1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa

106 809 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ KIM ANH CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ TÂN TRIỀU-HUYỆN THANH TRÌ-HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ KIM ANH

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ TÂN TRIỀU-HUYỆN THANH TRÌ-HÀ NỘI

TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ KIM ANH

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ TÂN TRIỀU-HUYỆN THANH TRÌ-HÀ NỘI

TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

Chuyên ngành : Xã hội học

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Trà Vinh

Hà Nội - 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được rất nhiều sự hướng dẫn và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội Tôi xin chân thành cảm ơn sự tận tình của quý thầy cô trong suốt quá trình học tập của tôi tại khoa

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Trà Vinh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết nghiên cứu và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Nhân đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới Viện Phát triển bền vững vùng Bắc Bộ - Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo rất nhiều điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học

Mặc dù tôi đã cố gằng hoàn thiện luận văn, tuy nhiên cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến quý báu của quý thầy cô và bạn đọc để tôi được học hỏi, bổ sung góp phần cho công tác sau này được tốt hơn

Hà Nội, ngày 8 tháng 10 năm 2012

Học viên

Lê Kim Anh

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ 8

MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn vấn đề nghiên cứu 9

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 10

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 12

5 Câu hỏi nghiên cứu 13

6 Phương pháp thu thập thông tin 13

7 Giả thuyết nghiên cứu 14

8 Khung lý thuyết 15

9 Kết cấu khóa luận 16

NỘI DUNG 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 17

1.1 Cơ sở lý luận 17

1.1.1 Những khái niệm có liên quan 17

1.1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống 20

1.1.3 Vận dụng lý thuyết 22

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 29

1.2.2 Quá trình Đô thị hóa tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội qua một số yếu tố 32

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG 36CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ TÂN TRIỀU, HUYỆN THANH TRÌ, HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 362.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội 362.1.1 Các nhân tố tự nhiên 362.1.2 Các nhân tố Kinh tế - xã hội 362.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong quá trình Đô thị hóa 402.2.1 Hoạt động kinh tế trong các hộ gia đình tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì 402.2.2 Vấn đề về giáo dục tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội 462.2.3 Y tế và chăm sóc sức khỏe của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội 502.2.4 Môi trường sống tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội 542.2.5 Các điều kiện sinh hoạt của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội 592.2.6 Một số tiêu chí khác về chất lượng cuộc sống tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội 62CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ TÂN TRIỀU, HUYỆN THANH TRÌ,

HÀ NỘI 683.1 Căn cứ xây dựng giải pháp 683.2 Mục tiêu tổng quát và chỉ tiêu chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới 723.2.1 Mục tiêu tổng quát và chỉ tiêu chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thanh Trì [48] 72

Trang 6

3.2.2 Mục tiêu tổng quát và chỉ tiêu chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội

của xã Tân Triều, huyện Thanh Trì [34] 73

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì [35] 74

3.3.1 Nhóm giải pháp về kinh tế 74

3.3.2 Nhóm giải pháp về xã hội 75

3.3.3 Nhóm giải pháp về môi trường 78

3.3.4 Nhóm giải pháp xây dựng mô hình nông thôn mới 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Khuyến nghị 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Độ đo các dịch vụ xã hội cơ bản

Chỉ số phát triển cộng đồng

Chỉ số đa dạng kinh tế

FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

Tổng sản phẩm quốc nội

Chỉ số phát triển con người

Ủy ban quốc gia Dân số Kế hoạch hóa gia đình

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành của xã Tân Triều qua các năm 35

Bảng 2.2: Dự báo dân số và lao động xã Tân Triều 37

Bảng 2.3: Mức chi tiêu của các hộ gia đình 40

Bảng 2.4: Thay đổi mức sống của hộ gia đình 41

Bảng 2.5: Yếu tố tác động tới sự phát triển kinh tế hộ 42

Bảng 2.6: Lĩnh vực làm việc của người chồng và người vợ 43

Bảng 2.7: Mong muốn con làm nghề của hộ gia đình 48

Bảng 2.8: Số con nghỉ học mà chưa học hết Phổ thông trung học 48

Bảng 2.9: Nội dung về y tế - chăm sóc sức khỏe tại xã 50

Bảng 2.10: Số lượng người có thẻ bảo hiểm trong các hộ 51

Bảng 2.11: Mức độ tăng so với 2 năm trước của các dạng ô nhiễm 55

Bảng 2.12: Mức độ nghiêm trọng của nguồn ô nhiễm 56

Bảng 2.13: Các loại đồ dùng trong nhà 60

Bảng 2.14: Các phương tiện đi lại 61

Bảng 2.15: Hình thức đun nấu của hộ 61

Bảng 2.16: Thành viên của các hội 64

Bảng 2.17: Lý do chấp nhận sự khác biệt về thu nhập giữa các hộ………… … 64

Bảng 2.18: Mức độ úng ngập do mưa bão 65

Bảng 2.19: Mức độ của tình trạng xã hội tại địa bàn 65

Bảng 3.1: Mục tiêu phát triển công tác y tế tại xã 79

Bảng 3.2: Các nội dung cần phấn đấu và duy trì để y tế xã đạt chuẩn Quốc gia 80

Biểu 2.1: Nguồn thu nhập của hộ gia đình 39

Biểu 2.2: Nguồn vay tiền của hộ gia đình 44

Biểu 2.3: Nguyên nhân nghỉ học 49

Biểu 2.4: Loại thẻ bảo hiểm y tế 52

Biểu 2.5: Dạng ô nhiễm tại địa phương 54

Biểu 2.6: Nguồn gây ô nhiễm tại địa phương 55

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn vấn đề nghiên cứu

Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự đổi mới mọi mặt về cuộc sống đã đưa con người tới những điều mới mẻ Nhưng tất cả những điều đó không chỉ được thể hiện qua số lượng mà còn cả về chất lượng nữa Đặt con người cũng như chất lượng cuộc sống của họ vào vị trí trung tâm của các chính sách sẽ giúp cho mọi vấn đề được sảng tỏ Có thể nói rằng, chất lượng cuộc sống dân cư phản ánh trình độ phát triển Kinh tế - xã hội của một quốc gia ở các lĩnh vực kinh tế văn hóa và phúc lợi xã hội Đồng thời, chất lượng cuộc sống và tăng trưởng kinh tế - xã hội có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với nhau Chất lượng cuộc sống vừa là động lực thúc đẩy tăng trưởng vừa là thước đo trình độ văn minh và sự phát triển nhiều mặt của một quốc gia Chính

vì vậy, nhiều quốc gia trên thế giới không ngừng thực hiện các chính sách phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống, nhằm khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế

Ngay từ những ngày đầu xây dựng Đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Chiến lược phát triển

Kinh tế - xã hội của nước ta thời kỳ 2001 – 2010 đã khẳng định: “Phát triển con người

phải được coi là chiến lược trung tâm của Việt Nam” Hay trong Kế hoạch phát triển

Kinh tế - Xã hội trong 5 năm từ năm 2011 – 2015 của Bộ Kế hoạch đầu tư đã xác định

mục tiêu tổng quát: “Phát triển nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững

trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế Tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta

cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Tăng nhanh hàm lượng khoa học và công nghệ cao trong sản phẩm Cải thiện và nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, dân tộc thiểu số, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa Tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên môi trường và chủ động ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng

an ninh và trật tự an toàn xã hội” Trong suốt quá trình đổi mới đất nước đó, chúng ta

đã có một số thành tựu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng

Trang 10

Hiện nay, nước ta đang trong quá trình Đô thị hóa, quá trình này cũng đã đem lại sự thay đổi về nhiều mặt cho nước ta, đặc biệt là cũng có sự thay đổi trong chính

chất lượng cuộc sống của người dân Tuy nhiên: “Cho đến nay, xét theo các quan điểm

lý thuyết và chỉ số phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, nông nghiệp – nông thôn Việt Nam đều có đặc điểm chung là nghèo và kém phát triển Việt Nam thuộc nhóm nước (trên dưới 50 nước) nghèo và kém phát triển nhất thế giới Trong nhóm nước dưới đáy của phân tầng xã hội loài người toàn cầu, xét về chỉ số nghèo thì Việt nam đứng ở khoảng giữa nhóm nước nghèo, còn xét về chỉ số phát triển tổng hợp Kinh tế - xã hội thì Việt Nam ở gần về phía đỉnh phân tầng, nghĩa là gần về phía nhóm nước trung bình thế giới” [12 ]

Theo báo cáo Điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê năm 2009, nước ta có khoảng trên 5 triệu người tàn tật, chiếm khoảng 6,3% dân số; Tỷ lệ dân số

bị thiểu năng thể lực và trí tuệ chiến khoảng 1,5%; Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn ở mức 25,2% năm 2005; Tỷ lệ tử vong mẹ cao so với một số nước trong khu vực và Châu Á; Tỷ lệ hộ đói nghèo vẫn khoảng 20%, cả nước còn tới 11.058 hộ không có nhà ở, gần 23% số hộ ở nhà tạm, đơn sơ, 22% số hộ chưa được dùng điện, mới chỉ có khoảng 12,7% số hộ được dùng nước máy, vẫn còn tới 27.713 hộ sống trong diện tích bình quân dưới 2m2 đầu người Ở nông thôn chỉ có khoảng 16,5% số

hộ có phương tiện sản xuất Sự bền vững của gia đình bị tác động mạnh bởi tỷ lệ ly hôn, sống độc thân có xu hướng tăng (năm 1999 so với 1989 tăng hơn 2 lần), tình trạng trẻ em thiếu bố hoặc mẹ, trẻ em lang thang và các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn nghiện hút đã tăng lên do sự biến đổi của gia đình và xã hội

Đó là những vấn đề còn đang tồn đọng xét trên bình diện chung cả nước Đối với xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội - là một khu vực cũng đang có nhiều bước chuyển mình trong quá trình đô thị hóa Liệu rằng cùng với quá trình này của cả nước

đó, chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều có sự thay đổi như thể nào? Xuất phát từ mong muốn được hiểu rõ hơn về chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây trong quá trình đô thị hóa, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong quá trình Đô thị hóa”

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

2.1 Ý nghĩa lý luận

Trang 11

Đề tài hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận chung về chất lượng cuộc sống

Đề tài đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân thông qua các yếu tố của kinh tế - xã hội – môi trường Để từ đó đóng góp đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống trong quá trình đô thị hóa

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Chất lượng cuộc sống cũng là một trong những tiêu chí để phát triển bền vững

Đề tài đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân ở xã Tân Triều, huyện Thanh Trì,

