1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ thanh niên khuyết tật vận động tại Hà Nội (Nghiên cứu tại Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội

131 719 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan vấn đề nghiên cứu Các nghiên cứu trên thế giới: Trên thế giới hiện nay cũng đã có những nghiên cứu liên quan đến chăm sóc SKSS cho nữ khuyết tật vận động, có thể kể đến một s

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- - -    - - -

ĐẶNG HUYỀN TRANG

CƠ HỘI TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA NỮ THANH NIÊN KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI HÀ NỘI (NGHIÊN CỨU TẠI HỘI THANH NIÊN

KHUYẾT TẬT HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- - -    - - -

ĐẶNG HUYỀN TRANG

CƠ HỘI TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA NỮ THANH NIÊN KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI HÀ NỘI (NGHIÊN CỨU TẠI HỘI THANH NIÊN

KHUYẾT TẬT HÀ NỘI)

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đặng Cảnh Khanh

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

Lời cảm ơn

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này , tôi đã nhận được sự hướng dẫn , giúp đỡ quý báu của các thầy cô , các đồng nghiệp, bạn

bè và gia đình Với lòng kính trọng và biết ơn s âu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

GS.TS Đặng Cảnh Khanh, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ

và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Các thầy cô giảng dạy các môn học trong suốt 02 năm đã mang đến cho tôi rất nhiều kiến thức quí báu và truyền cho tôi sự tâm huyết, yêu nghề

để tôi có thể động lực và niềm tin theo đuổi lĩnh vực mà mình đã chọn

Các anh chị, các đồng nghiệp tại Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP) đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi về mặt thời gian và công việc để tôi có thể hoàn thành khóa học theo đúng tiến độ.

Xin cảm ơn các bạn nữ thanh niên khuyết tật vận động , các vị phụ huynh và cán bộ y tế đã nhiệt tình hợp tác, cung cấp thông tin để tôi có thể thu thập được những thông tin và số liệu quý báu cho luận văn

Xin gửi lới cảm ơn tới bạn bè , các anh chị em trong lớp Cao học Công tác xã hội 2 (khóa học 2011-2013) đã luôn giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn

Xin chân tha ̀ nh cảm ơn bố mẹ, người chồng và hai con yêu quý đã luôn

ở bên cạnh , là động lực to giúp tôi không ngừng cố gắng học tập để hoàn thành luận văn này

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTXH Công tác xã hội

HIV Human Immuno-Deficiency Virus

Virus gây suy giảm miễn dịch ở người

KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 4: Sơ đồ lực tác động bên trong và bên ngoài tới thân chủ 80

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá

nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Đặng Cảnh Khanh Các

thông tin thu thập và kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Đặng Huyền Trang

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn và chủ tịch hội đồng:

Giáo viên hướng dẫn

GS TS Đặng Cảnh Khanh

Chủ tịch hội đồng

PGS.TS Trịnh Văn Tùng

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài ……… 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ……… 4

3 Ý nghĩa của nghiên cứu ……… 8

3.1 Ý nghĩa lý luận ……… 8

3.2 Ý nghĩa thực tiễn ……… 9

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu ……… 9

4.1 Đối tượng nghiên cứu ……… 9

4.2 Khách thể nghiên cứu ……… 9

5 Phạm vi nghiên cứu ……… 9

5.1 Thời gian nghiên cứu ……… 9

5.2 Không gian nghiên cứu ……… 9

5.3 Giới hạn nội dung nghiên cứu ……… 10

6 Câu hỏi nghiên cứu ……… 10

7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ……… 10

7.1 Mục đích nghiên cứu ……… 10

7.2 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 11

8 Phương pháp ………… ……… 11

8.1 Phương pháp nghiên cứu ……… 11

8.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu ……… ……… 11

8.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu …… ……… 11

8.1.3 Phương pháp quan sát ………….….……… 12

8.2 Phương pháp thực hành……… ……… 12

9 Xử lý số liệu ……… 13

Trang 8

NỘI DUNG CHÍNH 14

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu ……… 14

1.1 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu ……… 14

1.1.1 Lý thuyết nhu cầu ……… 14

1.1.2 Lý thuyết sinh thái ……… 16

1.2 Các khái niệm công cụ ……… 17

1.2.1 Khuyết tật ……… 17

1.2.2 Người khuyết tật ……… 19

1.2.3 Khuyết tật vận động ……… 19

1.2.4 Thanh niên ……… 19

1.2.5 Sức khỏe sinh sản ……… 20

1.2.6 Dịch vụ ……… 22

1.2.7 Cơ hội ……… 22

1.2.8 Cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS ……… 22

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ……… 25

Chương 2: Thực trạng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của nữ thanh niên khuyết tật vận động tại Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội ……… 27

2.1 Một số thông tin về nhóm nữ khuyết tật vận động tham gia nghiên cứu ……… 27

2.2 Những vấn đề SKSS của nữ thanh niên khuyết tật vận động ……… 27

2.3 Thực trạng các cơ sở chăm sóc SKSS tại Hà Nội hiện nay 30 2.4 Trải nghiệm về việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của nữ thanh niên khuyết tật vận động tại Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội ……… 32

Trang 9

2.5 Những rào cản trong việc tiếp cận với các dịch vụ chăm

sóc SKSS của nữ khuyết tật vận động……… 34

2.5.1 Những rào cản chủ quan ……… 34

2.5.2 Những rào cản khách quan ……… 42

2.5.2.1 Từ phía gia đình ……… 42

2.5.2.2 Từ phía xã hội ……… 49

2.5.2.3 Từ phía các cơ sở y tế ……… 56

Chương 3: Mô hình vận dụng công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp nữ thanh niên khuyết tật vận động tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS ……… 61

3.1 Phương pháp công tác xã hội cá nhân……… 61

3.2 Mô hình vận dụng ……… 66

3.2.1 Trường hợp điển cứu ……… 66

3.2.2 Tiến trình trợ giúp ……… 68

3.2.2.1 Tiếp cận thân chủ ……… 68

3.2.2.2 Nhận diện vấn đề ……… 70

3.2.2.3 Thu thập thông tin ……… 71

3.2.2.4 Đánh giá chẩn đoán ……… 78

3.2.2.5 Lập kế hoạch ……… 83

3.2.2.6 Thực hiện kế hoạch ……… 86

3.2.2.7 Lượng giá ……… 89

KẾT LUẬN ……… 92

KHUYẾN NGHỊ ……… 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 98

PHỤ LỤC ……… 102

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Tỉ lệ người khuyết tật trên thế giới ngày càng tăng và hiện chiếm đến 15% dân số toàn cầu, tương đương 1 tỉ người Đây là con số thống kê mới nhất của Ngân hàng thế giới (World Bank) và Tổ chức y tế thế giới (WHO) được công

bố ngày 9/6/2011 [21, tr xi] Ở Việt Nam, theo thống kê từ kết quả Tổng điều tra dân số 2009, tỉ lệ khuyết tật là gần 6%[8] Con số này cũng gần với tỉ lệ khuyết tật theo báo cáo của Bộ Lao động thương binh xã hội năm 2009, trong

đó, tỉ lệ người khuyết tật ở nữ cao hơn đôi chút so với nam ở tất cả các dạng khuyết tật và mức độ khó khăn Hầu hết người khuyết tật đều thuộc các hộ nghèo Có đến 80% người khuyết tật sống phụ thuộc vào nguồn trợ cấp từ gia đình hoặc xã hội thông qua Nhà nước hoặc cộng đồng Chính vì vậy, vấn đề người khuyết tật đang ngày càng đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội trên nhiều khía cạnh

Ngày 13 tháng 12 năm 2006, Liên hợp quốc (UN) đã chính thức thông qua

Công ước về quyền của người khuyết tật – công ước đầu tiên về nhân quyền

trong thế kỷ XXI để bảo vệ và nâng cao quyền cũng như cơ hội của những người khuyết tật trên toàn thế giới Những nước tham gia công ước sẽ điều chỉnh luật pháp của nước mình để người khuyết tật được hưởng quyền lợi bình đẳng như mọi người, đó là quyền được học hành, quyền được làm việc

và hưởng cuộc sống văn hóa, quyền được sở hữu và thừa kế tài sản, quyền không bị phân biệt đối xử trong hôn nhân, sinh con…

Ở Việt Nam, ngày 30 tháng 7 năm 1998, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã

ban hành “Pháp lệnh về người tàn tật” 1 nhằm tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ

1

Trước đây ở Việt Nam gọi là người tàn tật và một số văn bản, chính sách cũ vẫn sử dụng từ này Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, người ta có xu hướng gọi là người khuyết tật bởi “khuyết tật” có nghĩa là chỉ sự

Trang 11

những người tàn tật Là công dân, thành viên của xã hội, người khuyết tật tuy khiếm khuyết một phần về thể chất song vẫn luôn có quyền được bình đẳng, tham gia tích cực và đóng góp không ngừng vào các hoạt động phát triển xã hội Đồng thời, người khuyết tật có quyền được xã hội quan tâm, trợ giúp và được miễn trừ một số nghĩa vụ công dân Đó chính là sự quan tâm của Đảng, nhà nước ta, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội, thực hiện công bằng xã hội đối với người khuyết tật

Tuy nhiên, hầu hết các vấn đề của người khuyết tật được quan tâm hiện nay mới chỉ tập trung vào các lĩnh vực như giáo dục hoà nhập, tạo công ăn việc làm, hỗ trợ kinh tế, phục hồi chức năng Đối với lĩnh vực sức khỏe, người khuyết tật đã được chú trọng, quan tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu Vấn đề bảo hiểm y tế cũng đang được giải quyết để giúp NKT có nhiều cơ hội được khám chữa bệnh hơn Mặt khác, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng vấn

đề sinh sản và tình dục của người khuyết tật cũng hết sức quan trọng bởi đây

là một phần thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của tất cả mọi người trong

xã hội Tuy nhiên, vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) của người khuyết tật hiện nay đang còn là một khoảng trống lớn và chưa được đề cập đầy đủ trong các chính sách, chương trình can thiệp Các cơ sở y tế chăm sóc SKSS vẫn còn tạo ra một khoảng cách khá lớn đối với những bệnh nhân là người khuyết tật

nghĩa là hết, giống như GS.TS Lê Thị Quý, Trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển phát biểu trong Hội thảo khoa học về sinh kế, việc làm và hỗ trợ xã hội cho người khuyết tật ở nông thôn Việt Nam do Trung tâm nghiên cứu châu Á Thái Bình Dương - Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQGHN phối hợp với Trung tâm Hợp

tác Quốc tế - Đại học Osaka và Đại học Ochanomizu, Nhật Bản tổ chức: „Dùng khái niệm Người Tàn tật là

không chính xác cả về nội dung và hình thức, vì trên thực tế những người bị tật vẫn có thể phát triển tài năng

và trí tuệ bình thường, thậm chí có những người đã đạt được những thành tích vượt trội so với những người lành lặn trên nhiều lĩnh vực như âm nhạc, nghệ thuật, viết văn, tin học, thể thao, thủ công mỹ nghệ Theo quan điểm của chúng tôi, đề nghị chúng ta thống nhất dùng khái niệm NKT để chỉ nhóm người này Thuật ngữ này diễn đạt sự khuyết thiếu chủ yếu do khách quan, bất khả kháng, ngoài mong đợi Đây là khái niệm vừa mang ý nghĩa tôn trọng, vừa có ý nghĩa động viên NKT phấn đấu vươn lên.‟ (VNU (2009) „NKT ở

nông thôn Việt Nam: sinh kế, việc làm và bảo trợ xã hội.‟ Retrieved ngày 23 tháng 3, 2010, from http://duthaoonline.quochoi.vn/du-thao-luat/du-thao-luat-nguoi-khuyet-tat

Trang 12

Thực tế cho thấy, người khuyết tật cũng có những nhu cầu, những vấn đề liên quan đến SKSS cần được chăm sóc như những người không khuyết tật

Ví dụ như nhóm người khuyết tật vận động có thể gặp tình trạng cơ quan vận động bị tổn thương do bẩm sinh, do chấn thương, tai nạn hay hậu quả của một

số bệnh… Điều đó gây nên cho họ những khó khăn khi di chuyển, hoạt động cầm nắm, đứng, ngồi… Tuy nhiên, hầu hết người khuyết tật vận động có năng lực trí tuệ phát triển bình thường cũng như khả năng sinh sản bình thường Đặc biệt với nữ khuyết tật vận động, họ đều có thể gặp phải những vấn đề SKSS như mang thai, nạo phá thai, sinh con, viêm nhiễm đường sinh sản cần được chăm sóc Thậm chí, do tính dễ bị tổn thương và khả năng tự phòng vệ thấp, họ còn có nguy cơ bị quấy rối, lạm dụng tình dục cao hơn Vì vậy, nhu cầu được chăm sóc SKSS tình dục của họ còn cao hơn so với những người không khuyết tật Họ cũng phải đối mặt với các nguy cơ cao trong việc bị ép buộc triệt sản, ép buộc nạo thai, hôn nhân cưỡng bức Một cuộc nghiên cứu tại ấn Độ cho thấy phần lớn phụ nữ và trẻ em gái khuyết tật bị đánh đập ở gia đình, 25% phụ nữ khuyết tật thất học bị cưỡng hiếp và 6% phụ nữ khuyết tật

bị ép buộc triệt sản Chính vì vậy, điều 25 trong công ước về quyền người khuyết tật của Đại Hội đồng Liên hợp quốc kỳ họp 61 năm 2006 đã nêu rõ:

“cần phải cung cấp cho người khuyết tật các dịch vụ và chương trình y tế cùng mức, có chất lượng, đạt tiêu chuẩn, miễn phí hoặc với mức phí có thể chấp nhận được, tương tự như cung cấp cho những người không khuyết tật khác, bao gồm các dịch vụ y tế về sức khoẻ tình dục và sinh sản và các chương trình y tế cộng đồng về dân số

Vì vậy, rất cần thiết phải có sự tìm hiểu về các rào cản đang cản trở việc chăm sóc SKSS đối với nữ khuyết tật hiện nay Đó là lý do tôi chọn chủ đề

nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cao học là “Cơ hội tiếp cận các dịch vụ

Trang 13

chăm sóc SKSS của nữ thanh niên khuyết tật vận động tại Hà Nội (Nghiên cứu tại Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội)”

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Các nghiên cứu trên thế giới:

Trên thế giới hiện nay cũng đã có những nghiên cứu liên quan đến chăm sóc SKSS cho nữ khuyết tật vận động, có thể kể đến một số nghiên cứu sau:

“Những trải nghiệm về chăm sóc SKSS của nữ khuyết tật vận

động: Một nghiên cứu định tính” do Heather Becker và cộng sự thực hiện

trên 10 phụ nữ tuổi từ 28 đến 47 tại Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm phụ nữ khuyết tật vận động này đang phải đối mặt với nhiều khó khăn để có thể tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS như trang thiết bị, cơ sở vật chất, hạn chế sự lựa chọn các biện pháp tránh thai, sự thờ ơ của cán bộ y tế Những người cán bộ y tế này tỏ ra ngạc nhiên khi thấy những người khuyết tật có nhu cầu về sinh sản và tình dục, bởi họ không hề hỏi bệnh nhân là người khuyết tật về nhu cầu sử dụng biện pháp tránh thai hay đánh giá những nguy cơ nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục của họ Mặc dù hầu hết những người tham gia phỏng vấn đề có bảo hiểm y tế nhưng họ đều khó gặp cán bộ

y tế Vì vậy, họ né tránh việc đi khám phụ khoa định kỳ Qua những phát hiện nay, nhóm nghiên cứu đã đề xuất việc đào tạo, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS bao gồm đào tạo cho cán bộ y tế thêm các kiến thức về nhu cầu của người khuyết tật Nghiên cứu này cũng chỉ ra việc cần thiết phải tiến hành thêm các nghiên cứu khác để nhằm lấp những khoảng trống kiến thức về nhu cầu chăm sóc SKSS của phụ nữ khuyết tật [13]

“Khuyết tật, khoảng cách và tình dục: tiếp cận với việc kế hoạch hóa gia đình”: Đây là nghiên cứu của Paul Anderson và cộng sự thực hiện tại

Trang 14

tất cả các phòng khám kế hoạch hóa gia đình tại Bắc Ai Len nhằm tìm hiểu việc tiếp cận các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình của người khuyết tật nhìn từ góc độ xã hội Kết quả cho thấy người khuyết tật được xã hội quan niệm là những người “vô dục”, không quan tâm đến tình dục, không tham gia các hoạt động tình dục và không thể kiểm soát những ham muốn, cảm xúc tình dục của mình, những nhận định này được xem là chứng cứ để xây dựng và thiết kế những phòng khám kế hoạch hóa gia đình nhằm cung cấp thông tin và dịch vụ liên quan đến vấn đề này Nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu từ đó cho thấy người khuyết tật không được mong đợi hay lường trước rằng họ sẽ sử dụng dịch vụ (bao gồm việc tư vấn, điều trị hay cung cấp thông tin) từ các phòng khám kế hoạch hóa gia đình Như vậy,các phòng khám kế hoạch hóa gia đình tại Bắc Ai Len đại diện cho một nhóm trong xã hội từ chối cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình của người khuyết tật [16]

