1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF

133 529 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những số liệu khác được sử dụng trong nghiên cứu này được thu nhập từ các kênh thông tin đã công bố công khai của các cơ quan, tổ chức có uy tín như Viện Chính sách và Chiến lược Phát tr

Trang 1

Mục lục

PHẦN I: MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Câu hỏi nghiên cứu 10

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 11

3.1 Ý nghĩa khoa học 10

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 10

4 Mục đích nghiên cứu 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

6 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 12

6.1 Đối tượng nghiên cứu 12

6.2 Khách thể nghiên cứu 12

6.3 Phạm vi nghiên cứu 12

7 Phương pháp luận và phương pháp thu thập thông tin 12

7.1 Phương pháp luận 12

7.2 Phương pháp thu thập thông tin 13

8 Giả thuyết nghiên cứu 14

9 Khung lý thuyết 15

PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 16

1.1 Những lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 16

1.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội 16

1.1.2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý 16

1.1.3 Lý thuyết phát triển bền vững 18

1.1.4 Hướng tiếp cận của thuyết chức năng về truyền thông đại chúng 19

1.2 Khái niệm công cụ 21

1.2.1 Nông nghiệp 21

1.2.2 Nông thôn 22

1.2.3 Nông dân 23

1.2.4 Nhu cầu 23

1.2.5 Thông tin 24

Trang 2

1.2.6 Truyền thông 25

1.2.7 Kênh truyền thông 25

1.2.8 Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn……… 27

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 26

1.4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 27

1.4.1 Một số kinh nghiệm quốc tế về truyền thông nông nghiệp nông thôn 27

1.4.2 Một số công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn và truyền thông nông nghiệp nông thôn tại Việt Nam 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THÔNG TIN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN CỦA NÔNG DÂN 40

2.1 Một số vấn đề chung về kênh truyền thông nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam hiện nay 40

2.1.1 Truyền hình 40

2.1.2 Phát thanh 43

2.1.3 Báo in 45

2.1.4 Báo mạng 47

2.1.5 Truyền thông qua Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư 50

2.1.6 Truyền thông qua Hiệp hội, đoàn thể 52

2.1.7 Các kênh thông tin khác 53

2.2 Thực trạng sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân hiện nay 54

2.2.1 Các loại thông tin, kênh thông tin nông nghiệp nông thôn người nông dân tiếp cận hiện nay 54

2.2.2 Thời điểm tiếp cận thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân 61

2.3 Đánh giá hiệu quả về nội dung thông tin và các kênh thông tin nông nghiệp nông thôn qua ý kiến của nông dân 70

2.3.1 Hiệu quả về nội dung thông tin nông nghiệp nông thôn 70

2.3.2 Hiệu quả của các kênh thông tin trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn 74

2.4 Mong muốn của người nông dân trong việc tiếp cận thông tin nông nghiệp nông thôn 83

Trang 3

2.4.2 Mong muốn về kênh thông tin nông nghiệp nông thôn 86

2.4.3 Mong muốn về thời điểm tiếp cận thông tin nông nghiệp nông thôn 88

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHU CẦU SỬ DỤNG THÔNG TIN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN CỦA NÔNG DÂN 98

3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp nông thôn và truyền thông trong thời kỳ đổi mới 98

3.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp nông thôn 98

3.1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về truyền thông trong thời kỳ đổi mới 101

3.2 Đặc trưng nhân khẩu xã hội của người nông dân 101

3.2.1 Mối quan hệ giữa học vấn của nông dân với nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn 101

3.2.2 Mối quan hệ giữa độ tuổi của nông dân với nhu cẩu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn 104

3.2.3 Mối quan hệ giữa thu nhập của nông dân với nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn 108

3.2.4 Mối quan hệ giữa giới tính của nông dân với nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn 110

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 113

Danh mục tài liệu tham khảo 119

Phụ lục 121

Trang 4

Lời cảm ơn

Luận văn được hoàn thành dựa trên những số liệu khảo sát thực địa đối với các

hộ nông dân tại xã Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Những số liệu khác được

sử dụng trong nghiên cứu này được thu nhập từ các kênh thông tin đã công bố công khai của các cơ quan, tổ chức có uy tín như Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn, Kênh truyền hình nông nghiệp (VTC16), Bộ NN&PTNT và báo cáo của địa phương

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn BCN Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã giúp đỡ tôi hoàn thành nghiên cứu này Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hướng dẫn rất nhiệt tình của các đồng nghiệp cũ tại Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Các anh, chị đã đóng góp từ ý tưởng đề tài, giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai và hoàn thiện luận văn thạc sỹ này

Đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới người hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Thị Thu Hà, người đã tận tình chỉ bảo và đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn tốt nhất và trong thời điểm sớm

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các cán bộ xã Vĩnh Trinh đã tạo điều kiện

và cung cấp thông tin cho nghiên cứu

Xin cảm ơn lớp Cao học Xã hội học Khóa 2008-2011, những người bạn thân và gia đình đã đồng hành, động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập tại Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội cũng như quá trình tôi thực hiện luận văn thạc sỹ

Trân trọng,

Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2011

Học viên

Lê Thị Huê

Trang 5

NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

KHKT : Khoa học kỹ thuật

Trang 6

Danh mục hình

Hình 1: Các kênh thông tin thị trường nông dân thường tiếp cận 55

Hình 2: Các kênh thông tin kỹ thuật, mùa vụ nông dân thường tiếp cận 57

Hình 3: Các kênh thông tin chính sách NNNT nông dân thường tiếp cận 60

Hình 4 : Thời điểm tiếp cận thông tin NNNT qua truyền hình 63

Hình 5: Thời điểm tiếp cận thông tin NNNT qua đài phát thanh 65

Hình 6: Thời điểm tiếp cận thông tin NNNT qua báo in 66

Hình 7: Thời điểm tiếp cận thông tin NNNT qua báo mạng 67

Hình 8: Thời điểm tiếp cận thông tin NNNT qua trung tâm KNKN 68

Hình 9: Thời điểm tiếp cận thông tin NNNT qua hiệp hội, đoàn thể 68

Hình 10: Thời điểm tiếp cận thông tin NNNT qua các kênh khác 70

Hình 11: Hiệu quả của thông tin thị trường nông sản 71

Hình 12: Hiệu quả của thông tin phục vụ sản xuất nông nghiệp 72

Hình 13: Hiệu quả của thông tin chính sách NNNT 74

Hình 14: Hiệu quả của truyền hình đối với việc cung cấp thông tin NNNT……… 75

Hình 15: Hiệu quả của đài phát thanh đối với việc cung cấp thông tin NNNT 77

Hình 16: Hiệu quả của báo in đối với việc cung cấp thông tin NNNT… 78

Hình 17: Hiệu quả của báo mạng đối với việc cung cấp thông tin NNNT 79

Hình 18: Hiệu quả của trung tâm KNKN đối với việc cung cấp thông tin NNNT 80

Hình 19: Hiệu quả của hiệp hội, đoàn thể đối với việc cung cấp thông tin NNNT 81

Hình 20: Hiệu quả của các kênh thông tin khác đối với việc cung cấp thông tin NNNT 82

Hình 21: Mong muốn về loại thông tin NNNT 84

Hình 22: Mong muốn về kênh thông tin NNNT 86

Hình 23: Thời điểm mong muốn để tiếp cận thông tin NNNT qua truyền hình 89

Hình 24: Thời điểm mong muốn để tiếp cận thông tin NNNT qua đài phát thanh 90

Hình 25: Thời điểm mong muốn để tiếp cận thông tin NNNT qua báo in 91

Hình 26: Thời điểm mong muốn để tiếp cận thông tin NNNT qua báo mạng 92

Hình 27: Thời điểm mong muốn để tiếp cận thông tin NNNT qua trung tâm KNKN 93 Hình 28:Thời điểm mong muốn tiếp cận thông tin NNNT qua hiệp hội, đoàn thể 95

Hình 29: Thời điểm mong muốn để tiếp cận thông tin NNNT qua các kênh khác 96

Trang 7

Hình 30: Tương quan giữa học vấn và loại thông tin NNNT người dân mong muốn tiếp cận nhất 102 Hình 31: Tương quan giữa học vấn và kênh thông tin NNNT người dân mong muốn tiếp cận nhất 103 Hình 32: Tương quan giữa nhóm tuổi và loại thông tin NNNT người dân mong muốn tiếp cận nhất 105 Hình 33: Tương quan giữa nhóm tuổi và kênh thông tin NNNT người dân mong muốn tiếp cận nhất 107 Hình 34: Tương quan giữa thu nhập và loại thông tin NNNT người dân mong muốn tiếp cận nhất 108 Hình 35: Tương quan giữa thu nhập và kênh thông tin NNNT người dân mong muốn tiếp cận nhất 109 Hình 36: Tương quan giữa nghề nghiệp và loại thông tin NNNT người dân mong

muốn tiếp cận nhất Error! Bookmark not defined

Hình 37: Tương quan giữa giới tính và loại thông tin NNNT người dân mong muốn tiếp cận nhất 109 Hình 38: Tương quan giữa giới tính người trả lời và kênh thông tin NNNT người dân mong muốn tiếp cận nhất … 110

Danh mục bảng

Bảng 1 : Thời điểm phát sóng một số chương trình nông nghiệp, nông thôn trên truyền hình 63

Trang 8

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hơn một thập kỷ trở lại đây, ở nước ta, thông tin và truyền thông có những bước phát triển đột biến, đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào sự phát triển của mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội Các phương tiện truyền thông đã và đang trở thành kênh thông tin quan trọng phản ánh mọi mặt của đời sống Đặc biệt, trong giai đoạn hội nhập quốc tế, vai trò của thông tin và truyền thông càng được khẳng định, đó là cầu nối giữa nhiều quốc gia, khu vực

Ở Việt Nam, với 70% dân số sống ở khu vực nông thôn, vai trò của thông tin NNNT luôn luôn được đánh giá cao Nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi người nông dân Việt Nam đang tham gia vào nền kinh tế thị trường và chịu tác động ngày càng mạnh của sự cạnh tranh, thì thông tin càng trở thành một nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của họ

Thực tế cho thấy, do thiếu thông tin nên nông dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, nông dân trên cả nước nói chung hầu như đều tự mình “phán đoán” thị trường giá cả Điều này thể hiện rõ mỗi khi giá lúa có xu hướng tăng lên vài trăm đồng

là diễn ra tình trạng găm hàng không chịu bán, rồi khi có biến động về giá đi xuống lại xảy ra tình trạng “bán tống, bán tháo” dẫn đến tình cảnh bị thương lái ép giá Còn nhiều hàng nông sản khác mà nông dân không tìm được đầu ra cho sản phẩm của mình

vì không nắm được thị trường Đây là một ví dụ cho thấy vai trò quan trọng của thông tin đối với người nông dân

