LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài: "Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng trong đời sống NKT" Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Canh, huyện Đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI CAO THANH VÂN
CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI CAO THANH VÂN
CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thu Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những thông tin, số liệu trong luận văn hoàn toàn là
sự thật và đã được những người có liên quan đồng ý cho sử dụng Tôi xin chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin có trong luận văn
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2014
Người thực hiện
Bùi Cao Thanh Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài: "Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng trong đời sống NKT" (Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) Ngoài sự nỗ
lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp và người thân
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Thu Hương người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – những người đã dạy dỗ giúp đỡ tôi trong những năm qua, cho tôi có được kiến thức để hoàn thành luận văn này
Nhân đây, tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, thu thập số liệu để thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với gia đình, bạn bè những người đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiên luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2014
Người thực hiện
Bùi Cao Thanh Vân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 9
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 13
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 14
6 Câu hỏi nghiên cứu 14
7 Giả thuyết nghiên cứu 15
8 Phương pháp nghiên cứu 15
9 Khung lý thuyết 18
NỘI DUNG CHÍNH 19
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 19
1.1 Một số lý thuyết áp dụng 19
1.1.1 Lý thuyết về thang bậc nhu cầu của Maslow 19
1.1.2 Lý thuyết cấu trúc chức năng 21
1.2 Khái niệm công cụ 22
1.2.1 Chính sách 22
1.2.2 Trợ giúp xã hội, trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng 23 1.2.3 Người khuyết tật 25
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng 27
1.3.1 Chủ trương đối với chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng 27
1.3.2 Một số đặc điểm của chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng 30
1.4 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 35
Trang 6CHƯƠNG 2: NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI XÃ GIA CANH, HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI: ĐẶC ĐIỂM VÀ NHU CẦU TRỢ
GIÚP XÃ HỘI 37
2.1 Khái quát về người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay 37
2.2 Đặc điểm nhóm người khuyết tật tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 43
2.2.1 Giới 43
2.2.2 Độ tuổi 45
2.2.3 Trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật 46
2.2.4 Dạng tật, mức độ khuyết tật, nguyên nhân khuyết tật 49
2.3 Điều kiện sống của người khuyết tật 52
2.3.1 Nhà ở và tài sản 52
2.3.2 Lao động, việc làm và thu nhập của người khuyết tật 55
2.4 Nhu cầu trợ giúp xã hội của người khuyết tật 58
CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI XÃ GIA CANH, HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI: THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG 64
3.1 Khái quát về hệ thống chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng đối với người khuyết tật 64
3.1.1 Rà soát hệ thống văn bản của chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng 65
3.1.2 Rà soát hệ thống văn bản của chính sách trợ giúp y tế 68
3.1.3 Rà soát hệ thống văn bản của chính sách trợ giúp giáo dục, dạy nghề 71
3.2 Thực trạng thụ hưởng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng của người khuyết tật tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 76
Trang 73.2.1 Sự thụ hưởng chi ́nh sách tr ợ cấp xã hội hàng tháng 76
3.2.2 Sự thụ hưởng chi ́nh sách trợ giúp y tế 79
3.2.3 Sự thụ hưởng chi ́nh sách tr ợ giúp giáo dục, dạy nghề 84
3.3 Tác động của của chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng tới đời sống người khuyết tật 88
3.3.1 Tác động tới thu nhập 88
3.3.2 Tác động tới hoạt động chăm sóc sức khỏe 92
3.3.3 Tác động tới khả năng tiếp cận giáo dục 95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Khuyến nghị 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 107
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 ASXH: An sinh xã hội
2 BTXH: Bảo trợ xã hội
3 BHYT: Bảo hiểm y tế
4 LĐTBXH: Lao động – Thương binh và Xã hội
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu độ tuổi của NKT 37
Bảng 2.2: NKT chia theo dạng tật 38
Bảng 2.3: Nguyên nhân dẫn tới khuyết tật 39
Bảng 2.4: Trình độ học vấn của NKT 40
Bảng 2.5: Cơ cấu chuyên môn kỹ thuật của NKT 42
Bảng 2.6: Cơ cấu độ tuổi của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 45
Bảng 2.7: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai phân chia theo giới tính và dạng tật 48
Bảng 2.8: Loại hình công việc của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 55
Bảng 2.9: Thu nhập của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai phân chia theo loại hình công việc và dạng khuyết tật 56
Bảng 2.10: Những khó khăn trong đời sống của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 59
Bảng 2.11: Nhu cầu hỗ trợ của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 61
Bảng 3.1: Hệ số hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 77
Bảng 3.2: Nơi khám chữa bệnh của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 81
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu giới của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 44 Biểu đồ 2.2: Trình độ học vấn của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 46 Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ NKT phân chia theo dạng khuyết tật tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 49 Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ NKT phân chia theo mức độ khuyết tật tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 50 Biểu đồ 2.5: Nguyên nhân dẫn đến khuyết tật tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 51 Biểu đồ 2.6: Loại nhà ở của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 52 Biểu đồ 2.7: Tình trạng sở hữu các loại tài sản của hộ gia đình NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 54 Biểu đồ 2.8: Các nguồn sống chính của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 57 Biểu đồ 3.1: Đánh giá của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai về mức trợ cấp hàng tháng 78 Biểu đồ 3.2: Các hình thức hỗ trợ chăm sóc sức khỏe NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 80 Biểu đồ 3.3: Đánh giá của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai về chính sách trợ giúp y tế 83 Biểu đồ 3.4: Các hình thức hỗ trợ NKT tham gia giáo dục tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 85 Biểu đồ 3.5: Đánh giá của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai về chính sách trợ giúp giáo dục và dạy nghề 87
Trang 11Biểu đồ 3.6: Đánh giá của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai về tác động của chính sách trợ cấp xã hội tới thu nhập của gia đình 89 Biều đồ 3.7: Đánh giá của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai về tác động của chính sách trợ giúp y tế 92 Biểu đồ 3.8: Đánh giá của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai theo các dạng tật về tác động của chính sách trợ giúp y tế tới việc cải thiện sức khỏe 94 Biểu đồ 3.9: Đánh giá của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai về tác động của chính sách giáo dục, dạy nghề 95 Biểu đồ 3.10: Đánh giá của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai theo các dạng tật về tác động của chính sách hỗ trợ giáo dục tới cơ hội tiếp cận giáo dục 97
Trang 12bộ phận là: trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ giúp y tế, trợ giúp giáo dục, trợ giúp việc làm, trợ giúp học nghề, Chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đã được quy định trong hệ thống các luật và văn bản hướng dẫn luật Các chính
Trang 13này đã góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đối tượng yếu thế nói chung và NKT nói riêng, tuy nhiên các chính sách này vẫn chưa đáp ứng đầy đủ và toàn diện đòi hỏi của xã hội và NKT, chưa bao phủ hết bộ phận NKT cần trợ giúp, hiệu lực, hiệu quả của chính sách chưa cao
Với những lý do trên việc nghiên cứu "Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng trong đời sống NKT" (Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) là rất cần thiết Tác giả mong
muốn nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn
về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đối với NKT cũng như đánh giá tác động mà các chính sách đó tới đời sống NKT để tìm ra các giải pháp hoàn thiện chính sách
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong những năm qua, với các phương pháp tiếp cận khác nhau đã
có nhiều nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về TGXH thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam, tuy nhiên các nghiên cứu này thường nghiên cứu các đối tượng BTXH nói chung Cụ thể như: Năm 1993, Hoàng Chí Bảo đã nghiên cứu “ Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay” Năm 1996, Trần Đình Hoan nghiên cứ u về “Chính sách xã h ội và đổi mới cơ chế quản lý việc thực hiện”, Đỗ Minh Cương và M ạc Văn Tiến nghiên cứu đề tài “Góp phần đổi mới và hoàn thiện chính sách ASXH ở nước ta hiện nay” Năm
2004, Lê Bạch Dương và các tác giả đã xuất bản cuốn “B ảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam” Nhìn nhận chức năng TGXH thư ờng xuyên cộng đồng như hệ thống BTXH , Lê Ba ̣ch Dương và các tác giả (2005) cho rằng, TGXH thường xuyên cộng đồng bao gồm ba ch ức năng chính là : các biện pháp nhằm nâng cao năng lực, bao gồm chủ yếu là những chính sách
vĩ mô, chiến lược phát triển và các biện pháp thể chế hỗ trợ; các biện pháp phòng ngừa, bao gồm các dịch vụ bảo hiểm xã hội và các dịch vụ khác để
Trang 14giúp cho người dân khỏi rơi vào tình trạng khủng hoảng và cần đến sự cứu trợ
và các bi ện pháp bảo vệ, bao gồm lưới an toàn theo nghĩa hẹp dành cho những đối tượng bị tổn thương thông qua các khoản khuyên góp bằng tiền mặt, hiện vật hoặc bằng sự hỗ trợ ngắn hạn khác [9, tr.23] Với phương pháp tiếp cận này các tác gi ả cho rằng TGXH thư ờng xuyên cộng đồng gồm: (i) chính sách BTXH cho nông dân nghèo, (ii) chính sách xã hội như một mạng lưới bảo vệ, (iii) chính sách xã hội như một bàn đạp; (iv) chính sách cho lao động di cư từ nông thôn ra thành thị, (v) chính sách TGXH cho NKT , (vi) chính sách TGXH cho người bị nhiễm HIV/AIDS Đồng thời các tác giả cũng đưa ra những dẫn ch ứng về số liệu, văn bản, nguồn lực, kết quả thực hiê ̣n , điểm ma ̣nh , điểm ha ̣n chế của hê ̣ th ống BTXH của Việt Nam đối với các nhóm đối tượng yếu thế cần trợ giúp Năm 2007, Nguyễn Hải Hữu chủ biên cuốn “Giáo trình nh ập môn ASXH” , tác giả cũng tiến hành nghiên cứu về
“Thực trạng TGXH và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001-2007 và khuyến nghị tới năm 2015” và đề tài “H ỗ trợ thực hiện chính sách giảm nghèo và BTXH” Tiếp câ ̣n theo quan điểm hoa ̣ch đi ̣nh chính sách Nguyễn Hải Hữu và một số tác giả khác có cùng quan điểm cho rằng TGXH là trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng BTXH gồm: trẻ em mồ côi; người già cô đơn; người từ
90 tuổi trở lên; NKT nặng; gia đình có từ hai NKT trở lên là người khuyết tâ ̣t nặng không có khả năng tự phục vụ; người nhiễm HIV/AIDS; gia đình, người thân nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; bên cạnh đó là trợ giúp về y tế; giáo dục; dạy nghề, tạo việc làm; tiếp cận các công trình công cộng; hoạt động văn hoá thể thao và tr ợ giúp khẩn cấp Từ đó kiến nghị giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội , khám chữa bệnh, giáo dục và các chính sách bộ phận khác của chính sách TGXH thư ờng xuyên cộng đồng Dưới góc độ quản lỷ kinh tế, năm 2009 Mai Ngọc Cường chủ nhiê ̣m
đề tài nhà nước “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội” từ
Trang 15đó kiến nghị giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội, khám chữa bệnh, giáo dục và các chính sách bộ phận khác của chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng Luận án tiến sĩ “Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng tại Việt Nam” năm 2010 của Nguyễn Ngọc Toản đã chỉ ra cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng tại Việt Nam, cũng như kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc thực hiện chính sách TGXH thường xuyên tại cộng đồng Đồng thời cũng chỉ ra thực trạng và nhu cầu của các nhóm đối tượng BTXH trong đó có NKT về TGXH, đánh giá kết quả và hạn chế của chính sách đồng thời đưa ra các giải pháp để hoàn thiện chính sách Gần 80% NKT không có khả năng lao động, không có thu nhập ổn định phải nhờ vào sự trợ giúp của gia đình và xã hội Mặt khác đa phần hộ gia đình có NKT là những hộ khó khăn kinh tế Bản thân NKT và gia đình đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Kết quả nghiên cứu đã chỉ
ra có 58,34% NKT có khó khăn về khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ; 42,73% có khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày của NKT, 43,1% có khó khăn vốn sản xuất- kinh doanh; 25,44% khó khăn việc làm, 20% khó khăn tiếp cận công nghệ thông tin, truyền thông, công trình giao thông Nguyện vọng có 73,67% NKT mong muốn được trợ giúp khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ; 56,48% được trợ cấp xã hội, 43,1% được trợ giúp chỉnh hình, PHCN, 25,7% được trợ giúp việc làm [21, tr 75]
Dưới góc độ xã hội học cũng đã có những nghiên cứu về chính sách xã hội và hệ thống an sinh xã hội Năm 2001-2003 Bùi Thế Cường với đề tài cấp
Bộ “Hệ thống phúc lợi xã hội Việt Nam trong thời kỳ Đổi Mới” Năm 2005, Bùi Thế Cường với nghiên cứu chính sách xã hội: Nhìn lại một chặng đường trên tạp chí Xã hội học số 4 năm 2005 Năm 2013, Bế Quỳnh Nga và Đặng Thị Việt Phương làm chủ nhiệm đề tài “Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam trong mô hình phát triển và quản lý xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020”
Trang 16Cùng với những nghiên cứu về cơ sở lý luận, trong thời gian qua, các cơ quan, tổ chứ c cũng đã thực hiê ̣n các nghiên cứu thực tra ̣ng đối tượng BTXH , tình hình thực hiện chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng nhằm phu ̣c vu ̣ cho công tác quản lý, tổ chức thực thi chính sách cũng như đề xuất giải pháp đổi mới, hoàn thiện chính sách và hệ thống thực thi Năm 2007, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) nghiên cứu đề tài cấp bô ̣ hoàn thiện cơ chế, chính sách, giải pháp về BTXH theo hướng bảo đảm hài hoà công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế Năm 2008, Viện nghiên cứu và phát triển xã hội – ISDS thực hiê ̣n điều tra NKT ở Thái Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai
và công bố kết quả về n hững phát hiê ̣n từ điều tra ; Bô ̣ LĐTBXH thực hiê ̣n
“Khảo sát đánh giá tình hình thực hiê ̣n pháp luâ ̣t NKT”; Tổ chức Lao động quốc
tế (ILO) thực hiện “Khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho NKT Việt Nam”
Năm 2011, Bộ LĐTBXH phối hợp với Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc thực hiện nghiên cứu “Nghiên cứu định tính về trẻ khuyết tật tại An Giang và Đồng Nai - Kiến thức, Thái độ, và Thực hành” Các nghiên cứu đã cho thấy một bức tranh về thực tra ̣ng đời sống, hoàn cảnh, nguyện vọng, khó khăn của NKT kết quả thực hiện chính sách TGXH, kiến nghị hoàn thiện chính sách
Tổng quan nghiên cứu cơ sở lý luâ ̣n , thực tiễn về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng ở Viê ̣t Nam cho thấy , bước đầu đã có được cơ sở lý luâ ̣n về TGXH thường xuyên cộng đồng ở Viê ̣t Nam, đánh giá thực tra ̣ng đời sống đối tượng và các nhu cầu TGXH làm cơ sở cho xây dựng , hoàn thiện chính sách Các nghiên cứu về cơ sở lý luận đã xây dựng phương pháp tiếp
câ ̣n, xác định đối tượ ng, phạm vi các chính sách bộ phận , hê ̣ thống tổ chức thực thi, điểm ma ̣nh, điểm ha ̣n chế của các quan điểm tiếp câ ̣n và đề xuất đối với Viê ̣t Nam Các khảo sát, điều tra đã cho thấy bức tranh về đối tượng , kết quả thực hiện chính sách và đề xuất , kiến nghi ̣ các giải pháp tăng cường năng lực hê ̣ thống thực thi Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu chưa đề câ ̣p mô ̣t
Trang 17cách toàn diện cơ sở lý luận của chính sách TGXH thư ờng xuyên cộng đồng, cũng như phân tích đánh giá kết quả, hiê ̣u quả chính sách nhìn từ góc đô ̣ khoa học quản lý, để đề xuất chủ trương phát triển giải pháp và công cụ chính sách phù hợp đối với riêng đối tượng là NKT
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu góp phần đem lại cơ sở khoa học cho việc hoạch định và hoàn thiện những chính sách TGXH của Nhà nước về NKT Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ lý thuyết về thang bậc nhu cầu của Maslow,
lý thuyết cấu trúc chức năng thông qua việc phân tích các chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng và tác động của nó tới đời sống NKT dưới góc độ
chính sách và xã hội học
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp thấy được thực trạng đời sống của NKT, hiệu quả và tác động của chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng tới đời sống vật chất và tinh thần của NKT Từ đó, có cái nhìn tổng quan hơn chính sách TGXH và hạn chế trong việc ban hành và thực thi chính sách cũng như đưa ra các giải pháp giúp hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội cho NKT
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này hướng tới làm sáng tỏ tác động của việc thực hiện chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đối với NKT
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Mô tả và phân tích hệ thống chính sách chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đối với NKT
Trang 18- Mô tả thực trạng đời sống NKT tại địa bàn nghiên cứu: tình trạng khuyết tật; cơ cấu độ tuổi; trình độ văn hóa, thu nhập, nghề nghiệp, điều kiện sống, khó khăn và nhu cầu trợ giúp của NKT
- Phân tích tác động của chính sách tới đời sống NKT: tác động tới vấn
đề thu nhập, tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe của NKT
- Đề xuất giải pháp đổi mới, hoàn thiện chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đối với NKT ở Việt Nam giai đoạn tới
5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên
cộng đồng trong đời sống NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
5.2 Khách thể nghiên cứu: NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán,
tỉnh Đồng Nai và chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đối với NKT bao gồm nhiều chính sách bộ phận Do hạn chế về thời gian và các điều kiện nghiên cứu có hạn cũng như do khuôn khổ hạn chế của luận văn, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu gồm: Chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng, chính sách trợ giúp y tế và chính sách trợ giúp giáo dục, dạy nghề cho NKT
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Hệ thống văn bản chính sách TGXH thường xuyên cho hiện nay như thế nào?
- Đặc điểm khuyết tật và thực trạng đời sống của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai như thế nào?
Trang 19- Chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng có tác động như thế nào tới vấn đề thu nhập, chăm sóc sức khỏe và tiếp cận giáo dục của NKT tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai?
- Làm thế nào để chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đối với NKT đạt kết quả cao hơn?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng là một trong những cấu phần quan trọng, không thể tách rời của hệ thống ASXH, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cuộc sống cho các đối tượng yếu thế trong đó có NKT và sự phát triển bền vững của xã hội Bên cạnh những kết quả đã đạt được, chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng vẫn còn một số bất cập trong việc ban hành và thực thi chính sách Các chính sách TGXH thường xuyên tại cộng đồng có tác động tới đời sống vật chất và tinh thần của NKT như góp phần cải thiện thu nhập, mở rộng các cơ hội cho NKT tiếp cận với giáo dục để nâng cao đời sống và vị trí của mình trong xã hội, cũng như cải thiện tình trạng tiếp cận với các dịch vụ y tế của NKT
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Đây là phương pháp chính sử dụng trong quá trình nghiên cứu Phân tích các tài liệu liên quan tới chính sách TGXH đặc biệt là chính sách dành cho NKT nhằm mục đích làm rõ vị trí vai trò của chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng dành cho NKT trong hệ thống ASXH của Việt Nam Đặc biệt phân tích nguồn số liệu từ “Khảo sát đánh giá tình hình thực hiện pháp luật NKT năm 2008” và “Khảo sát NKT năm 2011” của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội “Khảo sát NKT năm 2011” tại 7 tỉnh (Lào Cai, Hải Dương, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Trị, Vĩnh Long và Đồng Nai) Tại mỗi
Trang 20tỉnh chọn 01 đơn vị cấp xã để khảo sát toàn bộ NKT Đối tượng khảo sát bao gồm: hộ gia đình có NKT và NKT đang sống trong hộ; cán bộ làm công tác trợ giúp NKT Khảo sát này nhằm mục đích thực trạng NKT và hộ gia đình có NKT; tình hình thực hiện chính sách TGXH đối với NKT Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ lựa chọn phân tích nguồn số liệu của xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và đối tượng là NKT để làm rõ thực trạng NKT, nhu cầu TGXH và tác động của chính sách TGXH thường xuyên cộng
đồng đối với đời sống NKT
Cơ cấu mẫu khảo sát tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
Trang 21thập những thông tin định tính làm minh họa và hiểu rõ hơn những thông tin định lượng đã thu thập được
Số lượng phỏng vấn sâu đã thực hiện: 20 người, trong đó có 12 NKT và
8 đại diện NKT
Một số nội dung chính trong cuộc phỏng vấn sâu:
- Các yếu tố chủ quan liên quan đến người được hỏi: đặc điểm cá nhân, nghề nghiệp, thu nhập,…
- Sự hiểu biết của NKT về các chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng hiện nay
- Đánh giá của NKT về hiệu quả của các chính sách đó
- Nguyện vọng và nhu cầu TGXH của NKT
Trang 22Chính sách trợ giúp y
tế
Đời sống người khuyết tật
Chăm sóc sức khỏe
Chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng
giáo dục
Trang 23NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số lý thuyết áp dụng
1.1.1 Lý thuyết về thang bậc nhu cầu của Maslow
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ, Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ
sẽ không tồn tại được, họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân,… Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng
Hình 1.1: Tháp thang bậc nhu cầu của Maslow
Tự thể hiện Nhu cầu tôn trọng Nhu cầu xã hội
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu cơ bản
Trang 24Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền trong Giáo trình Quản trị
đã giải thích:
“(1) Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh học: là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác
(2) Nhu cầu về an ninh và an toàn: là các nhu cầu như ăn ở, sinh sống
an toàn, không bị đe đọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ,
(3) Nhu cầu xã hội hay nhu cầu liên kết và chấp nhận: là các nhu cầu về tình yêu được chấp nhận, bạn bè, xã hội,
(4) Nhu cầu được tôn trọng: là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng, địa vị,
(5) Nhu cầu tự thể hiện hay tự thân vận động: là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước ” [16, tr 32]
Quan điểm này lấy con người làm trung tâm của mục tiêu các chính sách Với quan niệm con người sinh ra có các quyền sống còn, Nhà nước cần
có biện pháp hỗ trợ những cá nhân không có năng lực thực hiện quyền và bảo đảm nhu cầu cơ bản để duy trì cu ộc sống Các nhu cầu ở mức độ cao xuất hiện khi các nhu cầu ở mức độ thấp đã được đáp ứng TGXH là sự can thiệp
để các cá nhân th ực hiện các nhu cầu cơ bản Trách nhiệm của Nhà nước là bảo vệ sự an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ bị suy giảm, hoặc bị mất nguồn thu nhập, trước các cú sốc về kinh tế - xã hội, đây chính là chức năng cơ bản của ASXH
Theo quan điểm này, chính sách TGXH xây dựng trên cơ sở bảo đảm cho
bộ phận dân cư khó khăn thực hiện các nhu cầu về đời sống (lương thực, thực phẩm), có nước sạch sinh hoạt, có nơi ở, bảo đảm vệ sinh cá nhân và môi trường, được chăm sóc y tế, được tiếp cận giáo dục, giao tiếp, các hoạt động cộng đồng
Trang 251.1.2 Lý thuyết cấu trúc chức năng
Thuyết cấu trúc chức năng cho rằng để giải thích sự tồn tại và vận hành của xã hội cần phải phân tích cấu trúc – chức năng của nó, tức là chỉ ra các thành phần cấu thành (cấu trúc) và cơ chế hoạt động (chức năng) của chúng Các luận điểm của thuyết này đều nhấn mạnh tính cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc Thuyết này cho rằng một xã hội tồn tại, phát triển được là do bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc; bất kỳ sự thay đổi ở thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác Đối với cấu trúc xã hội các đại diện của chủ thuyết chức năng vừa nhấn mạnh tính hệ thống của nó vừa đề cao vai trò quan trọng của hệ giá trị, hệ chuẩn mực xã hội trong việc duy trì, thống nhất, ổn định, trật tự xã hội
Theo Lê Ngọc Hùng (2002) về mặt phương pháp luận “Thuyết chức năng hướng vào giải quyết các vấn đề bản chất của cấu trúc xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội Đối với bất kỳ sự kiện, hiện tượng xã hội nào đều hướng vào việc phân tích các thành phần tạo nên cấu trúc của chúng, xem các thành phần đó có mối liên hệ với nhau như thế nào và đặc biệt xét quan hệ của chúng đối với nhu cầu chung của sự tồn tại và phát triển của sự kiện, hiện tượng đó Đồng thời về mặt phương pháp luận, chủ thuyết này đòi hỏi phải tìm hiểu cơ chế hoạt động của từng thành phần để biết chúng có chức năng, tác dụng gì đối với sự tồn tại một cách cân bằng, ổn định của cấu trúc xã hội “ [18, tr 196-197]
Chính sách TGXH là hợp phần của hê ̣ thốn g ASXH được xây dựng trên cơ sở quan điểm phát triển kinh tế và phát triển hê ̣ thống ASXH quốc gia Mọi thành viên trong xã hội luôn có nguy cơ bị rủi ro Rủi ro làm cho cá nhân trong xã hội mất hoặc suy giảm thu nhập, không còn nguồn sống, thiếu người chăm sóc TGXH là công cụ quản lý rủi ro và thực hiện các chức năng phòng
Trang 26ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro, góp phần bảo đảm ổn định xã hội Với quan điểm này TGXH bao gồm hệ thống nhiều cấp độ chính sách khác nhau
và tạo ra các loại hình dịch vụ riêng Cấp cao nhất là trợ giúp phát triển, sau
đó đến trợ giúp ổn định và cấp cuối cùng là trợ giúp để duy trì Trong mỗi cấp
độ trợ giúp lại được chia thành các hình thức khác nhau từ trợ giúp đơn giản đến phức tạp
Áp dụng lý thuyết cấu trúc chức năng trong nghiên cứu về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đối với đời sống NKT chính là việc tìm hiểu vai trò của chính sách TGXH với đời sống của đối tượng yếu thế cũng như đối với sự ổn định và phát triển của toàn xã hội
1.2 Khái niệm công cụ
1.2.1 Chính sách
Thuật ngữ chính sách thực tế được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau Tiếp cận từ góc độ chính sách công có thể định nghĩa: chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đưa ra để giải quyết một vấn đền nào đó thuộc thẩm quyền của mình [15, tr.281] Chính sách được hiểu là hình thức của những mối liên hệ, tác động qua lại giữa các nhóm, tập đoàn xã hội gắn liền với tổ chức, hoạt động của Nhà nước, của các đảng phái hay các thiết chế khác nhau của hệ thống chính trị nhằm thực hiện các mục tiêu, lợi ích, nhiệm vụ của cá nhân và tập đoàn xã hội đó Chính sách là công
cụ điều tiết lợi ích giữa các cá nhân và giữa các nhóm xã hội của chủ thể quản
lý để đạt được mục đích do chủ thể đó quy định Công cụ đó thường được thể hiện trong các quyết định, trong hệ thống pháp luật, trong quy chuẩn hành vi
và những quy định các của chủ thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là tổ chức quốc tế, Đảng, Nhà nước hoặc các tổ chức xã hội khác Trong đề tài này, chính sách được hiểu là chính sách công do Nhà nước ban hành, bao gồm các
Trang 27đối nghĩa với chính sách tư – chính sách riêng do các tổ chức, doanh nghiệp, các hiệp hội, các đoàn thể đề ra để áp dụng trong phạm vi của tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội hay đoàn thể đó
Đối với chính sách công, Nhà nước vừa là chủ thể ban hành, vừa là chủ thể thực thi chính sách một công cụ tác động tới đời sống của cộng đồng dân
cư Chính sách công thực hiện chức năng của Nhà nước, quản lý và điều hành
sự phát triển kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đề ra và được thể chế hóa thành các quyết định có hiệu lực pháp lý của cơ quan nhà nước Nó được thực thi dựa vào việc sử dụng quyền lực công của Nhà nước Chủ thể điều hành thực thi chính sách công là các tổ chức trong bộ máy nhà nước sử dụng thẩm quyền được pháp luật thừa nhận
Tóm lại, trong luận văn này chính sách được hiểu là hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp của Nhà nước để giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian và không gian nhất định, nhằm góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước
1.2.2 Trợ giúp xã hội, trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng
TGXH được hiểu theo các quan đi ểm tiếp câ ̣n , tính chất, chức năng,
hình thức và mô hình khác nhau
Theo Mai Ngọc Cường (2009) “Trợ giúp xã hội là sự đảm bảo giúp đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân và cộng đồng quốc tế về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các hình thức và biện pháp khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế hoặc hẫng hụt trong cuộc sống khi họ không đủ khả năng tự lo được cho
cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình” [`8, tr 61-64]
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam “TGXH là sự giúp đỡ bằng tiền mặt hoặc hiện vật có tính chất khẩn thiết, cấp cứu ở mức độ cần thiết cho những
Trang 28người bị lâm vào cảnh bần cùng không còn khả năng tự lo cho cuộc sống Trong đó những người già yếu cô đơn không có người nuôi dưỡng, trẻ em mồ côi cha mẹ, NKT không có nguồn nuôi dưỡng, người bị bệnh hiểm nghèo không có người chăm sóc nuôi dưỡng, gia đình bị thiên tai, địch họa gây tác hại nặng nề,… được Nhà nước và cộng đồng cứu giúp” [17, tr.175]
Theo Thuật ngữ An sinh xã hội Việt Nam (2011) “TGXH là sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của Nhà nước (lấy từ nguồn thuế, không phải đóng góp của người nhận) nhằm đảm bảo mức sống tối thiếu cho đối tượng được nhận Hầu hết các khoản trợ cấp trên dựa trên cơ sở đánh giá gia cảnh hoặc mức thu nhập nhất định Theo quan điểm hiện đại, TGXH bao gồm
cả ba loại hình: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp gia đình và dịch vụ xã hội” [26, tr.74]
TGXH có những nội dung và hình thức ở mức độ khác nhau, tùy thuộc vào tình trạng nguy kịch nhiều hay ít, tạm thời hay lâu dài, hoàn cảnh bản thân
và gia đình họ Tùy mức độ và tính chất mà có thể phân thành 2 loại TGXH đột xuất và TGXH thường xuyên
TGXH đột xuất là hình thức trợ giúp đột xuất tức thì cho các cá nhân hoặc nhóm dân cư do các nguyên nhân khách quan bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh dẫn đến không có đồ ăn, nước uống, nhà ở trong khoảng thời gian xác định
TGXH thường xuyên là hình thức TGXH bằng tiền hoặc bằng hiện vật
mà Nhà nước định ra để trợ cấp với những người hoàn toàn không thể tự lo được cuộc sống trong một thời gian dài Đây là khái niệm rộng thay đổi theo thời gian và không gian bởi lẽ thực tế đối tượng xã hội rất nhiều, song không phải tất cả đều được TGXH thường xuyên Chỉ có những người rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà bản thân và gia đình không tự lo liệu được cuộc sống ở mức tối thiểu hàng ngày, không đảm bảo được nhu cầu cơ bản của con người mới được hưởng TGXH thường xuyên Về phạm vi thực hiện, TGXH
Trang 29thường xuyên được chia thành TGXH thường xuyên tại cộng đồng và TGXH thường xuyên tại các cơ sở BTXH TGXH thường xuyên cộng đồng hướng tới việc trợ giúp các đối tượng yếu thế ngay tại gia đình và môi trường sống của họ nhằm bảo đảm đời sống cũng như tạo điều kiện để họ phát triển và hòa nhập cộng đồng
Từ khái niệm chính sách và khái niệm TGXH trong đề tài này chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng được hiểu là các biện pháp và giải pháp đảm bảo của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng BTXH tại cộng đồng (người thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống) nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống Việc bảo đảm này thông qua việc cung cấp tài chính, vật phẩm và các điều kiện vật chất khác cho đối tượng
1.2.3 Người khuyết tật
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm NKT Hiện có hai quan điểm chính đó là quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội
Quan điểm khuyết tật cá nhân hay quan điểm khuyết tật dưới góc độ y
tế đề cập đến tình trạng thể chất nội tại của cá nhân có thể làm gây những hạn chế, gây bất lợi trong cuộc sống Mô hình y tế xem xét khuyết tật dưới góc độ
là một vấn đề khiếm khuyết của con người do bệnh tật, chấn thương, hoặc các
lý do khác, điều này đòi hỏi NKT phải được duy trì chăm sóc y tế và cung cấp các hình thức điều trị cá nhân để có thể giữ ổn định hoặc cải thiện tình trạng khuyết tật Trong mô hình y tế, quản lý của tình trạng khuyết tật là nhằm mục đích chữa trị, điều chỉnh và thay đổi hành vi của cá nhân để chữa bệnh hiệu quả Chăm sóc y tế được xem như là vấn đề chính, và ở góc độ quản lý nhà nước, phạm vi chủ yếu của các chính sách về NKT là sửa đổi, cải cách chính sách về y tế Do đó, Nhà nước và xã hội nên đầu tư vào chăm sóc y tế và dịch
vụ liên quan để chữa bệnh tật, cho phép NKT có một cuộc sống bình thường
Trang 30Như vậy mô hình cá nhân hay mô hình y tế nhìn nhận NKT như người có vấn
đề về thể chất và cần được chữa trị Điều này đẩy những NKT vào thế bị động của người bệnh Mục tiêu của hướng tiếp cận y tế là làm cho NKT cảm thấy trở lại trạng thái bình thường nhưng vô hình chung lại kiến cho họ cảm thấy họ không bình thường Theo đó vấn đề khuyết tật được cho là hạn chế ở từng cá nhân Khi bị khuyết tật những người này cần phải thay đổi chứ không phải xã hội hay môi trường xung quanh thay đổi
Ngược lại, mô hình xã hội đề xuất rằng các rào cản và định kiến cũng như sự loại trừ của xã hội (cố ý hoặc vô ý) là những yếu tố cuối cùng xác định một người có khuyết tật hay không khuyết tật Mô hình này thừa nhận rằng một số người có sự khác biệt về thể chất, trí tuệ, hay tâm lý (mà đôi khi có thể suy yếu) so với các tiêu chuẩn, những người này có thể dẫn đến khuyết tật nếu
xã hội không chấp nhận họ như một phần của xã hội Nói cách khác, mô hình
xã hội khuyết tật coi xã hội là vấn đề, giải pháp là phải thay đổi xã hội Chính
xã hội và chính sách cần phải cải tổ chứ không phải là NKT
Mỗi quan niệm nói trên có những điểm mạnh và những hạn chế nhất định: Quan điểm khuyết tật cá nhân hoặc y tế có tác dụng tốt trong một số lĩnh vực cụ thể như y tế, phục hồi chức năng (PHCN) và bảo đảm xã hội Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội là công cụ quan trọng để giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của NKT bị tách biệt khỏi xã hội, những vấn đề bất lợi và vấn đề phân biệt đối xử
Khái niệm NKT là cơ sở pháp lý để công nhận ai là NKT và từ đó được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật liên quan phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc chính sách cụ thể theo đuổi Ngày 17/6/2010 Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật NKT, chính thức sử dụng khái niệm NKT thay thế cho khái niệm
“người tàn tật” phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn khuyết tật Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 của Luật này thì “NKT là
Trang 31người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao đô ̣ng , sinh hoa ̣t, học tập gặp khó khăn” [19; tr.1] Về dạng tật, Luật NKT quy định tại khoản 1, Điều 3 gồm 5 dạng khuyết tật bao gồm: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ và Khuyết tật khác Về mức độ khuyết tật, khoản 2, Điều 3 quy định theo mức độ khuyết tật: NKT đặc biệt nặng; NKT nặng; NKT nhẹ [19, tr 2-3] Đây là một bước tiến quan trọng thể chế hóa đầy đủ và toàn diện các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về NKT nhằm tạo môi trường pháp lý, điều kiện, cơ hội bình đẳng, không rào cản đối với NKT theo hướng xây dựng các chính sách đối với
NKT trên cơ sở tiếp cận và bảo đảm quyền của NKT
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng
1.3.1 Chủ trương đối với chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng
TGXH là một trong những chính sách thuộc hệ thống đảm bảo ASXH của quốc gia liên quan đến phát triển con người và phát triển bền vững đất nước Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách xã hội nói chung và chính sách TGXH thườ ng xuyên cô ̣ng đồng nói riêng đư ợc cụ thể trong các nghị quyết của Đảng
Thứ nhất, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển xã hội, giải quyết tốt
các vấn đề xã hội bức xúc, quan tâm đến các đối tượng BTXH có hoàn cảnh khó khăn, lấy phát triển kinh tế làm nền tảng để phát triển chính sách xã hội
Hệ thống chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng phải được xây dựng trên cơ sở phù hợp với điều kiện và quá trình phát triển kinh tế, đáp ứng được mục tiêu bình đẳng trong phân phối và bình đẳng xã hội Chủ trương này được thể hiện rõ trong Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII,
Trang 32IX, X và XI Cụ thể Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã nêu:
"Từng bước xây dựng chính sách BTXH đối với toàn dân, theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, mở rộng và phát triển các công trình sự nghiệp BTXH, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức BTXH cho những người
có công với cách mạng và những người gặp khó khăn Nghiên cứu bổ sung chính sách, chế độ BTXH phù hợp với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế, quản lý xã hội"[10, tr.49] Tiếp đó Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh quan điểm mục tiêu của tăng trưởng phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, vấn đề phân phối Cụ thể: "Tăng trưởng kinh
tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình” [11, tr 101] Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra nhiệm vụ cho cả nhiệm kỳ “Chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, phòng ngừa lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp
lý, bền vững, đảm bảo ASXH, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ”[13; tr.58] Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định “Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ASXH, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.” [14, tr.61]
Thứ hai, từng bước luật hoá các chủ trương quan điểm của Đảng, Nhà
nước thành các văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng hệ thống chính sách TGXH thường xuyên theo hướng BTXH toàn dân, thực hiện theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm; đa dạng hoá hình thức trợ giúp và phát
Trang 33triển hệ thống sự nghiệp để chăm sóc các đối tượng đặc biệt khó khăn Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu định hướng: "Đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo từ thiện Thực hiện các chính sách bảo trợ trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh, NKT; xây dựng quỹ tình thương trích từ ngân sách một phần và động viên toàn xã hội tham gia đóng góp; tiến tới xây dựng luật về bảo trợ NKT và trẻ em mồ côi " [11, tr.16] Chủ trương này cũng được quán triệt sâu sắc và từng bước đã hình thành hệ thống luật pháp đối với NKT, trẻ em đặc biệt khó khăn, người cao tuổi, đặc biệt là các quy định về các chế độ chính sách trợ cấp và trợ giúp các nhóm đối tượng xã hội yếu thế
Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa huy động nguồn lực để thực hiện các
chính sách TGXH thường xuyên Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về kinh
tế, chủ trương xã hội hoá công tác TGXH thường xuyên được Đảng và Nhà nước ta lựa chọn là một trong những giải pháp quan trọng để giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc Xã hội hoá việc trợ giúp các đối tượng BTXH không có nghĩa là Nhà nước giảm phần trách nhiệm mà chính là tăng cường trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo môi trường pháp lý, hành chính thuận lợi cho việc TGXH thường xuyên; mặt khác cũng tăng cường chia sẻ trách nhiệm của các thành viên xã hội đối với những người không may mắn, gặp nhiều thiệt thòi trong cuộc sống Chủ trương này được thể hiện rõ trong Nghị quyết đại hội đảng toản quốc lần thứ IX: "Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội"[12, tr.94]
Tổng hợp chủ trương, quan điểm về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng cho thấy, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm chăm lo tới đời sống nhân dân khó khăn Việc chăm lo này được thể hiện cụ thể ở định hướng
Trang 34phát triển chính sách, chủ trương xây dựng hệ thống luật pháp và các giải pháp chính sách cụ thể Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu tiếp tục chuyển đổi và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, quá trình phân hóa giàu nghèo, già hóa dân số, biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ thường xuyên trên diện rộng, ảnh hưởng nặng nề đến đời sống dân sinh thì công tác BTXH, ASXH lại càng phải được quan tâm nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu về thu nhập, chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu cơ bản khác của nhóm dân cư dễ bị tổn thương như NKT, người cao tuổi cô đơn, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, người bị nhiễm HIV
1.3.2 Một số đặc điểm của chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng
1.3.2.1 Bản chất, mục tiêu, nguyên tắc của chính sách trợ giúp xã hội
thường xuyên cộng đồng
Chính sách là chuỗi những hoạt động mà Nhà nước chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến các lĩnh vực xã hội và người dân Chính vì vậy, việc xây dựng chính sách phải tuân thủ những mục tiêu và nguyên tắc nhất định để đạt hiệu quả và phù hợp với thể chế
chính trị, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
Về bản chất chính sách TGXH thường xuyên cô ̣ng đồng là giải pháp cu ̣ thể, hợp phần chính của TGXH và do Nhà nước là chủ thể chính thực hiê ̣ n, được cu ̣ thể các biê ̣n pháp , giải pháp để giúp đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đảm bảo cuộc sống tại nơi đối tượng sinh sống
Chiến lược an sinh xã hội 2011-2020 đã đề ra sáu nhóm mục tiêu cụ thể để phát triển hệ thống ASXH Việt Nam trong đó có mục tiêu “Hệ thống trợ giúp xã hội ngày càng được mở rộng, bảo đảm cho các đối tượng có cuộc
Trang 35sống ổn định, hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng và tự vươn lên Đảm bảo mức sống tối thiểu của mọi người dân; tăng cường các chương trình trợ giúp xã hội
để hỗ trợ bù đắp các thiếu hụt về thu nhập của người nghèo kinh niên và các đối tượng xã hội” [25; tr.58] Như vậy, mục tiêu của chính sách TGXH và chính sách TGXH thường xuyên cô ̣ng đồng là hướng việc bảo đảm thu nhập và các điều kiện sinh sống ở mức tối thiểu (bằng các hình thức và biện pháp khác nhau) đối với các đối tượng gặp rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi trong cuộc sống không đủ khả năng tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình
Để thực hiện mục tiêu trên việc xây dựng chính sách TGHXH thường xuyên cộng đồng phải tuân thủ quy trình chính sách, nguyên tắc chung và một
số nguyên tắc riêng Nguyên tắc cơ bản về chính sách trợ giúp xã hội được quy định tại Nghị định 136/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội như sau:
Thứ nhất là “Chính sách trợ giúp xã hội được thực hiện công bằng, công khai, kịp thời theo mức độ khó khăn và ưu tiên tại gia đình, nơi sinh
sống” [4; tr.1] Tức là là việc xây dựng chính sách phải bảo đảm sự công bằng ngay trong các nhóm đối tượng hưởng lợi Tránh sự cao bằng chính sách đối với tất cả các nhóm đối tượng Đồng thời phải phù hợp của chính sách với các chính sách xã hội khác (chính sách tiền lương, chính sách BHXH, chính sách giảm nghèo, chính sách người có công ) Tránh không để có sự chênh lệch quá lớn
về các mức chính sách trong hệ thống chính sách xã hội
Thứ hai là “Chính sách trợ giúp xã hội được thay đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế đất nước và mức sống tối thiểu dân cư từng thời kỳ” [4,
tr.1] Chính vì vậy chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng phải được xây
dựng trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh
tế – xã hội từng thời kỳ Bên cạnh đó, chính sách TGXH thường xuyên phải bảo
đảm tính hiê ̣u quả , tức là thực hiê ̣n đa ̣t kết quả mong muốn với mức chi phí
Trang 36hợp lý nhất phù h ợp với điều kiện kinh tế của đất nước; phải bảo đảm sự ổn
đi ̣nh bền vững, đòi hỏi có sự ổn đi ̣nh chính sách trong thời gian nhất đi ̣nh
Bản chất, mục tiêu và các nguyên tắc xây dựng chính sách khẳng định rằng chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước Việc phát triển hệ thống TGXH phải đặt trong một tổng thể phát triển hệ thống ASXH của quốc gia và phải phù hợp với quá trình phát triển kinh tế và thể chế chính trị
1.3.2.2 Đối tượng và nội dung chính sách
Đối tượng TGXH thường xuyên cô ̣ng là m ột bộ phận hay nhóm dân cư
do các nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến phải chịu những hoàn cảnh khó khăn trong sinh hoạt, lao động, học tập và cần đến sự trợ giúp của gia đình, cộng đồng, Nhà nước thì mới có thể bảo đảm cuộc sống và hoà nhập cộng đồng Theo các quy định hiện hành thì đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội bao gồm các nhóm như: ngườ i cao tuổi (người không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, người cao tuổi cô đơn nghèo); người khuyết tật; trẻ
em mồ côi; người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo, không có khả năng lao động và một số đối tượng khó khăn khác Các nhóm đối tượng này thường không còn khả năng lao đô ̣ng , không tự chăm sóc được bản thân , khó khăn kinh tế hoă ̣c hoàn cảnh khác dẫn đến khó khăn trong vi ệc tự bảo đảm các nhu cầu cơ bản của cá nhân nên cần đến sự trợ giúp của Nhà nước và xã hội