“Những rào cản đối với việc duy trì SKSS ở nữ khuyết tật vận động”: Nghiên cứu định tính do Margaret A.Nosek và các cộng sự tiến hành

năm 1995 tại Mỹ trên 30 phụ nữ khuyết tật vận động Nội dung nghiên cứu được chia thành hai phần chính là những trải nghiệm của người tham gia nghiên cứu, bao gồm sự tương tác với các nơi chăm sóc y tế thời thơ ấu, cơ hội học về SKSS, những trải nghiệm về lạm dụng tại các nơi chăm sóc y tế và khuyết tật như một yếu tố nguy cơ của các vấn đề SKSS; và đặc điểm của hệ thống y tế cùng các cán bộ chăm sóc bao gồm vấn đề bảo hiểm sức khỏe, chính sách hệ thống y tế, thái độ người cung cấp dịch vụ, cơ sở vật chất tại dịch vụ… Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sức ảnh hưởng mạnh mẽ của các đặc điểm hệ thống y tế cùng với cán bộ y tế về kiến thức, niềm tin và trải nghiệm của phụ nữ khuyết tật khi họ nỗ lực duy trì việc chăm sóc SKSS Tình trạng khuyết tật có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các yếu tố bên trong dẫn đến các hành

vi duy trì SKSS như kiến thức, niềm tin, các yếu tố tâm lý và các kinh nghiệm

Trang 15

về chăm sóc y tế Trong khi tự bản thân vấn đề khuyết tật không tác động trực tiếp vào các yếu tố môi trường như hệ thống y tế và người chăm sóc thì điều kiện, cách thức và các điều kiện y tế phản ứng với người phụ nữ Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến các yếu tố bên trong Như vậy, cả hai yếu tố này lần lượt đều ảnh hưởng đến việc chăm sóc SKSS [15]

“Những rào cản trong việc tiếp cận với các dịch vụ SKSS và làm

mẹ an toàn: trường hợp nữ khuyết tật ở Lusaka, Zambia”: Đây là nghiên

cứu định tính được thực hiện trên 24 phụ nữ khuyết tật và 25 cán bộ cung y tế tại các dịch vụ chăm sóc SKSS và làm mẹ an toàn tại Lusaka, Zambia Nghiên cứu nhằm mục đích xác định chất lượng của các dịch vụ chăm sóc SKSS và làm mẹ an toàn tại đây liệu có đáp ứng được nhu cầu của phụ nữ khuyết tật hay không Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ khuyết tật đang phải đối mặt với nhiều rào cản khác nhau về mặt xã hội, thái độ và thể chất trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS và làm mẹ an toàn Mong muốn mạnh mẽ về mặt tình cảm và có con có thể làm tăng tính dễ tổn thương

bị bóc lột tình dục Đồng thời, một giả thuyết tổng quát trong nhóm những người cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS cho rằng phụ nữ khuyết tật không có nhu cầu tình dục, không đòi hỏi các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản dẫn đến tăng tính tổn thương mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm HIV Niềm tin truyền thống rằng con của người khuyết tật khi sinh ra cũng bị khuyết tật có thể tạo ra các rào cản khiến họ không đi khám tại các cơ

sở y tế Bên cạnh đó, sự lo sợ của nữ hộ sinh về những biến chứng xảy ra trong quá trình sinh đẻ ở phụ nữ khuyết tật cũng có thể dẫn tới việc họ thường xuyên giới thiệu bệnh nhân tới các cơ sở thuộc tuyến trên nhưng điều đó lại gây khó khăn với phụ nữ khuyết tật trong việc đi lại Từ đó, nghiên cứu kết luận rằng chính sự thiếu kiến thức đã dẫn tới thái độ chưa tích cực của chính cán bộ y tế cũng như người phụ nữ khuyết tật làm cản trở họ tiếp cận với việc

Trang 16

chăm sóc SKSS và làm mẹ an toàn Nghiên cứu cũng đưa khuyến nghị về việc nâng cao nhận thức, hiểu biết cho cả cán bộ y tế và phụ nữ khuyết tật đồng thời cải thiện các dịch vụ chăm sóc SKSS và làm mẹ an toàn cho phụ nữ khuyết tật [12]

Nhìn chung, một số nghiên cứu trên đây đã phần nào đưa ra những phát hiện về những khó khăn, rào cản của phụ nữ khuyết tật trong việc tiếp cận với các cơ sở y tế chăm sóc SKSS Đặc biệt, các nghiên cứu đều nhấn mạnh đến

sự thiếu hụt kiến thức, hiểu biết về vấn đề khuyết tật và thái độ chưa tích cực của cán bộ y tế là một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến vấn đề này, bên cạnh đó là quan điểm sai lệch của xã hội về phụ nữ khuyết tật khi coi họ là những người không có nhu cầu sinh sản, tình dục vì vậy nhu cầu chăm sóc SKSS của họ bị bỏ qua Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa đưa ra được vai trò của các yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của phụ nữ khuyết tật như vai trò của gia đình, các chính sách, qui định, luật pháp và quan điểm, nhận thức của chính những phụ nữ khuyết tật về vấn đề chăm sóc SKSS

Các nghiên cứu ở Việt Nam:

Có thể nói, các nghiên cứu về người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay vẫn còn ít về số lượng và yếu về chất lượng Hầu hết các nghiên cứu liên quan đến người khuyết tật mới chủ yếu tập trung vào các khía cạnh phục hồi chức năng, nhu cầu học tập, việc làm chứ chưa đi sâu tìm hiểu các khía cạnh đề xã hội như sự tham gia và hoà nhập xã hội của người khuyết tật, hôn nhân, SKSS, tình dục, thái độ của cộng đồng, bao gồm cả sự kỳ thị và sự phân biệt đối xử đối với người khuyết tật [14] Đặc biệt, chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề chăm sóc SKSS cho người khuyết tật Công tác xã hội là một ngành

Trang 17

khoa học còn mới ở Việt Nam, chính vì vậy cũng chưa có một nghiên cứu nào liên quan đến vấn đề này nhìn từ góc độ công tác xã hội

Báo cáo về người khuyết tật của Viện nghiên cứu phát triển xã hội năm

2008 đã đề cập đến rất nhiều khía cạnh xã hội liên quan đến người khuyết tật,

đề cập đến các khó khăn và cách giải quyết của họ trong các vấn đề về sinh hoạt hàng ngày, giáo dục, việc làm, phục hồi chức năng, tham gia các hoạt động xã hội và tiếp cận thông tin, dịch vụ y tế nói chung và đặc biệt là có đề cập đến vấn đề hôn nhân, duy trì hôn nhân và sinh con của người khuyết tật Tuy nhiên, vấn đề tình dục của người khuyết tật chưa được quan tâm nghiên cứu sâu, nghiên cứu chỉ ra rằng một trong những lý do người khuyết tật cảm thấy khó khăn trong duy trì hôn nhân là thiếu hòa hợp về tình dục, chiếm 8% trong tổng số các lý do về khó khăn trong việc duy trì hôn nhân, bên cạnh các

lý do chiếm đa số khác là khó đảm bảo được điều kiện sống cho gia đình (38%), cảm thấy nuôi con vất vả (38%), và sinh con bị dị tật bẩm sinh (10%)

và một lý do thiếu sự thông cảm và khuyến khích từ vợ/chồng (5%) Tuy nhiên, việc thiếu hòa hợp về tình dục ở đây chưa được chỉ ra một cách cụ thể [14]

Như vậy, rất cần thiết phải có thêm những nghiên cứu cụ thể về vấn đề chăm sóc SKSS của nữ khuyết tật vận động nói riêng và người khuyết tật nói chung ở Việt Nam

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài cung cấp những thông tin lý luận cơ bản về ảnh hưởng của những yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến tình trạng chăm sóc SKSS của người khuyết tật, đặc biệt là nữ thanh niên khuyết tật vận động, đồng thời

Trang 18

giúp những người làm trong lĩnh vực công tác xã hội nhận thức đúng đắn những lý thuyết và phương pháp công tác xã hội trong lĩnh vực này

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Giúp hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận của nữ thanh niên khuyết tật vận động với các dịch vụ chăm sóc SKSS trong bối cảnh xã hội hiện nay, từ đó đưa ra các khuyến nghị cụ thể nhằm tăng cơ hội chăm sóc SKSS cho họ Đồng thời, vận dụng các kiến thức đã học vào việc can thiệp với một trường hợp cụ thể để thấy được hiệu quả của phương pháp công tác

xã hội cá nhân nhằm thay đổi nhận thức và thái độ của nữ thanh niên khuyết tật vận động trong việc tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc SKSS

4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Sự tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của nữ thanh niên khuyết tật vận động, các giải pháp của công tác xã hội trong tăng cường cơ hội được chăm sóc SKSS cho nữ thanh niên khuyết tật vận động

5.1 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3/2013 - tháng 7/2013

Không gian nghiên cứu: Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội

Trang 19

5.3 Giới hạn nội dung nghiên cứu:

Nghiên cứu chỉ thực hiện với một nhóm nhỏ khách thể là những nữ khuyết tật ở độ tuổi thanh niên với tình trạng khuyết tật vận động nhằm tìm hiểu cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của họ Bên cạnh đó, mặc dù

có nhiều phương pháp thực hành trong công tác xã hội như công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm, công tác xã hội cộng đồng và trong nhiều trường hợp, việc phối kết hợp các phương pháp sẽ mang lại hiệu quả cao trong trợ giúp thân chủ Tuy nhiên, trong phần thực hành của luận văn này, tác giả chỉ vận dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong viê ̣c hỗ trợ nữ thanh niên khuyết tật về mặt tâm lý và cung cấp thông tin về SKSS nhằm tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của họ

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng vấn đề SKSS và việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của nữ thanh niên khuyết tật vận động hiện nay như thế nào?

- Những rào cản nào ngăn cản cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của

nữ thanh niên khuyết tật vận động?

- CTXH cần làm gì để tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS đối với nữ thanh niên khuyết tật vận động?

7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

7.1 Mục đích nghiên cứu:

Tìm hiểu những rào cản ngăn cản nữ khuyết tật vận động tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS, thông qua việc vận dụng các kiến thức về công tác xã hội trong nghiên cứu và can thiệp đưa ra giải pháp của công tác xã hội trong việc cải thiện vấn đề này

Trang 20

7.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Khảo sát thực trạng chăm sóc SKSS và việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc của nữ thanh niên khuyết tật vận động

- Những rào cản ngăn cản việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của nữ thanh niên khuyết tật

- Vận dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp với một trường hợp nữ khuyết tật và bố/mẹ của họ về tâm lý và cung cấp các thông tin liên quan đến SKSS

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận các dịch

vụ chăm sóc SKSS của người nữ thanh niên khuyết tật góp phần đảm bảo quyền của người khuyết tật

8 Phương pháp

8.1 Phương pháp nghiên cứu:

8.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu

- Thu thập thông tin từ các báo cáo , thống kê và nghiên cứu chính thức về các vấn đề liên quan

- Trên sở của những tài liệu có được, tác giả tiến hành phân tích, so sánh thông tin giữa các nguồn tư liệu từ đó có cơ sở đó rút ra điểm chung và điểm khác biệt giữa các ý kiến Cuối cùng tác giả tập hợp lại theo cách tiếp cận của bản thân và đề xuất hướng nghiên cứu của bản thân

8.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

20 phỏng vấn với nữ thanh niên khuyết tật vận động đã được thực hiện Danh sách của 20 người này được cung cấp bởi Hội trưởng hội thanh niên khuyết tật thành phố Hà Nội và dựa trên danh sách, tác giả đã liên hệ trực tiếp

Trang 21

với từng người để phỏng vấn Ngoài ra, tác giả còn phỏng vấn sâu 02 phụ huynh của nữ khuyết tật vận động và 01 cán bộ y tế tại cơ sở chăm sóc SKSS nhằm tìm hiểu những suy nghĩ của họ về những rào cản nữ khuyết tật vận động đang gặp phải trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS

Khi được liên hệ, mỗi người tham gia phỏng vấn đều được giới thiệu về mục đích nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và xin phép ghi âm cuộc phỏng vấn Các cuộc phỏng vấn đều được tiến hành một cách riêng tư, kín đáo tại nơi làm việc, nhà riêng của người tham gia phỏng vấn hoặc địa điểm công cộng như quán café Trung bình một cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 30 – 45 phút

8.1.3 Phương pháp quan sát

Phương phá p này được sử du ̣ng trong quá trình làm viê ̣c và tiếp xúc với thân chủ cu ̣ thể Quan sát hành vi , thái độ , cách ứng xử , sinh hoa ̣t của thân chủ và gia đình thân chủ giúp tác giả có thêm thông tin cơ sở để nhâ ̣n

đi ̣nh vấn đề

8.2 Phương pháp thực hành

Phương pháp công tác xã hội cá nhân: là phương pháp thực hành để can thiệp với một trường hợp điển cứu là nữ thanh niên khuyết tật vận động Thông qua phương pháp này, nhân viên CTXH giúp đỡ, hỗ trợ thân chủ vượt qua khó khăn bằng cách giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, trang bị thêm cho họ thông tin, kiến thức và tìm kiếm tiềm năng, tăng cường sức mạnh và nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề của họ Trong quá trình sử dụng phương pháp CTXH

cá nhân, nhân viên CTXH dùng các quan điểm giá trị, kiến thức, kinh nghiệm

và chủ yếu vận dụng các kỹ năng tham gia vào việc giải quyết vấn đề của thân chủ như kỹ năng thấu cảm, kỹ năng quan sát, kỹ năng phản hồi, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng cung cấp thông tin…

Trang 22

Phương pháp này là một tiến trình hoạt động của nhân viên CTXH, trong

đó bao gồm các bước chính như: Tiếp cận thân chủ, xác định vấn đề, thu thập thông tin dữ liệu, chuẩn đoán, lên kế hoạch trị liệu, trị liệu và lượng giá

9 Xử lý số liệu:

Tất cả các phỏng vấn sau khi ghi âm về đều được rải băng và thông tin sau

đó được mã hóa để phục vụ cho việc phân tích Tác giả xử lý số liệu trên phần mềm Microsoft Excel, các thông tin được mã hóa theo các vấn đề chính nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra trước đó

Trang 23

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

Lý thuyết nhu cầu

Abraham Harold Maslow (1908 – 1970) Theo thuyết này, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự bậc thang từ thấp tới cao, từ các nhu cầu thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu, cao hơn Sự thoả mãn nhu cầu của con người cũng theo các bậc thang đó Khi con người thoả mãn được nhu cầu cấp thấp rồi thì sẽ tiến tới thoả mãn các nhu cầu cấp cao hơn

Theo lý thuyết này, con người là một thực thể tâm - sinh lý xã hội Do

đó, con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống (nhu cầu về sinh học) và nhu cầu xã hội Theo đó, ông chia nhu cầu con người thành 5 bậc nhu cầu từ thấp đến cao, nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự bậc thang và các nhu cầu ở mức thấp nhất phải được thỏa mãn trước khi cá nhân hướng đến các nhu cầu

ở bậc tiếp theo

Nhu cầu sinh học (nhu cầu vật chất), bao gồm nhu cầu về không khí, nước, thức ăn, quần áo, nhà ở, nghỉ ngơi… Các nhu cầu này là quan trọng nhất và cần thiết đối với sự sống còn của cá nhân

Nhu cầu tiếp theo là nhu cầu về sự an toàn: ai cũng có mong muốn được sống trong một thế giới hòa bình, không có chiến tranh, không có bạo lực, kể cả trong những trường hợp bị mất kế sinh nhau được Nhà nước và xã hội bảo vệ và giúp đỡ

Nhu cầu tiếp là nhu cầu xã hội, là nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó

Là con người xã hội, con người có các nhu cầu giao tiếp, nhu cầu được yêu

Trang 24

thương, chia sẻ Không ai muốn sự cô đơn, bị bỏ ra ngoài lề xã hội, ai cũng

muốn có hạnh phúc gia đình, sự tham gia và thuộc vào một nhóm nào đó như

gia đình, bạn bè, cộng đồng…

Nhu cầu được tôn trọng: tự tôn trọng là giá trị của chính cá nhân mỗi

người; được người khác tôn trọng là sự mong muốn được người khác thừa

nhận giá trị của mình

Nhu cầu tự khẳng định: trong cuộc sống ai cũng muốn tự khẳng định

mình và được xã hội tạo điều kiện để hoàn thiện và phát triển cá nhân [6]

