Chính vì vậy, mỗi một chính sách này chưa thể được coi là một hướng dẫn toàn diện đối với các hoạt động về thu hồi đất và tái định cư mà cần có những nghiên cứu, hướng dẫn chuyên sâu hơn
Trang 1o0o
Nguyễn Văn Trung
[NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG]
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Phương Đình
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà nội, 2007
Trang 2
MỤC LỤC Trang PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp luận 4
5 Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu 8
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN NGHIÊN CỨU 10
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.2.1 Một số lý thuyết xã hội học 12
1.2.2 Quan điểm của Chính phủ về tái định cư 16
1.3 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 18
1.3.1 Nhu cầu: 18
1.3.2 Tái định cư và Phục hồi cuộc sống 23
1.4 KHU VỰC NGHIÊN CỨU 25
1.4.1 Khái quát chung về thành phố Hải Phòng 25
1.4.2 Quá trình Thu hồi đất và tái định cư 31
CHƯƠNG 2: NHU CẦU CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC HỖ TRỢ 35
2.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI 35
2.1.1 Dân số 35
2.1.2 Tình trạng cư trú 37
2.1.3 Thu nhập và chi tiêu 38
2.1.4 Tiện nghi trong gia đình 41
Trang 3
2.1.5 Tình trạng sử dụng đất 41
2.1.6 Tình trạng sở hữu nhà 43
2.2 SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 43
2.2.1 Sản xuất nông nghiệp 43
2.2.2 Chăn nuôi 45
2.2.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ 45
2.3 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẨT 46
2.3.1 Tác động thu hồi đất bởi dự án 46
2.3.2 Một số tác động tiêu cực khác tại khu vực nghiên cứu 48
2.3.3 Tác động của việc thực thi chính sách 49
2.4 PHÂN TÍCH CÁC NHU CẦU CỦA NGƯỜI DÂN 50
2.4.1 Quan điểm của các hộ dân về việc thu hồi đất 51
2.4.2 Nguyện vọng về việc Thu hồi đất và Tái định cư thoả đáng 59
2.4.3 Nguyện vọng về phương án tái định cư 64
2.4.4 Các phương án hỗ trợ khác 70
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHẦN PHỤ LUC 81
Trang 4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 6: Bảng tổng hợp hộ dân bị ảnh hưởng đất nông nghiệp theo phường 47
Bảng 8: Tương quan giữa nghề nghiệp và sự ủng hộ dự án của các gia đình 54
Bảng 9: Tương quan giữa thời gian cư trú và sự ủng hộ dự án của hộ dân 56
Bảng 10: Tương quan giữa tình trạng cư trú và sự ủng hộ dự án của hộ dân 57
Bảng 11: Tương quan giữa hộ SXKD và sự ủng hộ dự án của hộ dân 57
Bảng 12: Tương quan giữa yêu tố VSMT và sự ủng hộ dự án của hộ dân 58
Bảng 13: Tương quan giữa nghề nghiệp và sự ủng hộ dự án của các gia đình 60
Bảng 14: Tương quan giữa đặc điểm sinh sống và phương án phân lô 66
Bảng 15: Tương quan giữa mục đích sử dụng nhà và phương án phân lô 67
Bảng 16: Tương quan giữa đặc điểm sinh sống và phương án căn hộ chung cư 68
Bảng 17: Tương quan giữa mục đích sử dụng nhà và căn hộ chung cư 69
Trang 5Sơ đồ 10: Sự sẵn sàng ủng hộ của các hộ dân ảnh hưởng đất nông nghiệp 54
Sơ đồ 13: Nhu cầu của người dân về phương án tái định cư tại chỗ 65
Trang 7
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, Việt nam đã có những bước phát triển khá tích
cực trong các lĩnh vực phát triển xã hội, đặc biệt trong các vấn đề về xoá đói giảm
nghèo, cấp nước và vệ sinh nông thôn, cơ sở hạ tầng, vấn đề giới…Sự phát triển
kinh tế thường được dựa trên việc xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng nhằm đáp
ứng các nhu cầu về phát triển dân số và phát triển xã hội Việc xây dựng các công
trình cơ sở hạ tầng này, đến lượt nó lại ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư thông qua
việc thu hồi đất và/hoặc ảnh hưởng đến các công trình hạ tầng khác và chính những
ảnh hưởng này lại có những tác động ngược lại đối với nền kinh tế xã hội và cộng
đồng nơi triển khai việc xây dựng Những tác động nói trên bao gồm việc thu hồi
đất, tái định cư… ảnh hưởng đến sinh kế người dân và có khả năng phá vỡ sự đoàn
kết của cộng đồng
Việc thu hồi đất và tái định cư nói trên có thể có những ảnh hưởng nghiêm
trọng mà không thể ước tính được về mặt kinh tế Việc phá vỡ các mối quan hệ
trong cộng đồng, đoàn kết xã hội đối với những cộng đồng bị ảnh hưởng cũng như
khả năng tái đoàn kết tại những khu vực sau tái định cư có thể trở lên trầm trọng
nếu không có những chính sách hỗ trợ hợp lý Chính vì vậy, một chính sách hỗ trợ
hợp lý trong kế hoạch tái định cư có thể sẽ trở thành một cơ hội phát triển, và điều
này cần thiết để xem xét các chính sách hỗ trợ tái định cư như một hợp phần trong
tổng thể của các dự án phát triển chứ không nên coi đó là một hoạt động riêng biệt
Điều này có nghĩa là cần có một nguồn lực cũng như một thiết chế phù hợp trong
việc chuẩn bị cũng như thực hiện các hoạt động tái định cư Thực hiện các chính
sách tái định cư như một chương trình phát triển không chỉ giúp cộng đồng nơi thực
hiện dự án ổn định cuộc sống, đảm bảo mức sống ít nhất là bằng hoặc hơn so với
trước khi thực hiện dự án mà còn thúc đẩy việc đảm bảo tính bền vững của các dự
án phát triển
Trang 8
Cho đến nay, Chính phủ Việt nam đã ban hành nhiều hướng dẫn trong việc
thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đối với các dự án có thu hồi
đất như Luật đất đai sửa đổi năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường
hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất…và các Quyết định của từng tỉnh thành nhằm
hướng dẫn và cụ thể hoá việc triển khai thực hiện các chính sách nêu trên Tuy
nhiên, do tính chất của mỗi dự án lại khác nhau, hoặc là thu hồi đất trong khu vực
đô thị (tái định cư đô thị) hoặc là thu hồi đất theo tuyến (tái định cư tuyến)… và sự
khác khau này còn phụ thuôc trực tiếp vào điều kiên kinh tế xã hội riêng biệt của
từng khu vực, từng địa phương nơi triển khai dự án Chính vì vậy, mỗi một chính
sách này chưa thể được coi là một hướng dẫn toàn diện đối với các hoạt động về thu
hồi đất và tái định cư mà cần có những nghiên cứu, hướng dẫn chuyên sâu hơn về
đặc điểm kinh tế xã hội, tác động của thu hồi đất đối với cộng đồng và nhu cầu của
người dân trong việc hỗ trợ phục hồi sau tái định cư
Bên cạnh đó, thực tế công tác tái định cư hiện nay trong các dự án phát triển
nói chung đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc mà một trong những nguyên nhân
chính là các dự án này chưa nhận được sự đồng thuận từ phía người dân Về nguyên
tắc, nếu chúng ta hiểu được đối tượng sắp sửa di dời là ai, thì sẽ có cơ sở đề ra các
giải pháp và biện pháp hỗ trợ một cách thiết thực và hiệu quả nhất Ngoài ra, trong
cấu thành các chi phí bồi thường, nhiều dự án hiện nay dường như cũng chưa chú
trọng đến công tác hỗ trợ những thiệt hại "vô hình" mà các hộ phải gánh chịu
Những thiệt hại này cũng có thể "lượng hoá" một phần từ kết qủa điều tra xã hội
học để bổ sung trong chính sách bồi thường1
Như vậy, thiếu các cuộc điều tra xã hội học về khảo sát điều kiện kinh tế xã hội tại các địa phương, về nhu cầu phương
án bồi thường và tái định cư, nhu cầu hỗ trợ sau tái định cư…đã tạo một khoảng
cách giữa các yếu tố thực thi của dự án với mong muốn của người dân, hay nói một
cách khác thiếu các cuộc điều tra xã hội học trong quá trình chuẩn bị và triển khai
việc thu hồi đất và tái định cư đã khiến cho các dự án không đáp ứng được nhu cầu
thực tế của người dân và nhiều khả năng không đạt được sự thành công cao
