại phụ thuộc trước hết vào định hướng nghề nghiệp của bản thân mỗi
cá nhân Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm chú ý nghiên cứu chủ đề này Các đề tài như: Vũ Hào Quang (2001), Định hướng giá trị của sinh viên
con em cán bộ khoa học; Trần Thi Thu Hiền (2008), Định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện nay.; Hoàng Thị Phương , Nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp định hướng và những con đường tiếp cận…
Tác giả Lê Thị Mai (1997), trong công trình Nhóm xã hội đa nghề và vai trò
của nó trong sự phát triển nông thôn đồng băng Sông Hồng chỉ ra rằng : “Có
xu hướng chung là người nông dân định hướng cho con cái họ thoát khỏi nông nghiệp” nhưng việc hiện thực hóa nó lại rất khác nhau ở những nhóm khác nhau Điều này liên quan đến các loại và lượng nguồn lực mà các cá nhân có cũng như điều kiện kinh tế xã hội nơi mà cá nhân sinh sống
Chúng ta cũng cần phải thấy rằng, nghề nghiệp là nhân tố quan trọng quyết định địa vị xã hội của mỗi cá nhân Điều này đúng đối với mọi xã hội đặc biệt là ở Viêt Nam nơi mà: “lao động là nguồn thu nhập chính của hộ gia đình Mức sống hộ gia đình vì thế phụ thuộc vào phương thức các cá nhân hội nhập vào thị trường lao động ” [12, tr 87] Lao động hay nói cách khác là việc làm và vị trí việc làm là nguồn cơ bản tạo ra những bất bình đẳng “Lao động đóng góp tới 70% tổng bất bình đẳng tại Việt Nam cả khu vực thành thị
và nông thôn.” [12, tr.93] Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy có sự chênh lệch khá lớn trong mọi mặt của đời sống giữa các nhóm dân cư Do đó, vấn đề bất bình đẳng chiếm vị trí quan trọng trong các cuộc thảo luận về chính sách kinh tế xã hội Nó được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm xem xét Các công trình, đề tài về lĩnh vực này có thể kể đến như: Lê Hữu Nghĩa - Lê Ngọc
Hùng (2012), Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội trong điều kiện đổi mới ở
Trang 23Việt Nam; Nguyễn Đình Tấn (2003), Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội; Tạ
Ngọc Tấn (2010), Một số vấn đề về biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam hiện
nay; Hoàng Đức Thân - Đinh Quang Tỵ (2010), Tăng trưởng kinh tế và tiến
bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam; Nguyễn Phú Trọng (2008), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn; Viện nghiên cứu phát
triển - Cơ quan phát triển Pháp - Viện khoa học xã hội (2011), Sự phân biệt
xã hội và bất bình đẳng: các cách tiếp cận phương pháp luận và liên ngành đối với những vấn đề về giới và dân tộc; Nguyễn Đình Tấn (2010), Sự hình thành tầng lớp xã hội ưu trội và vai trò của nó ở Việt Nam trong phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, …Các công trình nghiên cứu
nêu trên không chỉ chỉ ra những bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư về kinh
tế, văn hóa mà còn chỉ ra xu hướng bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận với các nguồn lực để phát triển Điều đó có nghĩa là: ở Việt Nam đang tồn tại một xu hướng cơ cấu hoá bất bình đẳng hay nói cách khác là xu hướng bất bình đẳng được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác
Các công trình nghiên cứu về nghèo đói, bất bình đẳng, phân tầng xã hội,
cơ cấu xã hội tôi vừa liệt kê phía trên chỉ ra ba nhóm nhân tố quan trọng có thể tác động đến vị trí nghề nghiệp của các cá nhân là: (1) Các yếu tố chuyển đổi cơ cấu kinh tế (bao gồm yếu tố môi trường kinh tế, chính sách, pháp luật…); (2) yếu tố gia đình, hay nói cách khác là nguồn gốc xuất thân của các
cá nhân tác động trực tiếp hay hoặc và đến vị trí nghề nghiệp của họ; (3) các yếu tố thuộc về đặc điểm cá nhân như độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, kỹ năng, sự cố gắng, nỗ lực của bản thân…
1.1.2.2 Di động nghề nghiệp liên thế hệ ở Việt nam qua một số công trình nghiên cứu
Nghiên cứu về di động nghề nghiệp liên thế hệ đã được các nhà xã hội học trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất nhiều năm nay Tuy nhiên, chủ
Trang 24đề này ở Việt Nam vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam có thể kể đến như: công trình nghiên
cứu của tác giả Jee Young Kim Vốn chính trị, vốn con người và di động nghề
nghiệp liên thế hệ ở miền Bắc Việt Nam (Political capital, Human Capital, and Inter - generational occupational Mobility in Northerm Vietnam) trong
