1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội

114 4,3K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Andy Frey và Nancy George Nichols lại xem xét vai trò của nhân viên CTXH trong trường học thông qua việc nghiên cứu thực hành can thiệp rối loạn hành vi và cảm xúc ở trẻ em, nhấn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội

với đề tài “Nhu cầu hoạt động CTXH trong trường THPT” ngoài sự nỗ lực, cố

gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những lời động viên sâu sắc từ thầy cô, gia đình, bạn bè

Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo: TS Hoàng Thu Hương, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy em trong suốt những năm học vừa qua, cung cấp cho tôi những kiến thức

bổ ích để em ứng dụng vào đề tài luận văn của mình

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo, các em học sinh của hai trường THPT Trần Phú và THPTDL Văn Hiến đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Luận văn này cũng như một món quà mà tôi muốn gửi tới gia đình và bạn bè

- những người đã luôn ở bên động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên Trần Thị Phương Thảo

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nghiên cứu và các kết luận được trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực

và chưa được công bố ở bất kỳ một nghiên cứu nào Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Trần Thị Phương Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 7

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 8

5 Phạm vi nghiên cứu 8

6 Câu hỏi nghiên cứu 8

7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

8 Giả thuyết nghiên cứu 9

9 Phương pháp nghiên cứu 9

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 13

1.1Các khái niệm công cụ 13

1.1.1 Nhu cầu 13

1.1.2 Công tác xã hội 13

1.1.3 Học sinh THPT 14

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 14

1.2.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái 14

1.2.2 Lý thuyết Vai trò 17

1.2.3 Lý thuyết Nhu cầu 18

1.2.4 Thuyết Gắn bó của Bowlby 20

1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT 22

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 23

1.5 Vai trò của nhân viên CTXH trong trường học 24

Chương 2: CÁC VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ VÀ THPTDL VĂN HIẾN 28

2.1 Thực trạng các vấn đề khó khăn 28

2.1.1 Khó khăn trong học tập, hướng nghiệp 31

2.1.2 Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội 38

Trang 5

2.1.3 Khó khăn từ phía bản thân học sinh 46

2.2 Thực trạng các hình thức trợ giúp cho học sinh tại trường học 48

2.3 Cách ứng phó của bản thân học sinh khi gặp khó khăn 50

CHƯƠNG 3: NHU CẦU CỦA HỌC SINH THPT VỀ SỰ TRỢ GIÚP CỦA NHÂN VIÊN CTXH TRONG TRƯỜNG HỌC 54

3.1 Nhu cầu của học sinh về việc thành lập phòng CTXH trong trường học 54 3.2 Nhu cầu cần sự trợ giúp của nhân viên CTXH trong trường học 57

3.3 Nhu cầu của học sinh về hình thức, thời gian, địa điểm trợ giúp CTXH học đường 60

3.4 Một số hoạt động thử nghiệm CTXH trong trường học 64

3.4.1 Hoạt động tham vấn cho học sinh 65

3.4.2 Nhân viên CTXH trong trường học với vai trò trung gian, kết nối nguồn lực 78

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 88

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU Danh mục các bảng

Bảng 1: Nhóm khó khăn mà học sinh trường gặp phải 28

Bảng 2: So sánh các khó khăn thường gặp của học sinh hai trường 29

Bảng 3: So sánh khó khăn thường gặp ở học sinh khối 10 và khối 12 30

Bảng 4: So sánh các nhóm khó khăn giữa học sinh nam và nữ 30

Bảng 5 Nhóm khó khăn trong học tập 31

Bảng 6 Điều ước của các em học sinh theo nhóm vấn đề 37

Bảng 7: Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội 38

Bảng 8: Nhóm khó khăn từ phía bản thân học sinh 47

Bảng 9: Các phương thức giải quyết khi gặp khó khăn của học sinh 51

Bảng 10: Mức độ mong muốn của học sinh đối với các hình thức trợ giúp của CTXH trong trường học 60

Bảng 11: So sánh nhu cầu của học sinh hai trường đối với các hình thức trợ giúp của CTXH trong trường học 62

Bảng 12: Mong đợi của các em học sinh về một nhân viên CTXH trong trường học 64

Danh mục biểu đồ Biểu đồ 1: Nhận thức của học sinh về mức độ cần thiết của phòng CTXH trong trường học 55

Biểu đồ 2: Nhu cầu của học sinh về việc có phòng CTXH trong trường học 56

Biểu đồ 3: Xu hướng tìm đến sự trợ giúp của CTXH học đường trong tương lai 57

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự phát triển của trẻ em quyết định không nhỏ đến vận mệnh của một đất nước Trẻ em luôn cần nhận được sự quan tâm, chăm sóc và yêu thương của toàn xã hội để có thể phát triển toàn diện Cùng với sự phát triển về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước Quá trình xã hội hóa của cá nhân diễn ra nhanh chóng, sự du nhập của lối sống và văn hóa phương Tây, kinh tế thị trường, cùng với các tệ nạn xã hội

có tác động mạnh mẽ tới trẻ em, đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên – nhóm lứa tuổi

có nhiều thay đổi về tâm sinh lý , luôn nhạy cảm trước những biến động của xã hội

Học sinh THPT gồm các em đa số từ lứa tuổi 16-18, là lứa tuổi vị thành niên Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt của cuộc đời con người Giai đoạn này các

em phải đối mặt với nhiều “khủng hoảng” đầu đời, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các điều kiện văn hóa, giáo dục, kinh tế của gia đình, nhà trường và xã hội, gặp nhiều khó khăn, áp lực trong học hành, thi cử cũng như định hướng nghề nghiệp cho tương lai

Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, số lượng học sinh chán học, lười học chiếm tỷ lệ không nhỏ trong các trường học khiến cho việc học hành ngày càng sa sút Bên cạnh đó, các em gặp phải các khó khăn trong học tập, trong các mối quan

hệ xã hội, có nhiều vướng mắc trong giao tiếp ứng xử với bạn bè, thầy cô, gia đình, Những điều này có thể dẫn đến các vấn đề như rối nhiễu cảm xúc (lo âu, trầm cảm, tức giận, ), rối nhiễu hành vi (chống đối xã hội, bạo lực học đường,…), nghiện game, sử dụng chất gây nghiện, có thai tuổi vị thành niên, bỏ học, tự tử,…Do đó, cần có một giải pháp phòng ngừa về mặt lâu dài cũng như các can thiệp kịp thời để các em lấy lại cân bằng và tự giải quyết vấn đề của chính mình

Thực tế các nước trên thế giới cho thấy công tác xã hội trong trường học đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề trên Ở Việt Nam, công tác xã hội đã và đang trên đà phát triển và dường như vẫn còn thiếu vắng một mạng lưới cơ sở cung cấp các dịch vụ công tác xã hội trong trường học nhằm giải quyết hiệu quả các vấn đề trên Trong khuôn khổ luận văn Thạc sỹ này, người viết lựa chọn đề tài: Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường THPT (Nghiên cứu tại

Trang 9

trường THPT Dân lập Văn Hiến và trường THPT Trần Phú - Hà Nội) nhằm tìm hiểu, đánh giá thực trạng nhu cầu, cũng như thử nghiệm một số vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trường học

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Các nghiên cứu về CTXH trường học trên thế giới

Công tác xã hội là một ngành nghề đã có từ lâu trên thế giới, đặc biệt mô hình CTXH trong trường học trên thế giới đã được triển khai và mang lại những hiệu quả nhất định nhằm giúp học sinh, cha mẹ học sinh cũng như nhà trường có sự kết nối thông qua nhân viên CTXH Vào năm 1871, các dịch vụ công tác xã hội được đưa vào trường học tại Anh Năm 1906, tại Mỹ trong công cuộc xoá mù chữ cho các gia đình, các dịch vụ công tác xã hội trường học đã được cung cấp độc lập lần đầu tiên tại New York, Boston và Hartford Năm 1943, Hiệp hội các giáo viên vãng gia quốc gia (NAVT) trở thành Hiệp hội nhân viên công tác xã hội trường học

Mỹ (AASSW) và năm 1955 hoà cùng các hiệp hội công tác xã hội khác hình thành nên Hiệp hội nhân viên công tác xã hội quốc gia (NASW) Vì vậy, CTXH trường học trở thành 1 bộ phận quan trọng của nghề CTXH Tiếp theo vào năm1940, CTXH trường học xuất hiện ở Canada và Australia; năm 1950 tại Thuỵ Điển; năm

1960 tại Phần Lan và Đức; năm 1970 tại New Zeland, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông; năm 1980 tại Nhật Bản, Hàn Quốc… [3, tr3-5]

Hiện nay, mạng lưới quốc tế có những thông tin về công tác xã hội trong trường học tại 41 quốc gia, trong đó có Việt Nam (Nguồn: internationalnetwork-schoolsocialwork.htmlplanet.com)

Đại hội quốc tế lần thứ nhất được tổ chức tại Chicago năm 1999 và lần thứ 2 được tổ chức tại Stockhom năm 2003, củng cố và khẳng định vai trò của công tác

xã hội trường học [3]

Về vấn đề vai trò của nhân viên CTXH trong trường học, các nhà nghiên cứu

đã sử dụng những thước đo khác nhau, và được nhìn nhận từ các góc độ khác nhau Jacqueline Agresta đã nghiên cứu về vai trò của nhân viên CTXH trong sự so sánh giữa nhận thức vai trò chuyên nghiệp của nhân viên CTXH, nhà tâm lý học, tư vấn viên trong trường học Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân viên CTXH trong trường

Trang 10

học, tư vấn viên dành nhiều thời gian cho vai trò là tư vấn, trong khi đó các nhà tâm

lý học dành nhiều thời gian hơn cho việc thử nghiệm tâm lý và viết báo cáo

Tác giả Andy Frey và Nancy George Nichols lại xem xét vai trò của nhân viên CTXH trong trường học thông qua việc nghiên cứu thực hành can thiệp rối loạn hành vi và cảm xúc ở trẻ em, nhấn mạnh đến vai trò của nhân viên CTXH trường học trong quá trình thực hành can thiệp [27,tr98]

Nhìn nhận vai trò từ một khía cạnh cụ thể hơn, tác giả Debra M.Hermandez Jozefowicz-Simbeni nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ dẫn đến bỏ học ở lứa tuổi vị thành niên, thông qua đó tìm hiểu vai trò của nhân viên CTXH trong việc nỗ lực phòng chống nguy cơ bỏ học [38,tr128]

