1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật tiếp cận công tác xã hội

87 434 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này cũng đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện các Quyền về sức khỏe sinh sản cho phụ nữ [54] Thứ hai là bài tham luận "Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ THỊ THU PHƯƠNG

CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN

CHO PHỤ NỮ KHUYẾT TẬT - TIẾP CẬN

CÔNG TÁC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ THỊ THU PHƯƠNG

CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN

CHO PHỤ NỮ KHUYẾT TẬT - TIẾP CẬN

CÔNG TÁC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Bá Thi ̣nh

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS TS Hoàng Bá Thi ̣nh

Việc trích dẫn trong luận văn đã được thực hiện nghiêm túc, cẩn trọng đúng quy định

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu có việc sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2014

Người thực hiện

Đỗ Thị Thu Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các Thầy , Cô giáo Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn , Đại học Quốc gia Hà Nội ; lãnh đạo và hội viên Hội Người khuyết tật Hà Nội , gia đình, đồng nghiệp và bạn

bè đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Đặc biệt, trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Hoàng Bá Thịnh Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy./

Học viên

Đỗ Thị Thu Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 8

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9

5 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

7 Câu hỏi nghiên cứu 10

8 Giả thuyết nghiên cứu 10

9 Phương pháp nghiên cứu 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15

1.1 Các khái niệm công cu ̣ 15

1.1.1 Công tác xã hội 15

1.1.2 Khuyết tật, người khuyết tật, phân loại khuyết tật và phụ nữ khuyết tật 16

1.1.3 Sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản 18

1.2 Cơ sở lý thuyết 19

1.2.1 Lý thuyết về giới 19

1.2.2 Lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền con người 21

1.2.3 Lý thuyết tiếp cận dựa trên nhu cầu con người 22

1.2.4 Luật pháp, chính sách liên quan đến người khuyết tật và chăm sóc sức khỏe sinh sản 24

1.3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 29

1.3.1 Một số đặc điểm về kinh tế - xã hội của Hà Nội 29

1.3.2 Hê ̣ thống các tổ chức xã hội liên quan đến người khuyết tật ở Hà Nội 31 Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ KHUYẾT TẬT 34

2.1 Vài nét về tình hình phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t hiện nay 34

Trang 6

2.2 Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ khuyết tật tại

Hà Nội 35

2.2.1 Mức độ quan tâm đến sức khỏe sinh sản và tiếp cận thông tin về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ khuyết tật 35

2.2.2 Kiến thức của phụ nữ khuyết tật về sức khỏe sinh sản 39

2.2.3 Việc sử dụng di ̣ch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ khuyết tật 42

2.3 Khó khăn trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ khuyết tật 47 2.3.1 Phụ nữ khuyết tật và khó khăn khi tiếp cận thông tin về chăm sóc sức khỏe sinh sản 47

2.3.2 Khó khăn của phụ nữ khuyết tật trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho bản thân 50

2.3.3 Phụ nữ khuyết tật và khó khăn khi tiếp cận di ̣ch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản 51

Tiểu kết chương 2 54

CHƯƠNG 3: MỨC ĐỘ CHUYÊN NGHIỆP CỦA HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO PHỤ NỮ KHUYẾT TẬT TỪ GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI 55

3.1 Kết quả đa ̣t đươ ̣c trong hoa ̣t đô ̣ng chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tâ ̣t 55

3.2 Mức độ chuyên nghiê ̣p của viê ̣c hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t 58

3.2.1 Mức độ chuyên nghiệp của hoạt động kết nối nguồn lực 57

3.2.2 Mức độ chuyên nghiệp của hoạt động tham vấn 60

3.2.3 Mức độ chuyên nghiệp của hoạt động hỗ trợ 64

3.2.4 Mức độ chuyên nghiệp của hoạt động biện hộ 66

Tiểu kết chương 3 69

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

suy giảm miễn dịch mắc phải ở người

ICF Phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức

khỏe

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Mức đô ̣ quan tâm đến SKSS của PNKT theo trình đô ̣ ho ̣c vấn 36 Bảng 2.2: Mức đô ̣ quan tâm của phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t theo các dạng khuyết tật 37 Bảng 2.3: Mức đô ̣ đi khám SKSS của PNKT theo dạng khuyết tật 43 Bảng 3.1: Sự hỗ trợ của các cơ quan đoàn thể trong quá trình chăm sóc SKSS cho PNKT 55 Bảng 3.2: Đánh giá hiệu quả về hỗ trợ của các tổ chức trong việc CSSKSS PNKT 57 Bảng 3.3: Mong muốn của PNKT liên quan đến CSSKSS cho bản thân 63 Bảng 3.4: Các loại kiến thức về CSSKSS mà PNKT mong muốn được hỗ trợ 65

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu 1.1: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow 23

Biểu 2.1: Kênh thông tin về CSSKSS của PNKT 38

Biểu 2.2: Kiến thức về biê ̣n pháp tránh thai của PNKT 39

Biểu 2.3: Kiến thức của PNKT về bê ̣nh lây truyền qua đường tình du ̣c 41

Biểu 2.4: Lý do PNKT không bao giờ đi khám SKSS 45

Biểu 2.5: Lý do PNKT chọn địa điểm kiểm tra SKSS 46

Biểu 2.6: Khó khăn của PNKT khi tiếp cận thông tin về CSSKSS 49

Biểu 2.7: Khó khăn của PNKT khi tiếp câ ̣n các di ̣ch vu ̣ CSSKSS 53

Trang 10

tỷ lệ NKT ở độ tuổi từ 5 tuổi trở lên chiếm 7,8% dân số tương đương với 6,7 triệu người, trong đó có 3,6 triệu người là nữ [48, tr12]

Có thế nói rằng, bên cạnh các khiếm khuyết về thể chất, tinh thần, trí tuệ và các giác quan, những NKT thường bị phân biệt đối xử, kỳ thị, bạo lực và thường sống trong tình cảnh đói nghèo Những NKT, nhất là PNKT cũng có nhu cầu tình dục và CSSKSS, và những nhu cầu chính đáng này của họ cần được đáp ứng Điều này đã được khẳng định trong công ước CEDAW Công ước CEDAW khẳng định quyền bình đẳng của phụ nữ như nam giới trong các lĩnh vực như y

tế Cụ thể là phụ nữ được bình đẳng trong việc hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc lựa chọn và quyết định các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình; đảm bảo cho phụ nữ thực hiện các dịch vụ thích hợp liên quan đến việc thai nghén, sinh đẻ và thời gian sau sinh đẻ; cung cấp các dịch vụ không phải trả tiền nếu cần thiết, đảm bảo dinh dưỡng thích hợp cho phụ nữ trong thời gian mang thai [17, tr9]

Trên thực tế, NKT là nhóm người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội Họ thường đối mặt với nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội , giáo dục, việc làm Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đến tháng

5 năm 2009, thành phố Hà Nội có 89.299 NKT (chiếm 1,4% dân số) và có đến 80% NKT sống phụ thuộc vào nguồn trợ cấp từ gia đình hoặc xã hội thông qua Nhà nước hoặc cộng đồng [51] Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương bình và

Xã hội năm 2010, các địa phương đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 100% NKT thuộc

hộ gia đình nghèo, thực hiện chỉnh hình phục hình phục hồi chức năng và cấp dụng

Trang 11

Nhằm góp phần trả lời những câu hỏi trên đây, tác giả luận văn lựa chọn đề

tài: " Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật - tiếp cận công tác xã hội",

làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành công tác xã hội Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả giới hạn nghiên cứu này qua việc thu thập thông tin thực tế trên địa bàn 02 huyện (Từ Liêm, Ba Vì) và 4 quận (Thanh Xuân, Long Biên, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng) của thành phố Hà Nội

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản của NKT đã được tiến hành từ lâu rất sớm trên thế giới, đặc biệt ở các quốc gia phát triển Một trong những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự quan tâm nghiên cứu về SKSS là từ Hội nghị Quốc tế về Dân số

và Phát triển (ICPD) tại Cai-rô, Ai Cập (Tháng 4/ năm 1994) Sau khi định nghĩa chính thức về sức khỏe sinh sản tại hội nghị này được thông qua và được thống nhất

Trang 12

3

phổ biến đến các quốc gia trên thế giới thì mối quan tâm của các nhà quản lý xã hội, các nhà khoa học, các nhà giáo dục và toàn xã hội đối với vấn đề SKSS cũng được nâng lên Trong nhiều nghiên cứu về SKSS trên thế giới, chúng ta có thể điểm qua một vài công trình đáng lưu ý sau đây

Thứ nhất là bài tham luâ ̣n "Vai trò của phụ nữ nông thôn Pakistan với tư

cách là nhân tố làm thay đổi các quyền và sức khỏe sinh sản và tình dục của phụ nữ thông qua việc thành lập các ban vì sức khỏe của phụ nữ" của tác giả Farhat

Sabir đươ ̣c trình bày tại Hội nghị Quốc tế : Nhận thức việc đảm bảo Quyền về Sức khỏe và Phát triển cho mọi người được tổ chức vào tháng 10 năm 2009 Bài viết này đã trình bày những kết quả mà "Dự án sức khỏe phụ nữ" đạt được tại đất nước Pakistan thông qua việc đánh giá và đo lường tình trạng quyền về giới tính

và sức khỏe sinh sản của phụ nữ nông thôn Nghiên cứu này cũng đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện các Quyền về sức khỏe sinh sản cho phụ

nữ [54]