công trình của Philip Taylor (2004), Social inequality in Vietnam and the
challenges to reform, (bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam và những thách thức
cho đổi mới) và các công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Thiên Kính về Di
động xã hội giữa các thế hệ trong hai thời kì trước và sau đổi mới ở Việt nam,
phần I, in trên Tạp chí Xã hội học số 2 (98)- 2007 và phần II trên Tạp chí Xã hội học số 1(105) – 2009 Trong bài viết này, tác giả Đỗ Thiên Kính chỉ ra rằng: so với “cơ cấu xã hội khép kín” của Việt Nam những năm trước đổi mới (1986) thì cơ cấu xã hội Việt Nam sau đổi mới đã có xu hướng biểu hiện :
“như là một xã hội mở” [43, tr 62] Tác giả Jee Young Kim qua xử lý số liệu điều tra nghiên cứu hộ gia đình ở ba tỉnh là Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình vào năm 1995 cũng cho thấy có sự thay đổi rất lớn về cấu trúc nghề nghiệp giữa các thế hệ Sự thay đổi này diễn ra trong tất cả các nhóm nghề đặc biệt là nhóm nghề trong hệ thống cơ quan nhà nước và nhóm nghề có trình độ kỹ năng cao (administrative and professional jobs) Tác giả chỉ ra rằng: chỉ có 16% những người làm các công việc trong hệ thống cơ quan nhà nước có thể truyền lại được địa vị nghề nghiệp của mình cho con cái và con số này ở nhóm nghề có trình độ chuyên môn cao là 12% Trong khi đó có tỷ lệ khá cao khoảng ¾ số người làm nông nghiệp có con cái họ cũng làm nông nghiệp [63,
tr 169- 170] Như vậy, ở Việt Nam đang diễn ra xu hướng di động nghề nghiệp liên thế hệ, nhưng xu hướng này lại diễn ra theo những mức độ rất khác nhau ở những thời điểm khác nhau và ở những nhóm nghề khác nhau
Trang 25Như vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên đã chỉ ra được các nguyên nhân của những bất bình đẳng cũng như là nhân tố tác động đến sự di động xã hội đặc biệt là di động nghề nghiệp của cá nhân Tuy nhiên, việc phân tích các bất bình đẳng mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê các rủi ro mà bất bình đẳng tạo
ra chứ chưa chú ý nhiều đến nguyên nhân của bất bình đẳng Điều này có thể
do các nghiên cứu này hầu hết hướng sự chú ý của mình tới sự di động trong thế hệ mà chưa quan tâm chú ý đến sự di động giữa các thế hệ (di động liên thế hệ) do đó mà các công trình này chưa đi vào phân tích một cách sâu sắc những bất bình đẳng mang tính cơ cấu Có nghĩa là thiếu sự phân tích một cách hệ thống những quá trình mà trong đó những ưu thế và bất lợi xã hội được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.2 Một số lý thuyết xã hội học về phân tầng xã hội và di động xã hội
1.2.1 Quan điểm của Karl Marx
Karl Marx (1818-1883) chưa bao giờ tự nhận mình là một nhà xã hội học nhưng các học thuyết về kinh tế, xã hội của ông được “thừa nhận như là nguồn cảm hứng chính cho tất cả các học thuyết xã hội triệt để thời hiện đại” [37, tr 35] Những tác phẩm đầu tay của Marx chủ yếu là về triết học Chỉ với
tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1846) Marx mới phác thảo những quan điểm đầu
tiên về quan niệm duy vật về lịch sử Trong đó ông coi xã hội là “một cấu trúc xác định được dựng lên xung quanh các giai cấp đối kháng, phân công lao động và các hình thức sở hữu.” [37, tr 35] Khi nói về phân tầng xã hội, Marx hết sức nhấn mạnh đến phân tầng xã hội dựa trên giai cấp và cơ sở để phân chia giai cấp đựơc xác định theo “quan hệ của họ với tư liệu sản xuất và quan
hệ giữa họ với nhau Chế độ tư hữu tạo ra sự phân chia cơ bản giữa những người có các nguồn lực kinh tế với những người không Sự bất bình đẳng về tài sản trong xã hội tư bản dựa trực tiếp trên cơ sở về tư liệu sản xuất như đất đai, máy móc, công xưởng” [36, tr 107] Theo Marx “Những thứ mà giai cấp
Trang 26tư sản thống trị có được không phải nhờ ở những phẩm chất cá nhân hay phẩm chất con người của hắn, mà chỉ có được với tư cách là người sở hữu tư bản” [34, tr.3]
Dựa vào tiêu trí trên Marx chỉ ra cấu trúc phân tầng xã hội gồm hai tầng bậc chủ yếu là:
- Giai cấp hay tập đoàn người làm ông chủ, sở hữu tư liệu sản xuất, chiếm vị trí thống trị và bóc lột người khác
- Các nhóm hay các giai cấp còn lại trong xã hội không nắm tư liệu sản xuất