Vai trò của nhân viên CTXH lại được tác giả Natasha K.Bowen xem xét thông qua việc can thiệp tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa gia đình và nhà trường nhằm thúc đẩy sự thành công trong việc giáo dục con em họ Nhân viên CTXH đóng vai trò là người kết nối, tăng cường sự trao đổi thông tin giữa gia đình

và trường học và cung cấp cho gia đình các nguồn tài nguyên giáo dục[29,tr 45] Tương tự như vậy, nghiên cứu của C.Anne Broussard cũng đã chỉ ra vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa Nhà – Trường (Home-school), đặc biệt đối với các gia đình đa sắc tộc nhằm giảm bớt vấn

đề phức tạp này tại các trường học ở Mỹ [32,tr78].Cũng nhằm nhấn mạnh đến vấn

đề tăng cường mối liên hệ giữa gia đình và nhà trường, tác giả Susan F.Allen và Elizabeth M.Tracy đã nghiên cứu về vai trò vãng gia của nhân viên CTXH trong trường học Tác giả chỉ ra việc đến thăm nhà có thể giúp nhà trường và gia đình cải thiện, gia tăng thông tin liên lạc và sự phối hợp giữa gia đình và trường học được chặt chẽ hơn, thông qua đó có thể tìm hiểu cụ thể hơn về các hoàn cảnh gia đình khác nhau có thể ảnh hưởng đến vấn đề mà học sinh đang gặp phải[30,tr56]

2.2 Các nghiên cứu về CTXH ở Việt Nam

Trên thế giới, CTXH với sự hành nghề chuyên nghiệp của các nhân viên xã hội được xem là công cụ hiệu quả trong việc thúc đẩy công bằng, an sinh xã hội để một quốc gia phát triển hài hòa Là một trong những nước Đông Nam Á đầu tiên

Trang 11

mở trường đào tạo CTXH chuyên nghiệp, nhưng mãi đến thời gian gần đây ngành

khoa học, nghề chuyên môn này mới được “đánh thức” tại Việt Nam

Nghiên cứu về thực trạng và nhu cầu CTXH hiện nay ở Việt Nam các tác giả đều có nhận định chung rằng CTXH là một ngành nghề mới tuy nhiên các hoạt động của công tác xã hội cũng đã bước đầu đạt được những hiệu quả nhất định và là một nhu cầu thiết yếu trong xã hội hiện nay

Theo kết quả nghiên cứu “Nguồn nhân lực và nhu cầu đào tạo và nhu cầu đào tạo Công tác xã hội ở Việt Nam” – do Trường Đại học Lao động – xã hội, Bộ

Giáo dục và Đào tạo tiến hành trên địa bàn 4 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Lạng Sơn, thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp) với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Unicef, năm 2005 Nghiên cứu đưa ra những số liệu định lượng về thực trạng phát triển công tác xã hội Đồng thời tác giả phân tích bối cảnh phát triển công tác xã hội

ở nước ta gắn liền với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, công bằng trong tiếp nhận những lợi ích từ sự phát triển kinh tế Việc phát triển công tác xã hội như một nghề được xem như việc giải quyết sự gia tăng của các vấn đề xã hội đi kèm theo sự phát triển kinh tế và đáp ứng đòi hỏi phải có cách tiếp cận mang tính khoa học và có hệ thống Tác giả đặt ra những câu hỏi để phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam như: Nhiệm vụ của công tác xã hội, việc đào tạo nên được mở rộng ở cấp nào và phát triển như thế nào, làm thế nào để có thể phát triển công tác xã hội một các tập thể Để có thể nắm bắt được bức tranh toàn cảnh về thực trạng công tác xã hội tại Việt Nam, phòng bảo vệ trẻ em của UNICEF Việt Nam kết hợp với Bộ lao động thương binh và xã hội, Ủy ban dân số Gia đình và trẻ em, Bộ Giáo dục và đào tạo

và 3 trường Đại học để tiến hành một cuộc khảo sát và phân tích hiện trạng về lĩnh vực an sinh xã hội, phạm vi kiến thức về công tác xã hội và các quan điểm của nhiều tổ chức, ban ngành liên quan về phát triển công tác xã hội như một nghề ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những người trả lời (60%) cho rằng

họ đã được đào tạo công tác xã hội Việc đào tạo này phần lớn nói đến các khóa đào tạo ngắn hạn được cấp chứng chỉ, và có khoảng từ 15% đến 20% đục đào tạo công tác xã hội cấp Đại học Môt số người trả lờ rằng họ được đào tạo công tác xã hội thực tế là những người có bằng đạo học của một chuyên ngành hoặc các lĩnh vực

Trang 12

khác và họ có học qua những lớp đào tạo tại chức về công tác xã hội Loại hình công việc các cán bộ đang đảm nhận phần lớn là làm việc với cá nhân, gia đình và phát triển công đồng, còn công tác tham vấn, quản lý ca và công tác hành chính là loại hình công việc chiếm phần ít Từ những kết quả nghiên cứu, tác giả thảo luận khung chương trình phát triển công tác xã hội và đưa ra một số ý tưởng cho phát triển công tác xã hội ở Việt Nam

“Nguồn nhân lực Công tác xã hội và nhu cầu đào tạo” – Đặng Kim

Khánh Ly trong Kỷ yếu hội thảo khoa học 2010 – Đổi mới Công tác xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế những vấn đề lý luận và thực tiễn Tác giả khẳng định Công tác xã hội ngày càng có vị trí quan trọng trong sự nghiệp ổn định xã hội và phát triển bền vững Nguồn nhân lực về Công tác xã hội đang trở thành một nhu cầu cấp bách cho mọi quốc gia Nhu cầu phát triển ngành CTXH Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử Tuy nhiên, nguồn nhân lực khoa học ngành CTXH ở nước ta hiện nay còn thiếu, nhiều nhân viên công tác xã hội còn yếu về kinh nghiệm và kỹ năng tay nghề Nhiều cán bộ giảng dạy, nhà nghiên cứu về CTXH tại các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu chưa được chuẩn hóa, chưa được đào tạo bài bản và nâng cao trình độ

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà “Nhu cầu hoạt động CTXH trong một số lĩnh vực tại Việt Nam hiện nay” – trong Tạp chí Xã hội học

– Viện XHH, Viện khoa học xã hội Việt Nam, ISSN 0866-7659,2011 Nhu cầu phát triển CTXH ở Việt Nam ngày càng lớn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Cán bộ CTXH cần phải có những kiến thức, kỹ năn và phẩm chất cần thiết để đáp ứng hiệu quả và hợp lý nhu cầu xã hội Với nhiều vấn đề xã hội đặt ra thì nhu cầu

về một đội ngũ CTXH nhằm đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng là rất cần thiết với Việt Nam Tác giả phân tích nhu cầu xã hội đối với hoạt động xã hội trên một số lĩnh viecj cũng như một số nhóm đối tượng như:

Nhu cầu CTXH trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, vai trò của cán bộ nhân viên CTXH là rất quan trọng bởi cán bộ nhân viên CTXH là ngườ giúp người nghèo nhận ra và phát huy tối đa năng lực của mình cũng như gia đình để vươn lên thoát nghèo bền vững

Trang 13

Nhu cầu công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc trẻ em không chỉ dừng lại ở giới hạn nhóm trẻ khó khăn thiệt thòi về điều kiện vật chất hay thể chất mà còn cả những trẻ em gặp khó khăn về mặt tinh thần Trẻ em là nhóm đối tượng đặc biệt cần chú trọng đến công tác phòng ngừa, loại bỏ sớm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến

sự phát triển toàn diện của trẻ

Nhu cầu công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Cần có một đội ngũ cán bộ CTXH chuyên nghiệp, đông đảo được đào tạo để đáp ứng nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi

“Nhu cầu về hoạt động CTXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay” – tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa trong kỷ yếu hội thảo khoa học: Đổi mới

CTXH trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế những vấn đề lý luận

và thực tiễn – 2010 Tác giả đã đưa ra những nhu cầu hoạt động CTXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội Nhu cầu can thiệp CTXH trong một số lĩnh vực của đời sống như: các nhóm yếu thế trong xã hội, các nhóm có nhu cầu được chăm sóc sức khỏe tâm thần, các lĩnh vực y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng Những nhu cầu trong hoạt động đào tạp CTXH, đội ngũ nhân viên CTXH còn thiếu và yếu chưa đảm bảo được chất lượng Trong thời gian tới cần đẩy mạnh hơn nữa phát triển CTXH theo hướng chuyên nghiệp hóa gắn liền với thực tiễn Những nhu cầu về hoạt động nghiên cứu thuộc lĩnh vực CTXH: nghiên cứu vấn đề liên quan đến nhóm yếu thế, những phương pháp, kỹ thuật, kỹ năng thực hành CTXH Bên cạnh đó, tác giả có một số phương hướng nhằm thúc đẩy hoạt động CTXH đáp ứng nhu cầu phát triển CTXH: thể chế hóa ngành CTXH một cách chính thức, chú trọng hơn nữa công tác đào tạo sinh viên chuyên ngành CTXH

Nghiên cứu của Trần Thanh Hương về “Nhu cầu và thực trạng hoạt động nghề CTXH hiện nay qua đánh giá của nhân viên CTXH tại Hà Nội” đã tìm

hiểu nhận thức cũng như vai trò của hoạt động công tác xã hội trong thực tiễn Đồng thời chỉ ra một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của công tác xã hội

và mô hình phát triển hoạt động công tác xã hội một cách chuyên nghiệp Đây chính

là điểm mới của đề tài khi chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động công

Trang 14

tác xã hội, đặc biệt là qua đánh giá của nhân viên công tác xã hội những người trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực này

Nghiên cứu “Đổi mới công tác xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường

và hội nhập quốc tế (Nghiên cứu kinh nghiệm của Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Liên Bang Nga)” của PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà đã chỉ ra mở rộng

quan hệ quốc tế trong lĩnh vực CTXH nhằm hợp tác về đào tạo, nghiên cứu về thể chế chính sách, về mạng lưới tổ chức và nhân viên CTXH, về phát triển nguồn nhân lực, về quá trình chuyên nghiệp hoá CTXH… trở thành một nhiệm vụ quan trong hiện nay

Như vậy, những nghiên cứu về nhu cầu của xã hội đối với nhu cầu cần có CTXH hiện nay các tác giả đều có chung nhận định: CTXH hiện nay có vai trò rất quan trọng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Để đáp ứng đòi hỏi đó của xã hội, chúng

ta cần phải đào tạo một đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp có kỹ năng, chuyên môn, phương pháp chuyên biệt để hoạt động CTXH đạt được hiệu quả cao

Thông qua thực tế nghiên cứu, người nghiên cứu đề xuất mô hình CTXH phù hợp với bối cảnh và nhu cầu ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu làm sáng rõ sự cần thiết của công tác xã hội trong trường học và góp phần định hướng mô hình CTXH trong tương lai

Trang 15

4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nhu cầu CTXH trong trường học THPT

4.2 Khách thể nghiên cứu

Học sinh THPT Dân lập Văn Hiến, học sinh THPT Trần Phú, Hà Nội

5 Phạm vi nghiên cứu

5.1 Phạm vi thời gian: tháng 1/2012 đến tháng 5/2013

5.2 Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại trường Trường THPT Dân lập Văn

Hiến và trường THPT Trần Phú, Hà Nội

5.3 Giới hạn nghiên cứu:

Trong khuôn khổ đề tài luận văn, nghiên cứu chủ yếu hướng đến việc nhận diện, đánh giá các vấn đề mà học sinh đang gặp phải cũng như nhu cầu cần sự trợ giúp của nhân viên CTXH trường học, trên cơ sở đó thử nghiệm một số vai trò của nhân viên CTXH trong trường học

6 Câu hỏi nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài, người nghiên cứu cố gắng đi tìm câu trả lời cho 3 câu hỏi lớn:

 Thực trạng các vấn đề khó khăn mà học sinh THPT thường gặp phải là gì?