Nông dân cần thông tin, và thực tế là chúng ta đã phát triển một số kênh thông tin NNNT Trên hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin NNNT cũng đã được chuyển tải với một số chuyên mục/nội dung, vào các thời điểm khác nhau và theo nhiều hình thức chuyển tải, ở cả cấp trung ương và địa phương

Ở cấp trung ương, Đài truyền hình Trung ương, kênh InfoTV, Báo Nông nghiệp Việt Nam, Báo Nông thôn Ngày nay, Đài Tiếng nói Việt Nam… đã sản xuất và phát sóng một số chương trình theo ngày và tuần về thông tin nông nghiệp, phát triển nông thôn, vấn đề nông thôn, thông tin kỹ thuật khuyến nông lâm ngư, thông tin thị trường…, một số chương trình có thể kể tên là Nông thôn Ngày nay, Bản tin Nông

Trang 9

(VTV1); Đối thoại chính sách (Nông thôn Ngày nay); Phân tích thị trường nông sản (Kênh InfoTV truyền hình cap Việt Nam)…Đặc biệt, ngày 24/3/2010, Bộ Thông tin – Truyền thông và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ký Nghị quyết liên tịch

về phối hợp chỉ đạo xây dựng kênh truyền hình chuyên biệt về nông nghiệp, nông dân, nông thôn để VTC16 chính thức lên sóng vào ngày 22/4/2010, sau 12 ngày phát sóng thử nghiệm

Ở cấp tỉnh, ngoài các chương trình NNNT do các cơ quan truyền thông của tỉnh sản xuất, (Đài PT-TH tỉnh, Báo tỉnh), đang có sự xuất hiện tham gia của của các doanh nghiệp như Viettel Media trong hoạt động truyền thông NNNT (truyền hình và điện thoại)

Tuy nhiên, dù nhà nước đã có nhiều quan tâm đến mạng lưới thông tin nông nghiệp nông thôn nhưng thời điểm vừa qua, việc người nông dân được tiếp cận với những thông tin cần thiết, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp còn khá hạn chế Nguyên nhân của vấn đề này một phần có thể là do hiệu quả của các kênh truyền thông còn một số bất cập Bởi thế, dù mạng lưới thông tin rất rộng nhưng người nông dân vẫn

“đói” thông tin và chịu nhiều thiệt thòi bởi những khoảng trống do việc thiếu thông tin mang lại

Hiện nay ở nước ta chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hiệu quả của các kênh thông tin NNNT trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của nông dân Từ thực tế đó, tôi chọn đề tài luận văn là “Nhu cầu sử dụng thông tin NNNT của nông dân” Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng về nhu cầu sử dụng thông tin NNNT của nông dân và hiệu quả của các kênh truyền thông này Từ đó, tác giả phân tích nguyên nhân và đề xuất một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động thông tin nông nghiệp nông thôn đối với người nông dân

2 Câu hỏi nghiên cứu

 Hiện nay người nông dân đang có những nhu cầu gì về kênh thông tin NNNT qua các phương tiện truyền thông?

 Kênh truyền thông nào được người nông dân đánh giá cao nhất?

 Thời điểm nào người nông dân tiếp cận thông tin nông nghiệp nông thôn nhiều nhất?

Trang 10

 Người nông dân đánh giá như thế nào về nội dung của các thông tin nông nghiệp nông thôn hiện nay?

 Làm thế nào để nâng cao hiệu quả của thông tin nông nghiệp nông thôn đối với người nông dân?

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Với những kết quả thu thập được về mặt thực nghiệm và về mặt lý thuyết, nghiên cứu này vận dụng một số lý thuyết của xã hội học: Lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết phát triển bền vững, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý, hướng tiếp cận chức năng luận về lý thuyết truyền thông Trong nghiên cứu này, tác giả đã vận dụng các lý thuyết để đánh giá nhu cầu sử dụng thông tin NNNT của người nông dân hiện nay cũng như đánh giá hiệu quả thông tin nông nghiệp đối với nhóm đối tượng trên

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, tác giả mong muốn sẽ đưa ra một đánh giá khách quan về nhu cầu sử dụng thông tin NNNT của nông dân hiện nay Đồng thời, nghiên cứu cũng mong muốn tìm hiểu về hiệu quả của các kênh thông tin NNNT ở nước ta Từ đó tác giả hi vọng kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng như tư liệu tham khảo có ích, giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, các ban các cấp, các ngành, các tổ chức có cái nhìn tổng quát hơn về truyền thông NNNT, để có thể đề xuất các sáng kiến phát huy hơn nữa hiệu quả của kênh thông tin này

4 Mục đích nghiên cứu

Đề tài hướng tới việc tìm hiểu nhu cầu và thực trạng sử dụng thông tin NNNT của người nông dân và đánh giá của nhóm đối tượng này về hiệu quả của nội dung thông tin và các kênh thông tin NNNT hiện nay Qua đó tác giả muốn đưa một số khuyến nghị nhằm đáp ứng hơn nữa nhu cầu của người nông dân về việc tiếp cận thông tin NNNT, cũng như phát huy hiệu quả của truyền thông NNNT đối với nông dân

Trang 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Tìm hiểu thực trạng về nhu cầu sử dụng kênh thông tin NNNT của người nông dân qua đánh giá về nhu cầu thông tin kỹ thuật, mùa vụ sản xuất nông nghiệp, thông tin thị trường và thông tin chính sách nông nghiệp nông thôn của họ

 Tìm hiểu thời điểm người nông dân thường tiếp cận thông tin nông nghiệp nông thôn

 Đánh giá hiệu quả của một số kênh truyền thông NNNT hiện nay

 Đánh giá những loại thông tin, kênh thông tin nông nghiệp và thời điểm mà người nông dân có mong muốn được tiếp cận để phục vụ tốt hơn cho các hoạt động sản xuất, hoạt động thị trường và tiếp cận chính sách NNNT

 Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của thông tin nông nghiệp nông thôn đối với người nông dân

6 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

6.1.Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá nhu cầu sử dụng thông tin NNNT của

nông dân

6.2 Khách thể nghiên cứu

 Người nông dân trên địa bàn xã Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ

 Cán bộ lãnh đạo địa phương

 Các tài liệu liên quan đến truyền thông, đặc biệt là truyền thông liên quan đến nông nghiệp – nông thôn – nông dân

6.3 Phạm vi nghiên cứu

 Thời điểm: Từ tháng 5/2010 – 8/2011

 Không gian: Xã Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ

7 Phương pháp luận và phương pháp thu thập thông tin

7.1 Phương pháp luận

Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử Từ quan điểm này, tác giả nghiên cứu nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của người nông dân trong bối cảnh nhu cầu đó chỉ có thể thỏa mãn được khi mạng lưới truyền thông phát triển tốt, nội dung phù hợp Nội dung và hình thức tốt, cùng với thời điểm phù hợp sẽ tạo điều kiện để người nông dân tiếp cận thông tin nông nghiệp nông thôn tốt hơn

Trang 12

7.2 Phương pháp thu thập thông tin

 Phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi với số lượng mẫu phỏng vấn là 200 nông dân tại địa bàn xã Vĩnh Trinh

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện Vì lý do thời điểm và nhân lực, phương pháp này được tác giả thực hiện có tính toán đến trình độ học vấn, giới tính, nghề nghiệp của các đối tượng được phỏng vấn khác nhau trong mẫu nghiên cứu để đảm bảo cho kết quả có độ khách quan cao nhất

Tác giả chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện theo nguyên tắc như sau: Khi đi điều tra, tác giả cứ đi đến 20 nhà thì chọn 1 nhà để tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi (trên tổng số dân trên xã là hơn 4.000 hộ dân) Nếu tôi không gặp được người cần hỏi tại nhà đã chọn, tôi sẽ quay vòng lại và tiếp tục vòng chọn để đủ được 200 mẫu phỏng vấn

Tuy nhiên, tác giả tự nhận thấy rằng, việc chọn mẫu trong nghiên cứu này chưa thể suy rộng nếu xét trên phạm vi rộng của vấn đề nghiên cứu ở tất cả vùng nông thôn của cả nước Chính vì vậy, nghiên cứu này chỉ xem xét vấn đề trong phạm vi hẹp với trường hợp đánh giá nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp của nông dân tại xã Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ

Cơ cấu mẫu khảo sát cụ thể như sau:

Trang 13

 Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 08 phỏng vấn sâu, trong đó đại diện

hộ nông dân là 06 và cán bộ lãnh đạo địa phương là 02

8 Giả thuyết nghiên cứu

 Hiện nay người nông dân đang rất cần các thông tin NNNT, đặc biệt là các thông tin về kỹ thuật và mùa vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp cũng như các thông tin về chính sách và thị trường

 Kênh thông tin nông nghiệp nông thôn được người dân tiếp cận nhiều nhất là các kênh truyền hình Hình thức tiếp cận thông tin NNNT qua đài phát thanh không còn phổ biến như trước; báo mạng (internet) chưa thực sự phổ biến ở khu vực nông thôn Các kênh thông tin khác như hiệp hội, đoàn thể, trung tâm khuyến nông, khuyến ngư…chưa phát huy hiệu quả tối đa

 Thời điểm tiếp cận thông tin nông nghiệp nông thôn phổ biến của người nông dân vào giờ nghỉ ngơi (ngoài giờ lao động sản xuất) buổi trưa và buổi tối

 Người nông dân đánh giá chưa cao về hiệu quả của các kênh truyền thông hiện nay, chưa đáp ứng được nhu cầu của đông đảo người dân

 Có nhiều nhân tố tác động đến nhu cầu tiếp cận thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân như: Tuổi tác, học vấn, giới tính…của người tiếp cận thông tin

Trang 14

9 Khung lý thuyết

Hiệu quả của thông tin NNNT

Điều kiện kinh tế xã hội

Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân

Loại thông tin:

- Thông tin thị trường

- Thông tin kỹ thuật, mùa vụ (phục vụ sản xuất)

- Thông tin chính sách

Trang 15

PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Những lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội:

Khi thực hiện nghiên cứu “Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân”, tác giả chọn lý thuyết biến đổi xã hội là một trong những lý thuyết làm nền tảng để phân tích

Theo quan điểm của Lý thuyết biến đổi xã hội, mọi xã hội từ khi hình thành đều không ngừng biến đổi, vận động Theo Từ điển Xã hội học, “Biến đổi xã hội là sự thay đổi có ý nghĩa về mặt cơ cấu xã hội (đó là hành động xã hội và tương tác xã hội) kể cả hậu quả và biểu thị của những cơ cấu biểu hiện ở các chuẩn mực giá trị của các sản phẩm và các biểu trưng văn hóa” Hiểu một cách khác, biến đổi xã hội là một quá trình trong đó các khuôn mẫu của hành vi xã hội, quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và phân tầng xã hội cũng biến đổi theo thời điểm

