1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị

143 757 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện nghiên cứu này, bản thân tôi mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé cùng với các cấp, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức trong nỗ lực chung phòng tránh và giảm thiểu hậu quả chiế

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

HỒ SỸ THÁI

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NẠN NHÂN BOM MÌN

(Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong,

tỉnh Quảng Trị)

LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Công tác xã hội

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

HỒ SỸ THÁI

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NẠN NHÂN BOM MÌN

(Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là do tôi hoàn thành Những số liệu, thông tin được trình bày trong đó là dựa trên thực tế và hoàn toàn chân thực Các tài liệu được trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng và xin nhận hoàn toàn trách nhiệm về những gì liên quan tới luận văn này

Học viên Hồ Sỹ Thái

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập, nghiên cứu và thực tập tại địa bàn, tôi đã hoàn

thành luận văn tốt nghiệp với đề tài “Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)”

Để có được kết quả này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban chủ nhiệm và các thầy cô giáo trong Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học

xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã tạo điều kiện học tập, nghiên cứu và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quý báu Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo hướng dẫn, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa đã tận tình chỉ bảo, chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và người dân huyện Triệu Phong, cán bộ Văn phòng điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp số liệu và tham gia các hoạt động nghiên cứu mà tôi triển khai

Mặc dù có nhiều cố gắng song luận văn vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý, bổ sung của các thầy

cô giáo và các bạn để luận văn có thể hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên Hồ Sỹ Thái

Trang 5

MỤC LỤC Trang

MỤC LỤC………1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……… 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU……….4

MỞ ĐẦU 1 Lý do lựa chọn đề tài……… 5

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu……….7

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu……….15

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………15

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu……… 16

6 Câu hỏi nghiên cứu……… 17

7 Giả thuyết nghiên cứu……… 17

8 Phương pháp thu thập thông tin………17

NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 1.1 Các khái niệm liên quan………20

1.1.1 Bom mìn………20

1.1.2 Nạn nhân bom mìn………20

1.1.3 Công tác xã hội……….21

1.1.4 Công tác xã hội nhóm……… 22

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu……… 24

1.2.1 Thuyết nhu cầu……… 24

1.2.2 Thuyết vai trò………25

1.2.3 Thuyết trao đổi xã hội……… 27

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu………28

1.3.1 Khái quát về tỉnh Quảng Trị……….28

1.3.2 Khái quát về huyện Triệu Phong……… 29

Trang 6

Chương 2 Thực trạng vấn đề bom mìn và công tác khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong

2.1 Tình hình bom mìn còn sót lại sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong…32

2.2 Nguyên nhân và hậu quả của tai nạn bom mìn sau chiến tranh……… 37

2.2.1 Nguyên nhân dẫn đến tai nạn bom mìn……….37

2.2.2 Hậu quả của tai nạn bom mìn……… 45

2.3 Công tác khắc phục hậu quả bom mìn tại huyện Triệu Phong………….55

2.3.1 Hoạt động rà phá bom mìn……… 55

2.3.2 Hoạt động thu thập thông tin, thống kê bom mìn……… 58

2.3.3 Hoạt động giáo dục phòng tránh bom mìn……… 60

2.3.4 Hoạt động hỗ trợ nạn nhân……… 63

Chương 3 Tình hình nạn nhân bom mìn và hoạt động công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn 3.1 Vài nét về đặc trưng nhân khẩu học của nạn nhân bom mìn tại huyện Triệu Phong……….67

3.2 Thành lập nhóm và đề xuất các hoạt động công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn……… 73

3.2.1 Đánh giá khả năng thành lập và xác định mục tiêu của nhóm……….73

3.2.2 Các hoạt động công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn……… 76

3.2.2.1 Các hoạt động nhằm mục đích thay đổi không khí trong nhóm và trị liệu……… 76

3.2.2.2 Các hoạt động nhằm mục đích lấy ý kiến của nhóm, giúp nhóm viên học kỹ năng mới……… 87

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……….105 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

TLN : Thảo luận nhóm

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát về hoàn cảnh gặp bom mìn xếp

Bảng 2.2 Kết quả khảo sát về nguyên nhân dẫn đến tai nạn

Bảng 2.3 Kết quả khảo sát về hậu quả của tai nạn bom mìn

Bảng 2.4 Thống kê hoạt động rà phá bom mìn 56

Bảng 2.5 Số làng có hoạt động rà tìm phế liệu chiến tranh 57

Bảng 2.6 Các hoạt động thu thập thông tin, thống kê bom

Bảng 3.2 Kết quả khảo sát về hành vi khi phát hiện bom mìn 82

Bảng 3.3 Kết quả khảo sát về hành vi khi phát hiện tai nạn

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Chiến tranh đi qua đã để lại hậu quả nghiêm trọng đối với mảnh đất và con người Việt Nam, đặc biệt là dải đất miền Trung Nhiều di chứng của chiến tranh cho đến nay vẫn chưa được khắc phục triệt để Trong đó, bom mìn còn sót lại đã và đang trở thành vấn đề nghiêm trọng, cản trở sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa tính mạng người dân cũng như gây ra nhiều hậu quả về môi trường và xã hội

Huyện Triệu Phong là một trong những địa phương gánh chịu hậu quả chiến tranh khốc liệt nhất của tỉnh Quảng Trị - chiến địa của những trận đánh

ác liệt trong lịch sử (1954 - 1975) Đây từng là địa bàn có các căn cứ quân sự lớn của Mỹ ngụy như sân bay Ái Tử, quân cảng Cửa Việt, căn cứ Phượng Hoàng và nhiều vị trí phòng thủ trọng yếu khác

Là vành đai bảo vệ thị xã Quảng Trị - thị xã tỉnh lỵ thời ngụy quyền Sài Gòn, là nơi từng diễn ra những cuộc tranh chấp quyết liệt giữa hai bên nên nơi đây phải hứng chịu một khối lượng lớn bom mìn Hàng trăm ngàn tấn bom, đạn các loại đã trút xuống mảnh đất này Các căn cứ quân sự, đồn bốt của quân đội Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn được bố trí dày đặc, ẩn chứa xung quanh

là những bãi mìn sát thương Mảnh đất này như oằn mình lên vì những vết sẹo bom mìn cày xới

Theo ước tính của chính quyền địa phương, hầu hết các địa bàn trong huyện đều bị ảnh hưởng bởi bom mìn và đây là khu vực có mức độ ô nhiễm bom mìn cao nhất tỉnh Quảng Trị (chiếm hơn 37% tỷ lệ bom mìn còn sót lại sau chiến tranh của toàn tỉnh) [53]

Gần 40 năm sau ngày giải phóng, các cấp chính quyền cùng nhân dân huyện Triệu Phong đã và đang nỗ lực hết mình hàn gắn vết thương chiến tranh Giờ đây, mảnh đất qua bao năm dài chiến sự, chịu bao đau thương, mất

Trang 10

mát, được sự đồng lòng, gắng sức của chính quyền và nhân dân đang từng ngày hồi sinh

Tuy nhiên, nhiều vùng đất tưởng rằng sẽ đem lại ấm no, thịnh vượng cho người dân lại ẩn chứa trong nó những loại vũ khí chết người mà qua thời gian không mất đi tính năng tàn sát, hủy diệt Chúng vẫn chờ đợi để một ngày nào

đó cướp đi sinh mạng hay để lại thương tật, sự ám ảnh về tâm lý suốt đời cho các nạn nhân xấu số, đó có thể là những thanh niên khỏe mạnh, bác nông dân,

cụ già hay chỉ là em học sinh nhỏ… và gây nên những nỗi đau không thể nào

bù đắp được cho các gia đình nạn nhân, cho cộng đồng

Theo thống kê của Văn phòng điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị, từ sau ngày chiến tranh kết thúc cho đến nay (1975 - 2013), số nạn nhân tai nạn bom mìn của huyện là 1293 người, chiếm tỉ lệ cao nhất (18,4%) so với các địa phương khác trong tỉnh Quảng Trị Số nạn nhân tử vong do tai nạn bom mìn của huyện là 474 người, chiếm tỉ lệ 18,1% so với tổng số nạn nhân tử vong toàn tỉnh (cao thứ hai sau huyện Hải Lăng) [78]

Rõ ràng là “Sau chiến tranh vẫn chưa hết chiến tranh”, “Sau những nỗi buồn vẫn còn lại những nỗi buồn” Ngày ngày, đâu đó trên những ruộng lúa,

bãi ngô, cánh rừng, bãi cát hay trong các khu dân cư, xóm làng thanh bình nơi đây vẫn vang lên tiếng nổ kinh hoàng và sau đó là biết bao nỗi đau: người chết, kẻ bị thương, vợ mất chồng, con mất cha, mất mẹ, anh mất em… Phần lớn tai nạn xảy ra do các nạn nhân tò mò; thiếu hiểu biết về các loại bom mìn, tác hại của chúng; thiếu sự chú ý khi đi vào các khu vực nguy hiểm; thiếu những kỹ năng cơ bản để phòng tránh cũng như cảnh báo cho người khác tránh nguy hiểm Do đó, nguy cơ tai nạn không chỉ xảy ra đối với những người dân bình thường mà với nạn nhân đã từng bị tai nạn thì mối nguy hiểm này vẫn có khả năng lặp lại