 Các hình thức hỗ trợ học sinh giải quyết khó khăn học đường hiện nay như thế nào?

 Vai trò của nhân viên CTXH được thể hiện như thế nào trong trường học?

7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

7.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích nhận diện các vấn đề khó khăn mà học sinh THPT hiện đang gặp phải cũng như tìm hiểu nhu cầu cần có CTXH trong trường học Đề tài tập trung vào nghiên cứu thực trạng, nhu cầu, lấy đó làm cơ sở thực tiễn để bước đầu thử nghiệm một số hoạt động trợ giúp của nhân viên CTXH trong trường học, từ đó đưa ra một số giải pháp về mô hình CXTH trong trường học tại địa bàn nghiên cứu nói riêng và Việt Nam nói chung

Trang 16

7.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhận diện các vấn đề khó khăn trong học đường mà học sinh THPT đang gặp phải

Tìm hiểu nhu cầu của học sinh về sự trợ giúp của nhân viên CTXH trong trường học

Tiến hành một số hoạt động CTXH thử nghiệm trong trường học nhằm trợ giúp cho học sinh

8 Giả thuyết nghiên cứu

Khó khăn mà học sinh THPT đang gặp phải là các khó khăn trong học tập hướng nghiệp, trong mối quan hệ với bạn bè, thầy cô,

Các hình thức giúp đỡ học sinh khi gặp khó khăn trong học đường hiện nay chưa hiệu quả

Nhân viên CTXH trong trường học là người đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ học sinh khi các em gặp các vấn đề khó khăn

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tài liệu sẵn có: các nghiên cứu, sách báo, các số liệu liên quan đến việc đánh giá nhu cầu công tác xã hội trong trường học Các nghiên cứu liên quan đến các hoạt động, vai trò của nhân viên CTXH trong trường học; các mô hình CTXH trên thế giới Vì các tài liệu thu được là chính thống, do vậy các con số, sự kiện nhận được mang tính chân thực tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu phân tích các sự kiện, hiện tượng một cách khách quan, hiệu quả Nhờ có phương pháp này, người nghiên cứu đã hoàn thiện được cơ sở nghiên cứu lý luận của đề tài, làm tiền đề cho việc xây dựng bảng hỏi và nghiên cứu thực tiễn

9.2 Phương pháp thảo luận nhóm

Công tác xã hội là một ngành nghề còn mới ở Việt Nam hiện nay Do vậy, trước khi đi vào nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng nhu cầu CTXH trong trường học, chúng tôi đã có buổi trò chuyện với các em học sinh cũng như giáo viên trong trường nhằm mục đích giới thiệu qua về Công tác xã hội là gì? Vai trò và nhiệm vụ

Trang 17

của một nhân viên CTXH trong trường học là gì để thầy cô cũng như các bạn học sinh có những hình dung cơ bản nhất về một nhân viên CTXH trong trường học

Nghiên cứu sử dung phương pháp thảo luận nhóm nhằm tìm hiểu các vấn đề khó khăn trong học đường của học sinh THPT Từ đó làm cơ sở cho việc thiết kế bảng hỏi để đi sâu tìm hiểu, đánh giá nhu cầu cần sự trợ giúp của nhân viên CTXH trong trường học Bên cạnh đó, các buổi thảo luận nhóm cũng được triển khai sau khi bảng hỏi được phát ra nhằm kiểm chứng lại nguồn thông tin thu được từ bảng hỏi đồng thời nhằm đi sâu, làm rõ thêm một số vấn đề chưa được thể hiện rõ trong bảng hỏi

Nghiên cứu tiến hành 4 buổi thảo luận nhóm bao gồm: 3 buổi thảo luận nhóm với học sinh 3 khối 10,11,12 và 1 buổi thảo luận nhóm với các giáo viên chủ nhiệm và cán bộ Đoàn trường Số lượng thành viên tham gia thảo luận của mỗi nhóm là 7 người

9.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm mục đích bổ sung, tìm hiểu sâu hơn về những thông tin mà người nghiên cứu quan tâm nhưng còn thiếu hay chưa có được những thông tin cụ thể, chi tiết trong quá trình thực hiện các phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và thảo luận nhóm ups Trước khi tiến hành nghiên cứu, việc tiếp cận một số em học sinh giúp chúng tôi có thể xác định được vấn đề cần nghiên cứu, mục đích, giả thuyết nghiên cứu cũng như xây dựng, thiết kế bảng hỏi

Sau khi có kết quả điều tra bằng bảng hỏi, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 5 học sinh với mục đích kiểm chứng lại một lần nữa tính chính xác của thông tin thu được và làm rõ thêm một số vấn đề mà bảng hỏi chưa thể hiện rõ Nội dung các câu phỏng vấn sâu là những câu hỏi mở và được xây dựng trên tiêu chí tìm hiểu những khó khăn và nhu cầu của học sinh đối với sự trợ giúp của các dịch vụ CTXH trong trường học

9.4 Phương pháp thu thập thông tin thông qua phiếu trưng cầu ý kiến

Sau tiến hành thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu với vai trò là nhân viên CTXH trường học, người nghiên cứu tiến hành thiết kế bảng hỏi nhằm thu thập thông tin về thực trạng, nhu cầu cần sự trợ giúp của CTXH

Trang 18

Nghiên cứu sử dụng 120 bảng hỏi ở 2 trường trong đó số phiếu được phát ra

ở mỗi trường là 60 phiếu Cơ cấu mẫu được chia như sau:

Khối Số lượng học sinh tham gia

Phiếu trưng cầu ý kiến được xây dựng dựa trên các tiêu chí:

 Đánh giá thực trạng các khó khăn mà học sinh gặp phải

 Đánh giá của học sinh về những hình thức giúp đỡ học sinh hiện có của trường

 Tìm hiểu nhận thức của học sinh về các hoạt động trợ giúp của CTXH trường học

 Tìm hiểu nhu cầu được trợ giúp của học sinh

9.5 Phương pháp quan sát

Trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát nhằm mục đích thu thập thêm thông tin khách quan của khách thể nghiên cứu, mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong quá trình học tập, mối quan hệ bạn bè của học sinh, thái độ, hành vi của học sinh trong các giờ học,

Quá trình quan sát được tiến hành cụ thể như sau:

+ Tiến hành quan sát 1 buổi học sinh hoạt lớp nhằm quan sát mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh:

Buổi sinh hoạt lớp ngày thứ 7, ngày 16/3/2013, lớp 10, trường THPTDL Văn Hiến

Nội dung buổi sinh hoạt: Tổng kết tuần, lập kế hoạch các hoạt động nhằm hướng đến chào mừng ngày thành lập Đoàn 26/3

Theo quan sát, buổi sinh hoạt diễn ra khá sôi nổi Các em có nhiều ý kiến đóng góp cho các hoạt động vui chơi trong ngày 26/3 Tuy nhiên, cũng có một số

em còn nói chuyện và làm việc riêng trong giờ sinh hoạt Mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh khá thân thiện

Trang 19

+ Tiến hành quan sát giờ ra chơi nhằm tìm hiểu các mối quan hệ bạn bè

Qua quan sát, giờ ra chơi của các em là 5-7 phút, thời gian không phải là nhiều, hơn nữa khuôn viên trường khá chật hẹp nên các em chủ yếu ngồi trong lớp, một số em rủ nhau đi ăn ở ngoài cổng trường Các em thường ngồi lại thành các nhóm khác nhau, mỗi nhóm đều có những câu chuyện xoay quanh các chủ đề như học tập, bạn bè, Cũng có một số em ngồi đơn lẻ, không tham gia cùng các bạn

+ Quan sát trong quá trình phát phiếu điều tra và làm bảng hỏi để xem xét thái độ quan tâm của học sinh với vấn đề nghiên cứu

Khi chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra cho các em học sinh, điều đầu tiên mà chúng tôi nhận thấy là các em tỏ ra tò mò với những câu hỏi ở trong bảng hỏi Một số em tìm đến chúng tôi để hỏi những câu hỏi chưa hiểu rõ Cũng có một

số em tỏ ra không hứng thú Tuy nhiên, qua quan sát phần lớn các em đều cố gắng trả lời bảng hỏi một cách đầy đủ và nghiêm túc

Trang 20

NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU

1.1Các khái niệm công cụ

1.1.1 Nhu cầu

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về nhu cầu Nhu cầu được hiểu một cách chung nhất là sự đòi hỏi tất yếu, cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển

Theo Leonchiev thì “Nhu cầu là một trạng thái của con người cần một cái gì

đó cho cơ thể nói riêng và con người nói chung để sống và hoạt động Nhu cầu luôn luôn có đối tượng Đối tượng của nhu cầu có thể là vật chất hoặc tinh thần chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu có vai trò định hướng đồng thời là động lực bên trong kích thích hoạt động của con người”

Trong cuốn từ điển Tâm lý, Nguyễn Khắc Viện định nghĩa: “Nhu cầu là điều kiện cần thiết để đảm bảo sự tồn tại và phát triển, được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức Có nhu cầu của con người, có nhu cầu chung của tập thể, khi hòa hợp khi mâu thuẫn, có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu, giả tạo Nhu cầu do trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi”

Theo Trần Hiệp trong tâm lý học xã hội cho rằng: “Nhu cầu là một trạng thái tâm lý xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có điều kiện nhất định để đảm bảo

sự tồn tại và sự phát triển của mình Trạng thái tâm lý đó kích thích con người hoạt động nhằm đạt được những điều mình mong muốn”

1.1.2 Công tác xã hội

“Công tác xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” [3]

(Nguồn: Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ - NASW, 1970)

"Nghề CTXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan

hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con

Trang 21

người và hệ thống xã hội, CTXH tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và CTXH là các nguyên tắc căn bản của nghề" [3]