Như vậy, theo Marx cơ cấu xã hội chủ yếu được xem xét theo “một trục thẳng đứng” tức là quyền lực chính trị phụ thuộc trực tiếp vào quyền lực kinh tế; giai cấp nào nắm vị trí chủ đạo trong kinh tế thì giai cấp đó nắm được quyền lực chính trị và có khả năng chi phối các giai cấp khác về mặt tư tưởng, tinh thần Tiêu chí cơ bản để sắp xếp, phân chia giai cấp là quyền sở hữu về tư liệu sản xuất Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt giữa quyền sở hữu về tư liệu sản xuất với quyền kiểm soát/ quyền sử dụng tư liệu sản xuất “Ở xã hội Việt Nam (và nhiều nước khác) hiện nay thì quyền kiểm soát về tư liệu sản xuất đóng vai trò rất quan trọng (hơn cả quyền sở hữu) trong việc xác định địa vị kinh tế xã hội của các thành viên trong hệ thống phân tầng.” [11, tr 13]
Tuy nhiên, khi xem xét cơ cấu xã hội như một “trục đứng” và coi yếu
tố sở hữu là dấn hiệu cơ bản để sắp xếp các cá nhân vào các tầng bậc khác nhau Marx cũng hết sức chú trọng đến việc phân tích tính “cơ động xã hội, một đặc trưng quan trọng gắn chặt với những động thái và phương thức tạo ra
sự biến đổi trong nội bộ của những cơ cấu xã hội hiện thực như (chuyển dịch
xã hội từ nghề này sang nghề khác, hay chuyển từ những việc có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp lên những công việc có trình độ kỹ thuật cao)” [35,
tr 14] Marx viết: “bên cạnh các bậc thang đẳng cấp ấy là sự phân chia giản
Trang 27đơn những người lao động thành những người lao động thành thạo và những người lao động không thành thạo” [13, tr 413] và “sự phát triển một thang bậc sức lao động với một thang tiền công phù hợp với nó” Vậy là, ngoài yếu
tố quyền sở hữu với tư liệu sản suất thì yếu tố như trình độ, chuyên môn kỹ thuật của người lao động hay lĩnh vực tham gia lao động sản xuất cũng là những yếu tố không thể bỏ qua khi xem xét hay phân tích địa vị nghề nghiệp của các cá nhân trong xã hội
Tóm lại, học thuyết của Karl Marx đã chỉ cho chúng tôi cơ sở kinh tế của việc phân chia xã hội thành các giai cấp dựa vào quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất Đồng thời cũng chỉ ra các yếu tố như: trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động, lĩnh vưc tham gia lao động sản xuất sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phân chia cơ cấu nội bộ của các giai cấp Mở rộng hơn quan điểm của Marx về quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất, chúng tôi còn xem xét đến yếu tố về quyền sử dụng/ quyền kiểm soát đối với tư liệu sản xuất hay việc nắm giữ và kiểm soát các loại nguồn lực khác Việc các cá nhân khác nhau nắm giữ hay kiểm soát lượng và loại nguồn lực khác nhau đã ảnh hưởng như thế nào đến địa vị nghề nghiệp của họ, của con cái họ? Các gia đình đã chuyển giao lượng và các loại nguồn lực cho con cái họ như thế nào và thông qua cách thức nào?
1.2.2 Quan điểm của Max Weber
“Max Weber (1864-1920) nghiên cứu cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở xã hội phương Tây sau Marx hơn nửa thế kỷ.”[14, tr 36] Trong quan điểm của mình về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội Weber có kế thừa quan điểm của Marx khi thừa nhận vai trò quyết định của nhân tố kinh tế (quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất) Tuy nhiên, Weber cho rằng “vị thế xã hội không phải bao giờ cũng là vấn đề sở hữu tài sản” [36, tr.107] Do vậy, “ Phân tầng
Trang 28xã hội không đơn giản chỉ là vấn đề giai cấp mà còn bị tác động của hai nhân
tố nữa là vị thế (Status) và đảng phái (party).”[36, tr.107]
Để tìm xem Weber dựa vào cơ sở nào để phân chia các cá nhân hay nhóm xã hội và từng giai cấp hay từng địa vị xã hội, chúng ta phải tìm hiểu kỹ hơn các khái niệm mà Weber đề cập Nếu Karl Marx dựa vào quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất để phân chia giai cấp thì Weber định nghĩa: “ Giai cấp
là một nhóm các cá nhân có chung vị thế trong nền kinh tế thị trường và do đó
có được những lợi ích kinh tế giống nhau Theo cách nói của ông, tình huống giai cấp của một người về cơ bản là tình huống thị trường của anh chị ta.” [36, tr107] Như vậy, cơ sở để phân chia giai cấp không chỉ từ sự sở hữu, sự kiểm soát hay không có quyền sở hữu, quyền kiểm soát đối với tư liệu sản xuất mà còn từ những “khác biệt kinh tế không liên quan gì tới tài sản Những nguồn lực đó bao gồm kỹ năng, kỹ xảo và bằng cấp tức trình độ chuyên môn, những cái có tác động mạnh đến loại công việc mà người ta có thể kiếm được.” [36,