1Nguồn tin: T/C Sài Gòn Đầu tư & Xây dựng, số 7/2006, Th.S Dư Phước Tân
Trang 9
Về vấn đề này, đề tài nghiên cứu sẽ đi sâu nghiên cứu tìm hiểu và lý giải
điều kiện kinh tế xã hội của một số khu dân cư điển hình tại thành phố Hải Phòng,
tác động của việc thu hồi đất đối với cộng đồng dân cư và từ đó xác định nhu cầu
của người dân trong việc phục hồi cuộc sống, đảm bảo cuộc sống của họ ít nhất là
bằng và/hoặc hơn so với mức trước khi thực hiện dự án Mong muốn kết quả của đề
tài nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc xây dựng chính sách, chương trình phát triển
chung của nhà nước có liên quan đến lĩnh vực bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước
thu hồi đất trong các dự án phát triển, từ đó góp phần vào việc đảm bảo ổn định đời
sống và công bằng cho người dân trong khu vực dự án
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích và đánh giá nhu cầu phục hồi cuộc sống sau tái định cư của
người dân bị thu hồi đất trong các chương trình dự án phát triển;
Trên cơ sở nhận diện nhu cầu, đưa ra các khuyến nghị cần thiết nhằm
nâng cao hiệu quả của các hỗ trợ phục hồi cuộc sống sau tái định cư
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, nội dung chính của nghiên cứu sẽ bao gồm
các nhiệm vụ như sau:
Hệ thống hoá lý thuyết xã hội học liên quan, xây dựng các khái niệm
công cụ phục vụ đề tài nghiên cứu;
Khảo sát và phân loại các nhu cầu phục hồi cuộc sống sau tái định cư
Thu thập, phân tích kết quả thực hiện các chương trình hỗ trợ/phục hồi
cuộc sống trong kế hoạch tái định cư của một số dự án phát triển có liên
quan
Luận chứng cho các khuyến nghị cần thiết
Trang 10
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là nhu cầu của người dân về việc hỗ
trợ sau tái định cư trong các dự án có thu hồi đất, nghiên cứu trường hợp tại thành
phố Hải Phòng Việc khảo sát và đánh giá nhu cầu này sẽ được tiến hành thông qua
việc nghiên cứu các tài liệu thứ cấp (các văn bản có liên quan), đánh giá việc thực
hiện của một số dự án điển hình (thông tin sơ cấp) và thông qua cuộc khảo sát các
hộ dân bị ảnh hưởng trong dự án có thu hồi đất Từ đó đưa ra các đánh giá kết luận
mang tính chủ quan và đề xuất các chương trình phù hợp
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm các nội dung sau:
Nghiên cứu về nhu cầu ổn định cuộc sống của người dân như quan điểm
của người dân về thu hồi đất, nhu cầu về đảm bảo tiến độ, nhu cầu về về
việc thực thi chính sách phù hợp…
Nghiên cứu về các nhu cầu của người dân về các phương án tái định cư
bao gồm phương án chia lô đất tái định cư (có sẵn CSHT), phương án căn
hộ chung cư, phương án tái định cư tại chỗ (bồi thường bằng tiền và hộ
dân tự lo chỗ ở)
Nhu cầu về các chương trình hỗ trợ khác như hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ giải
quyết việc làm khi có thu hồi đất
4 Phương pháp luận
4.1 Lý thuyết xã hội học
Phương pháp luận chung cho các nghiên cứu xã hội là; xã hội là một cấu trúc
có hệ thống, các bộ phận của thành hệ thống này có mối quan hệ với nhau; xã hội
Trang 11
luôn vận động, phát triển và chúng ta có thể định lượng được các hiện tượng và quá
trình xã hội Trong nội dung nghiên cứu của đề tài, có nhiều vấn đề được đặt ra và
cần phải tìm ra nguyên nhân, cách giải quyết Bên cạnh các vấn đề được xác định
thông qua hiện trạng thì cần thiết phải nghiên cứu và tìm ra tính quy luật của hiện
tượng nghiên cứu Chính vì vậy, việc nghiên cứu và áp dụng các lý thuyết xã hội
học là điều không thể thiếu trong nghiên cứu này
Phương pháp luận Mác-xít được sử dụng trong toàn bộ nội dung của đề tài
để làm cơ sở cho việc xem xét, giải thích các sự kiện xã hội trong mối quan hệ biện
chứng và trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội Như vậy phương pháp này
giúp cho việc xem xét sự vận động, biến đổi đời sống người dân và nhu cầu của họ
sau khi di dời, tái định cư khi bị ảnh hưởng bởi một dự án cụ thể
Đồng thời, phương pháp tiếp cận hệ thống cũng giúp xem xét quá trình biến
đổi về mức sống của các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất, di dời và tái
định cư bởi dự án tại Hải Phòng, từ đó xác định các nhu cầu về việc hỗ trợ sau tái
định cư và định hướng phát triển lâu dài đối với sinh kế của các hộ dân này trong
khu vực dự án nói chung
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
4.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trước khi tiến hành xây dựng đề tài, việc nghiên cứu và tham khảo các tài
liệu liên quan sẽ được tiến hành thận trọng nhằm xây dựng những ý tưởng và đề
cương chính cho đề tài Những tài liệu được tham khảo sẽ ban gồm các văn bản
luật, nghị định của chính phủ, các quyết định của các tỉnh/thành phố, các hướng dẫn
về tái định cư của các nhà tài trợ và các tài liệu, các nghiên cứu trước có liên quan
Việc đa dạng của các tài liệu nghiên cứu sẽ hỗ trợ trong việc có một cách
nhìn tổng quan về vấn đề và có một định hướng nghiên cứu phù hợp
4.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm
Trang 12
Thông thường, việc thu thập thông tin thông qua Phiếu điều tra sẽ được áp
dụng cho các phương pháp thu thập thông tin định lượng, chính vì vậy phương pháp
thảo luận nhóm trọng tâm sẽ được áp dụng nhằm thu thập thêm các thông tin định
tính, nội dung chủ yếu trong các cuộc thảo luận nhóm/hoặc phỏng vấn sâu bao
gồm:
o Nhận thức của cộng đồng về thu hồi đất và tái định cư;
o Mức độ hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường giải phóng
mặt bằng và tái định cư;
o Nhu cầu của người dân về các hỗ trợ sau tái định cư;
o Khảo sát và đánh giá mức độ tham gia của người dân trong việc thực hiện
các vấn đề tái định cư (tuyên tuyền, khiếu nại )
Đối tượng tham gia trong các cuộc thảo luận nhóm bao gồm hai phường khác
nhau là phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân và phường Đồng Quốc Bình thuộc quận
Ngô Quyền Mỗi nhóm thảo luận sẽ bao gồm từ 8-12 người, đây là các đối tượng
nằm trong khu vực của dự án và đặc biệt quan tâm tới các hộ tái định cư, các trường
hợp ảnh hưởng nặng, các nhóm dễ bị tổn thương (nhóm phụ nữ, người già, gia đình
có công với cách mạng )
4.2.3 Phương pháp phỏng vấn theo bảng hỏi
Thông tin được tập hợp và thu thập theo mẫu Phiếu điều tra được thiết kế
sẵn (Mẫu này sẽ được kèm theo trong Phụ lục của Đề tài) Mẫu cũng sẽ được thiết
kế phù hợp với việc thu thập thông tin tại từng quận, phường Phiếu điều tra được
áp dụng để thu thập một số thông tin cần thiết, cụ thể bao gồm:
o Điều kiện kinh tế xã hội các hộ dân trong khu vực dự án bao gồm các vấn
đề về nhân khẩu, tình trạng cư trú, nghề nghiệp, điều kiện sống…;
o Thu nhập và chi tiêu;
o Các nhu cầu hỗ trợ sau tái định cư
Trang 13
Cụ thể, 1.080 hộ dân trong phạm vi thành phố Hải Phòng đã được tiến hành điều
tra, cụ thể được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1: Bảng tổng hợp hộ gia đình được điều tra theo bảng hỏi
4.2.4 Phân tích dữ liệu và xây dựng đề tài
Phân tích số liệu: Số liệu và thông tin thu thập được được phân tích địa bàn
khu vực, và dạng tác động2 Công cụ cho việc phân tích và xử lý dữ liệu sẽ là phần
mềm SPSS for Window, phiên bản 11.5
4.2.5 Chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu: phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào
các đối tượng hộ gia đình có thu hồi đất trong các dự án Theo đó 1.080 hộ dân
trong bốn (04) quận nội thành bao gồm các quận: quận Hồng Bàng, quận Lê Chân,