(Nguồn: Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 /2000 tại Montréal, Canada (IFSW)

Công tác xã hội trong trường học được hiểu là: “Các dịch vụ công tác xã hội trường học được cung cấp trong môi trường của một cơ quan giáo dục bởi các nhân viên công tác xã hội trường học được chứng nhận hoặc được cấp phép Chuyên ngành CTXH này hướng tới sự giúp đỡ học sinh tạo nên những điều chỉnh phù hợp

và phối hợp cũng như tạo ảnh hưởng đối với những nỗ lực của nhà trường, gia đình

và cộng đồng để đạt tới mục tiêu này”[3]

(Nguồn:Những tiêu chuẩn của Hiệp hội NVCTXH quốc gia - Hoa Kỳ về các dịch vụ CTXH trường học, 2002)

1.1.3 Học sinh THPT

Trung học phổ thông là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện

nay, nó sau tiểu học, trung học cơ sở và trước cao đẳng hoặc đại học Trung học phổ thông kéo dài 3 năm (từ lớp 10 đến lớp 12) Để tốt nghiệp bậc học này, học sinh phải vượt qua kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông vào cuối năm học lớp 12

(trước đây thường gọi là thi tú tài)

Học sinh trung học phổ thông là những em học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 ở

các trường THPT, tuổi đi học chuẩn là từ 16 đến 18 ( tuy nhiên, có những em đi học sớm hơn và cũng có những em đi học muộn hơn)

(Nguồn: http://vi.wikipedia.org)

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái

Thuyết hệ thống CTXH bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalaffy Lý thuyết này dựa trên quan điểm sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Người có công đưa lí thuyết

hệ thống áp dụng vào thực tiễn CTXH phải kể đến công lao của Pincus va Minahan cùng các đồng sự khác Tiếp đến là Germain và Giterman Những nhà khoa học trên

Trang 22

đã góp phần phát triển và hoàn thiện thuyết Hệ thống trong thực hành CTXH trên toàn thế giới

Trong CTXH có hai loại thuyết hệ thống nổi bật được đề cập đến là thuyết hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng lý thuyết hệ thống sinh thái - một lý thuyết được vận dụng nhiều trong CTXH Đại diện của lý thuyết này là Hearn, Siporin, Germain & Gitterman Thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh vào sự tương tác của con người với môi trường sinh thái của mình Sự can thiệp tại bất cứ điểm nào trong hệ thống cũng sẽ ảnh hưởng hoặc tạo

ra sự thay đổi trong toàn bộ hệ thống Vì thế, NVthân chủH cần sáng tạo khi lập kế hoạch với thân chủ, tạo ra những ảnh hưởng cho những hệ thống liên quan, hướng

đến việc hỗ trợ một cách hiệu quả nhất

“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau

để hoạt đông thống nhất” Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống (Tiểu hệ thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ), các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi các ranh giới) đồng thời hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ thống lớn hơn

Bản thân mỗi cá nhân cũng là một hệ thống và hệ thống (cá nhân) đó bao gồm nhiều tiểu hệ thống như: hệ thống sinh lý, hệ thống nhận thức, hệ thống tình cảm, hành động và các hệ thống phản ứng… Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu các đặc điểm về sinh lý, nhận thức, tình cảm cũng như như tâm tư nguyện vọng của các cá nhân trong nhóm như một hệ thống Từ đó có thể đưa ra các phương pháp trợ giúp phù hợp với từng thân chủ

Hệ thống mà NVCTXH làm việc là những hệ thống rất đa dạng: gia đình, cộng đồng, hệ thống xã hội, môi trường văn hoá mà con người tồn tại Tuy nhiên hệ thống được phân thành 3 hình thức chính sau đây:

 Hệ thống phi chính thức: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp …

 Hệ thống chính thức: Nhóm cộng đồng, tổ chức đoàn thể, cơ quan…

 Hệ thống xã hội: các tổ chức xã hội, bệnh viện, trường học …

Trong lý thuyết hệ thống cần lưu ý đến một số khái niệm cơ bản, cũng là cơ chế hoạt động của hệ thống:

Trang 23

 Tương tác: Sự tác động qua lại giữa các thành phần tạo nên các nhân hay giữa các cá nhân và các thành phần khác trong hệ thống Tác động qua lại này có thể tiêu cực hoặc tích cực và ảnh hưởng đến an sinh của cá nhân Đây cũng là một trong những nhiệm vụ chính mà NVXH cần lưu ý khi làm việc với nhóm

 Nguyên liệu: là năng lượng, thông tin, truyền thông, sự hỗ trợ của các nguồn tài nguyên mà cá nhân nhận được từ môi trường

 Sản phẩm: là năng lượng, thông tin, truyền thông, sự hỗ trợ của các nhân dành cho môi trường [24]

Các hệ thống luôn có sự tác động lên các cá nhân Có thể đó là sự tác động tiêu cực hoặc tích cực Bên cạnh đó không phải tất cả mọi người đều có khả năng tiếp cận sự hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hệ thống tồn tại xung quanh Như vậy, mỗi cá nhân chịu sự tác động khác nhau từ các hệ thống mà họ tồn tại Đối với học sinh trong trường học cũng vậy, mỗi học sinh đều chịu tác động của nhiều hệ thống khác nhau

Thuyết hệ thống được sử dụng rộng rãi trong CTXH nói chung cũng như CTXH trong trường học nói riêng vì thuyết này giúp cho NVCTXH hiểu được mỗi cá nhân

là một hệ thống của các yếu tố tương tác với nhau Bên cạnh đó, để cá nhân có thể phát triển, cần có những tương tác với những hệ thống khác bên ngoài Các cá nhân thường xuyên có những nhu cầu luôn thay đổi để đạt được mục đích, mục tiêu và duy trì sự cân bằng, ổn định Vì vậy mỗi cá nhân cần huy động nguồn lực hỗ trợ từ

các hệ thống để đáp ứng nhu cầu

Nhân viên CTXH trong trường học cũng là một trong những hệ thống thường xuyên tương tác với học sinh nhằm tìm hiểu những khó khăn mà học sinh đang gặp phải để đưa ra các cách thức trợ giúp phù hợp, bên cạnh đó hệ thống nhà còn đóng vai trò kết nối các hệ thống dịch vụ cung cấp cho thân chủ khi có nhu cầu

Tóm lại, nghiên cứu sử dụng thuyết hệ thống để xem xét mối tương tác giữa thân chủ với các cá nhân các cũng như các hệ thống nguồn lực xung quanh thân chủ Từ đó có những định hướng cho việc can thiệp

Trang 24

1.2.2 Lý thuyết Vai trò

Mỗi xã hội có cơ cấu phức tạp bao gồm các vị trí, vai trò xã hội khác nhau

Lý thuyết về vị trí – vai trò xã hội cho rằng mỗi một cá nhân có một vị trí xã hội là

vị trí tương đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội Nó được xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm và những quyền hạn kèm theo Vị thế chính “ là bất kỳ

vị trí ổn định nào trong một hệ thống xã hội với những kỳ vọng quyền hạn và nghĩa

vụ đặc thù” Các quyền và nghĩa vụ này thường tương ứng với nhau Phạm vi quyền

và nghĩa vụ hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm của các xã hội, của các nền văn hoá thậm chí của các nhóm xã hội nhỏ Nhưng khi xem xét vị trí với những quyền và nghĩa vụ kèm theo, tức là xem xét vị thế xã hội của cá nhân, chúng ta sẽ thấy sự khác biệt trong thứ bậc xã hội và thay đổi theo từng xã hội, từng khu vực

Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau, do đó cũng có nhiều vị thế khác nhau Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là: vị thế đơn lẻ, vị thế tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn - được gán cho, vị thế đạt được, một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính đạt được

Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Nó chính là mặt động của vị thế xã hội, vì luôn biến đổi trong các xã hội khác nhau, qua các nhóm xã hội khác nhau Tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi Mô hình hành vi này chính là vai trò tương ứng của

vị thế xã hội Các nhà xã hội học cho rằng: “ hành vi con người thay đổi khác nhau tuỳ theo bối cảnh và gắn liền với vị trí xã hội của người hành động”, rằng: “ hành vi phần nào được tạo ra bởi những mong đợi của người hành động và những người khác Như vậy, vai trò xã hội: “ là sự tập hợp hành vi, thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà xã hội mong đợi đối với một vị thế xã hội nhất định và sự thực hiện của cá nhân có vị thế đó”

Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Trong các xã hội khác nhau thì các chuẩn mực này cũng khác nhau Vì vậy, cùng một vị thế xã hội, nhưng trong

Trang 25

các xã hội khác nhau thì mô hình hành vi được xã hội trông đợi cũng khác nhau và các vai trò xã hội cũng khác nhau [1,tr 41,42]

Theo thuyết này, nhân viên CTXH trong trường học đóng nhiều vai trò khác nhau trong quá trình trợ giúp cho thân chủ Đó có thể là các vai trò khơi dậy tiềm năng, vai trò trung gian, vai trò điều phối, vai trò giáo dục, vai trò kết nối, vai trò phân tích, lượng giá, Mỗi vai trò đều được ứng dụng linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể khác nhau

1.2.3 Lý thuyết Nhu cầu

Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mỹ, được thế giới

biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic

psychology) bởi hệ thống lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của

con người Ngay từ sau khi ra đời, lý thuyết này có tầm ảnh hưởng khá rộng rãi và được ứng dụng ở rất nhiều lĩnh vực khoa học

Nhu cầu ở mức thấp:

- Nhu cầu sinh lý: Là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người (như không khí, nước uống, thức ăn, đồ mặc, nhà ở, tình dục…)

Trang 26

Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết

để có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được mọi người

- Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và

sự đe dọa mất việc, mất tài sản…

Nhu cầu ở mức cao

- Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): Do con người là thành viên của

xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển

- Nhu cầu được tôn trọng: Theo Maslow, khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn như: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin

- Nhu cầu tự hoàn thiện: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt tới Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành được một mục tiêu nào đó Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn Con người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng

Qua bậc thang nhu cầu của Maslow giúp nhân viên CTXH học đường cùng với học sinh phân tích, đánh giá để nhận ra những nhu cầu nào đã đạt được và nhu cầu đang bị thiếu hụt, trẻ đang cần có nhu cầu nào trong bậc thang đó, cũng như việc các em đang gặp những khó khăn, cản trở nào trong việc thoả mãn nhu cầu của mình Trên cơ sở đó giúp các em xác định được vấn đề hiện tại của mình để làm sáng tỏ nó