Theo quan điểm của lý thuyết này, mọi sự ổn định của xã hội gần như chỉ là mặt ngoài, và nó mang tính tạm thời Với xã hội hiện đại, sự biến đổi thể hiện rõ ràng,

dễ nhận biến hơn

Tại Việt Nam, những năm gần đây, Đảng và Chính phủ đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Bộ mặt của nông thôn Việt Nam đang đổi thay từng ngày, từng giờ Cùng với sự thay đổi, phát triển của nền kinh tế, xã hội, là sự biến đổi của những hành vi xã hội của những người dân nông thôn Trong đó, thái độ của người dân nông thôn trong việc tiếp thu các thông tin nông nghiệp nông thôn, phục vụ cho đời sống tinh thần, cho quá trình sản xuất nông nghiệp cũng đã có nhiều thái đổi

Trên quan điểm đó, tác giả đề tài vận dụng Lý thuyết biến đổi xã hội để phân tích những thay đổi mới trong hành vi tiếp nhận thông tin của người nông dân, những

sự mới mẻ trong cách tiếp cận thông tin NNNT của họ so với giai đoạn trước đây

1.1.2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý

Cơ sở cho sự xuất hiện của lý thuyết sự lựa chọn hợp lý khá đa dạng, nó bắt nguồn từ quan điểm của những nhà Kinh tế, Nhân loại học, Tâm lý học Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý dựa vào tiền đề cho rằng con người hoạch định hành động một cách

Trang 16

một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy

lí nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu

Điều này đồng nghĩa với việc, các cá nhân trước khi quyết định một hành động nào đó luôn luôn “đặt lên bàn cân” để cân đo, đong đếm, so sánh giữa chi phí và lợi nhuận mang lại Thông thường, nếu chi phí nhỏ hơn hoặc ngang bằng lợi nhuận thì cá nhân sẽ thực hiện hành động Trường hợp ngược lại, nếu chi phí lớn hơn lợi nhuận thì

cá nhân sẽ không thực hiện hành động

Sự so sánh giữa chi phí và lợi nhuận có thể được hiểu đơn giản theo hình vẽ sau:

=>không hành động => hành động

Lý thuyết này có sức thuyết phục khá lớn khi được áp dụng để lý giải sự cân nhắc, so sánh giữa chi phí chi cho truyền thông nông nghiệp, nông thôn của người nông dân và hiệu quả từ các kênh truyền thông này đem lại cho những đối tượng này

Theo đó, nhiều kênh truyền thông, đặc biệt là truyền hình, dù phải chi một khoản đầu tư ban đầu khá lớn để trang bị ti vi nhưng thực chất kênh truyền thông này

có tác dụng rất lớn đối với việc giải trí, cung cấp thông tin sản xuất, thông tin chính sách nên kênh truyền thông này vẫn được sử dụng khá phổ biến

Những kênh thông tin như báo mạng, báo in…do cơ sở hạ tầng nông thôn chưa

đủ, chi phí cho đầu tư ở mức độ cá nhân để tiếp cận các kênh thông tin này khá cao và một số nguyên nhân về thói quen, tâm lý nên chưa khẳng định được hiệu quả như các kênh truyền thông khác ở khu vực nông thôn

Ở một khía cạnh khác, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý có thể dùng để giải thích nguyên nhân tại sao đại đa phần người nông dân trên địa bàn điều tra chưa tiếp cận nhiều với các thông tin chính sách về nông nghiệp, nông thôn Bởi trên thực tế, chính sách cho NNNT ở Việt Nam, khi đi từ văn bản đến việc áp dụng vào thực tiễn vẫn còn khá nhiều bất cập, chưa thực sự mang lại quyền lợi lớn đối với đại đa số người dân Khi so sánh giữa hiệu quả từ các chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với

Trang 17

thời điểm, chi phí đầu tư cho các kênh truyền thông nông nghiệp, nông thôn, không nhiều người dân lựa chọn xem các thông tin với nội dung này

1.1.3 Lý thuyết phát triển bền vững

Lý thuyết phát triển bền vững bắt đầu được đưa ra vào năm 1987 Vào thời điểm này, Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển công bố Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta", trong đó đã chính thức sử dụng thuật ngữ "phát triển bền vững", đưa ra cách nhìn mới về việc hoạch định các chiến lược phát triển lâu bền

Nội hàm phát triển bền vững ngày càng được mở rộng thêm: sự phát triển bao gồm toàn diện các vấn đề sinh thái, các vấn đề xã hội, các vấn đề con người, các vấn

đề văn hoá, chất lượng sống; nó hàm chứa cả sự bình đẳng giữa các nước giàu và nghèo, giữa các thế hệ; nó cũng bao hàm cả sự cần thiết phải giải trừ quân bị như là điều kiện tiên quyết giải phóng nguồn tài chính cần thiết cho phát triển

Lý thuyết phát triển bền vững được Việt Nam tiếp nhận từ những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ trước Phát triển bền vững đã trở thành một trong những tư tưởng chủ đạo trong chính sách phát triển của Việt Nam

Theo đó, phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Phát triển bền vững thể hiện đồng bộ ở nhiều yếu tố như kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế…

Ngày nay, khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp rất phát triển Việc ứng dụng các biện pháp phù hợp, đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo cho phát triển hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến tương lai (ví dụ dư thừa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng đất sai cách làm xói mòn đất, sử dụng phân bón tác dụng nhanh làm giảm độ màu mỡ của đất ) là một điều rất quan trọng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững

Ở một khía cạnh khác, việc người dân có những cân nhắc như thế nào đối với các dự án trên địa phương cũng là điều quan trọng Trước đây, quyết định cho các dự

án lớn đa phần là ở cán bộ địa phương Nhưng để đảm bảo cho phát triển lâu dài, bản thân người dân phải được trang bị đầy đủ thông tin để nhận định đầy đủ về vấn đề kinh

tế, về hiệu quả của dự án…nhằm có sự lựa chọn đúng đắn

Trang 18

Tóm lại, từ một vài ví dụ trên có thể thấy nếu thiếu thông tin, người nông dân sẽ không có được những kiến thức để đảm bảo cho phát triền hôm nay và mai sau Ngoài những thông tin đề cập trên đây, nông dân rất cần được trang bị nhiều kiến thức, kỹ năng khác Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, tác giả tiếp cận 3 loại thông tin, đó là thông tin về thị trường nông nghiệp, thông tin phục vụ sản xuất nông nghiệp và thông tin chính sách nông nghiệp

1.1.4 Hướng tiếp cận của thuyết chức năng về truyền thông đại chúng

Những công trình nghiên cứu về truyền thông đại chúng được bắt đầu tiến hành

từ đầu thế kỷ XX, nhất là kể từ năm 1933 trở đi, khi mà Hitler lên nắm chính quyền ở Đức – sự kiện mà nhiều người cho là nhờ vào những chiến dịch tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông Trong lịch sử nghiên cứu về truyền thông đại chúng trên thế giới, người ta thường phân biệt ba giai đoạn khác nhau Giai đoạn thứ nhất, bắt đầu từ khoảng đầu thế kỷ XX cho tới cuối thập niên 1930, là giai đoạn mà giới học thuật quan niệm rằng các phương tiện truyền thông có một sức tác động to lớn lên trên lối ứng xử

và suy nghĩ của người dân Giai đoạn phát triển thứ hai trong quá trình nghiên cứu về truyền thông đại chúng là từ khoảng năm 1940 tới đầu những năm 1960 Đặc điểm của giai đoạn này là bắt đầu xuất hiện quan điểm đánh giá bớt bi quan hơn về vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng Giai đoạn thứ ba trong lịch sử nghiên cứu về truyền thông đại chúng bắt đầu từ khoảng thập niên 1960 trở đi, với đặc điểm là xuất hiện nhiều xu hướng quan điểm nghiên cứu khác nhau, và rất nhiều đề tài đa dạng

Trong giới hạn nghiên của luận văn, tôi chọn hướng tiếp cận theo quan điểm chức năng luận để nhìn nhận về vai trò của truyền thông đối với đời sống của người dân nông thôn và cách họ tiếp cận các kênh thông tin này

Về hướng tiếp cận theo hướng chức năng luận, xã hội được quan niệm như một tổng thể trong đó bao gồm nhiều thành tố có liên hệ với nhau, mỗi thành tố đều có chức năng riêng của mình Trong số các thành tố đó, có các phương tiện truyền thông đại chúng Quan điểm chức năng luận thường nhấn mạnh đặc biệt tới các “nhu cầu” của một xã hội Truyền thông đại chúng được coi như một định chế xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu duy trì tính ổn định, tính liên tục của một xã hội, cũng như nhu cầu hội nhập và thích nghi của các cá nhân trong xã hội ấy

Trang 19

Theo Robert Merton, tác giả tiêu biểu của thuyết chức năng luận, để hiểu được ảnh hưởng xã hội của các phương tiện truyền thông đại chúng, chúng ta không thể chỉ căn cứ trên những lời tuyên bố hay những ý định công khai của các tổ chức này Merton luôn luôn nhấn mạnh rằng, đối với mỗi hoạt động xã hội, chúng ta cần phân biệt rõ giữa mục tiêu công khai nhắm đến, với hiệu quả thực sự xảy ra (tức là chức năng) – bởi lẽ hai cái này có thể không trùng nhau Nói cách khác, các chức năng xã hội của các phương tiện truyền thông đại chúng không nhất thiết tương ứng với những mục tiêu công khai mà nhà truyền thông muốn nhắm tới

Xét về tầm quan trọng của truyền thông đại chúng đối với cá nhân, những người theo thuyết chức năng luận liệt kê ra những chức năng như sau Chức năng đầu tiên dễ thấy nhất là có thể nhanh chóng báo động cho mọi người dân về một mối hiểm nguy sắp xảy ra, như thiên tai, dịch bệnh ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Chức năng thứ hai là đáp ứng những nhu cầu thực tế hàng ngày của người dân trong xã hội, như cung cấp thông tin về giá cả thị trường, về nơi tiêu thụ nông sản, về cách trồng trọt…Chức năng thứ ba của truyền thông là nâng cao một hình ảnh xã hội nào đó, hay hợp thức hóa một vị trí xã hội nào đó, ở đây có thể hiểu như những thông tin quảng bá

về các mặt hàng nông sản, các sản phẩm phục vụ nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu có thể thông qua truyền thông để nâng cao vị thế Chức năng thứ tư được đề cập đến là củng cố sự kiểm soát của xã hội Nhờ truyền thông, người nông dân có thể ý thức được tác hại của những loại thuốc trừ sâu, phân bón nếu sử dụng không đúng cách, làm ảnh hướng đến môi trường Vô hình chung, truyền thông góp phần hạn chế những hành vi lệch chiều của một số nông dân