Với tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu trên, tôi đã

chọn hướng nghiên cứu“CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu

Trang 11

trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)” làm đề tài luận văn tốt

nghiệp thạc sỹ chuyên ngành CTXH của mình

Thực hiện nghiên cứu này, bản thân tôi mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé cùng với các cấp, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức trong nỗ lực chung phòng tránh và giảm thiểu hậu quả chiến tranh, đặc biệt là hậu quả của bom mìn còn sót lại; thông qua các hoạt động CTXH nhóm được đề xuất nhằm tạo môi trường sinh hoạt cho các nạn nhân, chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng trong nhóm, hỗ trợ nạn nhân vượt qua những khó khăn

về mặt tâm lý Từ đó, giúp các nạn nhân tự vươn lên trong cuộc sống, nâng cao chất lượng đời sống người dân, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội huyện Triệu Phong nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Bom mìn còn sót lại và tai nạn bom mìn sau chiến tranh là vấn đề được các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể, đơn vị quân đội, nhân dân địa phương cũng như các tổ chức Phi chính phủ trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực này đặc biệt quan tâm

Những năm qua, đã và đang có nhiều kế hoạch, chương trình, dự án được tiến hành tại tỉnh Quảng Trị nói chung, huyện Triệu Phong nói riêng về thống

kê, khảo sát thực trạng bom mìn sau chiến tranh, tai nạn bom mìn và hỗ trợ nạn nhân… Đi kèm theo đó là những bài viết, nghiên cứu, báo cáo được thực hiện một cách cụ thể, chi tiết về các vấn đề liên quan

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Vấn đề bom mìn và hậu quả của nó trong các ấn phẩm nước ngoài trước đây chủ yếu là hồi ký về những ngày tháng ở chiến trường của các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam

Trong cuốn hồi ký xuất bản tại Mỹ vào năm 1991 “The Vietnam Wars

1945 – 1990” của tác giả Marilyn B.Young – một cựu binh từng tham gia

nhiều chiến dịch ở Quảng Trị đã mô tả về những trận đánh ác liệt như chiến

Trang 12

dịch Lam Sơn 719, Dốc Miếu, Ái Tử, La Vang… Trong đó, ông dành nhiều trang viết để tái hiện lại hình ảnh sân bay quân sự Ái Tử - nơi mà ông đã có

thời gian dài ở đây trong khoảng những năm 1967 – 1973 “…sân bay Ái Tử với hàng rào thép gai kiên cố và những bãi mìn sát thương phân bố dày đặc phía bên trong và bên ngoài hàng rào nhằm chống sự xâm nhập của Bắc Việt…” [72, tr43] Hay những chi tiết kể về nỗi ám ảnh của quân viễn chinh

Mỹ đóng ở sân bay Ái Tử khi hàng ngày phải đối mặt với hiểm họa bom mìn

do chính họ gây ra “…đó là những ngày tháng chúng tôi luôn sống trong sợ hãi và lo lắng bởi những tiếng nổ của bom, tiếng gầm rú của máy bay và sự

hy sinh của những người bạn khi vướng phải mìn do chính đất nước chúng tôi mang đến mảnh đất này…”[72, tr56]

Như vậy, mặc dù đã xa Việt Nam nhưng qua ký ức của người cựu binh

Mỹ về một vùng đất đầy bom mìn, tang thương, chết chóc cũng giúp chúng ta hình dung được mức độ ô nhiễm bom mìn và tác hại to lớn của nó trên địa bàn huyện Triệu Phong

Năm 1993, báo cáo do Quỹ tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ (VVMF)

thực hiện với tên gọi Socio - Economic Report on the Impact of Landmines

[77] đã đưa ra những đánh giá ban đầu về các tác động kinh tế xã hội do tai nạn bom mìn gây nên tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực tỉnh Quảng Trị Báo cáo cũng đi sâu, tập trung phân tích, mô tả, thống kê thực trạng bom mìn và tai nạn bom mìn từ sau khi chiến tranh kết thúc và những số liệu ước tính về thiệt hại con người, kinh tế, môi trường do tai nạn bom mìn gây nên Báo cáo đặc biệt nhấn mạnh tác động về mặt kinh tế của bom mìn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của các địa phương sau khi chiến tranh kết thúc Theo đó, bom mìn và tai nạn bom mìn là nguyên nhân hàng đầu cản trở những nỗ lực phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân bởi vì nó đã hạn chế diện tích đất

sử dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, cơ sở sản xuất công nghiệp, công trình dân sinh như nhà

Trang 13

ở, bệnh viện, trường học… Từ đó, kéo theo những hệ quả như tình trạng người dân thiếu đất sản xuất, không có việc làm, năng suất sản xuất nông nghiệp bị giảm sút, cơ sở hạ tầng các địa phương đã bị tàn phá trong chiến tranh không có điều kiện được khắc phục và phát triển, do đó càng trở nên thiếu thốn, lạc hậu Tuy nhiên, có rất ít trang đề cập đến vấn đề này tại huyện Triệu Phong

Các nghiên cứu khác được công bố ở Mỹ, Úc và Anh như War of the Mines của tác giả Davis, P (1994) [69], After the Guns Fall Silent: The Enduring Legacy of Landmines của hai tác giả Roberts & William J (1995) [75], The Impact of Landmines on children in Quang Tri Province, Central VietNam của Jim Monan (1996) [70]… đa phần là những hồi ký, ghi chép của

các cựu binh, nhà báo chiến trường, những nhà nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam Trong các nghiên cứu này chủ yếu mô tả toàn cảnh cuộc chiến và những hậu quả của nó để lại trong và sau chiến tranh, trong đó có tai nạn bom mìn

Cuốn sách The Impact of Landmines on children in Quang Tri Province, Central VietNam của Jim Monan công bố năm 1996 đã phân tích những tác

động của vấn đề bom mìn đối với đối tượng là trẻ em Phần đầu cuốn sách là những dòng hồi ức về vùng đất đầy bom mìn, vũ khí, sự giao tranh mà tác giả

đã có khoảng thời gian dài được chứng kiến Qua việc mô tả lại sự ác liệt trong thời kỳ chiến tranh tại Quảng Trị, tác giả một lần nữa khẳng định tính chất nguy hiểm và ảnh hưởng lâu dài của chiến tranh đối với người dân sống tại vùng đất này Với đối tượng trẻ em, tác giả đưa ra những câu chuyện về các trường hợp các em nhỏ bị trúng bom, dẫm phải mìn hay bị trúng đạn khi

đi di tản trong thời kỳ chiến tranh diễn ra Mặc dù không thống kê chính xác

số trẻ em bị chết trong chiến tranh do bom mìn nhưng theo tác giả thì “…con

số đó thực sự là một con số khiến chúng ta phải suy ngẫm và tự vấn bản thân…” [70, tr57] Tác giả cũng bày tỏ sự quan ngại khi chiến tranh đã kết

Trang 14

thúc nhưng tình trạng trẻ em bị tai nạn bom mìn không giảm, đặc biệt là các

em bị tai nạn do đùa nghịch với các loại bom mìn còn sót lại Qua việc phân tích những ảnh hưởng của bom mìn đối với trẻ em, tác giả cho rằng vấn đề này cũng mang tính cấp bách giống như vấn đề dinh dưỡng cho trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em… và cần có sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong việc

giảm thiểu, đẩy lùi hiểm họa này, mang lại cuộc sống an toàn cho các em nhỏ

Năm 2003, tại Mỹ, Quỹ tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ và dự án Renew

phối hợp xuất bản cuốn sách A mine action program in Quang Tri Province, Viet Nam [73] Đây là cuốn sách giới thiệu toàn bộ dự án Renew về khắc phục

hậu quả bom mìn ở tỉnh Quảng Trị Cuốn sách đã phân tích khá chi tiết thực trạng bom mìn sau chiến tranh tại địa phương, hậu quả của tai nạn bom mìn đối với người dân và sự phát triển kinh tế xã hội Đặc biệt, cuốn sách cũng lần lượt giới thiệu các vùng đất mà dự án Renew đang triển khai dự án, trong đó

có địa bàn huyện Triệu Phong Tuy nhiên, những số liệu thống kê, phân tích,

mô tả thực trạng bom mìn được đề cập trong cuốn sách này chủ yếu là các số liệu định lượng, được thu thập và xử lý thông qua đội ngũ cán bộ dự án tại các địa bàn mà chưa có những nghiên cứu định tính, những phỏng vấn dành riêng cho người dân, nạn nhân, gia đình nạn nhân… để thấy được mức độ tác động của vấn đề đến người dân sống tại đó như thế nào hay nguyện vọng, mong muốn của họ ra sao…

Như vậy, những bài viết, nghiên cứu được thực hiện ở nước ngoài về vấn

đề bom mìn, hậu quả chiến tranh ở Việt Nam, ở Triệu Phong tuy số lượng không nhiều nhưng cũng đã cho chúng ta những góc nhìn khác nhau của các nhà nghiên cứu, cựu binh bên kia chiến tuyến về vấn đề này Điều đó cho thấy rằng, bom mìn và hậu quả của nó thực sự là ảnh hưởng lớn không chỉ đối với người dân tại địa phương mà còn là mối quan tâm của những người đã và đang nghiên cứu về nó