tr 107] Theo Weber địa vị thị trường của một cá nhân có ảnh hưởng mạnh đến cơ may cuộc đời của cá nhân đó Chính vì thế mà những người có tình huống giai cấp hay tình huống thị trường giống nhau có những cơ may cuộc sống như nhau Nếu xem xét xã hội theo cơ cấu giai cấp thì Weber cho rằng trong xã hội tư bản chủ nghĩa có những giai cấp sau:
1 Giai cấp thượng lưu có tài sản
2 Những người cổ cồn trắng không có tài sản
3 Tiểu tư sản
4 Giai cấp công nhân lao động chân tay
Ngoài việc phân chia xã hội theo giai cấp thì theo Weber : “phân tầng xã hội thành các nhóm thu nhập diễn ra phổ biến trong xã hội hiện đại” [14, tr 39]
Trang 29Trong Lý thuyết của Weber ngoài nhân tố giai cấp thì ông có đề cập đến nhân tố mà ông gọi là vị thế (status) Weber dùng khái niệm vị thế để chỉ
“những khác biệt giữa các nhóm xã hội về uy tín mà họ có so với người khác Những người có cùng vị thế tạo nên cộng đồng trong đó người ta có ý thức mạnh mẽ về bản sắc chung Vì các thành viên của những nhóm vị thế nổi trội
ý thức được lợi ích chung, họ dễ xúc tiến những nỗ lực để phát triển các cơ chế để duy trì và bảo vệ vị trí của họ cũng như con cái họ Vị thế thường độc lập so với sự phân chia giai cấp Thường thì việc có tài sản tạo ra vị thế cao, nhưng điều đó không phải bao giờ cũng đúng mà có nhiều ngoại lệ.” [36, tr 108]
Nhân tố thứ ba mà Weber nhắc tới khi nói về phân tầng xã hội đó chính
là đảng phái Theo ông, “Đảng phái gồm các cá nhân có cùng lợi ích kinh tế, tức là cùng một tình huống giai cấp hoặc gồm cá nhân có cùng nhóm vị thế” [9, tr 191] “Việc lập đảng phải là một khía cạnh quan trọng của quyền lực và
có thể ảnh hưởng đến sự phân tầng, bất kể giai cấp và vị thế.” Như vậy, nếu phân tầng xã hội theo giai cấp chủ yếu dựa vào yếu tố kinh tế với tình huống thị trường, phân tầng xã hội theo vị thế dựa vào yếu tố danh dự, uy tín thì phân tầng xã hội theo đảng phái chủ yếu dựa vào yếu tố quyền lực
Tóm lại, Weber chỉ cho ta thấy rằng ngoài việc phân tầng xã hội dựa vào giai cấp chúng ta cũng có hệ thống phân tầng dựa vào vị thế hay đảng phái
Và vị trí xã hội của một cá nhân không chỉ bị quy định bởi các nhân tố kinh tế như quyền sở hữu với tư liệu sản xuất mà còn phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố phi kinh tế khác như trình độ học vấn, kỹ năng tay nghề hay là nhân
tố văn hóa như uy tín hay quyền lực…Điều này gợi ý cho chúng tôi phân tích, xem xét tác động của các yếu tố như: đặc điểm của cá nhân đặc biệt là trình
độ học vấn, uy tín, quyền lực mà cá nhân có được tác động như thế nào đến
vị trí nghề nghiệp của cá nhân đó
Trang 301.2.3 Quan điểm của Bourdieu
Pierre Bourdieu là nhà xã hội học người Pháp, “lý thuyết của ông có tính chất sinh động bởi khát vọng khắc phục cái mà ông gọi là sự đối chọi sai lầm giữa chủ nghĩa khách quan và chủ nghĩa chủ quan.” [6, tr 93] Khi nói về cấu trúc xã hội, Bourdieu có những quan điểm rất khác so với các nhà xã hội học tiền bối trước đó như Karl Marx hay Max Weber Ông sử dụng khái niệm
“class” chúng ta có thể dịch là “tầng lớp” hay “nhóm” để chỉ về những tác nhân có vị trí tương tự trong không gian xã hội (social space) Ông đặt ra câu hỏi liệu các “class” có tồn tại trên thực tế hay chỉ tồn tại trên giấy tờ, trong các nghiên cứu của các nhà khoa học hay trong chiến lược của các nhà chính trị? Và đâu là danh giới để phân biệt class này với class khác? Theo quan điểm của Boudieu: “Trong thực tế, có thể sẽ phải phủ nhận sự tồn tại của các class như là tập hợp giống nhau về kinh tế và những khác biệt xã hội của các
cá nhân trong các nhóm để xác nhận sự tồn tại ở cùng một thời điểm những khoảng không gian khác biệt dựa trên nguyên tắc về kinh tế và những khác biệt xã hội.” [64, tr 3] Như vậy, theo Boudieu dù có tồn tại trên thực tế các class hay không nhưng không gian xã hội “social space” là có thật và nhiệm
vụ của các nhà khoa học là “ thiết lập không gian để có thể giải thích, dự báo nhiều nhất những khác biệt có thể quan sát được của các cá nhân hay những điểm tương đồng để quyết định nguyên tắc căn bản nhất của những khác biệt cần thiết hay những khác biệt hữu hiệu để có thể giải thích hay dự báo toàn bộ những đặc tính quan sát được nhằm nhóm các cá nhân lại thành các nhóm” [64, tr 3] Và dấu hiệu nào để phân biệt class này với class khác lại phụ thuộc vào mục đích của từng cá nhân, từng cuộc nghiên cứu Boudieu chỉ ra rằng:
“Cũng giống như các nhóm thì những đặc điểm về kinh tế, về xã hội, các nhóm nghề nghiệp hay là các giai cấp đó đều là biểu tượng của sự cấu trúc có định hướng theo mục đích cá nhân” [64, tr 9]
Trang 31Điểm đặc sắc trong lý thuyết của Bourdieu về cấu trúc xã hội không phải
ở việc trả lời câu hỏi có tồn tại hay không tồn tại các class cũng như đâu là danh giới phân biệt Class này với class khác? Điểm đặc biệt trong lý thuyết của Bourdieu đó là những lý giải của ông về quá trình thiết lập các class Hay nói cách khác là làm thế nào các class tồn tại? Và đâu là nhân tố quan trọng quyết định vị trí của từng cá nhân trong mỗi class? Lý thuyết về thực hành (theory of Practice) của Bourdieu trả lời cho những thắc mắc trên Lý thuyết
về thực hành cảu Bourdieu có thể được tóm tắc dưới sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Lý thuyết về thực hành của Bourdieu
Để hiểu được sơ đồ lý thuyết hành động trên của Bourdieu chúng ta cần hiểu được khái niệm then chốt trong sơ đồ này đó là khái niệm về môi trường hành động (field) và khái niệm tập tính/ tập quán (habitus) Theo Bourdieu khái niệm môi trường hành động (field) là “biểu hiện cơ bản nhất cho sự định
Class Vốn Thực hành
Lương vốn Loại vốn
Cấu trúc
Con đường di động xã hội
Tác nhân
Môi trường hành động Môi trường hđ
Class
Vốn Tập tính Thực hành
Lương vốn Loại vốn
Cấu trúc
Con dường di động xã hội
Trang 32hình của các mối quan hệ tập thể giữa các vị trí Những vị trí này được xác định một cách khách quan trong sự tồn tại của họ và xác định những áp đặt của họ lên những người tham gia, các đại diện hay tổ chức thông qua khả năng hiện tại hay tiềm năng của họ trong cơ cấu quyền lực.” [53, tr 237] Như vậy khái niệm môi trường hành động của Bourdieu thể hiện những nguyên tắc
mà các chủ thể hành động khi tương tác với các cá nhân khác trong môi trường đó sẽ phải tuân theo Khái niệm này của Bourdieu có thể khiến người
ta liên tưởng đến quan điểm của các nhà lý thuyết theo trường phái cấu trúc luận khi cho rằng các cá nhân hành động tuân theo các cấu trúc khách quan Tuy nhiên, quan điểm của Bourdieu lại không giống với quan điểm của các lý thuyết gia của trường phái cấu trúc luận khi ông đưa ra khái niệm về tập tính/thói quen (habitus) Khái niệm tập tính của Bourdieu có thể được hiển
là : “các cấu trúc về mặt tinh thần hay nhận thức, thông qua đó mọi người xử
lí thế giới.”[6, tr 69] Nói một cách khác, tập tính là “những cấu trúc bên ngoài được cá thể hóa vào bên trong thành những khuynh hướng hành động” Những tập tính này chỉ cho chúng ta những “nguyên tắc căn bản trong hành động để đạt mục đích Nó cũng đưa cho chúng ta những khuynh hướng lựa chọn, sản xuất, tái sản xuất những thực hành đặc biệt.”[53, tr 237] Như vậy, mặc dù tập tính là một cấu trúc có tính chất chủ quan hóa, kìm hãm tư duy và hành động, nhưng nó không quyết định chúng Tập tính chỉ định hướng cho các cá nhân để họ lựa chọn hành động Đây chính là điểm khác biệt trong quan điểm của Bourdieu với quan diểm của các lý thuyết gia theo trường phái cấu trúc luận “Một tập tính chỉ có được theo ý nghĩa là kết quả của một sự chiếm giữ dài ngày một vị trí trong thế giới xã hội”[6, tr 96-97]
Lý thuyết của Bourdieu chỉ ra rằng: “Các cá nhân chiếm giữ cùng vị trí giống nhau trong không gian xã hội cũng có điều kiện sinh tồn giống nhau: kết quả là họ có nhiều cơ hội có vị trí giống nhau, sở thích giống nhau và họ
Trang 33tái sản xuất những thực hành giống nhau Khi họ ở cùng một vị trí họ có nhiều cơ hội có những tập tính giống nhau và theo quy tắc của sự phân tầng thì điều đó dễ để họ có được những vị trí giống nhau” [64, tr 5] Mặc dù, các
cá nhân có cùng môi trường hành động, có cùng một tập tính thì có thể sẽ có cùng vị trí trong không gian xã hội Những yếu tố nào quyết định vị trí xã hội của từng cá nhân? Theo Bourdieu có ba yếu tố cơ bản quyết định vị trí xã hội của từng cá nhân trong không gian xã hội đó là: 01.lượng vốn mà các cá nhân chiếm giữ (Volume capital they possess); 02.loại vốn mà các cá nhân chiếm giữ (the composition of their capital); 03.con đường di động trong không gian