Như vậy, nhìn từ góc độ này, tác giả vận dụng quan điểm truyền thông theo hướng chức năng luận để phân tích về nhu cầu của người nông dân đối với các thông tin truyền thông, vai trò của các thông tin đó đối với đời sống nông nghiệp, nông thôn Đồng thời, quan điểm này cũng giúp tác giả có cách đánh giá về hiệu quả thực sự của các kênh truyền thông nông nghiệp Những kênh này phải khẳng định được chức năng

xã hội thông qua những gì chúng tác động trực tiếp, hiệu quả thực sự với đời sống người nông dân, chứ không phải thông qua những mục tiêu ban đầu về việc hình thành, ra mắt, hay hoạt động của kênh này

Trang 20

1.2 Khái niệm công cụ

1.2.1 Nông nghiệp

Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc (nuôi trong nhà) Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ và kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế

Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch

Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:

 Nông nhiệp thuần nông hay nông nhiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai

 Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lại tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức

độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất

từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi

Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nôn nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi

Trang 21

hóa học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine )

Thế kỷ 20 đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt

là sự cơ giới hóa trong nông nghiệp và ngành sinh hóa trong nông nghiệp Các sản phẩm sinh hóa nông nghiệp gồm các hóa chất để lai tạo, gây giống, các chất trừ sâu, diệt cỏ, diêt nấm, phân đạm

1.2.2 Nông thôn

 Khái niệm chung về xã hội nông thôn:

Theo cách hiểu chung nhất, nông thôn là một kiểu cộng đồng lãnh thổ - xã hội nhất định có tính cách lịch sử hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội Nông thôn có đặc điểm là dân số không đông, mật độ dân số tương đối thấp, quy mô nhỏ, lao động nông nghiệp đóng vai trò đáng kể, phân hoá nghề nghiệp ít

 Đặc điểm của xã hội nông thôn

 Sinh thái nông thôn mang nhiều yếu tố tự nhiên: Nhà, vườn, ao, ruộng Chúng thường gắn với những điều kiện địa lý sẵn có, ít được cải tạo nên chưa thuận tiện cho sinh hoạt giao lưu kinh tế văn hoá…

 Kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp (thường chiếm từ 50% lao động trở lên) Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chính, ngoài ra còn có các nghề thủ công, chế biến lương thực, thực phẩm, buôn bán nhỏ theo hộ gia đình

 Chính trị ở nông thôn: Ngoài hệ thống chính quyền xã, ấp, thôn do Nhà nước điều hành trên cơ sở pháp luật còn có hệ thống cương vị chức sắc trong dòng tộc, già làng, thân thuộc, tôn giáo… điều chỉnh hành vi của các thành viên bằng tục lệ những quy ước ngoài pháp luật (phép vua thua lệ làng) Sự cưỡng chế việc thực hiện chuẩn mực đó là uy tín, danh dự, dư luận xã hội Hệ thống chính quyền pháp luật nhiều khi không có hiệu lực bằng hệ thống dòng tộc, tôn giáo, và các chuẩn mực có tính quy ước trên

 Văn hoá nông thôn chủ yếu là văn hoá dân gian, thông qua lễ, hội, ca hát, hò, vè, kể chuyện… để truyền những giá trị thẩm mỹ, đạo đức, lối sống, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất… từ thế hệ này sang thế hệ khác Văn hoá nông thôn đã bảo tồn được những giá trị quý báu mang tính truyền thống, nhưng nó cũng chứa đựng những yếu tố không có lợi cho sự phát triển

Trang 22

 Một số đặc điểm nổi bật của nông thôn Việt Nam

 Hiện nay ở nước ta có 85% dân cư sống ở vùng nông thôn Xã hội nông thôn Việt Nam là xã hội nông thôn vùng Đông Nam Á Nó vừa mang tính chất của xã hội nông thôn vùng Đông Á, vừa mang tính chất xã hội nông thôn vùng Nam

Á Xã hội nông thôn vùng Đông Á chịu ảnh hưởng nhiều của văn hoá Trung Quốc và

Ấn Độ Làng xóm quần tụ trên một mảnh đất nhỏ, xung quanh là đồng ruộng Trong làng một vài dòng họ sống với nhau từ lâu đời, với nền kinh tế tự cung tự cấp, với hệ thống của những quy ước riêng đặc trưng cho cộng đồng dân cư đó

 Xã hội nông thôn vùng Nam Á ở phần lớn là miền đất xã ấp rải theo

bờ kênh, đường bộ gồm nhiều gia đình ở nhiều nơi khác nhau quần tụ thành, ít gắn bó với tục lệ, dòng họ mà gắn bó với nhau bằng công việc làm ăn, với một nền sản xuất hàng hoá đã có những tiền đề phát triển Nông thôn Việt Nam cũng có những đặc trưng đó

 Nông thôn miền Bắc và miền Trung còn mang nhiều đặc điểm xã hội nông thôn Đông Á Xã hội nông thôn miền Nam còn lưu lại những đặc điểm của xã hội nông thôn Đông Á nhưng chủ yếu là những đặc trưng của xã hội nông thôn Nam Á

1.2.3 Nông dân

Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử, người nông dân

có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội

1.2.4 Nhu cầu

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được

Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì khả

Trang 23

với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu)

Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân

Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa

Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng

ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội [16, tr54]

 Thông tin là một hệ thống những tin báo và mệnh lệnh giúp loại trừ sự không chắc chắn trong trạng thái của nơi nhận tin Nói ngắn gọn, thông tin là cái mà loại trừ

sự không chắc chắn Trong đó, sự không chắn chắn là trạng thái của nơi nhận tin khi đang chờ đợi một sự kiện xảy ra trong một tập các sự kiện (số lượng có thể không biết trước hay không xác định được) có thể và chưa biết sự kiện nào có thể xảy ra

Trong hai định nghĩa trên, định nghĩa đầu chỉ cho chúng ta hiểu thông tin là cái

gì chứchưa nói lên được bản chất của thông tin, còn định nghĩa thứ hai cho chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất của thông tin và đây cũng là định nghĩa được dựa vào để định lượng về thông tin trong kỹ thuật

Trang 24

Như vậy, có thể hiểu thông tin là một hiện tượng vật lý, nó thường tồn tại và được truyền đi dưới một dạng vật chất nào đó Chẳng hạn như âm thanh, dòng điện, sóng điện từ, sóng ánh sáng…

1.2.6 Truyền thông

Truyền thông trong giao tiếp được hiểu là một tiến trình trao đổi các thông điệp có lời và không lời nhằm để hiểu, phát triển và ảnh hưởng đến các mối quan hệ giữa người và người Trong truyền thông, có nhiều yếu tố tác động lẫn nhau và diễn biến liên tục, bao gồm:

 Nguồn phát: Người phát ra thông điệp (có lời hoặc không có lời)

 Người nhận thông điệp

 Các giác quan cảm nhận (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác)

 Các yếu tố chứa đựng thông điệp (như giọng nói, cử chỉ, thời điểm…)

 Nội dung thông điệp (có lời hoặc không có lời)

 Sự đáp ứng: Có thể tích cực hoặc tiêu cực (thích hoặc không thích)

 Sự phản hồi bằng lời nói hoặc ngôn ngữ không lời hoặc cả hai cùng lúc

 Bối cảnh giao tiếp (phù hợp hoặc chưa phù hợp)

1.2.7 Kênh truyền thông

Kênh truyền thông là phương thức chuyển thông điệp từ người này sang người khác

Những kênh truyền thông bằng lời là điện thoại, truyền hình, phát thanh và những phương tiện thông tin đại chúng tương tự khác

Kênh truyền thông thông điệp không lời là những giác quan của con người như xúc giác, thị giác, khứu giác, thính giác và thị giác

1.2.8 Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tìm hiểu nhu cầu sử dụng thông tin NNNT của nông dân ở 3 khía cạnh: Nhu cầu về loại thông tin (nội dung thông tin NNNT), nhu cầu về kênh thông tin NNNT và nhu cầu về thời điểm tiếp cận thông tin NNNT Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm hiểu đánh giá của người dân về hiệu quả của nội dung cũng như kênh thông tin NNNT để từ đó tìm hiểu mong muốn tiếp theo của người nông dân nhằm phát huy hiệu quả của truyền thông NNNT

Trang 25

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

Tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu “Nhu cầu sử dụng thông tin NNNT của nông dân” tại địa bàn xã Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ Với vị trí

là xã “cửa ngõ” của huyện Vĩnh Thạnh, xã Vĩnh Trinh có tổng diện tích tự nhiên là trên 2.810 ha Trong đó số diện tích đất nông nghiệp của xã trên 2.200 ha và toàn xã có trên 4.355 hộ (trên 19.130 nhân khẩu) Về diện tích tự nhiên, xã có diện tích tương đối rộng so với các địa phương khác trong huyện Tuy nhiên, đời sống kinh tế, xã hội của

xã vẫn còn tương đối khó khăn

Theo báo cáo nhanh tổng kết tình hình kinh tế 6 tháng đầu năm của xã, xã đang hoàn thiện nhiều tiêu chí về phát triển kinh tế xã hội, hướng tới đạt tiêu chí về xã điểm xây dựng nông thôn mới của Cần Thơ Tính đến thời điểm này, xã đạt 6/20 tiêu chí theo Bộ tiêu chí thành phố Cần Thơ về NTM Đó là các tiêu chí về: điện, bưu điện, hộ nghèo, y tế, văn hóa và an ninh trật tự

Xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu , từ nhiều năm qua Vĩnh Trinh đã tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá , hiệu quả và bền vững Trước đây, phần lớn diện tích đất nông nghiệp của xã được bà con nông dân sử dụng để trồng lúa mùa nổi một vụ , năng suất thấp (khoảng 1,5 tấn/ha/năm) Bắt đầu từ năm 1989, chính quyền xã thực thi nhiều giải pháp nhằm đưa lúa mùa nổi một vụ thành lúa hai vụ năng suất cao Trong đó, việc xây dựng và củng cố hệ thống thuỷ lợi là giải pháp quan trọng , tạo sự phát triển ổn định và bền vững cho sản xuất nông nghiệp Phương thức Nhà nước đầu tư thuỷ lợi tạo nguồn , nhân dân đóng góp xây dựng hệ thống thuỷ lợi nội đồng đã nhận được sự hưởng ứng của nhân dân Chỉ sau một năm, hệ thống đê bao của Vĩnh Trinh đã khép kín trên 90% diện tích