Trang 15

2.2 Các nghiên cứu trong nước

Bên cạnh các bài viết, nghiên cứu được thực hiện và xuất bản ở nước ngoài; các nghiên cứu được thực hiện trong nước cũng góp phần làm đa dạng bức tranh tổng quan về tình hình bom mìn sau chiến tranh tại Quảng Trị, tại huyện Triệu Phong Nghiên cứu được xem là sớm nhất về vấn đề này được

thực hiện tại địa bàn huyện với tên gọi “Mìn và sự chậm phát triển: Nghiên cứu một trường hợp điển hình tại tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam” thực

hiện năm 1997, của Jim Monan [12] Thông qua việc tập trung phản ánh hậu quả chiến tranh và nêu ra câu chuyện thực tế của nạn nhân và thân nhân của

họ, nghiên cứu giúp chúng ta hiểu được hậu quả tàn khốc mà bom mìn gây ra cho cuộc sống con người, cản trở đến sự phát triển của cộng đồng như thế nào? Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân tích hậu quả do bom mìn để lại sau chiến tranh dưới góc độ môi trường và kinh tế Do đó chưa đưa ra được những giải pháp nhằm khắc phục hậu quả, hỗ trợ nạn nhân và phát triển bền vững

Ngoài ra, từ khi mới thành lập vào năm 2001 đến nay, hằng năm, Văn

phòng điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị đều xuất bản Báo cáo thường niên của văn phòng về thực trạng bom mìn tại các địa bàn dự án [53] Báo

cáo luôn cập nhật đầy đủ các số liệu về tình hình bom mìn thống kê được, số bom mìn đã tháo gỡ, bản đồ khu vực có bom mìn, số vụ tai nạn bom mìn, các hoạt động hỗ trợ nạn nhân, danh sách nạn nhân… Huyện Triệu Phong là một trong số những địa bàn quan trọng của dự án

Những nghiên cứu khác do Văn phòng Điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị phối hợp cùng các tổ chức, ban ngành, vùng dự án thực hiện cũng

được xem là khá đầy đủ và cụ thể Có thể kể đến như: “Nghiên cứu nhận thức

- thái độ - hành vi về hiểm họa của bom mìn và tai nạn bom mìn sau chiến

Trang 16

tranh tại tỉnh Quảng Trị, Việt Nam” [63] hoàn thành tháng 12/2002 do

Renew phối hợp với Sở Y tế tỉnh Quảng Trị thực hiện

Cũng trong năm 2002, Renew phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện

Triệu Phong và Đại học Huế tiến hành nghiên cứu “Báo cáo khảo sát ảnh hưởng bom mìn ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” [65] nhằm đánh giá

ảnh hưởng của nó đối với đời sống người dân và tình hình kinh tế xã hội của

huyện Triệu Phong

Tiếp theo các nghiên cứu đã thực hiện, tháng 9/2006, Văn phòng điều phối dự án Renew phối hợp với Sở Ngoại vụ, Sở Y tế tỉnh Quảng Trị thực

hiện “Nghiên cứu tình hình nạn nhân bom mìn và nhận thức về hiểm họa bom mìn sau chiến tranh tại tỉnh Quảng Trị, Việt Nam” [62]

Tuy nhiên, nhìn chung, các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở tính chất những điều tra xã hội học Kết quả nghiên cứu định lượng mới đưa ra số liệu thống kê số lượng bom mìn còn sót lại; số lượng nạn nhân đồng thời nêu lên nguyên nhân, hậu quả của thực trạng đó

Trong “Tham luận về vai trò lực lượng quân sự địa phương trong việc hợp tác với các tổ chức quốc tế thực hiện các hoạt động dò tìm, xử lý bom mìn, vật nổ nhân đạo” của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị năm 2005 tại

Hội nghị tổng kết 5 năm công tác khắc phục hậu quả bom mìn và hỗ trợ nạn

nhân đã tiếp tục khẳng định “Triệu Phong là một trong những địa bàn trọng điểm của các dự án rà phá bom mìn, phục hồi đất đai và hỗ trợ nạn nhân bởi

vì tính chất và mức độ ô nhiễm bom mìn của địa phương trầm trọng so với những địa bàn khác trong toàn tỉnh Do đó, mức độ ảnh hưởng của vấn đề đối với các nạn nhân cũng tăng lên” [4, tr15] Bài viết đã nhấn mạnh tầm quan

trọng của các hoạt động GDPTBM cho nạn nhân như tuyên truyền, tập huấn, trang bị những kỹ năng cơ bản cho người dân, cán bộ địa phương khi gặp bom mìn, khi cứu chữa người bị tai nạn bom mìn Tuy nhiên, những hoạt động trên mới chỉ dừng lại ở tính chất định hướng, hướng dẫn phải làm như

Trang 17

thế nào chứ chưa đi sâu phân tích hiệu quả, hạn chế của từng hoạt động hoặc

dự trù quy mô triển khai của hoạt động, chưa có sự chú ý đối với những hoạt động GDPTBM đặc thù dành cho nhóm đối tượng như người cao tuổi, trẻ em,

Một điểm đáng chú ý là những năm gần đây đã có các nghiên cứu khoa học là khóa luận tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành CTXH của trường Đại học Khoa học, Đại học Huế đã đề cập đến vấn đề này như: Khóa luận tốt nghiệp

“CTXH với nạn nhân tai nạn bom mìn, vật liệu nổ tại huyện Triệu Phong,

Trang 18

tỉnh Quảng Trị” [31] của Hồ Sỹ Thái thực hiện tháng 5/2009, khóa luận “Vai trò của CTXH đối với nghề thu gom phế liệu chiến tranh (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị)” [14] của Trần Thanh Loan và khóa luận “Thực hành CTXH đối với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị)” [42] của Hồ Thanh Tuấn cùng thực hiện

Do đó, luận văn tốt nghiệp với đề tài “CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)” hoàn toàn không phải là một “phát kiến”, một chủ đề mới trong hoạt động thực

tiễn cũng như trong khoa học nghiên cứu Thế nhưng cái mới của luận văn chính là việc cùng một lúc lột tả hai vấn đề đó là thực trạng bom mìn, tai nạn bom mìn, công tác khắc phục hậu quả bom mìn, nạn nhân bom mìn và nhận thức của họ đối với vấn đề bom mìn như thế nào?; đồng thời đề xuất các hoạt động CTXH nhóm nhằm thông qua đó trị liệu về tâm lý cung cấp các kiến thức cơ bản về bom mìn, hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn bom mìn, tạo môi trường nhóm để các nạn nhân và gia đình có thể chia sẻ những vấn đề khó khăn gặp phải sau tai nạn, những mong muốn, nhu cầu hiện tại và hỗ trợ

họ vươn lên trong cuộc sống

Trang 19

Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần giảm thiểu hậu quả tai nạn bom mìn đối với người dân địa phương, hướng họ đến một cuộc sống an toàn, tốt đẹp

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu đã vận dụng một số lý thuyết Xã hội học và CTXH như: thuyết nhu cầu, thuyết vai trò, thuyết trao đổi xã hội… để xác định nhu cầu của nhóm; vị trí, vai trò của các nhóm viên Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc bổ sung và phát triển hệ thống các lý luận, phương pháp trong nghiên cứu về các vấn đề liên quan như CTXH, CTXH nhóm, nhu cầu, vai trò của nhóm xã hội…

Đề tài góp phần làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu đi sau

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng bom mìn còn sót lại, nạn nhân bom mìn, tai nạn bom mìn sau chiến tranh tại địa phương Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hoạt động CTXH nhóm với nạn nhân nhằm mục tiêu

hỗ trợ về tâm lý và trao truyền cho họ những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng

để phòng tránh tai nạn lặp lại đối với bản thân, gia đình và cộng đồng

Đối với bản thân nhà nghiên cứu, qua quá trình tìm hiểu thực tế đã có cơ hội áp dụng những lý thuyết và phương pháp đã được học vào thực tiễn cuộc sống Từ đó, giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và

có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và quá trình công tác của bản thân

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng vấn đề bom mìn, tai nạn bom mìn, nạn nhân bom mìn và mức độ nhận thức của các nạn nhân về vấn đề bom mìn sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong từ đó đề xuất các hoạt động CTXH

Trang 20

nhóm với nạn nhân bom mìn nhằm góp phần trị liệu về tâm lý và nâng cao nhận thức về vấn đề bom mìn cho nạn nhân

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ các khái niệm lý thuyết như bom mìn, nạn nhân bom mìn, CTXH, CTXH nhóm

Tìm hiểu, mô tả, phân tích thực trạng bom mìn, tai nạn bom mìn và các hoạt động khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh đã được triển khai tại huyện Triệu Phong

Tìm hiểu, phân tích thực trạng nạn nhân và mức độ nhận thức của nạn nhân đối với vấn đề bom mìn sau chiến tranh

Đề xuất các hoạt động CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn nhằm hỗ trợ giải quyết những khó khăn về mặt tâm lý và nâng cao nhận thức về vấn đề bom mìn cho nạn nhân

5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tƣợng nghiên cứu

CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn

Chấn thương

đa phần

Mất một, hai tay hoặc hỏng mắt

Chấn thương tâm lý

Số lượng

Gia đình nạn nhân bom mìn

Cán bộ chính quyền, ban ngành, đoàn thể địa phương

Cán bộ dự án Renew

Trang 21

5.3 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: 19 xã, thị trấn thuộc huyện Triệu Phong

Thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014

Giới hạn phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu thực trạng bom mìn, tai nạn bom mìn, nạn nhân bom mìn và nhận thức của nạn nhân đối với thực trạng bom mìn sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong, đề xuất các hoạt động CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn

6 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Thực trạng bom mìn, tai nạn bom mìn và các hoạt động khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong như thế nào?