Thứ hai là bài tham luận "Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của người

khuyết tật" của tác giả Thoraya A Obaid, Giám đốc điều hành Quỹ Dân số Liên

Hợp Quốc Công trình nghiên cứu này được trình bày tại Hội nghị Quốc gia về tình dục và sức khỏe, tổ chức vào tháng 11 năm 2012 Qua nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra nhận định rằng những NKT có nguy cơ cao gấp 3 lần so với những người khác về nguy cơ bị bạo lực và bị cưỡng bức tình dục Thêm nữa, NKT ít

có điều kiện tiếp cận với các can thiệp y tế Họ cũng phải đối mặt với các nguy

cơ cao trong việc bị ép buộc triệt sản , ép buộc nạo thai , hôn nhân cưỡng bức PNKT không những không được đáp ứng các nhu cầu cơ bản mà còn bi ̣ ha ̣n chế các nhu cầu của mình c hỉ vì sự kỳ thị và phân biệt đối xử của những người xung quanh [55]

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có khá nhiều công trình, bài viết về NKT, về sức khỏe sinh sản được công bố Vấn đề về NKT và SKSS của ho ̣ được đề cập khá sâu sắc với nhiều góc độ, cấp độ khác nhau Sau đây chúng ta sẽ bàn đến

cụ thể hơn các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến NKT, SKSS, và

Trang 13

4

NKT với SKSS

Trước hết, liên quan đến các nghiên cứu về NKT, chúng ta cần đề cập đến một

loạt các công trình nghiên cứu đáng chú ý như sau:

Công trình “Tổng quan về người tàn tật ở Viê ̣t Nam và hỗ trợ của Nhà

nước” là một trong những nghiên cứu quan trọng của tác giả Ôn Tuấn Bảo

(2001) Với công trình này, Ôn Tuấn Bảo đã trình bày khái quát về người khuyết

tâ ̣t ở Viê ̣t Nam Đồng thời, tác giả cũng phân tích các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với NKT và viê ̣c thực thi những chính sách này trong thực tế cuô ̣c sống [2, tr47]

Bài viết "Vấn đề giới và người khuyết tật Việt Nam " của Lê Thi ̣ Quý (2007)

đã chỉ ra những nguyên nhân mà vấn đề giới và NKT ít khi được nhắc đến trong các nghiên cứu Trong các nguyên nhân đó, hai nguyên nhân đáng lưu ý là nguyên nhân nhận thức và nguyên nhân kinh tế Bài viết này còn mở rộng thêm

sự hiểu biết về đời sống của NKT; vấn đề giới và chính sách đối với NKT hiện nay [27, tr20]

Công trình nghiên cứu“Báo cáo khảo sát về đào tạo Nghề và Việc làm cho

người khuyết tật tại Việt Nam” do Tổ chức Lao động quốc tế (2010) chỉ ra rằng:

Thái độ đối với người khuyết tật, đặc biệt là thái độ xem nhẹ khả năng của người khuyết tật, là một trong những rào cản lớn nhất để người khuyết tật hòa nhập cuộc sống Nghiên cứu này cũng cho biết phần lớn thái độ của mọi người đối với người khuyết tật tại Việt Nam là “chăm sóc và bảo vệ ” Điều này làm cho những NKT có khuynh hướng nhận sự chăm sóc, hỗ trợ và nơi nương tựa mà ít tham gia vào các hoạt động xã hội khác Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng: Nhiều trường hợp NKT bị hạn chế các khả năng và cơ hội học tập, kết hôn và tìm kiếm việc làm của mình chỉ vì những quan điểm sai lầm từ xã hội Đặc biệt là có sự khác biệt giữa những NKT là nam giới và nữ giới về những cơ hội nói trên [36, tr6]

Công trình nghiên cứu “Chi phí kinh tế của sống với khuyết tật và kỳ thi ̣ ở Viê ̣t

Nam” của Viện Nghiên cứu và Phát triển xã hội và Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội

được công bố năm 2013 đã chỉ rõ những kỳ thi ̣ mà người khuyết tâ ̣t đã và đang gă ̣p

Trang 14

5

phải Nghiên cứu này cũng phân tích những nguyên nhân và hâ ̣u quả của sự kỳ thị đối với người khuyết tâ ̣t, trong đó nhấn ma ̣nh đến hâ ̣u quả về kinh tế và hậu quả đối với sự phát triển xã hội Nghiên cứu này cũng cho rằng nhều người khuyết tâ ̣t đang bi ̣ mất đi những cơ hô ̣i làm viê ̣c và cống hiến chỉ vì sự kỳ thi ̣ mà ho ̣ gă ̣p phải [48, tr 12 – tr15]

Bên cạnh các công trình nghiên được xuất bản đã điểm qua ở trên, nhiều công trình nghiên cứu đáng lưu ý được trình bày tại các hội thảo khoa học Đơn

cử như Hội thảo “Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình với người khuyết tật” do

Chương trình Khuyết tật và Phát triển (DRD) tổ chức Những bài viết tham gia hội thảo này hướng tới mục tiêu chia sẻ kinh nghiệm nhằm vượt qua những rào cản, khó khăn trong việc tiến đến hôn nhân của người khuyết tật Đồng thời, các bài viết trong khuôn khổ hội thảo cũng xác định những rào cản trong hôn nhân để tìm giải pháp khắc phục và giúp NKT tự tin xây dựng gia đình [57]

Một hội thảo khác cũng đáng lưu ý là hô ̣i thảo “ Sống với khuyết tật và cái

giá của sự kỳ thị”, được Viê ̣n Nghiên cứu và Phát triển xã hô ̣i và Viê ̣n Nghiên

cứu Dư luâ ̣n xã hô ̣i tổ chức năm 2013 Các báo cáo tham gia hội thảo này đã bàn

về vấn đề kỳ thi ̣ với người khuyết tâ ̣t và những cái giá của sự kỳ thi ̣ đó Nhiều bài viết chỉ ra rằng sự kỳ thi ̣, phân biê ̣t với người khuyết tâ ̣t đang diễn ra hàng ngày

và trên mọi khía cạnh như hôn nhân, gia đình, viê ̣c làm, y tế Điều này đang làm mất đi những cơ hô ̣i phát triển của người khuyết tâ ̣t Những giải pháp mà các tác giả của các bài viết tham gia hội thảo đề xuất là cần có một hệ thống các biện pháp từ vĩ mô đến vi mô để giảm thiểu những khó khăn cho NKT, trong đó đáng lưu ý là hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến NKT cần có những thay đổi theo hướng sát với nhu cầu của NKT hơn Nhiều tác giả cũng quan tâm đến vai trò của truyền thông trong việc thay đổi tư duy, nhận thức và hành vi của mọi người trong xã hội đối với người khuyết tật [58]

Thứ hai, liên quan đến các nghiên cứu về CSSKSS, chúng ta cần đề cập đến

những nghiên cứu tiêu biểu sau đây

Trang 15

6

Nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, (2000) với tên gọi “

Phụ nữ, giới và phát triển” cho rằng phụ nữ là người chịu thiệt thòi nhất trên mọi

lĩnh vực ngay cả việc CSSKSS Phụ nữ hiếm khi trao đổi với chồng về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, kể cả khi họ cảm thấy chồng có thể gặp nguy cơ khi đi làm xa Trên thực tế họ dành sự chăm sóc cho chồng và cho con, còn bản thân họ thì ít nhận được sự chăm sóc của người khác, trừ thời gian sau sinh Kết quả nghiên cứu đã đưa ra nhâ ̣n đi ̣nh mức độ bình đẳng giới trong kinh tế , xã hội không tỷ lệ thuận với mức độ bình đẳng trong CSSKSS [1]

Cuộc Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY 1)

năm 2003 do Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê thực hiện là một trong những công trình nghiên cứu đáng lưu ý liên quan đến CSSKSS Cuộc khảo sát này đã thu thập thông tin từ vị thành niên và thanh niên từ 14 – 25 tuổi sống trong hộ gia đình, trên cả 8 vùng lãnh thổ, khu vực thành thị/nông thôn Kết quả của cuộc khảo sát đã chỉ ra rằng: Hiểu biết của thanh niên về SKSS còn thấp vì vậy mà hành vi CSSKSS chưa được quan tâm đúng mức [7, tr37]

"Báo cáo đánh giá thực hiện chiến lược CSSKSS Việt Nam" do Đa ̣i ho ̣c Y tế

Công cô ̣ng (2009) thực hiện là một nghiên cứu bàn về CSSKSS của thanh thiếu niên, người cao tuổi Việt Nam Nghiên cứu này cho rằng đã có những sự chuyển biến sâu sắc liên quan đến CSSKSS của thanh thiếu niên Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chưa đề cập về vấn đề CSSKSS cho người khuyết tật [10]

Một nghiên cứu đáng lưu ý khác thuộc về chủ đề SKSS là “Điều tra cuối kỳ

(năm 2006) chương trình sáng kiến sức khỏe sinh sản cho thanh niên Châu Á (RHIYA) về kiến thức, thái độ và hành vi SKSS của thanh thiếu niên” được thực

hiê ̣n bởi Viê ̣n Dân số và các vấn đề xã hô ̣i (IPSS) – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2006) Nghiên cứu này nhận được sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) Đối tượng điều tra trong nghiên cứu này là nam, nữ vị thanh niên và thanh niên từ 15 - 24 tuổi ở 7 tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng, Hòa Bình, Thừa Thiên Huế , Đà Nẵng, Khánh Hòa và TP Hồ Chí Minh ) Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức , thái độ và hành vi của vi ̣ thành niên với

Trang 16

7

vấn đề SKSS còn chưa cao Ngoài ra, kết quả điều tra cũng cho thấy nhâ ̣n thức

về tầm quan tro ̣ng của SKSS và thực hiê ̣n các hành vi CSSKSS ở lứa tuổi vi ̣ thành niên còn hạn chế [34]

Cuối cùng, liên quan đến chủ đề CSSKSS, một ấn phẩm cần được nhắc tới

là công trình “Tổng quan các nội dung nghiên cứu về sức khỏe, sức khỏe sinh sản

vị thành niên ở Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2003” do Đỗ Ngo ̣c Tấn và

Nguyễn Văn Thắng (2004) thực hiện Bằng việc tổng quan lại các nô ̣i dung nghiên cứu về sức khỏe , sức khỏe sinh sản vị thành niên ở Việt Nam , các tác giả

tương đồng với các mối quan tâm khác của vi ̣ thành niên hiê ̣n nay [30]