Cùng với đầu tư làm thuỷ lợi , xã cũng tập trung chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu giống theo hướng sử dụng những giống lúa mới kháng sâu bệnh , có năng suất và chất lượng tốt nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tá c Thời điểm qua, xã đã từng bước thực hiện cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp nhằm giảm chi phí, sức lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất Vừa đẩy mạnh công tác vận động nhân dân mua sắm thiết bị , máy móc, xã còn tạo điều kiện cho bà con nông dân vay vốn ngân hàng để cơ giới hoá Đến cuối năm 2004, Vĩnh Trinh đã hoàn thành cơ giới hoá một số công đoạn quan trọng trong sản xuất nông nghiệp như : làm đất, bơm

Trang 26

tưới, phun thuốc sâu, gieo sạ Bên cạnh đó, xã đã xây dựng thành công nhiều mô hình tổ hợp tác sản xuất và câu lạc bộ khuyến nông Các mô hình tổ hợp tác đã thể hiện tốt vai trò huy động sức lao động và tài chính để làm đê bao , thuỷ lợi nội đồng , sản xuất giống,

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, đời sống kinh tế xã hội của xã cũng còn nhiều khó khăn Kết cấu kinh tế - xã hội của xã còn nhiều khó khăn khiến nhu cầu đầu

tư xây dựng giao thông nông thôn, các công trình hạ tầng cơ sở khá lớn Việc xây dựng các thiết chế văn hóa, trường học cần nhiều kinh phí, đất đai nhưng quỹ đất công, vốn đầu tư từ ngân sách chưa đáp ứng đủ Cơ sở vật chất phục vụ cho ngành giáo dục của địa phương còn nhiều thiếu thốn Tại các trường học cấp tiểu học và trung học cơ sở, xã 54/67 phòng đạt chuẩn theo bộ tiêu chí chuẩn nông thôn mới quốc gia; 16/27 phòng chức năng Trên địa bàn xã hiện có 4 chợ, trong đó Chợ số 2 đã quá tải, các chợ còn lại như: Vĩnh Phụng, Bờ Ớt hoạt động tự tiêu, tự sản là chủ yếu

Về đời sống văn hóa, trên địa bàn xã có 6 ấp nhưng chỉ có nhà thông tin để hoạt động, hầu hết các sân bãi sinh hoạt văn hóa, tập luyện thể dục, thể thao hầu như chưa có Hiện chỉ có ấp Vĩnh Quy có 1 sân bóng đá mini và sân bóng chuyền do nhân dân tự đầu tư; ấp Vĩnh Thành có sân bóng ở khu dân cư nhưng cũng chưa được đầu tư xây dựng

Về thủy lợi, tỷ lệ kênh mương được kiên cố hóa của xã Vĩnh Trinh mới chỉ đạt gần 40% Giao thông nông thôn của xã cũng còn nhiều khó khăn, cản trở Trục đường chính nội đồng của xã chưa được cứng hóa, việc đi lại của người dân chưa được thuận lợi Nguyên nhân chính của tình trạng này là do nhiều năm gần đây, Vĩnh Trinh không

có nguồn đầu tư cho giao thông nông thôn Phần lớn nguồn vốn xây dựng các công trình chủ yếu dựa vào sức đóng góp của người dân, trong khi đời sống của nhân dân còn nhiều thiếu thốn

1.4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.4.1 Một số kinh nghiệm quốc tế về truyền thông NNNT

1.4.1.1 Trung Quốc: Truyền hình là công cụ thông tin, đào tạo, giáo dục nông dân và phát triển nông thôn

Trung Quốc hiện là một trong những quốc gia nông nghiệp lớn trên thế giới Tại đây, việc cung cấp thông tin về thị trường, về khoa học kỹ thuật nông nghiệp đã

Trang 27

dày đặc nhằm giới thiệu, hướng dẫn nông dân tiếp cận với các thông tin về thị trường, thông tin về tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, thông tin về dịch bệnh, dịch hại và đây cũng là một trong những phương tiện nhanh chóng, chủ đạo để hướng dẫn nông dân, người làm nông nghiệp kịp thời xử lý, phòng chống những mối nguy hại có thể

dự báo trước đối với người nông dân Hệ thống này ngoài việc phản ánh, cập nhật thông tin về nông thôn nông nghiệp, còn là một phương tiện quan trọng và chính thức phục vụ chủ trương đào tạo nghề cho nông dân của chính phủ Trung Quốc

Ngoài tờ báo Nông nghiệp cùng nhiều phụ bản phát hành đến tận xã, Trung Quốc còn xây dựng một hệ thống cung cấp thông tin và dạy nông dân qua truyền hình, phát 24/24 giờ Chính sách này được người Trung Quốc gọi là "mưa dầm thấm lâu"

Trường Phát thanh truyền hình (PTTH) nông nghiệp Trung ương, Trung tâm đào tạo nông dân quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp Trung Quốc được thành lập năm

1980 Cơ quan này có nhiệm vụ đào tạo nông dân, giới thiệu và phổ biến khoa học kỹ thuật cho nông dân, tuyên truyền về chính sách pháp luật nông nghiệp và cung cấp thông tin thời sự về NNNT Một năm Chính phủ đầu tư cho cơ quan này khoảng 20 triệu nhân dân tệ

Tại cơ quan này chỉ có 150 người, nhưng mỗi năm họ phải thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ, đảm bảo đủ chương trình để phát sóng 24/24 giờ trên 4 kênh truyền hình vệ tinh và kênh CCTV7 đài truyền hình quốc gia Ông Điền Sơn, Phó hiệu trưởng trường PTTH nông nghiệp TƯ cho hay, qua truyền hình, trường đã đào tạo KHKT mới cho 560 ngàn nông dân, chuyển đổi nghề nghiệp cho 970 ngàn và đào tạo kĩ thuật thực hành nông nghiệp cho khoảng 29 triệu lượt người

Hệ thống PTTH và đào tạo này được nối dài từ TƯ xuống đến địa phương Ngành nông nghiệp có trách nhiệm xây dựng chương trình còn các đài PTTH TƯ hay địa phương buộc phải dành thời lượng cho NNNT miễn phí Tại cấp tỉnh và cấp huyện đều có trường PTTH nông nghiệp và trung tâm đào tạo nông dân thuộc ngành nông nghiệp Còn tại cấp xã, cụm xã thì có đài phát thanh, các phòng thu vệ tinh, phòng tài liệu sách báo băng đĩa về khoa học kĩ thuật Nông dân đến xem và đọc hoặc mượn mang về nhà không phải trả tiền Toàn bộ nhân lực ở địa phương của hệ thống này khoảng 100 ngàn người Ngân sách hoạt động phần lớn do địa phương đảm nhiệm

Trang 28

Dù từ TƯ đến cấp huyện đều được đầu tư trường quay, phòng in ấn tài liệu để sản xuất chương trình, in tài liệu phục vụ NNNT, nhưng với thời lượng rất lớn, những

cơ quan này không thể đảm bảo đủ chương trình, vì thế chúng tôi thường xuyên phải

đi thuê làm Ngân sách các địa phương bỏ ra mỗi năm lớn hơn TƯ rất nhiều Nông dân

có nhu cầu học gì, biết KHKT về cây con gì, chương trình sẽ xây dựng theo nhu cầu

đó Theo điều tra, có 30% nông dân thích được đào tạo qua truyền hình và báo chí, 8% thích được đào tạo qua băng đĩa - Ông Điền Sơn, Phó hiệu trưởng trường PTTH nông nghiệp TƯ, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc

Ông Điền Sơn cho biết, chủ trương của Chính phủ Trung Quốc là cố gắng cung cấp thật nhiều thông tin và liên tục cho nông dân, đảm bảo nông dân không bị “đói” thông tin Vì thế, bất kì nông dân nào trên đất nước Trung Quốc đều có thể xem những chương trình đào tạo, tập huấn kĩ thuật, thông tin thời sự về nông ở bất cứ thời điểm nào trong ngày

Đối với những thông tin thời sự về NNNT mang tính cấp thiết, như cúm gia cầm, lũ lụt… kênh truyền hình vệ tinh sẽ phát trực tiếp và tất cả các trạm thu trên cả nước truyền trực tiếp đến nông dân Qua đó nông dân có thể biết được nhanh nhất dịch

đã lan đến đâu, nguy hiểm như thế nào, làm thế nào để phòng chống "Những năm qua, những vấn đề như lũ lụt, dịch bệnh… truyền hình nông nghiệp đã góp phần tích cực vào việc giảm thiểu tối đa thiệt hại Cơ quan chức năng nhà nước có thể đưa chủ trương đến dân nhanh nhất, còn người dân thực sự cảm thấy lo lắng và chủ động trong phòng chống”, ông Điền Sơn nói

Trung tâm thông tin thuộc Cục Nông nghiệp, thành phố Cao Thành, tỉnh Hà Bắc được bố trí một trường quay, một phòng đọc tài liệu, một phòng chuyên gia trực đường dây nóng, một phòng xem truyền hình và băng video về kĩ thuật nông nghiệp Nông dân trong thành phố quan tâm đến bất cứ vấn đề gì về nông nghiệp đều có thể đến đây đọc tài liệu, xem truyền hình hay các đĩa CD, VCD và được các chuyên gia nông nghiệp tư vấn trực tiếp miễn phí Nông dân cũng có thể mượn các tài liệu mang

về đọc

Với chính sách “mưa dầm thấm lâu”, các phương tiện thông tin của Trung Quốc

“buộc” nông dân phải nắm bắt các thông tin về kĩ thuật, thị trường, ngành nghề mới…

Trang 29

nhưng rõ ràng về lâu dài đây là một điểm đáng học hỏi (TS Tống Khiêm, GĐ Trung tâm KNKN quốc gia)

Trong trường hợp không có thời điểm đến trung tâm này thì nông dân có thể gọi trực tiếp đến đường dây nóng của trung tâm 10 chuyên gia có chuyên môn sâu về nông nghiệp sẽ trả lời, tư vấn qua điện thoại cho nông dân những vấn đề nông dân quan tâm, thắc mắc Ông Kinh, một chuyên gia ở đây cho hay, mỗi ngày có thể nhận hàng trăm cuộc điện thoại của nông dân Có những vấn đề nông dân đòi được tư vấn rất khó, nhưng cũng có những vấn đề rất dễ, như vì sao hôm qua tôi cho con bò của tôi

ăn sắn, hôm nay nó bỏ ăn Những trường hợp dễ chúng tôi tư vấn được ngay, những trường hợp khó thì sẽ báo cáo Cục, Cục sẽ cử cán bộ chuyên môn xuống trực tiếp xem xét Nhìn chung, hiệu quả mang lại cho nông dân và cơ quan quản lí nhà nước là rất rõ rệt