(2) Tình hình nạn nhân và nhận thức của các nạn nhân về hiểm họa bom mìn sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong ra sao?

(3) Các hoạt động CTXH nhóm có vai trò như thế nào đối với nạn nhân bom mìn tại huyện Triệu Phong?

7 Giả thuyết nghiên cứu

(1)Bom mìn còn sót lại, tai nạn bom mìn đã và đang đe dọa cuộc sống của người dân và có nhiều hoạt động khắc phục hậu quả bom mìn được triển khai tại huyện Triệu Phong

(2)Nạn nhân bom mìn tại huyện Triệu Phong gồm nhiều thành phần, lứa tuổi và có nhận thức nhất định đối với hiểm họa bom mìn sau chiến tranh (3)Các hoạt động CTXH nhóm có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nạn nhân về mặt tâm lý và nâng cao nhận thức về vấn đề bom mìn và cách phòng tránh tai nạn bom mìn

8 Phương pháp thu thập thông tin

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu một số tài liệu về vấn đề bom mìn của các cơ quan, tổ chức trong và

Trang 22

ngoài nước; đặc biệt là của Văn phòng điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị; báo cáo tình hình kinh tế xã hội hàng năm của huyện và các xã, thị trấn; báo cáo tổng kết hoạt động hàng năm của các cơ quan, đoàn thể huyện Triệu Phong… và các tài liệu liên quan khác (xem phần Danh mục tài liệu tham khảo)

8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Trong quá trình thực hiện đề tài, nhà nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu 17 người, trong đó: 7 nạn nhân bom mìn; 8 cán bộ chính quyền, ban ngành, đoàn thể cấp huyện (Phó chủ tịch huyện và cán bộ Phòng Lao động thương binh và xã hội, Phòng Văn hóa thông tin, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Ban chỉ huy quân sự, Trung tâm y

tế huyện); 2 cán bộ Dự án Renew

8.3 Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi

Trong nghiên cứu này, nhà nghiên cứu tiến hành phỏng vấn theo bảng hỏi (xem phụ lục 3) đối với 76 nạn nhân bom mìn được chọn ngẫu nhiên

Số lượng phỏng vấn 76 nạn nhân (04 nạn nhân/ 01 xã, thị trấn)

Cơ cấu độ tuổi

25% nạn nhân dưới 15 tuổi

25% nạn nhân 16 - 30 tuổi

25% nạn nhân 31 - 49 tuổi

25% nạn nhân từ 50 tuổi trở lên

Cơ cấu giới tính 50% nam, 50% nữ

8.4 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung

Trong nghiên cứu này, nhà nghiên cứu tiến hành 3 cuộc thảo luận nhóm, mỗi nhóm 7 người Bao gồm: Nhóm nạn nhân bom mìn; nhóm cán bộ chính quyền, ban ngành, đoàn thể cấp xã; nhóm người thân trong gia đình nạn nhân bom mìn

Trang 23

8.5 Phương pháp quan sát

Trong thời gian thực tế tại địa bàn, nhà nghiên cứu đã tiến hành quan sát thực trạng đời sống kinh tế xã hội địa phương; thái độ, hành vi của người dân,

của các nạn nhân bom mìn đối với các vấn đề liên quan

Những quan sát này góp phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên

cứu định lượng đã thu thập được

Trang 24

NỘI DUNG

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1 Bom mìn

Theo định nghĩa của Phong trào Quốc tế vận động cấm mìn sát thương

đưa ra vào năm 1990:

“Bom mìn và các vật liệu nổ khác là loại vũ khí được thiết kế để dùng cho một số mục đích quân sự, bao gồm giết và làm bị thương binh lính của đối phương, phá hủy các phương tiện cơ giới và trang thiết bị khác, ngăn cản việc thâm nhập hay di chuyển của đối phương bằng cách tạo ra những hoàn cảnh nguy hiểm chết người, hay khiến đối phương chần chừ do sợ bom mìn và vật liệu nổ” [25, tr3]

Bom mìn là cách gọi thông thường mang hàm ý cả bom, đạn, mìn và các loại vật liệu nổ khác như: mìn, bom lớn, bom bi, đạn pháo, lựu đạn, đạn cối, đạn rốckét

Về nguyên tắc, bom mìn là loại vũ khí sử dụng thuốc nổ hoặc các chất cháy, vi trùng, hóa học, hạt nhân… để phá hủy công trình cơ sở hạ tầng, giao thông, sản xuất và sát thương con người cùng tất cả các loại sinh vật khác trong phạm vi ảnh hưởng

Bom mìn có thể được bắn ra từ máy bay, tàu chiến, hỏa lực bộ binh đã phát nổ hoặc chưa nổ, có thể được gài lại hay bỏ lại sau khi các bên tham chiến đã rút đi

1.1.2 Nạn nhân bom mìn

Nạn nhân bom mìn là những người bị ảnh hưởng bởi tai nạn do bom mìn gây ra bao gồm dẫn đến chết người, làm mất những khả năng bình thường

Trang 25

vốn có của con người trong lao động và sinh hoạt hàng ngày đồng thời gây nên chấn động về mặt tâm lý [59, tr2]

Nạn nhân bom mìn thường chịu các hậu quả như: chết người; cụt chân, cụt tay; mù mắt; ảnh hưởng tâm lý và các thương tật khác…

Tai nạn bom mìn không chỉ ảnh hưởng đến bản thân các nạn nhân mà

còn ảnh hưởng đến gia đình và cộng đồng của họ

Năm 1970, Hiệp hội Quốc gia các nhân viên xã hội Hoa Kỳ (NASW)

định nghĩa “CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những

cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy” [21, tr43]

Theo định nghĩa của Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội Quốc tế (IFSW)

thông qua tháng 07/2000 tại Montreal (Canada) thì “CTXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và

hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề” [26, tr25]

Năm 2004, Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế họp ở Canada đã

thảo luận, bổ sung và đưa ra định nghĩa: “CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội, bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) vào quá trình

Trang 26

tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng CTXH đã giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân”[21, tr45]

Tháng 7/2011, Hiệp hội CTXH và các trường đào tạo CTXH quốc tế

thống nhất một định nghĩa về CTXH: “CTXH là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống” [16, tr12]

Tóm lại, CTXH là một khoa học, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế nâng cao năng lực, tăng cường các chức năng xã hội nhằm ứng phó với những vấn đề xã hội tiêu cực xảy ra

từ đó hướng đến mục tiêu phát triển bền vững

1.1.4 Công tác xã hội nhóm

CTXH nhóm là một trong những phương pháp cơ bản của CTXH Theo

từ điển CTXH của Barker (1995), CTXH nhóm được định nghĩa là “Một định hướng và phương pháp can thiệp CTXH, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm và những vấn đề chung, họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể Đối lập với trị liệu tâm lý nhóm, mục tiêu của CTXH nhóm không chỉ là trị liệu những vấn đề tâm lý, tình cảm mà còn trao đổi thông tin, phát triển các

kỹ năng xã hội và lao động, thay đổi các định hướng giá trị và làm chuyển biến các hành vi chống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả Các kỹ thuật can thiệp đều được đưa vào quá trình CTXH nhóm nhưng không hạn chế kiểm soát những trao đổi về trị liệu” [13, tr35]

Như vậy, CTXH nhóm được coi là một phương pháp can thiệp của CTXH, là một tiến trình trợ giúp mà các thành viên trong nhóm được tạo cơ

Trang 27

hội và môi trường để tham gia vào các hoạt động chung, có sự chia sẻ, tương tác lẫn nhau nhằm đạt mục tiêu chung của nhóm và giải quyết được vấn đề của từng cá nhân trong nhóm Trong đó, nhân viên xã hội chỉ đóng vai trò là chất xúc tác, hướng dẫn, tổ chức sinh hoạt nhóm để chính các thành viên trong nhóm có sự tương tác lẫn nhau và dùng mối quan hệ đó làm công cụ chính để nhận diện và giải quyết vấn đề của từng cá nhân hoặc của nhóm Với các hoạt động CTXH nhóm được đề xuất trong nghiên cứu, các nạn nhân bom mìn có cơ hội tham gia sinh hoạt trong nhóm nạn nhân cùng hoàn cảnh sẽ giúp các nạn nhân bom mìn học cách cảm thông với người khác và hỗ trợ lẫn nhau Qua các bài tập tương tác nhóm, bản thân nạn nhân được chia sẻ những tâm sự, lo lắng của mình, đồng thời được nghe những người khác chia

sẻ cảm xúc Đây là những tương tác có ảnh hưởng tích cực đến cảm xúc của các nạn nhân vì họ thường có ý thức che giấu việc bản thân từng bị tai nạn cùng với những lo lắng buồn rầu của mình, từ đó tạo ra những cảm xúc bị dồn nén trong lòng Nạn nhân có cảm giác đơn độc, càng làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng Vì thế, sinh hoạt nhóm với những người khác cùng cảnh ngộ là cách để giải thoát khỏi những cảm xúc tiêu cực đó

Mặt khác, làm việc nhóm cùng với những người chung cảnh ngộ giúp các nạn nhân có thêm nhiều kiến thức về bom mìn và các vấn đề liên quan, niềm tin và sức mạnh trong cuộc sống Phần lớn nạn nhân bị tai nạn do không

có hoặc có sự hiểu biết về bom mìn còn hạn chế, bên cạnh đó khi bị tai nạn họ thường rơi vào cảm giác bất lực, vô vọng, buông xuôi nên nguy cơ bị tai nạn lặp lại hoặc suy sụp tinh thần sau tai nạn là điều không thể tránh khỏi Nhân viên xã hội trong các hoạt động nhóm, với nhiều bài tập về giá trị và niềm tin, cùng với cách khai thác và nhấn mạnh các điểm mạnh của nạn nhân sẽ giúp

họ lấy lại nghị lực trong cuộc sống Ngoài ra, các hoạt động đóng vai, xử lý tình huống giúp trang bị nhiều kiến thức và kỹ năng về phòng tránh tai nạn bom mìn cho bản thân những người tham gia trong nhóm

Trang 28

Thông qua hoạt động nhóm giúp các nạn nhân học được kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội Nhiều nạn nhân ít có cơ hội hoặc e ngại khi tiếp xúc với mọi người sau tai nạn của bản thân nên nhiều mối quan hệ xã hội bị gián đoạn hoặc bị cắt đứt hoàn toàn Khi tham gia vào nhóm, với sự giúp đỡ của nhân viên xã hội, họ được học các kỹ năng giao tiếp, được sống trong mối quan hệ xã hội thân ái, chân tình Những điều này rất cần thiết cho sự phát triển của các nạn nhân về mặt tinh thần và xã hội

CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn nhằm vào nhóm yếu thế, có nguy cơ cao trong xã hội Do đó, phương pháp này góp phần hỗ trợ các nạn nhân hồi phục tâm lý sau các tai nạn đồng thời nâng cao khả năng ứng phó của họ trước các tình huống nguy hiểm, đe dọa đến sự an toàn và tính mạng của bản

thân

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Thuyết nhu cầu

Mỗi con người đều có những nhu cầu về vật chất và tinh thần Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và phát triển Nhu cầu của con người phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhận thức và vị trí xã hội của họ

Abraham Maslow (1908 – 1970) – nhà tâm lý học gốc Do Thái đã chia nhu cầu con người thành năm thang bậc từ thấp đến cao:

Nhu cầu sống còn: bao gồm nhu cầu về không khí, nước, thức ăn, quần

áo, nhà ở, nghỉ ngơi… Nếu nhu cầu cơ bản này không đạt được sẽ không thể tiến thêm ở bậc nhu cầu tiếp theo

Nhu cầu an toàn: được sống trong thế giới hòa bình, không có chiến tranh, bạo lực, hiểm họa sau chiến tranh, xung đột vũ trang…

Nhu cầu thuộc vào một nhóm nào đó: là con người xã hội, con người có các nhu cầu giao tiếp, nhu cầu sự yêu thương, chia sẻ Họ không muốn sự cô

Trang 29

đơn, bị bỏ ra ngoài lề xã hội, họ mong muốn có hạnh phúc gia đình, sự tham gia và thuộc vào một nhóm nào đó (gia đình, bạn bè, cộng đồng)

Nhu cầu được tôn trọng: tự tôn trọng là giá trị của chính cá nhân mỗi người, được người khác tôn trọng là sự mong muốn được người khác thừa nhận giá trị của mình

Nhu cầu hoàn thiện: trong cuộc sống, ai cũng mong muốn tự khẳng định mình và được xã hội tạo điều kiện để hoàn thiện và phát triển cá nhân [16, tr163]

Vận dụng thuyết nhu cầu vào nghiên cứu này chúng ta thấy rằng: việc đề xuất các hoạt động CTXH nhóm nhằm tạo cơ hội cho nạn nhân tham gia vào các hoạt động nhóm như thảo luận, trao đổi, chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm; đóng vai; trò chơi… sẽ giúp họ có cảm giác được thuộc về một nhóm Đây là nhu cầu cơ bản bậc ba của con người được đưa ra trong năm bậc thang nhu cầu của con người, đứng sau nhu cầu cơ bản (ăn, mặc, ở) và nhu cầu an toàn Điều này đặc biệt quan trọng hơn cả đối với nạn nhân bom mìn Bởi vì sau tai nạn, trong cuộc sống hàng ngày, bản thân các nạn nhân luôn sống trong cảm giác lo sợ, buồn chán vì ám ảnh bởi tai nạn, cảm giác mặc cảm, bị mọi người

xa lánh vì bây giờ họ đã trở thành người tàn tật, người thừa trong xã hội Vì vậy, khi tham gia vào nhóm những nạn nhân có cùng hoàn cảnh, được chấp nhận và tôn trọng, họ sẽ cảm nhận được mình là một phần của nhóm, cảm thấy bản thân mình quan trọng và có giá trị Nhờ sự tương tác qua lại giữa các thành viên trong nhóm với nhau, các thành viên tạo ra sự gắn bó với nhau và với nhóm

1.2.2 Thuyết vai trò

Thông thường mỗi cá nhân có một hoặc nhiều vị trí, vai trò trong xã hội Vai trò bao gồm một hệ thống các nhiệm vụ, chức năng, chuẩn mực chỉ đạo hành vi con người Những vai trò chỉ ra cụ thể cách thức nhằm đạt được mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cũng chỉ ra những nội dung hoạt động

Trang 30

cần thiết đòi hỏi phải có trong bối cảnh hoặc tình huống cho sẵn, tình huống bất ngờ [20, tr98]

Hầu hết các hành vi xã hội hàng ngày của cá nhân quan sát được thực ra

là những việc mà con người thực hiện trong vai trò của họ Do đó, khi đề cập đến vai trò cho một vị trí nào đó, người ta có thể đoán trước được một phần lớn các hành vi của người đó trong vị trí mà họ sẽ có hoặc sẽ thể hiện

Hành vi con người chịu sự chỉ đạo của những mong muốn của chính cá nhân họ hoặc của những người khác, không chỉ là những hành vi có ý thức

mà còn có những hành vi vô thức, mơ hồ Những mong muốn cho mỗi vai trò

có thể khác nhau nhưng phù hợp với vai trò mà cá nhân thực hiện hoặc thể hiện trong đời sống hàng ngày của họ Khi vai trò phù hợp với khả năng của

cá nhân thì cá nhân đó sẽ đảm trách tốt vai trò được kỳ vọng, được phân công Muốn thay đổi hành vi cá nhân trước, hết cần tạo cơ hội để cá nhân đó thay đổi vai trò

Vận dụng thuyết vai trò vào nghiên cứu này chúng ta thấy rằng trong nhóm nhất định tồn tại các vị trí khác nhau, các vai trò khác nhau và các vị trí, vai trò này được phân công, thể hiện bởi các thành viên nhóm Mỗi vị trí thể hiện chi tiết các vai trò bao gồm một chuỗi các chức năng cần thiết

Vì vậy, khi là thành viên của nhóm trong các hoạt động, các cá nhân thành viên luôn đóng một vai trò cụ thể nào đó với những yêu cầu, nhiệm vụ được giao để thực hiện vai trò và họ luôn cố gắng để hoàn thành các chức năng đó Sử dụng các luận điểm chính của thuyết này giúp nhân viên xã hội cũng như các nhóm xác định và phân công vị trí, đảm nhận phù hợp vai trò cho mỗi thành viên trong nhóm để họ tích cực tham gia, thể hiện, phát huy vai trò, năng lực góp phần thực hiện mục tiêu chung của nhóm

Những nạn nhân bom mìn, mặc dù bên ngoài xã hội, mỗi cá nhân có những vị trí, vai trò khác nhau như bác nông dân, em học sinh, anh công nhân nhưng khi tham gia vào nhóm họ đều là những nhóm viên của mỗi

Trang 31

nhóm, tích cực tham gia các sinh hoạt nhóm và cùng chung nhiệm vụ hoàn thành các mục tiêu của nhóm đã đề ra

Những nhóm viên tích cực còn thể hiện rõ vai trò bao quát, quán xuyến các hoạt động trong nhóm, hỗ trợ kịp thời các nhóm viên khác nhằm giúp họ theo kịp với nhịp độ chung của nhóm

Đặc biệt, có những nhóm viên còn có sự rụt rè, bỡ ngỡ với vai trò mới của mình thì nhân viên xã hội và các nhóm trưởng cần có sự động viên, khích

lệ họ tham gia vào hoạt động chung của nhóm, khơi gợi những năng lực tiềm

ẩn của các cá nhân

1.2.3 Thuyết trao đổi xã hội

Theo nhà xã hội học G.Homans, các cá nhân hành động theo nguyên tắc trao đổi các giá trị vật chất và tinh thần như sự ủng hộ, tán thưởng hay danh dự…[13, tr94] Trao và có xu hướng nhận lại Khi nhận nhiều, cá nhân sẽ cảm

thấy có tác động, áp lực: “Của biếu là của lo của cho là của nợ” Do đó, họ

lại trao lại cho người đã trao cho họ một cái gì đó có giá trị tương ứng với cái

mà họ đã nhận Nói cách khác, hành động của con người là cân bằng giữa chi phí và phần thưởng Xu hướng cân bằng này thể hiện ở chỗ các cá nhân mong muốn đạt được những phần thưởng lớn nhất so với chi phí bỏ ra Ông cho rằng toàn bộ các tương tác xã hội là một tập hợp phức tạp của những trao đổi Ứng dụng thuyết trao đổi xã hội trong CTXH nhóm là đưa ra quan điểm thành viên nhóm quan hệ tương tác với nhau thông qua sự trao đổi và dựa trên

ý niệm về sự công bằng Khi nhận thức được sức mạnh của lợi ích cá nhân đạt được khi tham gia vào nhóm, trong các cơ hội lựa chọn của đối tượng cũng như các hành vi của họ sẽ tăng tính chính xác trong việc đánh giá, do vậy sẽ tăng hiệu quả can thiệp

Trong trường hợp này, các nạn nhân bom mìn khi tham gia vào các hoạt động CTXH được đề xuất như: thảo luận, chia sẻ, đóng vai, trò chơi trị liệu

sẽ quan tâm đến những lợi ích mà họ có được như những kiến thức cơ bản về

Trang 32

bom mìn, tai nạn bom mìn, cách phòng tránh cũng như việc thực hành những kiến thức đó như thế nào; những lợi ích khác như được hỗ trợ về tâm lý, tình cảm, được tạo điều kiện thể hiện bản thân… là những lợi ích khó đo đếm được bằng vật chất

Do đó, để đạt được những lợi ích trên, các nạn nhân bom mìn phải xây dựng và hình thành nên các quan niệm, hành vi đúng đắn trên cơ sở các ý kiến, chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên trong nhóm với nhau Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc rèn luyện những hành vi chuẩn mực, đúng đắn khi gặp tình huống nguy hiểm (gặp bom mìn, thấy người khác gặp tai nạn bom mìn…) nhằm giảm thiểu những hậu quả do tai nạn bom mìn gây ra

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Khái quát về tỉnh Quảng Trị

Quảng Trị là tỉnh ven biển nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào và phía Đông giáp biển Đông với diện tích

tự nhiên toàn tỉnh là 4745,77 km2, dân số 604.700 người, mật độ dân số 128 người/km2 (tính đến 31/12/2013) [79]

Tỉnh nằm trong khu vực có khí hậu khắc nghiệt bậc nhất cả nước, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân Mùa hè do ảnh hưởng của gió Tây Nam nên thường có khí hậu khô nóng, nhiệt độ có khi lên đến trên dưới 40OC Ngoài ra, lũ lụt, mưa đá, hạn hán và các thiên tai khác thường xuyên xuất hiện hàng năm gây thiệt hại lớn đến sản xuất nông nghiệp

và phá hủy hệ thống hạ tầng kinh tế, nhà cửa của cư dân

Nền kinh tế của tỉnh chủ yếu dựa vào canh tác nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Tài nguyên thiên nhiên không phong phú và không có giá trị kinh tế cao nên trên địa bàn tỉnh ít có các cơ sở sản xuất công nghiệp quy

mô lớn

Trang 33

Bên cạnh đó, Quảng Trị còn phải gánh chịu hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại Nơi đây từng là trọng điểm của các trận đánh quyết liệt, là mục tiêu của những chiến dịch ném bom tàn khốc nhất trong lịch sử thế giới, với các trận chiến quy mô lớn như Tà Cơn - Khe Sanh (1968), Thành cổ Quảng Trị (1972)…

Sau chiến tranh, toàn bộ cơ sở hạ tầng của tỉnh bị tàn phá hoàn toàn, hầu hết cư dân sơ tán đi nơi khác Các vùng đồng bằng, ven biển và miền núi dày đặc bom mìn, chất độc hóa học; làng mạc tiêu điều; cây cối tro trọi

Từ sau ngày đất nước thống nhất cho đến nay, với nhiều nỗ lực cố gắng của Nhà nước, các cấp chính quyền và nhân dân đã từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đời sống mới Tuy nhiên, hiện nay Quảng Trị vẫn nằm trong nhóm tỉnh nghèo của cả nước, kinh tế chậm phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng lạc hậu Đặc biệt, những hậu quả của chiến tranh như chất độc hóa học, bom mìn, ô nhiễm đất, nguồn nước… vẫn chưa được khắc phục triệt để

1.3.2 Khái quát về huyện Triệu Phong

Triệu Phong là huyện đồng bằng nằm về phía Đông Nam tỉnh Quảng Trị; phía Bắc giáp thành phố Đông Hà, huyện Cam Lộ và Gio Linh; phía Nam giáp thị xã Quảng Trị và huyện Hải Lăng; phía Đông giáp biển Đông và phía Tây giáp huyện Đakrông Diện tích tự nhiên là 354,92 km2 (chiếm 7,48% diện

tích toàn tỉnh) [80] Với vị trí địa lý đó, huyện có nhiều điều kiện thuận lợi để

phát triển kinh tế xã hội và giao thương với các địa phương khác trong toàn

tỉnh và cả nước

Đất đai của huyện chia làm ba vùng đặc trưng: dải cát phía Đông, vùng đồng bằng và vùng gò đồi phía Tây Với sự phân bố đất đai như vậy, Triệu Phong trở thành một trong những khu vực có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện Hệ thống sông ngòi trên địa bàn

Trang 34

như Thạch Hãn, sông Hiếu, Vĩnh Phước, Vĩnh Định có giá trị lớn về thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và giao thông thủy

Triệu Phong là vùng đất có điều kiện khí hậu không mấy thuận lợi, thiên tai thường xuyên xảy ra Ngoài ra, đây cũng là vùng đất khá nghèo các loại khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên Chỉ có cát trắng vùng ven biển và tài nguyên rừng phía Tây huyện, tuy nhiên diện tích và sản lượng khai thác không đáng kể

Huyện có 19 đơn vị hành chính, bao gồm thị trấn Ái Tử, xã Triệu An, Triệu Ái, Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Đông, Triệu Giang, Triệu Hòa, Triệu Lăng, Triệu Long, Triệu Phước, Triệu Sơn, Triệu Tài, Triệu Thành, Triệu Thuận, Triệu Thượng, Triệu Trạch, Triệu Trung, Triệu Vân [80]

Dân số Triệu Phong (tính đến ngày 31/12/2013) là 112.057 người (chiếm 18,5% dân số toàn tỉnh) với mật độ dân số là 306 người/km2 (chỉ sau mật độ dân số của thành phố Đông Hà và thị xã Quảng Trị) [8, tr5]

Phần lớn dân cư Triệu Phong là người Kinh, có nguồn gốc từ Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ di cư vào khai canh lập địa ở đây [10, tr12] Triệu Phong cũng

là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng Đây là nơi thành lập chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị và là mảnh đất đã sinh ra nhiều người con ưu tú của đất nước như: Tổng bí thư Lê Duẩn, Phó thủ tướng Trần Hữu Dực, Phó thủ tướng Trần Quỳnh, Đại tướng Đoàn Khuê…[10, tr45] Huyện Triệu Phong trong những năm chiến tranh là nơi có các căn cứ quân sự của Mỹ ngụy, là trung tâm chiến lược nhằm làm bàn đạp đánh phá miền Bắc, cho nên hàng ngàn tấn bom mìn, đạn dược đã rải xuống mảnh đất này Mặt khác, nơi đây cũng đã diễn ra nhiều trận giao tranh ác liệt, nhiều làng mạc phải hứng chịu hậu quả của chiến tranh, nhiều làng không còn một ngôi nhà nguyên vẹn, người dân phải ly tán

Từ sau ngày đất nước thống nhất, cùng với cả nước, nhân dân trong huyện đã và đang tiến hành khắc phục hậu quả của chiến tranh, xây dựng lại

Trang 35

quê hương Tuy nhiên, hàng nghìn tấn bom mìn còn sót lại đang từng ngày từng giờ đe dọa đến tính mạng và sát hại những người dân vô tội, gây cản trở đến sinh hoạt, lao động sản xuất Đó là cơ sở để nghiên cứu này trên cơ sở thực trạng bom mìn, tai nạn bom mìn và nạn nhân bom mìn tại địa phương, đề xuất các hoạt động CTXH nhóm phù hợp nhằm hỗ trợ về mặt tinh thần và nâng cao kiến thức, hình thành các kỹ năng mới cho nhóm nạn nhân, góp phần giảm thiểu tai nạn lặp lại đối với các nạn nhân cũng như người thân và những người trong cộng đồng của họ

Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần cùng với các nỗ lực của địa phương nhằm giảm thiểu và khắc phục triệt để hậu quả tai nạn bom mìn