TGXH được hình thành từ nhu cầu thực tế của các đối tượng Khi nhu cầu cần TGXH vượt quá khả năng đáp ứng của gia đình, cộng đồng thì Nhà nước thực hiê ̣n trợ giúp bằng các biê ̣n pháp hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp thông
Trang 37qua các hiê ̣n vâ ̣t ho ặc các cơ chế khuyến khí ch, từ đó hình thành chính sách TGXH thường xuyên cô ̣ng đồng với các chính sách bộ phận như: chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng, chính sách trợ giúp y tế, chính sách trợ giúp giáo dục, đào tạo và một số chính sách khác để đảm bảo cuộc sống của các đối tượng
Cụ thể như, trợ cấp xã hội hàng tháng là khoản tiền của Nhà nước cấp cho đối tượng hàng tháng để mua lương thực, thực phẩm và các chi tiêu cần thiết khác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Các chế độ trợ cấp được tính toán dựa vào các mức chi tiêu tối thiểu để bảo đảm duy trì cuô ̣c sống cho đối tượng Chế độ trợ cấp được điều chỉnh phù hợp với điều kiện phát triển kinh
tế xã hội của đất nước và khả năng ngân sách Nhà nước
Chính sách trợ giúp y tế nhằm giú p cho đối tượng bảo đảm các điều kiê ̣n chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng Chính sách trợ giúp y tế được thực hiện bằng việc cung cấp nguồn tài chính trực tiếp để
thanh toán các di ̣ch vu ̣ khám b ệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng , sử du ̣ng các dịch vụ y tế cần thiết khác Đồng thời cũng có thể hỗ trợ chi phí để các cá nhân có thể tham gia bảo hiểm y tế để sử du ̣ng các di ̣ch vu ̣ do BHYT thanh toán khi sử dụng dịch vụ khám b ệnh, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ, PHCN tại các cơ sở khám bệnh, chữa bê ̣nh
Chính sách trợ giúp giáo dục với mục tiêu tạo điều kiện để đối tượng tiếp câ ̣n và sử du ̣ng di ̣ch vu ̣ giáo du ̣c , bình đẳng như các thành viên khác trong xã hô ̣i Chính sách giáo dục đ ược thực hiện b ằng cách miễn, giảm học phí, trợ cấp xã hội, hỗ trợ ăn trưa, giảm các khoản đóng góp xây dựng trường
lớp, hỗ trợ sách giáo khoa, vở viết và đồ dùng học tập,
Ngoài ra còn một số chính sách được thực hiện như dạy nghề, tạo việc làm, vay vốn, hỗ trợ cải thiện hoặc làm mới nhà ở, nước sạch vệ sinh môi trường thông qua các chương trình dự án trợ giúp trực tiếp, hoặc lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, chương
Trang 38trình việc làm, dạy nghề
Các chính sách này đã về cơ bản đảm bảo quyền về thu nhập tối thiểu;
đảm bảo y tế cơ bản; giáo dục cơ bản; nhà ở, nước sạch, nhà vệ sinh; thông tin… góp phần cải thiện đời sống cho các đối tượng yếu thế trong xã hội và tạo ra sự ổn định xã hội
1.3.2.3 Vai trò của chính sách
Mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia trên thế đều là đạt được sự tiến bộ
xã hội Nghĩa là vừa phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừ a bảo đảm phát triển
xã hội Thước đo của phát triển xã hô ̣i là viê ̣c giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế Trong đó , có chăm sóc dân cư khó khăn, giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hô ̣i là nhiệm vụ của chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng
TGXH thường xuyên cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng quản lý rủi ro thông qua các chính sách và chương trình nhằm phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro Đặc biệt là đối với nhóm dân cư yếu thế như người nghèo, NKT, trẻ em mồ côi, người cao tuổi
cô đơn Các chương trình, chính sách này hỗ trợ đối tượng yếu thế chủ động ngăn ngừa rủi ro, hỗ trợ nguồn lực để bù đắp những thiếu hụt về thu nhập và hạn chế tối đa các tác động không lường hoặc vượt quá khả năng kiểm soát do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên, nhằm giúp cho các thành viên xã hội ổn định cuộc sống, tái hoà nhập cộng đồng, bảo đảm mức sống tối thiểu cho dân cư khó khăn Bên cạnh đó, TGXH thường xuyên cộng đồng còn thực hiện vai trò điều tiết phân phối thu nhập, cân đối, điều chỉnh nguồn lực để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hoà giữa các vùng, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng; giữa các nhóm dân cư
Trang 39Như vậy, chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước Sự quản lý này thể hiện qua hệ thống luật pháp, chính sách nhằm giữ gìn sự ổn định về chính trị, xã hội của đất nước Trong điều kiện kinh tế thị trường thì phân tầng xã hội ngày càng có xu hướng gia tăng, việc làm tốt chức năng quản lý rủi ro, phân phối lại thu nhập
sẽ giúp tăng cường sự gắn kết xã hội, bảo đảm thành tựu phát triển được bền vững và chia sẻ giữa các thành viên trong xã hội
1.4 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Định Quán là một huyện miền núi nằm dọc theo tuyến quốc lộ 20, cách
xa trung tâm thành phố Biên Hòa khoảng 80 km và thành phố Hồ Chí Minh khoảng 110 km ở phía bắc tỉnh Đồng Nai Diện tích tự nhiên của huyện là 966,5 km² với dân số 212.300 (thống kê năm 2011), gồm nhiều dân tộc sinh sống: Kinh, Thái, Hoa, Tày, Khmer, Chơ Ro, Chăm, Ê Đê, Sán Dìu, Châu
Mạ, chăm, thái, nhưng chủ yếu vẫn là dân tộc Kinh Định Quán có 1 thị trấn (Định Quán) và 13 xã (Thanh Sơn, Phú Tân, Phú Vinh, Ngọc Định, La Ngà, Phú Lợi, Phú Hoà, Gia Canh, Phú Ngọc, Túc Trưng, Phú Cường, Phú Túc,
Suối Nho)
Xã Gia Canh có 1270 hộ gia đình với 6000 nhân khẩu Tính đến cuối năm 2011 vẫn còn trên 270 hộ gia đình sống trong các căn nhà tạm và 500 hộ nghèo, chiếm gần 10,8% tổng số hộ Trong xã có 299 hộ gia đình có NKT, trong đó 55 hộ có từ 2 NKT trở lên với tổng số NKT của xã lên tới 368 người, chiếm tỷ lệ gần 2,8% dân số của xã Số trẻ em khuyết tật là 53 em, chiếm 1,03% tổng số trẻ em của xã, số người già khuyết tật là 84 người, chiếm 4,8%
tổng số người từ 60 tuổi trở lên trong xã [7, tr.3]
Nhìn chung xã Gia Canh đã có các hạng mục hạ tầng cơ sở thiết yếu đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân sinh sống trong xã, các hạng mục hạ tầng cơ sở bao gồm: Ủy ban nhân dân, trường học, trạm y tế, bưu điện, nhà
Trang 40văn hóa xã và nhà văn hóa thôn, chợ và hệ thống giao thông nội xã Đối với các hạng mục cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận của NKT phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống giao thông nội xã, hệ thống giao thông tốt được trải bê tông hoặc nhựa thì khả năng tiếp cận của nguời khuyết tật tốt hơn Xã Gia Canh có tỷ lệ đường giao thông trong xã được bê tông hóa, nhựa hóa trên 40% và chủ yếu tập trung ở trung tâm xã, đồng thời do là xã miền núi, địa hình phức tạp, độ dốc lớn nên chỉ những NKT sống ở khu vực trung tâm xã và lân cận có thể tiếp cận được tốt, còn lại những NKT sống ở các thôn/bản/ ấp xa trung tâm khó hoặc không thể tiếp cận được với các hạng mục cơ sở hạ tầng trong xã