Hà Bắc là tỉnh nông nghiệp trọng điểm của Trung Quốc với hai cây chủ lực là ngô và lúa mì Với dân số khoảng 68 triệu người, canh tác trên diện tích đất nông nghiệp khoảng 120 ngàn km2, lớn hơn nhiều so với diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam Lãnh đạo Sở Nông nghiệp Hà Bắc cho hay, để đảm bảo an ninh lương thực, ngô

và mì của Hà Bắc sản xuất ra chỉ để phục vụ nhu cầu trong nước

Chính phủ và tỉnh Hà Bắc có những chính sách đặc biệt cho nông dân, ví dụ đảm bảo cho nông dân có thu nhập ở mức trung bình trở lên, đào tạo nông dân làm nông nghiệp hoặc đào tạo nông dân chuyển sang nghề khác đều được miễn phí Khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp làm công nghiệp và đô thị thì đơn vị được giao đất phải có tránh nhiệm cạo lớp đất màu trên mặt đi mới được xây dựng Hiện nay, Chính phủ Trung Quốc đang chọn Hà Bắc là tỉnh điểm để thực hiện các chính sách ưu đãi đối với nông dân và nông nghiệp Vì thế, mỗi thôn, xã ở Hà Bắc đều mở các lớp đào tạo nông dân miễn phí Tại các cụm xã đều có phòng chuyên gia tư vấn cho nông dân, giải đáp ngay tức khắc những vướng mắc của nông dân vể chính sách, kĩ thuật, thông tin thị trường

Như vậy, có thể thấy rằng, với sự đầu tư của Chính phủ Trung Quốc cho truyền thông nông nghiệp, người nông dân của đất nước này đã có nhiều sự lựa chọn về mặt thông tin Họ có nhiều lựa chọn về kênh thông tin, thời điểm tiếp cận…Cùng một lúc đầu tư nhiều kênh truyền hình từ Trung ương, tỉnh, và huyện chính là việc cùng một

Trang 30

lúc cung cấp nhiều thông tin, nhiều nguồn tin và nhiều cách chuyển tải thông tin, nông dân chính vì vậy cũng sẽ tiếp cận thông tin dễ dàng hơn Đây cũng chính là sự đầu tư

có chủ đích chứ không phải là thiếu tính toán

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng, truyền hình đã có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, giáo dục, đào tạo và chuyển tải thông tin cho nông dân của Chính phủ Trung Quốc Trong những năm qua, đã có tới hàng triệu nông dân được đào tạo qua truyền hình và trở thành những nông dân nòng cốt tại các địa phương Con số không chính thức tại Bắc Kinh cho thấy có tới hơn 30% nông dân cho biết thích được học nghề qua các kênh truyền hình

Riêng tại Tứ Xuyên, một trong những tỉnh sản xuất nông nghiệp trọng điểm của Trung Quốc, con số trên lên tới 70% Tại Hà Bắc, tỷ lệ này cũng đạt trên 50% Hiện nay, truyền hình vẫn là kênh thông tin phổ biến nhất với đại đa số người nông dân Trung Quốc Hầu hết những thông tin nông dân có được cũng là chủ yếu qua các kênh truyền hình nông nghiệp các cấp từ Trung ương đến địa phương của Trung Quốc Ngay tại tỉnh Tứ Xuyên, chỉ trong 4 năm từ 2004 đến 2009, đã có tới trên 300 nghìn nông dân Trung Quốc được cấp bằng và chứng chỉ nghề sau khi được đào tạo qua truyền hình

Đến thời điểm này, Trung Quốc vẫn coi truyền hình là thế mạnh trong giáo dục đào tạo nông nghiệp và đào tạo chuyển dịch nghề cho nông dân Hệ thống cơ sở hạ tầng và mạng lưới sản xuất chương trình vẫn được tiếp tục đầu tư hoàn thiện để nâng cao chất lượng và mở rộng sản xuất chương trình, phục vụ nhu cầu của nông dân Nông dân Trung Quốc vẫn coi các kênh truyền hình nông nghiệp là kênh chuyển tải chính những chủ trương đường lối, những chính sách mới của Đảng, nhà nước Đây cũng là kênh thôn tin chính vì thị trường, về nhu cầu sản xuất Đặc biệt, đối với nông dân Trung Quốc, đây cũng chính là phương tiên đào tạo nghề hiệu quả và chưa thể thay thế [8, tr.56,57]

1.4.1.2 Hoa Kỳ: Cơ sở dữ liệu NNNT là nền tảng

Nói đến nước Mỹ, người ta thường nhắc đến một cường quốc công nghiệp số 1 thế giới Ít ai biết được rằng Mỹ cũng là một trong những quốc gia có nền nông nghiệp phát triển bậc nhất toàn cầu Và một trong những nguyên nhân góp phần vào sự phát

Trang 31

triển của nền nông nghiệp Mỹ chính là hệ thống thông tin NNNT với sự hiện đại, hữu ích, phát huy hiệu quả tối đa

Số liệu thống kê mới đây của Cơ quan quyền uy Mỹ cho biết: Hiện nay nông dân Mỹ khoảng 4,5 triệu người, chiếm chưa đầy 2% dân số, ngoài việc cung cấp đầy

đủ lương thực thực phẩm cho hơn 250 triệu dân, nông dân Mỹ hàng năm còn xuất khẩu hàng lương thực thực phẩm, như bột mì, bông, thịt, rau quả trị giá tới trên 53 tỉ USD, bình quân mỗi giờ nông dân Mỹ đã tạo ra giá trị tới 6 triệu USD hàng xuất khẩu nông sản thực phẩm

Sản lượng của 1/3 đất đai canh tác ở Mỹ có liên hệ với thị trường xuất khẩu thế giới, 17% nông sản phẩm dùng cho xuất khẩu, thu nhập từ xuất khẩu chiếm 25% tổng thu nhập của toàn ngành nông nghiệp Xuất khẩu thịt bò của Mỹ chiếm 1/4 thị phần thế giới, ngũ cốc, sữa bò, trứng chiếm 1/5 thị trường thế giới Đó là chưa kể hàng năm dân chúng Mỹ tiêu thụ lượng hàng nông sản thực phẩm tới 547 tỉ USD, trong đó các trang trại, nông trường của Mỹ cung cấp trên 23%, còn lại là nông dân Mỹ cung cấp và nhập khẩu

Một điều hết sức đặc biệt ở Mỹ là việc tiêu thụ sản phẩm hầu hết thông qua mạng Internet để đưa hàng tới thị trường hiện đang có nhu cầu Ngay từ năm 1987, giá trị bình quân một lao động nông nghiệp Mỹ đã đạt tới 55.300 USD/giờ, gấp 4 lần mức bình quân của các nước công nghiệp phát triển, ngày nay nhờ hệ thống vệ tinh và mạng kỹ thuật số thì mức hiện đại hóa nông nghiệp của Mỹ càng cao hơn nhiều Hiện trên 30% nông dân Mỹ có trình độ đại học trong đó hơn 50% có trình độ trên đại học

Số liệu thăm dò dư luận được tiến hành hàng năm cho thấy có tới 90% gia đình

hy vọng con em mình tiếp tục kế nghiệp cha mẹ sản xuất nông nghiệp, có tới 97% thanh niên và con em gia đình nông dân tự nguyện ở lại gắn với nghề nông Làm được điều này, Mỹ đã khẳng định rất rõ vai trò của thông tin đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp nước này

Theo kinh nghiệm của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Uỷ ban Phối hợp Dự báo Ngành hàng (ICEC) (thuộc Ban Dự báo triển vọng Nông nghiệp Thế giới) đóng vai trò

là cơ quan đầu mối này Các thành viên của Uỷ ban Phối hợp Dự báo Ngành Hàng đóng vai trò chủ trì trong việc rà soát lại các phân tích và dự báo ngành hàng của các đơn vị khác trong Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ, và cung cấp các hướng dẫn về phương

Trang 32

pháp luận dùng trong nghiên cứu và dự báo Trong Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ có 5 đơn

vị có liên quan tới việc thu thập thông tin, duy trì và phát triển hệ thống thông tin thị trường Thông tin về 5 cơ quan đầu não thông tin này, cũng như các sản phẩm, hoạt động thông tin của họ sẽ lần lượt được mô tả trong các phần nội dung dưới đây

Tại Mỹ, có một cơ quan chuyên cung cấp các thông tin sản xuất và tiêu dùng nông sản Thông tin này do Phòng Trồng trọt – Ban Thống kê - Cục thống kê Nông nghiệp Quốc gia (NASS) chịu trách nhiệm báo cáo về cung ứng và tiêu dùng của nước

Mỹ (về sản lượng cây trồng, tồn kho và giá nông sản) NASS thực hiện hai Chương trình lớn gồm Chương trình thu thập thông tin giá và Chương trình Thống kê sản xuất, tồn trữ nông sản Kết quả từ hai chương trình này đã cung cấp phần lớn số liệu trong

cơ sở dữ liệu ngành hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ

 Các ấn phẩm thông tin và cơ sở dữ liệu dựa trên kết quả điều tra thực tế (diện tích, năng suất, sản lượng, tồn kho ước tính)

NASS thống kê và xuất bản các báo cáo định kỳ về ngành hàng nông sản, bao gồm:

 Tình hình sản xuất của cây trồng (hàng tháng): năng suất, sản lượng

 Giá nông sản (Hàng tháng)

 Dự báo về diện tích gieo trồng (Tháng 3 hàng năm)

 Diện tích thực tế (Tháng 6 hàng năm)

 Dự trữ (Tháng 12, Tháng 3, Tháng 8, và tháng 10 hàng năm)

 Tóm lược về tình hình sản xuất của cây trồng (Hàng năm)

 Các chi nhánh của NASS tại địa phương thực hiện điều tra “kiểu Mỹ”

Các chi nhánh này tạo nên một hệ thống hỗ trợ cho văn phòng NASS tại trung ương trong việc thu thập và phổ biến các số liệu về gạo Chi nhánh NASS tại mỗi bang bao gồm 3 bộ phận, chịu trách nhiệm thực hiện: (i) điều tra (với các điều tra viên), (ii) dự báo và (iii) hỗ trợ hoạt động chung

Với ngành gạo, NASS đặt chi nhánh ở cả 6 bang sản xuất gạo của Hoa Kỳ Tại Arkansas, chi nhánh NASS được đặt tại Little Rock (thành phố của bang Arkansas) Chi nhánh làm nhiệm vụ thu thập dữ liệu và báo cáo lại cho văn phòng trung ương của NASS [8, tr.60]

Trang 33

1.4.2 Một số công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn và truyền thông nông nghiệp nông thôn tại Việt Nam

1.4.2.1 Tác phẩm “Truyền thông NNNT nông dân” (2009, NXB Tri thức, TS

Đặng Kim Sơn, Ths Phạm Hoàng Ngân…): Cuốn sách giúp bạn đọc quan tâm đến lĩnh vực thông tin NNNT tiếp cận những thông tin cơ bản về những vấn đề trong công tác truyền thông NNNT nông dân của Việt Nam như các loại kênh truyền thông, các nhu cầu tiếp cận thông tin truyền thông nông thôn

Bên cạnh đó, cuốn sách còn mang đến cho bạn đọc cái nhìn rộng mở về công tác truyền thông nông thôn của một số nước trên thế giới, đưa ra cái nhìn toàn cảnh về những dự

án đầu tư và sáng kiến phát triển truyền thông nông thôn của Việt Nam trong thời điểm tới

Với sự cụ thể hóa, chi tiết hóa từng kênh truyền thông trọng tâm của nông nghiệp cùng với việc đưa ra những dẫn chứng, số liệu đánh giá rõ ràng về nhu cầu tiếp cận và sử dụng thông tin của người nông dân, cuốn sách sẽ là tài liệu bổ ích góp phần đắc lực vào công tác thúc đẩy NNNTg VN phát triển ngày càng vững mạnh

Tuy nhiên , cuốn sách giới hạn ở những phân tích sơ qua về thời gian tiếp cận thông tin cũng như một số kênh truyền thông quen thuộc của người dân Tác phẩm là tập hợp của nhiều bài báo viết về truyền thông nông nghiệp nông thôn , nông dân chứ chưa có cái nhìn chủ quan, sâu sắc về vấn đề của riêng tác giả

1.4.2.2 Tác phẩm “Nông dân, nông thôn và nông nghiệp – Những vấn đề đặt ra”

(2008, NXB Đại Nam, GS Tương Lai, TS Đặng Kim Sơn…): Đây là tập hợp các bài viết

trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu về “tam nông” của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

Mỗi tác giả có một cách nhìn riêng và đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của vấn đề, nhưng đều có điểm chung nhau ở chỗ đánh giá thực trạng, vạch rõ nguyên nhân cốt lõi và đề xuất hướng đi cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong gian tiếp theo

Ngày nay, vấn đề nông dân, nông thôn và nông nghiệp ở nước ta đã trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Có một nghịch lý đau buồn là: nông dân Việt Nam hiện vẫn chiếm khoảng hơn 3/4 dân số, đã từng là quân chủ lực của cách mạng, là bộ phận dân tộc hy sinh xương máu nhiều nhất trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và thống nhất đất nước, hy sinh lợi ích vật chất nhiều nhất cho giai đoạn đầu của công nghiệp hóa,

mà ngày nay lại chịu nhiều thiệt thòi nhất trong các tầng lớp xã hội về đủ mọi phương

Trang 34

diện Đang có một thực tế là: Nông dân chán ruộng và nhao ra thành phố; Nông thôn ngày càng mất đất, mất hết hồn vía của làng quê, trở thành bãi rác (với đủ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) của thành thị; Nông nghiệp còn lâu mới thoát ra khỏi tình trạng tiểu nông, lạc hậu

Nguyên nhân của tình trạng đáng báo động này chủ yếu nằm ở phía chủ quan: Chủ trương, đường lối và chính sách ở tầm vĩ mô của chúng ta đã có những sai lệch, khiếm khuyết, không đồng bộ hoặc không kịp thời Việc thực thi các chỉ thị, nghị quyết và các kế hạch cụ thể của toàn hệ thống cũng còn nhiều bất cập

Từ cách tiếp cận Xã hội học và căn cứ vào thực trạng ở vùng đồng bằng sông Hồng, Giáo sư Tương Lai đã nhấn mạnh các giải pháp gắn liền mục tiêu phát triển kinh tế với phát triển xã hội; bởi muốn phát triển bền vững thì phải xác định mục tiêu

xã hội của tăng trưởng kinh tế, gắn liền kinh tế với xã hội trong quá trình phát triển Vấn đề dân chủ cơ sở và nền tảng văn hóa nông thôn cũng được tác giả phân tích sâu sắc Về quyền sở hữu ruộng đất của nông dân và động lực sản xuất, độc giả có thể tham khảo thêm bài của Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa

Từ góc nhìn Văn hóa, nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc đã khẳng định rằng thực chất vấn đề "tam nông" ở Tây Nguyên là vấn đề Dân tộc gắn liền với Văn hóa Làng - Rừng Không giải quyết được vấn đề Dân tộc từ quan điểm Văn hóa thì không có cách

gì giải quyết được vấn đề "tam nông" ở vùng "Mái nhà Đông Dương" - vùng đất có nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững, lâu dài của đất nước ta Về đặc điểm nông thôn Nam Bộ độc giả có thể xem thêm bài của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh

Từ cách tiếp cận Kinh tế học, Giáo sư Đào Thế Tuấn và Tiến sĩ Đặng Kim Sơn

đã đề xuất những giải pháp phát triển Kinh tế nông thôn nhằm gắn kết một cách hữu

cơ giữa Phát triển công nghiệp và Phát triển nông nghiệp, giữa Đô thị và Nông thôn, giữa Bảo hộ sản xuất nông nghiệp và Hội nhập kinh tế toàn cầu

Các quan điểm và giải pháp được trình bày trong cuốn sách này là của riêng từng tác giả Những vấn đề được đặt ra là mở để mọi người tham gia thảo luận trên tinh thần khoa học và cầu thị Như vậy, tác phẩm chỉ nghiên cứu chung về đời sống nông nghiệp, nông thôn, có đề cập đến yếu tố truyền thông nông nghiệp nhưng chưa khai thác sâu

Trang 35

1.4.2.3 “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển”

(2006, NXB Chính trị quốc gia, TS Đặng Kim Sơn): Tập hợp những nghiên cứu của Tiến sỹ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện chính sách và chiến lược phát triển NNNT,

về quá trình đổi mới NNNT ở nước ta Tác phẩm đặt ra những suy nghĩ về vấn đề đặt

ra cần giải quyết cho nông nghiệp, nông thôn trong thời điểm tới Ngoài ra, trong cuốn sách này, tác giả còn đưa ra một số chỉ tiêu kinh tế, xã hội, NNNT nước ta ở một số năm để bạn đọc tham khảo

Cuốn sách được biên soạn dựa trên những tư liệu của chuyên đề “ Chuyển dịch

cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn – một số vấn đề lý luận thực tiễn 20 năm đổi mới” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thực hiện

Nội dung cuốn sách gồm 5 phần:

Phần I : Nhìn lại nền nông nghiệp Việt Nam trước đổi mới

Trước Cách mạng Tháng Tám, dưới chế độ thực dân, Việt Nam và cả Đông Dương là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị thực dân Pháp và Phát xít Nhật bóc lột Sau khi giành được chính quyền, hàng loạt chính sách được ban hành nhằm xoá bỏ bất công trong xã hội và phát triển sản xuất nông nghiệp Cuộc cải cách ruộng đất là bước tiến quan trọng đầu tiên Trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước

và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, phong trào hợp tác hoá được đẩy mạnh Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), đất nước thống nhất và hoà bình, tuy có nhiều cố gắng, nhưng sản xuất nông nghiệp do có nhiều khó khăn chủ quan và khách quan nên vẫn “dậm chân tại chỗ”

Phần II : Quá trình đổi mới chính sách và thể chế

Trước tình hình khủng hoảng của sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân,

từ bài học thành công của thử nghiệm tự phát ở Hải Phòng và xu thế lan rộng của mô hình này, ngày 22-10-1980, Ban Bí thư đã ra Thông báo số22 công nhận khoán sản phẩm là hình thức quản lý hợp pháp trong hợp tác xã nông nghiệp

Đại hội VI của Đảng (1986) nhận định “cơ chế quản lý tập trung đã không tạo động lực phát triển,… Nông nghiệp chưa thật sự được coi là mặt trận hàng đầu Đại hội chính thức công nhận sự tồn tại và vai trò của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam

Trang 36

Đại hội VII (1991) chỉ rõ “ Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế-xã hội”

Đại hội VIII của Đảng (1996) đề ra nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn và Luật hợp tác xã được Quốc hội thông qua 20-3-1996 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã trong nền kinh tế nhiều thành phần

Đại hội IX (2001) đã tổng kết những thành tựu đạt được trong 15 năm đổi mới, đặt ra mục tiêu chính của kế hoạch 5 năm 2001-2005

Phần III : Chuyển dịch cơ cấu và phát triển nông nghiệp, nông thôn

Trong suốt quá trình đổi mới, cơ cấu công – nông nghiệp và dịch vụ cả nước chuyển đổi theo đúng quy luật, - nông nghiệp luôn giữ vai trò làm cơ sở cho công nghiệp và dịch vụ phát triển Trong nông , lâm nghiệp và thuỷ sản, chuyển dịch cơ cấu diễn ra rõ rệt nhưng chưa đồng đều

Sản xuất lúa phát triển là nền tảng đảm bảo an ninh lương thực và thu nhập cho đông đảo nông dân Đổi mới cơ chế quản lý trong ngành trồng lúa đã khởi động quá trình đổi mới kinh tế cả nước

Bên cạnh đó, đồng thời tiến hành chuyển dịch cơ cấu cây hoa màu và cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm, cơ cấu trong chăn nuôi, cơ cấu trong ngành lâm nghiệp, cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu kinh tế và đổi mới phát triển nông thôn

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn có nhiều tiến bộ nhưng diễn ra khá chậm và khác biệt giữa các vùng Cơ bản nông thôn Việt Nam vẫn mang tính thuần nông Nông nghiệp vẫn là nguồn việc làm và thu nhập chính của cư dân nông thôn

Phần IV : Khái quát thành tựu và một số vấn đề rút ra từ quá trình đổi mới

Qua 20 mươi năm đổi mới, thắng lợi rõ rệt nhất của nông nghiệp Việt Nam là tạo ra và duy trì được một quá trình tăng trưởng sản xuất với tốc độ nhanh, trong thời điểm dài Sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo an ninh lương thực, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của dân cư, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, tăng nhanh xuất khẩu, môi trường tự nhiên được cố gắng bảo vệ

Trang 37

Tuy vậy, quá trình đổi mới nông nghiệp, nông thôn vẫn còn một số yếu kém, tồn tại: chuyển dịch cơ cấu chậm, sản xuất nhỏ manh mún, phân tán, tăng trưởng theo chiều rộng, chất lượng hiệu quả, khả năng cạnh tranh nhiều loại nông sản còn thấp, tăng trưởng chưa bền vững, thu nhập thấp, chênh lệch cao, khả năng tích luỹ thấp, lao động nông thôn dư thừa

Phần V : Những thách thức đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn và một số vấn đề đặt ra trong thời điểm tới

Để tiếp tục đưa công cuộc đổi mới nông nghiệp, nông thôn nước ta tiến những bước vững chắc, cần quan tâm giải quyết một số vấn đề đặt ra : cần xác định mối quan

hệ nông nghiệp - công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, đầu tư thích đáng cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển phải phù hợp với quy luật của kinh tế thị trường, làm rõ nội hàm của “định hướng xã hội chủ nghĩa”, nội dung “công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”, chủ trương chính sách phải xuất phát từ thực tiễn, quản lý nhà nước phải đổi mới căn bản…

1.4.2.4 Báo cáo khoa học “Nghiên cứu cơ sở khoa học mạ ng thông tin khoa học công nghệ (KHCN) khu vực ĐBSCL” do tiến sĩ Đỗ Văn Xê , Phó Hiệu trưởng

Trường Đại học Cần Thơ , làm chủ nhiệm được Hội đồng Khoa học TP Cần Thơ nghiệm thu nghiên cứu đánh giá về nhu cầu thông tin khoa học công nghệ của người nông dân vùng ĐBSCL

Qua khảo sát, nghiên cứu cho thấy nhu cầu thông tin KHCN phục vụ phát triển sản xuất và đời sống cho nhân dân khu vực nông thôn vùng ĐBSCL là rất cao; hệ thống thông tin, cổng điện tử, mạng máy tính của các tỉnh, thành đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật cho dự án xây dựng mạng thông tin KHCN khu vực Các chương trình phổ cập tin học, chương trình đào tạo kỹ thuật viên công nghệ thông tin, các mô hình cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin và Internet nông thôn đã từng bước nâng cao hiệu quả

Từ kết quả nghiên cứu của đề tai , Ban Chủ nhiệm đề tài kiến nghị Bộ KH&CN đầu tư xây dựng dự án “Mạng thông tin KHCN khu vực ĐBSCL”, các địa phương hỗ trợ hoạt động, tiến đến các đơn vị tự trang trải kinh phí phục vụ thông tin cho nhân dân

Trang 38

Đề tài này tập trung ở mảng công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp nói chung chứ không tập trung phân tích thực trạng và nhu cầu của người nông dân đối với các kênh truyền thông nông nghiệp

Ngoài ra , còn nhiều tác phẩm , nhiều công trình nghiên cứu về nông nghiệp , nông thôn , về truyền thông nông nghiệp khác Tuy nhiên , hầu như các công trình nghiên cứu hoặc tập trung nghiên cứu chung về các vấn đề của nông nghiệp , hoặc tập trung nghiên cứu cơ sở hạ tầng phục vụ cho mạng lưới thông tin ở các vùng nông thôn nước ta Những đề tài nghiên cứu về truyền thông nông nghiệp một cách toàn diện , đánh giá thực trạng và nhu cầu thông tin của người nông dân còn hạn chế Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân” làm đề tài luận văn thạc sỹ với mong muốn đóng góp những ý kiến xác đáng , những cách nhìn khách quan , đề xuất thực tế để tăng cường vai trò , hiệu quả của các kênh truyền thông đối với người dân sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay

Trang 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THÔNG TIN NÔNG NGHIỆP

NÔNG THÔN CỦA NÔNG DÂN

2.1 Một số vấn đề chung về kênh truyền thông nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam hiện nay

Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, tác giả lựa chọn một số kênh truyền thông khá phổ biến trong đời sống của người dân nông thôn, đó là: truyền hình, phát thanh, báo

in, báo mạng, trung tâm khuyến nông, khuyến ngư, hiệp hội - đoàn thể, bạn bè - hàng xóm

để tìm hiểu

2.1.1 Truyền hình

2.1.1.1 Truyền hình trung ương

Truyền hình là loại phương tiện truyền thông được đa số người dân lựa chọn do tính hấp dẫn, trực tiếp và nhanh nhạy, có thể tiếp cận hàng ngày Đến năm 2009, Việt Nam có Đài truyền hình Việt Nam là đài truyền hình quốc gia của Việt Nam, Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC và 63 Đài truyền hình địa phương Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC thành lập ngày 19/8/2004, trực thuộc Tổng Công ty Truyền thôngĐa phương tiện VTC, Bộ Thông tin và Truyền thông

Xác định khu vực nông thôn và người nông dân là đối tượng khán giả lớn và nhiều đặc thù, trong những năm qua, Đài Truyền hình Việt Nam đã xây dựng nhiều chương trình chuyên biệt để phục vụ người dân nông thôn

Trên kênh Khoa học – Giáo dục (VTV2), chương trình Bạn của nhà nông ra đời năm 2005 có nhiệm vụ phổ biến kiến thức cho người nông dân, phát sóng vào 18giờ các ngày thứ 5 và thứ 7 với thời lượng phát sóng 30 phút/1số Chương trình Tạp chí Khoa học nông nghiệp có nhiệm vụ cập nhật các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp phát sóng 1số/tuần vào 18giờ thứ 4 với thời lượng 30 phút Chương trình Cùng nông dân bàn cách làm giàu là chương trình tọa đàm với

sự tham gia của nông dân, nhà khoa học, nhà quản lý nhằm mục tiêu trao đổi về các giải pháp phát triển sản xuất, nâng cao năng suất và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, nông thôn, chương trình phát sóng vào 8 giờ tối thứ 5, với thời lượng 45 phút Như vậy, trong năm năm qua, chỉ tính riêng trên kênh VTV2,

đã dành trên 35.300 giờ phát sóng cho các chương trình về Nông nghiệp, Nông thôn, Nông dân

Trang 40

Trên kênh Thể thao giải trí và Thông tin kinh tế, ngoài những chương trình phục vụ quảng đại khán giả, thì khu vực nông thôn cũng được dành một sự quan tâm phục vụ đáng kể, sau chương trình Làng vui chơi, Làng ca hát, Tre xanh, hiện nay VTV3 đang duy trình chương trình Làng Việt với nội dung phong phú, phản ánh đời sống tinh thần của người nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chương trình này với tổng thời lượng phát sóng 1 năm là 2.808 giờ, phát sóng vào tối thứ 7 hàng tuần

Trong tổng thể việc thực hiện nhiệm vụ thông tin tuyên truyền về lĩnh vực công nghiệp hóa, hiện đại hóa NNNT của Đài truyền hình quốc gia, kênh Thời sự chính trị tổng hợp VTV1được xem là một mũi nhọn Cũng theo kết quả khảo sát nhu cầu và khả năng sử dụng thông tin NNNT của người dân nông thôn do Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông thôn (IPSARD) thực hiện năm 2009, người dân đánh giá rất cao hiệu quả của các chương trình phục vụ nông nghiệp, nông thôn, nông dân phát sóng trên VTV1 Trên kênh sóng này, chương trình Nông thôn ngày nay với thời lượng 25 phút một tuầnđược duy trì 20 năm nay vàđang tiếp tục được cải tiến nội dung và hình thức thể hiện để phù hợp với những thị hiếu thông tin của người nông dân Việt Nam

Ba năm 2006, 2007 và 2008 đánh dấu sự ra đời của hàng loạt các chương trình truyền hình phục vụ khu vực NNNT

Chuyên mục Nhà nông làm giàu ra đời năm 2006 phát sóng hàng ngày trong chương trình Chào buổi sáng, với thời lượng 8-10 phút với các tiểu mục: Thông tin thị trường Nông sản, Phóng sự về gương nông dân sản xuất giỏi và mục Mách nhỏ bà conđã rất nhanh chóngđược người nông dânđón xem và có tác dụng nhanh chóng, trực tiếp đến khu vực nông nghiệp, nông thôn

Song song với việc nâng cao chất lượng chương trình Nhà nông làm giàu, Đài truyền hình Việt Nam phối hợp với Hội Nông dân tổ chức bình chọn những gương nông dân tiêu biểu trong tuần để trao giải thưởng Sao Thần nông, cách làm này đã nâng cao tính tương tác của chương trình truyền hình với khán giả mục tiêu, tạo ra một không khí phấn khởi thi đua sản xuất trong khu vực nông nghiệp Đây được đánh giá là cách làm hiện đại và hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển của truyền hình hiện đại Tiếp sau thành công của chương trình Nhà nông làm giàu, năm 2007,

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5: Thời điểm tiếp cận thông tin nông nghiệp qua đài phát thanh - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 5 Thời điểm tiếp cận thông tin nông nghiệp qua đài phát thanh (Trang 64)
Hình 12: Hiệu quả của thông tin kỹ thuật, mùa vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 12 Hiệu quả của thông tin kỹ thuật, mùa vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp (Trang 71)
Hình 14: Hiệu quả của truyền hình đối với việc cung cấp thông tin nông nghiệp - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 14 Hiệu quả của truyền hình đối với việc cung cấp thông tin nông nghiệp (Trang 74)
Hình 15: Hiệu quả của đài phát thanh đối với việc cung cấp thông tin NN - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 15 Hiệu quả của đài phát thanh đối với việc cung cấp thông tin NN (Trang 76)
Hình 19: Hiệu quả của hiệp hội, đoàn thể đối với việc cung cấp thông tin NN - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 19 Hiệu quả của hiệp hội, đoàn thể đối với việc cung cấp thông tin NN (Trang 80)
Hình 22: Mong muốn về kênh thông tin nông nghiệp nông thôn - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 22 Mong muốn về kênh thông tin nông nghiệp nông thôn (Trang 85)
Hình 25 : Thời điểm mong muốn để tiếp cận thông tin nông nghiệp qua báo in - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 25 Thời điểm mong muốn để tiếp cận thông tin nông nghiệp qua báo in (Trang 90)
Hình 28: Thời điểm mong muốn tiếp cận thông tin nông nghiệp qua hiệp hội, đoàn thể - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 28 Thời điểm mong muốn tiếp cận thông tin nông nghiệp qua hiệp hội, đoàn thể (Trang 94)
Hình 30: Tương quan giữa học vấn và loại thông tin NN người dân - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 30 Tương quan giữa học vấn và loại thông tin NN người dân (Trang 101)
Hình 31: Tương quan giữa học vấn và kênh thông tin NNNT người dân - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 31 Tương quan giữa học vấn và kênh thông tin NNNT người dân (Trang 102)
Hình 32: Tương quan giữa nhóm tuổi và loại thông tin NNNT người dân mong - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 32 Tương quan giữa nhóm tuổi và loại thông tin NNNT người dân mong (Trang 104)
Hình 33: Tương quan giữa nhóm tuổi và kênh thông tin NNNT người dân - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 33 Tương quan giữa nhóm tuổi và kênh thông tin NNNT người dân (Trang 106)
Hình 34: Tương quan giữa thu nhập và loại thông tin NNNT người dân - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 34 Tương quan giữa thu nhập và loại thông tin NNNT người dân (Trang 107)
Hình 35: Tương quan giữa thu nhập và kênh thông tin NNNT người dân - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 35 Tương quan giữa thu nhập và kênh thông tin NNNT người dân (Trang 108)
Hình 38 : Tương quan giữa giới tính người trả lời và kênh thông tin NNNT người dân - Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân (qua điều tra tại tỉnh Cần Thơ.PDF
Hình 38 Tương quan giữa giới tính người trả lời và kênh thông tin NNNT người dân (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w