Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ THỊ ĐIỆP
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TÌNH TRẠNG BỎ HỌC CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ – NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ ĐĂK JƠ TA HUYỆN
MANG YANG TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: công tác xã hội
Mã số:60900101
Người hướng dẫn khoa học:TS Hà Thị Thư
Hà Nội - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Hà Thị Thư Các
thông tin thu thập và kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Tạ Thị Điệp
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn và chủ tịch hội đồng
Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng
TS Hà Thị Thư PGS TS Nguyễn Hồi Loan
Trang 3Lời cảm ơn
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này , tôi đa ̃ nhận được sự hướng dẫn , giúp đỡ quý báu của các thầy cô , các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc , tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
TS Hà Thị Thư, một người rất tâm huyết với nghề CTXH, cô đã hết
lòng giúp đỡ, động viên tôi trong những lúc khó khăn và hướng dẫn tôi rất chu đáo trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Các thầy cô ở khoa xã hội học trường ĐHKHXH&NV và các thầy cô
đã giảng dạy các môn học trong suốt 02 năm tôi theo học đã mang đến cho tôi rất nhiều kiến thức quí báu và truyền cho tôi sự tâm huyết, yêu nghề để tôi có thể động lực và niềm tin theo đuổi lĩnh vực mà mình đã chọn
Các vị lãnh đạo, các đồng nghiệp tại trường Cao đẳng nghề Gia Lai,
sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Gia Lai, trường THCS Đăk Jơ Ta đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi về mặt thời gian và công việc để tôi có thể hoàn thành khóa học theo đúng tiến độ Xin cảm ơn các bạn học sinh khối lớp 7,8,9 của trường THCS Đăk Jơ Ta, các vị phụ huynh đã nhiệt tình hợp tác, cung cấp thông tin để tôi có thể thu thập được những thông tin và số liệu quý báu cho luận văn
Cám ơn gia đình, bố mẹ, anh chị em, bạn bè của tôi, những người đã sát cánh bên tôi trong suốt thời gian tôi học tập, làm luận văn
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè , các anh chị em trong lớp Cao h ọc Công tác xã hội 2 (khóa học 2011-2013) đã luôn giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 15
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 16
5 Phạm vi nghiên cứu 16
6 Câu hỏi nghiên cứu 16
7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 17
8 Giả thuyết nghiên cứu 17
9 Phương pháp nghiên cứu 17
NỘI DUNG 19
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 19 1.Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 19
1.1 Lý thuyết hệ thống 19
1.2 Lý thuyết dựa trên quyền trẻ em 21
1.3 Cách tiếp cận dựa trên lý thuyết nhận thức - hành vi 22
2 Các khái niệm công cụ 30
2.2 Một số khái niệm về học sinh dân tộc thiểu số bỏ học 33
2.3 Các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của học sinh 36
2.3.2 Yếu tố gia đình 43
2.3.3 Yếu tố nhà trường 50
2.3.4 Yếu tố cộng đồng 53
3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 57
Trang 53.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 57
3.2 Đặc điểm dân cư 58
3.3 Kinh tế xã hội 59
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC TRẠNG BỎ HỌC CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ ĐĂK JƠ TA, HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI 60
2.1 Thực trạng bỏ học của học sinh người dân tộc thiểu số tại địa phương 60
2.2 Biểu hiện của các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học 64
2.2.1 Tổng hợp các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của
học sinh 64
2.2.2 Tác động của từng yếu tố đến tình trạng bỏ học của học sinh 66
CHƯƠNG III: HỌC SINH BỎ HỌC VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM 79
3 Lý do ứng dụng công tác xã hội trong làm việc với nhóm học sinh dân tộc thiểu số bỏ học 79
3 2 Tiến trình trợ giúp nhóm đối tượng 80
3.2.1 Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm 80
3.2 2 Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động 84
3.2.3 Giai đoạn can thiệp, thực hiện nhiệm vụ 87
KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 102
PHỤ LỤC 106
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH: Công tác xã hội
DTTS: Dân tộc thiểu số
ĐBDTTS: Đồng bào dân tộc thiểu số
HSDTTS: Học sinh dân tộc thiểu số
HDI: Chỉ số phát triển con người
GVCN: Giáo viên chủ nhiệm
GDP: Tổng thu nhập quốc nội
GD-ĐT: Giáo dục đào tạo
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Trình độ học vấn của cộng đồng qua khảo sát 63 Bảng 2.2: Các yếu tố tác động qua đánh giá của phụ huynh và học sinh 64 Bảng 2.3: Những yếu tố tác động đến việc học sinh DTTS bỏ học theo đánh giá của học sinh và phụ huynh học sinh 66 Bảng 2.4: Đánh giá về lợi ích của việc học theo ý kiến của học sinh 70 Bảng 2.5: Những yếu tố từ gia đình tác động đến việc bỏ học của học sinh DTTS qua đánh giá của phụ huynh và học sinh 71 Bảng 2.6: Những yếu tố từ nhà trường tác động đến việc bỏ học của học sinh DTTS qua đánh giá của phụ huynh và học sinh 73 Bảng 2.7: Những yếu tố từ cộng đồng tác động đến việc bỏ học của học sinh DTTS qua đánh giá của phụ huynh và học sinh 76
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trẻ em là tương lai của nước nhà, trẻ cần được thụ hưởng những điều kiện tốt nhất để phát triển hoàn thiện về thể chất và trí tuệ Một trong những phương cách để trẻ hoàn thiện nhân cách là thông qua con đường giáo dục Giáo dục cơ bản của nước ta phân chia thành 3 cấp học nhằm giúp trẻ tiếp cận với tri thức ở từng mức độ, tầng bậc khác nhau phù hợp với khả năng tiếp nhận, phân tích thông tin, ứng với quá trình phát triển tâm sinh lý của trẻ Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân.[19, tr.7]
Giáo dục con người là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và nhà nước ta, đặc biệt là ưu đãi trong giáo dục cho đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS), các nhóm đặc biệt khó khăn Đây là điều có ý nghĩa động viên các nhóm người có hoàn cảnh đặc biệt có cơ hội tiếp cận với nền giáo dục phổ thông và góp phần bình đẳng xã hội giữa các nhóm người, các dân tộc trên một vùng lãnh thổ, thể hiện sự ưu việt của nền an sinh xã hội nước nhà trong trách nhiệm nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần ổn định cuộc sống cho nhóm dân
cư, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn
Người dân tộc thiểu số (DTTS) có tiếng nói và chữ viết riêng có nền văn hóa khác biệt cùng tồn tại song song và phát triển cùng với các phong tục tập quán của văn hóa cộng đồng chung của người Việt có những dấn ấn tinh hoa nhưng cũng có những hủ tục làm cho nhận thức và đời sống của người đồng bào dân tộc thiểu số còn thua kém so với mặt bằng chung của
Trang 9cả nước vì vậy họ được xem là nhóm đối tượng yếu thế, cần có sự quan tâm đặc biệt Những năm gần đây với sự quan tâm của Đảng và nhà nước đời sống của đại bộ phận người DTTS được nâng lên đáng kể, cơ sở vật chất
kỹ thuật được đầu tư đúng mức để giúp cho họ có cơ hội tiếp cận với tri thức của quá trình hội nhập Tuy nhiên vì xuất phát điểm của người DTTS
là thấp hơn so với người Kinh nên quá trình tiếp cận với phát triển còn hạn chế họ không nắm bắt được các cơ hội, không khai thác được tiềm năng, tính ưu việt trong cơ chế, chính sách, điều kiện mà nhà nước đang dành cho