Hình 1: Bậc thang nhu cầu

Người nữ khuyết tật vận động cũng có những nhu cầu như trên Trước

hết là nhu cầu cơ bản, sinh học như ăn uống, ngủ nghỉ, tình dục, sinh sản

Tiếp theo đó, họ có nhu cầu được an toàn, đó là nhu cầu được bảo vệ, chăm

sóc khi gặp những vấn đề liên quan đến SKSS để có một cơ thể khỏe mạnh cả

về thể chất và tinh thần Cao hơn nữa là nhu cầu được quan tâm, được tôn

trọng từ phía gia đình, cộng đồng, xã hội… và nhìn nhận như một người có

giá trị, có đầy đủ những quyền như bất kì người lành lặn nào khác Họ cũng

Trang 25

có nhu cầu về lòng tự trọng, tự thể hiện và khẳng định bản thân và nhu cầu phát triển

Lý thuyết sinh thái

Lý thuyết sinh thái (Ecological Theory) dựa trên giả thuyết cho rằng mỗi cá nhân được trực thuộc vào môi trường và hoàn cảnh sống Cả cá nhân

và môi trường đều được coi là một sự thống nhất, trong đó các yếu tố liên hệ

và trực thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ Để hiểu biết về một yếu tố nào đó trong môi trường, cần phải nghiên cứu để hiểu cả hệ thống môi trường xung quanh của nó Vì vậy, trong công tác xã hội “bất cứ một việc can thiệp hoặc giúp đõ một cá nhân của một tổ chức nào đó, đều có liên quan và ảnh hưởng đến toàn

bộ hệ thống đó” Thêm nữa, các hệ thống môi trường đều là “hệ thống mở”,

có nghĩa là nó có linh hoạt với những hệ thống khác Một hệ thống này, có thể

là một hệ thống bao gồm những phần tử nhỏ hơn nó, nhưng nó lại thuộc về một hệ thống lớn hơn Ví dụ: gia đình có các thành viên (cha, mẹ, con, cháu_ nhưng gia đình cũng là một phần tử trong hệ thống môi trường xã hội Trong

lý thuyết này, tất cả các vấn đề của con người phải được nhìn nhận một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không chỉ nhìn nhận và tác động một cách đơn lẻ Mọi người trong hoàn cảnh sống đều có những hành động và phản ứng ảnh hưởng lẫn nhau, nếu một hoạt động can thiệp hoặc giúp đỡ với một người sẽ có ảnh hưởng đến những yếu tố xung quanh

Để hiểu hành vi và sự phát triển của một cá nhân, không thể chỉ đổ lỗi cho cá nhân đó mà còn cần xem xét sự tác động từ phía môi trường Môi trường tác động lên một cá nhân bao gồm ba cấp độ: cấp độ vi mô (gia đình, lớp học, cơ quan, bạn bè); cấp độ trung mô (là sự tương tác giữa hai hệ thống ở cấp vi mô

và có ảnh hưởng đến cá nhân, ví dụ như sự liên lạc giữa gia đình với nhà trường; mối quan hệ giữa gia đình và bạn bè…) và cấp độ vĩ mô (văn hóa, tôn giáo, các đặc điểm của cộng đồng, dân tộc, các chính sách pháp luật…) [6]

Trang 26

Người khuyết tật cũng được đặt trong sự tác động của các yếu tố gia đình, cộng đồng, y tế, chính sách nói trên Do đó, trong nghiên cứu này, người nghiên cứu cũng tiến hành nghiên cứu các yếu tố liên quan như gia đình, cán

bộ y tế, quản lý tại Hội mà người khuyết tật tham gia để tìm hiểu xem những yếu tố này đang tác động như thế nào đến việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của nữ thanh niên khuyết tật vận động

Hình 2: Sơ đồ hệ thống sinh thái của người khuyết tật

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Khuyết tật

Theo định nghĩa trong dự thảo lần II (2009) "Luật người khuyết tật" của Việt Nam, khuyết tật là tình trạng một người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện ở những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng lao động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập ặp nhiều khó khăn Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật mà không tự thực hiện công việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày hoặc bị

Trang 27

giảm thiểu chức năng nên không có khả năng tự mình tham gia học tập nghiên cứu, lao động, sản xuất kinh doanh

Bộ Y tế và Bộ lao động – Thương binh xã hội là hai bộ chính soạn thảo

ra các chính sách và cung cấp các dịch vụ phục hồi chức năng, chăm sóc và điều trị, hỗ trợ và cung cấp phúc lợi xã hội cho người khuyết tật Hai bộ máy này đã sử dụng những định nghĩa về khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật của Tổ chức y tế thế giới (WHO) như sau:

Khiếm khuyết (ở cấp độ bộ phận cơ thể): tình trạng bị mất hoặc tình trạng bất bình thường một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý Khiếm khuyết có thể là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh

Giảm khả năng (ở cấp độ cá nhân): giảm hoặc mất khả năng hoạt động

do khiếm khuyết gây ra, hạn chế hoặc mất chức năng (vận động, nghe hoặc giao tiếp)

Tàn tật (ở cấp độ xã hội): những bất lợi mà một người phải chịu do bị khuyết tật Hậu quả của sự tương tác giữa một cá nhân bị khiếm khuyết hoặc giảm khả năng với những rào cản trong môi trường xã hội, văn hóa hoặc vật chất là cá nhân này không thể tham gia một cách bình đẳng vào cuộc sống cộng đồng chung hoặc hoàn thành một vai trò bình thường

Để phân loại khuyết tật, chính phủ Việt Nam đã sử dụng phương pháp phân loại của WHO, trong đó khuyết tật được chia làm 7 loại chính sau:

(i) Khuyết tật thể chất, vận động (chẳng hạn như cụt tay chân, tê

liệt, bại liệt, tật bẩm sinh ở chân và những dị tật bẩm sinh

khác) (ii) Khuyết tật nghe/nói (giao tiếp)

Trang 28

(iii) Khuyết tật nhìn

(iv) Khuyết tật về khả năng học tập (nhận thức hoặc trí tuệ)

(v) Hành vi lạ (do bệnh về tâm thần như trầm cảm và tâm thần

phân liệt gây ra) (vi) Động kinh

(vii) Những khuyết tật khác, chẳng hạn bệnh phong

Tuy nhiên, việc phân loại này không được sử dụng một cách thống nhất vì các tài liệu khác nhau định nghĩa về các loại khuyết tật cũng khác nhau

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm khuyết tật của tổ chức

Y tế thế giới

1.2.2 Người khuyết tật

Theo điều 2, Luật người khuyết tật, số 51/2010/QH12 của Quốc hội,

“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể

hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao đô ̣ng , sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”

1.2.3 Khuyết tật vận động

Theo điều 2, chương I, nghị định Số: 28/2012/NĐ-CP qui định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của luật người khuyết tật được ban hành ngày 10/04/2012, khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng

cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển

1.2.4 Thanh niên

Theo Luật Thanh niên được thông qua vào ngày 29/11/2005 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XI và được Chủ tịch nước công bố tại lệnh số

Trang 29

24/2005/L/CTN ngày 09/12/2005, thanh niên là những người thuộc độ tuổi từ

đủ 16 tuổi đến 30 tuổi

1.2.5 Sức khỏe sinh sản

Hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển họp tại Cairo (Ai Cập) năm

1994 định nghĩa về SKSS như sau: “SKSS là tình trạng khỏe mạnh về thể lực, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó” Điều này hàm ý mọi người kể cả nam và nữ đều có quyền nhận được thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp tùy theo sự lựa chọn của họ đảm bảo cho người phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có những đứa con khỏe mạnh

Cũng trong chương trình hành động của hội nghị đã nêu rõ: “SKSS là trạng thái sung mãn hoàn hảo về thể chất, tinh thần, xã hội và không chỉ là không có bệnh tật hay không bị tàn phế về tất cả những gì liên quan đến hệ thống, chức phận và quá trình sinh sản Như thế, SKSS có nghĩa là mọi người

có thể có cuộc sống tình dục an toàn, hài lòng, họ có khả năng sinh sản, tự do quyết định có con hay không, sinh con vào khi nào và sinh bao nhiêu con Ngầm hiểu trong điều cuối là quyền của người đàn ông và đàn bà có thông tin, có thể tiếp cận được các biện pháp KHHGĐ an toàn, có hiệu quả, có khả năng chi trả, có thể chấp nhận được, do họ lựa chọn để điều hòa sinh sản nếu như không trái pháp luật: quyền được tiếp cận với những dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp, giúp họ dễ dàng trải qua thai nghén và sinh sản một cách

an toàn, cung cấp cho họ những cơ may để họ có được những đứa con khỏe mạnh Phù hợp với định nghĩa nói trên, chăm sóc SKSS và hạnh phúc về sinh

Trang 30

sản, bằng cách đề phòng và giải quyết những vấn đề về SKSS Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục, mà mục đích của nó là tăng cường cuộc sống và mối quan hệ, tư vấn và những chăm sóc liên quan đến SKSS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục”

Theo Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em – Bộ Y tế, chiến lược dân số - SKSS Việt Nam, các nội dung SKSS ưu tiên giai đoạn 2011 – 2015 là:

+ Tăng cường chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh

+ Cải thiện tình trạng Dinh dưỡng ở Bà mẹ và trẻ em

+ Giải quyết các bệnh rối loạn chuyển hóa, di truyền thông qua sàng lọc trước sinh và sơ sinh

+ Đáp ứng đầy đủ nhu cầu KHHGĐ của mọi đối tượng

+ Giảm mạnh có thai ngoài ý muốn

+ Dự phòng và kiểm soát tốt hơn các nhiễm khuẩn đường sinh sản/bệnh lây truyền qua đường tình dục (RTI/STI) bao gồm cả HIV

+ Cải thiện sức khỏe tình dục, SKSS vị thành niên/thanh niên

+ Chủ động dự phòng, điều trị sớm ung thư cổ tử cung, ung thư vú

+ Tăng cường tiếp cận trong dự phòng và điều trị vô sinh

+ Đáp ứng nhu cầu chăm sóc SKSS cho người bị bạo hành giới và trong trường hợp thiên tai, thảm họa

Điều này chứng tỏ rằng chúng ta không chỉ quan tâm đến kế hoạch hóa gia đình mà còn giải quyết nhiều vấn đề hơn nhằm bảo vệ và chăm sóc SKSS của người dân

Trang 31

1.2.6 Dịch vụ

Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [7, tr 256]

Theo tài liệu Bộ lao động thương binh xã hội, “dịch vụ xã hội cơ bản là

hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận”

Dịch vụ xã hội cơ bản được chia thành 4 loại chính

- Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh,

chăm sóc, nhà ở….mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khả năng lao động đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực

- Dịch vụ y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi

chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng

- Dịch vụ giáo dục: Trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống, các

hình thức giáo dục hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt…

- Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã hội rất

quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạt động giải trí như văn nghệ, thể thao,… nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hoà nhập tốt hơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng… [24]

1.2.7 Cơ hội

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, cơ hội nghĩa là từ “chỉ hoàn cảnh thuận lợi để thực hiện điều mình mong muốn, dự định” Cơ hội theo nghĩa này có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp [7, tr278]

1.2.8 Cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS

Đối với những người sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS, cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS là việc họ có thể sử dụng một trong những loại hình dịch vụ xã hội cơ bản thuộc loại hình dịch vụ y tế bao gồm các mảng phục vụ,

Trang 32

chăm sóc, khám chữa bệnh và điều trị cho những người có vấn đề về SKSS và

có nhu cầu chăm sóc các vấn đề SKSS Trong nghiên cứu này, các vấn đề tác giả đề cập đến dịch vụ chăm sóc SKSS cho người nữ khuyết tật vận động liên quan đến các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, viêm nhiễm đường sinh sản, chăm sóc mang thai và tư vấn SKSS tình dục vị thành niên

Có thể nói, tiếp cận các nguồn thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản hiện tại của NKT nói chung và nữ khuyết tật vận động nói riêng ở Việt Nam là vấn đề nổi cộm Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển

xã hội (2009), một số quan niệm cho rằng người khuyết tật không hoạt động tình dục, không có nhu cầu sinh con nên cũng không cần các dịch vụ chăm sóc tình dục [14] Vì vậy, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản tình dục cho người khuyết tật hầu như bị bỏ qua Ở Việt Nam, do nhiều lý do, người khuyết tật không luôn nhận được những dịch vụ y tế nói chung đúng theo nhu cầu hay bất cứ lúc nào họ cần Đó cũng là lý do gần như không có một số liệu thống kê hay báo cáo nào nói về vấn đề chăm sóc SKSS cho người khuyết tật Ngay cả trong báo cáo thường niên của Bộ Y tế cũng không hề có bất kỳ thông tin nào về vấn đề này

Các chính sách và chương trình liên quan đến chăm sóc SKSS của NKT

ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, nhà nước đã có nhiều quan tâm đến người khuyết tật và hỗ trợ họ trong cuộc sống Điều đó đã được thể hiện trong nhiều chính sách và những chương trình hoạt động thực tế Tuy nhiên, đối với vấn

đề sức khỏe, hiện mới chỉ có chính sách, qui định về chăm sóc sức khoẻ nói chung

Phục hồi chức năng và chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nói chung cũng được quy định rõ trong nhiều chính sách dành cho người khuyết tật, chẳng hạn như

Trang 33

Pháp lệnh về người tàn tật số 06/1998/PL-UBTVQH quy định „Người tàn tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp‟, Nghị định 55/1999/NĐ-CP ghi rõ „Người tàn tật được

có quan y tế hướng dẫn về chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, sử dụng các dụng cụ chỉnh hình‟, Thông tư số 13/2001/TT-BLĐTBXH đề cập „„trẻ em tàn tật, người tàn tật do hậu quả của chất độc da cam trong chiến tranh được nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm bảo vệ, chăm sóc‟,

Các chính sách và quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người khuyết tật được phục hồi chức năng, được học hành, được làm việc, được tham gia vào các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao và giúp cho người khuyết tật nâng cao chất lượng cuộc sống, tự tin hơn và góp phần giảm kỳ thị

và phân biệt đối xử của cộng đồng với người khuyết tật Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải thừa nhận một điểm yếu là vẫn còn rất nhiều người khuyết tật không tiếp cận được với các chính sách và chương trình này Theo đánh giá của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội năm 2008, mới chỉ có 22,9% người biết Pháp lệnh về người khuyết tật, còn tới 77,2% số người không biết Trong số biết chỉ có 6,4% biết rõ, 16,5% mới chỉ nghe và biết tên Việc thiếu hiểu biết và nhận thức về chính sách về người khuyết tật một cách rộng rãi tiếp tục làm gây ra những thái độ tiêu cực về người khuyết tật, chẳng hạn như mặc dù nhận thức về vấn đề khuyết tật đã cải thiện hơn trong những năm qua nhưng vẫn còn những trở ngại để nhìn nhận người khuyết tật như là một thành viên bình thường của xã hội [18]

Hơn thế nữa, mặc dù vấn đề học hành, việc làm, phục hồi chức năng và

hỗ trợ kinh tế và xã hội cho người khuyết tật là thực sự cần thiết, tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng vấn đề sinh sản và tình dục của người khuyết tật cũng hết sức quan trọng bởi đây là một phần quan trọng của cuộc sống hàng ngày của tất cả mọi người trong xã hội Đặc biệt là trong bối cảnh

Trang 34

Việt Nam hiện nay khi mà chính sách mở cửa của nhà nước cùng với việc toàn cầu hóa đã thúc đẩy lối sống cởi mở hơn Những yếu tố trên đã tạo môi trường xã hội cởi mở khiến tình dục ngày càng không còn là chủ đề cấm kị như trước nữa mà được thảo luận nhiều và rộng rãi hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng, văn hoá phẩm và đặc biệt là qua Internet Thế nhưng vấn

đề sinh sản và tình dục của người khuyết tật vẫn chưa được đề cập đến trong các chính sách, kể cả những chính sách dành riêng cho người khuyết tật

Một số chương trình can thiệp với người khuyết tật hiện nay cũng đã có quan tâm hơn tới vấn đề sinh sản và tình dục, đã sử dụng những phương tiện

và ngôn ngữ phù hợp với các nhóm đối tượng khuyết tật, ví dụ như dự án giáo dục sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục bằng ngôn ngữ cử chỉ cho học sinh khiếm thính trường THCS Xã Đàn, Hà Nội [26] Tuy nhiên, các can thiệp này không toàn diện, chỉ tập trung ở một số nhóm đối tượng trong trường học dành riêng cho người khuyết tật và mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp các kiến thức về sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục cho người khuyết tật chứ chưa đề cập đến quyền sinh sản và tình dục của họ

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội

Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội đặt dưới sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Ủy ban Hội LHTN thành phố Hà Nội Hội thanh niên khuyết tật