Trang 36

Chương 2 Thực trạng vấn đề bom mìn và công tác khắc phục hậu quả

bom mìn sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong

2.1 Tình hình bom mìn còn sót lại sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong

Trong chiến tranh, đã có rất nhiều loại bom mìn được sử dụng và cho đến nay, nó vẫn còn ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt thường ngày của người dân Theo báo cáo kết quả rà phá bom mìn của Quân đội nhân dân Việt Nam

và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này tại Triệu Phong từ trước đến nay, hiện tại, trên địa bàn huyện có sự hiện diện của rất nhiều chủng loại bom mìn với kích cỡ khác nhau như mìn sát thương, mìn chống tăng, bom kích cỡ lớn, bom bi, đạn pháo, đạn cối, lựu đạn, đạn rốckét…[53]

Hiện nay, có thể tìm thấy các loại bom mìn này ở nhiều địa điểm tại huyện Triệu Phong, thậm chí ngay trong vườn nhà, hàng rào, bờ ao của các hộ gia đình, khu dân cư… Do thời gian đã lâu cộng với các yếu tố như lũ lụt, xói

lở đất, canh tác nông nghiệp… rất nhiều loại bom mìn được chôn dưới đất, xung quanh các đồn bốt, căn cứ quân sự cũ… nay lộ lên trên mặt đất hoặc chỉ

được che phủ bởi một lớp đất rất mỏng: “Cái gì chứ bom mìn ở vùng này không thiếu, đi đâu cũng có thể gặp bom mìn, đa số các loại bom mìn này do thời gian đã lâu nên hoen gỉ hết nhưng mà còn nhiều lắm Không biết đến bao giờ vùng này mới sạch bom mìn hoàn toàn” (PVS nạn nhân, Nam, 69 tuổi)

Đây thực sự là mối nguy hiểm tiềm tàng vì những quả bom, quả mìn này có thể phát nổ bất cứ lúc nào, kể cả khi không có sự can thiệp của con người và các loại phương tiện khác

Do số lượng bom mìn còn sót lại phân bố rải rác khắp nơi trên địa bàn huyện nên người dân nơi đây gặp phải bom mìn trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Đa số những nạn nhân được phỏng vấn bằng bảng hỏi trả lời họ gặp bom mìn khi đang làm ruộng Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa ý kiến của nam giới và nữ giới: nam 79% và nữ 92% Điều này dễ dàng được lý giải bởi

Trang 37

vì đối với nữ giới hoạt động lao động chính là làm ruộng còn đối với nam giới ngoài hoạt động làm ruộng thì họ còn tham gia các công việc khác như làm rừng, xây dựng, đánh bắt thủy sản…cho nên tỷ lệ nữ giới gặp bom mìn trong lúc làm ruộng thường cao hơn nam giới

Các hoạt động khác có tỷ lệ đáng lưu ý theo thứ tự giảm dần bao gồm: nhặt củi, lấy nước (76%), tìm phế liệu chiến tranh (nam 65% và nữ 52%), xem tháo gỡ bom mìn (50%), đánh cá (39%), chăn thả gia súc (39%)…

Bảng 2.1: Kết quả khảo sát về hoàn cảnh gặp bom mìn xếp theo thứ tự

(1 = cao nhất, 7 = thấp nhất)

Hoàn cảnh gặp bom mìn

1 Làm ruộng (79%) Làm ruộng (92%)

2 Tìm phế liệu (65%) Nhặt củi, lấy nước (76%)

3 Xem tháo gỡ bom mìn (50%) Tìm phế liệu (52%)

4 Đánh cá (39%)

5 Chăn thả gia súc (25%)

6 Đi rừng (28%) Chăn thả gia súc (39%)

7 Chơi đùa (23%)

(Nguồn: Điều tra thực tế)

Kết quả khảo sát cho thấy rằng, hoàn cảnh nạn nhân gặp phải bom mìn chủ yếu là khi đang thực hiện các hoạt động ngoài trời, lao động sản xuất Làm ruộng vẫn là hoạt động sản xuất chính ở Triệu Phong khi phần lớn dân

số hiện nay vẫn sống dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp Hoạt động này đứng đầu tiên trong số những hoàn cảnh gặp bom mìn Nếu so sánh thực tế thì

thấy rằng đa số nạn nhân là nông dân: “Chúng tôi ở đây chỉ có làm ruộng Hàng ngày chúng tôi chỉ từ nhà ra ruộng, làm xong thì từ ruộng về nhà, mà thời gian ở ngoài đó còn nhiều hơn ở nhà nữa Vì thế nếu không gặp bom mìn

ở nhà thì gặp ở ruộng thôi” (TLN nạn nhân, Nữ) Điều này cho thấy người

Trang 38

nông dân tại địa phương vẫn là một trong những đối tượng cần quan tâm nhất khi mà hoạt động làm ruộng mang tính cơ bản của cuộc sống, nguy cơ gặp bom mìn cao bởi vì họ ít có những lựa chọn công việc khác cho bản thân Hoạt động nhặt củi, lấy nước khi gặp bom mìn chiếm tỷ lệ cao thứ hai trong số những hoàn cảnh gặp bom mìn Trong đó, hoạt động này phổ biến ở các độ tuổi dưới 15 tuổi (34%) và 16 – 30 tuổi (33%), tiếp theo là độ tuổi 31 -

49 tuổi (24%) và trên 50 tuổi (9%): “Lúc chưa bị tai nạn thì tuần nào tôi cũng vào rú (rừng) một hai lần gì đó để lấy củi về bán và đun nấu, có khi gặp cả trái bom khoảng hơn 3 mét ngay trên đường vào rú Biết là nguy hiểm nhưng không vào đó lấy củi thì không có gì bán lấy tiền mua gạo”(TLN nạn nhân, Nữ)

Những hoàn cảnh gặp bom mìn đáng lưu ý tiếp theo là tìm phế liệu chiến tranh (nam 65% và nữ 52%), xem tháo gỡ bom mìn (50%) Đây là hai hoạt động hiện nay vẫn còn khá phổ biến trên địa bàn huyện Người dân tham gia

rà tìm, thu mua, tháo gỡ bom mìn bán kiếm tiền chủ yếu tập trung ở lứa tuổi

Lo lắm nhưng không biết làm gì hơn” (TLN nạn nhân, Nam) Những hoạt

động này diễn ra liên tục và lặp lại hàng ngày nên nguy cơ đối mặt với tai nạn của họ rất cao Do đó, vấn đề đặt ra đối với các cấp lãnh đạo, ban ngành đoàn thể địa phương là đẩy mạnh các biện pháp phát triển kinh tế, tạo sinh kế ổn

Trang 39

định, bền vững để người dân vừa đảm bảo được đời sống hàng ngày vừa không phải tham gia vào các hoạt động mang tính chất nguy hiểm liên quan đến bom mìn

Theo số liệu thống kê của Văn phòng điều phối dự án Renew tỉnh Quảng

Trị, đến cuối năm 2013, số lượng bom mìn còn sót lại trên địa bàn huyện là

445 và ước tính có ít nhất trên 200 khu vực bị nhiễm bom mìn, trong đó có cả

những khu vực dân cư [53] (xem phụ lục 1) “Huyện Triệu Phong được xem là

vùng dự án trọng điểm trong các huyện ở tỉnh Quảng Trị mà chúng tôi đang thực hiện công tác rà phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh Bởi vì trong chiến tranh đây là địa bàn chiến lược về mặt quân sự, là khu vực tập trung nhiều kho tàng đạn dược nên số bom mìn còn sót lại nhiều, có khi chúng tôi phát hiện được nguyên một hầm chứa bom, đạn, mìn, súng trong căn cứ quân sự cũ của Mỹ Mặc dù số bom mìn, vũ khí này chưa hề được sử dụng và bị tác động ít nhiều bởi yếu tố thời gian, thời tiết nhưng nguy cơ phát

nổ vẫn rất cao”(PVS Nam, 37 tuổi, cán bộ dự án Renew)

Tuy nhiên, đây chỉ là số liệu tương đối được thu thập từ nhiều nguồn thông tin khác nhau như các báo cáo của chính quyền địa phương, của quân đội, thông tin do người dân cung cấp, thông tin từ các đội khảo sát… trong đó

có những nguồn thông tin chưa đầy đủ và chính xác Ước tính số lượng thực

tế gấp nhiều lần số liệu trên

Một số xã có số lượng bom mìn được phát hiện nhiều như Triệu Trạch (59), Triệu Vân (36), Triệu An (31)… [53] Đây là các xã nằm ở vùng ven biển phía Đông của huyện, gần các căn cứ quân sự cũ

Mặt khác, những nơi này trong lịch sử từng là khu vực xảy ra sự giao tranh quyết liệt, số lượng bom đạn rải xuống nhiều Xã Triệu Trạch là địa bàn nằm gần chốt thép Long Quang - trận địa chốt từng diễn ra nhiều trận đánh ác liệt giữa ta và địch nhằm chống địch phản kích tái chiếm thị xã Quảng Trị trong chiến dịch 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị Triệu An và Triệu Vân là

Trang 40

hai xã nằm dọc theo bờ biển, gần quân cảng Cửa Việt, là nơi từng chứng kiến các trận đánh của bộ đội chủ lực ta nhằm chống lại các cuộc đổ bộ của thủy

quân lục chiến Mỹ: “Năm 1972, trong chiến dịch 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị, nhằm ngăn sự tiến công của bộ đội ta vào Thành cổ và bờ nam sông Thạch Hãn, quân đội Mỹ đã huy động nhiều máy bay ném bom, bắn phá