họ Một phần vì thói quen canh tác, sinh sống ở những vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên khiến cho cơ hội tiếp cận cũng giảm đi Hơn nữa
vì điều kiện kinh tế khó khăn, ít được học tập, quan sát học hỏi từ môi trường bên ngoài nên trình độ nhận thức của họ về những điều kiện phát triển còn hạn chế, và đây cũng chính là cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo, nhận thức thấp, bỏ học sớm, tái nghèo
Tỉnh Gia Lai là tỉnh nằm ở Bắc Tây Nguyên kinh tế chủ yếu là hoạt động nông nghiệp với 44,5% người ĐBDTTS [29, tr.1 ] Người DTTS đa
số thất học và nghèo, cái nghèo và thất học trở thành cái vòng luẩn quẩn trói chân họ qua bao thế hệ với nương rẫy Ở các xã vùng sâu vùng xa tình trạng này càng tồi tệ hơn khi điều kiện kinh tế khó khăn giao thông không thuận lợi và tỷ lệ người DTTS chiếm tỷ lệ cao Học sinh ở các xã này bỏ học khá sớm và khá phổ biến ảnh hưởng không nhỏ đến điều kiện kinh tế văn hóa xã hội an ninh trên địa bàn tỉnh nhà trong trước mắt và lâu dài
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu của mình
cho luận văn cao học là “Công tác xã hội với tình trạng bỏ học của học sinh dân tộc thiểu số - nghiên cứu trường hợp tại xã Đăk Jơ Ta, huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai”
Trang 102 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Giáo dục được xác định là chiến lược lâu dài cho phát triển bền vững Vào đầu thập niên 80 Liên hợp quốc đã đưa mục tiêu phấn đấu “phổ cập hóa giáo dục tiểu học” cho mọi người dân, tất cả mọi người đi học tiểu học phải được “miễn phí”[8, tr.7].Ngoài ra, một số quốc gia còn xác định những lớp học đầu tiên phải được đưa vào chương trình bắt buộc 4, 6 hoặc
9 năm, tùy theo đặc trưng của mỗi quốc gia Đặc trưng về phát triển kinh tế cũng quy định nền giáo dục của quốc gia cũng được phát triển hoàn thiện, một số nước đặt giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ phát triển, để tạo ra nguồn lực chất lượng cao không chỉ cho hiện tại mà còn định hướng sự phát triển cho tương lai của quốc gia đó Chỉ số HDI (Human Development Index) về chất lượng cuộc sống cũng lấy tỷ lệ người biết chữ làm tiêu chí đo lường nhằm đánh giá mức độ phát triển toàn diện của một quốc gia bên cạnh GPP bình quân và tuổi thọ bình quân đầu người
Ở những nước phát triển tỷ lệ trẻ em đến trường đạt 95%, các nước có thu nhập thấp như thì tỷ lệ trẻ em học xong trung học cơ sở (THCS) cũng đạt rất thấp, khoảng 77 % Ví dụ như với Malaysia tỷ lệ bỏ học ở trường phổ thông là 9,3% đối với vùng đô thị và 16,7% ở nông thôn Trong khi đó có 4,4% học sinh tiểu học và 0,8% học sinh phổ thông chưa làm chủ được ba
kỹ năng đọc, viết, làm toán.[8, tr 8]
Nghiên cứu của UNICEF (2010) chỉ ra rằng “Trong khi tỷ lệ nhập học ngày càng được cải thiện thì việc học sinh bỏ học đang là một trong những vấn đề mà hầu như tất cả các nước nước đang phát triển phải đối mặt Điều này không những có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của việc phổ cập hóa giáo dục cấp tiểu học mà còn là một sự lãng phí nguồn lực và làm tăng số người mù chữ Trong các nước đông dân số, tỷ lệ nhập học cao
Trang 11đồng thời tỷ lệ bỏ học ở các nước này cũng cao”[8, tr 18].Chính sách giáo dục liên quan đến chính sách phát triển kinh tế, chính sách dân số của một quốc gia Hầu hết các quốc gia đều phải đương đầu với tình trạng học sinh
bỏ học trong nhiều giai đoạn khác nhau, điều này đã trở thành đề tài cho nhiều nhà nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp thiết thực cho ngành giáo dục của quốc gia góp phần thúc đẩy sự bình đẳng ở tất cả mọi lĩnh vực
Okumu, Ibrahim M., Naka jo, Alex and Isoke, Doren (2008) đã phân tích các yếu tố kinh tế xã hội dẫn đến quyết định bỏ học ở học sinh tiểu học tại Uganda Các nhà nghiên cứu đã thiết lập một mô hình hậu cần để phân tích các số liệu quốc gia vào năm 2004 và mô hình phân tích này đã phân tích theo đoàn hệ đối với tuổi của các học sinh nông thôn và thành thị, theo giới tính Kết quả phân tích cho thấy các biến số như giới tính, tổng số tiền chi trả cho học phí, giới tính của chủ hộ không có ý nghĩa tác động đến tỷ
lệ bỏ học của học sinh tiểu học Nhưng các biến số như quy mô gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ, loại hình hoạt động kinh tế của các thành viên
hộ gia đình, đặc biệt là ở vùng nông thôn đã có những tác động quan trọng đối với cơ hội tiếp tục việc học tập hoặc tỷ lệ bỏ học của học sinh Thậm chí rằng, Robert Balfanz and Nettie Legters (2004) còn chỉ ra rằng có những vùng, miền có tỷ lệ học sinh bỏ học cao thường là những trường yếu
về năng lực, có nhiều học sinh dân tộc thiểu số và kết quả học tập của trường thông thường kém ở những môn như toán, văn…Hơn nữa các trường này thường là những trường được đặt ở các vi trí mà cộng đồng xung quanh đó có tỷ lệ cao về thất nghiệp, tội phạm và có trình độ học vấn không cao [8, tr.19]
B Alfred Liu (1976) đề cập đến các nội dung rất thú vị về sự biến đổi xã hội, sự gia tăng dân số với vấn đề phát triển giáo dục Theo nghiên
Trang 12cứu này thì sự biến đổi xã hội có được là do sự tác động của các yếu tố hệ
tư tưởng, công nghệ và nhân khẩu [8, tr,19]
Biến đổi xã hội sẽ dẫn đến những biến đổi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có sự biến đổi của hệ thống giáo dục Sự biến đổi này chính là để thích nghi với những nhu cầu đặt ra trong quá trình chuyển hóa của xã hội Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, việc kiểm soát yếu tố nhân khẩu có một vai trò quan trọng Vì quy mô dân số là chỉ số chủ chốt trong việc phát triển hệ thống giáo dục cả về lượng và chất Không thể hình thành các chương trình chuyên biệt nếu không có đủ số lượng học sinh, cũng không thể hình thành các chương trình phát triển nếu không tính đến yếu tố về quy mô dân số.[8, tr.20]
Một nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân khẩu học với với việc lập
kế hoạch giáo dục của Stelios N Georgiou cho thấy, việc nâng cao tỷ lệ nhập học và chất lượng giáo dục là mục tiêu của kế hoạch hóa phát triển giáo dục Xây dựng và thực hiện các mục tiêu này trong phát triển giáo dục cần phải tính đến các yếu tố nhân khẩu như cấu trúc tuổi và giới tính dân cư.[8, tr.20]
Nghiên cứu về tình trạng bỏ học của Ấn Độ trên cơ sở thống kê khá đầy đủ theo từng năm và theo các đặc điểm kinh tế xã hội cơ bản như đô thị
- nông thôn, giới tính và đã áp dụng phân tích theo đoàn hệ để chỉ ra xu hướng và số bỏ học theo từng nhóm tuổi và từng lớp học Kết quả nghiên cứu cho thấy với quy định giáo dục bắt buộc và miễn phí cho tất cả trẻ em đến 14 tuổi theo hệ thống giáo dục của Ấn Độ, đến giữa năm 1978, số học sinh từ lớp 1 – 5 khoảng 69 triệu, tăng gấp 3 lần so với số học sinh năm
1950 Số học sinh từ lớp 6-8 khoảng 18 triệu gấp gần 6 lần so với số học sinh cùng cấp năm 1950 Khoảng 20% học sinh tiểu học và 11% học sinh
Trang 13trung học bỏ học ở thời điểm 1978 Tuy nhiên, nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số đặc điểm và nguyên nhân ở giai đoạn này Số lượng học sinh bỏ học nhiều ở lớp một Nguyên nhân là học sinh chưa được chuẩn bị trước để thích nghi với môi trường mới Do đó, giáo dục mẫu giáo là một bước để giảm tỷ lệ trẻ em bỏ học ở lớp một Đa số học sinh bỏ học là những học sinh lưu ban điều đó cho thấy kết quả học tập thấp cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến bỏ học Vấn đề này đòi hỏi xem xét những yếu tố liên quan đến giảng dạy như chất lượng giáo viên, chương trình học và những điều kiện cơ sở hạ tầng…Một phát hiện trong nghiên cứu này là trẻ em gái
bỏ học nhiều hơn trẻ em trai, điều này cũng chỉ ra mối liên hệ giữa tỷ lệ bỏ học và giới [8, tr.21]
Ở khu vực nông thôn, các nghiên cứu phát hiện phát hiện có khoảng sáu mươi nguyên nhân dẫn đến việc bỏ học của trẻ em Các nguyên nhân này được nhóm thành ba cụm chủ yếu và có sự chồng lấn lên nhau Nghèo khổ là một trong những nguyên nhân chủ yếu, song trầm trọng hơn nữa là tình trạng mù chữ của bố mẹ có tác động lớn đến việc bỏ học của trẻ em Nguyên nhân thứ hai là do những trẻ em bỏ học và cha mẹ của chúng đưa
ra là việc trừng phạt về thân thể đối với học sinh học kém.Trong khi đó, giáo viên và nhà trường lại cho rằng, phụ huynh học sinh ít liên hê với nhà trường, chương trình giảng dạy chưa phù hợp, thiếu phương tiện giảng dạy
là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học của trẻ em Bất bình đẳng giới cũng được xác định là một trở ngại đối với trẻ em gái Bất bình đẳng về giới không chỉ liên quan đến các quan niệm của cộng đồng đối với vai trò của
nữ giới mà nó còn có cả nguyên nhân kinh tế khi trong nhiều nhóm dân tộc, các bậc phụ huynh bị áp lực về của hồi môn cho con gái, về việc đầu tư cho con gái học hành không mang lại lợi nhuận trước mắt…điều này dường
Trang 14như thể hiện rõ trong một số cồng đồng ở Ấn Độ và một số nước thuộc châu Á [8, tr,23]
Học sinh bỏ học do gia đình có thu nhập thấp, bố mẹ thất nghệp hoặc nghề nghiệp không ổn định, học vấn thấp hoặc thất học hoặc bỏ học vì sức khỏe yếu do suy dinh dưỡng, trường ở xa nhà, không thích học và những yếu tố nhà trường như cơ sở vật chất, chất lượng giáo viên Những nguyên nhân này liên quan đến những rào cản về kinh tế xã hội và có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau (Barton, 2006; Barsaga, 1995)[8, tr.23]
Tóm lại, các yếu tố tác động đến học sinh bỏ học được nghiên cứu khá nhiều trên thế giới Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vấn đề bỏ học sớm của học sinh liên quan đến trình độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, từ những chính sách về kinh tế, dân số, nhân khẩu đều ảnh hưởng rõ rệt đến vấn đề này Ngoài ra những nguyên nhân về bình đẳng giới, sự phân cấp giữa thành thị, nông thôn, giữa nhóm người có thu nhập cao với nhóm
có thu nhập thấp và nhóm DTTS với nhóm người đa số cũng có ảnh hưởng đến việc xã hội hóa giáo dục Từ thực tế này chỉ ra rằng bất bình đẳng trong tiếp cận với giáo dục cho trẻ em vẫn còn diễn ra ở khắp nơi trên thế giới, điều này cần thiêt có sự vào cuộc nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau
2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, lấy con người là trung tâm trong quá trình phát triển, nhân tài được xem là nguyên khí của quốc gia nên Đảng ta xác định “giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” “phát triển giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”[19, tr.2] Giáo dục
phát triển đồng hành cùng đất nước qua từng thời kỳ khác nhau Các phong trào bình dân học vụ, diệt giặc dốt, xóa mù chữ ra đời để mọi người dân từ
Trang 15già đến trẻ có thể tiếp cận với nền học vấn tối thiểu Trường học được đầu
tư ngày càng nhiều, chi phí cho giáo dục không ngừng tăng qua các năm Năm 2001 tổng chi cho giáo dục chiếm 4,1% GDP thì đến năm 2006 con
số trên đã đạt 5,6% Chi ngân sách cho giáo dục đào tạo chiếm tỷ trọng cao nhất trong lĩnh vực xã hội Việt Nam nằm trong những quốc gia có tỷ trọng đầu tư cho giáo dục cao nhất Hệ thống cơ sở vật chất đầu tư cho giáo dục được mở rộng, thầy cô giáo được đào tạo để “cắm làng, bám bản”, gieo cái chữ đến tận biên giới, vùng địa đầu Tổ Quốc Chính vì sự nỗ lực của toàn thể nhân dân nên nước ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiều học vào năm 2003, trung học cơ sở (THCS) vào năm 2010 đó là những thành tựu vô cùng to lớn trong công cuộc xây dựng một nền học vấn mang tính đại chúng, dễ dàng tiếp cận
Thời kỳ nào cũng vậy, tuổi trẻ luôn được xem là rường cột của nước nhà, là những vị kiến trúc sư tài ba để kiến thiết xã hội trong tương lai Chính vì vậy muốn xây dựng một xã hội khỏe mạnh phồn vinh đòi hỏi phải
có những con người khỏe mạnh về thể chất, tinh thần, vững chắc về tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm Chính vì vậy đòi hỏi hệ thống giáo dục phải có những bước tiến vững chắc, đi tắt, đón đầu nhằm gặt hái được nhiều thành công trong hiện tại và cả tương lai Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong suốt thời gian qua thì nền giáo dục của nước ta còn tồn tại nhiều hạn chế, như chương trình học quá tải, chất lượng không đảm bảo và không đồng đều, giáo dục thiên về dạy chữ hơn dạy người, cơ sở vật chất chưa đáp ứng đủ nhu cầu, việc bất bình đẳng trong tiếp cận với hệ thống giáo dục còn diễn ra khá phổ biến, bệnh thành tích, thi cử trong giáo dục xuất hiện bao nhiêu năm vẫn chưa có thuốc đặc trị Ngoài ra, vấn đề dành cho giáo dục chuyên biệt, giáo dục với nhóm người đặc biệt chưa được chú trọng đầu tư đặc biệt là giáo dục cho trẻ em vùng sâu vùng xa vùng DTTS
Trang 16sinh sống dẫn đến tỷ lệ bỏ học ở những vùng này còn khá cao, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng nói riêng và cả nước nói chung, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của cả nước Chính vì ý thức được những ảnh hưởng không tốt từ hệ lụy của sự phân hóa trong phát triển nên những năm gần đây, nhà nước đã chú trọng nhiều hơn cho những vấn đề nổi cộm xuất hiện giáo dục Một trong những vấn đề đó là tình trạng HSDTTS bỏ học
Thực trạng bỏ học của học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng, thực chất đã diễn ra trong một thời gian khá dài nhưng hầu như chưa được quan tâm đúng mức Vấn đề này chỉ được nhắc đến và đưa ra bàn luận trong thời gian gần đây, đặc biệt là sau sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Ngoài trọng tâm đào tạo con người với đầy đủ năng lực và phẩm chất, thì vấn đề bỏ học của học sinh trung học cũng ngày càng được Đảng, Nhà nước và các tổ chức ban ngành quan tâm Tuy nhiên, có thể thấy các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này vẫn chưa nhiều và chưa thật sự phản ánh một cách chân thật nhất, khái quát nhất thực trạng vấn đề Có chăng chỉ là những trang tin đăng tải trên các tờ báo (báo Tuổi trẻ, báo Thanh niên, báo Sài Gòn giải phóng ), trên internet hoặc một
số tin ngắn, phóng sự trên các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh các sự kiện liên quan
Tập trung giải quyết các “điểm nóng” tại buổi họp báo định kỳ tháng
3 năm 2008 của Bộ GD-ĐT tổ chức ở Hà Nội ngày 12/3/2008, do Phó thủ tướng -Bộ trưởng bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân chủ trì, Bộ GD-ĐT đã dành phần lớn thời gian để nói về vấn đề bỏ học và giải pháp để khắc phục
Trang 17Ngày 14 tháng 3 năm 2008, Bộ GD-ĐT có công văn số 2092/BGD&ĐT-VP gửi đến lãnh đạo các Tỉnh, Thành phố trên cả nước giải trình về tình trạng học sinh bỏ học trong học kỳ I năm học 2007-2008
Với Việt Nam, ngành công tác xã hội còn khá mới mẻ, và với những khóa đầu tiên đào tạo trong nước về công tác xã hội thì vấn đề học đường cũng là chủ đề nhận được quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trẻ Tuy nhiên chủ đề này không còn xa lạ với các ngành khác
Đề tài Các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của trẻ em vùng Tây Bắc hiện nay - luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học, mã số 62 31
30 01 của NCS Nguyễn Thị Thanh Hương dưới sự hướng dẫn của PGS TS Vũ Tuấn Huy Luận án đã tập trung nghiên cứu, khảo sát thực trạng và các nguyên nhân bỏ học của trẻ em vùng Tây Bắc trong bối cảnh đất nước ta đang trong quá trình phát triển và hội nhập Trên cơ sở khảo sát các đối tượng nghiên cứu gồm trẻ em, nhà trường, gia đình, cộng đồng, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục, đào tạo và chăm sóc, bảo vệ trẻ em tại 3 tỉnh thuộc Tây Bắc là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La tác giả luận
án đã phân tích được mối quan hệ và tác động qua lại giữa các yếu tố xã hội đến vấn đề trẻ em bỏ học Việc phân tích trình trạng bỏ học của trẻ em tại vùng Tây Bắc được xem xét trong mối quan hệ với hệ thống giáo dục hiện nay của Việt Nam để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu
tỷ lệ tình trạng bỏ học của trẻ em vùng Tây Bắc hiện nay Đây là đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, không trùng lặp với các đề tài khoa học và luận án tiến sĩ đã bảo vệ trước đó nó góp phần trong việc tham khảo đưa ra những giải pháp để giải quyết tình trạng này ở địa phương nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu là khu vực Tây Bắc tác giả đã chỉ ra những yếu
tố như kinh tế, văn hóa, chính sách… mang đặc trưng của vùng dân tộc
Trang 18thiểu số miền núi phía Bắc nên có thể mang một vài điểm tương đồng cho các vùng khác như Tây Nguyên
Luận văn “Các giải pháp khắc phục tình trạng bỏ học của người đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Kon Rẫy – Kon Tum” Luận văn chuyên
ngành kinh tế phát triển Mã số 60 31 05 Người thực hiện Lê Thị Bích Ngân, người hướng dẫn T.S Đoàn Gia Dũng Luận văn đề cập đến các nguyên nhân qua đó chú trọng đến những giải pháp để giúp khắc phục tình trạng bỏ học của người dân tộc thiểu số tại huyện Kon Rẫy – tỉnh Kon Tum Đây là luận văn có ý nghĩa thực tiễn to lớn và có tính liên quan đến
đề tài mà tôi đang nghiên cứu vì sự tương đồng về nhóm khách thể nghiên cứu cũng như địa bàn thuộc khu vực Tây Nguyên Tây Nguyên là địa bàn khá khó khăn, trình độ phát triển về giáo dục còn kém các địa phương khác trong cả nước, hơn nữa là vùng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm phần nhiều nên hiện tượng học sinh dân tộc thiểu số bỏ học diễn ra khá phổ biến Chính điều này ảnh hưởng đến quá trình phát triển chung của vùng làm cho trình độ dân trí thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước Với những đề tài được nghiên cứu xuất phát từ địa phương có thể góp phần rất lớn cho việc giải quyết vấn đề xã hội đang tồn tại ở chính địa phương đó
Luận văn “xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Gia Lai” của tác giả Nguyễn Đình Sơn chuyên ngành quản lý
kinh tế cũng nghiên cứu chi tiết về nghèo đói trên địa bàn tỉnh Gia Lai Luận văn đã chỉ ra thất học cũng là một nguyên nhân dẫn đến nghèo và tái nghèo của vùng dân tộc thiểu số Cái vòng luẩn quẩn của nghèo – thất học – tái nghèo – bỏ học cũng được nhắc đến trong luận văn Chính vì bỏ học nên việc tiếp cận với tri thức, mở mang kiến thức, tiếp cận với kinh tế thị trường rất khó khăn và thất học ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức để thay đổi tình trạng kinh tế hiện tại của hộ gia đình
Trang 19Liên quan đến vấn đề bỏ học của học sinh đã có một số nghiên cứu nhỏ, các bài báo khoa học như:
Đề tài “Khảo sát tình hình lưu ban, bỏ học của học sinh 2 trường vùng ven Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Đặng Văn Minh, Viện Nghiên cứu giáo dục, năm 1992 Nghiên cứu được tiến hành tại hai trường:
Trường THCS Đặng Trần Côn và Trường Cấp II, III Võ Văn Tần (năm học1990 – 1991) Tác giả đã đánh giá thực trạng và chỉ ra những nguyên nhân bỏ học của học sinh tại hai trường này Đề tài đã đưa ra những nguyên nhân chủ quan, cũng như khách quan khiến học sinh bỏ học, những nguyên nhân từ phía bản thân học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội Từ việc phân tích nguyên nhân, tác giả đã đề xuất những giải pháp hữu hiệu ngăn chặn tình trạng bỏ học, nó thật sự có ý nghĩa đối với ngành giáo dục tại thời điểm đó
Bài trích “Hiện tượng lưu ban, bỏ học thực trạng, nguyên nhân, vấn
đề và biện pháp / Thái Duy Tuyên /Nghiên cứu giáo dục - 1992 - Số 242 - Tr.4-6” Tác giả đã phản ánh thực trạng, nguyên nhân của hiện tượng lưu
ban, bỏ học và đưa ra những biện pháp cần thiết để ngăn chặn và khắc phục tình trạng trên Qua đề tài, có thể thấy được tình trạng bỏ học, lưu ban của học sinh ở từng vùng, từng miền là khác nhau: về nguyên nhân, tỷ lệ, hệ quả Từ đó tác giả đưa ra những biện pháp ngăn chặn, khắc phục phù hợp với từng địa bàn nghiên cứu và tham khảo cho vùng khác
Bài trích “Về nguyên nhân và biện pháp chống bỏ học / Phạm Thanh Bình / Nghiên cứu giáo dục - 1992 - Số 242 - Tr.31- 32” Tác giả đã chỉ ra
những nguyên nhân cơ bản nhất khiến học sinh phải bỏ học: nó có thể xuất phát từ phía nhà trường, học sinh, gia đình và toàn xã hội Bên cạnh việc
Trang 20nêu ra những nguyên nhân, tác giả đã nêu lên được những biện pháp để ngăn chặn và giải quyết vấn đề đang được quan tâm lúc bấy giờ
Bài trích “Vấn đề lưu ban, bỏ học ở Thành phố Hồ Chí Minh / Hồ Thiệu Hùng /Nghiên cứu giáo dục - 1992 - Số 242 - Tr11-12” Tác giả đã
nêu lên được những đặc điểm chủ yếu về điều kiện kinh tế - xã hội - giáo dục ở TP.Hồ Chí Minh và thực trạng lưu ban, bỏ học của học sinh tại thời điểm nghiên cứu Qua bài trích, tác giả đã chỉ rõ nguyên nhân khiến cho học sinh bị lưu ban, bỏ học tại một thành phố lớn và đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế hiện tượng này
Báo cáo của Ông Mai Phú Thanh – Chuyên viên Sở GD-ĐT về “Thực trạng học sinh lưu ban, bỏ học tại Thành phố Hồ Chí Minh đầu năm học
2007 – 2008” (Báo cáo tại hội thảo “Nguyên nhân và giải pháp thực trạng
bỏ học của học sinh hiện nay”, được tổ chức tại Trường Đại học Bán công
Tôn Đức Thắng ngày 25/04/2008” Trong báo cáo của mình, ông Mai Phú Thanh đã trình bày sơ bộ về tình hình học sinh theo học ở các cấp, kết quả xếp loại học lực hàng năm và đặc biệt là đưa ra những con số thống kê về nguyên nhân bỏ học của học sinh hiện nay
Điểm đáng lưu ý của báo cáo là ông đã đưa ra những giải pháp mang tính chiến lược, nêu bật vai trò của các cấp ban ngành cũng như của các đơn vị, tổ chức có trách nhiệm trong việc hạn chế và ngăn ngừa tình trạng học sinh bỏ học hiện nay
Đề tài “ Nghiên cứu về nguyên nhân bỏ học của Trẻ em Việt Nam,
Hà Nội tháng 11/2010” Tác giả Đặng Thị Hải Thơ – UNICEF tại Việt
Nam Đề tài đã chỉ ra những nguyên nhân xuất phát từ gia đình như kinh tế khó khăn, trẻ lao động sớm, gia đình không hạnh phúc, gia đình không có truyền thống học tập, gia đình khuyết thiếu, đông con Những nguyên nhân
Trang 21xuất phát từ nhà trường đó là chương trình giáo dục không thiết thực, chất lượng dạy học và phương pháp giảng dạy thiếu hấp dẫn, ít hứng thú, mối quan hệ thầy trò có vấn đề, ngôn ngữ là một rào cản Bên cạnh đó tác giả đã chỉ ra các nguyên nhân từ xã hội, từ bản thân trẻ, các nhân tố tác động khác
Trong điều kiện giới hạn về thời gian và phương tiện tra cứu, tôi chỉ
có thể sơ lược được một số nghiên cứu nêu trên Nguồn tư liệu nhóm thu thập được chủ yếu từ một số bài trích của các đề tài nghiên cứu cách đây khá lâu (năm 1992), còn lại một số thông tin liên quan đến vấn đề bỏ học của học sinh THCS hiện nay được lấy từ các bài báo, dữ liệu trên internet
và tài liệu tham dự hội thảo “Nguyên nhân và giải pháp thực trạng bỏ học của học sinh hiện nay” (ngày 25/04/2008) Qua đó, cũng có thể nhận định rằng, tình hình nghiên cứu vấn đề bỏ học của học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng còn rất hạn chế
Công tác xã hội trong lĩnh vực học đường được nhắc đến nhiều trong những năm gần đây nhằm góp phần cùng giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong giáo dục Thực tế ta đã thấy, đầu tư cho giáo dục là sự phát triển bền vững Những thành quả đầu tư hôm nay là phồn vinh của xã hội ngày mai, là sự phát triển vững chắc khi mà tầng lớp tương lai kế cận giỏi giang
có thể gánh vác nhiệm vụ của thế hệ trước xây đắp Vậy nhưng giáo dục trong thời đại hiện nay của nước đối mặt với vô số thách thức Đã có một vài trường ở thành phố Hồ Chí Minh áp dụng CTXH trong học đường nhưng một thời gian ngắn các dự án bị cắt hoặc không được tiếp tục Gần đây, khi báo chí dư luận xã hội nói nhiều về những tình trạng xảy ra trong môi trường học đường mà ít nhiều là do trẻ bị “ô nhiễm” từ chính môi trường sống của trẻ nên dần dần xã hội mới nhìn nhận lại quá trình giáo dục của từng gia đình, của cả hệ thống giáo dục của cả nước trong đó nhiều ý
Trang 22kiến của những người có uy tín cho rằng giáo dục của nước ta thiên về dạy chữ hơn là dạy người , trẻ em thiếu các kỹ năng sống cần thiết trong hội nhập chính vì vậy trẻ thiếu khả năng giao tiếp, kỹ năng ứng phó khi có khủng hoảng xảy ra hay khi đối đầu với một vấn đề quá sức chịu đựng của trẻ, khiến trẻ bị hụt hẫng, căng thẳng và gây ra những hành vi không mong muốn, kể cả vấn đề trẻ bỏ học giữa chừng cũng là biểu hiện của hành vi thiếu hệ thống hành vi chuẩn mực để đương đầu với những khó khăn trong quá trình học tập đến từ chủ quan hay khách quan
Với những nghiên cứu chỉ ra ở trên có tác dụng rất lớn trong việc tham khảo trong việc xây dựng luận văn Các nghiên cứu đã là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để có thể xây dựng những chính sách lớn hơn, thiết
thực hơn cho vùng nghiên cứu Tuy nhiên với luận văn “Những yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của học sinh dân tộc thiểu số - nghiên cứu trường hợp tại xã Đăk Jơ Ta, huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai.” Tôi đã
xây dựng đề cương nghiên cứu về những yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của HSDTTS dưới góc nhìn của ngành CTXH, những yếu tố này mang tính đặc trưng của địa phương Qua đó ứng dụng những lý thuyết của
CTXH để can thiệp cho nhóm học sinh bỏ học ở địa phương nghiên cứu
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
Luận văn sẽ chỉ ra những yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của HSDTTS và biểu hiện của các yếu tố này;
Đề xuất những giải pháp nhằm góp phần giải quyết vấn đề xã hội đang xảy ra ở địa phương và ứng dựng lý thuyết CTXH vào một trường hợp cụ thể để giúp can thiệp đúng hướng nhằm tăng cường chức năng xã hội của cá nhân, phát triển cộng đồng người dân tộc thiểu số;
Trang 23Luận văn cũng góp phần làm tài liệu tài khảo cho những NVCTXH, nhà giáo dục khi làm việc với đối tượng học sinh bỏ học, những dự án phát triển cộng đồng với các nhóm đối tượng tương tự
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của HSDTTS
và công tác xã hội với tình trạng bỏ học của học sinh dân tộc thiểu số
5.1 Giới hạn thời gian: 6 tháng (từ tháng 1/2013 – tháng 8/2013)
5.2 Giới hạn không gian: Nghiên cứu các khách thể trên địa bàn xã Đăk
Jơ Ta, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai
6 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng của vấn đề học sinh bỏ học tại các trường này diễn ra như thế nào?
Những yếu tố nào tác động dẫn đến hiện tượng HSDTTS bỏ học xảy
ra ở địa phương? Trong đó yếu tố nào là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất?
Đã có những can thiệp gì của chính quyền các cấp, nhà trường, gia đình, cộng đồng nhằm giúp các em trở lại trường học? Đề xuất những giải pháp nào để có thể giải quyết vấn đề này?
Trang 24Nhận thức của học sinh, chính quyền, cộng đồng, gia đình về vấn đề nào như thế nào?
Bằng phương pháp công tác xã hội trợ giúp cho một nhóm học sinh
8 Giả thuyết nghiên cứu
Có rất nhiều yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của HSDTTS, trong đó yếu tố gia đình và bản thân học sinh yếu tố tác động mạnh nhất Việc sử dụng lý thuyết nhận thức - hành vi để can thiệp sẽ đem lại kết quả tốt cho việc giải quyết vấn đề này
9 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu (nghiên cứu tài liệu thứ cấp thông qua các báo cáo của trường THCS xã Đăk Jơ Ta, UBND xã, UBND, phòng giáo dục, ban dân tộc huyện Mang Yang, sở giáo dục đào tạo tỉnh Gia Lai)
Trang 25Phương pháp điều tra bảng hỏi (Phát 100 bảng hỏi cho 50 học sinh của trường THCS Đăk Jơ Ta, 50 phiếu cho phụ huynh học sinh trường THCS Đăk Jơ Ta)
Phương pháp chuyên gia (tham khảo ý kiến của những người có chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể)
Phương pháp phỏng vấn sâu (phỏng vấn sâu 2 người trong ban giám hiệu trường, 01 lãnh đạo UBND xã, trưởng trạm y tế xã, Chi hội trưởng chi hội phụ nữ của 2 làng, trưởng phòng giáo dục huyện và 15 giáo viên của trường)
Phương pháp thảo luận nhóm (thành lập nhóm gồm các em HSDTTS đang đi học để sinh hoạt tạo tâm thế, niềm vui và giúp nhau trong học tập Thành lập nhóm sinh hoạt của những người mẹ có con là HSDTTS để cùng sinh hoạt nhóm, tạo ra những chuẩn mực, áp lực nhóm giúp các bà mẹ tác động đến con cái của mình đi học đầy đủ)
Trang 26NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
Để thực hiện được việc trợ giúp một trường hợp trong CTXH nhóm nhân viên CTXH cần nghiên cứu nhiều lý thuyết khác nhau để có hệ thống
lý thuyết phong phú về cá nhân, nhóm nhằm hỗ trợ hữu ích cho việc giúp
đỡ trường hợp từ đó vạch ra phương pháp can thiệp hữu hiệu đối với từng trường hợp cụ thể Mỗi nhóm gồm tập hợp nhiều cá nhân, các mối quan hệ tương tác trong nhóm tạo nên sự phong phú của nhóm Với phạm vi luận văn tác giả giới thiệu những cách tiếp cận lý thuyết ứng dụng phổ biến, bên cạnh đó cách tiệp cận lý thuyết phát triển, lý thuyết nhu cầu, lý thuyết học tập xã hội…cũng có ý nghĩa ứng dụng nhất định
1.1 Lý thuyết hệ thống
Cách tiếp cận lý thuyết hệ thống xem con người là một hệ thống, đồng thời họ chịu tác động của vô số các hệ thống xung quanh từ đó tạo nên hoàn cảnh riêng biệt, tính cá biệt của mỗi thân chủ
Thuyết hệ thống trong CTXH bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanflan (Toseland & Rivas, 1998) Thuyết này dựa trên quan điểm của lý thuyết sinh học, cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Có hai thuyết hệ thống nổi bật được đề cập đến trong CTXH Thuyết hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái Thuyết hệ thống dựa trên quan điểm sinh thái là Hearn, Siporin, Germain & Gitterman (Karen, K, Krist, Ashman, 2001) Thuyết sinh thái nhấn mạnh vào sự tương tác giữa con người với môi trường sinh
Trang 27thái của mình Vì vậy, nguyên tắc tiếp cận chủ đạo của lý thuyết này là cuộc sống bình thường của con người phụ thuộc vào môi trường xã hội hiện tại của họ Thuyết nhấn mạnh: sự can thiệp tại bất kỳ điểm nào trong
hệ thống cũng sẽ ảnh hưởng hoặc tạo ra sự thay đổi trong toàn bộ hệ thống Điều này cảnh báo cho nhân viên CTXH rằng phải lưu ý khi lựa chọn hành động để có sự thay đổi như mong muốn và không gây ra hiệu ứng tiêu cực Nhân viên CTXH cần khéo léo và sáng tạo khi lập kế hoạch với thân chủ, tạo ra những hệ thống liên quan, hướng tới việc hỗ trợ đối tượng một cách hiệu quả nhất[11, tr.73]
Mỗi thân chủ là một hệ thống cá biệt Ở họ có cơ chế tiếp thu các dòng năng lượng, các đầu vào (input) và từ đó các dòng nhiệt này tương tác, tạo ra một con người cá biệt và cho cho ra các sản phẩm (output) này khác nhau Muốn thay đổi cá nhân thì phải tạo ra cho cá nhân đó thành một
hệ thống mở, có những đường biên giới linh hoạt, hướng cho họ những dịch vụ mà họ còn thiếu hụt để họ có thể có sự tương tác, sự vận động nhằm tạo ra những sản phẩm có ích
Hiểu về thuyết hệ thống đặc biệt quan trọng đối với NVXH, vì thực hành CTXH ở cấp độ vĩ mô có thể phải hướng tới bất kỳ hệ thống nào để tạo ra sự thay đổi Parsons, Bales và Shils (1953) đã chỉ ra bốn nhiệm vụ cơ bản có ảnh hưởng đến CTXH nhóm đó là: hòa nhập (đảm bảo rằng các thành viên trong nhóm hòa hợp với nhau), điều chỉnh (đảm bảo các thành viên trong nhóm thay đổi để thích ứng với những yêu cầu của môi trường), duy trì mô hình (nhóm phải xác định và duy trì những mục đích và luôn tuân thủ tiến trình cơ bản) và tiến trình đạt mục tiêu (đảm bảo nhóm duy trì
và hoàn thành nhiệm vụ) Việc tuân thủ bốn nhiệm vụ trên sẽ giúp nhóm có thể duy trì tính ổn định và cân bằng Tuy vậy thuyết hệ thống có những hạn chế dễ dàng nhận thấy là, thứ nhất thuyết chưa xác định được rõ ràng hệ
Trang 28thống các khái niệm và hệ thống chuẩn mực, cái gì hình thành ra hệ thống, ranh giới của hệ thống là gì, những thành tố khác của hệ thống Hơn nữa khi đề cập đến giá trị của CTXH người ta nhấn mạnh đến nguyên tắc cá biệt hóa trong khi đó thuyết hệ thống lại nhấn mạnh vào mối tương tác và mạng lưới làm việc, điều này gây ra sự mâu thuẫn làm cho nhân viên CTXH mất đi sự tập trung vào tính riêng biệt của mỗi cá nhân
Ở nước ta, tính cộng đồng được đề cao trong truyền thống và trong toàn bộ quá trình sinh sống của toàn thể cộng đồng Đoàn kết cộng đồng tạo nên sức mạnh trong toàn bộ các hoạt động, cá nhân, gia đình là tế bào của xã hội Đối với người DTTS tính cố kết cộng đồng được lưu giữ qua hàng ngàn năm vì vậy sự ảnh hưởng, sự tác động qua lại lẫn nhau mang tính liên tục mỗi người buộc phải hình thành nên sự phụ thuộc lẫn nhau, một khi ai đó có vấn đề đều ảnh hưởng đến cả cộng đồng và ngược lại Chính vì vậy, CTXH nhóm ứng dụng rộng rãi lý thuyết hệ thống, thể hiện qua sự tác động của môi trường sinh thái với một nhóm, một cộng đồng nào đó
1.2 Lý thuyết dựa trên quyền trẻ em
Đối tượng nghiên cứu là trẻ em nên việc nắm vững các quyền của trẻ được quy định trong các văn bản sẽ hữu ích cho quá trình tham khảo Mặt khác qua đó sẽ xem xét xem việc đảm bảo các quyền cho trẻ em là người DTTS đã được đảm bảo thực thi đầy đủ hay chưa Quan điểm của nước ta luôn dành mọi điều tốt nhất cho trẻ em để trẻ có thể phát triển toàn diện về trí, thể, mỹ Trẻ được quan tâm chăm sóc bằng nhiều chính sách ưu đãi khác nhau để đảm bảo quyền được tiếp cận của trẻ với các dịch vụ xã hội ngay từ những năm đầu đời cụ thể với các chính sách như tiêm chủng mở rộng, BHYT cho trẻ dưới 6 tuổi, miễn giảm học phí…Việt Nam là quốc gia
Trang 29đầu tiên ở Châu Á phê duyệt vào công ước quốc tế về quyền trẻ em đó là hành lang pháp lý cao nhất để đảm bảo quyền trẻ em được thực thi, bảo vệ trên phạm vi quốc gia và hội nhập Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ
em được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 15 tháng 6 năm 2004, trong đó dành chương II quy định về các quyền
và bổn phận của trẻ em
Cách tiếp cận dựa trên quyền của trẻ em nêu rõ việc trẻ có một số quyền nhất định, trẻ phải được biết về các quyền đó và mọi thành viên trong xã hội phải làm mọi cách để đảm bảo quyền của trẻ Điều 16 của luật này quy
định về quyền học tập của trẻ Khoản 1 nhấn mạnh “trẻ em có quyền được học tập”, khoản 2 “trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí” Trong khoản 1 điều 22 quy định rõ “trẻ em không được tự ý bỏ học” Mọi quy định đã được luật hóa thì buộc mọi
thành viên trong xã hội phải tuân theo, không được xâm phạm Hơn nữa, trẻ em, người thụ hưởng từ luật cần phải được biết về quyền và bổn phận của mình để tự ý thức và tự bảo vệ khi bị tác nhân bên ngoài xâm hại Trong CTXH nhóm, việc tiếp cận dựa trên hiểu biết về quyền trẻ em sẽ cung cấp cho trẻ một số hiểu biết nhất định về quyền của trẻ, trong đó có quyền được đến trường và nghĩa vụ phải học tập đầy đủ Khi vào nhóm trẻ được học hỏi, trao đổi để tăng cường tính hiểu biết của mình
1.3 Cách tiếp cận dựa trên lý thuyết nhận thức - hành vi
Theo quan điểm của tôi, việc ứng dụng lý thuyết nhận thức hành vi vào việc hỗ trợ cho nhóm trẻ em học sinh là người DTTS bỏ học là điều rất hữu ích Lý thuyết nhận thức – hành vi là sự kết hợp giữa lý thuyết hành vi và thuyết nhận thức
Trang 30là kết quá của một quá trình bên trong tâm hồn, nhưng lý thuyết này cho rằng ta không thể hiểu được cái gì xẩy ra trong tâm hồn mà chỉ nhìn thấy được cái hành vi bên ngoài
Người ta có thể học những hành vi mới, có thể học để thay thế những hành vi cũ thông qua quan sát và bắt chước thực hiện nhưng người ta lại không biết những gì đã xảy ra bên trong tâm hồn của con người để dẫn đến những hành vi này
Lý thuyết nhận thức là một phần quan trọng trong việc phát triển hành vi và trị liệu, ở đây có mối liên hệ chặt chẽ giữa cảm nhận, lý giải và hành vi, thuyết nhận thức là một phần của thuyết hành vi khi lý giải, cảm nhận và nảy sinh hành vi Nếu cảm nhận đúng đắn sẽ lý giải đúng và hành
vi đúng, nếu cảm nhận sai lệch sẽ lý giải sai lệch và hành vi sai lệch, lý giải phải được luyện tập từ từ qua thời gian Nếu quan sát thấy hành vi của một con người có biểu hiện bất thường mà không có lý do gì tác động thì phải tìm ra suy nghĩ, tìm ra tư duy để trị liệu, phân tích tư duy thông qua các
Trang 31hành động họ thể hiện nên việc gắn tư duy với hành vi để việc giải thích đúng đắn hành động [27, tr.23]
Lý thuyết học tập xã hội (Social learning theory) đại diện tiêu biểu của thuyết học tập xã hội là Albert Bandura Ông cho rằng mọi người ngay
từ đầu đã được dạy cách ứng xử trên cơ sở các kinh nghiệm xã hội Mọi tri giác của bản thân như là các thực thể có ý thức Học tập thông qua quan sát (Observational learning) Hành vi con người là kết quả của một quá trình học tập của các cá nhân thông qua sự tương tác của 3 yếu tố
- Nhận thức (kiến thức, mong đợi, thái độ)
- Hành vi (kỹ năng, thực hành, hiệu quả bản thân)
- Môi trường (chuẩn mực xã hội, khả năng tiếp cận)
Vậy học tập và mô phỏng có thể minh họa lý thuyết nhận thức mở rộng khái niệm học tập và cho rằng con người ta thường học được những điều mới là do nhận thức và tư duy của con người ta về những điều mà con người ta trải nghiệm Người ta học bằng cách sao chép thí dụ từ hành vi của những người xung quanh Quá trình quan sát bắt chước, sao chép hình thành nên những hành vi tương tự để giải thích cho hành vi mới Khi ta xem ai đó thực hiện hành động này, trong đầu ta hình thành nên những cảm nhận lý giải và những hành vi tương tự cho hành vi Quan sát dẫn đến hình thành một ý nghĩ trong đầu người ta về hành động đó được thực hiện như thế nào Quan sát cũng xác định xem hành động được thực hiện trong hoàn cảnh nào Và, trong những hoàn cảnh nhất định nào đó, người ta có thể lập lại hành động này
Lý thuyết nhận thức là một phần trong sự phát triển lý thuyết hành vi
và trị liệu, được phát triển chủ yếu trên lý thuyết học tập xã hội, trên nhận thức và tư duy của người ta khi quan sát những hành vi xung quanh Lý thuyết nhận thức cho rằng hành vi là do nhận thức (perception) và cách lý
Trang 32giải môi trường (trong quá trình học tập hay học tập xã hội) của con người
ta mà hình thành (hoặc ít ra là chịu ảnh hưởng) Từ đó suy ra hành vi sai lệch là do nhận thức sai lệch và lý giải mội trường sai lệch Nhìn xa hơn nữa, khi tư duy của con người ta bị méo mó về bản thân người ta, về cuộc sống và về tương lai, người ta sẽ rơi vào trạng thái suy sụp (depression) hay
lo lắng (anxiety) [27 tr,67]
Do đó lý thuyết nhận thức không hoàn toàn phụ thuộc vào những quá trình xảy ra bên trong của tâm hồn không thể kiểm định được mà là những cảm nhận (perceptions) của người ta về sự kiện, những giải thích (interpretations) của người ta về sự kiện về môi trường
Phương pháp tâm lý trị liệu nhận thức hiện đại phản ảnh sự kết hợp nhiều trường phái tư tưởng và là sự phát triển các công trình trước đây của Adler (1927, 1968), Arieti (1980), Bowlby (1985), Frankl (1985), Freud (1892), Horney (1936), Sullivan (1953) và Tolman (1949) Ảnh hưởng của lý thuyết phân tâm học trên sự tiến hóa của tâm lý trị liệu nhận thức có lẽ rõ ràng nhất trong mô hình nhân cách và tâm bệnh lý mà trường phái phân tâm chia sẻ trong khi Freud phân chia tâm lý của con người làm 3 lĩnh vực: ý thức, tiền ý thức và vô thức Hành vi con người chủ yếu được thúc đẩy bởi động lực vô thức hoặc các động cơ thuộc về bản năng Nhà trị liệu nhận thức phân chia tâm trí con người thành các
“tư duy tự động” (automatic thought), các giả định (consumption) và sơ
đồ (schemata)
Giống như các nhà tâm lý trị liệu phân tâm, nhà trị liệu nhận thức xác nhận sự quan trọng của những đối thoại bên trong và những động cơ từ bên trong (internal dialogues and motivations) Nhà trị liệu nhận thức làm việc
để giúp thân chủ nói ra những điều chưa được nói, dù rằng họ vẫn cố gắng
Trang 33tránh dùng các ẩn dụ về sự đè nén các bản năng và quan niệm về việc hành
vi chịu sự chi phối bởi các xung năng gây lo âu bị đè nén Họ cũng cố gắng phát hiện và thay đổi các niềm tin cùng các thái độ tạo nên sự đau khổ mà thân chủ không tự nhận biết được Vai trò của các yếu tố nhận thức bao gồm: những ý định, kỳ vọng, ký ức, những mục đích và sự lệch lạc nhận thức trong việc tạo ra các rối loạn trong nhận thức, cũng được chấp nhận bởi Freud (1892) Ảnh hưởng của trường phái tâm lý hành vi được phản ảnh trong mục tiêu của trị liệu nhận thức là nhắm vào sự thay đổi hành vi,
sự chấp nhận tính quyết định của các yếu tố xã hội và môi trường trên hành
vi và sự sử dụng nghiên cứu thực nghiệm như là một phương tiện để tinh lọc cả lý thuyết và kỹ thuật lâm sàng Thái độ thực nghiệm được khuyến khích đối với nhà trị liệu và thân chủ, và các can thiệp hành vi được sử dụng như một thành phần trong toàn bộ tiến trình trị liệu [27, tr,72]
Để thay đổi những cảm xúc của một con người, ta phải thay đổi những suy nghĩ và niềm tin nơi người đó Như Kegan (1982) nhận thấy:
sự thay đổi về hành vi và cảm xúc hàm chứa một “một tiến trình về mặt ý nghĩa” (an evolution of meaning)
Từ quan điểm trên, hành vi con người là được cơ cấu và có tổ chức
Nó được hướng dẫn bởi các quy luật ngầm hay các cơ cấu nhận thức, được bồi đắp qua việc tiếp thu từ môi trường Chính sự nhận thức sai lệch, kém thích nghi và tiêu cực là mục tiêu của trị liệu nhận thức
Trang 34Đây là một trường phái tâm lý học giải thích về hành vi dựa trên những quan sát hành vi thấy rõ (overt behaviors) hơn là dựa vào những quá trình nhận thức diễn ra bên trong não hay là những hành vi không thấy rõ ( covert behaviors) Có hai luận thuyết hành vi là điều kiện hóa cổ điển (classical conditioning) và điều kiện hóa kết quả (Operant conditioning)
Điều kiện hóa cổ điển
Luận điểm cơ bản là hành vi trong đó có hành vi sức khỏe là kết quả của quá trình thành lập của phản xạ có điều kiện Đây là giải thích khoa học của các hành vi lặp đi lặp lại hay thói quen
Ví dụ: Từ nhỏ một người được nhắc nhở đánh răng mỗi buổi sáng cho đến khi trở thành thói quen cứ sáng thức dậy là đi đánh răng, nếu không sẽ cảm thấy khó chịu
Mô hình cơ bản là S (stimulate) > R (response, result)
Lý thuyết nhận thức - hành vi trong CTXH xuất xứ từ các mô hình nhận thức trị liệu (cognitive models of therapy) dựa trên các lý thuyết tâm
lý học giải thích quá trình nhận thức (perception) và xử lý thông tin và các
mô hình hành vi trị liệu (behavioral models of therapy) dựa trên các lý thuyết tâm lý học về nhập tâm bài học (learning theories) Các kỹ thuật
Trang 35được sử dụng trong thực hành mô hình nhận thức hành vi bao gồm “đáp ứng có điều kiện” (respondent conditioning), “phối ứng có điều kiện” (operant conditionaing), học bài học từ xã hội (social learning) và kỹ năng đào tạo (skill training), và cấu trúc lại nhận thức của các hệ thống niềm tin
của nhân dân (cognitive restructuring of people belief systems) [6, tr.78]
Người ta có thể chia trị liệu nhận thức - hành vi ra thành các nhóm như sau:
Trị liệu nhận thức hành vi (Sheldon)
Trị liệu nhận thức - hành vi bao gồm những nội dung hay các giai đoạn:
Thiết lập hành vi mới: Trị liệu này trước hết nhằm thiết lập một hành
vi mong muốn với một trong những trị liệu được phân loại nói trên Việc lựa chọn trị liệu nào cho đối tượng nào cũng chưa có nhận xét nào thỏa đáng Trong trị liệu nào người ta cũng phải tìm hiểu hành vi không mong muốn cần loại bỏ và hành vi mong muốn cần thiết lập (thường là để thay thế) Sau khi xác định hành vi cần thiết lập, nhân viên CTXH thảo luận với thân chủ và lựa chọn kỹ thuật thiết lập hành vi trên cơ sở lựa chọn và quyết định của thân chủ Nhân viên CTXH không thể áp đặt ý kiến của mình trong qua trình này Những thay đổi hành vi tương đối lớn cần được chia
Trang 36nhỏ ra thành các giai đoạn với những thay đổi nhỏ để cuối cùng có được sự thay đổi lớn Trong quá trình này, người ta cũng có thể sử dụng sự kết hợp giữa các phương pháp thiết lập và thay đổi hành vi như các mô tả nói trên Củng cố hành vi mới: Liên tục củng cố hành vi mới để hành vi mới có thể được duy trì Củng cố từng bước để hành vi mới dần dần đạt đến mức
độ mong muốn (để hành vi mới thể hiện rõ ràng hơn) Bỏ dần những hoạt động củng cố mà vẫn duy trì được hành vi mới để hành vi mới được thiết lập trong một bối cảnh khác không bị phụ thuộc vào các hoạt động thiết lập Củng cố từng thời gian (củng cố ngắt đoạn) cần thiết để hành vi mới được nhắc lại và duy trì theo yêu cầu Củng cố từng phần của củng cố ngắt đoạn Củng cố theo lịch…[3, tr.56]
Trong hoạt động nhóm có 3 kỹ thuật thường được sử dụng là:
- Dạy các kỹ năng thí dụ kỹ năng ứng xử (lời lẽ, cử chỉ, v.v.)
- Dạy cách biện hộ ý kiến của mình (phát biểu quan điểm không làm người khác bực mình, trình bày những mối quan tâm của mình không ảnh hưởng đến người khác)
- Đóng vai nêu lên được các chi tiết phức tạp
Người DTTS có điểm xuất phát khá thấp, cái nghèo, cái thất học nó mang tính liên thế hệ ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân tại đây khiến
họ quen dần với nó, sống chung và chấp nhận nó và không có ý định thay đổi Cách nghĩ ngắn, thói quen bình thường đã hình thành từ đời này sang đời khác Chính những suy nghĩ đó đã góp phần trì hoãn sự phát triển của
Trang 37họ, họ không ý thức được về việc hội nhập, về thay đổi mà chấp nhận để chung sống
Cách tiếp cận nhận thức hành vi rất cần thiết ở nhóm người này để nâng cao nhận thức cho họ trong toàn bộ các lĩnh vực Trong giáo dục cũng không ngoại lệ, khi họ thấy được việc học là cần thiết, học mang lại cho họ những lợi ích nhất định thì họ sẽ dần thay đổi nếp nghĩ Việc hình thành một nhận thức mới rồi hình thành hành vi mới là rất lâu Vì vậy phải thực hiện đồng bộ và xây dựng những mục tiêu cụ thể để có thể đạt được Khi hướng cho các em vào một nhóm qua quá trình các em sẽ sao chép, bắt chước những kỹ năng của nhau qua đó tái cấu trúc lại nhận thức thiết lập được hành vi mới mà củng cố hành vi đó
2 Các khái niệm công cụ
2.1 Một số khái niệm về công tác xã hội
- Khái niệm công tác xã hội
Tại Đại hội Liên đoàn công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế ở Canada năm 2004, công tác xã hội được khẳng định là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi, phát triển của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội), vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của cá nhân, gia đình và cộng đồng, công tác xã hội giúp cho con người phát triển hài hòa và đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người dân [15, tr.12]
Tác giả cho rằng “Công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn, một nghề chuyên môn với hệ thống lý thuyết, kỹ năng phong phú nhằm hỗ trợ những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội củng cố, tăng năng lực vượt qua hoàn cảnh khó khăn trước mắt Hoạt động này phải nằm
Trang 38trong sự quy định của luật pháp cũng như tuân theo tôn chỉ, đạo đức nghề nghiệp của ngành nhằm tiến tới sự công bằng bình đẳng và an sinh xã hội”
- Công tác xã hội nhóm
Là tiến trình nhân viên công tác xã hội sử dụng những tiến trình sinh hoạt nhóm nhằm giúp các cá nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm suy nghĩ với nhau, giúp họ nhận thức thay đổi hành vi nhằm thiết lập những hành vi mới phù hợp với hoàn cảnh [11, tr.34]
- Lý thuyết công tác xã hội
Lý thuyết CTXH từ đâu mà có? Theo Thelma Lee – Mendoda (2008) cũng giống như những ngành nghề khác , kiến thức CTXH vay mượn từ những khoa học khác được hình thành và kiểm chứng trong những khoa học cơ bản (tâm lý học, nhân chủng học, xã hội học…), từ những nghề khác, và kiến thức của chính nghề CTXH Như Mendoda (2008;147) đã trích dẫn, Alfred Kadushin cho rằng nền tảng kiến thức và khoa học của CTXH là một chủ đề toàn diện bao gồm cả thực tiễn, lý thuyết, kỹ năng và thái độ cần thiết để thực hiện một cách hiệu quả và hữu ích [15, tr.42]
Theo Brenda Dubois và Krogsrud Miley trong cuốn sách CTXH – một nghề cho phép (2005: 50-52), nền tảng kiến thức của CTXH bao gồm
tư duy và phương thức nhằm hiểu biết các hành vi của con người và môi trường xã hội [21, tr,41 ] Đối với họ, đào tạo CTXH bao gồm cả quan điểm về khoa học chung và cả khoa học nghề nghiệp chuyên môn Nền tảng khoa học chung cung cấp cho con người cái nhìn tổng quát và khoa học nền tảng kiến thức nghề nghiệp trang bị cho sinh viên các công cụ để
có cách nhìn phê phán với khả năng phân tích các nội dung khoa học chuyên môn như lịch sử và nề tảng triết lý của CTXH, các lĩnh vực thực
Trang 39hành CTXH, các mô hình lý thuyết cũng như thực hành CTXH, các vấn đề
về chính sách về luật pháp và xã hội, những ảnh hưởng của văn hóa, nghiên cứu và sự tự nhận thức.[15, tr.42]
- Các kỹ năng của công tác xã hội nhóm
Hiểu một cách đơn giản thì kỹ năng là năng lực hoạt động để thực hiện một công việc nào đó trôi chảy hơn, đạt kết quả cao hơn Để có một kỹ năng thì con người phải có kiến thức về kỹ năng đó, có kinh nghiệm và rèn luyện qua nhiều lần thì sẽ bồi dưỡng được kỹ năng Đối với nhân viên
CTXH thì kỹ năng CTXH được hiểu là “sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm vào các hoạt động trợ giúp cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội của họ một cách có hiệu quả góp phần đảm bảo nền an sinh xã hội”[22.tr,64]
Theo tác giả Hà Thị Thư, kỹ năng CTXH nhóm được chia thành hai
hệ thống kỹ năng Hệ thống kỹ năng chung bao gồm kỹ năng giao tiếp, lắng nghe, tạo lập mối quan hệ, quan sát, vấn đàm và kỹ năng đặt câu hỏi Hệ thống kỹ năng chuyên biệt dành cho CTXH nhóm bao gồm kỹ năng tổ chức giao tiếp nhóm, thúc đẩy tiến trình nhóm, điều phối, và kỹ năng tự bộc lộ [22, tr,67]
- Công tác xã hội với thiếu niên bỏ học
CTXH với thiếu niên bỏ học được hiểu là một tiến trình làm việc của NVCTXH với nhóm đối tượng thiếu niên bỏ học và các yếu tố liên quan Trong đó NVCTXH sử dụng hệ thống kiến thức, lý thuyết, kỹ năng nghề nghiệp làm việc với nhóm học sinh và những đối tượng có liên quan (bao gồm nhà trường, gia đình, cộng đồng) nhằm giúp cho nhóm học sinh nhận thức được vấn đề và hợp tác với NVCTXH trong việc tìm giải pháp để hạn
Trang 40chế tình trạng này, góp phần vào việc bình đẳng trong việc tiếp cận với hệ thống giáo dục của nhóm dân cư người DTTS
Khi ứng dụng nhóm vào tiến trình trợ giúp cho những cá nhân là HSDTTS bỏ học cần chú ý đến sự học hỏi lẫn nhau của các thành viên nhóm, việc thỏa thuận để hình thành nên những chuẩn mực nhóm, việc dùng áp lực nhóm để giúp các thành viên học hỏi, kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hành những hành vi mới
2.2 Một số khái niệm về học sinh dân tộc thiểu số bỏ học
- Trình độ học vấn
Theo tổ chức UNESCO trình độ học vấn đã đạt được của một người được hiểu là lớp học cao nhất mà người đó đã hoàn thành trong hệ thống giáo dục quốc dân
Tình trạng đi học: là hiện trạng của một người đang theo học một lớp nào đó thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
- Dân tộc thiểu số
Khái niệm nhóm người thiểu số được dùng để chỉ các nhóm người có những sự khác biệt về một phương diện nào đó với cộng đồng người chung trong xã hội Họ có thể khác biệt với nhóm người đa số về phương diện ngôn ngữ và văn hóa Khác biệt về nhận thức và tôn giáo, về hoàn cảnh kinh tế, điều kiện sống và thu nhập… đi kèm theo đó là sự khác biệt về phương thức ứng xử của cộng đồng đối với chính họ
Nhà xã hội học Mỹ Louis Wirth năm 1945 đã đưa ra một định nghĩa khá thông dụng về nhóm người thiểu số “có thể gọi là mọi nhóm người, do một số nét đặc thù về ngoại hình hay văn hóa, bị đối xử khác biệt và không