Hà Nội là tổ chức xã hội hoạt động trên cơ sở tự nguyện, tự quản, tự trang trải

về kinh phí, có nhiệm vụ vận động, thu hút, tập hợp đông đảo thanh niên khuyết tật trên địa bàn Hà Nội tham gia vào Hội và có trách nhiệm tổ chức các hoạt động chăm lo, hỗ trợ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hội viên, thanh niên khuyết tật Ngoài ra, Hội còn là cầu nối kết nối các câu lạc bộ thanh niên khuyết tật với nhau và kết nối cộng đồng thanh niên khuyết tật với

Trang 35

các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước Hội có gần 200 nữ thanh niên khuyết tật (trên tổng số 500 hội viên), trong số đó, tỉ lệ nữ khuyết tật vận động chiếm khoảng 85%

Hiện nay, trụ sở của Hội được đặt tại số 6, ngõ 26 Kim Hoa, quận Đống

Đa, Hà Nội

Tiểu kết chương 1

Người khuyết tật, đặc biệt là những nữ khuyết tật đều có những mối quan tâm, nhu cầu chăm sóc SKSS, song nếu trên thế giới, vấn đề này đang ngày càng được chú trọng thì ở Việt Nam, nhưng nghiên cứu, những chương trình can thiệp về chăm sóc SKSS cho người khuyết tật còn rất ít Cũng chưa chưa có một chính sách, văn bản luật pháp cụ thể nào đề cập đến vấn đề chăm sóc SKSS của người khuyết tật, bởi vậy trong nỗ lực quan tâm và chăm sóc người người khuyết tật thì chăm sóc SKSS vẫn còn là một mảng trống, phần nào cho thấy người khuyết tật vẫn còn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, rào cản trong việc tìm kiếm các cơ hội được chăm sóc SKSS và hòa nhập xã hội

Trang 36

Chương 2 Thực trạng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của nữ thanh niên khuyết tật vận động - Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội

2.1 Một số thông tin về nhóm nữ khuyết tật vận động tham gia nghiên cứu:

Tuổi trung bình của 20 nữ khuyết tật vận động là 27 tuổi (dao động từ 22 đến 30)

Về mức độ khuyết tật vận động:

10/20 thuộc dạng khuyết tật nặng do các nguyên nhân như viêm tủy, bại liệt

do di chứng chất độc màu da cam, liệt nửa người… và phải ngồi xe lăn 01 trường hợp bị tai nạn giao thông, cưa mất 1 chân và phải dùng chân giả Số còn lại mức độ khuyết tật nhẹ hơn và vẫn có thể đi lại được 03 trường hợp liệt ảnh hưởng đến dây thần kinh, não và ảnh hưởng đến cơ mặt, miệng nên việc nói cũng có phần khó khăn

Về nghề nghiệp

Trong số 20 người, 04 người hiện đang là sinh viên học tại các trường đại học, 13 người hiện đang đi làm trong các lĩnh vực kinh doanh, thiết kế đồ họa, marketing, sản xuất thủ công tại các cơ sở tư nhân, còn lại 03 người hiện chưa

có việc làm và đang sống phụ thuộc kinh tế vào gia đình

Về tình trạng hôn nhân:

18/20 khách thể tham gia phỏng vấn chưa kết hôn và chưa từng quan hệ tình dục, còn lại 02 người đã kết hôn và đều đang mang thai con đầu lòng ở tháng thứ 4

2.2 Những vấn đề SKSS của nữ thanh niên khuyết tật vận động

Những nữ thanh niên khuyết tật vận động tham gia nghiên cứu ở độ tuổi từ 20 đến 30, độ tuổi lý tưởng nhất cho vấn đề sinh sản của người phụ nữ Khi tìm hiểu liệu có sự khác biệt nào về vấn đề SKSS của những nữ khuyết tật vận động với những người nữ không khuyết tật hay không, tất cả đều nhận

Trang 37

thấy không hề có sự khác biệt nào Những nữ khuyết tật dù ngồi xe lăn, bị liệt nửa người hay gặp những tổn thương vận động do bẩm sinh…, họ vẫn đều gặp phải những vấn đề SKSS như rối loạn kinh nguyệt (rong kinh, rong huyết,

vô kinh thứ phát hay thống kinh (đau bụng trong giai đoạn có kinh); viêm nhiễm đường sinh sản (viêm nhiễm phụ khoa), nạo hút thai hay sảy thai trong quá trình mang thai Bên cạnh đó, do đặc điểm hạn chế về vận động, sức khỏe yếu, khả năng tự vệ kém, không ít người khuyết tật có thể đối mặt với những nguy cơ bị xâm hại, lạm dụng tình dục dẫn đến những nguy cơ lây bệnh cho bản thân như mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Những nhận định trên không phải do phán đoán mà dựa vào những trải nghiệm của chính bản thân một số nữ khuyết tật vận động tham gia phỏng vấn Quá nửa trong số những người được hỏi đều đã từng gặp phải vấn đề rối loạn kinh nguyệt như rong kinh, rong huyết kéo dài khiến người nhà phải đưa

đi đến bệnh viện, bị u cục ở ngực Ngay tại thời điểm tiến hành nghiên cứu, một bạn cũng không ngần ngại chia sẻ rắc rối mình đang gặp phải về viêm nhiễm phụ khoa

“Như em là đang có vấn đề Không biết có phải vệ sinh không đúng cách không nhưng chất trắng ra khá nhiều, ra 1 lúc thì chuyển màu vàng Có thêm biểu hiện mùi hôi nhưng không ngứa Biểu hiện này xuất hiện mấy tháng rồi”

(NuKT9, 24 tuổi, nhân viên đồ họa, độc thân)

Một điểm đặc biệt trong nhóm đối tượng khách thể nghiên cứu là có hai bạn nữ ngồi xe lăn đang mang bầu ở tháng thứ 4 Vì lẽ đó, hầu hết các bạn đều thể hiện rõ mối quan tâm và nhu cầu của mình trong việc chăm sóc SKSS của bản thân Cũng giống như bất cứ bạn gái nào khác, mối quan tâm này xuất hiện không chỉ vào lúc các bạn gặp phải những rắc rối liên quan đến SKSS nói trên mà ngay từ khi bước vào độ tuổi dậy thì, khi xuất hiện những

sự thay đổi về sinh lý cơ thể như xuất hiện kinh nguyệt, không ít bạn cảm

Trang 38

thấy tò mò và muốn tìm hiểu nhiều hơn về cơ thể mình, muốn được những người thân chia sẻ kinh nghiệm làm thế nào để vệ sinh cho đúng nhằm tránh bệnh phụ khoa:

“Rồi vấn đề vệ sinh con gái thì không phải lúc nào cũng biết chăm sóc tuyệt

đối, sạch sẽ, nhiều bạn có thể dính vào bệnh phụ khoa và cần phải đi khám”(NuKT3, 24 tuổi, sinh viên)

Bên cạnh đó, với người khuyết tật vận động, do sức khỏe, thể trạng của

họ thường yếu hơn những người không khuyết tật, đặc biệt tình trạng khuyết tật thường liên quan đến các vấn đề về cơ, xương, khớp, do đó các bạn nữ cũng thể hiện mối quan tâm nhiều hơn ở vấn đề mang thai và sinh con Với những bạn chưa có gia đình, hầu hết đều có nguyện vọng sau này sẽ kết hôn, mang thai và sinh con, song không ít bạn bày tỏ băn khoăn về khả năng sinh sản của mình, các bạn lo ngại rằng nếu sau này có kết hôn tình trạng khuyết tật có thể ảnh hưởng đến chức năng của các bộ phận sinh sản, thể trạng yếu khiến việc mang thai khó khăn, có bạn lo sợ bị vô sinh hoặc nếu có thể mang thai thì sẽ sinh ra những đứa con không khỏe mạnh và lành lặn Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật có thể khác nhau, nhưng các bạn đều có cùng mối lo về vấn đề này:

“Thực ra em bị tai nạn, phải cưa chân, đợt đấy dùng thuốc kháng sinh cũng nhiều, em cũng lo sợ nhỡ không mang bầu được Đợt đấy em dùng nhiều kháng sinh liều cao nên em sợ (NuKT6, 27 tuổi, gia sư tiếng Anh, độc thân)

“Trường hợp của em không phải là chất độc da cam khi mẹ mang bầu em, mẹ

đi bơm trừ sâu cho lúa rồi về mẹ ốm Em sinh ra bị khuyết tật bẩm sinh, em sợ nếu em bị ảnh hưởng là do hóa chất thì sau này có thể ảnh hưởng đến con (NuKT9, 24 tuổi, nhân viên đồ họa, độc thân)

Trang 39

Còn với hai bạn nữ đang mang thai, mối quan tâm lúc này là việc thăm khám thai định kỳ để thường xuyên theo dõi tình trạng sức khỏe của cả mẹ và thai nhi, để chắc chắn rằng mình đang mang trong mình đứa con khỏe mạnh Các bạn cũng thể hiện sự băn khoăn, lo lắng đến việc chăm sóc thai nhi như thế nào, chế độ dinh dưỡng trong thai kì ra sao, cần chuẩn bị những gì để quá trình sinh nở được diễn ra một cách thuận lợi Vấn đề phòng tránh thai như thế nào cho an toàn sau khi sinh con là mối quan tâm tiếp theo của hai bà mẹ tương lai này, cả hai đều cho rằng mang thai và sinh một đứa con đã là một sự

nỗ lực rất lớn, vì vậy có thể sẽ mất vài năm họ mới tính tới việc tiếp tục sinh

bé thứ hai

Như vậy, có thể thấy bất cứ người nữ khuyết tật vận động nào cũng đều

có thể đối mặt với những rắc rối liên quan đến SKSS và họ đều có nhu cầu được chăm sóc SKSS với mong muốn có thể hiểu hơn về cơ thể mình, về tình trạng sức khỏe của mình để từ đó có những quyết định quan trọng trong việc làm vợ, làm mẹ Đặc biệt, do đặc điểm khuyết tật, không phải ai cũng có thể

tự mình thực hiện các thực hành vệ sinh cá nhân, việc đi lại khó khăn hay sức khỏe yếu… khiến nhu cầu chăm sóc SKSS của họ lớn hơn rất nhiều so với những người không khuyết tật

2.3 Thực trạng các cơ sở chăm sóc SKSS tại Hà Nội hiện nay

Theo báo cáo của ngành Y tế tính đến cuối năm 2012, công tác chăm sóc SKSS ở Hà Nội luôn được cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiều biện pháp, đầu tư kinh phí cũng như mở rộng xã hội hóa dịch vụ CSSKSS với mong muốn có thể tạo cơ hội tốt nhất cho người sử dụng dịch vụ Bên cạnh đó, ngành dân số Hà Nội xác định công tác dân số của thủ

đô không chỉ đi đầu trong việc nâng cao chất lượng dân số mà còn cả trong việc nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS cho người dân

Trang 40

Với đặc thù mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội có cả vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nên Chi cục DS-KHHGĐ Hà Nội xác định dịch vụ

KHHGĐ/chăm sóc SKSS phải đến được với mọi người dân, đặc biệt ưu tiên cho các đối tượng ở địa bàn khó khăn

Vụ SKSS đã tổ chức 211 cuộc tọa đàm tại 19 quận, huyện có mức sinh cao, triển khai Chiến dịch chăm sóc SKSS đợt 1 tại 504/577 xã, phường và tổ chức các hoạt động truyền thông nhóm nhỏ tại 41 xã, phường đồng thời Bên cạnh

đó, công tác rà soát, thu thập số liệu các cặp vợ chồng chưa sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, những gia đình sinh con một bề, những đối tượng cá biệt để tuyên truyền, tư vấn, vận động đúng đối tượng cũng được triển khai nghiêm túc Với mức kinh phí đầu tư hơn 300 triệu đồng, Vụ SKSS đã phối hợp với Liên đoàn Lao động TP Hà Nội tăng cường công tác tuyên truyền vận động và đưa dịch vụ KHHGĐ/SKSS đến các đối tượng Cho đến nay, thành phố Hà Nội tiếp tục duy trì 14 mô hình chăm sóc SKSS vị thành niên và mở rộng thêm 6 mô hình nữa bằng nguồn kinh phí của thành phố; duy trì 24 mô hình khám, tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân và mở rộng thêm 12 mô hình

Những dịch vụ bao gồm khám thai thường, thai bệnh lý, khám chữa bệnh phụ khoa, đỡ đẻ, nạo hút thai, mổ đẻ và khám chữa bệnh phụ khoa Bên cạnh đó, y

tế Hà Nội đã tăng cường tiếp cận với dịch vụ CSSKSS cho người dân thông qua nhiều chương trình khác nhau như các chiến dịch lồng ghép về KHHGĐ với khám phụ khoa; rất nhiều dịch vụ KHHGĐ được miễn phí, áp dụng bảo hiểm y tế với các loại hình khác nhau

Các chiến lược của ngành Y tế trong thời gian tới là nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc SKSS; tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ SKSS và

KHHGĐ cho mọi người, đặc biệt là các gói dịch vụ thiết yếu (gồm: Làm mẹ

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Chí An (2006), Công tác xã hội cá nhân, NXB. Đại học mở bán công Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội cá nhân
Tác giả: Lê Chí An
Nhà XB: NXB. Đại học mở bán công Hồ Chí Minh
Năm: 2006
2. Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (2010), Báo cáo năm 2010 về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, Hà Nội 3. Bộ Y tế & Tổng cục thống kê (2005), Điều tra quốc gia về Vị thànhniên và Thanh niên Việt Nam, NXB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo năm 2010 về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
5. Nguyễn Thị Thái Lan & Bùi Thị Xuân Mai, 2011, Giáo trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
6. Bùi Thị Xuân Mai, 2010, Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
8. Tổng cục thống kê (2009), Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009
9. Trần Đình Tuấn (2010), Tham vấn tâm lí cá nhân và gia đình, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham vấn tâm lí cá nhân và gia đình
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
11. Earle, S. (2001). Disability, facilitated sex and the role of nurse, Journal of Avanced nursing 36(3), Pg 433-440 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disability, facilitated sex and the role of nurse
Tác giả: Earle, S
Năm: 2001
14. Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng et al (2008). People with disabilities in Vietnam, National political publishing house Sách, tạp chí
Tiêu đề: People with disabilities in Vietnam
Tác giả: Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng et al
Năm: 2008
15. Margaret A.Nosek et al (2009), Barriers to Reproductive Health Maintenance Among Women with Physical Disabilities, of Women's Health, Volume: 4 Issue 5: April 25, Pg 505-518 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Barriers to Reproductive Health Maintenance Among Women with Physical Disabilities
Tác giả: Margaret A.Nosek et al
Năm: 2009
16. Paul Anderson, Rob Kitchin (2000), Disability, space and sexuality: access to family planning services, Social Science & Medicine, Volume 51, Issue 8, Pg 1163-1173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disability, space and sexuality: "access to family planning services
Tác giả: Paul Anderson, Rob Kitchin
Năm: 2000
17. UN (2006). Convention on the Rights of Persons with disabilities Assembly, UN. 61th session Sách, tạp chí
Tiêu đề: Convention on the Rights of Persons with disabilities Assembly
Tác giả: UN
Năm: 2006
18. USAID (2005), Vietnam disability situation assessment and program review Sách, tạp chí
Tiêu đề: USAID (2005)
Tác giả: USAID
Năm: 2005
19. UNFPA (2009), A situation analysis of the Sexual and Reproductive health of Women with disabilities, United Nation Population Fund Sách, tạp chí
Tiêu đề: UNFPA (2009), "A situation analysis of the Sexual and Reproductive health of Women with disabilities
Tác giả: UNFPA
Năm: 2009
10. UNFPA (2011) Người khuyết tật ở Việt Nam: Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bậc thang nhu cầu  15 - Cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ thanh niên khuyết tật vận động tại Hà Nội (Nghiên cứu tại Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội
Hình 1 Bậc thang nhu cầu 15 (Trang 5)
Hình 2: Sơ đồ hệ thống sinh thái của người khuyết tật - Cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ thanh niên khuyết tật vận động tại Hà Nội (Nghiên cứu tại Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội
Hình 2 Sơ đồ hệ thống sinh thái của người khuyết tật (Trang 26)
Hình 4: Sơ đồ lực tác động bên trong và bên ngoài tới thân chủ - Cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ thanh niên khuyết tật vận động tại Hà Nội (Nghiên cứu tại Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội
Hình 4 Sơ đồ lực tác động bên trong và bên ngoài tới thân chủ (Trang 89)
Hình 5: Sơ đồ sinh tha ́ i hỗ trợ thân chủ - Cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ thanh niên khuyết tật vận động tại Hà Nội (Nghiên cứu tại Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội
Hình 5 Sơ đồ sinh tha ́ i hỗ trợ thân chủ (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w