xã hội (their trajectory in social space) Trong các loại vốn theo Bourdieu có bốn loại vốn cơ bản đó là: “vốn kinh tế (economic capital) được biểu hiện dưới rất nhiều hình thức; vốn văn hóa (cultural capital) hay là cái gì đó hơn thế nữa, như là vốn thông tin, biểu hiện với nhiều hình thức của nó; loại vốn thứ ba bao gồm hai loại vốn rất quan trọng đó là vốn xã hội (social capital),
nó bao gồm những nguồn lực có được dựa vào mối quan hệ và mối quan hệ của các thành viên trong nhóm; vốn biểu tượng (symbolic capital)” [64, tr.4]
Lý thuyết của Bourdieu đã chỉ dẫn cho chúng tôi trong việc giải thích quá trình tái sản xuất xã hội đã diễn ra như thế nào? Các nhóm xã hội được thiết lập và duy trì như thế nào? bằng con đường nào? Điều này phù hợp với
đề tài của tôi khi muốn tìm hiểu việc thế hệ cha mẹ đã chuyển giao cho con cái họ những gì và điều đó ảnh hưởng như thế nào đến vị trí nghề nghiệp của thế hệ những người con trong xã hội
1.3 Thao tác hóa khái niệm
1.3.1 Khái niệm di động xã hội (social mobility), di động nghề nghiệp (occupational mobility)
Thông thường di động xã hội được hiểu là: “Sự dịch chuyển – thường là của cá nhân nhưng đôi khi là của nhóm- giữa các vị trí khác nhau trong hệ
Trang 34thống phân tầng xã hội có ở bất kì xã hội nào” [2, tr 140] Diễn đạt theo cách khác chúng ta hiểu di động xã hội là: “Sự thay đổi từ địa vị gốc ban đầu tới địa vị xã hội tại một thời điểm xác định nào đó” [11, tr.36]
Di động nghề nghiệp “đề cập đến sự vận động của chính một nhóm nghề, hoặc của một cá nhân thành viên một nghề, hoặc của một chỗ trống nghề nghiệp diễn ra trong hệ thống phân tầng của không gian xã hội.” [2, tr 140]
1.3.2 Khái niệm thế hệ (genenation)
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thế hệ: “Theo tác giả Karl Mannheim viết vào những năm 1920 thì thế hệ đơn giản là một nhóm người ở cùng một nhóm tuổi có mối liêm hệ với sức mạnh của một sự kiện lịch sử” [54, tr 2] Cũng có thể hiểu thế hệ “là một hình thức nhóm theo độ tuổi, nó bao gồm những thành viên trong xã hội sinh ra trong cùng một khoảng thời gian nào đó” [2, tr 548] với cách hiểu này chúng ta thường hay nghe nói đến các cụm
từ như thế hệ 8X để chỉ những người sinh từ năm 1980 đến năm 1989, hay thế
hệ 9X (những người sinh từ năm 1990 đến 1999)
Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận khái niệm thế hệ theo gia đình (nghĩa là các thế hệ khác nhau trong mỗi gia đình trong đó: ông, bà là thế hệ thứ nhất; bố, mẹ là thế hệ thứ hai và những người cháu là thế hệ thứ ba)
1.3.3 Khái niệm di động nghề nghiệp liên thế hệ,
Di động nghề nghiệp liên thế hệ (inter-generational occupational mobility) thường được hiểu là “sự thay đổi địa vị nghề nghiệp của con trai so với nghề nghiệp của cha Tức là, nghề nghiệp của con trai có nguồn gốc xuất thân từ nghề nghiệp của cha như thế nào.” [42, tr 97] Trong luận văn của mình, chúng tôi sử dụng khái niệm di động nghề nghiệp liên thế hệ để chỉ sự thay đổi địa vị nghề nghiệp của con cái không phân biệt nam hay nữ so với địa vị nghề nghiệp của cha hay địa vị nghề nghiệp của mẹ Với những người
Trang 35làm cùng nhóm nghề với nhóm nghề của cha hay mẹ thì gọi đó là những người con không di động (những người kế tục nghề của cha hay mẹ); những người làm khác nhóm nghề với nhóm nghề của cha hay mẹ họ thì được gọi là những người con di động
1.3.4 Công thức tính các tỷ lệ di động
Để tính toán các tỷ lệ di động cũng như là chỉ ra các nhân tố tác động đến di động nghề nghiệp liên thế hệ nhà xã hội học người Nhật Bản Saburo Yasuda đã đưa ra một số công thức tính toán các tỷ lệ di động thông qua bảng
ma trận vuông thể hiện mối tương quan giữa địa vị xã hội của cha và địa vị xã hội của con như sau:
Bảng 1.1: Di động xã hội từ thế hệ cha sang thế hệ con trai
Nguồn gốc từ Địa vị xã hội của con trai Tổng
( Nguồn : Đỗ Thiên Kính (2012), Hệ thống phân tầng xã hội ở Việt Nam
hiện nay, NXB Khoa học xã hội, tr 148)
Trong đó N là tổng số cặp cha con trong nghiên cứu
Nhìn vào bảng trên, ta thấy di động tổng thể (total mobility) / di động thực tế (factual mobility) sẽ có công thức như sau : Di động thực tế = N - nii
Trang 36trong đó N là tổng số cặp cha con ; nii là tổng số địa vị không đổi từ cha sang con (tứclà tổng dãy số nằm trên đường chéo từ n11 đến nkk )
Tỷ lệ di động thực tế = [(N - nii)/ N] [42, tr 99]