ác liệt vùng này đồng thời các tàu chiến neo đậu bên ngoài cảng Cửa Việt cũng liên tục nã đại bác vào yểm trợ Hầu như không một ngày nào là không

có tiếng bom nổ, tiếng đạn pháo oanh tạc, đến nỗi không một loại cây cỏ nào sống nổi, quang cảnh hoàn toàn trơ trụi” (PVS nạn nhân, Nam, 69 tuổi)

Bên cạnh đó, hệ thống đồn bốt của ngụy quân được xây dựng ở đây rất nhiều và để phòng thủ, chúng gài bom mìn dày đặc theo các tuyến cố thủ Trong thời kỳ chiến tranh, chiến hạm của Mỹ ngoài biển đã thả ngư lôi và bắn rất nhiều pháo cùng các loại đạn dược khác vào các cứ điểm trên đất liền, trong đó tập trung chủ yếu ở địa bàn các xã này

Mặt khác, những xã vùng ven biển do địa hình đất cát nên các loại bom mìn xuyên sâu xuống dưới lòng đất, theo thời gian, do tác động của thời tiết, cát trôi đi, dần dần lộ lên rất nhiều bom, đạn Cũng do địa hình đất cát nên sau mỗi đợt gió Tây Nam thổi cát đi là những quả bom, mìn, đạn lộ thiên, gỉ sét

và sẵn sàng phát nổ

Các xã vùng đồng bằng, số lượng bom mìn được phát hiện cũng không

ít như Triệu Đại (12), Triệu Đông (27)… [53] Đây là địa bàn chiến lược án ngữ con đường huyết mạch từ thị xã Quảng Trị đi quân cảng Cửa Việt nên địch bố trí các loại bom mìn nhằm mục đích phòng thủ khá lớn, ngoài ra cũng

có nhiều căn cứ, đồn bốt dọc theo con đường

Tại các xã vùng gò đồi phía Tây, bom mìn phần lớn được phát hiện ở khu vực xung quanh sân bay Ái Tử như thị trấn Ái Tử (27), Triệu Ái (10), Triệu Giang (41) [53] Đây là vành đai phòng thủ bảo vệ căn cứ và sân bay Ái

Tử: “Trong thời kỳ chiến tranh, sân bay Ái Tử là sân bay quân sự lớn thứ hai

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Jim Monan (1997), Mìn và sự chậm phát triển: Nghiên cứu một trường hợp điển hình tại tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mìn và sự chậm phát triển: Nghiên cứu một trường hợp điển hình tại tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam
Tác giả: Jim Monan
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
13. Nguyễn Thị Thái Lan (chủ biên) (2012), Giáo trình Công tác xã hội nhóm, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội nhóm
Tác giả: Nguyễn Thị Thái Lan (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2012
14. Trần Thanh Loan (2011), Vai trò của công tác xã hội đối với nghề thu gom phế liệu chiến tranh (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị , Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của công tác xã hội đối với nghề thu gom phế liệu chiến tranh (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Trần Thanh Loan
Năm: 2011
15. Trần Thị Hải Lý (2007), Báo cáo chia sẻ kinh nghiệm áp dụng chương trình giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn trong trường tiểu học, Trường tiểu học số 1 Triệu Thượng, Triệu Phong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chia sẻ kinh nghiệm áp dụng chương trình giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn trong trường tiểu học
Tác giả: Trần Thị Hải Lý
Năm: 2007
16. Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2012
17. Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên) (2007), Công tác xã hội ở miền Trung Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội ở miền Trung Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2007
20. Nguyễn Duy Nhiên (2010), Giáo trình Công tác xã hội nhóm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội nhóm
Tác giả: Nguyễn Duy Nhiên
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
21. Nguyễn Duy Nhiên (2008), Nhập môn Công tác xã hội, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Nguyễn Duy Nhiên
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2008
22. Lê Thị Ngọc Oanh (2007), Báo cáo về việc thành lập đội tuyên truyền và tổ chức giao lưu với cộng đồng về “Giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn”, Trường Tiểu học số 2 Triệu Thượng, Triệu Phong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về việc thành lập đội tuyên truyền và tổ chức giao lưu với cộng đồng về “Giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn”
Tác giả: Lê Thị Ngọc Oanh
Năm: 2007
23. Oxford (1994), Mìn: di sản của sự xung đột (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mìn: di sản của sự xung đột (Phiên bản tiếng Việt)
Tác giả: Oxford
Năm: 1994
24. Oxford (1992), Việt Nam: cái giá của hòa bình (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: cái giá của hòa bình (Phiên bản tiếng Việt)
Tác giả: Oxford
Năm: 1992
25. Phong trào Quốc tế vận động cấm mìn sát thương (2005 ), Báo cáo giám sát hoạt động bom mìn năm 2005 (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo cáo giám sát hoạt động bom mìn năm 2005 (Phiên bản tiếng Việt)
26. Lê Văn Phú (2004), Công tác xã hội, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
27. Ronal B.Frankum Jr và Stephen F.Maxner (2003), Tìm hiểu về cuộc chiến tranh Việt Nam, Nxb Wiley, USA. (Phiên bản tiếng Việt) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về cuộc chiến tranh Việt Nam
Tác giả: Ronal B.Frankum Jr và Stephen F.Maxner
Nhà XB: Nxb Wiley
Năm: 2003
30. Mai Kim Thanh (2010), Nhập môn Công tác xã hội, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Mai Kim Thanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
31. Hồ Sỹ Thái (2009), Công tác xã hội với nạn nhân tai nạn bom mìn, vật liệu nổ tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với nạn nhân tai nạn bom mìn, vật liệu nổ tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Hồ Sỹ Thái
Năm: 2009
32. Tổ chức các giải pháp bom mìn châu Á ALS (2001), Giới thiệu tổng quát về các hoạt động phòng chống bom mìn nhân đạo (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu tổng quát về các hoạt động phòng chống bom mìn nhân đạo (Phiên bản tiếng Việt)
Tác giả: Tổ chức các giải pháp bom mìn châu Á ALS
Năm: 2001
35. Tổ chức Handicap International (2001), Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phòng tránh bom mìn và vật liệu chưa nổ (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phòng tránh bom mìn và vật liệu chưa nổ (Phiên bản tiếng Việt)
Tác giả: Tổ chức Handicap International
Năm: 2001
36. Tổ chức Handicap International (2001), Hướng dẫn thực hiện hoạt động giáo dục phòng tránh bom mìn (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện hoạt động giáo dục phòng tránh bom mìn (Phiên bản tiếng Việt)
Tác giả: Tổ chức Handicap International
Năm: 2001
78. Website: www.landmines.org.vn 79. Website: www.quangtri.gov.vn 80. Website: www.trieuphong.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Kết quả khảo sát về nguyên nhân dẫn đến tai nạn bom mìn. - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát về nguyên nhân dẫn đến tai nạn bom mìn (Trang 42)
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát về hậu quả của tai nạn bom mìn đối với nạn nhân. - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát về hậu quả của tai nạn bom mìn đối với nạn nhân (Trang 50)
Bảng 2.4: Thống kê hoạt động rà phá bom mìn. - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Bảng 2.4 Thống kê hoạt động rà phá bom mìn (Trang 60)
Bảng 2.6: Các hoạt động thu thập thông tin, thống kê bom mìn. - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Bảng 2.6 Các hoạt động thu thập thông tin, thống kê bom mìn (Trang 63)
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát về đối tượng dễ bị tai nạn bom mìn. - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát về đối tượng dễ bị tai nạn bom mìn (Trang 72)
Bảng 3.2: Kết quả khảo sát về hành vi khi phát hiện bom mìn. - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát về hành vi khi phát hiện bom mìn (Trang 86)
Bảng 3.4: Kết quả khảo sát về dấu hiệu nhận biết khu vực có bom mìn. - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Bảng 3.4 Kết quả khảo sát về dấu hiệu nhận biết khu vực có bom mìn (Trang 93)
Bảng 3.6: Kết quả khảo sát về kinh nghiệm phòng tránh tai nạn bom mìn. - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Bảng 3.6 Kết quả khảo sát về kinh nghiệm phòng tránh tai nạn bom mìn (Trang 102)
Hình 6.2: Giáo dục phòng tránh bom mìn cho học sinh tiểu học. - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Hình 6.2 Giáo dục phòng tránh bom mìn cho học sinh tiểu học (Trang 142)
Hình 6.1: Hướng dẫn người dân cách nhận biết   một số loại bom mìn thường gặp tại địa phương - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Hình 6.1 Hướng dẫn người dân cách nhận biết một số loại bom mìn thường gặp tại địa phương (Trang 142)
Hình 6.3: Tuyên truyền về cách nhận biết các loại bom mìn - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Hình 6.3 Tuyên truyền về cách nhận biết các loại bom mìn (Trang 143)
Hình 6.4: Biển báo tiêu chuẩn tại khu vực phát hiện có bom mìn. - Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Hình 6.4 Biển báo tiêu chuẩn tại khu vực phát hiện có bom mìn (Trang 143)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm