Năm 1992, Malayxia đã ban hành Đạo Luật phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng lao động có tay nghề, hiệu quả và kỷ luật, nhằm nâng cao năng suất, phát triển k
Trang 1đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 2đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
giáo viên h-ớng dẫn: tS Nguyễn thị kim hoa
Hà Nội - 2008
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Ý nghĩa của đề tài 7
1.2.1 Ý nghĩa lý luận 7
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn 7
1.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
1.3.1 Mục đích nghiên cứu 7
1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
1.4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 8
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
1.4.2 Khách thể nghiên cứu 8
1.4.3 Phạm vi nghiên cứu 8
1.5 Phương pháp nghiên cứu 9
1.5.1 Phương pháp chọn mẫu 9
1.5.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi 11
1.5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân 11
1.5.4 Phương pháp quan sát 11
1.5.5 Phương pháp phân tích tài liệu 11
1.6 Giả thuyết nghiên cứu 11
1.7 Sơ đồ tương quan giữa các biến số 12
1.8 Khung lý thuyết 13
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH 14
Trang 4Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 14
2.1.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận 14
2.1.1.1 Chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng 14
2.1.1.2 Lý thuyết xã hội học 15
2.1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 19
2.1.2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 19
2.1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
2.1.2.3 Một số văn bản pháp lý của Việt Nam liên quan đến chất lượng dân số 23
2.1.3 Các khái niệm công cụ 24
2.1.3.1 Chất lượng dân số 24
2.1.3.2 Các thành phần của hệ chất lượng dân số 28
Chương II Kết quả nghiên cứu 30
2.2.1 Một vài nét về địa bàn nghiên cứu 30
2.2.1.1 Vài nét về địa bàn Hà Nội 30
2.2.1.2 Phường Hàng Gai, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội 31
2.2.1.3 Phường Yên Hoà, Quận Thanh Xuân, Hà Nội 33
2.2.2 Xây dựng bộ công cụ để đánh giá chất lượng dân số 36
2.2.2.1 Chỉ số BMI (Body Mass Index) (BMI của tổ chức Y tế Thế giới) 36
2.2.2.2 Cách tính chỉ số chất lượng dân số (PQI) 36
2.2.3 Tính toán chất lượng dân số (PQI) 41
2.2.3.1 Số liệu điều tra BMI 41
2.2.3.2 Các giá trị từ T2 đến T9 42
2.2.3.3 Các giá trị T min và T max 43
Trang 52.2.3.4 Xác định các chỉ thị đơn I i dựa vào phương trình tương quan và giá trị PQI 44
2.2.4 Các yếu tố kinh tế xã hội tác động đến chất lượng dân số 45
2.2.4.1.Thu nhập và phân bổ thu nhập……… 45
2.2.4.2 Lao động và việc làm 50
2.2.4.3 Giao thông liên lạc 54
2.2.4.4 Sức khoẻ 63
2.2.4.5 Giáo dục 69
2.2.4.6 Nhà ở 74
2.2.4.7 Môi trường 79
2.2.4.8 Cuộc sống gia đình 84
2.2.4.9 Sự tham gia công tác xã hội của phụ nữ 88
2.2.4.10 An toàn công cộng 89
2.2.4.11 Văn hoá và giải trí 95
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
3.1 Kết luận 102
3.2 Khuyến nghị 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1 Các đặc điểm nhân khẩu học xã hội của mẫu khảo sát 10
Bảng 2 Các chỉ thị và trọng số trong PQI theo đề tài của ủy ban quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình 36
Bảng 3 Số liệu điều tra BMI tại địa bàn nghiên cứu 41
Bảng 4 Các giá trị từ T2 đến T9 của 2 phường 42
Bảng 5: Các giá trị Tmin, Tmax 43
Bảng 6: Các giá trị PQI của 2 phường 44
Bảng 7 Thu nhập của hộ gia đình 46
Bảng 8 Thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình/tháng 47
Bảng 9: Trình độ học vấn của những người trong độ tuổi lao động 51
Bảng 10: Mức độ quan tâm đối với thông tin của đài phát thanh phường 59
Bảng 11: Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện thoại 60
Bảng 12: Việc học thêm của con cái 72
Bảng13: Hiện trạng nhà ở của các phường 75
Bảng 14: Số thành viên trong gia đình 84
Bảng 15: Số thế hệ trong gia đình 85
Bảng 16: Hoạt động giải trí cấp độ thường ngày 96
Bảng 17: Hoạt động giải trí cấp độ kỳ dịp 99
Trang 7DANH MỤC CÁC ẢNH
Ảnh 1: Chụp tại cuối đường ngã 3, đường Trung Kính, phường Yên Hòa 56
Ảnh 2: Đoàn xe xích lô 57
Ảnh 3: Những con hẻm như thế này khá phổ biến ở phố cổ 77
Ảnh 4: Ngôi nhà cổ: Có thể sập bất cứ lúc nào vì đã không còn khả năng chống đỡ 78
Ảnh 5: Cận cảnh nhà vệ sinh 82
Ảnh 6: Cột mòn chống ọp ẹp 82
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu 1: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng internet 62
Biểu 2: Nơi khám và chữa bệnh 64
Biểu 3: Tỷ lệ có máy vi tính nối mạng và có vào mạng 97
Biểu 4: Tỷ lệ người dân đi lễ chùa 100
Trang 9PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Từ năm 1994, Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển họp tại Cairô - Aicập đã đề cập đến chất lượng dân số và được nhấn mạnh trong tuyên bố Almaty của 40 đoàn nghị sỹ các nước Châu Á về dân số và phát triển họp tại Cộng hòa Kadăcxtan vào tháng 9 năm 2004 Nhiều nước khu vực Châu Á như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Malaixia… đã đưa mục tiêu nâng cao chất lượng dân số vào các chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, thậm chí được đưa vào Luật Dân số kế hoạch hóa gia đình hoặc đạo luật ở một số nước Đặc biệt, một số nước đã ban hành Chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia nhằm tăng cường sức cạnh tranh của nguồn lực lao động như Hàn Quốc từ năm 1996 đã ban hành Chính sách mới chú trọng vào chất lượng dân số và phúc lợi nhân dân Năm 2001 ban hành Chiến lược và sau đó nâng lên thành Luật phát triển nguồn nhân lực với chủ đề: Công dân xuất sắc- Xã hội tin cậy Từ cuối năm 2003, Trung Quốc thực thi chiến lược lấy nhân tài để xây dựng đất nước hùng mạnh và coi đó là một nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của Đảng và Nhà nước Năm 1992, Malayxia đã ban hành Đạo Luật phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng lao động có tay nghề, hiệu quả và kỷ luật, nhằm nâng cao năng suất, phát triển kinh tế bền vững…
Ở Việt Nam, công tác dân số luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, coi đó là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của quốc gia, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã
hội Mục tiêu nâng cao chất lượng dân số vì vậy được coi là “chính sách cơ
bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước” và đã xác định mục
tiêu: "Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, đưa chỉ số
Trang 10phát triển con người (HDI) lên mức tiên tiến của thế giới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”1
Do vậy, Việt Nam đã xác định mục tiêu “nâng cao chất lượng dân số về thể
chất, trí tuệ và tinh thần, phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước”2 Tại văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu rõ nhiệm
vụ: “Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con người
Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi Tăng cường thể lực của thanh niên”
Năm 2007, dân số Việt Nam là 85,2 triệu người, trong đó nữ chiếm 50,9% Mật độ dân số 257 người/km2, dân số thành thị chiếm 27%3 Tuổi thọ trung bình 71,3 tuổi Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,18%4 Tuổi trung vị của dân
số tăng từ 20,2 tuổi năm 1990 lên 25,5 tuổi năm 2005 Tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi giảm mạnh từ 39,2% năm 1989 xuống còn 27,3% năm 2006 Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động từ 15-59 tuổi tiếp tục tăng từ 53,7% năm 1989 lên 63,5% năm 2006; Tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên tăng tương ứng từ 7,2% lên 9,2%, đang tiến tới ngưỡng cơ cấu dân số già
Một số chỉ tiêu về sức khoẻ bà mẹ, trẻ em đạt kết quả khá tốt do những
nỗ lực trong chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 44,4% năm 1989 xuống còn 16% năm 2006; Tỷ lệ trẻ em dới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm nhanh từ 51,5% năm 1990 xuống còn 25,2% năm 2005 Đến năm 2000, chiều cao trung bình của người trưởng thành (25-49 tuổi) ở nam là 162,84 4,85 cm, ở nữ là 152,44 4,22 cm5
Chỉ số phát triển con người (HDI) Việt Nam tiếp tục tăng từ 0,539 điểm xếp thứ 120/174 nước trên Thế giới năm 1995 lên 0,733 điểm xếp thứ
T ổng cục Thống kê, Niêm giám thống kê 2006, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2007
4 www.gso.gov.vn (Kết quả điều tra Biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình 1/4/2007)
5 Lê Gia Vinh, Kết quả nghiên cứu về hình thái và thể lực người trưởng thành Việt Nam
Trang 11105/177 nước có số liệu để xếp hạng6 Dự báo chỉ số phát triển con người Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu Chiến lược Dân số đề ra cho năm 2010 ở mức tiên tiến thế giới (0,700-0,750 điểm)
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong việc nâng cao chất lượng dân
số, Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn thách thức: tỷ lệ suy dinh dưỡng còn cao, chiều cao, cân nặng trung bình của thanh niên thấp, độ dẻo dai và sức bền kém; trình độ kiến thức chung và kỹ năng làm việc chưa ngang tầm và chưa hội nhập trình độ quốc tế; kỹ năng thực hành hạn chế, v,v… đã và đang ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu những tiến bộ khoa học - công nghệ mới, gây khó khăn trong xây dựng nền kinh tế tri thức, tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động, đến năng suất lao động của mỗi người Từ đó làm hạn chế đến quá trình tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam trên trường quốc tế
Chỉ số phát triển con người của nước ta tuy từng bước được cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp, thấp hơn mức trung bình của Thế giới (0,743 điểm) và mức trung bình của khu vực Châu Á-Thái bình dương (0,771 điểm, báo cáo của UNDP ngày 27/11/2007)
Về thể lực: Trong 30 năm qua, mặc dù tầm vóc chiều cao thanh niên Việt Nam 18 tuổi của nam và nữ đã được cải thiện (nam 163,7 cm, nữ 153 cm)7 nhưng so với chuẩn quốc tế, tầm vóc thanh niên 18 tuổi (nam 176,8 cm,
nữ 163,7 cm) thì tầm vóc của thanh niên Việt Nam còn thấp hơn rất nhiều (13,1 cm đối với nam và 10,7 cm đối với nữ) So với các nước trong khu vực, tầm vóc trung bình của thanh niên Việt Nam cũng thua kém 6-7 cm so với thanh niên Singapore, 2 cm so với thanh niên Thái Lan và 2-3 cm so với thanh niên Quảng Tây - Trung Quốc
Một số chỉ tiêu phản ánh về sức khoẻ bà mẹ, trẻ em còn ở mức thấp: Năm 2005, tỷ suất tử vong mẹ còn ở mức 80/100.000 trẻ sinh ra sống, cao hơn gấp 2 lần so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malayxia; gấp 4 lần so với Hàn Quốc Tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi của cả
6 www.vietbao.vn (Việt Nam tăng 4 bậc chỉ số phát triển con người)
7 Viện Dinh dưỡng quốc gia, Báo cáo năm 2000
Trang 12nước là 16‰ nhưng ở một số vùng như Bắc Trung bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc còn rất cao tới 22-30‰; Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ em dưới 5 tuổi giảm còn 25,2% trong khi ở một số vùng như Bắc Trung bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc tỷ lệ này còn cao tới 30-35%
Số lượng người tàn tật của nước ta khoảng 5,3 triệu người, chiếm gần 6,3% dân số, trong đó tỷ lệ tàn tật do nguyên nhân tai nạn giao thông, tai nạn lao động và dị tật bẩm sinh cao hơn tỷ lệ tàn tật do chiến tranh để lại Trong
số 1 triệu trẻ em tàn tật thì tàn tật do dị tật bẩm sinh, tai nạn thương tích chiếm tỷ lệ cao, nhu cầu chăm sóc, phát hiện, điều trị sớm và phục hồi chức năng đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của Nhà nước và toàn xã hội
Tình trạng dịch bệnh, bệnh tật nhất là bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục kể cả HIV/AIDS là rất đáng lo ngại Tính đến ngày 31/12/2007 Việt Nam có 121.734 người bị nhiễm HIV còn sống, 27.669 bệnh nhân AIDS còn sống và có 34.476 người đã chết do AIDS8 Trong số người bị nhiễm HIV có tới 55,3% là người trong độ tuổi 20-
29 Mặc dù tuổi thọ bình quân của nước ta khá cao 71,3 tuổi nhưng theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2002 thì tuổi thọ bình quân khỏe mạnh của Việt Nam lại rất thấp, chỉ đạt 58,2 tuổi và xếp thứ 116/174 nước
Về trí tuệ: Tỷ lệ dân số bị thiểu năng thể lực và trí tuệ chiếm tới 1,5% dân số và tỷ lệ này hàng năm vẫn tiếp tục tăng thêm do số trẻ sinh ra bị dị tật
và các bệnh bẩm sinh chưa được kiểm soát.Vị thành niên, thanh niên Việt Nam không chỉ thấp bé, nhẹ cân mà còn yếu cả về sức mạnh cơ bắp, sức dẻo dai, sự bền bỉ; Quan hệ tình dục, nhất là tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân, tình trạng mang thai ngoài ý muốn và nạo, phá thai có xu hướng gia tăng Việc làm đang là mối quan tâm của vị thành niên, thanh niên do kiếm được việc làm phù hợp không phải đơn giản; Sự lạm dụng và sử dụng chất gây nghiện như thuốc lá, rượu bia có xu hướng gia tăng, có tới 69% vị thành niên, thanh niên đã từng uống rượu hoặc bia và 58% trong số đó đã từng say;
8 Tạp chí AIDS và cộng đồng số 4-2008
Trang 13Những vấn đề căng thẳng về tâm lý bao gồm cả hiện tượng tự tử, tự gây thương tích, vi phạm pháp luật ngày càng trở lên nghiêm trọng đối với giới trẻ
Trang 14Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo mặc dù ngày càng tăng, từ 15,8% năm
2001 lên 24,8% năm 2005 nhưng vẫn còn thấp; Tỷ lệ lao động có bằng cấp công nhân kỹ thuật trở lên chỉ đạt 7,83%9, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính chất lượng dân số thấp đã cản trở khả năng tiếp thu kiến thức khoa học và công nghệ, ảnh hưởng xấu đến việc nâng cao năng suất
và hiệu quả lao động và là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng nghèo ở Việt Nam hiện nay
Tỷ số giới tính khi sinh (số trẻ trai/100 trẻ gái) đã tăng nhanh từ 105 năm 1979 lên 110 năm 2006 và 112 năm 2007 Bên cạnh đó tình hình phụ nữ
di cư lấy chồng nước ngoài có xu hướng gia tăng ở một số địa phương, làm trầm trọng hơn vấn đề mất cân bằng giới tính theo hướng thừa nam thiếu nữ trong những năm tới
Tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên đã tăng từ 7,2% năm 1989 lên hơn 9,45% năm 2007 và dự báo sẽ tăng lên 11,2% vào năm 2020, vượt ngưỡng của một quốc gia có cơ cấu dân số già (10%) Vì vậy, trong bối cảnh quy mô gia đình nhỏ, ít con và gia đình ít thế hệ ngày càng được chấp nhận, đòi hỏi phải triển khai những mô hình chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi phù hợp
Di dân từ nông thôn ra vùng đô thị và khu công nghiệp có xu hướng gia tăng nhanh và diễn biến phức tạp nên gặp nhiều khó khăn trong quản lý người
di cư và tổ chức các dịch vụ xã hội cơ bản Lao động ở các khu công nghiệp
và người di cư gặp rất nhiều khó khăn về nhà ở (70-80% ở nhà tạm) Bên cạnh đó, các luồng di cư tự do đến một số vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên đang gây nhiều khó khăn trong giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội của các địa phương này Các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là dịch vụ chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình và giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu do đó có ảnh hưởng không tốt đến chất lượng dân số Việt Nam
9 www.gso.gov.vn (Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002)
Trang 16Bên cạnh những chuyển biến tích cực, tình hình văn hóa, văn nghệ có nhiều điều đáng lo ngại: lối sống chạy theo đồng tiền, những thị hiếu không lành mạnh, những hủ tục, mê tín tăng nhanh; nhiều văn hóa phẩm độc hại lan tràn trên thị trường truyền bá lối sống thực dụng, sa đọa, bạo lực phát triển10
Việc xây dựng nếp sống văn hóa chưa được coi trọng đúng mức Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ11, cản trở dến việc xây dựng con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng ngang tầm sự nghiệp đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh
Thực hiện thắng lợi mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực cao đáp ứng yêu cầu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
là nhu cầu cấp thiết và là yếu tố tiên quyết đảm bảo thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đáp ứng nhu cầu với những thời cơ, thuận lợi và thách thức mới khi nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng trong cộng đồng quốc tế, là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Ủy viên thường trực không chính thức của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
Việc theo dõi chất lượng dân số rất quan trọng để phục vụ nâng cao chất lượng dân số Tại các đô thị như Thành phố Hà Nội là nơi mật độ dân số cao Mặc dù các dịch vụ y tế cũng như các dịch vụ xã hội cơ bản thuận lợi hơn rất nhiều so với các khu vực khác và dân số của Hà Nội cũng được đánh giá là có mặt bằng về trí lực, thể lực và tinh thần cao hơn so với cả nước, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội hiện nay
Nhận thức yêu cầu này, chúng tôi đề xuất đề tài “Các yếu tố kinh tế xã
hội ảnh hưởng đến chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội” nhằm đưa ra
các giải pháp để ngày càng nâng cao chất lượng dân số ở đây Đồng thời
10 www cpv.org.vn (Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII)
11 www cpv.org.vn (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X)
Trang 17nghiên cứu đề tài trên còn có ý nghĩa góp phần kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội
Trang 181.2 Ý nghĩa của đề tài
1.2.1 Ý nghĩa lý luận
Chúng tôi đã vận dụng những kiến thức xã hội học để nghiên cứu “Các
yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội” Kết quả của nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ và chứng minh cho
tính thực tiễn của phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử - Chủ
nghĩa Mác Lê nin, lý thuyết hệ thống của Parsons…
Kế thừa các chỉ số PQI đã được xây dựng trong đề tài độc lập mã số
ĐTĐL- 2003/15, nhánh I “Nghiên cứu một số yếu tố kinh tế - xã hội ảnh
hưởng đến chất lượng dân số” thuộc đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp
Nhà nước “Nghiên cứu một số yếu tố sinh học, kinh tế- xã hội ảnh hưởng đến
chất lượng dân số và đề xuất chính sách, giải pháp phù hợp”, Đề tài đã lựa
chọn các chỉ số phù hợp để đo chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội Kiến tạo những chỉ số này đơn giản, dễ thống kê và phù hợp để có thể phân tích và so sánh chất lượng dân số giữa các phường một cách nhanh chóng
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Bên cạnh ý nghĩa lý luận, đề tài còn mang một ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Đề tài không chỉ làm sáng tỏ thực trạng chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội từ đó tìm ra các yếu tố kinh tế xã hội tác động
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài còn thể hiện ở chỗ sẽ là một sự gợi mở, góp phần tìm ra các giải pháp, khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dân số đô thị thành phố Hà Nội Đồng thời nghiên cứu đề tài trên còn có ý nghĩa góp phần kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội
1.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1.3.1 Mục đích nghiên cứu
Nâng cao chất lượng dân số cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần là một quốc sách quan trọng, đòi hỏi phải có sự can thiệp lâu dài qua nhiều thế hệ và kết hợp nhiều giải pháp đồng bộ của các Bộ, ban ngành cũng như của các đoàn thể chính trị xã hội trên cơ sở xác định toàn diện các yếu tố tác động lên chất lượng dân số
Trang 19Có nhiều yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp lên thể chất, trí tuệ và tinh thần của một cộng đồng dân cư mà trước hết là các yếu tố kinh tế và xã hội được phản ánh cụ thể qua chất lượng cuộc sống của nhân dân
Mục đích của đề tài này là nghiên cứu thực trạng chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội từ đó tìm ra các yếu tố kinh tế xã hội tác động cũng như các giải pháp, khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dân số
1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp luận nghiên cứu các yếu tố kinh tế xã hội tác động đến chất lượng dân số đô thị ở Thành phố Hà Nội
- Xây dựng bộ công cụ và tính toán các chỉ số đánh giá chất lượng dân
1.4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội
Trang 20* Về nội dung nghiên cứu:
- Xây dựng bộ công cụ và tính toán các chỉ số đánh giá chất lượng dân
số đô thị Thành phố Hà Nội
- Tìm hiểu 11 yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội: Thu nhập và phân phối thu nhập; Lao động và việc làm; Giao thông liên lạc; Sức khoẻ; Giáo dục; Nhà ở; Môi trường; Cuộc sống gia đình; Sự tham gia công tác xã hội của phụ nữ; Trật tự an toàn công cộng; Văn hoá và giải trí
Thông tin được thu thập dựa trên khảo sát định lượng bằng bảng Ankét
Đề tài có tất cả 300 phiếu: 150 phiếu khảo sát tại Phường Hàng Gai, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; 150 phiếu khảo sát tại Phường Yên Hoà, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
Đề tài đã sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn để chọn mẫu điều tra ở hai phường, quy trình lấy mẫu như sau:
- Bước 1: Lập danh sách các tổ dân phố của mỗi phường, gán cho mỗi
tổ dân phố 1 số thứ tự từ 1 đến hết
- Bước 2: Lấy ngẫu nhiên đơn giản 10 tổ dân phố của mỗi phường
- Bước 3: Lấy ngẫu nhiên đơn giản 15 hộ gia đình trong mỗi tổ để điều tra, phỏng vấn
Kết quả thu được về người được phỏng vấn tại phiếu điều tra như sau:
Trang 21Bảng 1: Các đặc điểm nhân khẩu học xã hội của mẫu khảo sát (%)
Trang 221.5.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Trên cơ sở chọn mẫu, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các hộ gia đình bằng bảng Ankét Đề tài có tất cả 300 phiếu: 150 phiếu khảo sát tại Phường Hàng Gai, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; 150 phiếu khảo sát tại Phường Yên Hoà, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
1.5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để thu thập thông tin và làm rõ hơn giải thuyết nêu ra Đề tài sẽ lựa 2 chọn 2 phường thuộc 2 quận ở Hà Nội làm địa bàn nghiên cứu Mỗi phường tiến hành 10 cuộc phỏng vấn sâu là những người đại diện các ban ngành của phường (Đảng uỷ, Ủy ban nhân dân, Hội phụ nữ, Mặt trận tổ quốc,Y tế, Dân số, Giáo dục, tổ trưởng tổ
dân phố, ) và người dân cư trú tại các phường
1.5.4 Phương pháp quan sát
- Quan sát thái độ của người cung cấp thông tin
- Quan sát đời sống kinh tế, văn hoá của người dân nhằm xác thực những thông tin thu được
1.5.5 Phương pháp phân tích tài liệu
Bên cạnh những thông tin thu được qua quá trình phỏng vấn, quan sát chúng tôi còn và phân tích những phỏng vấn sâu, những tài liệu, các báo cáo khoa học, các khoá luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, tiến sỹ liên quan đến
đề tài nghiên cứu
1.6 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết 1: Hiện nay, tình hình chính trị, văn hoá, xã hội của thành phố Hà Nội được duy trì ổn định, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện và phát triển Do vậy, chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội ngày càng được nâng cao
- Giả thuyết 2: Các yếu tố tác động tích cực đến chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội: Thu nhập và phân phối thu nhập, lao động việc làm,
Trang 23sức khoẻ, giáo dục Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số: Môi trường
và các tệ nạn xã hội …
1.7 Sơ đồ tương quan giữa các biến số:
- Biến số độc lập: Các yếu tố kinh tế xã hội
- Biến số can thiệp:
Thu nhập và phân phối thu nhập Lao động và việc làm
Giao thông liên lạc Giáo dục
Sức khoẻ Nhà ở Môi trường Cuộc sống gia đình Tham gia công tác xã hội của phụ nữ
An ninh trật tự Vui chơi, giải trí
- Biến số phụ thuộc: Chất lượng dân số
Trang 241.8 Khung lý thuyết
CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ XÃ HỘI
CÁC YẾU TỐ KINH TẾ XÃ HỘI
Thu nhập và phân bổ thu nhập; lao động việc làm;
giao thông liên lạc; sức khoẻ; giáo dục; nhà ở; môi trường; cuộc sống gia đình; sự tham gia công tác xã hội của phụ nữ; trật tự công cộng; văn hoá giải trí
CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ
Trang 25PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận
2.1.1.1 Chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng
Tư tưởng Macxit và Xã hội học Macxit luôn là kim chỉ nam cho mọi
hoạt động lý luận và thực tiễn Vì vậy trong đề tài "Các yếu tố kinh tế xã hội
ảnh hưởng đến chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội" chúng tôi đã vận
dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng
Quan điểm lý luận này đòi hỏi khi nghiên cứu các sự kiện, quá trình xã hội phải đặt trong mối quan hệ với điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội
cụ thể, trong một phạm vi không gian nhất định, trong trạng thái vận động và phát triển
Marx đã vận dụng và phát triển phép biện chứng của Hegel trong nghiên cứu hiện thực xã hội và con người Phép biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ và tác động qua lại trong sự vận động và phát triển không ngừng của xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tất cả các hiện tượng nảy sinh trong xã hội đều có quá trình phát sinh, phát triển nghĩa là mọi sự vật, hiện tượng không tồn tại bất biến mà luôn vận động theo quy luật tất yếu của nó Trong mỗi hoàn cảnh cụ thể của xã hội sẽ có các yếu tố khác nhau tác động đến hiện tượng đó Do vậy, các vấn đề xã hội khi nghiên cứu cần được đặt trong một quá trình, một giai đoạn lịch sử nhất định Luận điểm cơ bản
được sử dụng trong đề tài "Các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến chất
lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội" là quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ
tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường làm cho xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi
Trang 26Chúng tôi cũng tiếp cận đề tài nghiên cứu theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng Quan điểm biện chứng nhìn nhận các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ khăng khít, không tách rời nhau Theo quan điểm này, mọi sự vật, hiện tượng không tồn tại độc lập mà luôn tương tác, ảnh hưởng tới các sự vật, hiện tượng khác Vì vậy, khi nghiên cứu 11 yếu tố kinh
tế - xã hội ảnh hưởng chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội chúng tôi không đặt nó tách rời nhau mà đặt chúng trong sự tương tác ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến chất lượng dân số Bởi vậy, để tránh cho nghiên cứu rơi vào tình trạng chủ quan, phiến diện, chúng tôi đã tiếp cận vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống, nhìn nhận vấn đề là một hệ thống, đặt vấn đề trong mối quan hệ với các sự vật khác
2.1.1.2 Lý thuyết xã hội học: Lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons
Talcott Parsons (1902-19790) là nhà xã hội học người Mỹ, tác giả nổi tiếng của lý thuyết hệ thống xã hội, lý thuyết hành động
Parsons sử dụng khái niệm cấu trúc và khái niệm hệ thống gần như tương đương nhau với nghĩa là hệ thống có cấu trúc và cả hai đều có chung thành phần nhất định Khái niệm cấu trúc nhấn mạnh các yếu tố tạo thành khuôn mẫu, định hình hệ thống một cách tương đối ổn định Khái niệm hệ thống nhấn mạnh một tập hợp các yếu tố được sắp xếp theo trật tự nhất định nghĩa là được định hình vừa độc lập, vừa liên tục trao đổi qua lại với hệ thống môi trường xung quanh
Về mặt lý thuyết, Parsons xem xét hệ thống trong một tọa độ ba chiều như sau: Thứ nhất là chiều cấu trúc - hệ thống nào cũng có cấu trúc của nó; thứ hai là chiều chức năng - hệ thống luôn nằm trong trạng thái động vừa tự biến đổi vừa tự trao đổi với môi trường và thứ ba là chiều kiểm soát - hệ thống có khả năng điều khiển và tự điều khiển
Cấu trúc của hành động được triển khai trên các cấp để hệ thống khác nhau trong đó hệ thống xã hội chỉ là một trong các hệ thống của nó Parsons phân biệt ít nhất bốn cấp độ hệ thống và cho rằng thông qua quá trình xã hội hóa cá nhân, hành động của con người hình thành và biểu hiện trên các cấp độ
Trang 27hệ thống từ cấp hành vi của cơ thể lên cấp nhân cách, cấp xã hội và cấp văn hóa Đặc điểm của từng cấp độ hệ thống như sau:
- Cấp hệ thống văn hóa tương ứng với hệ thống biểu trưng Biểu hiện
cụ thể của nó là hệ các niềm tin tôn giáo, hệ ngôn ngữ, hệ các giá trị và chuẩn mực xã hội Thông qua cơ chế xã hội hóa cá nhân, các hệ thống văn hóa có khả năng biến các giá trị chung của xã hội thành hệ những giá trị riêng của mỗi người và nhờ vậy thực hiện chức năng kiểm soát xã hội, duy trì trật tự và bảo tồn các khuôn mẫu hành động của các cá nhân
- Cấp hệ thống xã hội gồm tập hợp các cá nhân tương tác với nhau trong các tình huống nhất định Tập hợp này gồm hai hay các hành thể là cá nhân hay nhóm người Mối tương tác giữa các hành thể được cấu trúc hóa thông qua văn hóa và hệ các giá trị chung
- Cấp hệ thống nhân cách có đơn vị cấu thành cơ bản là cá nhân, là chủ thể hành động Trên cấp độ này Parson đặc biệt quan tâm tới hệ các nhu cầu, động cơ, thái độ hướng tới lợi ích cá nhân, tới lợi nhuận
- Cấp hệ thống hành vi bao gồm các quá trình sinh lý, vật chất hữu cơ của đời sống con người mà quan trọng nhất là hệ thống hoạt động thần kinh
và hệ thống vận động
Sơ đồ lý thuyết AGIL
Parsons nổi tiếng trong giới xã hội học về sơ đồ lý thuyết hệ thống xã hội viết tắt là AGIL theo bốn chữ cái của bốn tiểu hệ thống Theo Parsons, hệ thống xã hội được cấu thành từ bốn tiểu hệ thống (hệ thống nhỏ hơn), tương ứng với bốn loại nhu cầu, chức năng cơ bản của hệ thống xã hội Bốn loại yêu cầu chức năng của xã hội là:
Một là: Thích ứng (Adaptation - ký hiệu là A) với môi trường tự nhiên
- vật lý xung quanh
Hai là: Hướng đích (Goal attainment - G) - huy động các nguồn lực nhằm vào các mục đích đã xác định
Trang 28Ba là: Liên kết (Intergration - I) - phối hợp các hoạt động, điều hòa và giải quyết những khác biệt, mâu thuẫn
Bốn là: Duy trì khuôn mẫu lặn (Latent pattern maintenance - L) - tạo ra
sự ổn định, trật tự
Các tiểu hệ thống quan hệ với nhau theo nguyên lý điều khiển học Hệ thống ở cấp độ cao hơn về thông tin nhưng yếu về năng lượng (ví dụ hệ thống văn hóa - L) chi phối và kiểm soát hệ thống ở trình độ cao hơn về năng lượng nhưng kém hơn về thông tin (ví dụ hệ thống kinh tế - A)
Các tiểu hệ thống có mối quan hệ qua lại với nhau theo nguyên lý chức năng để tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn Chẳng hạn tiểu hệ thống kinh tế có mối quan hệ qua lại với nhau và với các tiểu hệ thống khác của xã hội để lấy đầu vào và cung cấp các đầu ra là sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ Ví dụ, doanh nghiệp sử dụng lao động của công nhân có trình độ chuyên môn và kỹ năng tay nghề do tiểu hệ thống giáo dục tạo ra và đổi lại, nó trả công lao động cho công nhân để họ nuôi sống bản thân và gia đình
Các tiểu hệ thống trao đổi với nhau thông qua một loạt các phương tiện
và công cụ xã hội ví dụ tài sản, tiền bạc, quyền lực, sự ảnh hưởng và sự gắn
bó và niềm tin Mỗi một cặp tiểu hệ thống quan hệ trao đổi với nhau thông qua một số loại phương tiện chuyên biệt Chẳng hạn, tiền công là phương tiện chính để trao đổi giữa tiểu hệ thống kinh tế (A) và tiểu hệ thống duy trì khuôn mẫu (L).Vốn tư bản là phương tiện chính trong quan hệ trao đổi giữa tiểu hệ thống kinh tế và tiểu hệ thống hướng đích Cần chú ý là các chức năng và các tiểu hệ thống có thể tương ứng đan xen, bù trừ nhau rất phức tạp Ví dụ, tiểu
hệ thông chính trị trong tình huống nhất định có thể đảm nhận cả nhiệm vụ làm kinh tế và những tổ chức kinh tế độc quyền mạnh có thể lũng đoạn chính trị, pháp luật
2.1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1.2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài:
Trang 29Lịch sử phát triển của Thế giới và Việt Nam cho thấy con người là vốn quý nhất Bên cạnh nguồn tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững của toàn cầu cũng như của mỗi quốc gia Ý thức được tầm quan trọng
đó, từ nhiều thập kỷ trước, một số quốc gia Châu Á đã chú trọng nâng cao chất lượng dân số với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực để thu hẹp khoảng cách phát triển so với các quốc gia Châu Mỹ và Châu Âu Nhật Bản đã rất coi trọng chương trình chăm sóc đồng bộ về dinh dưỡng, phổ cập giáo dục, phát triển thể chất và chấn hưng thể dục thể thao12 Trung Quốc cũng đã coi việc nâng cao chất lượng dân số là một nội dung quan trọng của chính sách dân số
kế hoạch hóa gia đình Để tạo nên sức cạnh tranh lớn về nguồn lao động trên trường quốc tế, từ một nước nghèo đông dân sang một nước có sức cạnh tranh trong việc đầu tư cho nguồn vốn con người; chính sách dân số của Trung Quốc từ những năm 70 đã đề ra mục tiêu nâng cao chất lượng dân số và hiện nay vẫn coi đó là một trong 5 thách thức lớn trong phát triển và đã đề ra mục tiêu cụ thể nâng cao chất lượng dân số vào các thời điểm quan trọng: 2010,
2020 từ nâng cao rõ rệt, tiến đến nâng cao đáng kể để đạt nâng cao chất lượng dân số và sức khỏe dân số vào năm 205013
Hội nghị quốc tế bàn về dân số đầu tiên cần được kể tới được triệu tập tại Roma (Italia) năm 1954 Năm 1965 tại Beograd (Nam Tư), một hội nghị quốc tế bàn về dân số mang tính chất trao đổi khoa học chuyên ngành Có thể coi đây là hai phiên họp quốc tế mở màn cho việc đi tới những chương trình dân số thống nhất sau này Năm 1974, Hội nghị quốc tế về dân số đã được tổ chức ở Bucarest (Rumani) Hội nghị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân phối công bằng các nguồn lực kinh tế giữa các quốc gia Năm 1984, Hội nghị
12 Mosk, Carl, Phát triển về thể chất: Sự tăng trưởng con người trong xã hội tiên tiến Nhật Bản Trường Đại học Berkeley, Califonia, Nhà xuất bản Đại học Califonia, 1996
13 Phát biểu của Ô Giang Phan, Thứ trưởng Uỷ ban Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Trung Quốc, tại Phiên họp lần thứ 40 của Uỷ ban Liên hiệp quốc về Dân số phát triển, New York, 10/4/2007)
Trang 30quốc tế về dân số ở Mexico City (Mexico) Ở giai đoạn này, chương trình kế hoạch hoá gia đình với mục tiêu giảm sinh và mô hình gia đình ít con đã có những thành tựu đáng kể
Tháng 9 năm 1990, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về trẻ em diễn ra tại New York (Hoa Kỳ) Tuy chuyên đề là trẻ em nhưng trong nội dung lại có nhiều điểm liên quan đến chất lượng dân số
Năm 1994, Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển (ICPD) được tổ chức ở Cairo (Ai Cập), có 180 nước đã cử đại biểu tới dự Hội nghị đã đề ra chiến lược mới, nhấn mạnh mối quan hệ giữa dân số và phát triển, đề ra những mục tiêu đáp ứng các nhu cầu của cá nhân chứ không chỉ chú ý đến các mục tiêu nhân khẩu thuần tuý (giảm mức sinh, quy mô gia đình ít con ) Chương trình hành động của hội nghị nhấn mạnh con người là nguồn lực quan trọng nhất Do đó, để phát triển bền vững thì phải nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người Nội dung chương trình đề cập tới việc lồng ghép vấn đề dân số vào các chính sách như xoá đói giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, quyền di dân, sự phát triển của người thuộc các dân tộc thiểu số
Năm 1995, tại Copenhagen (Đan Mạch) đã tổ chức một hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội Tuyên bố chung và chương trình hành động của hội nghị Copenhagen là nhằm “tạo ra, trong khuôn khổ của sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, một môi trường quốc gia và quốc
tế thuận lợi cho sự phát triển xã hội, thanh toán nghèo đói, tăng cường tạo việc làm có năng suất, hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp và thúc đẩy sự hoà nhập xã hội”
Năm 1995, tại Bắc Kinh (Trung Quốc) có hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ 4 Cương lĩnh hành động của hội nghị này có nhiều nội dung liên quan đến chất lượng dân số
Năm 1996, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về lương thực đã tổ chức tại Rome (Italia) Các nước tham dự đều thể hiện nguyện vọng chính trị là đạt được an ninh lương thực cho tất cả mọi người dân, nỗ lực xoá đói giảm nghèo
Trang 31ở các quốc gia nhằm mục tiêu trước mắt là giảm một nửa số người thiếu ăn hiện nay chậm nhất vào năm 2015
Năm 2000, tại Geneve (Thuỵ Sỹ) đã diễn ra khoá họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về phát triển xã hội với 166 nước tham dự Các đại biểu đã nhất trí quan điểm con người làm trọng tâm của phát triển bền vững; phát triển xã hội phải gắn liền với phát triển kinh tế Để phát triển bền vững thì phải nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người, thanh toán nghèo đói, tăng cường tạo việc làm có năng suất, hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp và thúc đẩy sự hoà nhập xã hội trong một môi trường quốc gia và quốc tế thuận lợi cho sự phát triển xã hội và khuôn khổ của sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững
Năm 2004, trong 2 ngày 28, 29/8, đại biểu cấp cao (Những chính khách, đại diện của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA), Hiệp hội Kế hoạch hóa gia đình quốc tế IPPF và các chuyên gia) của các nước Châu Á Thái Bình Dương đã tham dự cuộc họp cấp cao Châu Á lần thứ 20 về dân số
và phát triển ở Almaty, Kazakhstan, được tổ chức bởi Hiệp hội Dân số và phát triển Châu Á (APDA), hợp tác với diễn đàn cấp cao Châu Á về dân số và phát triển Hội nghị đã đưa ra tuyên bố của chính phủ về các vấn đề cơ cấu dân số, sức khoẻ sinh sản, HIV/AIDS, giới, phát triển bền vững, đặc biệt là
chất lượng dân số với nội dung như sau “Mọi cá nhân có quyền hưởng cuộc
sống hạnh phúc Chúng ta phải xem xét mọi khía cạnh của cuộc sống và đưa những vấn đề cuộc sống khoẻ mạnh lâu dài, đầy đủ điều kiện để nâng cao chất lượng dân số toàn diện.”
Trên thế giới đã xây dựng một số các chỉ số liên quan đến đánh giá chất lượng dân số như chỉ số phát triển con người (HDI); Chỉ số khối lượng cơ thể (BMI); Chỉ số phát triển giới tính (GDI); Mức độ vị thế giới tính (GEM), Chỉ
số nghèo nhân văn (HPI)…và chỉ số chất lượng dân số (PQI) (Nga đã xây dựng chỉ số PQI nghiên cứu nhiều địa bàn ở Nga từ năm 1995) Nhiều nước trên thế giới và một số nước trong khu vực đã xây dựng chiến lược dân số, đặt trọng tâm vào việc nâng cao chất lượng dân số, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước
2.1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trang 32Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác dân số, coi đó là một
bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội Một trong những giải pháp để thực hiện mục tiêu trên là đẩy mạnh các nghiên cứu trong lĩnh vực dân số
Ngày 9/6/1999, Việt Nam đã được Liên hiệp quốc trao tặng giải thưởng quốc tế về dân số Tuy nhiên việc giảm tỷ lệ gia tăng dân số không đồng đều giữa các vùng và công tác dân số ở Việt Nam cho tới thời điểm này mới chỉ tập trung giải quyết vấn đề quy mô dân số và một phần nào về cơ cấu và phân
bố dân số Về chất lượng dân số chưa có điều kiện nghiên cứu ở phạm vi rộng
và với quy mô lớn
Năm 2001, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia với sự giúp đỡ của Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc đã xây dựng Báo cáo quốc gia về Phát triển con người ở Việt Nam
Trong thời gian 1999 - 2001, Ban Khoa giáo Trung ương và một số cơ
quan có liên quan đã tiến hành nghiên cứu “Điều tra, đánh giá về những dịch
vụ xã hội cơ bản có liên quan đến chất lượng dân số ở nông thôn Việt Nam”
thuộc Đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu một số
vấn đề liên quan đến chất lượng dân số và đề xuất những chính sách phù hợp
về dân số và phát triển bền vững” Đề tài nhánh do GS.TS Phạm Tất Dong
làm chủ nhiệm Tại đề tài nhánh này, lần đầu tiên ở Việt Nam đã xây dựng được 4 bộ chỉ số mới để đo chất lượng dân số và các dịch vụ xã hội cơ bản Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, các tác giả đã đề xuất một số kiến nghị về định hướng chính sách nâng cao chất lượng dân số nông thôn Việt Nam