Thứ ba , đối với chủ đề nghiên cứu về phụ nữ và SKSS của PNKT , những

nghiên cứu sau đây là những nghiên cứu đáng chú ý:

Bài viết "Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ tàn tật một vấn đề bỏ ngỏ "

của Lê Khánh Chi (2003) bàn về bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ CSSKSS Qua nghiên cứu của mình, tác giả cho biết phụ nữ tàn tật khó tiếp cận các thông tin, dịch vụ chăm sóc; phụ nữ cũng thường tránh né các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản của bản thân Tác giả cũng chỉ ra rằng các cơ sở y tế thường bỏ qua các đối tượng là NKT khi tiến hành công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng Ngoài ra, cơ sở vâ ̣t chất , trang thiết bi ̣ chăm sóc sức khỏe không đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật [8, tr40 - tr42]

Công trình nghiên cứu “Những điểm mở và thách thức cơ bản với phương

thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người cho phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam” của Christian Salazar Volkmann (2004) đề cập đến vấn đề quyền của

phụ nữ Qua nghiên cứu này, tác giả đã làm rõ những cơ hội và thách thức cơ bản liên quan đến chương trình đảm bảo quyền và sự tham gia của phụ nữ Việt Nam trên cơ sở tiếp cận từ quyền con người Tác giả công trình nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng thực hiện đầy đủ quyền đối với phụ nữ mang lại động lực cần thiết để họ tham gia có hiệu quả vào các hoạt động xã hội [56]

Trang 17

8

Qua việc điểm lại các công trình nghiên cứu về NKT, CSSKSS, PNKT với

CSSKSS, chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét sau đây Thứ nhất, cho đến nay,

nhiều công trình nghiên cứu về các chủ đề này đã được công bố ở trong nước và trên thế giới Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về SKSS/CSSKSS của PNKT vẫn còn khá hạn chế về số lượng Thêm nữa, các công trình nghiên cứu về SKSS/CSSKSS của PNKT ít dựa trên các điều tra, khảo sát thực tế một cách có

hệ thống Thứ hai, nghiên cứu vấn đề SKSS/CSSKSS của PNKT từ góc nhìn của

công tác xã hội hầu như còn vắng bóng.Trong khi đó, nghiên cứu SKSS/CSSKSS của PNKT từ góc nhìn công tác xã hội không chỉ mở rộng thêm sự hiểu biết mà còn góp phần đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện hoạt động, dịch vụ

CSSKSS cho NPKT Vì những lý do này, việc triển khai đề tài “Chăm sóc sức

khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết - tật tiếp cận công tác xã hội” là thực sự cần

thiết nhằm bổ sung những khoảng trống mà các nghiên cứu đi trước còn để lại

3 Ý nghĩa của nghiên cƣ́u

3.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài

Đề tài “Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết - tật tiếp cận

công tác xã hội” góp phần cung cấp thêm một góc nhìn mới về CSSKSS cho

một nhóm xã hội đặc thù Bằng việc phân tích vấn đề nghiên cứu từ góc nhìn công tác xã hội trên cơ sở một số lý thuyết được vận dụng như Lý thuyết về giới,

Lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền con người, Lý thuyết tiếp cận dựa trên nhu cầu con người, nghiên cứu này sẽ đưa ra một số kết luận khái quát về CSSKSS cho

PNKT Những kết luận khái quát này góp phần mở rộng sự hiểu biết mang tính

lý luận về một lĩnh vực cụ thể của đời sống PNKT - cho đến nay lĩnh vực này

chưa được nghiên cứu thỏa đáng ở Việt Nam dưới góc nhìn Công tác xã hội

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu đề tài Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết - tật tiếp

cận công tác xã hội” là việc làm thực sự có ý nghĩa thực tiễn trên các bình diện

cụ thể sau đây Thứ nhất, bằng việc chỉ ra thực trạng CSSKSS cho PNKT, những

khó khăn mà PNKT gặp phải trong CSSKSS, nghiên cứu này sẽ góp phần vào

Trang 18

9

việc hình thành thái độ đúng đắn hơn của cộng đồng xã hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan đối với một trong những nhu cầu quan trọng của một nhóm xã hội

đặc thù – nhóm PNKT Thứ hai, qua việc đánh giá được mức độ chuyên nghiệp

trong các hoạt động, dịch vụ liên quan đến CSSKSS cho PNKT từ góc nhìn Công tác xã hội, nghiên cứu này sẽ đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả của các hoạt động, dịch vụ này nhằm đáp ứng tốt hơn

nhu cầu CSSKSS của PNKT Thứ ba, kết quả nghiên cứu của đề tài còn góp phần

làm cơ sở trong việc xây dựng và triển khai các chính sách, chương trình trợ giúp NKT của cộng đồng nói chung, và của các nhà quản lý, các nhân viên công tác

xã hội nói riêng trong việc hỗ trợ PNKT tiếp cận các dịch vụ CSSKSS Cuối

cùng, cần phải nói thêm rằng kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham

khảo, tài liệu học tập phục vụ đào tạo, tập huấn trong các chương trình đào tạo, tập huấn Công tác xã hội

4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t

4.2 Khách thể nghiên cứu

Phụ nữ khuyết tật từ 15 đến 49 tuổi, gia đình họ, cán bộ y tế

5 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn vấn đề nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung tìm hiểu vấn đề chăm sóc

sức khỏe sinh sản cho phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t dưới góc nhìn Công tác xã hội

Phạm vi thu thập thông tin: Đề tài thu thập thông tin tại 2 huyện (Từ Liêm,

Ba Vì) và 4 quận (Thanh Xuân, Long Biên, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng) của thành phố

Hà Nội, từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011

6 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu thực trạng CSSKSS cho PNKT, những khó khăn trong việc chăm sóc SKSS cho PNKT và mức độ chuyên nghiệp của hoạt động hỗ trợ CSSKSS cho PNKT từ góc nhìn công tác xã hội Trên cơ sở

đó, đề tài sẽ đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CSSKSS cho PNKT

Trang 19

10

6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Chỉ ra thực trạng CSSKSS cho phụ nữ khuyết tật

- Phân tích những khó khăn trong việc CSSKSS cho phụ nữ khuyết tật

- Đánh giá mức độ chuyên nghiệp của các hoạt động hỗ trợ PNKT trong CSSKSS

- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng CSSKSS cho PNKT

7 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng của việc CSSKSS cho phụ nữ khuyết tật hiện nay như thế nào?

- Những khó khăn trong việc CSSKSS cho PNKT biểu hiện cụ thể như thế nào?

- Dưới góc nhìn của công tác xã hội , các hoạt động hỗ trơ ̣ PNKT trong CSSKSS đã mang tính chuyên nghiệp chưa?

8 Giả thuyết nghiên cứu

- Phần lớn PNKT nhâ ̣n thức chưa quan tâm đúng mức đến CSSKSS , chưa

có kiến thức tốt về CSSKSS , và chưa tiếp câ ̣n di ̣ch vu ̣ CSSKSS một cách hiệu quả

- Những PNKT có học vấn thấp, lớn tuổi thường gặp nhiều khó khăn trong việc CSSKSS cho bản thân, trong việc tiếp cận thông tin và dịch vụ về SCSKSS

- Dưới góc nhìn công tác xã hội , những hoa ̣t đô ̣ng hỗ trợ PNKT trong viê ̣c CSSKSS chưa mang tính chuyên nghiê ̣p cao

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phân tích tài liệu

Các nguồn tư liệu chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:

- Các báo cáo: Báo cáo tóm tắt về vấn đề sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của người khuyết tật tại Hội nghị quốc gia về tình dục và sức khỏe ; Báo cáo của HESVIC Báo cáo nghiên cứu thực trạng quản lý dịch vụ ch ăm sóc sức khỏe

bà mẹ tại Việt Nam ; Báo cáo về hoạt động chăm sóc sức khỏe và các hoạt động

khác của Hội người khuyết tật…

Trang 20

11

- Văn bản pháp lý : Pháp lệnh về Người tàn tật , Hiến pháp 1992, Pháp lệnh dân số 2003, Công ước Q uốc tế về Quyền của Người khuyết tâ ̣t 2006, Luâ ̣t Người khuyết tâ ̣t Viê ̣t Nam 2010

- Chương trình: Chiến lươ ̣c quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 – 2010 và

2011 – 2020

- Các công trình nghiên cứu , sách, báo, đánh giá, bài viết về người khuyết tật, sức khỏe sinh sản của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, học giả trong cả nước

9.2 Phỏng vấn sâu

Trong khuôn khổ của đề tài, 17 phỏng vấn sâu đã được thực hiện nhằm thu thập thông tin định tính phục vụ mục đích nghiên cứu Trong số 17 phỏng vấn sâu, có 10 phỏng vấn sâu đối với PNKT thuộc các dạng tật khác nhau Trong quá trình phỏng vấn, những phụ nữ khuyết tật ở dạng nghe, nói, nhìn, khuyết tật thần kinh, tâm thần, khuyết tật trí tuệ luôn có người thân của họ hỗ trợ trả lời Ngoài

10 phỏng vấn sâu đối với PNKT, 02 cán bộ y tế làm việc trong lĩnh vực CSSKSS tại Bệnh viện thành phố và Trạm y tế xã; 05 người thân của PNKT, là những người trực tiếp chăm sóc, người đỡ đầu hoặc sống cùng với PNKT cũng đã được phỏng vấn

Nội dung của các cuộc phỏng vấn sâu tập trung thu nhận những thông tin định tính về thực trạng CSSKSS của PNKT, chất lượng dịch vụ CSSKSS tại các

cơ sở, những thuận lợi, khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ CSSKSS của bản thân PNKT và người chăm sóc

9.3 Thảo luận nhóm

Trong khuôn khổ đề tài , tác giả thực hiện 02 thảo luận nhóm , mỗi nhóm

6 PNKT sống trên đi ̣a bàn Hà Nô ̣i , cụ thể như sau:

Thảo luận nhóm thứ nhất: Đối tượng là những PNKT có thể tự chăm sóc

Mục đích của cuộc thảo luận nhóm này là nhằm tìm hiểu nhận thức của nhóm PNKT về vấn đề CSSKSS và những khó khăn của nhóm PNKT có khả năng tự chăm sóc bản thân Bên ca ̣nh đó cuộc thảo luận nhóm này còn cung cấp thông

Trang 21

12

tin về điều kiê ̣n cơ sở vâ ̣t chất của các cơ sở khám chữa bê ̣nh , thái độ của cán

bô ̣ y tế và nhu cầu của nhóm PNKT có khả năng tự chăm sóc bản thân về vấn

đề chăm sóc sức khỏe sinh sản

Thảo luận nhóm thứ hai: Đối tượng là PNK T không có khả năng lao

đô ̣ng ta ̣o thu nhâ ̣p , phải có người hỗ trợ trong việc chăm sóc bản thân , không thể sống đô ̣c lâ ̣p Mục đích của cuộc thảo luận nhóm này là nhằm thu thập

thông tin về sự hiểu biết , đánh giá tầm quan tro ̣ng và nhu cầu của nhóm PNKT không có khả năng tự chăm sóc bản thân về CSSKSS ; đánh giá thái đô ̣ của người hỗ trợ và chất lượng các di ̣ch vu ̣ CSSKSS Thành phần tham gia thảo luận nhóm ngoài PNKT còn có thêm những người chăm sóc hoặc người hỗ trợ

để giúp PNKT nhằm hỗ trợ PNKT trong quá trình thảo luận

9.4 Khảo sát xã hội học

Khảo sát xã hội học được tiến hành đối với 50 PNKT độ tuổi từ 15 đến 49 sống trên địa bàn 2 huyện (Từ Liêm, Ba Vì) và 4 quận (Thanh Xuân, Long Biên, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng) của thành phố Hà Nội, từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011

ở độ tuổi 15 - 18 tuổi chiếm 8%, PNKT ở đô ̣ tuổi 19 - 35 chiếm 58% và còn lại 34%

là PNKT ở độ tuổi 36 - 39 tuổi Độ tuổi trung bình của PNKT trong mẫu khảo sát là

30, thấp nhất là 15 tuổi, cao nhất là 45 tuổi Số PNKT trong nhóm nghiên cứu tâ ̣p

trung nhiều ở nhóm tuổi từ 19 - 35 tuổi (58 %) Về hôn nhân, 54% PNKT chưa kết

hôn, 34% PNKT đã kết hôn, 4% PNKT đã ly hôn/ ly thân và 8% PNKT góa chồng

Về học vấn, 18% PNKT có trình đô ̣ đa ̣i ho ̣c; 12% PNKT có trình đô ̣ cao đẳng; tỷ lệ

PNKT không biết chữ và có trình đô ̣ trên đa ̣i ho ̣c đều là 10%; trình độ trung học phổ

thông, trung ho ̣c cơ sở và tiểu ho ̣c đều là 12%; trung cấp có 14% PNKT Về các dạng

khuyết tật, 30% PNKT ở dạng khuyết tật vận động; 17% là khuyết tật nghe, nói; 20%

khuyết tật nhìn; 15% khuyết tật thần kinh, tâm thần và 18% khuyết tật trí tuệ Về nghề

nghiê ̣p, 54% PNKT là nhân viên văn phòng, số PNKT là giáo viên và ở nhà nô ̣i trợ

đều là 14%, 12% PNKT kinh doanh, 4% PNKT là công nhân và 2% là nông dân Về

quan hệ của PNKT với những người sống cùng nhà, chủ yếu PNKT sống cùng với bố

Trang 22

13

mẹ (38%), sau đó là sống cùng chồng (32%), và sống cùng với bạn bè là 26%, sống cùng con cái là 20%, sống cùng anh chi ̣ em ruô ̣t là 16%, 2% PNKT đang sống mô ̣t mình Như vâ ̣y, trong số PNKT được hỏi thì hầu hết là sống cùng với những người thân thiết hoă ̣c ba ̣n bè Đây cũng là điều kiê ̣n để PNKT có thể nhâ ̣n được sự hỗ trợ khi cần thiết từ những người sống cùng

Về bảng hỏi được sử dụng để thu thập thông tin, bảng hỏi có 32 câu Cấu

trúc của bảng hỏi gồm 3 phần Phần thứ nhất của bảng hỏi là phần về thông tin chung của người được hỏi Phần thứ hai thu thập thông tin về nhận thức, thực trạng và khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSKSS của PNKT Phần thứ ba bao gồm những câu hỏi liên quan đến các hoạt động, dịch vụ hỗ trợ PNKT trong việc CSSKSS

Về quá trình thu thập thông tin, việc thu thập thông tin tại các huyện/

quận được thực hiện theo phương pháp “cuốn chiếu” Thời gian thu thập thông tin là 15 ngày Điều tra viên là bản thân tác giả luận văn và 02 sinh viên

đã được tập huấn kỹ lưỡng về nội dung bảng hỏi và phương pháp thu thập

thông tin Bên cạnh đó , quá trình thu thâp thông tin còn có sự hỗ trợ trả lời

phiếu của người chăm sóc cho PNKT Trong quá trình khảo sát , tác giả gă ̣p những khó khăn cụ thể như sau : Do mẫu khảo sát là PNKT ở đô ̣ tuổi 15 – 49 sống ta ̣i các gia đình và các trung tâm trên địa bàn thành phố Hà Nô ̣i nên quá

trình chọn mẫu gặp khó khăn Cụ thể là việc tìm gặp và xin phỏng vấn PNKT cần nhiều thời gian , công sức và sự kiên trì Đây là lý do dẫn đến dung lượng mẫu chỉ có 50 PNKT Bên ca ̣nh đó , vấn đề CSSKSS đang còn là mô ̣t mảng rất mới mẻ trong nhâ ̣n thức của PNKT nên trong quá trình khảo sát , nhiều PNKT

đã từ chối trả lời Thêm nữa, nhiều PNKT đồng ý trả lời như họ chưa thật sự cởi mở , chia sẻ thông tin liên quan đến SKSS và CSSKSS Cũng cần phải nói thêm rằng, khi phỏng vấn PNKT có các dạng tật như khuyết tật thần kinh, tâm thần và khuyết tật trí tuệ thì thường là người nhà của PNKT phải điền phiếu giúp họ hoặc là nhóm nghiên cứu phải điền phiếu giúp dựa trên ý kiến của người được hỏi

Trang 23

14

Về việc xử lý phiếu điều tra sau khi thông tin được thu thập, thông tin thu

được từ điều tra được kiểm tra thủ công ngay sau khi thu thập tại địa bàn Sau

đó, các phiếu đã điền đầy đủ thông tin lại được kiểm tra về tính lôgic của các câu trả lời một cách thủ công trước khi nhập vào máy tính Toàn bộ thông tin được nhập bằng phần mềm EFIDATA 2.1 Sau đó, số liệu được chuyển sang phần mềm SPSS 13.0 Việc phân tích thống kê được thực hiện trên cơ sở mục đích nghiên cứu

Trang 24

15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm công cu ̣

1.1.1 Công tác xã hội

Theo từ điển Bách khoa ngành công tác xã hội (1995): “Công tác xã hội là

một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo

ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”

[25, tr.18]

Theo Liên hiệp Công tác xã hội thế giới: “Công tác xã hội là hoạt động

chuyên môn nhằm giúp con người đáp ứng các nhu cầu nảy sinh trong cuộc sống, trong quá trình tương tác giữa cá nhân và môi trường, giúp con người phát huy hết tiềm năng của họ” [25, tr.18]

Đại hội của Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế tổ chức tại Motreal (Canada) vào tháng 7 năm 2004, đã đưa ra một định nghĩa mới về Công tác xã

hội như sau: “Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải

quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực, giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng tốt đẹp Vận dụng lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội can thiệp sự tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề công tác xã hội” [25, tr.18]

“Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [25, tr.19]

Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy, công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp giúp nâng cao năng lực, thúc đẩy khả năng tự giải quyết các vấn đề cá nhân , gia đình và cộng đồng ; kết nối các nguồn lực , dịch vụ nhằm hỗ trợ cá nhân , gia đình và cộng đồng ; giúp đề xuất chính sách , cải thiện môi trường Trong khuôn khổ của luâ ̣n văn , tác giả vận dụng góc nhìn công tác

xã hội để nghiên cứu CSSKSS ở PNKT

Trang 25

16

1.1.2 Khuyết tật, người khuyết tật, phân loại khuyết tật và phụ nữ khuyết tật

1.1.2.1 Khuyết tật

Trong hê ̣ thống phân loa ̣i Quốc tế ICF, WHO đi ̣nh nghĩa khuyết tâ ̣t như sau:

“Khuyết tật là thuật ngữ chung ch ỉ tình trạng khiếm khuyết , hạn chế vận

động và tham gia , thể hiê ̣n những mặt tiêu cực trong quan hê ̣ tương tác giữa cá nhân một người (về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác)” [50, tr213]

“Khuyết tật” là bất kỳ giới hạn hoặc mất chức năng bắt nguồn từ sự khiếm

khuyết làm ngăn cản viê ̣c thực hiê ̣n một hoạt động trong khoảng thời gian được coi là bình thường đối với một con người [38, tr49]

Trong pha ̣m vi của luâ ̣n văn tác giả quan niệm khuyết tâ ̣t là sự khiếm khuyết khiến cho phu ̣ nữ gă ̣p khó khăn khi CSSKSS của bản thân và chính vì vâ ̣y mà ho ̣ mất đi những cơ hô ̣i trong SKSS

1.1.2.2 Phân loại khuyết tật

Theo Luâ ̣t Người khuyết tâ ̣t Viê ̣t Nam , khuyết tâ ̣t được phân loa ̣i thành các dạng sau:

Khuyết tật vận động : Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu ,

cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến ha ̣n chế trong vâ ̣n đô ̣ng, di chuyển

Khuyết tật nghe, nói: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe , nói hoặc

cả nghe và nói , phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói

Khuyết tật nhìn: Là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận

ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vâ ̣t trong điều kiê ̣n ánh sáng và môi trường bình thường

Khuyết tật thần kinh , tâm thần: Là tình trạng rối loạn tri giác , trí nhớ, cảm

xúc, kiểm soát hành vi , suy nghĩ và có những biểu hiê ̣n với những lời nói , hành

đô ̣ng bất thường

Khuyết tật trí tuê ̣: Là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức , tư duy

biểu hiê ̣n bằng viê ̣c châ ̣m hoă ̣c khôn g thể suy nghĩ , phân tích về sự vâ ̣t , hiê ̣n tươ ̣ng, giải quyết sự việc

Trang 26

17

Khuyết tật khác: Là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến

cho hoa ̣t đô ̣ng lao đô ̣ng , sinh hoa ̣t , học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp được quy đi ̣nh ta ̣i các da ̣ng trên [23, tr2]

Trong pha ̣m vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tâ ̣p trung tìm hiểu viê ̣c CSSKSS của PNKT ở các dạng tật như khuyết tật vận động ; khuyết tâ ̣t nghe nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ Với những người có khuyết tâ ̣t trí tuệ, khuyết tâ ̣t thần kinh, tâm thần trong quá trình thu thập thông tin, chúng tôi phải nhờ đến người thân của họ hỗ trợ trả lời các phiếu điều tra

1.1.2.3 Người khuyết tật

Theo công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tâ ̣t năm 2006, “Người

khuyết tật bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất , trí tuê ̣, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội” [21, tr2] Theo Luâ ̣t Người khuyết tâ ̣t Viê ̣t Nam năm 2010: “Người khuyết tật là người bi ̣ kh iếm khuyết một

hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bi ̣ suy giảm chức năng được biểu hiê ̣n dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”[23, tr1]

Trong pha ̣m vi nghiên cứu của đề tài , tác giả sử du ̣ng khái niê ̣m người khuyết tâ ̣t theo Luâ ̣t Người khuyết tâ ̣t Viê ̣t Nam năm 2010

1.1.2.4 Phụ nữ khuyết tật

Từ khái niê ̣m khuyết tâ ̣t và người khuyết tâ ̣t , trong khuôn khổ nghiên cứu

này chúng tôi đưa ra khái niê ̣m phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t như sau : Phụ nữ khuyết tật là

những phụ nữ bi ̣ khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bi ̣ suy giảm chức năng được biểu hiê ̣n dưới dạng tật khiến cho lao động , sinh hoạt, học tập gặp khó khăn

Do đề tài này tập trung nghiên cứu CSSKSS của PNKT, nên pha ̣m vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở nhóm phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t trong đô ̣ tuổi từ 15 đến 49 tuổi

bị các dạng tật như khuyết tật vận động , khuyết tâ ̣t nghe nói , khuyết tâ ̣t nhìn và

mô ̣t số da ̣ng khuyết tâ ̣t khác

Trang 27

18

1.1.3 Sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản

Theo chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển

(Hội nghị Cairo) thì "sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn về thể

chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là bệnh tật hay ốm yếu, trong tất cả mọi thứ liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quá trình của nó Do đó, sức khỏe sinh sản hàm ý là con người có thể có một cuộc sống tình dục thỏa mãn,

an toàn, có khả năng sinh sản và được tự do quyết định khi nào và thường xuyên thế nào trong việc này” [33, tr11]

Có thể nói rằng với quan niệm của Chương trình hành động của Hội nghị

quốc tế về dân số và phát triển: “sức khỏe sinh sản hàm ý là con người có thể có

một cuộc sống tình dục thỏa mãn, an toàn, có khả năng sinh sản và được tự do quyết định khi nào và thường xuyên thế nào trong việc này” chúng ta thấy SKSS

phản ánh “quyền của phụ nữ và nam giới được thông tin và tiếp cận các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp tùy theo sự lựa chọn của họ cũng như được lựa chọn những phương pháp thích hợp nhằm điều hòa việc sinh đẻ không trái với pháp luật, quyền được tiếp cận với các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp cho người phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ

an toàn, và tạo cho các cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có đứa con khỏe mạnh” [33, tr12]

Theo Bộ Y tế (năm 2000) sức khỏe sinh sản được định nghĩa như sau:

“SKSS là sự thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ đơn

thuần là không có bệnh tật hoặc tàn phế của hệ thống sinh sản Điều này cũng hàm ý là mọi người, kể cả nam và nữ, đều có quyền được nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ CSSK, các biện pháp KHHGĐ an toàn, có hiệu quả và chấp nhận được theo sự lựa chọn của mình, bảo đảm cho người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng cơ may tốt nhất để sinh được đứa con lành mạnh” (ICPD, 1994) [60]

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO): “CSSKSS là các phương pháp, kỹ thuật,

và dịch vụ đóng góp vào sức khỏe sinh sản và hạnh phúc bằng cách ngăn ngừa

và giải quyết các vấn đề sức khỏe sinh sản Nó cũng bao gồm sức khoẻ tình dục,

Trang 28

19

mục đích trong đó là nâng cao đời sống và quan hệ cá nhân, và không chỉ đơn thuần là tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và lây nhiễm qua đường tình dục” [60]

Chương trình hành đô ̣ng của Hô ̣i nghi ̣ Cai -rô cũng đã đề câ ̣p đến nô ̣i dung

cơ bản của CSSKSS bao gồm:

(1) Tư vấn, giáo dục, truyền thông và di ̣ch vu ̣ KHHGĐ an toàn , hiê ̣u quả và chấp nhâ ̣n tự do lựa cho ̣n của khách hàng, kể cả nam giới

(2) Chú trọng sức khỏe vị thành niên ngay từ lúc bước vào tuổi hoạt động tình dục và sinh sản

(3) Giáo dục sức khỏe và chăm sóc sức khỏe bà mẹ , trẻ sơ sinh bao gồm cả chăm sóc trong lúc có thai, khi đẻ và sau khi đẻ

(4) Phòng ngừa và điều trị bệnh viêm nhiễm đường sinh dục và các bệnh lây truyền qua đường tình du ̣c

(5) Điều tri ̣ vô sinh

(6) Xử trí các vấn đề sức khỏe phu ̣ nữ như các bê ̣nh phu ̣ khoa , giáo dục tình dục học cho cả nam và nữ, huy đô ̣ng nam giới có trách nhiê ̣m trong mỗi hành vi tình dục và sinh sản [30, tr17]

Trong khuôn khổ của nghiên cứu này , tác giả luận văn đi sâu vào tìm hiểu thực tra ̣ng các hoa ̣t đô ̣ng CSSKSS của PNKT như : Nhâ ̣n thức của PNKT về SKSS và tầm quan tro ̣ng của viê ̣c CSSKSS ; khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSKSS hiê ̣n nay của PNKT; chất lượng các di ̣ch vu ̣ CSSKSS

1.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.1 Lý thuyết về giới

Bản chất của lý thuyết giới là hệ thống lý luận xoay quanh một số câu hỏi cơ bản: Nguồn gốc nào tạo nên những khác biệt giới? Cơ chế nào đang duy trì những khác biệt giới đó? Cũng như làm thế nào để thu hẹp khoảng cách giới, hay xóa bỏ những bất bình đẳng giới đang tồn tại?

Lý thuyết nữ quyền tự do (Libral Feminism): Theo lý thuyết này, sự phụ thuộc của phụ nữ có nguồn gốc trong tập quán và hạn chế của luật pháp Trước mắt cần tập trung vào thay đổi tư tưởng và thực tiễn văn hóa

Trang 29

20

Bởi vì xã hô ̣i tin tưởng mô ̣t cách sai lầm rằng do bản chất của mình , phụ nữ kém năng lực hơn nam giới về trí tuệ hoặc thể chất , xã hội đã gạt bỏ phụ nữ ra khỏi hàn lầm viện , các diễn đàn và thương trường Phụ nữ ít có cơ hội để phát huy trí tuê ̣ của mình và vì vâ ̣y trí tuê ̣ của ho ̣ lu ôn bi ̣ thấp hơn nam giới [31, tr67 - tr107]

Phụ nữ không có quyền trong tình dục khi vấn đề tình dục của họ do nam giới quyết đi ̣nh và khi ho ̣ không tự quyết đi ̣nh vấn đề sinh sản Phụ nữ không đươ ̣c bình đẳng khi trách nhiê ̣m gia đì nh trút lên ho ̣, khi nam giới được coi là “trí tuê ̣” còn phu ̣ nữ là “lao đô ̣ng chân tay” [31, tr67 - tr107]

Lý thuyết nữ quyền xã hội chủ nghĩa (Socialist Feminism): Thuyết này xuất hiện vào những thập kỷ đầu của thế kỷ 19 tại Pháp và Anh Trong thời kỳ này, các lý luận gia nữ quyền xã hội chủ nghĩa tập trung phân tích về vấn đề bình đẳng, quyền công dân, những vấn đề loại trừ phụ nữ ra khỏi trật tự chính trị, những vấn đề thay đổi xã hội từ khía cạnh đạo đức Lý thuyết này cho rằng sự áp bức đối với phụ nữ là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản và nó được củng cố bởi luật pháp bất bình đẳng [31, tr67 - tr107]

Lý thuyết nữ quyền Mác xit (Maxist Feminism): Lý thuyết này cho rằng sự

áp bức phụ nữ bắt nguồn trong việc nảy sinh chế độ tư hữu , giải phóng phụ nữ phụ thuộc vào việc phụ nữ tham gia vào nền sản xuất Trong xã hô ̣i, bên ca ̣nh sự

áp bức của giai cấp , chủng tộc, phụ nữ còn chịu thêm sự áp bức về giới [31, tr67

- tr107]

Lý thuyết nữ quyền triệt để (Radical Feminism): Xuất hiện vào cuối năm

1960, bắt đầu từ Mỹ sau đó lan rộng ra các nước Châu Âu và Nhật Bản, thuyết này cho rằng cơ sở của áp bức là từ cách nhìn không đúng đắn của nam giới về khả năng tái sinh sản và quan hệ tình dục, thuyết này tập trung phân tích lý do sự

lệ thuộc của phụ nữ vào đàn ông và bằng phương thức nào sự lệ thuộc đó được củng cố cũng như hậu quả mà nó gây ra [31, tr67 - tr107]

Từ tiếp cận phụ nữ trong phát triển (WID) đến tiếp cận Giới và phát triển (GAD) Có một vài điểm nghi ngờ được đặt ra: Liệu phụ nữ có được bình đẳng

Trang 30

Các tiếp cận dựa trên lý thuyết về giới cho phép chúng ta nhìn nhận vấn đề CSSKSS của PNKT đang là vấn đề cá nhân của họ, chưa có sự chia sẻ của nam giới và các thành viên trong gia đình Việc nhìn nhận vấn đề tình dục, kết hôn, mang thai, làm mẹ của người phụ nữ vốn đơn thuần chỉ là chức năng duy trì nòi giống, tuy nhiên với PNKT những chức năng cơ bản đó cũng chưa được thừa nhận và hỗ trợ

Lý thuyết về giới cho chúng ta xem xét một cách hài hòa và đầy đủ nhất về vấn đề giới , phụ nữ hay nam giới đều phải được nhìn nhận như nhau trong mọi vấn đề, trong đó bao hàm cả viê ̣c CSSKSS

1.2.2 Lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền con người

Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứa đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập kế hoạch và tiến trình lập kế hoạch và tiến trình thực hiện các hoạt động công tác xã hội [25, tr106]

Cách tiếp cận dựa trên quyền lấy nền tảng cơ bản chính là hệ thống quyền con người đã được pháp luật quốc tế bảo vệ Với cách tiếp cận theo quyền, nhân viên xã hội cần dựa trên hệ thống quyền con người để xây dựng các phương pháp và hoạt động của những mô hình phát triển xã hội [25, tr107]

Cách tiếp cận theo quyền con người cho phép chúng ta nhìn nhận vấn đề CSSKSS cho PNKT như là quyền cơ bản của họ Theo cách tiếp cận này, vấn đề phân biệt, kỳ thị, yếu thế, thiệt thòi là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những bất bình đẳng trong CSSKSS mà NKT phải chịu Theo cách tiếp cận quyền con

Trang 31

22

người, vấn đề mà những người PNKT gặp phải khi tiếp cận các dịch vụ CSSKSS không đảm bảo hoặc không phù hợp không phải là lỗi của một cá nhân, cũng không phải đổi lỗi cho một khái niệm chung chung như xã hội Cách tiếp cận theo quyền con người luôn đưa ra đối tượng tác động cụ thể, đó chính là con người và quyền của mình Theo cách tiếp cận này, nhân viên xã hội thực hiện việc trao quyền cho con người, đồng thời đảm bảo những bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình [25, tr112]

Trên phương diện vĩ mô, cách tiếp cận dựa trên quyền có bàn đến tầm quan trọng của nhà nước và chính phủ trong mối quan hệ tương quan với công dân của họ

về mặt quyền và nghĩa vụ Cách tiếp cận theo quyền lôi kéo sự chú ý của nhà nước về mặt chăm lo đời sống của những người dân dễ bị tổn thương, kể cả những người dân không thể tự mình đứng lên đòi quyền cho mình [25, tr115]

Tiếp cận dựa trên quyền giúp nhân viên xã hội hướng đến những giải pháp mang tính bền vững Vấn đề CSSKSS cho PNKT không đơn giản chỉ là thiếu các dịch vụ hoặc chất lượng các dịch vụ chưa đảm bảo mà bởi vì ngay cả khi có các dịch vụ chăm sóc, PNKT vẫn khó khăn trong việc tiếp cận với những lý do: Vị trí

xã hội thấp kém, sự thiếu quan tâm của xã hội Cách tiếp cận dựa trên quyền dựa trên quan niệm, những NKTcần phải được bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử, sự bất công và sự thờ ơ của xã hội

1.2.3 Lý thuyết tiếp cận dựa trên nhu cầu con người

Là con người xã hội, mỗi người đều có những nhu cầu, nhu cầu về vật chất

và nhu cầu về tinh thần Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và phát triển Nhu cầu con người phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhận thức và vị trí xã hội của họ Theo thuyết nhu cầu của Maslow, con người là một thực thể sinh lý - tâm lý

xã hội Do đó, con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống và nhu cầu xã hội Theo ông, ông chia nhu cầu thành 5 bậc thang từ thấp đến cao: Nhu cầu sinh ho ̣c, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hô ̣i, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự thể hiê ̣n [25, tr111]

Trang 32

23

Biểu 1.1: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow [25, tr109]

Nhu cầu cấp thấp gồm hai nhu cầu về sinh ho ̣c (1) và an toàn (2) Nhu cầu về sinh ho ̣c là nhu cầu tối thiểu nhưng cần thiết nhất đảm bảo cho con người tồn tại bao gồm các hành vi: ăn, uống, mặc, ở, ngủ nghỉ, đi lại… Nhu cầu về an toàn không bị đe dọa về sức khỏe, tính mạng, công việc, gia đình Nhu cầu này thể hiện trong cả thể chất và tinh thần [25, tr112]

Nhu cầu cấp cao gồm ba nhu cầu xã hô ̣i (3), tôn trọng (4) và tự thể hiê ̣n (5) Nhu cầu về xã hội là các nhu cầu về tình yêu thương, được chấp nhận và được tham gia vào tổ chức, đoàn thể nào đó trong xã hội Khi thỏa mãn được nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì con người có xu hướng được tôn trọng và ghi nhận những giá trị cá nhân như quyền lực , địa vị, uy tín… Cao nhất trong thang nhu cầu của con người là nhu cầu thực hiê ̣n hóa bản thân [25, tr114 - tr116]

Thuyết nhu cầu làm căn cứ cho việc nhận định những nhu cầu của con người nói chung Tuy nhiên, đối với mỗi đối tượng cụ thể và nhất là đối với từng

cá nhân cụ thể lại có những nhu cầu khác nhau, vì họ là những cá thể độc lập với những đặc điểm riêng, nằm trong những bối cảnh không giống nhau Tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp nhân viên xã hội tránh được việc "đánh đồng" và chủ quan khi cung cấp các dịch vụ hỗ trợ Thay vào đó nhân viên xã hội cần tìm kiếm những nhu cầu thực mà đối tượng đang mong muốn được thỏa mãn Đối tượng và vấn đề của họ

Trang 33

24

được đặt vào vị trí trung tâm, chứ không phải ý muốn chủ quan của cơ quan hỗ trợ hay của nhân viên xã hội Cung cấp đúng các dịch vụ mà đối tượng mong muốn cũng như các hỗ trợ cần thiết để giải quyết đúng và hiệu quả vấn đề của đối tượng [25, tr117 -120]

Có thể nói rằng, với cách tiếp cận nhu cầu, chúng ta thấy CSSKSS cho PNKT chú ý nhu cầu thực sự của PNKT chứ không phải nhu cầu của nhà cung cấp dịch vụ hay của các tổ chức Việc cung cấp các dịch vụ cho đối tượng là NKT cần xem xét những yếu tố riêng biệt về cơ thể, sức khỏe, khả năng tiếp cận của họ Bên cạnh đó, nhìn nhận đúng về nhu cầu của NKT, có nghĩa là NKT cũng có nhu cầu như những người bình thường khác về tâm lý, tình cảm, về đời sống cá nhân như mọi người là thực sự cần thiết

Tóm lại, lý thuyết về giới , lý thuyết tiếp câ ̣n dựa trên quyền con người, lý thuyết nhu cầu là nền tảng lý luận cho phép tác giả luận văn phân tích , lý giải những khó khăn , thuâ ̣n lợi và những nhu cầu của PNKT trong vấn đề CSSKSS Dựa trên góc nhìn c ông tác xã hội, tác giả luận văn cũng sẽ đánh giá dịch vụ CSSKSS cho PNKT từ đó đề xuất những giải pháp để nâng cao hơn tính chuyên nghiệp của dịch vụ CSSKSS dành cho PNKT

1.2.4 Luật pháp, chính sách liên quan đến người khuyết tật và chăm sóc sức khỏe sinh sản

Sau khi đã trình bày các quan điểm lý thuyết sẽ được vận dụng trong nghiên cứu vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người khuyết tật ở phần trên, đến đây chúng ta sẽ điểm lại những quy định của luật pháp và chính sách liên quan đến hai chủ đề quan trọng của luận văn là người khuyết tật và chăm sóc sức khỏe sinh sản

Trước hết, nói về các quy định của pháp luật và chính sách liên quan đến

người khuyết tật, có hai loại văn bản quan trọng cần được đề cập đến là Hiến pháp

và Luật Người khuyết tật Hiến pháp là văn bản luật có giá trị pháp lý cao nhất của Nhà nước đã cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về người khuyết tật Các bản Hiến Pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 đều khẳng định sự bình đẳng của

Trang 34

25

mọi công dân, trong đó có người khuyết tật Liên quan đến người khuyết tật và vấn

đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định quy định cụ thể về trách nhiệm của Nhà nước đối với người khuyết tậ và vấn đề chăm sóc sức khỏe nói chung, trong đó có SKSS Chẳng hạn, liên quan đến chăm sóc sức khỏe, Điều 58 của Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1 Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn

2 Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình”[63]

Liên quan đến người khuyết tật, khoản 2 Điều 59 ghi rõ:

“Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân hưởng thụ phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác.”[63]

Cùng với Hiến pháp, Luật Người Khuyết tật được năm 2010 cũng đã nêu rõ

Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật (Điều 4), chính sách của Nhà nước về người khuyết tật (Điều 5), trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với người khuyết tật (Điều 7), trách nhiệm của gia đình đối với người khuyết tật (Điều 8) Liên quan đến Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật , khoản 1d của

Điều 4 ghi rõ: Người khuyết tật “Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng,

học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch

và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật”[23, tr5]

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, vấn đề quan tâm chính là chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật Đối với việc chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật, Điều 21, Điều 22, và Điều 23 của Luật Người Khuyết tật quy định cụ thể như sau:

Điều 21 Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú

Trang 35

26

1 Trạm y tế cấp xã có trách nhiệm sau đây:

a) Triển khai các hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức phổ thông về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật; hướng dẫn người khuyết tật phương pháp phòng bệnh, tự chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng;

b) Lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe người khuyết tật;

c) Khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với phạm vi chuyên môn cho người khuyết tật

2 Kinh phí để thực hiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này do ngân sách nhà nước bảo đảm

Điều 22 Khám bệnh, chữa bệnh

1 Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh và

sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp

2 Người khuyết tật được hưởng chính sách bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế

3 Gia đình người khuyết tật có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh

4 Người khuyết tật là người mắc bệnh tâm thần ở trạng thái kích động, trầm cảm, có ý tưởng, hành vi tự sát hoặc gây nguy hiểm cho người khác được

hỗ trợ sinh hoạt phí, chi phí đi lại và chi phí điều trị trong thời gian điều trị bắt buộc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

5 Khuyến khích tổ chức, cá nhân hỗ trợ thực hiện khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật

Điều 23 Trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

1 Thực hiện biện pháp khám bệnh, chữa bệnh phù hợp cho người khuyết tật

2 Ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng, trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết tật, phụ nữ khuyết tật có thai theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh

Trang 36

27

3 Tư vấn biện pháp phòng ngừa và phát hiê ̣n sớm khuy ết tật; xác định khuyết tật bẩm sinh đối với trẻ em sơ sinh để kịp thời có biện pháp điều trị và chỉnh hình, phục hồi chức năng phù hợp

4 Thực hiện cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ khám bệnh, chữa bệnh chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật [23, tr16]

Như vậy, có thể nói rằng, từ Hiến pháp đến Luật Người Khuyết tật chúng ta thấy quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, chính sách của Nhà nước về người khuyết tật, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với người khuyết tật, trách nhiệm của gia đình đối với người khuyết tật, và việc chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật đã được quy định cụ thể

Thứ hai, đối với vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản , Chính phủ Việt Nam

đã quan tâm đến các vấn đề Dân số - KHHGĐ từ đầu những năm 1960, khi thành

lâ ̣p Ủy ban Quốc gia về sinh đẻ có kế hoạch (1963) Vào đầu những năm 1980, khi vấn đề dân số và KHHGĐ ngày càng trở lên quan tro ̣ng trong ưu tiên phát triển, Chính phủ đã thành lập cơ quan ngang Bộ là Ủy ban Quốc gia Dân số và sinh đẻ có kế hoa ̣ch (1984) Từ đó đến nay, nhiều chính sách và các văn bản pháp luâ ̣t quan tro ̣ng điều chỉnh hành vi dân số , KHHGĐ, SKSS đã được ban hành và

đi vào cuô ̣c sống Đặc biệt, từ sau Hô ̣i nghi ̣ Quốc tế về Dân số và Phát triển ở Cai

- rô năm 1994, chương trình Dân số - KHHGĐ của Viê ̣t Nam cũng chuyển hướng

với sự chú ý nhiều hơn dành cho CSSKSS

Có thể nói rằng cho đến nay, nhiều văn bản chính thức của Nhà nước liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản đã được ban hành Trong những văn bản

đó, cần phải đề cập đến Pháp lệnh dân số (Pháp lệnh dân số số UBTVQH11 ngày 09 tháng 01 năm 2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2003, được sửa đổi, bổ sung bởi: Pháp lệnh

06/2003/PL-số 08/2008/UBTVQH12 ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh dân số, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng

02 năm 2009) Trong Pháp lệnh dân số (Pháp lệnh số 08/2008/UBTVQH12), Khái niệm Sức khỏe sinh sản được định nghĩa ở khoản 8 Điều 3, như sau: “Sức

Trang 37

28

khoẻ sinh sản là sự thể hiện các trạng thái về thể chất, tinh thần và xã hội liên quan đến hoạt động và chức năng sinh sản của mỗi người” Điều 10 của Pháp lệnh Quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực

hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản

Khoản 3 của điều 10 ghi rõ định quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá

nhân trong việc “Bảo vệ sức khoẻ, thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh

nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến sức khỏe sinh sản.” Khoản c Điều 4 (về Quyền và nghĩa vụ của công dân về công tác dân số) đã ghi rõ công dân có các quyền: “Lựa chọn các biện pháp chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và nâng cao chất lượng dân số” [64]

Cùng với Pháp lệnh dân số, một văn bản quan trọng khác cũng cần được đề cập đến là “Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010" do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28 tháng 11 năm 2000; và Chiến

lược Dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 14 tháng 11 năm 2011 Có thể nói rằng Chiến lược

Dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 là văn bản quan trọng hiện nay liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản Chiến lược được chia làm 2 giai đoạn thực hiện: Từ 2011 đến 2015 và từ 2016 đến 2020 Trong quyết định của Thủ tướng phê duyệt chiến lược đã nêu rõ quan điểm như sau: Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 là một nội dung quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống từng người, từng gia đình và toàn xã hội” Trong quyết định của Thủ tướng, mục tiêu tổng quát của chiến lược cũng được nêu rõ: “Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [29]

Trang 38

29

Có thể nói rằng, cho đến nay, vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản đã được quy định cụ thể trong nhiều văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước Vấn đề đặt ra ở đây là quá trình áp dụng các văn bản đó trong thực tế chăm sóc sức khỏe sinh sản như thế nào? Hiệu quả thực hiện các văn bản đó ra sao? Để góp phần trả lời những câu hỏi này luận văn tìm hiểu sâu thực tiễn chăm sóc sức khỏe sinh sản cho một nhóm xã hội cụ thể - nhóm phụ nữ khuyết tật trên địa bàn Hà Nội

1.3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Một số đặc điểm về kinh tế - xã hội của Hà Nội

So với các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương khác trên cả nước, Hà Nội là thành phố có diện tích tự nhiên lớn nhất (3328,9 km2) Đồng thời cũng là địa phương đứng thứ hai về dân số với 6.699.600 người vào năm 2012 [45, tr7]

Về cơ cấu dân số năm 2011, ước tính dân số toàn thành phố đến tháng 12 năm

2011 là 6763,1 nghìn người tăng 2,2% so với năm 2010 Trong đó, dân số thành thị là 2905,4 ngàn người chiếm 43,5% tổng số dân của Hà Nội và tăng 3,2% so với năm 2010; dân số nông thôn là 3857,7 nghìn người tăng 1,5% Số người từ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế là 3626,4 nghìn người chiếm 70% so với tổng số người từ 15 tuổi trở lên, tăng không đáng kể so với năm 2010 (năm 2010: 3626,1 nghìn người); trong đó lực lượng lao động nữ chiếm 51,3% [45, tr12]

Về tăng trưởng kinh tế, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) giai đoạn

2007-2011 tăng bình quân 10,8%/năm Năm 2012, GRDP của Hà Nội tăng 8,1% thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch và mức tăng cùng kỳ của các năm trước Tuy nhiên, xu hướng tăng trưởng của năm này là quý sau cao hơn quý trước và cao gấp 1,55 lần

so với mức tăng của cả nước Một điểm đáng lưu ý là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố diễn ra theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp, và giảm tỷ trọng nông nghiệp Tuy vậy, sức cạnh tranh của nền kinh tế Thủ đô, của các doanh nghiệp và các sản phẩm nhìn chung chưa cao Thêm nữa, tiềm năng thị trường trong nước còn chưa được khai thác hiệu quả do doanh nhiệp trên địa bàn chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có quy mô vốn thấp, phụ thuộc nhiều vào vốn vay Một điểm đáng lưu ý nữa là tăng trưởng xuất khẩu chưa vững chắc, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu vẫn là hàng sơ chế và gia công,

Trang 39

lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 6,7% cao hơn nhiều so với năm 2010 (năm

2010 tỷ lệ này là 3,1%) Năm 2011, toàn thành phố đã giải quyết việc làm cho 138.800 người, đạt 101,3% kế hoạch [45, tr35]

Về văn hóa xã hội, bên cạnh nhiều thành tựu đã đạt được, thành phố Hà Nội vẫn còn nhiều điều phải quan tâm Chẳng hạn, hai chỉ tiêu về giảm tỷ lệ sinh và giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 năm 2010 không đạt kế hoạch Bên cạnh đó, an ninh - trật tự xã hội gia tăng các vấn đề phức tạp như tội phạm hình sự, tội phạm sử dụng vũ khí nóng và công nghệ cao, các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc Ngoài ra, điều kiện chăm sóc y tế giữa nội đô và các huyện ngoại thành Hà Nội có sự chênh lệch lớn Sau đợt mở rộng địa giới hành chính năm 2008, mức chênh lệch này càng tăng cao thể hiện qua các chỉ số y tế cơ bản Nếu như tại địa phận Hà Nội cũ, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 9,7%, thì ở Hà Tây cũ, con số lên tới 17% Tại không ít khu vực thuộc các huyện ngoại thành, cư dân vẫn phải sống trong điều kiện vệ sinh yếu kém, thiếu nước sạch để sinh hoạt, phải sử dụng nước ao, nước giếng không đảm bảo vệ sinh [45, tr40]

Tóm lại, với tư cách Thủ đô, Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục hàng đầu cả nước và có rất nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội Do vậy, Hà Nội có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội nói chung, thực hiện chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 nói riêng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống từng người, từng gia đình, trong đó có chất lượng sống của nhóm người khuyết tâ ̣t Tuy nhiên, trong bối cảnh thuận lợi này, thực tiễn chất lượng sống của từng nhóm xã hội cụ thể như thế nào là một vấn đề cần đi sâu nghiên cứu Trong phạm vi của nghiên cứu này, chất

Trang 40

31

lượng sống của nhóm người khuyết tâ ̣t nữ dưới góc độ chăm sóc sức khỏe sinh sản

sẽ được phân tích sâu

1.3.2 Hê ̣ thống các tổ chức xã hội liên quan đến người khuyết tật ở Hà Nội

Thành phố Hà Nội là nơi tập t rung nhiều tổ chức, cơ quan có liên quan đến người khuyết tâ ̣t bao gồm các tổ chức Nhà nước và các tổ chức tư nhân Trong các tổ chức đó phải kể đến trước tiên là Hô ̣i Người khuyết tâ ̣t Hà Nô ̣i - tổ chức xã

hô ̣i đa ̣i diê ̣n cho người khuyết tâ ̣t trong thành phố Cơ cấu tổ chức của hội này có sự phân cấp xuống tâ ̣n các quâ ̣n/ huyê ̣n

Hội Người khuyết tật thành phố Hà Nội (Hanoi Association of People with Disabilities) có tên viết tắt: DP Hanoi Trụ sở của Hội được đặt tại: Tầng 5, Cung Trí thức thành phố Hà Nội, D25 đường Trần Thái Tông, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Hội hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ, giúp đỡ những NKT với phạm vi hoạt động trong toàn thành phố Hà Nội Hội được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm về kinh phí hoạt động; dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch; không vì mục đích lợi nhuận, tuân thủ hiến pháp và pháp luật Hội được tổ chức, hoạt động theo Điều lệ được UBND Thành phố phê chuẩn; chịu sự quản lý Nhà nước của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và các sở, ban, ngành có liên quan về lĩnh vực hoạt động của Hội [3, tr20]

Khi mới thành lập, Hội có 19 tổ chức thành viên (Câu lạc bộ, nhóm, Trung tâm của NKT) với 750 hội viên tính đến cuối năm 2011, Hội đã có 43 tổ chức thành viên với 5000 hội viên Trong số đó phần lớn số hội viên nằm ở độ tuổi trên 40 tuổi (70%) và số lượng hội viên nữ tham gia hoạt động hội còn hạn chế hơn so với hội viên nam [3, tr25]

Cho đến nay Hội NKT Hà Nội đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ trong 7 loại hoạt động chính: Phát triển tổ chức; tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các văn bản pháp quy và các vấn đề liên quan đến NKT; phổ biến pháp luật

và chính sách; thông tin, tuyên truyền về hoạt động của Hội; đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực, kỹ năng cho các tổ chức thành viên và hội viên; hướng nghiệp

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (2000), Phụ nữ, giới và phát triển, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2000
2. Ôn Tuấn Bảo (2001), Tổng quan về người tàn tật ở Viê ̣t Nam và hỗ trợ của Nhà nước, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về người tàn tật ở Viê ̣t Nam và hỗ trợ của Nhà nước
Tác giả: Ôn Tuấn Bảo
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2001
3. Ban điều phối các hoa ̣t đô ̣ng hỗ trợ người tàn tâ ̣t Viê ̣t Nam (2010), Báo cáo năm 2010 về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Viê ̣t Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo năm 2010 về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Viê ̣t Nam
Tác giả: Ban điều phối các hoa ̣t đô ̣ng hỗ trợ người tàn tâ ̣t Viê ̣t Nam
Năm: 2010
4. Vũ Ngọc Bình (2001), Quyền con người và người tàn tật, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người và người tàn tật, "NXB Lao động "–
Tác giả: Vũ Ngọc Bình
Nhà XB: NXB Lao động "– " Xã hội
Năm: 2001
6. Bộ Y tế (2001), Mục tiêu “Chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 – 2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mục tiêu" “"Chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 – 2010
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2001
8. Lê Khánh Chi (2003), Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ tàn tật một vấn đề bỏ ngỏ, Tạp chí Khuyết tật vươn lên và hội nhập, tr 40 - tr42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Khánh Chi (2003), "Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ tàn tật một vấn đề bỏ ngỏ, "Tạp chí Khuyết tật vươn lên và hội nhập
Tác giả: Lê Khánh Chi
Năm: 2003
9. Lê Ba ̣ch Dương và cô ̣ng sự (2005), Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam , NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam
Tác giả: Lê Ba ̣ch Dương và cô ̣ng sự
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2005
11. Ngô Huy Đức, Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Văn Quảng (2003), Ngân sách cho giáo dục hòa nhập của trẻ khuyết tật, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân sách cho giáo dục hòa nhập của trẻ khuyết tật
Tác giả: Ngô Huy Đức, Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Văn Quảng
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
12. Trần Thi ̣ Minh Đức (2012), Giáo trình Tham vấn tâm lý, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tham vấn tâm lý
Tác giả: Trần Thi ̣ Minh Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
13. Vũ Quang Hà (2001), Các lý thuyết xã hội học , tập 1. NXB Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết xã hội học , tập 1
Tác giả: Vũ Quang Hà
Nhà XB: NXB Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2001
14. HESVIC (2012), Báo cáo nghiên cứu thực trạng quản lý dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ tại Việt Nam, NXB Lao đô ̣ng – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu thực trạng quản lý dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ tại Việt Nam
Tác giả: HESVIC
Nhà XB: NXB Lao đô ̣ng – Xã hội
Năm: 2012
15. Khuất Thu Hồng (2001), Người tàn tật ở Viê ̣t Nam và hỗ trợ của Nhà nước , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người tàn tật ở Viê ̣t Nam và hỗ trợ của Nhà nước
Tác giả: Khuất Thu Hồng
Năm: 2001
16. Hội LHPN Việt Nam (2011), Tài liệu hướng dẫn sinh hoạt mô hình CLB kết nối mẹ và con gái trong Dân số - CSSKSS, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn sinh hoạt mô hình CLB kết nối mẹ và con gái trong Dân số - CSSKSS
Tác giả: Hội LHPN Việt Nam
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2011
18. Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Quý Thanh (2009), Giới và lồng ghép giới trong sức khỏe và trong đào tạo, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và lồng ghép giới trong sức khỏe và trong đào tạo
Tác giả: Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2009
19. Nguyễn Thị Thái Lan, Nguyễn Thị Thanh Hương (2008), Công tác xã hội nhóm, NXB Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội nhóm
Tác giả: Nguyễn Thị Thái Lan, Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2008
20. Rober L.Metts (2004), Khuyết tật và phát triển, Trụ sở Ngân hàng Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyết tật và phát triển
Tác giả: Rober L.Metts
Năm: 2004
21. Liên Hơ ̣p Quốc (2006), Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật . 22. Liên minh Châu Âu , Quỹ Dân số Liên hiệp quốc , Hội kế hoạch hóa gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật
Tác giả: Liên Hơ ̣p Quốc
Năm: 2006
24. Bùi Thị Xuân Mai (2008), Tham vấn, NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham vấn
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2008
51. Trang web http://www.molisa.gov.vn/Default.aspx?tabid=193, 7/2012 52. Hồng Hà, http://www.phapluatvn.vn/chinhtrixahoi/201105/phu-nu-khuyet-tat-kho-co-tinh-yeu-2051747, 1/2012 Link
55. Thoraya A. Obaid , Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của người khuyết tật", http://www.mdgender.net/, 3/2012 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Mức độ quan tâm đến SKSS của PNKT theo trình độ học vấn (%) - Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật tiếp cận công tác xã hội
Bảng 2.1 Mức độ quan tâm đến SKSS của PNKT theo trình độ học vấn (%) (Trang 45)
Bảng 2.2: Mức độ quan tâm của phụ nữ khuyết tật theo các dạng khuyết tật  (%) - Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật tiếp cận công tác xã hội
Bảng 2.2 Mức độ quan tâm của phụ nữ khuyết tật theo các dạng khuyết tật (%) (Trang 46)
Bảng 2.3: Mức độ đi khám SKSS của PNKT theo dạng khuyết tật (%) - Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật tiếp cận công tác xã hội
Bảng 2.3 Mức độ đi khám SKSS của PNKT theo dạng khuyết tật (%) (Trang 52)
Bảng 3.1: Sự hỗ trợ của các cơ quan đoàn thể trong quá trình chăm sóc  SKSS cho PNKT (%) - Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật tiếp cận công tác xã hội
Bảng 3.1 Sự hỗ trợ của các cơ quan đoàn thể trong quá trình chăm sóc SKSS cho PNKT (%) (Trang 64)
Bảng  3.2:  Đánh  giá  hiệu  quả  về  hỗ  trợ  của  các  tổ  chức  trong  việc  CSSKSS  PNKT (%) - Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật tiếp cận công tác xã hội
ng 3.2: Đánh giá hiệu quả về hỗ trợ của các tổ chức trong việc CSSKSS PNKT (%) (Trang 66)
Bảng 3.3: Mong muốn của PNKT liên quan đến CSSKSS cho bản thân (%) - Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật tiếp cận công tác xã hội
Bảng 3.3 Mong muốn của PNKT liên quan đến CSSKSS cho bản thân (%) (Trang 72)
Bảng số liệu trên cho thấy PNKT có nhiều loại kiến thức khác nhau liên quan  đến CSSKSS mà PNKT mong muốn được hỗ trợ - Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật tiếp cận công tác xã hội
Bảng s ố liệu trên cho thấy PNKT có nhiều loại kiến thức khác nhau liên quan đến CSSKSS mà PNKT mong muốn được hỗ trợ (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w