Hà Nội, do vậy, những kết quả và thông tin thu được của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo Đồng thời, xã Tân Triều cũng là xã đang trong quá trình xây dựng nông thôn mới nên những đánh giá của đề tài trên những tiêu chí về các hoạt động kinh tế

hộ, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường sống, điều kiện sinh hoạt của các hộ gia đình cũng là số liệu có ích bổ trợ thêm cho chiến lược xây dựng nông thôn mới càng thêm chất lượng

Bằng các số liệu thực tế, luận văn chứng minh, phân tích những yếu tố trong chất lượng cuộc sống của người dân: cơ cấu nghề nghiệp, giáo dục, y tế, điều kiện sinh hoạt, môi trường sống Tuy đây không phải là yếu tố thể hiện trọn vẹn chất lượng cuộc sống của người dân nhưng thông qua việc tiếp cận những yếu tố này để thấy được một phần tình hình chất lượng cuộc sống dân cư Đề tài cung cấp thêm những số liệu về mặt chất lượng trong cuộc sống của người dân ở xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Đề tài đưa ra giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hoàn thiện mạng lưới y tế và chăm sóc sức khỏe, cải cách giáo dục – đào tạo, chính sách phát triển của nhà nước, xây dựng và phát triển hệ thống an sinh xã hội, phát triển nhanh điều kiện sinh hoạt và cơ sở hạ tầng Thông qua đề tài này, các nhà quản lý xã hội sẽ hiểu rõ hơn

về cuộc sống của những người dân nơi đây, từ đó có những điều chỉnh về chính sách sao cho hợp lý để nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người dân trên địa bàn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong quá trình Đô thị hóa thông qua một số yếu tố như: nghề nghiệp, điều

Trang 12

kiện sinh hoạt trong gia đình, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường sống của họ cũng như một số yếu tố khác

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn để tiến hành tìm hiểu về chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Làm rõ những khái niệm có liên quan: Đô thị hóa, chất lượng cuộc sống

Khảo sát định lượng và định tính để tìm hiểu chất lượng cuộc sống (thông qua

một số yếu tố: nghề nghiệp, điều kiện sinh hoạt, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường sống, cùng một số yếu tố khác) của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh

Trì, Hà Nội

Đưa ra một số giải pháp cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân tại

xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong quá trình Đô thị hóa

4.2 Khách thể nghiên cứu

Người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: nghiên cứu được bắt đầu từ năm 2009 đến nay

Phạm vi không gian: Quá trình xây dựng cơ sở lý luận cũng như xây dựng bộ công cụ nghiên cứu được thực hiện tại Hà Nội

Chúng tôi lựa chọn xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội là một trong những địa bàn nghiên cứu từ 7 tỉnh mà đề tài lớn đã thực hiện điều tra Vì đây là địa bàn đã Công nghiệp hóa nhưng do giới hạn địa lý hành chính của một

xã nông thôn nên quá trình Đô thị hóa của nó diễn ra một cách khó khăn và mâu thuẫn

về nhiều mặt nhất là về môi trường và tổ chức xã hội

Quá trình xử lý và phân tích số liệu được thực hiện tại

Hà Nội

Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Chất lượng cuộc sống là vấn đề phức tạp đa dạng

và thường xuyên thay đổi nhưng thời gian thực hiện đề tài có hạn, điều kiện làm việc còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn khảo sát, nghiên cứu một số yếu tố về

Trang 13

chất lượng cuộc sống: nghề nghiệp, điều kiện sinh hoạt, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường sống, cùng một số yếu tố khác của các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu

5 Câu hỏi nghiên cứu

Cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong quá trình đô thị hóa có chất lượng không?

Quá trình đô thị hóa có tác động như thế nào vào chất lượng cuộc sống của người dân?

Trong thời gian tới, chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội như thế nào?

6 Phương pháp thu thập thông tin

Luận văn triển khai trên nguồn dữ liệu như sau:

6.1 Phân tích tài liệu thứ cấp: Việc khai thác các nguồn dữ liệu có sẵn là một

sự bổ trợ rất tốt trong quá trình nghiên cứu về các nguồn lực kinh tế và nguồn lực xã

hội Trong nghiên cứu này, đề tài tận dụng số liệu của bộ số liệu từ cuộc điều tra “Một

số vấn đề có bản của Phát triển bền vững vùng Bắc Bộ” do PGS.TS Vũ Tuấn Huy

làm chủ nhiệm đề tài Đây là đề tài cấp Bộ, được tiến hành điều tra trên 07 tỉnh Đề tài

đã tiến hành xử lí số liệu theo hướng đi sâu vào những vấn đề có liên quan Với các cuộc điều tra mang tính chọn mẫu, việc xử lí và phân tích dữ liệu thứ cấp là một sự bổ trợ tốt vì các cuộc khảo sát của đề tài không hướng tới việc suy rộng cho tổng thể quốc gia

6.2 Phân tích thông tin định tính: Các phỏng vấn định tính nhằm bổ sung cho

những số liệu định lượng Đó là phương pháp thu thập thông tin bằng phỏng vấn sâu

và thảo luận nhóm Số lượng phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm gồm:

- 08 phỏng vấn sâu cho đối tượng là: cán bộ và người dân

- 03 phỏng vấn sâu với Doanh nghiệp

- 04 thảo luận nhóm cho đối tượng là: cán bộ và người dân

6.3 Tổng quan tài liệu: Luận văn sử dụng một số tư liệu thống kê, báo cáo ở

địa phương để nghiên cứu, kết hợp với phân tích các tài liệu sẵn có liên quan đến chủ

đề nghiên cứu

Để xử lý thông tin xã hội học, chúng tôi sử dụng kỹ thuật phân tích văn bản với thông tin định tính thu từ phỏng vấn và tư liệu có sẵn; sử dụng phương pháp phân tích thống kê với số liệu định lượng

Trang 14

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Hiện nay, cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì ngày càng có chất lượng

- Quá trình đô thị hóa đem lại chất lượng cuộc sống cho người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì

- Trong thời gian tới, chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội sẽ ngày càng được đảm bảo và nâng cao hơn

Trang 15

8 Khung lý thuyết

Sự phát triển Kinh tế -

Xã hội

Hoạt động kinh tế trong hộ: nghề, thu nhập, việc làm…

+ Các nhân tố xã hội: quy

mô dân số, chính sách địa

phương…

- Quá trình đô thị hóa

Các điều kiện sinh hoạt: nhà ở, đồ dùng sinh hoạt trong nhà…

Vấn đề về giáo dục

Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì,

Hà Nội trong quá trình

Đô thị hóa

Y tế - chăm sóc sức khỏe

Một số yếu tố khác: công bằng xã hội, an toàn xã hội…

Chính sách của các nhà Quản lý xã hội

Các vấn đề về môi trường: ô nhiễm,

xử lý ô nhiễm…

Trang 16

9 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Một số vấn đề về chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong quá trình đô thị hóa

Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao chât lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Những khái niệm có liên quan

1.1.1.1 Chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống (Quality of life) là một khái niệm rộng, đã từng được hiểu

theo nhiều nghĩa khác nhau và được đo bằng nhiều tiêu chí khác nhau Chất lượng cuộc sống thường được lưu ý phân biệt với mức sống Mức sống là thước đo về phúc lợi vật chất còn chất lượng cuộc sống là thước đo cả về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần

Theo R.C Sharma thì chất lượng cuộc sống là một khái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏa mãn cộng đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được nhu

cầu cơ bản của chính bản thân xã hội Ông định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là sự

cảm giác hài lòng (hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được

Nó như là cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống” [41] Như vậy,

theo ông thì mức sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội được coi là yếu

tố quan trọng để tạo ra chất lượng cuộc sống

Nội dung khái niệm chất lượng cuộc sống đã được William Bell mở rộng toàn diện Theo ông, chất lượng cuộc sống thể hiện ở 12 đặc trưng: (1) An toàn thể chất cá nhân; (2) Sung túc về kinh tế; (3) Công bằng trong khuôn khổ pháp luật; (4) An ninh quốc gia được đảm bảo; (5) Bảo hiểm lúc già yếu và ốm đau; (6) Hạnh phúc về mặt tinh thần; (7) Sự tham gia của mỗi cá nhân vào đời sống xã hội; (8) Bình đẳng về giáo dục, y tế; (9) Chất lượng đời sống văn hóa; (10) Quyền tự do công dân; (11) Chất lượng môi trường kỹ thuật; (12) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm Trong đó, ông nhấn mạnh nội dung “An toàn” và đã khẳng định chất lượng cuộc sống được đặc trưng bằng sự an toàn trong một môi trường tự nhiên trong lành và

môi trường xã hội lành mạnh [16]

Để định lượng khái niệm CLCS, Thái Lan xây dựng hệ thống chỉ tiêu dựa vào các nội dung cốt lõi của CLCS là ăn, mặc, nhà ở và môi trường, sức khỏe, giáo dục và

Trang 18

thông tin, an toàn, việc làm Trên cơ sở những khảo sát và xác định 37 chỉ số theo các nhóm nhu cầu cơ bản của CLCS Người ta đưa ra những biện pháp thực hiện gắn liền với địa bàn dân cư, với trách nhiệm các ngành và vai trò cung cấp thông tin, kết cấu hạ tầng xã hội của Nhà nước Từ đó, đưa ra tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống theo 3 mức: yếu kém (1 sao), trung bình (2 sao) và khá (3 sao) Trong 9 chuẩn mực sống: ăn đủ, nhà ở thích hợp, dịch vụ xã hội, an toàn, thu nhập đầy đủ, kế hoạch hóa gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá trị tinh thần, bảo vệ môi trường Các chỉ tiêu CLCS ở Thái Lan rất coi trọng chuẩn mực các dịch vụ xã hội cơ bản cần thiết Có 10 chỉ tiêu để đánh giá mức độ phát triển của CLCS thuộc lĩnh vực dịch vụ xã hội cơ bản Đồng thời, các chỉ tiêu đánh giá CLCS rất phù hợp với đặc điểm của một quốc gia đang phát triển Và những vấn đề xã hội như kế hoạch hóa gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá trị tinh thần được coi như là một chuẩn mực quan trọng của CLCS

Để lượng hoá những thay đổi của chất lượng cuốc sống, Malayxia đã xây dựng

các chỉ số chất lượng cuộc sống của mình (Malaycia Quality of Life Index, viết tắt là

MQLI) Chỉ số MQLI được xây dựng trên cơ sở chọn lựa 10 lĩnh vực, chủ yếu là thu

nhập và phân phối việc làm, giao thông liên lạc, sức khoẻ, giáo dục, nhà ở, môi trường, cuộc sống gia đình, sự tham gia hoạt động của xã hội và an toàn công cộng Những lĩnh vực này được coi là sẽ đáp ứng được sự phồn vinh và chất lượng cuộc sống của dân số, như vậy chúng được gia quyền khi tính toán, với quyền số tỷ lệ với mức độ tác động của từng lĩnh vực Để tính được chỉ số này cần phải có 38 chỉ báo có thể Các chỉ bảo này lại được chọn dựa trên cơ sở mức độ quan trọng của chúng đối với từng lĩnh vực đặc biệt cũng như căn cứ vào sự sẵn có của thông tin Việc chọn các chỉ báo nhằm tính toán chất lượng cuộc sống thông qua đánh giá sự tác động của phát triển kinh tế đối với dân số Để tính toán MQLI cho Malayxia, người ta đã sử dụng số liệu thống kê của 19 năm (1980-1998), trừ số liệu về môi trường chỉ có được từ năm 1985 Năm

1990 được chọn là năm gốc có mức độ trung bình Dưới đây là 30 chỉ báo phân tổ thành 10 lĩnh vực (1) Nhóm thu nhập và phân phối thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người: GDP/đầu người; hệ số GINI; tỷ lệ nghèo đói (2) Nhóm lao động: Tỷ lệ thất nghiệp; tranh chấp thương mại; ảnh hưởng của công nghiệp đối với việc làm của lao động nam; tỷ lệ tai nạn lao động công nghiệp (3) Nhóm giao thông liên lạc: ô tô và xe máy tư; xe cộ cho thương mại; phát triển đường giao thông; điện thoại; tổng số báo

Trang 19

phát hành hàng ngày (4) Nhóm sức khoẻ: Tuổi thọ bình quân của nam, nữ; tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi; tỷ số bác sỹ/dân số; tỷ số gường bệnh/dân số (5) Nhóm giáo dục: Tỷ lệ trẻ đi học mần non; tỷ lệ đi học phổ thông; tỷ lệ đi học đại học; tỷ lệ biết đọc, biết viết; tỷ số giáo viên phổ thông cơ sở/học sinh; tỷ số giáo viên trung học cơ sở/học sinh (6) Nhóm nhà ở: Giá nhà bình quân; nhà ở cho người thu nhập thấp; nhà ở

có máy nước; nhà ở có điện sinh hoạt (7) Nhóm môi trường: Chất lượng không khí; các dòng sông sạch; độ che phủ của rừng (8) Cuộc sống gia đình: Ly hôn; tỷ suất sinh; quy mô hộ; tội phạm vị thành niên (9) Sự tham gia hoạt động xã hội: Cử tri có đăng ký; thành viên các tổ chức tình nguyện (10) An toàn công cộng: tội phạm; tai nạn giao thông

Như vậy, có thể hiểu chất lượng cuộc sống là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu của xã hội, trước hết là nhu cầu về vật chất cơ bản tối thiểu của con người Mức đáp ứng càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao

Theo quan điểm của cá nhân, chất lượng sống ở một nơi nào đó (địa phương, quốc gia hay khu vực) là khả năng, là điều kiện ở đó có thể đảm bảo tới mức nào để người dân ở đó có thể tham gia cống hiến được cho cuộc sống và tận dụng được những

cơ hội và phúc lợi mà cuộc sống ở đó mang lại và bị ảnh hưởng tới mức nào đó bởi những thách thức và rủi ro xảy ra ở nơi đó Chính trong đề tài, tôi sẽ đi vào phân tích một số yếu tố của chất lượng cuộc sống như: việc làm, điều kiện sinh hoạt, giáo dục, việc chăm sóc sức khỏe và môi trường sống tại địa phương cùng một số tiêu chí khác

1.1.1.2 Đô thị hóa

Theo Luật Quy hoạch đô thị 2009, “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh

sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”

Đô thị hoá được hiểu là sự mở rộng của đô thị tính theo tỷ lệ phần trăm giữa dân số đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực [27]

Trang 20

Đô thị hoá là một quá trình xã hội - kinh tế nhiều mặt và phức tạp, hiện nay đang ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội, do đó đòi hỏi một phương pháp tiếp cận tổng hợp dựa trên sự hợp tác của nhiều ngành khoa học (Pivovarov, tr.1)

Một cách hiểu thông thường và phổ biến đô thị hóa chính là quá trình phát triển dân số đô thị, kinh tế phát triển theo hướng tăng tỷ trọng đóng góp GDP và tỷ trọng lao động của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ và giảm tỷ trong nông nghiệp, hệ thống cơ sở hạ tầng (hệ thống giao thông, cơ sở dịch vụ xã hội, thông tin liên lạc) Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, xã hội cũng dẫn đến sự thay đổi trong lối sống của người dân bao gồm cả hình thức kết đoàn xã hội

Các kiểu đô thị hoá: i) Đô thị hoá thay thế: Là khái niệm để chỉ quá trình đô thị hoá diễn ra ngay chính trong đô thị Ở đây cũng có sự di dân, nhưng là từ trung tâm ra ngoại thành hoặc vùng ven đô Quá trình này cũng có thể là quá trình chỉnh trang, nâng cấp đô thị, đáp ứng yêu cầu mới; ii) Đô thị hoá cưỡng bức: Là khái niệm dùng để chỉ sự di chuyển dân cư từ nông thôn về thành thị Đặc điểm đô thị hoá cưỡng bức là không gian kiến trúc không được mở rộng theo quy hoạch mà mang tính tự phát cao Các nhu cầu của dân nhập cư không được đáp ứng Đô thị trở nên quá tải, nhiều tiêu cực phát sinh; iii) Đô thị hoá ngược: Là khái niệm dùng để chỉ sự di dân từ đô thị lớn sang đô thị nhỏ, hoặc từ đô thị trở về nông thôn Theo các học giả Mỹ, hiện tượng này còn gọi là “sự phục hưng nông thôn” Phát triển đến một lúc nào đó, bằng các chính sách của mình, các chính phủ sẽ điều chỉnh hướng vào sự phát triển nông thôn Quá trình này sẽ góp phần san bằng khoảng cách và chất lượng sống giữa thành thị và nông thôn (Ankerl, Guy 1986; Baldwin, R.E 2001; Benabou, R 1993; Bergsman, J., P Greenston, and R Healy 1972)

1.1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống

1.1.2.1 HDI – một tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng cuộc sống

Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là chỉ số so

sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của một quốc gia

Phát triển con người chính là sự phát triển mang tính nhân văn Đó là sự phát triển vì con người, của con người và do con người Quan điểm phát triển con người nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho người dân và tạo điều kiện để họ thực

Trang 21

hiện sự lựa chọn đó (có nghĩa là sự tự do) Những lựa chọn quan trọng nhất là được sống lâu và khỏe mạnh, được học hành và có được một cuộc sống ấm no

Năm đặc trưng của quan điểm phát triển con người là:

1 Con người là trung tâm của sự phát triển

2 Người dân vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của phát triển

3 Việc nâng cao vị thế của người dân (bao hàm cả sự hưởng thụ và cống hiến)

4 Chú trọng việc tạo lập sự bình đẳng cho mọi người dân về mọi mặt: tôn giáo, dân tộc, giới tính, quốc tịch

5 Tạo cơ hội lựa chọn tốt nhất cho người dân về: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa

Chỉ số HDI – đo thành tựu trung bình ở một nước theo 3 độ đo cơ bản của phát triển con người

HDI=1/3 (chỉ số tuổi thọ)+1/3(chỉ số giáo dục)+1/3 (chỉ số GDP)

1.1.2.2 Chỉ số tổng số sản phẩm quốc nội - GDP

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product) là tổng sản lượng

hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bởi cả dân sự và phi dân sự, không phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài tạo ra GDP không bao gồm phần khấu trừ đối với khoản khấu hao vốn vật chất hay sự suy giảm và xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên

GDP bình quân đầu người được tính bằng USD/người, ở Việt Nam được tính bằng USD/người hoặc bằng Việt Nam đồng/người Thông qua tiêu chí này chúng

ta có thể đánh giá được trình độ kinh tế, mức sống của mỗi người dân trong từng nước hoặc so sánh giữa các địa phương

1.1.2.3 Một số tiêu chí khác

* Chỉ số về tuổi thọ: Để đánh giá trạng thái sức khỏe và mức độ bảo đảm y tế cho

dân cư của một quốc gia, người ta thường sử dụng các tiêu chí như tỉ lệ người chết, tuổi thọ bình quân, tình trạng dinh dưỡng, tỉ lệ người có bệnh, số bác sĩ, y tá - y sĩ trên 1 vạn dân, số giường bệnh trên 1 vạn dân, ngân sách đầu tư cho y tế (% GDP và bình quân đầu người)

* Tiêu chí số calo bình quân đầu người: Trong quá trình sống và lao động, cơ

thể con người phải thường xuyên tiêu hao năng lượng Năng lượng tiêu hao của con người do thức ăn cung cấp nhằm tái sản xuất sức lao động, người ta quy ước dùng đơn

Trang 22

vị calo để đo nhu cầu năng lượng cơ thể Số calo tiêu dùng hằng ngày cho một người được coi là chỉ số tốt nhất về trình độ cung ứng các nhu cầu thiết yếu Để có được số

calo bình quân đầu người, FAO (Food and Agriculture Organization of the United

Nations - Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc) dựa vào tình hình sản

xuất lương thực và thực phẩm Nhu cầu năng lượng thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, mức độ tính chất lao động và thể trạng cơ thể

1.1.3 Vận dụng lý thuyết

1.1.3.1 Lý thuyết hệ thống

Đề tài sử dụng lý thuyết hệ thống để nghiên cứu về chất lượng cuộc sống Các quan điểm hệ thống có nguồn gốc từ lý thuyết hệ thống tổng quát của

Bertalanffy khi lý thuyết này cho rằng: “Mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống

được tạo nên từ các tiểu hệ thống lớn hơn và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các nguyên tử, mà các nguyên tử này được tạo dựng từ các phần tử nhỏ hơn” Sau này,

lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu (Hanson – 1995, Mancoske – 1981, Siporin - 1980) và phát triển

Đầu tiên là về khái niệm “hệ thống” với tư cách là khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết hệ thống Khái niệm hệ thống ngày nay được sử dụng khá rộng rãi, song cũng khá bất định, vì có nhiều định nghĩa khác nhau Hãy so sánh một số định nghĩa điển hình để thấy rõ tính phức tạp của vấn đề:

Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố đối với cùng loại hoặc cùng chức năng có

quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất (Từ điển Tiếng

Học giả Đào Thế Tuấn cho rằng “Hệ thống là tập hợp có trật tự bên trong hay

bên ngoài của các yếu tố và liên hệ với nhau (tác động lẫn nhau)”

Như vậy, thấy rằng cho dù hệ thống có được xem xét dưới góc độ nào chăng nữa thì tính thống nhất, ổn định, tính chỉnh thể vẫn được xem xét Ngoài ra có những

Trang 23

quan điểm xem xét các yếu tố đó trong mối quan hệ nội tại và có những quan điểm còn xem nó với các yếu tố môi trường Dựa trên những ý cơ bản của các định trên, thì hệ thống là tập hợp các yếu tố liên kết với nhau, tạo thành chỉnh thể thống nhất và tương tác với môi trường

Các trạng thái của một hệ thống được xác định thông qua các đặc trưng:

Trạng thái ổn định: hệ thống tự duy trì nó ra sao qua việc nhận được đầu vào

và sử dụng nó

Trạng thái điều hòa hoặc cân bằng: là khả năng duy trì bản chất cơ bản của

một hệ thống và giữa các hệ thống với nhau

Sự khác biệt: các hệ thống luôn luôn vận động, bởi vậy các hệ thống trở nên

phức tạp hơn với những hình thức khác nhau về thành tố qua thời gian

Sự tổng hòa giữa các hệ thống và giữa các tiểu hệ thống với nhau: quan điểm này cho rằng, sự tổng hòa giữa các hệ thống là nhiều hơn việc tính tổng các thành phần

Sự trao đổi: nếu một phần của hệ thống này thay đổi mà nó tương tác với mọi

thành phần khác thì các thành phần này cũng thay đổi

Có 2 cách phân loại hệ thống: hệ thống đóng (là các hệ thống không có những hình thức trao đổi vượt quá giới hạn) và hệ thống mở (xảy ra khi năng lượng vượt quá giới hạn) Và hệ thống tổng quát (hướng đến những cái tổng thể) và hệ thống sinh thái (là hệ thống mở)

Lý thuyết hệ thống (bao gồm lý thuyết hệ thống tổng quát và các lý thuyết hệ thống chuyên biệt) Do tính phổ biến và thông dụng, các lý thuyết hệ thống trở thành cơ

sở lý luận và phương pháp luận chung của nhận thức và hoạt động thực tiễn

Các tác giả tiêu biểu: T Parsons, W Buckley, M Archer, K.D Bailey, R

Lilienfeld

Các giả định lý thuyết hệ thống của T Parsons

1 Các hệ thống có trật tự chính xác và sự phụ thuộc liên đới lẫn nhau giữa các bộ phận

2 Các hệ thống có xu hướng đi từ trật tự tự thân duy trì, hoặc tự cân bằng

3 Hệ thống có thể ở trạng thái tĩnh hoặc có liên quan tới một tiến trình biến đổi

có trật tự

Trang 24

4 Bản chất của một bộ phận của hệ thống có tác động tới hình thức của các bộ phận khác

5 Các hệ thống duy trì những ranh giới với những môi trường của chúng

6 Sự định vị và tích hợp là hai quá trình cơ bản cần thiết cho một trạng thái cân bằng ổn định của một hệ thống

7 Các hệ thống có xu hướng đi tới sự tự thân duy trì, bao gồm sự duy trì các ranh giới và các tương quan của các bộ phận theo ý nghĩa một tổng thể, kiểm soát các khác biệt đa dạng của môi trường và kiểm soát các xu hướng biểu hiện hệ thống trong lòng nó

Hệ thống xã hội bao gồm 4 tiểu hệ thống, tương ứng với 4 chức năng hành cơ bản: 1- Kinh tế (A), 2 - Chính trị (G), 3 - Cộng đồng (I), 4 - Ủy thác (L) Bốn chức năng cơ bản đó là: 1- Thích nghi (Adaptation), 2 - Đạt mục tiêu( Goal Attainment), 3 - Tích hợp ( Integration), 4 - Duy trì khuôn mẫu ( Latency)

Thích nghi (Adaption): một hệ thống phải đương đầu với các nhu cầu khẩn yếu của hoàn cảnh bên ngoài Nó phải thích nghi với môi trường của nó và làm cho môi trường thích nghi với nhu cầu của nó

Đạt được mục tiêu (Goal attainment): một hệ thống phái xác định và đạt được các mục tiêu cơ bản của nó

Phối hợp (Intergration): một hệ thống phải điều hoà mối liên quan của các thành tố bộ phận Nó cũng phải điều hoà nối quan hệ trong ba yếu tố chức năng còn lại (A, G, L)

Sự tiềm tàng (Sự duy trì khuôn mẫu) (Latency): một hệ thống phải cung cấp, duy trì cà kiến tạo cả động lực thúc đẩy của các cá thể cũng như các khuôn mẫu văn hoá đã sáng tạo và duy trì động lực thúc đẩy

Các giả định lý thuyết hệ thống của W Buckley

1 Thừa nhận rằng, căng thẳng (Tension) là tình trạng tất yếu và bình thường của

Trang 25

3 Thừa nhận rằng có quá trình chọn lọc đối với cá nhân và đối với cả cấp độ liên chủ thể, nhờ đó mà các phương án lựa chọn đa dạng và phong phú đều để mở cho mọi thành viên xã hội Điều đó tạo động lực cho biến đổi hệ thống xã hội

4 Cấp độ liên chủ thể được coi là cơ sở của những biến đổi cấu trúc lớn hơn Các quá trình trao đổi, thương lượng, mặc cả làm cho xuất hiện các cấu trúc xã hội

và văn hóa tương đối ổn định

5 Mặc dù quan điểm hệ thống vốn có cách nhìn động lực, song thực chất vẫn là

sự thừa nhận tính bền vững và tính kế thừa của hệ thống

* Vận dụng lý thuyết trong đề tài:

Chất lượng cuộc sống của dân cư ở từng tỉnh, thành phố trong mỗi quốc gia cần phải được đặt trong mối quan hệ cụ thể với toàn bộ hệ thống lãnh thổ quốc gia Đó là

cơ sở đầy tiên giúp cho việc tiếp cận và phân tích vấn đề một cách có hệ thống Vì vậy, việc nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì,

Hà Nội phải được đặt trong mối liên hệ với Hà Nội và cả nước Bản thân của chất lượng cuộc sống của dân cư xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội cũng là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ qua lại Xác định được mối quan hệ mang tính hệ thống thông qua các yếu tố của Kinh tế - Xã hội – Môi trường tại địa bàn nghiên cứu sẽ giúp cho chúng tôi có cái nhìn không chỉ là bề nổi mà còn cả chiều sâu trong cuộc sống của người dân

1.1.3.2 Lý thuyết Đô thị hóa

Khái niệm đô thị hoá, nảy sinh chủ yếu từ các nước thuộc Châu Âu và Bắc Mĩ, có hai cách hiểu căn bản không hoàn toàn đồng nhất với nhau nhưng có thể bổ xung cho nhau Trước hết, vào những năm 1960 (thế kỷ XX) khái niệm này chỉ sự tập trung dân cư

ngày càng tăng trong các vùng đô thị Vì thế khái niệm đô thị hóa (urbanization) thường

đồng nghĩa với khái niệm “tăng trưởng đô thị” Các nhà Xã hội học cho rằng cách hiểu này chỉ nhấn mạnh vào quá trình tập trung dân cư đô thị, không phản ánh một cách toàn diện và hệ thống hiện tượng đô thị hóa trong thực tế Họ đề nghị một cách hiểu khác coi

đô thị hóa là sự biến đổi của các xã hội từ những dân cư ban đầu là phi đô thị, sống dựa vào sản xuất nông nghiệp và được tổ chức thông qua những cấu trúc xã hội nông thôn sang các xã hội chủ yếu dựa vào thị trường, công nghiệp hóa và đô thị hóa Trong trường

Trang 26

hợp này khái niệm đô thị hóa được hiểu theo nghĩa của khái niệm “quá độ đô thị” (urbain

transition) (Collin J.P 2008)

Với tư cách là một sự biến đổi xã hội sâu sắc, đô thị hóa là một quá trình chuyển biến kinh tế xã hội phức hợp, chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại, chi phối đến

tận cội rễ của cấu trúc xã hội Một tính chất quan trọng của đô thị hóa là tính không thể

đảo ngược được của nó Một nơi nào mà có hiện tượng đô thị hóa xảy ra, thì xã hội,

cảnh quan nơi ấy không thể nào trở lại được trạng thái trước đó [46]

Đô thị hóa còn chính là sự thách thức giữa tính liên tục và tính đứt đoạn mà nó

tạo ra trong quá trình chuyển động của mình Trong quá trình ấy, nhiều mô hình và cơ chế mới xuất hiện, khác hẳn với những gì đã ngự trị trước đây, làm con người bị cắt đứt với hành vi quen thuộc đã có, phải học cách suy nghĩ mới, hành động mới Lối sống thành phố du nhập vào nông thôn, tác động lớn tới cuộc sống, phong tục tập quán thôn quê và những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời Từ đó các giá trị cũng thay đổi,

phù hợp với tình hình mới [46]

Một điểm quan trọng khác của đô thị hóa là sự tăng tốc (accélération) của nó

Tốc độ đô thị hóa tăng lên hàng ngày, tăng nhanh đến mức là có những vấn đề xuất hiện, rồi biến đổi bản chất trước khi chúng ta kịp nắm bắt được chúng Vì vậy, việc nghiên cứu về đô thị hóa dường như đi sau các biến chuyển của đô thị hóa và việc quản lý đô thị thì gặp lúng túng Sự phát triển quá nhanh làm cho các hệ thống quản lý

và điều hành, vốn hiệu quả trước đây, không theo kịp với các vấn đề mới xuất hiện

[28]

Nhà nghiên cứu về đô thị hóa Terry McGee [13, tr.15-18] đưa ra nguyên nhân của vấn đề trong việc giải thích các chính sách về đô thị hóa hiện nay ở các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Theo ông, các chính sách về đô thị hóa tại các nước này phần lớn đều xuất phát từ quan điểm cho rằng cần phải gia tăng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, vì thế cần phải khuyến khích sự tăng trưởng các đô thị nhằm tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập Do dựa trên những quan điểm như thế nên suốt 30 năm qua, nhiều quốc gia vẫn thiên về các chiến lược phát triển càng ngày càng coi trọng việc chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế quốc gia sang các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, và gia tăng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Các quốc gia

ấy tin tưởng mạnh mẽ rằng tốt nhất nên đầu tư vào công nghiệp và dịch vụ để thu lợi nhiều hơn là nông nghiệp Và cũng vì tin rằng đô thị hóa là tất yếu trong quá trình xây

Trang 27

dựng nên một nhà nước hiện đại, cho nên, trong các vùng đô thị, hiệu quả kinh tế tăng

cao đã làm cho các thành phố trở thành vô cùng quan trọng cho quá trình phát triển

Một hệ quả khác của chiến lược phát triển theo định hướng đô thị là tỉ lệ dân số làm nông nghiệp giảm, dân số ở nông thôn cũng sụt xuống, diện tích đất canh tác của các hộ gia đình giảm mạnh và nông nghiệp được tái cơ cấu theo hướng ngày càng chú trọng đến các hoạt động thuần vốn và phi nông nghiệp, thuê lao động di dân và nhập khẩu lương thực Chính điều này đã dẫn đến sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn

và thành thị, làm cho dân chúng trong các vùng nông thôn di cư ngày càng nhiều dưới

dạng di dân quốc tế, dời lên thành phố, hoặc di cư theo thời vụ

Sự thay đổi về mặt đô thị đã đặt ra những thách thức trong việc đề ra những chính sách để quản lý đô thị hóa cách hiệu quả nhất Theo Terry Mc Gee, khi đề ra chính sách thì phải lưu ý đến 3 điểm Thứ nhất, cần phải công nhận rằng quá trình thay đổi đô thị đã đặt ra những thách thức nghiêm trọng cho các hệ sinh thái của các quốc gia trong khu vực Thứ hai, cần phải công nhận rằng sự phát triển đô thị đang diễn ra quá nhanh, đến mức các hệ thống quản lý và điều hành hiện nay thường không đủ khả năng xử lý các vấn đề vì sự phân công phân nhiệm chưa đồng bộ và khả năng còn hạn chế Thứ ba, cần phải thay đổi quan điểm tách rời nông thôn và thành thị, và xem xét lại sự phân loại nông thôn và thành thị về mặt không gian [14] Ba điểm mà Terry Mc Gee đưa ra là những hệ quả tất yếu mà đô thị hóa đã gây ra trong bối cảnh phát triển

đô thị nhanh và vấn đề lớn đặt ra trước mắt khi chúng ta đối diện với đô thị hóa là vấn

đề quản lý, là năng lực quản lý đô thị phải theo kịp với đà phát triển của đô thị

Đô thị không đơn giản chỉ là chỉ là sự cộng lại của các công trình xây dựng, tòa nhà, doanh nghiệp mà là một cơ thể sống, trong đó đô thị hóa phát triển hàng ngày Ta biết rằng quy mô dân số và mật độ dân số là hai yếu tố cơ bản quyết định bản chất của một đô thị [32] Bản chất của một đô thị triệu dân (million city) luôn luôn khác với một đô thị siêu hạng 4 triệu dân (super city), khác với đô thị cực lớn 8 triệu dân (mega city) Các bộ máy quản lý hữu hiệu cho một đô thị triệu dân, sẽ không đủ sức gánh vác một đô thị 4 triệu dân hay 8 triệu dân vì bản chất của đô thị ấy đã khác và quy mô đô

thị ấy đã không còn như trước đây

Có 2 dấu hiệu đưa ra trong Xã hội học đô thị của Trịnh Duy Luân đưa ra: Dấu hiệu định lượng là Đô thị hóa theo cách tiếp cận nhân khẩu học và địa lý kinh tế thì quá trình đô thị hóa chính là sự di cư từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày

Trang 28

càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị Đó cũng chính là quá trình gia tăng tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân của một quốc gia Tuy nhiên, nếu chỉ hạn chế trong cách tiếp cận nhân khẩu học thì sẽ không thể giải thích được toàn bộ tầm quan trọng và vai trò của đô thị hóa cũng như ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại Các nhà khoa học ngày cảng hiểu

đô thị hóa như là một quá trình kinh tế - xã hội lịch sử mang tính quy luật, trên quy

mô toàn cầu Khái quát hơn, đô thị hóa được xem là quá trình tổ chức môi trường cư trú của nhân loại ở đó bên cạnh mặt dân số, địa lý môi trường còn có mặt xã hội, một mặt rất quan trọng của vấn đề

Dấu hiệu định tính là quá trình Đô thị hóa từ giác độ Xã hội học đã được John Macionis trong cuốn sách giáo khoa về xã hội học (1988) cũng quan niệm về đô thị

hóa như một quá trình biến đổi xã hội tổng thể : “Đô thị hoá không chỉ thay đổi sự

phân bố dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể (transform) nhiều kiểu mẫu (patterns) của đời sống xã hội” Qúa trình biến đổi các khuôn mẫu của đời sống xã hội tổng thể

này được thể hiện trong khái niệm “lối sống đô thị” và các “quan hệ văn hoá” của đô thị với các vùng nông thôn và toàn bộ xã hội nói chung; Các nhà xã hội học Mĩ rất chú

ý tới khái niệm lối sống đô thị và coi nó là đặc trưng chủ yếu của xã hội đô thị - Khái niệm này đã được một đại biểu của xã hội học đô thị Mỹ thuộc trường phái Chicago, Luois Wirth, đưa ra từ năm 1938 trong công trình đã mang tính kinh điển “Đặc trưng

đô thị như một lối sống” (Urbanism as a way of life) Theo L.Wirth đặc trưng đô thị

(urbanism ) là các kiểu mẫu (patterns) của văn hoá và cấu trúc xã hội tiêu biểu cho các thành phố và khác biệt rõ rệt so với văn hoá của cộng đồng nông thôn (Trịnh Duy Luân 2000a) vừa là các nghiên cứu thực nghiệm rất cần cho việc định hướng các chủ

đề nghiên cứu xã hội học đô thị

Để bổ xung cho cách hiểu đô thị hóa chủ yếu nhấn mạnh vào quá trình tập trung dân cư đô thị, các nhà xã hội học cho rằng đô thị hóa đồng thời là sự quá độ hay sự biến đổi của cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, của lối sống và nhận thức của các cộng đồng dân cư về những gì đã và đang diễn ra trong cuộc sống của họ Từ đó sự biến đổi của cơ cấu kinh tế cũng là một nội dung của quá trình đô thị hóa và khái niệm đô thị hóa bao gồm cả những thay đổi của những điều kiện sống hàng ngày, các định chế xã

hộ, và những thay đổi về nhận thức và văn hóa Nhà nghiên cứu xã hội học Juli - Anne Boudreau cho rằng tác động của quá trình đô thị hóa đến đời sống xã hội của các cộng

Trang 29

đồng dân cư ngoại thành Hà nội hiện nay có thể được thể hiện trên ba khía cạnh căn bản là: “1 những điều kiện sống hàng ngày; 2 những nhận thức về quá trình đô thị hóa; 3 các định chế của nhà nước và của xã hội dân sự” [38]

Quá trình đô thị hóa của các nước đang phát triển hiện nay được đặc trưng bởi những lộ trình khác nhau phản ánh những mức độ hội nhập quốc gia vào nền kinh tế toàn cầu Theo quan niệm về quá độ đô thị này, các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, hiện đang trải qua quá trình đô thị hoá mà sự khác biệt của chúng tuỳ thuộc vào mức độ hội nhập của mỗi nước vào kinh tế thế giới Có thể nhận tháy rằng các nước đã hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn thường là những nước đã có những biến đổi nhanh nhất về cơ cấu kinh tế Điều này muốn nói rằng sự biến đổi của cơ cấu kinh tế

có ảnh hưởng quyết định đến quá trình đô thị hoá và hội nhập kinh tế quốc tế (J.P

Collin và J.Boudreau, sdd)

* Vận dụng lý thuyết trong đề tài

Trong bối cảnh của Việt Nam từ khi Đổi mới, các quá trình đô thị hoá thường nảy sinh từ ba nguyên nhân chủ yếu là: một là do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hoá và sự biến đổi cơ cấu kinh tế; hai là do tác động của quá trình đô thị hoá về mặt hành chính (mở rộng không gian địa lý hành chính của các đô thị); ba là do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp về kinh tế, xã hội và văn hoá của các trung tâm đô thị như một quá trình biến đổi xã hội toàn diện Quá trình đô thị hóa đã đem lại nhiều sự biến đổi

cả về chất và lượng trong cuộc sống của mỗi người dân Hiểu được bản chất của quá trình đô thị sẽ giúp cho mỗi địa phương có được cái nhìn tổng quan và sự điều chỉnh thích hợp

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong những năm gần đây, vấn đề chất lượng cuộc sống đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm nghiên cứu

Trên thế giới: đã có nhiều nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu về chất

lượng cuộc sống Vào cuối thập niên 80 đầu thấp niên 90 của thế kỷ XX, một nhà dân

số học người Ấn Độ (R.C Sharma) đề cập đến chất lượng cuộc sống trong tác phẩm

“Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống” (Population, resources,

environment and quality of life), ông nghiên cứu mối tương tác giữa chất lượng cuộc

sống dân cư với quá trình phát triển dân cư, phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia

Trang 30

Theo ông, chất lượng cuộc sống là sự đáp ứng đầy đủ về các yếu tố vật chất và tinh thần cho người dân Năm 1990, UNDP (Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc) đã đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá về phát triển con người – HDI (Human Development Index) Hệ thống các chỉ tiêu này đã phản ánh cách tiếp cận mới, có tính

hệ thống về phát triển con người, coi phát triển con người là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người [1]

Hay có một số tài liệu viết về mô hình chất lượng cuộc sống cũng như những vấn đề có liên quan để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân như: Smith P,

Evaluating the Quality of Life in Singapore: Some Explorations in Economic and Social Measurements: June 1994, Singapore: Centre for Advanced Studies National University

of Singapore,1994; Lauer R.H, Social problems and the quality of life, New York: The McGrawưHill companies, Inc.,1998.; Overview - Sustainable Development in a Dynamic

World: Transforming Institutions, Growth, and Quality of Life: World Development Report 2003, Washington, D.C: The World Bank, 2003; Unni J, Globalization and securing worker rights for women in developing countries: Working paper No 132,

Ahmedabad: Gujarat Institute of Development Research,2002; World Bank, Millennium

Development Goals for Health in Europe and Central Asia: Relevance and Policy Implications, Washington, D.C.: World Bank, 2005 …

Ở Việt Nam: có nhiều tác giả đã đề cập tới vấn đề này một cách khái quát

Được sự quan tâm của thế giới, một dự án của UNDP đã được triển khai và đã phân tích quan hệ giữa dân số, tài nguyên, môi trường và phát triển trên phạm vi toàn quốc Đây là những tiền đề lý luận và thực tiễn của nhiều công trình nghiên cứu về chất lượng cuộc sống có liên quan với nhau

Trong thời gian 1999 - 2001, Ban Khoa giáo trung ương và một số cơ quan có

liên quan đã tiến hành nghiên cứu “Điều tra, đánh giá về những dịch vụ xã hội cơ bản

có liên quan đến chất lượng dân số ở nông thôn Việt Nam”, do GS.TS Phạm Tất Dong

làm chủ nhiệm, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước

“Nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến CLDS và đề xuất những chính sách phù hợp

về dân số và PTBV” do PGS.TS Trần Thị Trung Chiến - Bộ trưởng Chủ nhiệm UBQG

DS KHHGĐ chủ trì Tại đề tài nhánh này, lần đầu tiên ở Việt Nam đã xây dựng được

4 bộ chỉ số mới để đo CLDS và các dịch vụ xã hội cơ bản Đó là các chỉ số CLDS

Trang 31

(PQI), Chỉ số phát triển cộng đồng (CDI), Chỉ số đa dạng kinh tế nông thôn (EDI) và

Độ đo các dịch vụ xã hội cơ bản (BSM) Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, các tác giả đã

đề xuất một số kiến nghị về định hướng chính sách nâng cao CLDS nông thôn Việt Nam Tuy nhiên trong đề tài này, cách xây dựng các chỉ số và việc đưa ra các trọng số còn gây ra nhiều tranh cãi

Năm 2002 - 2004, đề tài “Kiến tạo chỉ số để đánh giá nhanh CLDS cộng đồng

nông thôn Việt Nam” cấp ĐHQG, Hà Nội do TS Nguyễn Thị Kim Hoa chủ trì Kết

quả nghiên cứu đã kiến tạo chỉ số PQI và bộ chỉ thị đơn (Set of Indicators) hợp lý hơn dựa trên 4 yếu tố thể chất, trí tuệ, tinh thần và môi trường, trên cơ sở đó áp dụng PQI trong đánh giá nhanh CLDS của 3 xã thuộc 3 vùng sinh thái nông thôn là Thái Nguyên (Miền núi phía Bắc), Quảng Ngãi (Ven biển Trung Bộ) và Nam Định (Đồng bằng Sông Hồng) và đề xuất phương hướng cải thiện CLDS 3 xã nghiên cứu trên

Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chất lượng dân

số” do GS TS Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước

“Nghiên cứu một số yếu tố sinh học, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chất lượng dân số

và đề xuất chính sách, giải pháp phù hợp, chủ nhiệm đề tài PGS.TS Trần Thị Trung Chiến (Mã số: ĐTĐL - 2003/15) Đề tài đã hoàn thiện bộ công cụ đánh giá chất lượng dân số, bao gồm bộ các chỉ số CLDS (PQI), chỉ số phát triển cộng đồng (CDI), các dịch vụ xã hội cơ bản (BSM) và một số chỉ số khác Đồng thời cũng đã xác định được mối tương quan và tác động giữa một số yếu tố kinh tế ư xã hội và CLDS Chỉ số PQI của đề tài cấp nhà nước xây dựng để đánh giá chung cho cả địa bàn đô thị và nông thôn

Đề tài “Nghiên cứu chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội” do TS Nguyễn

Thị Kim Hoa chủ nhiệm đề tài cấp ĐHQG năm 2007 Đề tài đã xây dựng chỉ số đo chất lượng dân số (PQI) để tính riêng cho địa bàn đô thị, đặc biệt là đô thị Thành phố

Hà Nội - Trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị trong cả nước Trên cơ sở phân tích các yếu tố tác động đến chất lượng dân số, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao CLDS Đô thị Thành phố Hà Nội

Hay còn có một số nghiên cứu liên quan về các chỉ số phát triển như: Nguyễn Quán, “Các chỉ số và chỉ tiêu phát triển con người” (1995); PGS.TS Đặng Quốc Bảo

và TS Trương Thị Thúy Hằng, “Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI, cách tiếp cận và

Trang 32

một số kết quả nghiên cứu” (2005); hay bài viết “Chất lượng cuộc sống và cách đánh giá ở Malaixia” của TS Trần Văn Chiến…

Con người là vốn quý của xã hội, là chủ nhân của thế giới, là động lực để phát triển xã hội và cũng là mục tiêu để mọi hoạt động kinh tế ư xã hội của mỗi quốc gia cũng như cả thế giơi hướng tới Dù cho mỗi tài liệu có một mối quan tâm về chất lượng cuộc sống của dân cư có phần khác nhau nhưng những tài liệu trên đã góp phần cung cấp cho tác giả những định hướng nghiên cứu ban đầu

Hiện nay mới chỉ có một số nghiên cứu về đô thị có liên quan đến một số nội dung về chất lượng dân cư như: các nghiên cứu về nhà ở đô thị và quá trình biến đổi của chúng qua các thời kỳ cũng đã được nghiên cứu liên tục từ những năm 1980, và nhất là từ năm 2000 trở lại đây (Trịnh Duy Luân và Nguyễn Quang Vinh 2001; Schenk và Trịnh Duy Luân 2001; Evertsz 2000; Trịnh Duy Luân và Schenk 2000; Charbonneau và Hau 2002; Casault và các cộng sự 2006) Một số nghiên cứu về sự phát triển cơ sở hạ tầng đô thị cũng đã được triển khai như một hướng nghiên cứu về quá trình biến đổi điều kiện sống đô thị (Boudreau 2007; Spencer 2007 a, b, c; Parenteau 2006; Beauséjour 2008) Do vấn đề nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư trong quá trình Đô thị hóa không nhiều nên đó cũng là một khó khăn, trở ngại cho tác giả trong quá trình nghiên cứu

1.2.2 Quá trình Đô thị hóa tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội qua một số yếu tố

Xã Tân triều nằm ở bên cạnh quận Thanh Xuân, thuộc khu vực nội thành Hà Nội, một khu công nghiệp được thành lập từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước nhưng chỉ mới được đô thị hoá trong thời kỳ Đổi mới Trước những năm 90, khu vực này vẫn thuộc huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội Vị trí ven dô của Tân triều cho thấy lợi thế đặc biệt của nó khi nó có thể tham gia vào sự phân công lao động trên địa bàn thành phố

Sự biến đổi nghề nghiệp: Do sự chật hẹp của đất nông nghiệp nên cơ cấu kinh

tế của xã Tân Triều từ lâu đã hướng tập trung vào các nghề thủ công hay các nghề phi nông như dệt khăn mặt, dệt và thêu các loại cờ thưởng và huân chương để bán cho thị trường hoặc phục vụ theo đơn đặt hàng của nhà nước, nghề thu gom phế liệu rất đặc trưng bởi mặt hàng chổi lông gà của làng Triều khúc nổi tiếng trên cả nước và mặt

Trang 33

hàng thuốc nam của làng Yên Xá Sản phẩm của làng nghề Tân Triều ngày nay đã hình thành các nhóm nghề sau:

Nhóm nghề dệt: Đã hình thành từ hàng trăm năm trước Vào những năm 60, nghề này sản xuất hoàn toàn bằng thủ công với các thiết bị công cụ từ khung tre, gỗ Ngày nay, các công cụ đã được thay thế bằng các máy móc, thiết bị bán tự động hoặc

tự động hóa hoàn toàn (dệt tua cờ, vải thổ cẩm, vải công nghiệp, huân huy chương, dây chun, dây băng, mác nhãn đồ may mặc, dây giấy, khăn mặt, khăn len, ) Đã hình thành

17 công ty tư nhân, HTX và 30 hộ chuyên vơi 1.000 lao động tham gia sản xuất nghề này

Nghề xe tơ, sợi: Hiện có 12 công ty và 03 doanh nghiệp lớn và 30 hộ chuyên với 300 lao động tham gia sản xuất Sản phẩm chính gồm: chỉ khâu, chỉ thêu, sợi tơ tằm, sợi vải, sợi thảm Mặt hàng tơ, sợi cung cấp cho ngành dệt-may trong nước và đã xuất khẩu sang thị trường Lào, Trung Quốc Nghề xe tơ sợi tằm được nhiều thị trường nước ngoài ưa chuộng

Nhóm nghề thu gom, tái chế phế liệu: Nghề này đang thu hút khoảng 180 hộ với 1.000 lao động tham gia Sản phẩm chính gồm: nhựa mềm, nhựa cứng, mắc áo, dây đồng, dây nhôm, các thiết bị phụ tùng đã qua sử dụng, sắt thép phế liệu, chăn gối, chổi lông, râu tóc giả, tóc độn,… Nhóm nghề này đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, nhưng hiện tại vẫn phải duy trì vì nó thu hút, tạo hàng nghìn lao động có việc làm và thu nhập ổn định cho địa phương

Nghề sản xuất guốc gỗ, dép, đế giày cao su: Nghề này chủ yếu tập trung ở thôn Yên Xá với tổng số 20 hộ tham gia Sản phẩm chính gồm: đế guốc, đế dép, guốc

gỗ, dép cao su cung cấp cho các cơ sở sản xuất guốc, dép, giày thành phẩm

Nhờ vào vị trí tiếp giáp khu vực nội đô của thành phố Hà Nội nên dân cư của làng Triều Khúc có thể tranh thủ những lợi thế của vùng giáp ranh đô thị để đa dạng hoá

và phi nông hoá các hoạt động kinh tế mà không phải rời làng quê như dân cư ở các vùng xa đô thị khác để mong tìm kiếm cơ may thay đổi cuộc sống nơi thành phố

Sự biến đổi về lối sống cộng đồng: Như đã nói, xã Tân Triều nằm sát với khu

vực nội thành Hà Nội nên thường xuyên có các quan hệ với các khu công nghiệp và dân cư nội thành xung quanh nó Đó là các khu công nghiệp nhẹ Cao su- Xà phòng- Thuốc lá, gọi tắt là khu “Cao Xà Lá” của quận Đống Đa ; các nhà máy thuộc khu công nghiệp Thượng Đình Đây cũng là khu tập trung rất nhiều trường học như Đại học

Trang 34

Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Hà Nội, các trường Cao đẳng, trung cấp dạy nghề ở quận Thanh Xuân ngày nay Sự giao tiếp với môi trường đô thị bên ngoài đã đem lại cho người dân ở đây những khả năng và cơ hội tham gia vào quá trình đô thị hóa từ rất sớm

Từ khi Đổi mới, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của xã Tân Triều càng được đẩy mạnh theo hướng Công nghiệp hóa Các doanh nghiệp công nghiệp và thủ công luôn

mở rộng quy mô và không ngừng hiện đại hoá so với trước đây Tuy nhiên, do vẫn là một khu vực nông thôn nên không gian cư trú và sản xuất của nó vẫn không thể mở rộng hay phát triển theo kiểu đô thị Chỉ khu dân cư trên con đường nối xã này với khu vực nội thành đã được quy hoạch và cải tạo để trở thành một con phố với những đặc trưng đô thị hoá nổi bật hơn cả Trong xã, chỉ có các ngôi nhà mới xây là mang dáng dấp thành phố còn các con đường và tổ chức không gian vẫn giữ nguyên phong cách làng xã truyền thống

Quá trình đô thị hoá thể hiện ở chiều sâu hơn là ở trên bề mặt của tổ chức không gian làng xã Đó là sự nhập cư của rất nhiều người từ các địa phương khác trên lãnh thổ của làng thay vì sự di cư của người trong làng ra đi như ở các vùng nông thôn khác Những công nhân, người lao động tự do và sinh viên đến đây mua nhà, mua đất hay thuê nhà chỉ để ở nhưng không phải là để hội nhập với cuộc sống cộng đồng làng

xã ở đây

Việc bán đất ở trong khu vực cho người nhập cư hay làm nhà cho thuê đã làm cho không gian cư trú gia đình và làng xã ngày càng bị xen kẽ bởi không gian cư trú của những người nhập cư từ nơi khác đến Quan hệ gia đình và làng xã vì thế cũng trở nên phức tạp và lỏng lẻo hơn trước Mặc dù việc bán đất ở đã cải thiện rõ rệt thu nhập

và mức sống của người dân trong làng Người ta có điều kiện mở rộng đầu tư sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện nhà ở và phương tiện đi lại, học hành và chăm sóc sức khoẻ nhưng về mặt xã hội, các sinh hoạt cộng đồng có chiều hướng sa xút không còn như trước Các gia đình giờ đây không còn không gian để cử hành các nghi lễ gia đình

và cộng đồng như trước đây Các sinh hoạt nghi lễ như đám cưới, đám giỗ hay đám ma gần như đều phải thuê không gian, dịch vụ thay vì làm tại nhà Lối sống cá nhân có xu hướng lấn át lối sống cộng đồng vì những quan hệ và tình cảm cộng đồng ngày càng không còn được ưu tiên như trong quá khứ

Trang 35

Những người nhập cư cũng mang theo họ cách sống cá nhân và tập quán của các vùng khác khi đến đây sinh sống Sự giao lưu văn hoá cũng làm phong phú thêm đời sống văn hoá địa phương song cũng làm thay đổi các quan niệm và giá trị cộng đồng bản địa Các quan hệ với những người nhập cư không phải là thành viên trong cộng đồng không thể tuân theo các phong tục cộng đồng làng xã Bởi vì các xung đột quan hệ hay lợi ích với người mới đến không thể dựa trên hương ước hay tình làng nghĩa xóm mà chủ yếu phải dựa vào sự can thiệp của chính quyền và pháp luật Trong những trường hợp chính quyền chưa thể can thiệp, người dân phải tự giải quyết, dẫn đến sự ra đời của các tỏ chức dân sự bổ xung cho các tổ chức chính trị và cộng đồng trong công tác quản lý xã hội nông thôn đô thị hóa

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ TÂN TRIỀU, HUYỆN THANH TRÌ, HÀ NỘI

TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội

2.1.1 Các nhân tố tự nhiên

Các nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng đến CLCS như điều kiện cư trú của dân cư, chất lượng môi trường sống và khả năng khai thác trực tiếp các tài nguyên làm nguồn sống cho dân cư (đất đai, khí hậu, nguồn nước) Vị trí địa lí tự nhiên thuận lợi có thể tạo điều kiện cho quốc gia đó phát triển kinh tế, đặc biệt là các ngành công nghiệp thế mạnh qua đó góp phần tăng thu nhập cho người dân và cải thiện CLCS dân cư

Tân Triều là xã ven đô thuộc huyện Thanh Trì, nằm ở phía Tây Bắc nội thành Hà Nội, cách thủ đô Hà Nội 9 km, cách thành phố Hà Đông 2 km về phía Đông Nam Phía Bắc giáp với phường Thanh Xuân Nam – Hạ Đình- quận Thanh Xuân; phía Đông giáp với phường Kim Giang, Đại Kim – quận Hoàng Mai; phía Nam giáp với xã Tả Thanh Oai, xã Thanh Liệt – huyện Thanh Trì; phía Tây giáp với thành phố Hà Đông Với vị trí địa lý này, Tân Triều thuận lợi trong vệc tổ chức sản xuất lưu thông hàng hóa và tiếp cận nhanh với khoa học kỹ thuật

Về mặt địa hình, xã Tân Triều có địa hình tương đối bằng phẳng Phần đất làng xóm có cốt cao địa hình khoảng 5,5m - 6,5m Phần ao hồ trong và ngoài làng có cốt cao

độ khoảng 3m – 4,5m

Về địa chất công trình, địa chất thủy văn thì xã Tân Triều có diện tích mặt nước khá phong phú, kênh, mương có thể cung cấp nước cho việc tưới tiêu, nuôi thủy sản và tạo cảnh quan Khi có mưa lớn, lượng nước mặt chảy theo độ dốc địa hình tự nhiên và thoát ra sông Nhuệ

Đây là các yếu tố cần khai thác để quy hoạch xã Tân Triều có thể hòa nhập với sự phát triển đô thị hóa ngày càng cao ở Hà Nội song vẫn giữ được đặc trưng riêng theo định hướng xây dựng làng nghề truyền thống và phát triển đô thị bền vững

2.1.2 Các nhân tố Kinh tế - xã hội

Vị trí kinh tế - xã hội cũng có vai trò rất quan trọng đối với CLCS dân cư Nếu một quốc gia hay một dân tộc hay một địa phương có vị trí trong vùng kinh tế trọng điểm sẽ

Trang 37

có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế

* Các nhân tố kinh tế

Chính sách của quốc gia và địa phương có ảnh hưởng đáng kể đến CLCS dân

cư Những thay đổi về chất trong chính sách vĩ mô như: Xây dựng cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các địa phương; Chính sách mở cửa

và hội nhập đã giúp người dân có cơ hội tiếp cận dễ dàng các vật tư, thiết bị máy móc nông nghiệp và công nghệ và mở rộng thị trường, tăng thêm thu nhập cho người dân

Kinh tế của xã tiếp tục tăng trưởng khá, giữ vững tốc độ tăng trưởng 18,5% so với cùng kỳ năm 2010, đạt 110% kế hoạch năm Tổng giá trị sản xuất đạt 452 tỷ đồng [34]

Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành của xã Tân Triều qua các năm

(tr.đ)

Cơ cấu (%)

Giá trị (tr.đ)

Cơ cấu (%)

Giá trị (tr.đ)

Cơ cấu (%)

Về Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Tập trung phối hợp với các ngành của

huyện triển khai đấu giá cụm sản xuất làng nghề vào cuối năm 2008 với diện tích 9.88

ha và thực hiện công tác đầu tư theo quy hoạch (đây là công trình trọng điểm của thành phố giai đoạn 2006 – 2010) Thu hút 80/603 cơ sở, đạt 13,3% số cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn xã Qua điều tra phỏng vấn các doanh nghiệp

và các hộ trên địa bàn đều có nhu cầu bức xúc về mặt bằng sản xuất

Kế hoạch xây dựng đề án mở rộng khu làng nghề giai đoạn 2009 – 2010 diện tích 05ha thu hút từ 100 – 120 hộ và ưu tiên các hộ thuộc nhóm nghề thu gom, tái chế phế liệu, chuyển đổi khu phơi lông vũ 02ha Hiện nay ngoài bức xúc về mặt bằng mở rộng quy mô sản xuất, vì nhóm nghề này gây ô nhiễm môi trường Đối với ngành dệt, se sợi đưa các công ty, các HTX ra cụm sản xuất làng nghề để tiện cho việc sản xuất, giảm

Trang 38

tiếng ồn và vận chuyển tiêu thụ sản phẩm, đối với các hộ chuyên sẽ trở thành các vệ tinh cho các công ty, HTX, các hộ này vẫn để sản xuất tại gia đình nhưng cần có các biện pháp xử lý bụi và tiếng ồn

Đến năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp so với năm

2010 tăng 20%, đạt 110% kế hoạch năm

Về thương mại – dịch vụ: năm 2009 – 2010 xây dựng nhà truyền thống giới thiệu

sản phẩm làng nghề gắn với định hướng phát triển dịch vụ làng nghề Đầu tư xây dựng

02 thôn với diện tích 0.95 ha và trung tâm thương mạ trưng bày triển lãm các sản phẩm làng nghề theo quy hoạch Giá trị sản xuất thương mại – dịch vụ so với năm 2010 tăng 19%, đạt 101% kế hoạch năm

Về nông nghiệp – thủy sản: Với đặc điểm của Tân Triều nằm trong vùng quy

hoạch của thành phố, diện tích đất nông nghiệp trong năm tới sẽ giảm, hướng phát triển nông nghiệp cần quan tâm và chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi Tiếp tục chỉ đạo và tạo điều kiện cho các hợp tác xã để hoạt động hiệu quả, mở rộng mô hình quản lý các loại hình dịch vụ nông nghiệp nông thôn, phát triển các trang trại thủy sản kết hợp với phát triển du lịch sinh thái Thực hiện kế hoạch chuyển đổi đất nông nghiệp giai đoạn

2009 – 2010 tập trung chỉ đạo chuyển đổi từ 02ha sang trồng hoa cây cảnh, chăn nuôi

có giá trị kinh tế cao, 05ha nuôi trồng thủy sản và 39ha sang trồng rau Thu nhập trên ha đất nông nghiệp đạt 80 triệu đồng/năm Phấn đấu năm 2010 toàn xã không còn diện tích cây lúa

Với đặc điểm cơ cấu kinh tế có nhiều thuận lợi như vậy, huyện Thanh Trì nói chung và xã Tân Triều nói riêng cũng cần phải được khai thác và phát huy tất cả những thế mạnh đó

* Các nhân tố xã hội

Những chính sách về mặt xã hội cũng tạo điều kiện sống cho người dân tại địa phương: Chính sách xóa đói, giảm nghèo thể hiện ở sự mở rộng cơ hội việc làm và tạo thu nhập cho nhóm người nghèo; làm giảm bớt nguy cơ và tăng khả năng ứng phó với những rủi ro cho người nghèo; bảo vệ, hỗ trợ những nhóm người dễ bị tổn thương; tạo việc làm và giảm thất nghiệp; Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với người nghèo thông qua việc tạo lập môi trường thông thoáng, cũng như hỗ trợ trực tiếp trong việc tiếp cận các cơ hội việc làm, tạo điều kiện vay vốn, đất đai, nâng cao tay nghề

Trang 39

Tân Triều nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố có tác động mạnh đến

sự phát triển, đất của xã nằm trong rãnh giới khu vực đang đô thị hóa mạnh Xã có 24.475 nhân khẩu với 4.867 hộ, tổng số lao động toàn xã là 16.144 người (nam từ 18-60 tuổi; nữ từ 18-55 tuổi) Trong số lao động có khả năng lao động là 15.197 người, chia theo lĩnh vực sản xuất:

Lao động thương mại – dịch vụ: 6.979 người, chiếm 43,3%

Lao động công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: 6.055 người, chiếm 37,5%

Lao động nông nghiệp – thủy sản: 3.110 người, chiếm 19,2%

Số lao động đã qua đào tạo nghề là 9.526 người, chiếm 62,7% chủ yếu là đạo tạo ngắn hạn và trung cấp

Do đất nông nghiệp có biến động giảm nên tạo điều kiện các hộ chuyển sang các ngành sản xuất phi nông nghiệp Dự báo của xã đến năm 2012 Số khẩu cũng như số hộ

và số lao động trong nông nghiệp có biến chuyển đáng kể

Bảng 2.2: Dự báo dân số và lao động xã Tân Triều

[34]