“Di động ép buộc (forced mobility)/ di động cấu trúc (structural mobility) là di động được tạo ra bởi các yếu tố yêu cầu (demand factor) Hay nói cách khác, nếu mà tất cả những người con đều quyết định làm nghề của cha họ nhưng do không còn chỗ trống nào trong nghề của cha họ cho họ làm nữa mà họ phải đi sang làm nghề khác những di động này sẽ là di động cấu trúc/ di động ép buộc.” [61, tr 40] Các yếu tố yêu cầu tương đương với hai nhóm nguyên nhân gây ra di động đó là: “(1) sự thay đổi khách quan về kết cấu của những tầng lớp xã hội; (2) sự thay đổi về quy mô dân số trong mỗi tầng lớp xã hội khác nhau” [42, tr 99]
Tỷ lệ di động cấu trúc =[(ni- n i )/2N]
Di động thuần (Pure mobility)/ di động ròng là “di động xuất phát từ cấu trúc xã hội mà không phải xuất phát từ sự tăng lên hay giảm xuống của nhu cầu về một địa vị nghề nghiệp nào đó”[61, tr.40] Hay nói cách khác di động ròng là di động tạo ra do nhóm nguyên nhân là “sự thay đổi của bản thân các
cá nhân trong việc dịch chuyển giữa các nhóm địa vị xã hội khác nhau, tức là các cá nhân chủ động, năng động vươn tới địa vị xã hội cao hơn hay tụt xuống tầng lớp địa vị xã hội thấp hơn
Trang 37Trong đó fii = ni x n I /N fii chính là giá trị kỳ vọng với điều giả sử có sự độc lập thống kê Điều này giả sử rằng số quan sát ở ô nii đạt tơi giá trị kỳ vộng thì ta có thể kết luận rằng những người con trai ở ô đó đã di chuyển tới địa vị xã hội mới một cách độc lập hoàn toàn với địa vị của cha họ Chỉ số Y
= 1 khi di động xã hội ở bảng 1 đạt tới trạng thái hoàn hảo tức là lúc này địa
vị của con hoàn toàn độc lập với địa vị của cha Chỉ số Y = 0 khi không có di động thuần tức là di động thuần bằng 0 khi đó di động xã hội ở bảng 1.1 sẽ đạt tới trạng thái gọi là xã hội khép kín hoàn hảo
Tương tự ý nghĩa như hệ số mở cho toàn xã hội, hệ số mở cho từng nhóm nghề cho ta biết cơ hội di động của nhóm nghề đó ra sao Công thức tính của chỉ số này là: Yii= [min( ni , n i )- nii] / [min( ni , n i )-fii ]
Trong đó fii = ni x n I /N [11, tr 153]
Một lưu ý khi nghiên cứu di động nghề nghiệp liên thế hệ đó chính là việc chọn thời điểm so sánh giữa nghề của cha, mẹ với nghề của con Chúng
ta đều biết trong suốt cuộc đời của một con người anh ta không phải chỉ làm
có một nghề mà có thể ở vào các thời điểm khác nhau các cá nhân làm những nghề khác nhau Vậy khi tính toán các tỷ lệ di động nghề nghiệp liên thế hệ chúng ta sẽ phải chọn nghề nghiệp của cá nhân ở vào thời điểm nào là có ý nghĩa nhất? Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: một yêu cầu nghiêm ngặt của việc chọn thời điểm so sánh nghề nghiệp của con với nghề của cha hay mẹ khi tính toán các tỷ lệ di động nghề nghiệp liên thế hệ đó là thời điểm khi con cái
có nghề đầu tiên và nghề nghiệp chính của cha hay mẹ họ ở vào thời điểm khi con có nghề đầu tiên đó Đây là thời điểm tốt nhất để xem xét việc di động nghề nghiệp lên thế hệ và cũng là thời điểm tốt nhất để tính toán chỉ số Ysuda tổng thể cho chính xác và ý nghĩa Bởi nghề đầu tiên của người con có thể sẽ chịu nhiều ảnh hưởng từ địa vị nghề nghiệp của cha hay mẹ họ, còn những
Trang 38nghề tiếp theo mà người con làm có thể là do kết qủa của những nỗ lực từ bản thân của người con nhiều hơn là từ những ảnh hưởng của cha hay mẹ
Trong luận văn, chúng tôi tiến hành so sánh nghề nghiệp đầu tiên của con với nghề nghiệp chính của cha, mẹ họ ở vào thời điểm khi con có nghề đầu tiên Các thông tin cá nhân khác cũng được lấy ở vào thời điểm khi con
có nghề đầu tiên
1.3.4 Khái niệm phân tầng xã hội
Các nhà xã hội học thường cho rằng: “phân tầng xã hội là sự phân hóa xã hội, sự sắp xếp các cá nhân, các nhóm người thành những tầng bậc khác nhau
về những dấu hiệu, những đặc điểm cơ bản của xã hội.” [14, tr.11] Chúng ta cũng có thể hiểu khái niệm phân tầng xã hội như sau: “Phân tầng xã hội là sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của mọi xã hội loài người, trừ những tổ chức
xã hội sơ khai (thời kì đầu của xã hội công xã nguyên thuỷ) Phân tầng xã hội
là sự phân chia sắp xếp và hình thành các cấu trúc gồm các tầng xã hội (bao gồm cả sự phân loại, xếp hạng) Đó là sự khác nhau về địa vị kinh tế hay tài sản, về địa vị chính trị hay quyền lực, địa vị xã hội hay uy tín cũng như khác nhau về trình độ học vấn, loại nghề nghiệp, phong cách sinh hoạt, cách ăn mặc, kiểu nhà ở, nơi cư trú, thị hiếu nghệ thuật, trình độ tiêu dùng v v…”[18,
2002, 2006, 2007, 2009, 2011) quy định “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.”