Năm 2002 - 2004, TS Nguyễn Thị Kim Hoa chủ trì nghiên cứu đề tài
cấp Đại học quốc gia Hà Nội “Kiến tạo chỉ số để đánh giá nhanh chất lượng
dân số cộng đồng nông thôn Việt Nam” Kết quả nghiên cứu đã kiến tạo chỉ
số PQI và bộ chỉ thị đơn hợp lý hơn dựa trên 4 yếu tố thể chất, trí tuệ, tinh thần và môi trường, trên cơ sở đó áp dụng PQI trong đánh giá nhanh chất lượng dân số của 3 xã thuộc 3 vùng sinh thái nông thôn là Thái Nguyên (Miền núi phía Bắc), Quảng Ngãi (Ven biển Trung Bộ) và Nam Định (Đồng bằng
Trang 33Sông Hồng) và đề xuất phương hướng cải thiện chất lượng dân số 3 xã nghiên cứu trên
Năm 2004 - 2006, GS TS Phạm Tất Dong đã chủ trì nghiên cứu, triển
khai Đề tài nhánh“Nghiên cứu các yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chất
lượng dân số” thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu một số yếu tố sinh học, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chất lượng dân số và đề xuất chính sách, giải pháp phù hợp” Đề tài đã hoàn thiện bộ công cụ đánh giá chất
lượng dân số, bao gồm bộ các chỉ số chất lượng dân số (PQI), chỉ số phát triển cộng đồng (CDI), các dịch vụ xã hội cơ bản (BSM) và một số chỉ số khác Đồng thời cũng đã xác định được mối tương quan và tác động giữa một số yếu tố kinh tế - xã hội và chất lượng dân số Chỉ số PQI của đề tài xây dựng
để đánh giá chung cho cả địa bàn đô thị và nông thôn
Trong thời gian 2006 - 2007, Viện Khoa học Dân số Gia đình và Trẻ
em phối hợp với Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em Hà Nội đã tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp hạn chế một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số trên địa bàn Hà Nội Nội dung của cuộc điều tra, khảo sát bao gồm: xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số trên địa bàn Hà Nội; đánh giá hiểu biết, nhận thức và thái độ của người dân và các cán
bộ chủ chốt các cơ quan liên quan về một số nội dung của “chất lượng dân số”; đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế một số yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến nâng cao chất lượng dân số Hà Nội trong thời kỳ 2006 - 2010 Kết quả điều tra cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình nâng cao chất lượng dân số Hà Nội
Vào quý III năm 2007, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn
sách “Chính sách và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số Hà Nội theo
hệ tiêu chuẩn mới” của tác giả Đoàn Kim Thắng (Viện Xã hội học) Kết quả
nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề chất lượng dân số Hà Nội hiện nay thông qua điều tra khảo sát một số chỉ tiêu về chất lượng dân số (chỉ
Trang 34số phát triển con người; các chỉ tiêu về y tế và chăm sóc sức khoẻ; chỉ số dân
số và việc làm; chỉ số tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ xã hội)
Đối với Đề tài "Các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến chất lượng
dân số đô thị Thành phố Hà Nội" chúng tôi muốn xây dựng chỉ số đo chất
lượng dân số (PQI) để tính riêng cho địa bàn đô thị, đặc biệt là đô thị Thành phố Hà Nội Đề tài cũng phân tích và làm rõ 11 yếu tố kinh tế xã hội tác động đến chất lượng dân số đô thị ở Thành phố Hà Nội bao gồm: Thu nhập và phân phối thu nhập; Lao động và việc làm; Giao thông liên lạc; Sức khoẻ; Giáo dục; Nhà ở; Môi trường; Cuộc sống gia đình; Sự tham gia công tác xã hội của phụ nữ; Trật tự an toàn công cộng; Văn hoá và giải trí
Trang 352.1.2.3 Một số văn bản pháp lý của Việt Nam liên quan đến chất lượng dân
số
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình đã đề ra hệ thống các giải pháp đến năm 2000: “Xây dựng các chính sách cụ thể về bảo vệ và phát triển một số dân tộc ít người đang có chiều hướng suy giảm dân số” và: cải thiện chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, tạo công ăn việc làm, phân bổ dân cư hợp lý, xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, mở rộng các thiết chế văn hóa, phát triển nông thôn, bảo hiểm sức khỏe và tuổi già”
- Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam về thể chất, trí tuệ, tinh thần, cơ cấu nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
- Nghị quyết Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-201014 '“ Nâng cao chất lượng dân số và phân bố dân cư hợp lý giữa các vùng Xây dựng quy hoạch và chính sách thích hợp nhằm đáp ứng xu thế chuyển dịch cơ cấu dân số ở nông thôn và thành thị”
- Pháp lệnh Dân số và Nghị định số 104/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số nêu cụ thể: “Mục tiêu chính sách dân số là duy trì mỗi cặp vợ chồng chỉ có một hoặc hai con để ổn định quy mô dân số, bảo đảm cơ cấu dân số và phân bố dân cư hợp lý, nâng cao chất lượng dân số”
- Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 - 2010 đề ra mục tiêu cụ thể:
“Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần, phấn đấu đạt chỉ số
14 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006, Nghị quyết số 56/2006/QH11
Trang 36phát triển con người (HDI) ở mức trung bình tiên tiến của thế giới vào năm 2010”15
15 Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg ngày 22/12/2000 về việc phê duyệt Chiến lược dân số Việt Nam 2001 - 2010
Trang 37- Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình16, trong đó đề ra mục tiêu cụ thể:
47-“triển khai các mô hình nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần, phấn đấu đưa chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam lên mức trung bình tiên tiến của thế giới vào năm 2010, rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến về chỉ số này trong những năm tiếp theo”
- Chỉ thị 13/2007/CT-TTg ngày 06/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình
- Quyết định số 170/2007/QĐ-TTg ngày 08/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia dân số - kế hoạch hoá gia đình giai đoạn 2006-2010”, trong đó đề ra mục tiêu tổng quát: “Thử nghiệm và mở rộng một số mô hình, giải pháp can thiệp, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dân số Việt Nam cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần, đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển bền vững của đất nước” Để đạt mục tiêu Chiến lược, chương trình đã đề ra 6 dự án, trong đó có 2 dự án liên quan đến chất lượng dân số: nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình nhằm thực hiện chủ yếu các mục tiêu kế hoạch hóa gia đình và góp phần nâng cao chất lượng dân số và dự án thử nghiệm
2.1.3 Các khái niệm công cụ
2.1.3.1 Chất lượng dân số
Từ thế kỷ XVIII, khái niệm chất lượng dân số đã được sử dụng trong văn học Khái nhiệm về chất lượng dân cư đã được Ăngghen sử dụng Ăngghen đã xem xét chất lượng dân số như là yếu tố vật chất, có nghĩa là các điều kiện kinh tế là một mặt của yếu tố kỹ thuật, coi chúng như một trình độ phát triển của tư liệu sản xuất
16 Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 09/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 về việc thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số
Trang 38Quan niệm của Ăngghen được dựa trên các học thuyết kinh tế chính trị
với quan điểm “Sản xuất là hoạt động chủ đạo trong cuộc sống của con
người” nên chất lượng dân số phản ánh trình độ của lực lượng sản xuất Chất
lượng dân số là điều kiện vật chất để đối chứng với trình độ phát triển của tư liệu sản xuất được coi là điều kiện kỹ thuật Do vậy, Ăngghen nhấn mạnh
“Chất lượng dân số chính là năng lực con người sử dụng tư liệu sản xuất một
cách hiệu quả nhất”
Khái niệm chất lượng dân số đã được sử dụng khá rộng rãi trong thuyết
ưu sinh và dựa trên cơ sở gen Điển hình là thuyết chủng tộc, xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh ở Anh, Pháp Nội dung chủ yếu của thuyết này là: Có chủng tộc “Thượng đẳng” và “Hạ đẳng” và sự phân hóa này mang tính
tự nhiên, di truyền và bất biến Do vậy, các nhà khoa học tư sản đã chứng minh sự tồn tại của bất bình đẳng về xã hội xuất phát từ nguồn gốc sinh học
và đưa ra khả năng giải quyết các vấn đề xã hội bằng cách hoàn thiện bản chất nguồn gốc của con người Họ lập luận rằng chủng tộc hạ đẳng thì sinh đẻ nhiều còn thượng đẳng thì ngược lại đã làm xấu đi cấu cấu dân số về mặt lượng Do vậy, văn minh nhân loại phụ thuộc vào việc giữ gìn “sự thuần chủng” bằng việc tăng quy mô của chủng tộc “thượng đẳng”
Theo các nhà nhân khẩu học Nga, chất lượng dân số là “Khái niệm
trung tâm của hệ thống tri thức về dân số” và được phản ánh qua các chỉ tiêu:
(1) Trình độ giáo dục; (2) Cơ cấu nghề nghiệp xã hội; (3) Tính năng động và tình trạng sức khoẻ
Theo Alexander A Sagradov (Giáo sư, Đại học Moscow, Khoa Kinh tế
học, Chuyên ngành nghiên cứu dân số) trong bài viết “Chất lượng dân số -
khái niệm cơ sở và những ứng dụng của nó trong việc phân tích dân số học xã hội ở Nga”, năm 2005 cho rằng: có 3 hướng tiếp cận lý thuyết về định nghĩa
chất lượng dân số trong các tài liệu dân số học hiện đại:
+ Hướng tiếp cận đầu tiên giả định rằng chất lượng dân số là một hệ thống các đặc điểm cá nhân và xã hội - sức khoẻ thể chất, thể lực, trí tuệ,
Trang 39phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ và những kĩ năng đạt được hay những năng lực bẩm sinh hoặc những năng lực có được do thuyết ưu sinh và cách thức đo lường xã hội bao hàm việc đầu tư vào sức khoẻ và giáo dục (Fairchild 1939, Hauser và Duncan 1966, Thomlinson 1965, Liên Hợp Quốc
1973, v.v.) Những người đi theo hướng tiếp cận này nhấn mạnh rằng chất lượng dân số liên quan đến trình độ phát triển và mức thu nhập đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của các tỷ suất sinh khác nhau (Sauvy 1969, Soloway
1990, Thompson 1930)
+ Điểm đáng chú ý của cách tiếp cận thứ 2 (Larmin 1974, Steshenko
1981, Tkachenko 1978, Valentei 1991,v.v) là khuynh hướng này cho rằng chất lượng dân số được coi là một phức hợp của cấu trúc dân số (tầng lớp, xã hội, sức khoẻ, giáo dục, tay nghề, kĩ năng, hôn nhân, tuổi, giới tính, dân tộc) Theo các nhà Mác xít truyền thống thì cấu trúc dân số được xác định bởi ph-ương thức sản xuất và chất lượng nguồn nhân lực Những người theo khuynh hướng này có xu hướng mở rộng phạm vi những cuộc điều tra, không chỉ về chủ đề dân số học Họ còn phản đối chất lượng dân số được đo thông qua chỉ báo tái sản xuất dân số (Foteeva 1984, Medkov Selestov, Korostelev 1987) hoặc coi việc cải thiện chất lượng dân số là một phương tiện kiểm soát tỷ lệ sinh (Xueyuan Tian 1989)
+ Hướng tiếp cận thứ 3 dựa trên lý thuyết “con người trung tâm” Có một hệ thống lý thuyết cơ bản về các đặc điểm của chất lượng dân số trong việc xây dựng các tài liệu theo hướng tiếp cận này; đó là: sức khoẻ, giáo dục, trình độ và kinh nghiệm sản xuất (Becker và Lewis 1973; Schultz T.P 1981; Schultz Th.W 1981, v.v.) Việc tập trung vào nghiên cứu hành vi dân số học
và những phân tích kinh tế vi mô của mối quan hệ qua lại giữa chất lượng dân
số và thu nhập của hộ gia đình là những đặc trưng riêng biệt cho hướng tiếp cận này Điều đó cho thấy những công trình nghiên cứu nhằm phát triển con người đều có liên quan đến cách tiếp cận trên mặc dù mô hình “phát triển con người” (Human Development) không giống khái niệm “con người trung tâm”
Trang 40là “đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, coi phát triển kinh tế
như là một phương tiện và không có điểm kết thúc”
Có một thực tế là những nhà nghiên cứu thuộc cả 3 khuynh hướng trên
đều không coi tỷ suất sinh là một trong những đặc trưng đánh giá chất lượng
dân số Tuy nhiên một cách tiếp cận như vậy thường không được chấp nhận Một số học giả cho rằng tỷ suất sinh (hay khả năng sinh sản) là một trong
những thành tố quan trọng để đánh giá chất lượng dân số (Lorimer 1945;
Vichnevski 1982) Đáng tiếc, những học giả này lại không quan tâm đến việc
phát triển lý thuyết về chất lượng dân số và ý tưởng về lý thuyết đó cũng
không được hình thành
Theo Chủ nghĩa Mác- Lê nin, bản chất và nội dung của chất lượng dân
số xuất phát từ các quá trình và quan hệ xã hội, được hình thành thông qua
quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và đào tạo
Như vậy, chất lượng dân số được phản ánh thông qua các thuộc tính cụ
thể liên quan đến trình độ thể lực, trí lực, trình độ giáo dục, trình độ khoa học
kỹ thuật, cơ cấu và kỹ năng nghề nghiệp, xã hội và tính năng động của dân
cư
Ở Việt Nam, khái niệm chất lượng dân số đã được đề cập đến như sau:
Theo từ điển Bách Khoa của Việt Nam xuất bản năm 1995, “Chất lượng” là
phạm trù triết học biểu thị những bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính
ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với các sự vật khác Vậy “chất
lượng dân số phải được biểu thị bằng các thuộc tính bản chất của dân số”,
tổng hợp lại đó có thể là các thuộc tính về thể lực, trí lực, năng lực xã hội và
tính năng động xã hội… 17
Đề tài nghiên cứu chất lượng dân số và các dịch vụ xã hội cơ bản đã
đưa ra một định nghiã cụ thể về chất lượng dân số trong điều kiện thực tế của
Việt Nam là “Một cộng đồng dân cư có chất lượng cao là cộng đồng khoẻ
17 Nguyễn Hữu Dũng, Chất lượng dân số và các giải pháp nâng cao chất lượng dân số ở Việt Nam trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Kỷ yếu Hội thảo khoa học chất lượng dân số và Các dịch vụ xã
hội cơ bản