Với vị trí và tiềm năng là khu vực đang có tốc độ đô thị hóa nhanh nên việc chuyển đổi nghề nghiệp hiện nay sang phi nông nghiệp của xã sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi

Xã Tân Triều có 190 công ty, doanh nghiệp trong đó có 31 doanh nghiệp Công nghiệp, 159 doanh nghiệp thương mại dich vụ, vận tải và ngành khác Ngoài ra còn có

05 Hợp tác xã, trong đó có 03 Hợp tác xã Công nghiệp và 02 Hợp tác xã Nông nghiệp

Trang 40

là Hợp tác xã Yên Xá và Triều Khúc, có 1.457 hộ cá thể sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại, trong đó có 350 là hộ cá thể Công nghiệp, 02 hộ cá thể Xây dựng, 42 hộ cá thể vận tải, 1.063 hộ cá thể thương mại và dịch vụ

Tân Triều là xã đất chật, người đông, trong đó lao động thương mại – dịch vụ chiếm 43,3%; lao động công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chiếm 37,5%; lao động nông nghiệp – thủy sản chiếm 19,2% Đời sống của nhân dân trong xã là sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp; thương mại và dịch vụ; thu gom phế liệu và sản xuất nông nghiệp

Từ các đặc điểm của lao động trên địa bàn đó mà xã Tân Triều cũng tạo điều kiện

để có những chính sách phát triển hợp lý Để từ đó mà nguồn nhân lực của địa phương được phát triển về mọi mặt, đạt chất lượng cả về thể chất và trí tuệ

2.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong quá trình Đô thị hóa

Xã Tân Triều là một trong 16 xã, thị trấn của huyện Thanh Trì Tân Triều là xã

có nghề tiểu thủ công nghiệp từ lâu như nghề dệt thổ cẩm, nghề nhuộm, sản xuất chỉ, thu gom và tái chế phế liệu, lông vũ ở làng Triều Khúc; nghề làm giày dép thời trang ở Yên Xá Hơn chục năm trở lại đây, cùng với các nghề truyền thống, Tân Triều còn xuất hiện và phát triển thêm nhiều ngành nghề mới như dịch vụ xây nhà cho thuê, dịch

vụ ăn uống Ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển đã làm cho đời sống người dân được nâng lên rõ rệt Tuy nhiên, thông qua một số nội dung như: một số vấn đề về mặt kinh tế trong hộ, sự quan tâm về giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe, môi trường tự nhiên tại địa bàn cùng một số yếu tố khác nữa để thấy được sự thay đổi trong đời sống của người dân và chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều trong quá trình đô thị hóa

2.2.1 Hoạt động kinh tế trong các hộ gia đình tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì

Quá trình đô thị hóa đem lại nhiều sự thay đổi về mặt cơ cấu kinh tế tại xã Tân Triều nói chung và trong từng hộ gia đình nói riêng Do vậy, để thấy được rõ hơn sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế nói chung hay hoạt động kinh tế trong hộ nói riêng phải dựa trên một số yếu tố cơ bản như thu nhập – chi tiêu, nghề nghiệp – việc làm của từng cá nhân trong hộ

Nhìn chung, tốc độ phát triển kinh tế tại xã Tân Triều là nhanh Thu nhập bình quân đầu người được coi là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức sống

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo về sự phát triển con người (1992), UNDP Oxford University Press 2. Dự án VIE/01/021 (2006), Phân tích tác động của chính sách đô thị hóa đối vớiPhát triển bền vững ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác động của chính sách đô thị hóa đối với
Tác giả: Báo cáo về sự phát triển con người (1992), UNDP Oxford University Press 2. Dự án VIE/01/021
Năm: 2006
3. Đặng Hùng Cường (2006), Nỗi lo làng xã trong quá trình Đô thị hóa, Tạp chí kiến trúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi lo làng xã trong quá trình Đô thị hóa
Tác giả: Đặng Hùng Cường
Năm: 2006
5. Trần Văn Chiến (2003), Chất lượng cuộc sống và cách đánh giá ở Malaixia, Tạp chí Dân số - Kế hoạch hóa gia đình số 5 (26) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống và cách đánh giá ở Malaixia
Tác giả: Trần Văn Chiến
Năm: 2003
10. Tô Duy Hợp (2003), Đô thị hóa một số vấn đề lý thuyết, thông báo khoa học số 7-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa một số vấn đề lý thuyết
Tác giả: Tô Duy Hợp
Năm: 2003
11. Tô Duy Hợp (2001), Xã hội học nông thôn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 12. Phan Thị Mai Hương (2007), Những biến đổi cơ bản về mặt tâm lý của cư dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nông thôn
Tác giả: Tô Duy Hợp
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
17. Trịnh Duy Luân (2008), Biến đổi tâm lý – xã hội của cộng đồng dân cư đô thị dưới tác động của đô thị hóa, Tạp chí Xã hội học số 1 (101) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi tâm lý – xã hội của cộng đồng dân cư đô thị dưới tác động của đô thị hóa
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Năm: 2008
18. Trịnh Duy Luân (1994), Tác động xã hội của Đổi mới ở các thành phố Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động xã hội của Đổi mới ở các thành phố Việt Nam
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 1994
23. Phùng Hữu Phú (2009), Đô thị hóa ở Việt Nam - từ góc nhìn nông nghiệp, nông thôn, nông dân, Tạp chí Ban Tuyên giáo, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa ở Việt Nam - từ góc nhìn nông nghiệp, nông thôn, nông dân
Tác giả: Phùng Hữu Phú
Năm: 2009
24. Đình Quang chủ biên (2005), Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam. Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đình Quang chủ biên
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
25. Vũ Hào Quang, Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Tác động của đô thị hóa đến hình thức cố kết cộng đồng nông dân hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Hải Dương; Viện Nghiên cứu dư luận xã hội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đô thị hóa đến hình thức cố kết cộng đồng nông dân hiện nay
Tác giả: Vũ Hào Quang, Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2008
26. Bùi Thái Quyên và cộng sự (2001), Giáo dục và thu nhập. Trong Mức sống trong thời kỳ kinh tế bùng nổ ở Việt Nam, Nxb Thống kê. Hà Nội, Tr. 91-108 27. Lê Thanh Sang (2007), Sự chuyên môn hóa các chức năng của đô thị ViệtNam, Tạp chí Xã hội học số 2 (98) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và thu nhập
Tác giả: Bùi Thái Quyên, cộng sự
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
28. Trần Minh Tuấn (2003), Chín biện pháp trong phát triển đô thị bền vững, Tạp chí Tia Sáng, tháng 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chín biện pháp trong phát triển đô thị bền vững", Tạp chí "Tia Sáng
Tác giả: Trần Minh Tuấn
Năm: 2003
29. Ngô Thế Thi (2002), Phân tích đánh giá tác động chuyển đổi kinh tế trong quá trình đô thị hóa làng xã thành phường, thành phố Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích đánh giá tác động chuyển đổi kinh tế trong quá trình đô thị hóa làng xã thành phường, thành phố Hà Nội
Tác giả: Ngô Thế Thi
Năm: 2002
30. Trần Văn Thọ (2005), Biến đổi kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Thọ
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
32. Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (1995), Đô thị hóa tại Việt Nam và Đông Nam Á, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa tại Việt Nam và Đông Nam Á
Tác giả: Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Năm: 1995
35. UBND xã Tân Triều, Đề án xây dựng Nông thôn mới xã Tân Triều (giai đoạn 2010 – 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng Nông thôn mới xã Tân Triều
36. UBND xã Tân Triều, Đề án phát triển kinh tế giai đoạn 2008 – 2010, định hướng đến 2015Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển kinh tế giai đoạn 2008 – 2010, định hướng đến 2015Tiếng Anh
Tác giả: UBND xã Tân Triều
37. Alan Coulthart, Nguyễn Quang và Henry Sharpe (2006), Chiến lược phát triển đô thị: Đối mặt với những thách thức về đô thị hóa nhanh chóng và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Ngân hàng Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển đô thị: Đối mặt với những thách thức về đô thị hóa nhanh chóng và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
Tác giả: Alan Coulthart, Nguyễn Quang và Henry Sharpe
Năm: 2006
38. Juli-Anne Boudreau (2009), Urbanization Processes at work: Mobility and Local development in Hanoi, Document for périurbain Project in Ha noi, Québec, Montréal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urbanization Processes at work: Mobility and Local development in Hanoi, Document for périurbain Project in Ha noi
Tác giả: Juli-Anne Boudreau
Năm: 2009
39. LC Leviton at all (2000), Urban issues in health promotion strategies; American Journal of Public Health, Vol 90, Issue 6. P. 863-866 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urban issues in health promotion strategies
Tác giả: LC Leviton at all
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành của xã Tân Triều qua các năm - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.1 Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành của xã Tân Triều qua các năm (Trang 37)
Bảng 2.3: Mức chi tiêu của các hộ gia đình - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.3 Mức chi tiêu của các hộ gia đình (Trang 42)
Bảng 2.5: Yếu tố tác động tới sự phát triển kinh tế hộ - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.5 Yếu tố tác động tới sự phát triển kinh tế hộ (Trang 43)
Bảng 2.6: Lĩnh vực làm việc của người chồng và người vợ - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.6 Lĩnh vực làm việc của người chồng và người vợ (Trang 44)
Bảng 2.8: Số con nghỉ học mà chưa học hết Phổ thông trung học - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.8 Số con nghỉ học mà chưa học hết Phổ thông trung học (Trang 49)
Bảng 2.7: Mong muốn con làm nghề của hộ gia đình - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.7 Mong muốn con làm nghề của hộ gia đình (Trang 49)
Bảng 2.9: Nội dung về y tế - chăm sóc sức khỏe tại xã - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.9 Nội dung về y tế - chăm sóc sức khỏe tại xã (Trang 51)
Bảng 2.10: Số lượng người có thẻ bảo hiểm trong các hộ - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.10 Số lượng người có thẻ bảo hiểm trong các hộ (Trang 52)
Bảng 2.11: Mức độ tăng so với 2 năm trước của các dạng ô nhiễm - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.11 Mức độ tăng so với 2 năm trước của các dạng ô nhiễm (Trang 55)
Bảng 2.12: Mức độ nghiêm trọng của nguồn ô nhiễm - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.12 Mức độ nghiêm trọng của nguồn ô nhiễm (Trang 56)
Bảng 2.14: Các phương tiện đi lại - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.14 Các phương tiện đi lại (Trang 60)
Bảng 2.15: Hình thức đun nấu của hộ - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.15 Hình thức đun nấu của hộ (Trang 61)
Bảng 2.16: Thành viên của các hội - Chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều huyện - Thanh Trì - Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.16 Thành viên của các hội (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w