quận Hải An và quận Ngô Quyền sẽ được tiến hành điều tra
Dung lượng mẫu: 1.080 hộ dân trên địa bàn 04 quận nội thành nói trên được
tiến hành điều tra theo Phiếu điều tra, ngoài ra các hộ dân sẽ được tham vấn và
2
Loại hình tác động ở đây được hiểu là thu hồi đất đối với đất ở và đất nông nghiệp
Trang 14
phỏng vấn sâu nhằm thu thập các thông tin định tính về nhu cầu hỗ trợ sau tái định
cư
5 Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Giả thuyết nghiên cứu
o Các yếu tố thực thi chính sách có ảnh hưởng đến việc chấp nhận đền bù
giải toả của người dân
o Hoạt động thu hồi đất và tái định cư trong các dự án phát triển có một số
ảnh hưởng theo hướng tiêu cực đến mức sống của người dân có thu hồi
đất, tuy nhiên nhóm dân cư nông thôn có xu hướng đồng thuận với dự án;
o Các yếu tố nghề nghiệp, đặc điểm cư trú, điều kiện sống có ảnh hưởng
đến nhu cầu hỗ trợ sau tái định cư;
o Người dân bị ảnh hưởng trong khu vực dự án có nhu cầu cấp thiết về việc
hỗ trợ sau tái định cư, trong đó tập trung vào phương án cấp lô đất tái
định cư
5.2 Khung lý thuyết
Nhu cầu hỗ trợ sau tái định cư của người dân trên địa bàn nghiên cứu đã
được thể hiện thông qua cuộc điều tra kinh tế xã hội và điều tra nhu cầu, nguyện
vọng của người dân bị tác động của việc thu hồi đất, mà các tác động ở đây được
thể hiện qua tác động trực tiếp của dự án cũng như tác động và/hoặc kinh nghiệm từ
những dự án trước tại khu vực nghiên cứu
Trang 15
- Kinh nghiệm từ dự án khác: nhiều dự án khác đã/đang diễn ra trên địa bàn
thành phố Hải Phòng đang gặp nhiều khó khăn trong khâu thu hồi đất và giải
phóng mặt bằng
+ Biến số phụ thuộc
Các nhu cầu hỗ trợ sau tái định cư của hộ gia đình Trong nghiên cứu này, các
nhu cầu đó được phân làm ba loại chính:
- Nhu cầu về ổn định cuộc sống
- Nhu cầu về phương án tái định cư
- Nhu cầu về các chương trình hỗ trợ
Sơ đồ 1: Khung lý thuyết của nghiên cứu
CÁC DỰ ÁN
CÓ THU HỒI ĐẤT
Các yếu tố thực thi chính sách
Nhu cầu hỗ trợ sau tái định cư
Nhu cầu về phương án tái định cư ( phương án phân lô đất, phương án nhà chung
cư, phương
án bồi thường bằng tiền mặt
Nhu cầu các chương trình
hỗ trợ (hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ tìm việc làm, hỗ trợ học nghề)
Nhu cầu về
ổn định cuộc sống (nhận thức, sự ủng
hộ với dự án, các nguyện vọng )
Đặc điểm kinh tế xã hội
Điều kiện sinh sống
(ô nhiễm, vệ sinh)
Đặc điểm nhân khẩu
xã hội của nhóm dân
Trang 16
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN NGHIÊN CỨU
Trong những năm qua do yêu cầu của cả lý luận và thực tiễn, đã có nhiều
công trình nghiên cứu và tài liệu hướng dẫn về vấn đề thu hồi đất và tái định cư Có
thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau:
- Thứ nhất, chuyên đề nghiên cứu “Đánh giá thực trạng, hoàn thiện và cụ
thể hóa chính sách về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư thực hiện
dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới Thủ Thiêm” (Viện Kinh tế Thành
phố Hồ Chí Minh, 2005)
Dự án xây dựng khu đô thị mới Thủ Thiêm sau nhiều năm chuẩn bị vẫn không
thể đi vào xây dựng do vướng mắc ở khâu thu hồi đất và giải phóng mặt bằng
Chính vì vậy, Viện Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã được giao để tiến hành một
cuộc đánh giá nguyên nhân và đề xuất khuyến nghị phù hợp nhằm mục tiêu cuối
cùng là thúc đẩy tiến độ thực hiện bồi thường cơ bản hoàn thành trong quý III/2006,
đồng thời đảm bảo ổn định đời sống các hộ dân di dời Báo cáo chuyên đề đã tiến
hành đánh giá hiện trạng, xác định nguyên nhân những vướng mắc trong quá trình
xây dựng và áp dụng thực hiện các qui định về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái
định cư của dự án xây dựng khu đô thị mới Thủ Thiêm Từ đó đề xuất và luận
chứng những nội dung chính cần điều chỉnh về chính sách và giải pháp bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư, đảm bảo tính khả thi về mặt tài chính và có phương thức tổ
chức thực hiện thích hợp
Trang 17
- Thứ hai, “Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn”
(TS Phạm Mộng Hoa – TS Lâm Mai Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội,
2000)
Với công trình này, các tác giả đã tập trung trình bày nội dung của các Nghị
định, Thông tư quy định về mặt pháp lý đối với việc thu hồi đất và tái định cư, trách
nhiệm của nhà nước đối với người bị giải toả; đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết
và hạn chế của chính sách hiện hành trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa chính sách
thu hồi đất của Việt Nam với chính sách tái định cư của các tổ chức quốc tế Ngoài
ra, tác giả cũng đề xuất kiến nghị, bổ sung và điều chỉnh những chính sách hiện
hành, làm cho những chính sách này phù hợp với yêu cầu thực tiễn
- Thứ ba, “Chính sách di dân Châu Á” (Dự án VIE/95/2004 Nxb Nông
nghiệp – Hà nội, 1998)
Trong công trình nghiên cứu này dã có nhiều bài viết đề cập những góc độ
khác nhau của việc thu hồi đất Cụ thể trong bài viết “Chính sách tái định cư do sự
phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam” (từ trang 180-195) tác giả Trương Thị Ngọc
Lan đã bàn đến thực trạng của công tác bồi thường tái định cư hiện nay ở nước ta
và tập trung trình bày những nội dung chính của các văn bản pháp lý liên quan đến
thu hồi đất và tái định cư Tiếp theo, bài viết “di dân nhập cư với vấn đề phát triển
một đô thị mới như Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Lê Văn Thành bước đầu đề
cập đến những khó khăn, hạn chế về việc làm mà người dân phải đương đầu
- Thứ tư, “Cẩm nang về tái định cư, Hướng dẫn thực hành” (Ngân hàng
Phát triển Châu Á, 1995)
Trong tài liệu này, các vấn đề về tái định cư bắt buộc, chính sách bồi thường,
hỗ trợ và chương trình phục hồi cuộc sống đã được đề cập và hướng dẫn thực hiện
Mục tiêu của việc thực hiện công tác tái định cư là đảm bảo mức sống của người
dân bị ảnh hưởng ít nhất là bằng hoặc hơn so với thời điểm trước khi thực hiện dự
án
Trang 18
Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam khái niệm thu hồi đất và tái định cư mới
chỉ xuất hiện trong một số năm gần đây, các nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều,
đặc biệt là vẫn thiếu nhiều các nghiên cứu chuyên sâu Các nghiên cứu về vấn đề tái
định cư chủ yếu tiếp cận trên phương diện cơ sở pháp lý hoặc hướng dẫn thực hiện,
tức là quan tâm xem xét các cơ chế chính sách hiện hành về thu hồi đất và tái định
cư, còn việc nghiên cứu về thực trạng tác động của tái định cư đối với đời sống
người dân và hơn nữa, nhu cầu về hỗ trợ của người dân sau tái định cư hầu như
chưa được quan tâm đúng mức hoặc mới chỉ là bước đầu Đến nay vẫn chưa có
nhiều những công trình nghiên cứu đề cập một cách toàn diện sâu sắc về nhu cầu hỗ
trợ của người dân có thu hồi đất ở Việt Nam nói chung và ở thành phố Hải Phòng
nói riêng Do vậy, nghiên cứu làm rõ “Nhu cầu của người dân về việc hỗ trợ sau tái
định cư, nghiên cứu trường hợp tại thành phố Hải Phòng” đang là một điều rất cần
thiết
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 Một số lý thuyết xã hội học
1.2.1.1 Lý thuyết Biến đổi xã hội
Mọi xã hội đều có những biến đổi mỗi ngày theo những cách thức, mức độ,
thời điểm và nhịp độ khác nhau Những biến đổi đều ít nhiều có sự kế thừa từ quá
khứ của nó và theo đuổi một mẫu hình hay một dự định mới được cụ thể rõ ràng
Vậy những trường hợp nào được coi là biến đổi xã hội?