Nhân viên CTXH học đường phải luôn nhận thức rằng, các em học sinh cần được hỗ trợ để phát triển và đạt được những nhu cầu cao hơn Không chỉ dừng ở mức thoả mãn nhu cầu về vật chất mà còn phải tập trung giúp đỡ trẻ có những nhu cầu cao hơn về tinh thần để sống có ích và lành mạnh, cũng như thành công trong học tập và tương lai Nhân viên CTXH học đường cần cung cấp thêm thông tin,

Trang 27

kiến thức, kỹ năng,…và liên kết các nguồn lực cũng như tư vấn cho phụ huynh và nhà trường trong việc đáp ứng nhu cầu của các em vì một số nhu cầu các em không thể tự mình đạt được

Nhân viên CTXH học đường lắng nghe học sinh để hiểu các nhu cầu của các

em, giúp các em tìm thấy thế mạnh, tính cách cá nhân, khả năng của bản thân phát huy được tiềm năng nhằm sử dụng chúng phục vụ cho việc thoả mãn nhu cầu và vượt lên bậc thang nhu cầu.Bên cạnh đó, nhân viên CTXH học đường cần giúp kết hợp các nguồn lực để giúp học sinh phát triển cá nhân và học hỏi, hoàn thiện bản thân mình bao gồm những cơ hội giúp các em có điều kiện để nâng cao năng lực cá nhân, năng lực tinh thần, trí tuệ biến khả năng của mình thành hiện thực, bộc lộ ở phát triển tối đa tiềm năng của bản thân [20,21]

1.2.4 Thuyết Gắn bó của Bowlby

Thuyết gắn bó của Bowlby được phát triển tại Anh từ đầu thập kỉ 40 đến những năm 70, ông nhấn mạnh vào vai trò của mối quan hệ mẹ con, tác động quan

hệ cha mẹ hay những người chăm sóc trẻ đến việc phát triển khả năng, phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách của trẻ cũng như các mối quan hệ, dùng để giải thích những vấn đề liên quan đến rối nhiễu, các bệnh lý ở trẻ em và người lớn do khó khăn trong mối quan hệ mẹ con hay những người chăm sóc trẻ gây nên

Bowlby đưa ra 4 loại gắn bó với 4 dạng quan hệ gắn bó sau: Quan hệ gắn bó

an toàn, quan hệ gắn bó an toàn và lẫn lộn, quan hệ gắn bó không an toàn và lãng tránh, quan hệ gắn bó không an toàn và mất phương hướng

Theo quan điểm này sự phát triển của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào người mà trẻ gắn bó, cách trẻ được đón nhận từ lúc chào đời cho đến các giai đoạn tiếp sau, sự đáp ứng nhu cầu vật chất, tình cảm của người chăm sóc đối với trẻ cả về số lượng lẫn chất lượng

Lý thuyết này giúp giải thích được những vấn đề xảy ra, tồn tại đối với trẻ nếu các em không xây dựng được mối quan hệ gắn bó hay mối quan hệ gắn bó hạn chế

và ông cũng khẳng định sự ngắt quãng hay thiếu hụt trong quá trình tương tác, gắn

bó giữa cha mẹ và con cái hay những người chăm sóc trẻ là nguyên nhân gây ra những khó khăn cho sự phát triển nhân cách của trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành

Trang 28

Áp dụng quan điểm này vào nghiên cứu để nhận biết và xác định, giải thích những khó khăn của học học sinh ở thời điểm hiện tại và mối liên quan giữa vấn đề của trẻ với các mối quan hệ của trẻ trong quá khứ Nếu các giai đoạn trước các em không được đáp ứng tốt nhu cầu tình cảm và không tìm được sự gắn bó an toàn thì vào tuổi THPT các em khó khăn tìm được mối quan hệ tốt trong nhóm bạn và các thầy cô giáo, các em trở nên thụ động và tự ti trong các mối quan hệ Nhân viên CTXH học đường cần nhận diện những rào cản ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ Xác định những hành vi biểu hiện, thái độ cư xử nào của phụ huynh, giáo viên tạo nên sự gắn bó không tốt đó Nhân viên CTXH học đường tham vấn cho gia đình và các giáo viên trong cách chăm sóc và gần gũi hơn với học sinh, đáp ứng nhu cầu của các em cả về vật chất lẫn tình cảm nhằm tạo cho các em học sinh đạt được sự cân bằng trong phát triển nhân cách, trí tuệ và tình cảm, cảm xúc

Nhân viên CTXH học đường giúp nối kết các mối quan hệ thiếu gắn bó trong mối quan hệ giữa các em học sinh và người chăm sóc Giúp cha mẹ, giáo viên biết cách nhận ra và đáp ứng nhu cầu của các em một cách phù hợp Bên cạnh đó, nhân viên CTXH học đường hiểu được tầm quan trọng và vai trò các mối quan hệ trong cuộc sống của học sinh để phân tích các dạng quan hệ gắn bó với những khó khăn của các em trong tìm kiếm, xây dựng mối quan hệ với bạn bè cùng lớp, nhóm bạn ngoài lớp học, phụ huynh và thầy cô giáo Cũng như ảnh hưởng của các mối quan

hệ gắn bó tiêu cực lên cuộc sống, tính cách hiện tại của học sinh Giúp nhân viên CTXH học đường có những cách hỗ trợ phù hợp trong việc sửa đổi, phục hồi các mối quan hệ của người chăm sóc với các em hay tìm kiếm và xây dựng các dạng quan hệ gắn bó mới cho học sinh Nhân viên CTXH học đường nhận biết tầm quan trọng và không thể thiếu của người chăm sóc đối với học sinh trong suốt cả cuộc đời từ phát triển thể chất đến tình cảm và nhân cách để cung cấp thông tin, sự hiểu biết đó cho học sinh giúp họ chủ động trong các mối quan hệ gắn bó Đối với học sinh THPT mối quan hệ với nhóm bạn là chủ đạo và chi phối rất nhiều cuộc sống của các em vì thế nhân viên CTXH học đường đóng vai trò là người hỗ trợ, tạo thuận lợi cho các mối quan hệ đó tốt hơn bằng các hành động can thiệp [7]

Trang 29

1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT

Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi vị thành niên giai đoạn sau (15-18 tuổi) Đây là giai đoạn lứa tuổi có nhiều thay đổi về tâm lý cũng như sinh lý

Về mặt sinh lý: Tuổi vị thành niên giai đoạn sau là lứa tuổi đạt được sự

trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển của cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn Lứa tuổi này nhìn chung các em đã trải qua thời kỳ phát dục và có một thân hình cân đối, cơ thể khỏe-đẹp

Về mặt cảm xúc, tình cảm: Ở giai đoạn này, các đáp ứng về mặt cảm xúc

được mở rộng một cách rõ rệt, cảm xúc được phân hóa, khả năng tự kiểm soát và tự điều chỉnh xúc cảm ở các em được hình thành Các em bắt đầu có những rung động trong việc thể hiện tình cảm trong gia đình, bạn bè, trong các mối quan hệ hàng xóm, nhà trường

Ở giai đoạn này, gia đình có ảnh hưởng sâu sắc tới việc phấn đấu, phát triển

và hình thành nhân cách ở trẻ

Quan hệ bạn bè trong giai đoạn này giữ vai trò quan trọng trong đời sống tình cảm của các em Tình bạn bền vững sâu sắc và ổn định hơn so với lứa tuổi vị thành niên giai đoạn đầu Bạn bè đối với các em trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc, là chỗ để các em chia sẻ, giải bài những tâm sự thầm kín Lời khuyên của bạn nhiều khi có ý nghĩa quyết định đến việc giải quyết các vấn đề quan trọng của các em

Đăc biệt ở lứa tuổi này, tình bạn khác giới, tình yêu nam nữ xuất hiện Tình cảm lúc này thường mang tính lãng mạn, thơ mộng

Về đặc điểm phát triển xã hội: Đây là thời kỳ hình thành một người công dân

thực sự, là thời kỳ có những hoạt động tích cực gia nhập vào cuộc sống xã hội Ở lứa tuổi này, sự tự ý thức của mỗi cá nhân mang một đặc trưng thay đổi mới về chất, được gắn với nhu cầu nhận thức và đánh giá các phẩm chất tâm lý – đạo đức trong nhân cách của mình trên bình diện cả mục đích và nguyện vọng cụ thể trong cuộc sống Lứa tuổi này có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích sống và hoài bão của mình Chính điều này khiến các

em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất, nhân cách và năng lực riêng

Trang 30

Giai đoạn lứa tuổi này là giai đoạn quyết định sự hình thành của thế giới quan – hệ thống quan điểm về xã hội, về tự nhiên, về các nguyên tắc và quy tắc xử

sự Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong giai đoạn lứa tuổi này

Sự phát triển ý thức nghề nghiệp và sự chuẩn bị cho cuộc sống trong tương lai

Việc lựa chọn nghề nghiệp là một nhiệm vụ quan trong của lứa tuổi này Càng gần cuối cấp các em càng phải đưa ra những định hướng nghề nghiệp cho tương lai Hơn ai hết, bản thân các em ý thức được việc cuộc sống tương lai của mình phụ thuộc vào việc mình lựa chọn nghề nghiệp có đúng đắn hay không Tuy nhiên vấn đề lựa chọn nghề nghiệp còn gây cho các em nhiều lúng túng, chưa đưa

ra được những lựa chọn phù hợp với bản thân mà bị chi phối nhiều ở quan điểm lựa chọn nghề của bạn bè, thầy cô và gia đình Chính vì vậy, đây cũng là một vấn đề khiến các em thường rơi vào tình trạng khủng hoảng trước khi ra trường [5,tr17-21]

Rõ ràng, với những đặc điểm tâm lý như vậy, lứa tuổi học sinh THPT thường rất dễ gặp phải những khó khăn tâm lý nảy sinh trong cuộc sống Sự định hướng giúp đỡ của gia đình, nhà trường xã hội, các dịch vụ công tác xã hội trong trường học sẽ giúp các em ổn định tâm lý để có thể phát triển nhân cách toàn diện hơn Chính vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các vấn đề mà học sinh THPT đang gặp phải cũng như tìm hiểu nhu cầu cần sự trợ giúp của CTXH là rất cần thiết

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở hai trường THPT Trần Phú và trường THPT dân lập Văn Hiến thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Trường THPT dân lập Văn Hiến, địa chỉ tại số 9, Hai Bà Trưng, Hà Nội Địa điểm học này là trường THPT dân lập Văn Hiến thuê lại của trường dạy nghề số 4

Hà Nội Toàn trường có khoảng 450 em học sinh Tỷ lệ đỗ Đại học mỗi năm đạt khoảng 40% Khuôn viên của trường khá chật hẹp, không đủ sân chơi cho các em học sinh Hầu hết các hoạt động ngoại khoa hay các dịp lễ, mitting kỷ niệm của trường đều phải thuê địa điểm khác Do vậy, các hoạt động ngoại khóa ít được tổ chức