Trang 39Một cá nhân có thể có nhiều công việc, hay nói cách khác là có nhiều việc làm trong cùng một khoảng thời gian do vậy để xác định nghề nghiệp chính của người nào đó trong một khoảng thời gian xác định chúng ta lại có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau Trong tổng điều tra mức sống hộ gia đình năm
1993 do Tổng cục thống kê tiến hành, “nghề nghiệp của một cá nhân được xác định dựa trên tiêu chuẩn dành nhiều thời gian nhất để làm công việc đó trong vòng một năm.”[42, tr 102]
Trong luận văn này, chúng tôi xác định khái niệm nghề nghiệp của một
cá nhân dựa vào tiêu chí là việc làm đem lại nguồn thu nhập lớn nhất cho cá nhân đó ở tại thời điểm nghiên cứu Nó được đo lường cụ thể bằng câu hỏi sau: “ Việc làm đem lại nguồn thu nhập chính đầu tiên của ông / bà là gì? Và khi ông bà có việc làm chính đầu tiên đó thì việc làm đem lại nguồn thu nhập chính cho bố ông / bà là gì?”
Nghề nghiệp chính của các cá nhân sẽ được mã hóa và nhóm vào 5 nhóm nghề cơ bản sau:
Nhóm 01 bao gồm: (1) những người làm lãnh đạo quản lý trong các ngành, các cấp và các đơn vị Nhóm này bao gồm : những người giữ chức vụ lãnh đạo quản lý trong các cơ quan Đảng, Chính quyền; các khối đoàn thể các cấp từ trung ương tới địa phương; lãnh đạo , quản lý trong các tổ chức chủ nghiệp nhân đạo và vì quyền lợi đặc thù khác; lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan Liên hiệp, Tổng công ty và tương đương tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ; lãnh đạo, quản lý các công ty, doanh nghiệp, xí nghiệp tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ (2) Các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc cao Nhóm này bao gồm: Kỹ sư, kiến trúc sư, bác sỹ, những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, các trường cao đẳng, đại học; những người sáng tác, phê bình văn học nghệ thuật (3) nhân viên và các nhà chuyên môn kỹ thuật bậc trung Nhóm này bao gồm: Giáo
Trang 40viên mầm non, cấp 1, cấp 2, cấp 3, y tá, dược sỹ, họa sỹ, nhân viên kế toán, thư viện, các kỹ thuật viên làm việc tại các cơ quan, công ty, xí nghiệp, các nhân viên hành chính, văn phòng, các nhân viên tác nghiệp trong các cơ quan nhà nước hay các công ty, doanh nghiệp, xí nghiệp…
Nhóm 02 những người làm dịch vụ buôn bán Nhóm này bao gồm những người buôn bán, cung cấp các dịch vụ, hàng hóa với quy mô cá nhân hay hộ gia đình
Nhóm 03 công nhân là những người trực tiếp tham gia vào lao động sản xuất tại các nhà máy, xí nghiệp, hồm mỏ…
Nhóm 04 Nông dân là những người làm công việc trồng trọt và chăn nuôi trong nông lâm nghiệp và thủy sản ở quy mô cá nhân hay hộ gia đình Nhóm 05 những người làm trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp như: thợ mộc, thợ xây, thợ rèn, thợ gốm….và các lao động tự do khác
Tiểu kết chương 1
Chương một của luận văn, chúng tôi đã chỉ ra cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Trong đó chúng tôi chỉ ra được những điểm mạnh và những điều còn bỏ ngỏ của các công trình nghiên cứu trước đó về vấn đề di động xã hội, di động nghề nghiệp liên thế hệ Đồng thời, chúng tôi phân tích các quan điểm của các nhà xã hội học tiền bối như : Karl Marx, Max Weber, Bourdieu về vấn đề phân tầng xã hội và di động xã hội làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình Chương này cũng đề cập đến một số các khái niệm về
di động xã hội, di động nghề nghiệp liên thế hệ và các công thức tính các tỷ lệ
di động và các chỉ số khác để đo lường di động nghề liên thế hệ