Thứ nhất, biến đổi xã hội tất yếu là một hiện tượng tập thể, tức là nó phải bao
hàm một tập thể hay một khu vực được đánh giá như một tập thể; nó phải tác động
tới những điều kiện hay những lối sống hay thậm chí đến thế giới tinh thần không
chỉ của một vài cá nhân
Thứ hai, một biến đổi xã hội phải là một biến đổi cấu trúc, tức là người ta
phải có thể quan sát được sự thay đổi trong tổng thể hay trong một vài bộ phận của
Trang 19
tổ chức xã hội Thực tế, để nói về sự biến đổi xã hội, chủ yếu là người ta có thể chỉ
ra được sự thay đổi về những thành phần cấu trúc hay văn hoá của tổ chức xã hội và
có thể mô tả một cách đầy đủ và chính xác nhất về những thay đổi đó
Thứ ba, giả định rằng trước kia người ta có thể xác định được sự biến đổi cấu
trúc Nói cách khác, người ta có thể mô tả được tổng thể những chuyển đổi hay sự
tiếp nối của những chuyển đổi đó giữa hai hay nhiều thời điểm từ trước đó (giữa các
điểm T1, T2 Tn) Thực tế người ta chỉ có thể đánh giá và đo lường sự biến đổi xã
hội đối với một thời điểm tham khảo trong quá khứ Từ thời điểm tham khảo này
người ta có thể nói rằng đã có sự biến đổi, có cái đã biến đổi và trong phạm vi nào
đó đã có sự biến đổi
Thứ tư, để thực sự là một biến đổi cấu trúc thì mọi biến đổi xã hội phải có
tính liên tục, tức là những chuyển đổi quan sát được không phải chỉ là những
chuyển đổi bề ngoài và trong chốc lát Ít nhất những chuyển đổi đó phải kéo dài hơn
nhiều so với một phương thức nhất thời nào đó
Có thể định nghĩa về sự biến đổi xã hội như sau: Biến đổi xã hội là tất cả
những chuyển đổi đã quan sát được trước đây có tác động, không chỉ tạm thời hay
chốc lát, đến cấu trúc hay chức năng của tổ chức xã hội của một tập thể nào đó và
thay đổi tiến trình lịch sử của tập thể đó
Các nhà xã hội học theo trường phái chức năng quan niệm rằng: “Biến đổi xã
hội là biến đổi các chức năng tương ứng với các thiết chế xã hội”
Marx và Engel đã giải thích nguồn gốc và sự tiến triển của xã hội đô thị,
phân tích sự kết tinh ở thời kỳ hiện đại và chỉ ra rằng cần thiết phải đấu tranh làm
sao để có thể kích động là làm chai cứng hai giai cấp đối lập: giai cấp của những
người nắm giữ và kiểm soát các phương tiện sản xuất và giai cấp vô sản hoàn toàn
bị mất hết quyền lợi
Trên cơ sở lý thuyết: “lý thuyết cấu trúc-chức năng” và “Lý thuyết biến đổi
xã hội”, phần nào chúng ta có thể hiểu được rằng quá trình đô thị hoá và chỉnh trang
đô thị là một xu thế khách quan và tất yếu trong tiến trình phát triển của đất nước
Trang 20
theo định hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá Bản chất của đô thị hoá là sự phát
triển các khu dân cư và quá trình quy hoạch, chỉnh trang đô thị để đảm bảo sự phát
triển bền vững, đồng thời quá trình này cũng tạo ra sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ
cấu lao động, tổ chức dân cư và các tổ chức xã hội khác
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, biến đổi xã hội được xác định như là
sự thay đổi về vị trí, địa điểm và điều kiện sinh sống của người dân trong khu vực
nghiên cứu Nghiên cứu sẽ xác định và nêu ra các khuynh hướng cho những sự biến
đổi đó và hơn nữa trong việc đề tài này, nghiên cứu không chỉ xem xét những trạng
thái di động ngang (di động từ địa điểm sinh sống này sang địa điểm sinh sống
khác mà chủ yếu tập trung vào các di động dọc, nghĩa là tìm hiểu, phân tích về sự
biến đổi các mức sống cũng như điều kiện sống của nhóm dân cư khi có dự án thực
hiện
1.2.1.2 Tiếp cận theo Lý thuyết di dân
Cho đến nay đã có nhiều quan niệm khác nhau về di dân, tuy nhiên có thể
hiểu di dân theo hai cấp độ: theo nghĩa rộng, di dân là sự di chuyển của người dân
trong không gian và thời gian nhất định Theo quan niệm này thì di dân chỉ mọi sự
vận động, dịch chuyển của dân cư; theo nghĩa hẹp thì di dân là sự di chuyển của dân
cư từ một đơn vị lãnh thổ này sang đơn vị lãnh thổ khác, nhằm xác lập nơi cư trú
mới trong một khoảng thời gian nhất định
Như vậy theo quan niệm này thì di dân được hiểu là sự di chuyển dân cư gắn
với việc thiết lập nơi cư trú mới Đây cũng là quan niệm mà tác giả sử dụng để
nghiên cứu quá trình di dân tái định cư của người dân trong quá trình thực hiện chủ
trương thu hồi đất và tái định cư nhằm chỉnh trang đô thị ở Hải Phòng
Có nhiều cách phân loại các hình thức di dân khác nhau, theo độ dài thời
gian cư trú, có các hình thức di dân lâu dài, tạm thời và chuyển tiếp Theo khoảng
cách người ta phân biệt di dân xa hay gần, giữa nơi đi và nơi đến Trên bình diện
chung có thể chia thành di dân quốc tế và di dân nội địa Ở hình thức di dân nội địa,
Trang 21
để phục vụ cho mục đích nghiên cứu có thể chia thành di dân nội vùng và di dân
ngoại vùng
Theo tính pháp lý, người ta phân biệt di dân hợp pháp hay không hợp pháp;
di dân tự do hay có tổ chức; di dân tình nguyện hay bắt buộc Tuỳ vào mức độ can
thiệp của chính quyền mà người ta chia di dân theo loại này hay loại khác
Di dân và tái định cư đang là một trong những chủ trương lớn của thành phố
Hải Phòng nhằm thực hiện công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thị Đây cũng là xu
hướng tất yếu của quá trình đô thị hoá theo chiều sâu nhằm hướng tới một xã hội
văn minh hiện đại Quá trình di dân tái định cư tại một nơi cư trú mới, chẳng hạn
như tại một khu tái định cư của một bộ phận dân cư ở Đà Nẵng từ những năm 1998
đến nay là hình thức di dân lâu dài, thuộc diện di dân nội vùng có tổ chức, có kế
hoạch Người dân di chuyển nơi ở trong phạm vi thành phố, theo kế hoạch thu hồi
đất và giải phóng mặt bằng mà thành phố đã định sẵn
Di dân tái định cư vốn mang bản chất kinh tế-xã hội sâu sắc, vì vậy để quá
trình di dân tái định cư đạt được hiệu quả như mong muốn thì vấn đề đặt ra là phải
chú trọng tới các mục tiêu kinh tế xã hội, hay nói một cách khác cần quan tâm đến
tính bền vững về mặt xã hội của nó Khi người dân di chuyển, tức là có sự thay đổi
về mặt địa lý nơi cư trú, thay đổi về các cấu trúc xã hội hay nói một cách chung hơn
là việc di dân tái định cư gây ra phá vỡ đoàn kết xã hội, làm thay đổi cuộc sống sẵn
có của người dân Chính vì vậy, việc nghiên cứu, khảo sát nhu cầu của người dân
sau di dân tái định cư được đặc biệt quan tâm trong phạm vi nghiên cứu này
Về các nguyên nhân di dân chủ yếu, trên cơ sở quan sát hiện tượng di dân
trên thế giới, nhiều lý thuyết di dân đã được khái quát, trong đó phải kể đến lý
thuyết”lực hút-lực đẩy” do Ravenstein (1889) là người đầu tiên đưa ra
Theo GS.TS Tống Văn Đường thì khi phân tích các dòng di dân ở nước Anh,
Ravenstein cho rằng các yếu tố “lực hút” quan trọng hơn các yếu tố “lực đẩy” Ông
nói rằng: “ Các luật lệ tồi hoặc ngột ngạt, thuế khoá năng nề, khí hậu không thuận
hoà, môi trường xã hội xung quanh không cởi mở, thậm chí có sự cưỡng bức (trong
Trang 22
buôn bán, vận chuyển nô lệ), tất cả những điều đó đã và đang tạo ra các hình thức di
dân, tuy nhiên không có loại hình thức nào có thể so sánh với khát vọng tiềm ẩn
trong mỗi con người vươn lên “làm tốt hơn” cuộc sống của chính họ về phương
diện vật chất” Nghĩa là Ravenstein cho rằng khát vọng vươn lên phía trước, hướng
tới điều kiện sống tốt hơn, thuận lợi, đó mới chính là thực chất động cơ di dân của
phần lớn dân cư
Ngoài ra còn có các lý thuyết di dân mới lý giải các nguyên nhân di dân
Chẳng hạn một vài lý thuyết điển hình như mô hình phân tích “chi phí-lợi ích” trong
quyết định di dân, người di cư sẽ cân nhắc các yếu tố lực đẩy, lực hút và họ sẽ di cư
nếu như nhận thấy lợi ích có được nhiều hơn chi phí…
Như vậy các lý thuyết di dân đều chỉ ra yếu tố lợi ích, đặc biệt lợi ích kinh tế
là động cơ chính yếu tạo ra “lực hút” các dòng di cư đến các khu tái định cư mới
Đây chính là căn cứ để đi vào phân tích sự biến đổi mức sống và nhu cầu của họ sau
khu tái định cư Đời sống của người dân sau khi tái định cư sớm được ổn định và
được nâng cao là yếu tố quan trọng, quyết định sự ổn định chính trị xã hội và là tiền
đề để thúc đẩy nhanh tiến trình phát triển đô thị hoá theo chiều sâu của Thành phố
Hải Phòng nói riêng và cả nước nói chung trong những năm tới
1.2.2 Quan điểm của Chính phủ về tái định cư
Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về di dân tái định cư được thể
hiện qua các văn bản pháp lý liên quan đến bồi thường thiệt hại và tái định cư
Trong thời gian gần đây, sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 và Luật đất đai năm
2003 đã đặt cơ sở nền tảng pháp lý cho chính sách bồi thường, tái định cư và các
chính sách này ngày càng di dần đến sự hoàn chỉnh hơn để đáp ứng nhu cầu thực
tiễn
Bản hiến pháp sửa đổi được thông qua năm 1992 đảm bảo quyền dân chủ của
công dân, quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai và tài nguyên, quyền sử dụng
đất của các tổ chức và cá nhân; đặc biệt Hiến pháp 1992 còn bao gồm việc công
nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tư nhân về tài sản và sản xuất
Trang 23
Luật đất đai sửa đổi năm 2003 là văn kiện quan trọng làm cơ sở cho việc bồi
thường tái định cư cho những người bị mất nơi ở và phải tái định cư không tự
nguyện Luật đất đai đã xác định: đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước
thống nhất quản lý Các tổ chức và cá nhân không thể sở hữu đất đai nhưng lại được
giao quyền sử dụng đất và điều này tạo ra cơ sở pháp lý cho quyền được bồi thường
tái định cư của người dân khi Nhà nước thu hồi đất
Nghị định 197/2004/NĐ-CP là văn bản quy định về việc bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi nhà nước thu hồi đất …trong đó đã có những quy định chặt chẽ về
việc bồi thường, hỗ trợ cũng như việc lập khu tái định cư để tạo ra nơi ở mới và ổn
định đời sống và sản xuất của người dân sau tái định cư Các chính sách hỗ trợ
trong Nghị định này đã nêu và hướng dẫn chi tiết về các khoản hỗ trợ như hỗ trợ di
chuyển, hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm, các biện pháp hỗ trợ sản xuất và các
biện pháp hỗ trợ sản xuất và đời sống tại khu tái định cư… Đặc biệt gần đây nhất,
vào tháng 5/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/2007/ND-CP trong đó đưa
ra một số điều khoản sửa đổi, bổ sung các điều, khoản của Nghị định 197 như Điều
51 bổ sung công tác “Lập, thẩm định và xét duyệt phương án tổng thể về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư”, bao gồm các nội dung:
a) Các căn cứ để lập phương án;
b) Số liệu tổng hợp về diện tích các loại đất, hạng đất đối với đất nông
nghiệp, số tờ bản đồ, số thửa; giá trị ước tính của tài sản hiện có trên đất;
c) Số liệu tổng hợp về số hộ, số nhân khẩu, số lao động trong khu vực thu hồi
đất, trong đó nêu rõ số lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp, số hộ phải tái định
cư;
d) Dự kiến mức bồi thường, hỗ trợ và dự kiến địa điểm, diện tích đất khu vực
tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, phương thức tái định cư;
đ) Dự kiến biện pháp trợ giúp giải quyết việc làm và kế hoạch đào tạo
chuyển đổi ngành nghề;
Trang 24
e) Danh mục các công trình và quy mô các công trình của Nhà nước, của tổ
chức, của cơ sở tôn giáo, của cộng đồng dân cư phải di dời và dự kiến địa điểm để
di dời;
g) Số lượng mồ mả phải di dời và dự kiến địa điểm để di dời;
h) Dự toán kinh phí thực hiện phương án;
i) Nguồn kinh phí thực hiện phương án;
k) Tiến độ thực hiện phương án
Và Điều 62 “Việc tách nội dung bồi thường, hỗ trợ tái định cư thành tiểu dự
án riêng và trách nhiệm tổ chức thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với
dự án đầu tư thuộc các Bộ, ngành”, nghĩa là theo quy mô thu hồi đất nhất định, việc
triển khai công tác thu hồi đất và tái định cư được coi như một hợp phần riêng biệt
Điều này sẽ hỗ trợ cho việc xây dựng một hành lang pháp lý hoàn chỉnh, một thể
chế/tổ chức và kinh phí phù hợp, giúp cho việc thực hiện công tác thu hồi đất và tái
định cư ngày một hoàn thiện hơn
Các quy định chính sách này đã được thành phố nghiên cứu điều chỉnh theo
hướng ngày càng đảm bảo lợi ích thiết thực cho đối tượng người dân bị ảnh hưởng
bởi thu hồi đất và tái định cư Đây chính là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để
đi sâu phân tích thực trạng việc biến đổi mức sống và nhu cầu của người dân về hỗ
trợ sau tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hải Phòng
1.3 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.3.1 Nhu cầu:
Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các nghành khoa học nghiên
cứu sinh học và xã hội Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầu được tìm
thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham, Benfild,
Jevons, Mc Kulloch, Herman Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho
mọi sinh vật Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội
Trang 25
nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với
môi trường xung quanh
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu Các sách
giáo khoa chuyên nghành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những
định nghĩa mang tính riêng biệt Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa
nhu cầu “là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá
thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn
gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát
triển và tiến hóa”
Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó Nhưng “cái gì đó” chỉ là hình
thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của
nhu cầu mà có thể tạm gọi là "nhu yếu" Nhu yếu đang nói đến lại có thể được xem
là hình thức biểu hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn Như vậy khái niệm nhu
cầu và nhu yếu mang tính tương đối với nhau Điều đó cho thấy rằng nhu cầu của
cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắc
xích của hình thức biểu hiện và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển
và đa dạng hóa Tuy nhiên, để dễ nhận dạng, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất
được cấu thành bởi một nhu yếu và một hình thức biểu hiện
Hình thức biểu hiện nhất định được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhu cầu
nhất định Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thể làm
thỏa mãn nhu cầu đó Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu
cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác
nhau
Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu Alfred Marshal viết
rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn” Về vấn đề cơ bản của khoa học
kinh tế - vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầu
không có giới hạn
Trang 26
Aristotle đã cho rằng con người có hai loại nhu cầu chính: thể xác và linh hồn Sự
phân loại này mang tính ước lệ lớn nhưng nó ảnh hưởng đến tận thời nay và người
ta quen với việc phân nhu cầu thành "nhu cầu vật chất" và "nhu cầu tinh thần"
Ngoài ra còn tồn tại nhiều kiểu phân loại khác dựa trên những đặc điểm hay tiêu chí
nhất định
Trọng tâm chú ý của các nhà khoa học là xếp đặt nhu cầu theo một cấu trúc thứ bậc
Ý tưởng về thứ bậc của nhu cầu bắt đầu nảy sinh từ đầu thế kỉ trước Benfild viết:
“Quan điểm đầu tiên của luận thuyết về nhu cầu nói rằng sự thỏa mãn nhu cầu bậc
thấp trong thang độ nhu cầu sẽ sinh ra mong muốn được thỏa mãn nhu cầu bậc cao
hơn” Trong số các công trình nghiên cứu hiện đại có thể kể đến kết quả phân loại
như K Alderfer: tồn tại, quan hệ, nâng cao; D Mc Clelland: thành quả, tham dự,
quyền lực; V Podmarcow: đảm bảo, khuynh hướng, uy tín; V Tarasenko: tồn tại,
phát triển; A Maslow: sinh lý, an toàn, tham dự, (được) công nhận, tự thể hiện
Năm cấp bậc nhu cầu theo phân loại của A Maslow được xếp theo hình bậc thang
hay hình chóp kim tự tháp với thứ tự liệt kê như trên thể hiện quan điểm rằng sự
thỏa mãn nhu cầu theo thứ tự từ dưới lên Người ta đã chỉ ra rằng thực tế sự thỏa
mãn nhu cầu không nhất thiết phải tuân theo quy luật đó
Boris M Genkin chia nhu cầu ra hai nhóm: nhu cầu tồn tại và nhu cầu đạt mục đích
sống Nhu cầu tồn tại gồm nhu cầu sinh lí, nhu cầu an toàn và nhu cầu tham dự
Trong nhu cầu đạt mục đích có bốn nhóm: 1) giàu có về vật chất; 2) quyền lực và
danh vọng; 3) kiến thức và sáng tạo; 4) hoàn thiện tinh thần Tùy vào thiên hướng
của từng cá nhân mà một trong số bốn nhu cầu trên thể hiện nổi trội Có thể trong
một người hiện diện cả bốn dạng nhu cầu đó nhưng ở các giai đoạn khác nhau trong
đời
Tất cả các cách thành lập cấu trúc nhu cầu cá nhân từ trước đến nay có những hạn
chế nhất định Nếu số nhóm nhu cầu ít (gồm hai nhóm) thì phân loại nặng tính ước
lệ, giảm ý nghĩa phân tích Nếu số nhóm nhu cầu nhiều thì phân loại không đáp ứng
được tính bao trùm, nghĩa là khi đó còn nhiều dạng nhu cầu nằm ngoài các nhóm, ví
Trang 27
dụ như nhu cầu về tín ngưỡng, tự do Kết luận của các nhà khoa học là: sự cản trở
việc phân loại chính là không thể xác định được giới hạn của nhu cầu
Cách phân loại mới dựa vào phân tích bản chất của nhu cầu Trên quan điểm mỗi
nhu cầu được hình thành từ hình thức biểu hiện và nhu yếu nên có thể thực hiện
phân loại theo hai thành phần đấy
Hình thức biểu hiện được phân loại thông qua đối tượng của nhu cầu Chúng chính
là tất cả những gì có ý nghĩa đối với đời sống con người Đối tượng của nhu cầu có
thể là những sự vật cụ thể trong thế giới xung quanh, có thể là những yếu tố của tư
duy Nhận thức của con người và xã hội càng cao thì phạm vi đối tượng có ý nghĩa
càng rộng Như vậy đối tượng của nhu cầu được phân loại theo các lĩnh vực hoạt
động của con người: xã hội, kinh tế, chính trị, pháp luật, môi trường, tôn giáo, y tế,
văn hóa-giáo dục-khoa học, đời sống cá nhân Ranh giới của các lĩnh vực này không
hoàn toàn rõ nét vì có sự đan xen Tuy nhiên trong mỗi lĩnh vực hoạt động có sự
định hình mối liên kết đặc biệt giữa các đối tượng, tạo nên những "hệ thống giá trị"
mà vai trò của chúng là điều hòa sự mâu thuẫn giữa các nhu cầu khác nhau Đôi khi
chính những hệ thống giá trị này gây cản trở sự tiếp cận những đối tượng mới Hệ
thống giá trị có thể bị phá vỡ hoặc có sự thay đổi bổ sung tùy vào sự thay đổi của
môi trường sống
Nhu yếu được phân loại thành nhu yếu tuyệt đối và nhu yếu phát triển Nhóm thứ
nhất liên quan trực tiếp đến các hành vi bản năng và vô thức Hình thức biểu hiện,
hay đối tượng tương ứng, của chúng là không thể thay thế Sự không đáp ứng các
nhu yếu này sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho cơ thể sống Nhu yếu phát triển
là những nhu yếu mang tính phức tạp, là kết quả kết hợp của những nhu yếu tuyệt
đối và sự bổ sung những "đam mê bẩm sinh" (về mùi vị, màu sắc, âm nhạc, sự
chuyển động v.v.) Nhu yếu phát triển được chia thành ba nhóm dựa trên những đặc
điểm cơ bản nhất của hành vi Những đặc điểm này, cũng giống như các nhu yếu
tuyệt đối, không phụ thuộc vào tính chất của môi trường sống, vào thời điểm lịch
Trang 28
sử, vào các giá trị xã hội; chúng đặc trưng cho mọi sinh vật, mọi cơ thể sống và nói
lên sự tương tác qua lại của cá thể với môi trường Những nhu yếu đấy là:
o Nhu yếu nhận vào: là sự cần thiết tiếp nhận các đối tượng có ích cho cá thể
Đặc điểm của nó là hướng nhu cầu vào những đối tượng với mục đích tiếp
nhận chúng ở dạng chúng có;
o Nhu yếu phát ra: là sự cần thiết tác động vào các đối tượng bên ngoài và đôi
khi ngay chính cơ thể của bản thân Đặc điểm của nó là hướng nhu cầu vào
các đối tượng với mục đích làm thay đổi trạng thái của chúng bằng phương
pháp nào đó và theo một ý tưởng định sẵn (ý tưởng định sẵn: kết quả tổng
hợp của tư duy từ thông tin về những sự vật thực tế);
o Nhu yếu vị thế riêng: là sự cần thiết tạo vị trí của cá thể trong thế giới xung
quanh Đặc điểm của nó là hướng nhu cầu vào các đối tượng với mục đích
củng cố vị thế mà cá thể xác định một cách có ý thức đối với những cá thể
khác hoặc hoàn cảnh bên ngoài Nói cách khác, nhu yếu này bắt chủ thể phải
xác định vị trí và định hướng hoạt động của mình sao cho phù hợp với sự
thay đổi của thế giới xung quanh
Nhu yếu nhận vào và nhu yếu phát ra phản ánh một đặc tính nổi bật của con người
là sự mong muốn nhận thức thế giới Chúng khác nhau ở chỗ nhu yếu thứ nhất thể
hiện tính thụ động, còn nhu yếu thứ hai thể hiện tính chủ động Trong đời sống thực
tế một nhu cầu thường có chung ba đặc điểm kể trên, chúng bổ sung cho nhau theo
mối quan hệ “mục đích – phương tiện”, nhưng một trong các nhu yếu đó nổi trội
hơn cả (mục đích) Và vì thế có thể gọi những nhu cầu theo tên của nhu yếu tương
ứng nổi trội đó Nhu yếu phát triển hướng tới những đối tượng mới và thay đổi dần
những giá trị cũ để phù hợp với sự thay đổi thường xuyên của môi trường Phân tích
trên cho thấy tuy đối tượng của nhu cầu là vô hạn, song những nhu yếu phát triển cơ
bản chỉ tồn tại ở ba dạng kể trên
Như khái niệm và các phân tích về khái niệm nhu cầu ở trên, trong phạm vi nghiên
cứu của đề tài sẽ tập trung vào bao nhu cầu cụ thể, bao gồm:
Trang 29
1 Nhu cầu ổn định đời sống: bao gồm việc nghiên cứu và phân tích các
quan điểm của người dân về việc thu hồi đất và tái định cư, về các nhu
cầu và nguyện vọng của họ về việc giảm thiểu các tác động, xác định các
tác động sơ bộ theo quan điểm của người dân, nhu cầu về đảm bảo tiến
độ, nhu cầu được bồi thường hỗ trợ một cách thoả đáng và phù hợp…
2 Nhu cầu về các phương án tái định cư: phương án tái định cư nói chung
được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như: (i) theo phạm vi thì có
hai loại (1) tái định cư phân tán và (2) tái định cư tập trung; phân loại
theo hình thức thì có ba loại (1) tái định cư theo phương án phân lô đất có
sẵn CSHT, (2) tái định cư theo hình thức nhà chung cư cao tầng và (3) tái
định cư tự do, người dân nhận tiền bồi thường và tự lo chỗ ở Trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài, việc phân loại phương án tái định cư được xác
định theo hình thức
3 Nhu cầu về các chương trình hỗ trợ: ngoài các khoản tiền bồi thường và
hỗ trợ, nhằm giúp cho người dân có thể nhanh chóng phục hồi cuộc sống
và/hoặc thích nghi với cuộc sống mới thì các chương trình hỗ trợ sẽ là các
công cụ quan trọng Các chương trình phục hồi này có thể là hỗ trợ tín
dụng, hỗ trợ tìm kiếm việc làm và hỗ trợ đào tạo nghề mới Tùy theo đặc
điểm của từng khu vực dân cư mà áp dụng các chương trình phù hợp
Tóm lại, nhu cầu được đề cập trong nghiên cứu này chỉ tập trung vào các nhu cầu
thể xác, nhu cầu cho cá nhân, nhu cầu vật chất…hay nói chung nhất là các nhu cầu
cơ bản của con người Nhu cầu cơ bản ở đây chính là đảm bảo ổn định về đời sống,
nhu cầu về việc hỗ trợ khi có thu hồi đất và các nhu cầu khác…
1.3.2 Tái định cư và Phục hồi cuộc sống
Những người bị ảnh hưởng bởi dự án : có thể là một cá nhân, một hộ gia
đình, một công ty tư nhân hay nhà nước mà bị ảnh hưởng do việc thực hiện dự án
hoặc các hạng mục, tiểu dự án hoặc các thành phần liên quan của dự án sẽ có các
quyền sau:
Trang 30Trong một số quy định gần đây của các nhà tài trợ lớn như Ngân hàng thế giới,
Ngân hàng Phát triển Châu Á các hộ bị ảnh hưởng bởi dự án được gọi chung là hộ
di dời (DP: Displaced Person), và do đó trong báo cáo này, từ tái định cư áp dụng
cho cả các đối tượng bị ảnh hưởng một phần và các hộ ảnh hưởng toàn bộ
Tái định cư không tự nguyện là khi một dự án phát triển dẫn đến hoặc gây ra
những thiệt hại tái định cư không thể tránh khỏi, trong đó những người ảnh hưởng
không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải tái xây dựng cuộc sống, thu nhập và
các tài sản của họ ở một nơi khác
Kế hoạch Tái định cư là một kế hoạch hành động có giới hạn thời gian gồm
các nội dung như chiến lược Tái định cư, mục tiêu, ảnh hưởng, quyền lợi, khảo sát
kinh tế – xã hội, khung chính sách, khung pháp lý, biện pháp giảm thiểu các ảnh
hưởng, khu tái định cư, bồi thường, phục hồi thu nhập, giải quyết thực hiện tái định
cư, kế hoạch tái định cư, tham gia và tham vấn, khiếu nại, giám sát và đánh giá, và
kế hoạch phát triển cho người dân bản xứ
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn
quản lý theo quy định của Luật này
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất
Bồi thường là khoản chi trả bằng tiền hoặc hiện vật cho những thiệt hại về
đất, nhà cửa, thu nhập và các tài sản khác do một dự án gây ra
Trang 31
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi
đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa
điểm mới
Phục hồi thu nhập/Phục hồi sinh kế/Phục hồi là quá trình nhằm khôi phục
khả năng thu nhập, mức sản xuất và tiêu chuẩn sống trong thời gian lâu dài
Nhóm người dễ bị tổn thương là những người bản xứ, người dân tộc thiểu số,
người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người có tuổi, người tàn tật, và các nhóm người bị ảnh
hưởng bất lợi về kinh tế/ xã hội bởi một dự án
(Nguồn: Trích trong Luật đất đai 2003 và Từ vựng của Ngân hàng thế giới)
1.4.1 Khái quát chung về thành phố Hải Phòng
Thành phố Hải Phòng nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ thuộc vùng Châu
thổ sông Hồng, phía Đông Nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía Bắc giáp Quảng Ninh, phía
Tây giáp Hải Dương và phía Tây Nam giáp Thái Bình, và cách Hà Nội khoảng 100
km Thành phố được hình thành từ cửa sông có độ sâu nhất của đồng bằng, Hải
Phòng trở thành một thành phố cảng, một trung tâm giao thông quan trọng của miền
Bắc nước ta
Do kết quả quá trình cải tạo của con người như: bao đê lấn biển, ngăn sông
nội đồng với các sông chính bằng các cống điều tiết, đào sông nhân tạo, lấp sông tự
nhiên, xây dựng hệ thống tưới tiêu nông nghiệp, nên địa hình tự nhiên đã thay đổi
đáng kể, quy luật bồi lắng cửa sông và mức độ nhiễm mặn của một số sông, đồng
ruộng cũng biến đổi theo
Địa hình Hải Phòng mang đặc điểm chung của địa hình đồng bằng thấp và
phẳng, dốc nghiêng về phía biển rất nhỏ (1/10.000) Cao độ thay đổi từ +3.8m đến
+4.7m trên mực nước biển Địa hình Hải Phòng có đặc điểm riêng rất quan trọng là
mật độ sông ngòi tự nhiên lớn nhất đồng bằng sông Hồng (4km/1km2) Vùng nội
Trang 32
thành được bao bọc bởi 3 con sông chịu ảnh hưởng của thuỷ triều là sông Cấm,
sông Lạch Tray và sông Tam Bạc Do địa hình thấp nên nội thành được các đê bao
quanh, ngăn thuỷ triều và lũ lụt với cao độ bình quân của đê từ 4.5 5.0m Việc
thoát nước từ trung tâm thành phố ra các sông chính do hệ thống hồ điều hoà, kênh
dẫn và các cống ngăn triều điều tiết
Hải Phòng là thành phố lớn thứ ba ở Việt Nam gồm có hai khu vực: khu vực
đô thị nội thành và vùng đất nông nghiệp Tổng diện tích của thành phố Hải Phòng
khoảng 1519 km2
trong đó khu vực nội thành chỉ có khoảng 165.4 km2 và có 5 quận nội thành là Hồng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân ở trung tâm đô thị, quận Kiến An
cách trung tâm nội thành khoảng 8 km về phía Tây - Nam (khu vực Kiến An được
chính thức nâng lên thành quận nội thành từ cuối năm 1994), và quận Hải An được
thành lập năm 2003, bao gồm 6 phường: Đông Hải, Đằng Hải, Đằng Lâm, Nam
Hải, Tràng Cát và Cát Bi (từ quận Ngô Quyền chuyển sang)
Đồ Sơn là một thị xã du lịch, cách nội thành khoảng 15 km về phía Đông -
Nam Ngoài ra, Hải Phòng còn có 8 huyện Thuỷ Nguyên, An Dương, An Lão, Kiến
Thuỵ, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Cát Hải và huyện đảo Bạch Long Vỹ
Tổng số dân của Hải Phòng là 1.793.000 tại thời điểm 31/12/2005, theo số liệu của
Cục thống kê Hải Phòng Năm 2005, dân số thành thị chiếm khoảng 40,4% dân số
của toàn thành phố Dân số ở Đồ Sơn và Kiến An bao gồm cư dân nông thôn và dân
thành thị, còn dân số của các huyện ngoại thành cũng có một bộ phận nhỏ được coi
là dân thành thị
Lao động khu vực nhà nước trên địa bàn thành phố năm 2005 là 135.164
người Trong đó, Trung ương: 57,135 người, địa phương: 78.029 người Chia ra:
Nông, lâm thuỷ sản: 2.203 chiếm 1.62% lao động
Phần còn lại là các ngành nghề khác
Trang 33Mật độ dân số (ng/km 2 )
Công nghiệp của Hải Phòng rất đa dạng, từ công nghiệp chủ đạo có quy mô
lớn do Trung ương quản lý đến công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ do các ngành
của địa phương quản lý và của các xí nghiệp tư nhân Hiện nay trên địa bàn thành
phố có các khu vực kinh tế sau:
Khu vực kinh tế Nhà nước: 53 đơn vị cơ sở sản xuất, trong đó có 32 xí nghiệp công
nghiệp trực thuộc trung ương, 21 xí nghiệp quốc doanh của địa phương
Khu vực kinh tế ngoài nhà nước: 12.034 đơn vị, cơ sở sản xuất
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: 115 xí nghiệp
(theo Niên giám thống kê - Cục thống kê Hải Phòng 2005)
Các ngành công nghiệp quan trọng nhất là chế tạo máy, da giầy, may mặc,
sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, sản xuất phân bón, hoá chất và cao
su
Trang 34
Theo quy hoạch tổng thể thành phố Hải Phòng thì các khu công nghiệp mới sẽ dần
dần được phát triển ngoài khu vực nội thành Sản xuất công nghiệp trong nội thành
sẽ chuyển đến các khu công nghiệp này Các khu công nghiệp đang được hình thành
như:
Khu công nghiệp Vật Cách, được bắt đầu bằng khu liên doanh công nghiệp
Nomura
Phía đông nội thành Hải Phòng là Khu Kinh tế mở Đình Vũ Giai đoạn đầu tư của
dự án được thực hiện theo mô hình một công viên công nghiệp tổng diện tích 164
ha
Đường Hải Phòng - Đồ Sơn (Đường 353) cũng là một khu vực có nhiều tiềm năng
phát triển công nghiệp và hiện đã có nhiều xí nghiệp được xây dựng tại khu vực
này
Việc xây dựng khu công nghiệp Vĩnh Niệm cho các xí nghiệp vừa và nhỏ cũng đã
được triển khai dọc đường bao mới
Thương mại
Năm 2005 giá trị hàng hoá và dịch vụ của khu vực kinh tế nội địa tại Hải
Phòng đều tăng lên rõ rệt Số lượng các cửa hàng và các hoạt động thương mại khác
tăng nhanh Số người/hộ tham gia lĩnh vực thương mại và dịch vụ năm 2005 lên tới
con số 48.977 hộ với tổng số người tham gia kinh doanh là 65.944 người Như vậy,
chỉ trong vòng 5 năm, số lượng hộ kinh doanh năm 2005 đã tăng lên gấp 2,11 lần so
với năm 2000 với tổng số người tham gia tăng lên gấp 2,23 lần Tổng mức bán lẻ
hàng hoá năm 2005 lên tới 11.362,4 tỷ đồng, tăng gấp 2,89 lần so với năm 2000
Du lịch
Đây là một mũi nhọn kinh tế quan trọng của thành phố Hải Phòng, các điểm
thu hút khách du lịch chủ yếu là khu bãi biển Đồ Sơn và đảo Cát Bà Dịch vụ du
lịch Hải Phòng có 155 khách sạn với tổng số buồng 4.442 và số giường là 8.631
Song lượng khách du lịch dao động rất lớn theo mùa vụ, mùa du lịch nhộn nhịp nhất
Trang 35
là từ tháng 5 đến tháng 9 Trong năm 2005 có tới 2.350.577 lượt khách du lịch trong
đó có 478.077 lượt khách quốc tế, 1.872.500 lượt khách du lịch trong nước Doanh
thu của toàn ngành (Khách sạn, nhà hàng và du lịch lữ hành) đạt 1.656,8 tỉ đồng
Như vậy, trong 5 năm gần đây, dịch vụ du lịch vẫn tiếp tục phát triển với tốc độ khá
cao Tuy nhiên, do tác động của các vấn đề quốc tế như bệnh dịch, bất ổn chính trị
thế giới, sóng thần v.v đã làm ảnh hưởng tới số lượng khách quốc tế Ngược lại, số
lượng khách du lịch trong nước lại gia tăng mạnh và mang lại một nguồn thu đáng
kể Điều đó cho thấy, nhu cầu và thị trường trong nước vẫn còn rất nhiều tiềm năng
chưa khai thác hết Bên cạnh đó, cùng với sự ổn định trở lại của nền kinh tế chính
trị thế giới, du lịch khách lữ hành quốc tế sẽ hứa hẹn đem lại lợi nhuận cao
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản
Cũng như ngành công nghiệp, cảng và thương mại, ngành nông nghiệp ở Hải
Phòng cũng vẫn là một trong những ngành chủ đạo của kinh tế Hải Phòng Giá trị
sản xuất nông nghiệp của Hải Phòng năm 2005 đạt tới 2.267,7 tỷ đồng Theo thống
kê năm 2005 đã có tới 398.977 người dân Hải Phòng làm việc trong lĩnh vực nông
nghiệp trong các thành phần kinh tế (Nhà nước, tập thể và cá nhân) Tuy nhiên,
đánh giá chung cho thấy số lượng lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp đang
có xu hướng giảm dần Bên cạnh đó, cũng có xu hướng chuyển dịch cơ cấu trong
sản xuất nông nghiệp từ trồng trọt sang chăn nuôi
Giá trị sản xuất, sản phẩm chủ yếu của ngành lâm nghiệp vẫn duy trì mức
tương đối ổn định với xu hướng giảm dần Tổng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp
trong năm 2005 đạt 25,9 tỷ đồng, giảm 19.8% so với năm 2000
Giá trị sản xuất ngành thuỷ sản năm 2002 đạt 699,4 tỷ đồng và vẫn duy trì mức tăng
tương đối ổn định Diện tích nuôi trồng thủy sản đang có xu hướng giảm, từ
14.623ha (năm 2003) xuống 13.486 (năm 2005) nhưng năng suất vẫn duy trì ở mức
cao Trong khi đó, sản lượng đánh bắt thủy sản vẫn tăng tương đối nhanh, giá trị sản
xuất từ 231 tỷ (năm 2003) tăng lên 252,3 tỷ (năm 2004) và 312,3 tỷ (năm 2005)
Trang 36
Đầu tư nước ngoài
Năm 2005, số dự án có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố là 34
với tổng số vốn đăng ký 251,111 triệu USD, tập trung chủ yếu vào các đối tác nước
ngoài của Đài Loan (19), Hồng Kông (25), Hàn Quốc (27), Trung Quốc (29) và đặc
biệt cao nhất là đối tác Nhật Bản (55) Như vậy, sau 5 năm, số lượng dự án đầu tư
đã tăng khoảng 11 lần (so với năm 2000) với tổng số vốn đăng ký tăng gấp 77,8 lần
Giáo dục - Văn hoá -Y tế - Thể thao
Năm 2005 Hải Phòng có tất cả 1637 lớp học Mẫu giáo với 2584 giáo viên và
50.742 học sinh, như vậy bình quân có 31 trẻ/1lớp và 19,6 trẻ/1 giáo viên Như vậy,
có thể thấy tỉ lệ trẻ/giáo viên đã có xu hướng giảm đi nhiều so năm 2000 (23
trẻ/1giáo viên), phản ánh chất lượng giáo dục cấp mẫu giáo đang có những chuyển
biến tích cực
Tổng số trường học phổ thông năm học 2005 – 2006 là 475 trường, trong đó
420 trường phổ thông cơ sở và 55 trường phổ thông trung học với tổng số lớp học là
8867 lớp Nhìn chung trong vòng 3 năm trở lại đây (từ năm 2002), số lượng trường
học và giáo viên duy trì ở mức tương đối ổn định
Ngoài ra, còn có 5 trường đại học và cao đẳng, một số trường trung cấp và dạy
nghề
Hải Phòng có 16 thư viện, 184 trung tâm văn hóa thể thao, 3 rạp chiếu bóng, 7 đoàn
nghệ thuật với số buổi biểu diễn 1350 buổi [6,182]
Năm 2005, số bệnh viện ở Hải Phòng là 22 bệnh viện với khoảng 3.690 giường
bệnh Ngoài ra, còn có khoảng 1.500 giường bệnh tại các cơ sở y tế khác [6,184]
Hoạt động thể thao đang có những bước phát triển rất mạnh mẽ Trong vòng 5 năm,
số lượng sân vận động, nhà thể thao, bể bơi cũng như các cán bộ thể dục thể thao
được đào tạo chuyên sâu đều tăng lên Kết quả là, Hải Phòng đã đạt được rất nhiều
thành tích trong lĩnh vực thể thao với số lượng vận động viên đẳng cấp cao, huy
chương thể thao quốc tế tăng lên đáng kể
Trang 37
1.4.2 Quá trình Thu hồi đất và tái định cư
Thành phố Hải phòng là thành phố lớn thứ hai trên miền Bắc - Việt Nam và
là một cực trong tam giác phát triển kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh
Trong những năm qua song song với sự phát triển kinh tế – xã hội là quá trình cải
tạo, nâng cấp các đô thị hiện có, mở rộng các đô thị mới, quy hoạch, xây dựng các
khu công nghiệp tập trung và di dời các khu công nghiệp gây nhiều ô nhiễm môi
trường trong nội thành Hải Phòng ra khu vực ngoại ô thành phố Tuy nhiên cùng
với sự phát triển chung đó của thành phố là sự tăng nhanh về dân số kèm theo lượng
nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp cũng như rác thải sinh hoạt tăng đột
biến Lượng nước thải được xả trực tiếp ra các nguồn tiếp nhận là sông hồ kênh
mương không qua quá trình xử lý, làm chất lượng nước mặt cũng như nước ngầm
giảm đi rất nhiều, gây nên ô nhiễm môi trường nước thật trầm trọng Đây là một
trong những bức xúc của thành phố
Để cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường thành phố, theo thoả thuận giữa hai
chính phủ Việt Nam và Nhật Bản, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đã cử
đoàn nghiên cứu (uỷ nhiệm cho Công ty Nippon Koei - NK) phối hợp với các cơ
quan hữu trách của TP Hải Phòng tiến hành nghiên cứu lập “Quy hoạch Cải thiện
điều kiện Vệ sinh thành phố Hải Phòng” đến năm 2020 và đề xuất lựa chọn dự án
ưu tiên Tháng 3/2000, Đoàn Nghiên cứu JICA bắt đầu triển khai Chương trình Hợp
tác kỹ thuật theo thoả thuận giữa hai Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản trong các
lĩnh vực:
(i) Quy hoạch tổng thể Cải thiện điều kiện Vệ sinh thành phố Hải phòng cho
bốn quận nội thành, khu vực Đồ Sơn và các khu liên quan với các mục tiêu
dài hạn đến năm 2020 và mục tiêu ngắn hạn đến năm 2010, bao gồm các
lĩnh vực sau: Cấp nước, thoát nước mưa, thoát nước thải và quản lý chất
thải rắn
Trang 38
(ii) Lựa chọn Dự án ưu tiên sớm đưa vào kế hoạch thực thi dự án trong lĩnh
vực thoát nước mưa, thoát nước thải và quản lý chất thải rắn và thực hiện
lập Báo cáo Nghiên cứu khả thi cho Dự án
Quy hoạch tổng thể Cải thiện điều kiện Vệ sinh thành phố Hải Phòng đã được Đoàn
nghiên cứu JICA hoàn thành tháng 7/2001 và đề xuất dự án ưu tiên đến năm 2010
và lấy tên dự án là: “Dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn thành
phố Hải Phòng giai đoạn I: 2004-2010 ”
Ngày 11/03/2005 Thủ tướng Chính phủ đã có Văn bản số 248/ TTg-CN cho phép
đầu tư Hợp phần thoát nước mưa và Hợp phần thoát nước thải thuộc Dự án “Thoát
nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn Hải Phòng” với tổng mức đầu tư cho
hai hợp phần là 13.436 triệu yên Nhật tương đương 1.919,43 tỷ đồng Việt Nam,
trong đó hợp phần thoát nước mưa là 5.843 triệu Yên, tương đương 834,72 tỷ đồng,
hợp phần thoát nước thải là 7.593 triệu Yên Nhật, tương đương 1.084,71 tỷ đồng
Sơ đồ 2 : Mặt bằng tổng thể dự án
Trang 39
Theo quy hoạch, diện tích sử dụng đất cho dự án là 828.000 m2 trong đó: (i) diện
tích 277.000 m2 là đất hiện có bao gồm ao, hồ kênh, mương và dưới các công trình
như hè đường, đường hiện trạng; (ii) diện tích 551.000 m2 là đất giao mới Dự án sẽ
nối 3 kênh thoát nước riêng biệt trong khu vực dự án là Kênh Tây Nam, Đông Bắc
và An Kim Hải vào một hệ thống chung để nâng cao khả năng thoát nước, hoàn
thiện hệ thống hồ điều hòa và các biện pháp thoát nước mưa chính Theo quy mô và
khối lương như vậy, dự án sẽ có ảnh hưởng tới một số khu vực sau:
+ Hợp phần An Kim Hải: Kênh An Kim Hải sẽ được xây dựng và cải tạo từ Cầu
vượt Lạch Tray (nối tiếp phần nâng cấp của Dự án Nâng cấp đô thị do Ngân hàng
thế giới tài trợ) đến khu vực Cống Nam Đông với tổng chiều dài là 5.432m, theo đó
dự án sẽ có ảnh hưởng đến các phường với khối lượng ảnh hưởng như sau: Phường
Đổng Quốc Bình (77 hộ); phường Lạch Tray (54 hộ); phường Đằng Giang (225
hộ); phường Đằng Lâm (9 hộ); phường Đằng Hải (118 hộ) và phường Đông Hải
(109 hộ)
+ Khu vực Trại Chuối: cải tạo hai hồ điều hoà Trại Chuối 1 và 2, xây dựng trạm
bơm và cống ngăn triều, theo đó ảnh hưởng đến 47 hộ tại khu vực phường Trại
Chuối, chủ yếu ảnh hưởng các hộ dân sống xung quanh hai bên hồ
+ Kênh Ba Tổng: kênh Ba Tổng được cải tạo mương hở từ đoạn Cống Ba Tổng đến
đường quy hoạch cầu Rào - Hồ Sen, tiếp theo xây dựng tuyến cống hộp bằng bê
tông cốt thép Theo thiết kế như trên, tuyến cống hộp sẽ không ảnh hưởng đến các
hộ dân và việc cải tạo hệ thống ương hở sẽ ảnh hưởng đến 87 hộ dân thuộc phường
Dư Hàng Kênh sống dọc theo hai bên bở kênh Ba Tổng
+ Khu vực Thượng Lý: tại khu vực này sẽ được xây dựng các tuyến cống bao gồm
cống nối từ đường Hùng Vương đến hồ Thượng Lý; cống nối từ hồ Thượng Lý đến
cống ngăn triều Vạn Kiếp, cống ngăn triều Vạn Kiếp và Trạm bơm Thượng lý, theo
đó sẽ có 82 hộ dân thuộc phường Thượng Lý hiện đang sống dọc theo hai bên bờ
cống sẽ bị ảnh hưởng
Trang 40
+ Tuyến đê Vĩnh Niệm và Hồ điều hoà Đôn Nghĩa: hai hạng mục này được xác
định tại khu vực phường Vĩnh Niệm, với tổng số hộ bị ảnh hưởng ước tính là 200
hộ tại phường Vĩnh Niệm