Ngôi trường thứ 2 được chọn làm địa bàn nghiên cứu là Trường THPT Trần Phú nằm tại địa chỉ số 8, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội Đây là ngôi trường được xây dựng theo lối kiến trúc kiểu Pháp, ban đầu có tên là Albert Sarraut Đến năm

Trang 31

1960, trường được chia làm 2: ca sáng là trường THPT Hoàn kiếm, ca chiều là THPT Trần Phú Hai trường này đã hợp lại và lấy tên là THPT Trần Phú vào năm

1995 Năm 2009, trường lấy tên THPT Trần Phú - Hoàn Kiếm Trải qua thời gian xây dựng và trưởng thành, trường đã không ngừng lớn mạnh của về quy mô và chất lượng đào tạo, nhiều thế hệ học sinh, giáo viên của nhà trường đã có đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có Cố Tổng bí thư Trường Chinh, Hoàng thân Lào Souphanouvong, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, giáo

sư Hồ Đắc Di

Đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường đoàn kết, tâm huyết, yêu nghề và có năng lực chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm Hiện nay nhà trường có đầy đủ cán bộ, giáo viên, nhân viên đạt trình độ chuẩn đào tạo với nhiều cán bộ giáo viên có trình độ Thạc sỹ, giáo viên dạy giỏi cấp thành phố giáo viên giỏi cấp cơ sở có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng Đội ngũ cán bộ giáo viên luôn coi trọng thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, gắn liền với cuộc vận động mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo

Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao với số lượng học sinh giỏi ngày cào tăng, tỷ lệ đỗ vào các trường ĐH, CĐ đạt trên 75% Nhà trường đã nhận được nhiều Huân chương lao động do Nhà nước trao tặng: Huân chương Lao động hạng

Ba 1965, Huân chương Lao động hạng Ba 1990, Huân chương Lao động Hạng Nhì

2000 Liên tục từ năm học 2008-2009 đến nay, nhà trường là đơn vị điển hình về phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, và “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT” trong đổi mới công tác quản lý và đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục Hiện nay nhà trường là cơ sở giáo dục tiên tiến xuất sắc, nằm trong tốp 100 trường THPT có chất lượng đào tạo tốt nhất ở Việt Nam

1.5 Vai trò của nhân viên CTXH trong trường học

Như chúng ta đã biết, CTXH trong trường học đã xuất hiện từ lâu và nó đã được đưa vào hoạt động ở rất nhiều trường học trên thế giới và cũng đã chứng minh được tính hiệu quả của nó trong quá trình hoạt động tại các trường học Vậy vì sao lại cần có nhân viên CTXH trong trường học? Về mặt khách quan, qua tìm hiểu người nghiên cứu nhận thấy rằng các giáo viên trong trường học thường nhìn nhận

Trang 32

công việc chính của học là dạy học thông qua việc truyền đạt kiến thức trong các giờ học, những công việc khác liên quan đến trợ giúp, chia sẻ với các em học sinh không được nhìn nhận là một công việc chính thống Hơn nữa, qua phân tích ở chương 2 chúng ta cũng có thể thấy rằng các em học sinh THPT gặp rất nhiều những vấn đề khó khăn khác nhau do nhiều nhân tố tạo thành, đó có thể là những khó khăn trong học tập, hướng nghiệp, trong các mối quan hệ xã hội hay từ chính bản thân các em Về mặt chủ quan, nhân viên CTXH trường học là các nhân viên CTXH được đào tạo theo đúng chuyên môn đặc biệt để làm việc với học sinh trong các trường học Nhân viên CTXH sẽ là người trợ giúp trực tiếp khi các em gặp phải vấn đề khó khăn Họ sẽ quan tâm, tìm kiếm đến những khó khăn của học sinh mà giáo viên thường hay bỏ qua và đó chính trách nhiệm chính của một nhân viên CTXH trong trường học

Đối tượng phục vụ hay thân chủ của nhân viên CTXH trong trường học là học sinh, phụ huynh học sinh, nhà trường, giáo viên

Đối với học sinh: Nhân viên CTXH học đường giúp học sinh giải quyết những khó khăn trong phát triển nhân cách, năng lực và các kỹ năng học tập, định hướng nghề nghiệp, lối sống lành mạnh, các mối quan hệ liên nhân cách và những rối loạn cảm xúc nhân cách Tìm hiểu, đánh giá đời sống tâm lý cá nhân, tìm hiểu khả năng, năng lực, thiên hướng, tính cách, các quan hệ xã hội,… giúp các em học sinh khám phá ra những năng lực vốn có của mình, đồng thời phát hiện sớm những biểu hiện bất thường về tâm lý để có biện pháp can thiệp sớm, phòng ngừa những hậu quả xấu xảy ra Hỗ trợ và nâng cao các kỹ năng cho học sinh như: kỹ năng giao tiếp ứng xử, khả năng giải quyết vấn đề, hình thành thái độ tích cực, hiểu biết giá trị cuộc sống, khả năng kiểm soát bản thân, kỹ năng học tập thành công, kỹ năng làm việc nhóm,…nhằm trang bị cho các em vốn kiến thức và kỹ năng để giúp các em có khả năng đối mặt, giải quyết vấn đề khó khăn để đạt thành tích cao trong học tập và thành công trong cuộc sống Bên cạnh đó, hoạt động tư vấn hướng nghiệp giúp các em học sinh hiểu biết bản thân mình và lựa chọn, chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích, điều kiện kinh tế gia đình và nhu cầu sử dụng lao động của xã hội

Trang 33

Đối với phụ huynh: Nhân viên CTXH học đường hỗ trợ phụ huynh trong việc quan tâm, chăm sóc giáo dục con cái, phát triển các mối quan hệ với nhà trường một cách tích cực, phát hiện những khó khăn của học sinh và phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục con em mình Tư vấn giúp các bậc phụ huynh nhận biết tiềm năng của con em họ, có cách giáo dục, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các em phát huy tiềm năng, năng lực vốn có của mình

Đối với giáo viên, nhà trường: Nhân viên CTXH học đường hỗ trợ giáo viên và những thành viên khác trong nhà trường trong việc giao tiếp và tiếp cận với học sinh kịp thời phát hiện những nhu cầu và vấn đề cần đến sự can thiệp của nhân viên CTXH học đường Hỗ trợ giáo viên các kỹ năng quản lý lớp học và cách thức hướng dẫn chương trình giảng dạy.Hỗ trợ nhà trường trong việc hoạch định các chiến lược giáo dục, cách thức tổ chức hoạt động nhằm phát triển và ngăn ngừa các hành vi và các vấn đề có khả năng xảy ra trong học đường.Phối hợp các tổ chức liên quan trong việc hỗ trợ và can thiệp trong trường hợp học sinh có những vấn đề liên quan đến những hoạt động bên ngoài như các vấn đề pháp luật, các vấn đề bệnh tâm lý Lưu giữ hồ sơ các học sinh có những vấn đề tâm lý để có thể sử dụng trong những trường hợp can thiệp cần thiết sau đó Đội ngũ nhân viên CTXH là cầu nối quan trọng giữa thầy cô giáo và học sinh, trình bày các tâm tư nguyện vọng, những chia sẻ của học sinh với giáo viên, nhà trường và nắm bắt nhu cầu của học sinh để gởi đến ban giám hiệu, giáo viên; là người đại diện cho tiếng nói và đứng về phía quyền lợi của các em [3,tr25,27]

Cụ thể là vai trò của nhân viên CTXH học đường được thể hiện:

 Lập kế hoạch: Nhân viên CTXH học đường thiết lập chương trình hướng dẫn và phát triển các hoạt động và sự giúp đỡ để thực hiện và đánh giá chương trình (lập kế hoạch, xác định mục đích, mục tiêu, các hoạt động lĩnh vực can thiệp và lượng giá kết quả đạt được theo định kì) Nhân viên CTXH học đường phải có sự liên kết với các giáo viên và ban giám hiệu trong việc đưa ra các quyết định về chương trình trợ giúp cho học sinh

Trang 34

 Hướng dẫn: Nhân viên CTXH học đường cung cấp các dịch vụ và hướng dẫn riêng lẻ với từng cá nhân hay nhóm nhằm đáp ứng nhu cầu của học sinh để ngăn ngừa, can thiệp giải quyết các vấn đề và giúp các em phát triển tốt hơn

 Tham vấn: Tham vấn là một trong những vai trò quan trong của nhân viên CTXH học đường vượt qua các khó khăn về tâm lý và trong việc học tập, giúp các

em nhận biết vấn đề, cung cấp các kỹ năng cần thiết giúp các em lập kế hoạch giải quyết vấn đề của mình Thông qua tham vấn cá nhân, nhóm để phát triển, ngăn ngừa và chữa trị những vấn đề của học sinh

 Điều phối:Điều phối là tiến trình lãnh đạo mà trong đó nhân viên CTXH học đường giúp tổ chức quản lí và đánh giá chương trình trợ giúp Nhân viên CTXH học đường giúp đỡ phụ huynh những điều cần đạt được để phục vụ cho con em của

họ trong việc giúp quyết định và tiến trình tiếp theo và phục vụ như là mối liên kết giữa nhà trường và các cơ sở dịch vụ khác ngoài cộng đồng để họ có thể hợp tác với những nỗ lực giúp đỡ học sinh Bên cạnh đó, nhân viên CTXH học đường giúp điều phối tất cả các dịch vụ hướng dẫn cho học sinh, giúp đỡ việc điều phối, thực hiện những dịch vụ cho học sinh trong trường học

 Đánh giá học sinh: Nhân viên CTXH học đường phải có năng lực trong việc giải thích một cách chính xác kết quả kiểm tra và dữ liệu, thông tin về học sinh thông qua đó hỗ trợ giáo viên giáo dục các em bằng cách sử dụng những biện pháp, chiến lược cụ thể

 Rèn luyện cá nhân và sự phát triển nghề nghiệp chuyên môn: Nhân viên CTXH học đường tuân thủ mọi nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp và hoạt động nghề nghiệp theo pháp luật và các chính sách, qui định của trường học Nhân viên CTXH học đường phải không ngừng rèn luyện, phát huy các phẩm chất của cá nhân và nâng cao trình độ chuyên môn và các kỹ năng cần thiết nhằm đem lại sự phục vụ và lợi ích tốt nhất cho học sinh [3, tr14]

Trang 35

Chương 2 CÁC VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ VÀ THPTDL VĂN HIẾN

2.1 Thực trạng các vấn đề khó khăn

Để tìm hiểu những khó mà học sinh hai trường thường gặp phải trong học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày của các em chúng tôi đã đưa ra câu hỏi nhằm tìm hiểu về những khó khăn của các em Kết quả thu được cho thấy, những vấn đề khó khăn mà học sinh thường gặp bao gồm ba nhóm khó khăn chính:

1- Khó khăn từ phía bản thân học sinh

2- Khó khăn trong học tập, hướng nghiệp

3- Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội

Trong phần này, người nghiên cứu tập trung nghiên cứu mức độ, tần suất gặp các vấn đề khó khăn của học sinh Trên mỗi nhóm khó khăn, sẽ tìm hiểu những khó khăn cụ thể nào mà hoc sinh hay gặp nhất Bên cạnh đó, người nghiên cứu cũng phân tích, so sánh mức độ gặp khó khăn của học sinh hai trường THPT Trần Phú và THPT dân lập Văn Hiến cũng như sự khác biệt dưới góc độ giới tính và độ tuổi Trước khi đi vào phân tích cụ thể từng nhóm khó khăn, kết quả nghiên cứu ở Bảng

1 sẽ cho chúng ta thấy các nhóm khó khăn mà học sinh hai trường thường gặp phải:

1 Nhóm khó khăn từ phía bản thân học sinh 1,55

2 Nhóm khó khăn trong học tập, hướng nghiệp 2,69

3 Nhóm khó khăn trong các mối quan hệ xã hội 2,21

Bảng 1: Nhóm khó khăn mà học sinh trường gặp phải

Nhìn vào bảng 1 chúng ta thấy nhóm khó khăn học tập, hướng nghiệp là nhóm khó khăn học sinh thường gặp nhất (ĐTB:2,69 ), nhóm khó khăn đứng ở vị trí thứ hai là nhóm khó khăn trong các mối quan hệ xã hội, và sau cùng là nhóm khó khăn từ phía bản thân học sinh Có thể dễ dàng nhận thấy, các em học sinh gặp khó khăn nhiều nhất từ phía học tập, hướng nghiệp bởi vì hoạt động chủ đạo của học sinh THPT là học tập và lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai Các em học sinh dành

Trang 36

nhiều thời gian và công sức cho hoạt động học tập, chính vì thế hai hoạt động này

sẽ chi phối những hoạt động khác cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này

Trường THPT Trần Phú và trường THPT dân lập Văn Hiến nằm đối diện nhau trên đường Hai Bà Trưng, tuy nhiên một trường là trường quốc lập và một trường là dân lập Vậy có sự khác biệt về các khó khăn mà học sinh gặp phải tại 2 trường hay không?

ĐTB Trường

THPTDL Văn Hiến

Trường THPT Trần Phú

1 Nhóm khó khăn từ bản thân học sinh 2,23 2,19

Bảng 2: So sánh các khó khăn thường gặp của học sinh hai trường

Nhìn vào bảng 2 ta có thể thấy không có nhiều sự khác biệt về các khó khăn

mà học sinh thường gặp ở cả hai trường Nổi bật lên ở cả hai trường vẫn là nhóm khó khăn trong học tập, hướng nghiệp Có lẽ đây vẫn luôn là những băn khoăn, trăn trở của bất cứ một em học sinh nào cho dù là các em học sinh quốc lập hay học sinh dân lập Có thể nhận thấy khó khăn này ở học sinh THPT dân lập Văn Hiến cao hơn hơn học sinh THPT Trần Phú (ĐTB: 2,78 so với 2,58) Điều này có lẽ do các em học sinh bên trường THPT Trần Phú được học tập ở một môi trường tốt hơn, các em đầu tư nhiều thời gian cho học tập hơn và do đó việc lĩnh hội kiến thức của các em

sẽ gặp ít khó khăn hơn học sinh trường Văn Hiến Bên cạnh đó, các em trường Văn Hiến cũng gặp nhiều khó khăn hơn trong từ phía bản thân so với các em trường Trần Phú

Ngoài môi trường học tập, hoàn cảnh gia đình sự tương quan giữa khối học,

Trang 37

Học sinh lớp 10 là những học sinh mới bước vào môi trường học tập mới, với nhiều phương pháp kiến thức mới, chắc hẳn rằng các em cũng gặp không ít khó khăn, bỡ ngỡ Các em học sinh lớp 12 đã quen dần với môi trường học tập, tuy nhiên học sinh lớp 12 lại phải đối mặt với nhiều áp lực thi cử và định hướng nghề nghiệp cho tương lai Vậy trên thực tế, học sinh lớp 10 và lớp 12 có những khó khăn khác biệt gì không?

STT Nhóm khó khăn

ĐTB Khối 10 Khối 12

1 Khó khăn từ phía bản thân học sinh 2,19 2,23

2 Khó khăn trong học tập, hướng nghiệp 2,65 2,74

3 Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội 1,88 1,89

Bảng 3: So sánh khó khăn thường gặp ở học sinh khối 10 và khối 12

Nhìn vào bảng 3 ta thấy, không có nhiều sự khác biệt về các nhóm khó khăn

ở học sinh lớp 10 và lớp 12 Nổi bật lên ở cả hai khối lớp vẫn là khó khăn trong học tập và hướng nghiệp Tuy nhiên, căn cứ vào ĐTB có thể thấy học sinh lớp 12 gặp nhiều khó khăn hơn chút so với học sinh lớp 10 trong học tập, hướng nghiệp Điều này cũng dễ lý giải bởi các em học sinh lớp 12 đứng trước áp lực học tập và thi thử nhiều hơn các em học sinh lớp 10 Các em luôn phải chịu áp lực từ chính bản thân,

từ thầy cô và gia đình trong việc lựa chọn, định hướng nghề nghiệp cho tương lai

Sự khác biệt về giới tính cũng ảnh hưởng đến khó khăn mà các em gặp phải Học sinh nam và nữ thường gặp phải những khó khăn khác nhau

STT Nhóm khó khăn

ĐTB Nam Nữ

1 Khó khăn từ phía bản thân học sinh 2,12 2,27

2 Khó khăn trong học tập, hướng nghiệp 2,58 2,76

3 Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội 1,81 2,05

Bảng 4: So sánh các nhóm khó khăn giữa học sinh nam và nữ

Trang 38

Xét về thứ bậc các khó khăn mà học sinh nam và học sinh nữ chúng ta thấy không có sự khác biệt Tuy nhiên nhìn vào ĐTB giữa nam và nữ, có thể thấy học sinh nữ có ĐTB về các khó khăn cao hơn học sinh nam Khi xét cụ thể từng biểu hiện của các nhóm khó khăn giữa học sinh nam và học sinh nữ, người nghiên cứu nhận thấy có sự tương đồng giữa các khó khăn của nam và nữ Cụ thể như, nhóm khó khăn trong học tập, hướng nghiệp thì nổi bật lên ở cả học sinh nam và nữ vẫn là khó khăn trong việc tiếp thu những kiến thức đã học và khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân Nhóm khó khăn trong các mối quan hệ xã hội nổi bật lên vẫn là mâu thuẫn trong gia đình và trong quan hệ bạn bè, tình bạn khác giới

Để tìm hiểu kỹ hơn về các biểu hiện cụ thể trong từng nhóm khó khăn, người viết xin được phân tích lần lượt các khó khăn mà học sinh thường gặp

2.1.1 Khó khăn trong học tập, hướng nghiệp

Học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh lứa tuổi THPT Theo nghiên cứu cũng như quan sát của chúng tôi, phần lớn thời gian của các em đều giành cho việc học tập Ban ngày là học chính khóa, hết giờ học các em lại tham gia các lớp học thêm Rõ ràng áp lực học hành và thi cử đối với các em học sinh THPT là rất lớn Đặc biệt, đối với các em học sinh lớp 12, không chỉ có áp lực học hành, thi cử, mà việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai cũng là một vấn đề khiến các em luôn cảm thấy băn khoăn Với cường độ học tập như vậy thì các em có gặp phải những khó khăn trở ngại nào không? Để tìm hiểu vấn đề này, người nghiên đã đưa ra câu hỏi: Xin bạn hãy cho biết những khó khăn nào mà bạn thường gặp phải trong học tập? Thang đo bao gồm các mức đô thường xuyên, thỉnh thoảng, hiếm khi hoặc chưa bao giờ Kết quả thu được như sau:

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Hiếm khi

Chưa bao giờ

1 Khó tập trung nghe giảng 10,4 50,3 28,1 11,2

3 Khó khăn trong việc ghi nhớ,

vận dụng kiến thức đã học

19,7 47,5 24,3 8,5

Bảng 5 Nhóm khó khăn trong học tập

Trang 39

Số liệu trong bảng 5 cho thấy, khó khăn lớn nhất trong học tập mà các em học sinh hay gặp phải đó là khó khăn trong việc ghi nhớ, vận dụng kiến thức đã học Theo thống kê cho thấy, có 67,2% học sinh thường xuyên hoặc thỉnh thoảng gặp

phải khó khăn này

Qua nghiên cứu, các em học sinh dành nhiều thời gian cho việc học tập, tuy nhiên lại không số thời gian còn lại không đủ để ôn tập và trau dồi lại kiến thức đã học Khối lượng kiến thức mà thầy cô cung cấp ở trên lớp cũng như ở các buổi học thêm ngoài giờ tỷ lệ nghịch với thời gian ôn luyện và tự học ở nhà của các em

“Ngày nào em cũng phải đi học trên lớp, rồi đi học thêm nữa Đến khi về nhà em cảm thấy rất mệt Bài tập về nhà lại nhiều, nhiều lúc em chỉ làm đối phó cho xong

để còn đi ngủ.” (PVS N.T.T học sinh lớp 12)

Bên cạnh đó, do đặc điểm tâm lý của học sinh còn e ngại với thầy cô nên các

em không dám hỏi lại thầy cô ở những bài học mà các em cảm thấy chưa hiểu Điều

đó dẫn đến việc các em nghe giảng một các thụ động, không hiểu được bản chất của

vấn đề nên khó có thể vận dụng những kiến thức đã học “Nhiều lúc đi học mà em chẳng hiểu thầy cô giảng cái gì, xong về nhà làm bài tập về nhà không làm được

Em nhiều lần cũng định là sẽ hỏi lại thầy cô hay bạn bè trong buổi học ngày mai nhưng thấy ngại lắm Nhiều bạn cô gọi lên làm bài tập về nhà vẫn làm tốt nên em

sợ cô và các bạn cười” (PVST.V.T học sinh lớp 12)

Bên cạnh khó khăn trong việc ghi nhớ và vận dụng kiến thức đã học thì khó khăn trong việc khó tiếp thu bài và khó tập trung nghe giảng cũng là một khó khăn lớn của các em học sinh Có 62,3 học sinh thường xuyên hoặc thỉnh thoảng gặp khó khăn này

Qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này, người nghiên cứu nhận thấy:

Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi, ngoài học tập các em học sinh bị lôi cuốn bởi nhiều thú vui, trò chơi thú vị, các mối quan hệ bạn bè, tình bạn khác giới dẫn đến việc sao nhãng học tập làm giảm khả năng tập trung chú ý học tập, nghe giảng trên lớp của các em Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy của thầy cô còn nặng về lý thuyết, đọc chép trên lớp nên chưa lôi cuốn các em vào các bài học Điều này dẫn

Trang 40

đến tâm lý nhàm chán, không có hứng thú tham gia vào việc nghe giảng cũng như

phát biểu xây dựng bài “Em thấy học mấy môn Toán, Lý, Hóa thì khó mà thầy cô giảng nhiều lúc em không hiểu, nên đâm ra chán học, cũng chả theo dõi thầy nói gì nữa, còn mấy môn Văn, Sử, Địa với cả các môn khác thì thầy cô toàn đọc chép, nghe chán nên ngồi trong lớp học các bạn cũng hay nói chuyện riêng, hoặc làm việc riêng ” (TLNhọc sinh lớp 11)

Ngoài những khó khăn nêu trên, trong quá trình phỏng vấn sâu cũng như

thảo luận nhóm, các em cũng bày tỏ thêm về các khó khăn như: “E cảm thấy mình kém cỏi vì sức học kém hơn các bạn”; “Bài học quá nhiều, khó, thầy cô giảng bài khó hiểu dẫn đến chán học”; “Bài học thì nhiều, thời gian thì ít Em còn chưa kịp hiểu bài cũ thì đã phải học sang bài mới rồi” ;“Em phải chịu nhiều áp lực học tập

từ phía gia đình, thầy cô và bạn bè nên luôn cảm thấy căng thẳng và mệt mỏi trong việc học chứ không tìm thấy hứng thú trong việc học”; “Em là cán bộ lớp nên thầy

cô và bố mẹ kỳ vọng vào em rất nhiều Nhiều lúc em thấy mệt mỏi lắm, cứ lo sợ mình không thi đậu Đại học thì không biết sẽ thế nào nữa” (TLN học sinh lớp 12)

Cùng với khó khăn trong học tập, ở lứa tuổi THPT các em bắt đầu có những băn khoăn, trăn trở về mục đích cuộc sống cũng như nghề nghiệp trong tương lai, làm thế nào để chọn một nghề nghiệp phù hợp với bản thân, phù hợp với ước mơ của mình? Làm thế nào để biến ước mơ thành sự thật? Lúc này đây, các em bắt đầu

có những mâu thuẫn trong việc lựa chọn nghề nghiệp của mình, đôi khi có những mâu thuẫn với năng lực của bản thân, mâu thuẫn với sự mong muốn và kỳ vọng của

bố mẹ Thêm vào đó các em chưa hiểu rõ đặc điểm, bản chất của các nghề nghiệp khác nhau Vấn đề lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai như thế nào được các em đặc biệt quan tâm ngay từ khi bước vào lớp 10 và ngày càng trở nên cấp thiết hơn với các em học sinh cuối cấp

Qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, người viết nhận ra rằng, hầu hết các buổi tư vấn, hướng nghiệp được nhà trường tổ chức chỉ dành cho học sinh cuối cấp lớp 12 chứ chưa tổ chức rộng rãi cho cả ba lớp 10,11,12 Như vậy, những băn khoăn, trăn trở của các em ngay từ bước vào cấp 3 chưa được định hướng rõ ràng ngay từ đầu, dẫn đến việc các em không có một mục tiêu cụ thể ngay khi bước vào

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Carl Rogers, (1992). Tiến trình thành nhân, TS .Tô Thị ánh & Vũ Trọng ứng dịch, Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thành nhân
Tác giả: Carl Rogers
Nhà XB: Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh
Năm: 1992
4. Phạm Huy Dũng, (2006) Bài giảng Công tác xã hội – Lý thuyết và thực hành Công tác xã hội trực tiếp, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Công tác xã hội – Lý thuyết và thực hành Công tác xã hội trực tiếp
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
5. Vũ Dũng (2007). Tâm lý tuổi vị thành niên. Tạp chí Tâm Lý học số 4/2007, (trang 17 -21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý tuổi vị thành niên
Tác giả: Vũ Dũng
Năm: 2007
6. David Stanfford – Clark, (1998). Freud đã thực sự nói gì, Lê Văn Luyên & Huyền Giang dịch, Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Freud đã thực sự nói gì
Tác giả: David Stanfford – Clark
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 1998
7. Trần Thị Minh Đức, (2009) Giáo trình tham vấn tâm lý, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
8. Trần Thị Minh Đức, (2000). Bàn về thuật ngữ tư vấn, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thuật ngữ tư vấn
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Năm: 2000
9. Trần Thị Minh Đức, (2003). Thực trạng tham vấn ở Việt Nam:Từ lý thuyết đến thực tế, Tạp chí Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tham vấn ở Việt Nam:Từ lý thuyết đến thực tế
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Năm: 2003
14. Nguyễn Thị Phương Hoa (2001). Một số nhận xét bước đầu về tư vấn tâm lý ở nước ta, Tạp chí Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét bước đầu về tư vấn tâm lý ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa
Năm: 2001
15. Kathryn Geldard & David Geldard, (2000). Công tác tham vấn trẻ em - Giới thiệu và thực hành - Tập 1, Nguyễn Xuân Nghĩa và Lê Lộc dịch, Nhà xuất bản ĐH Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tham vấn trẻ em - Giới thiệu và thực hành
Tác giả: Kathryn Geldard & David Geldard
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐH Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
16. Malcolm Payne (Trần Văn Kham dịch) (1997)Lý thuyết công tác xã hội hiện đại, NXB Lyceum Books, INC, 5758 S.Blackstone Avenue, Chicago, tr218 17. Michel Daigniault, Giáo trình mối quan hệ trợ giúp, Nguyễn Phương Hoa &Lưu Song Hà dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình mối quan hệ trợ giúp
Nhà XB: NXB Lyceum Books
18. Nguyễn Công Khanh, (2000) Tâm lý trị liệu :ứng dụng trong lâm sàng và tự chữa bệnh, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý trị liệu :ứng dụng trong lâm sàng và tự chữa bệnh
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
19. Nguyễn Công Khanh, (2000). Tâm lý trị liệu, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý trị liệu
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
26. Nguyễn Quang Uẩn (2011)Tâm lý học đại cương, Nxb, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà NộiTài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
30. B.Herlihy & L.Golden (1990). Ethical Standards Casebook, The Fourth Edition 31. Corey.G (1991). Theory and Practice of Counseling & Psychotherapy, Books/Cole Publishing Company Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ethical Standards Casebook", The Fourth Edition 31. Corey.G (1991). "Theory and Practice of Counseling & Psychotherapy
Tác giả: B.Herlihy & L.Golden (1990). Ethical Standards Casebook, The Fourth Edition 31. Corey.G
Năm: 1991
42. E.D. Neukrug (1999). The world of the Counselors, Books/ Cole Publishing Company Sách, tạp chí
Tiêu đề: The world of the Counselors
Tác giả: E.D. Neukrug
Năm: 1999
43. Sherry Cormier, Harold Hac Kney (2008). Counseling stragies and Interventions. Pearson Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Counseling stragies and Interventions
Tác giả: Sherry Cormier, Harold Hac Kney
Năm: 2008
44. Michael, Nystul (2005). Introduction to counseling: an art and science perspective. Pearson Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction to counseling: an art and science perspective
Tác giả: Michael, Nystul
Năm: 2005
1. Lê Chí An, (2006) Công tác xã hội nhập môn, Đại học Mở - Bán công TP. Hồ Chí Minh Khác
3. Công tác xã hội trong trường học, Tài liệu lớp tại chức Công tác xã hội I Khác
10. Nguyễn Thị Thu Hà, (2011), “Hoạt động đào tạo nguồn nhân lực CTXH tại Việt Nam hiện nay, tr64-91, Hội thảo quốc tế 20 năm khoa xã hội học thành tựu và thách thức, NXB ĐH QGHN Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: So sánh các khó khăn thường gặp của học sinh hai trường - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Bảng 2 So sánh các khó khăn thường gặp của học sinh hai trường (Trang 36)
Bảng 4: So sánh các nhóm khó khăn giữa học sinh nam và nữ - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Bảng 4 So sánh các nhóm khó khăn giữa học sinh nam và nữ (Trang 37)
Bảng 3: So sánh khó khăn thường gặp ở học sinh khối 10 và khối 12 - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Bảng 3 So sánh khó khăn thường gặp ở học sinh khối 10 và khối 12 (Trang 37)
Bảng 5. Nhóm khó khăn trong học tập - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Bảng 5. Nhóm khó khăn trong học tập (Trang 38)
Bảng 6. Điều ước của các em học sinh theo nhóm vấn đề - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Bảng 6. Điều ước của các em học sinh theo nhóm vấn đề (Trang 44)
Bảng 7: Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Bảng 7 Khó khăn trong các mối quan hệ xã hội (Trang 45)
Bảng 8: Nhóm khó khăn từ phía bản thân học sinh - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Bảng 8 Nhóm khó khăn từ phía bản thân học sinh (Trang 54)
Bảng 9: Các phương thức giải quyết khi gặp khó khăn của học sinh - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Bảng 9 Các phương thức giải quyết khi gặp khó khăn của học sinh (Trang 58)
Bảng 10: Mức độ mong muốn của học sinh đối với các hình thức trợ giúp của - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Bảng 10 Mức độ mong muốn của học sinh đối với các hình thức trợ giúp của (Trang 67)
Bảng 11: So sánh nhu cầu của học sinh hai trường đối với các hình thức trợ giúp - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Bảng 11 So sánh nhu cầu của học sinh hai trường đối với các hình thức trợ giúp (Trang 69)
Bảng 12: Mong đợi của các em học sinh về một nhân viên CTXH - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Bảng 12 Mong đợi của các em học sinh về một nhân viên CTXH (Trang 71)
Sơ đồ hóa vấn đề của thân chủ: - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Sơ đồ h óa vấn đề của thân chủ: (Trang 78)
Sơ đồ sinh thái của thân chủ  Các kỹ năng và chiến lược nhân viên CTXH sử dụng: - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Sơ đồ sinh thái của thân chủ Các kỹ năng và chiến lược nhân viên CTXH sử dụng: (Trang 82)
Hình thức trợ giúp  Rất mong - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
Hình th ức trợ giúp Rất mong (Trang 98)
5. Hình thức hoạt động nhóm - Nhu cầu hoạt động công tác xã hội trong trường trung học phổ thông (Nghiên cứu tại trường THPTDL Văn Hiến và THPT Trần Phú Hà Nội
5. Hình thức hoạt động nhóm (Trang 98)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm