Nhiệm vụ nghiên cứu - Thao tác hóa các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu - Đưa ra khung lý thuyết, các biến số, chỉ báo, giả thuyết nghiên cứu - Vận dụng các lý thuyết xã hộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
TRANG
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 7
2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 9
2.1 Ý nghĩa lý luận: 9
2.2 Ý nghĩa thực tiễn: 9
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
3.1 Mục đích nghiên cứu 10
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Đối tượng nghiên cứu 10
4.2 Khách thể nghiên cứu 10
4.3 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 11
5.1 Câu hỏi nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu: 11
6.1 Phương pháp luận: 11
6.2 Phương pháp nghiên cứu: 11
7 Khung lý thuyết 12
8 Kết cấu của khóa luận 14
PHẦN NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 15
1.2 Khái niệm liên quan 20
1.2.1 Nhận thức 20
1.2.2 Thái độ 21
1.2.3 Hành vi 23
1.2.4 Tình dục 23
Trang 41.2.5 Tình dục an toàn 25
1.2.6 Bệnh lây nhiễm qua đường tình dục (BLNQĐTD) 26
1.2.7 Biện pháp tránh thai 27
1.2.8 Nạo hút thai 28
1.2.9 Di cư 28
1.2.10 Công nhân ngoại tỉnh 30
1.3 Lý thuyết áp dụng 31
1.3.1 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý 31
1.3.2 Lý thuyết xã hội hóa 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC , THÁI ĐỘ , HÀNH VI CỦA CÔNG NHÂN NGOẠI TỈNH VỀ TÌNH DỤC AN TOÀN 31
2.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 31
2.2 Thực tra ̣ng hiểu biết của công nhân ngoa ̣i tỉnh về tình du ̣c an toàn 38
2.3 Thái độ của công nhân ngoại tỉnh về tình dục an toàn 55
2.4 Hành vi của công nhân ngoại tỉnh về tình dục an toàn 65
CHƯƠNG 3: YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI VỀ TÌNH DỤC AN TOÀN CỦA CÔNG NHÂN NGOẠI TỈNH 78
3.1 Yếu tố giớ i tính và nhâ ̣n thức, thái độ, hành vi TDAT của công nhân ngoa ̣i tỉnh ở Hà Nội hiện nay 78
3.2 Tác động của trình độ học vấn đến nhận thức , thái độ , hành vi về TDAT củ a công nhân ngoa ̣i tỉnh ở Hà Nô ̣i hiê ̣n nay 83
3.3 Tác động của truyền thông đến nhận thức , thái độ, hành vi của công nhân ngoại tỉnh về vấn đề tình dục an toàn 95
KẾT LUẬN 100
KIẾN NGHI ̣ 103
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TD: Tình dục
TDAT: Tình dục an toàn
QHTD: Quan hệ tình dục
STD: Bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục
STI: Bệnh lây qua đường tình dục
BLTQDTD: Bệnh lây truyền qua đường tình dục
BLNQDTD: Bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
HIV: là vi rút gây ra bệnh AIDS, HIV tồn tại trong máu và các dịch khác của cơ thể như tinh dịch, dịch âm đạo, sữa mẹ… của người bị nhiễm HIV tấn công và làm suy yếu khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể
AIDS: là tình trạng sức khỏe khi hệ thống tư nhiên bảo vệ cơ thể bị HIV phá vỡ Ở giai đoạn này, cơ thể của người nhiễm HIV mất khả năng chống lại bệnh tật và bị rất nhiều bệnh tấn công, dẫn đến tử vong
TH: Tiểu học
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.2.1: Hiểu biết của công nhân ngoa ̣i tỉnh về tình du ̣c 33
Bảng 2.2.2: Hiểu biết của công nhân ngoa ̣i tỉnh hiểu về tình du ̣c an toàn 34
Bảng 2.2.3:Hiểu biết của công nhân ngoa ̣i tỉnh về nguyên nhân dẫn đến các bê ̣nh LNQĐTD 40
Bảng 2.2.4: Hiểu biết của công nhân ngoa ̣i tỉnh về hâ ̣u quả của bê ̣nh LNQĐTD 41
Bảng 2.2.5: Hiểu biết của công nhân ngoa ̣i tỉnh về cách phòng tránh các bê ̣nh LTQĐTD 43
Bảng 2.3.1: Thái độ của công nhân ngoại tỉnh về hâ ̣u quả bê ̣nh LTQĐTD 53
Bảng 2.3.2: Thái độ của công nhân ngoại tỉnh về cách phòng tránh các bệnh LTQĐTD 55
Bảng 2.4.1: Nguyên nhân của các bê ̣nh LTQĐTD 61
Bảng 2.4.2: Hành vi sau khi mắc các bê ̣nh LTQĐTD 64
Bảng 2.4.3: Cách phòng tránh bê ̣nh LTQĐTD 65
Bảng 2.4.4: Hành vi về tìm nhận và mua các biện pháp tránh thai 70
Bảng 3.2.1: Tương quan giữa trình đô ̣ ho ̣c vấn với nhâ ̣n thức về cách phòng tránh các bệnh LTQĐTD 79
Bảng 3.2.2: Tương quan giữa trình đô ̣ ho ̣c vấn với nhâ ̣n thức các biê ̣n pháp tránh thai 81 Bảng 3.2.3: Tương quan giữa trình đô ̣ ho ̣c vấn với thái độ về cách phòng tránh các bê ̣nh LTQĐTD 83
Bảng 3.2.4: Tương quan trình đ ộ học vấn với hành vi phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục 87
Bảng 3.2.5: Tương quan trình đô ̣ ho ̣c vấn với hành vi đã từng sử du ̣ng biện pháp tránh thai 88
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.2.1: Hiểu biết của công nhân ngoa ̣i tỉnh về các bê ̣nh lây truyền qua đường tình dục 38 Biểu 2.2.2: Tỷ lệ phần trăm công nhân ngoại tỉnh biết về các biện pháp tránh thai 46 Biểu 2.2.3: Hiểu biết của công nhân ngoa ̣i tỉnh về hâ ̣u quả na ̣o phá thai 48 Biểu 2.3.1: Tỷ lệ phần trăm thái đô ̣ công nhân ngoại tỉnh về các bệnh LTQĐTD 52 Biểu 2.3.2: Tỷ lệ phần trăm thái độ của công nhân ngoại tỉnh về các biện pháp tránh thai 58 Biểu 2.4.1: Tỷ lệ công nhân mắc bê ̣nh LTQĐTD và chữa được 63 Biểu 2.4.2: Tỷ lệ phần trăm hành vi về sử dụng biện pháp tránh thai 67 Biểu 3.1.1: Tỷ lệ phần trăm tương quan giữa giới tính và cách phòng tránh bệnh LTQĐTD 74 Biểu 3.3.1: Viê ̣c tiếp câ ̣n thông tin TDAT thông qua các kênh truyền thông khác nhau 90
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 81 Tính cấp thiết
Lao đô ̣ng ngoa ̣i tỉnh đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới bởi nó được xem như vấn đề mang tính kinh tế - xã hội Ở Việt Nam, kinh tế thi ̣ trườ ng giai đoa ̣n sau đổi mới tác đô ̣ng ma ̣nh mẽ đã làm thay đổi sâu sắc bô ̣
mă ̣t xã hô ̣i và ta ̣o nên làn sóng lao đô ̣ng di cư lớn từ nông thôn ra thành thi ̣ Tỷ lệ lao đô ̣ng ngoa ̣i tỉnh có xu hướng tăng nhanh trong các nhà máy , xí nghiê ̣p hiê ̣n nay
và đặc biệt tại những nơi đô thị lớn như Hà Nội Theo thống kê của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), lao đô ̣ng di cư chiếm 1/10 dân số của Hà Nội Dự kiến dân số đô thị của Hà Nội đến năm 2010 sẽ là 3,9 - 4,2 triệu người, năm 2020 là 7,9 - 8,5 triệu người.[7]…Lao đô ̣ng ngoa ̣i tỉnh nói chung và công nhân ngoại tỉnh nói riêng là lực lượng lao động quan tro ̣ng đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế của các trung tâm đô thị Tuy nhiên, lực lươ ̣ng lao đô ̣ng này lại nhận được rất í t sự hỗ trợ từ các dịch vụ y tế cũng như hoạt động bảo trợ xã hội
Bên ca ̣nh viê ̣c tìm được công viê ̣c để phát triển kinh tế và trang trải cuô ̣c sống hàng ngày vẫn còn rất nhiều bất lợi đối với công nhân ngoa ̣i tỉnh hiê ̣n nay và một trong những vấn đề mà họ đang phải đối mặt chính là những rủi ro trong đời sống tình dục của mình Mô ̣t số công nhân lao đô ̣ng ngoa ̣i tỉnh xa gia đình , xa vợ, chồng hoă ̣c chưa có gia đình vẫn có sinh hoa ̣t tình du ̣c “Tình dục không an toàn sẽ dẫn đến những hậu quả của lây nhiễm HIV , các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) và công nhân ngoại tỉnh di cư trong thời buổi đại dịch AIDS sẽ làm tăng nhanh chóng khả năng tiềm tàng và sự lan rộng của HIV”.[20, tr3]
“ Theo tổ chức y tế thế giới thì mỗi năm có khoảng 250 triệu người bị mắc
các bệnh STIs trong đó người ở độ tuổi sinh sản chiếm 10% Ở Việt Nam, theo ước
tính có khoảng 800.000 đến 1.000.000 người mắc bệnh STIs mỗi năm, trong đó VTN và thanh niên chiếm khoảng 40%” [17, Tr 182] Đây là một thực trạng cần báo
động bởi khi mắc bệnh STIs có thể làm tổn thương tới những phần nằm bên trong
cơ thể của cơ quan sinh sản của cả nam và nữ, do các biến chứng của bệnh gây ra những hậu quả nghiêm trọng như vô sinh (không còn sinh con được nữa ), lây truyền sang con (khi người phụ nữ có thai), hoặc có thể dẫn đến tử vong (HIV/AIDS; viêm gan vi rut B,C…) điều này gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính
Trang 9mạng của người nhiễm bệnh đồng thời nó còn gây những hậu quả nghiêm trọng về mặt kinh tế, xã hội và gia đình
Tỷ lệ nạo phá thai tăng nhanh “ ước tính trung bình mỗi ngày có trên 20 ca
nạo phá thai, khoảng 25% trong số đó chưa lập gia đình Tỉ lệ này gần như chia đều cho các khu vực trong cả nước” [15] Điều này cho thấy ý thức về sử du ̣ng các
biê ̣n pháp tránh thai cũng như tiếp câ ̣n với các di ̣ch vu ̣ cung cấp biê ̣n pháp tình du ̣c
an toàn vẫn còn thấp
Thêm vào đó, tỷ lệ người bị nhiễm HIV/AIDS cũng gia tăng theo thời gian :
“Theo số liệu báo cáo của Cục phòng chống HIV/AIDS (VAAC) trong năm
2011 tổng số trường hợp nhiễm HIV hiện đang còn sống là 197.335 người Trong
đó, tổng số bệnh nhân AIDS hiện đang còn sống là 48,720 người, tổng số người nhiễm HIV đã tử vong từ trước đến nay là 52.325 người Theo nhận định của cục VAAC dịch HIV có xu hướng chững lại, không tăng nhanh như những năm trước đây, nhưng về cơ bản chưa khống chế được dịch HIV ở Việt Nam.” [17] Bên cạnh
nguyên nhân chính do tiêm chích ma túy thì một trong những nguyên nhân chủ yếu khác dẫn đến đa ̣i dịch trên là bởi có hành vi tình dục không an toàn, quan hệ với gái mại dâm nhiễm HIV/AIDS
Một nghịch lý cho thấy , khi y học ngày càng phát triển cũng như đời sống con người không ngừng được cải thiện , nâng cao thì bệnh STDs , nạo phá thai và HIV/AIDS ngày càng tăng nhanh Điều đ ó không nằm ngoài nhóm xã hội nào nhưng dễ tổn thương nhất vẫn là tầng lớp lao đô ̣ng có trình đô ̣ ho ̣c vấn và hiểu biết thấp Họ hoàn toàn có khả năng bị lây nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình du ̣c (STI) bởi những yếu tố rủi ro mang tính xã hô ̣i cũng như ha ̣n chế kiến thức về tình du ̣c an toàn
Từ thực tra ̣ng chung tại các nhà máy, xí nghiệp dệt may… hiện nay cho thấy, phần lớn người lao động ngoại tỉnh ta ̣i đây vẫn chưa có được những cơ hội để tiếp
câ ̣n với kiến thức về tình dục an toàn tại nơi làm việc cũng như tiếp cận thông tin từ các chương trình can thiệp Những người công nhân ngoại tỉnh thường tìm hiểu về vấn đề này thông qua mạng lưới bạn bè mà ít có được kiến thức từ các nguồn chính
Trang 10thống Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến bệnh LTQĐTD tăng nhanh ở nhóm đối tượng này
Tình dục không an toàn và sự thiếu kiến thức về tình dục an toàn là nguyên nhân góp phần gia tăng các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục , nạo phá thai v à dịch bệnh HIV/AIDS Viê ̣c tìm hiểu kiến thức liên quan đến tình dục của công nhân ngoại tỉnh có đủ trang bị cho họ để đối mặt với môi trường đô thị cũng như thái dộ, hành vi về tình dục an toàn và các yếu tố khách quan , chủ quan nào tác động đến là
rất cần thiết Chính vì vậy mà tác giả quyết định chọn đề tài “ Nhận thức, thái độ,
hành vi về tình dục an toàn của công nhân ngoại tỉnh trên địa bàn Hà Nội hiện nay” (qua khảo sát tại công ty cổ phần may Đông Mỹ ) nhằm tìm hiểu nhận thức,
thái độ, hành vi của công nhân ngoại tỉnh về sức khỏe tình dục an toàn hiện nay và một số giải pháp thiết thực góp phần xây dựng chính sách sức khỏe tình dục cho công nhân ngoa ̣i tỉnh
2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa lý luận:
Đề tài góp phần làm sáng tỏ nhận thức , thái độ, hành vi về tình dục an toàn của công nhân ngoa ̣i tỉnh trong những năm gần đây Tìm hiểu và phân tích những yếu tố tác động đến việc nhận thức , thái độ, hành vi về tình dục an toàn để bổ sung vào hệ thống những nghiên cứu về sức khỏe cho lao động ngoa ̣i tỉnh Đề tài góp phần làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu đi sau
2.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Qua nghiên cứu tìm hiểu nhận thức cũng như yếu tố tác động về tình dục an toàn của công nhân ngoa ̣i tỉnh nhằm áp dụng và kiểm chứng các lý thuyết đã học vào thực tế đồng thời nghiên cứu góp phần giúp cho các nhà truyền thông , quản lý hoạch định chính sách có thêm nhiều thông tin sâu về nhận thức , thái độ và hanh vi của người di cư về tình dục an toàn Trên cơ sở đó góp phần đưa ra những giải pháp phù hợp và hiệu quả để có những chính sách điều chỉnh hợp lý cho người di cư
Trang 113 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
hê ̣ xã hô ̣i và truyền thông)
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi về tình dục an toàn cho công nhân ngoại tỉnh và đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện hơn chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công nhân ngoại tỉnh hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hóa các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Đưa ra khung lý thuyết, các biến số, chỉ báo, giả thuyết nghiên cứu
- Vận dụng các lý thuyết xã hội học liên quan vào nghiên cứu nhận thức, thái
đô ̣, hành vi về tình dục an toàn của người lao động di cư hiện nay
- Mô tả thực trạng chung về nhận thức, thái độ, hành vi tình dục an toàn của người công nhân ngoại tỉnh hiện nay
- Tìm hiểu các yếu tố chính tác động đến nhận thức , thái độ, hành vi về tình dục an toàn của người công nhân ngoại tỉnh
- Đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao nhận thức, thái độ, hành vi
về tình dục an toàn cho công nhân ngoại tỉnh và một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện hơn chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công nhân ngoại tỉnh hiện nay
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức, thái độ , hành vi về tình dục an toàn của công nhân ngoại tỉnh hiện nay
4.2 Khách thể nghiên cứu
Công nhân ngoại tỉnh
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2011 đến tháng 8/2012
- Không gian: Công ty cổ phần may Đông Mỹ
Trang 125 Câu ho ̉i nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu ho ̉i nghiên cứu
- Nhận thức, thái độ, hành vi của công nhân ngoại tỉnh được thể hiện như thế nào về những vấn đề liên quan đến tình dục an toàn hiện nay (về bản chất tình dục, tình dục an toàn, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và các biện pháp tránh thai)?
- Những yếu tố nào tác động đến nhận thức, thái độ và hành vi về tình dục an toàn của công nhân ngoại tỉnh hiện nay ( môi trường sống và làm viê ̣c ta ̣i khu công nghiê ̣p cũng như trình đô ̣ ho ̣c vấn, phương tiê ̣n truyền thông…)?
- Nhận thức, thái độ của công nhân ngoại tỉnh về các vấn đề liên quan đến tình dục an toàn tác động như thế nào đến việc họ lựa hành vi tình dục an toàn cũng như đánh giá của họ về những người xung quanh?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Phần lớn công nhân ngoại tỉnh đã có kiến thức về tình dục an toàn nhưng mức độ hiểu biết chưa đầy đủ
- Nam công nhân ngoại tỉnh hiê ̣n nay thường có kiến thức về tình du ̣c an toàn đầy đủ hơn nữ công nhân
- Những người công nhân ngoại tỉnh có trình độ học vấn cao thường có nhận thức, thái độ và hành vi về tình dục an toàn tốt hơn người có trình độ học vấn thấp
- Công nhân ngoại tỉnh thường tiếp cận thông tin về tình dục an toàn qua kênh truyền thông trực tiếp (bạn bè , đồng hương , người thân… ) hơn là qua các phương tiện truyền thông đại chúng (tivi, đài phát thanh, sách báo, tạp chí…)
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Phương pháp luận:
Đề tài sử du ̣ng quan điểm của chủ nghĩa duy vâ ̣t biê ̣n chứng và chủ nghĩa duy vâ ̣t li ̣ch sử làm kim chỉ nam trong suốt quá trình nghiên cứu , từ các luâ ̣n điểm nghiên cứu, phân tích cho đến chứng minh các khía ca ̣nh khác nhau của đề tài
Đề tài vâ ̣n du ̣ng mô ̣t số cách tiếp câ ̣n xã hô ̣i ho ̣c như : Tiếp câ ̣n xã hô ̣i ho ̣c về
xã hội hóa và tiếp cận xã hội học về sự lựa chọn hợp lý
6.2 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng kết hơ ̣p cả phương pháp đi ̣nh lượng và đi ̣nh tính
Trang 13- Phương pháp nghiên cứu đi ̣nh lươ ̣ng:
Phương pháp nghiên cứu đi ̣nh lượng được thực hiê ̣n nhằm đo lường mối
quan hê ̣ giữa các biến số thông qua viê ̣c xử lý , phân tích các kết quả thu được bằng chương trình SPSS
+ Cơ chế cho ̣n mẫu : Do đă ̣c thù của nhà máy may nên số lượng nam công
nhân ngoa ̣i tỉnh ít hơn so với nữ nên tác giả nghiên cứu toàn bô ̣ số nam Bên ca ̣nh đó, nghiên cứu nữ công nhân ng oại tỉnh được thực hiện theo phương pháp mẫu ngẫu nhiên hê ̣ thống với bước nhảy k=200/100
nên nghiên cứu chỉ tiến hành thu thâ ̣p thông tin với 200 đơn vị Với số lượng mẫu này thì các số liệu có thể đảm bảo được ý nghĩa về mặt thống kê
- Phương pháp nghiên cứu đi ̣nh tính:
Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu 30 công nhân ngoa ̣i tỉnh để góp phần làm rõ hơn cho vấn đề nghiên cứu
7 Khung lý thuyết
Chính sách của Đảng, Nhà nước
Thực tra ̣ng nhận thức, thái độ, hành
vi về tình dục an toàn của công nhân ngoại tỉnh trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Đặc điểm gia đình
Mối quan hệ
(MLXH)
Môi trường KT - XH
Hiểu biết về tình dục, tình du ̣c an toàn
Hiểu biết, thái độ, hành vi về các bệnh LNQDTD, HIV/AIDS
Hiểu biết, thái độ, hành vi về biện pháp tránh thai và hậu quả nạo phá thai
Kênh truyền thông
Đặc điểm cá nhân
Trang 14o Tình dục bao gồm những hoạt động
Nhận thức về khái niệm tình dục an toàn
- Không quan hệ tình dục
- Quan hệ tình dục nhưng không giao hợp
- Chung thủy với chỉ một bạn tình
- Sử dụng bao cao su
Nhận thức về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
o Nhận thức về nguyên nhân dẫn đến bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và hâ ̣u quả của bê ̣nh
o Nhận thức về cách phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
Nhận thức về các biện pháp tránh thai và hâ ̣u quả của na ̣o phá thai
o Các biện pháp tránh thai
o Hậu quả của việc nạo phá thai
o Cách sử dụng bao cao su
Thái độ đối với các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
o Thái độ đối với những nguyên nhân dẫn đến bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và hâ ̣u quả của bê ̣nh
Trang 15o Thái độ đối với cách phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
Thái độ đối với các biện pháp tránh thai và hậu quả nạo phá thai
o Cách phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
Các biê ̣n pháp tránh thai và hâ ̣u quả na ̣o phá thai
o Môi trường văn hóa-kinh tế-xã hội
8 Kết cấu của luân văn
Ngoài các phần : Mở đầu ; Kết luận và Giải pháp , Kiến nghị ; Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi về tình dục an toàn của công nhân ngoại tỉnh
Chương 3: Yếu tố tác động đến nhận thức , thái độ và hành vi về tình dục an toàn của công nhân ngoại tỉnh hiê ̣n nay
Trang 16PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan ti ̀nh hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu lao đô ̣ng ngoa ̣i tỉnh đã và đang trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu mang tính thời sự của khoa học xã hội và nhân văn , đặc biệt là xã hội học Vấn đề người lao đô ̣ng ngoa ̣i tỉnh ta ̣i các đô thi ̣ diễn ra ngày càng phức tạp đã kéo theo n hiều vấn đề như ô nhiễm môi trường , việc làm, thất nghiệp cũng như vấn đề an sinh xã hội , chăm sóc sức khỏe và đời sống tình dục…Trong đó , tình dục không an toàn được xem là nguyên nhân chính làm tăng nhanh các bệnh lây nhiễm quan đường tình dục , nạo hút thai cũng như HIV /AIDS Chính vì vậy mà hiện nay
đã có khá nhiều đề tài khoa ho ̣c , công trình nghiên cứu , sách báo về đời sống tình dục của lao động ngoại tỉnh nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như ảnh hưởng của quá trình di cư đến hành vi chăm sóc sức khỏe đời sống tình dục của ho ̣
Nghiên cứu ngoài nước:
Trong “ Văn hóa tình dục và di dân trong kỷ nguyên của bệnh AIDS- Nhìn từ
quan điểm nhân chủng học và nhân khẩu học” Gilbert Herd chủ biên, Clarendon
Press, Oxford, 1997 Cuốn sách đã thể hiện khá đầy đủ về mối quan hệ giữa lao
đô ̣ng ngoa ̣i tỉnh với thói quen tình dục và bệnh AIDS tại các nước phát triển Chính
sự dịch chuyển dễ dàng giữa các vùng miền đất nước khác nhau đã làm tăng nguy
cơ lan truyền nạn dịch HIV/AIDS và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục Khi đến một môi trường mới, có nền văn hóa khác nhau đã làm con người thay đổi những quy tắc của mình về hành vi tình dục nên dễ dàng có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và STDs Thêm vào đó, nếu không có sự hiểu biết kiến thức vững chắc
về tình dục an toàn còn là nguyên nhân dẫn đến có thai ngoài ý muốn Có thể nói , các bài viết nghiên cứu trong cuốn sách là bức tranh khá toàn diện chứng minh cho
sự di chuyển của lao đô ̣ng di cư khi tới các vùng miền mới , có nền văn hóa khác thường có hành vi tình dục theo văn hóa mới về những thói quen tình dục, làm giảm mức sinh và để lại những hậu quả của các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/ AIDS trong nhóm lao động ngoại tỉnh
Trang 17Nghiên cứu “ Các kịch bản tình dục trong Văn hóa, Xã hội và Tình dục”,
Willian Simon và John H.Gagnon Chủ biên Richard Parker và Peter Aggleton.UCL Press, 1999 Các tác giả đã sử dụng lý thuyết xã hội học về các kịch bản xã hội như
là sự ẩn dụ để khái quát hóa sự hình thành của hành vi tình dục trong đời sống xã hội Một hành vi tình dục được hình thành qua ba kịch bản hay cấp độ đó là kịch bản văn hóa, kịch bản tương tác cá nhân và kịch bản tâm lý nội tại: nhằm lý giải sự hình thành những ý nghĩa tình dục trong những khung cảnh văn hóa khác nhau Kich bản tương tác cá nhân được hình thành từ tác động của quá trình giao tiếp, tương tác giữa các cá nhân và kịch bản của các yếu tố tâm lí nội tại nhằm xem xét những yếu tố văn hóa và giao tiếp cá nhân ảnh hưởng tới những yếu tố chủ quan của
cá nhân như thế nào để từ đó hình thành ước muốn, nhu cầu của cá nhân Chính từ góc độ lý thuyết này, tình dục được xác định bởi hai yếu tố có quan hệ tương tác lẫn nhau là đời sống xã hội và kinh nghiệm cá nhân
Nghiên cứu “ Tính di động, di dân, tình dục, các bệnh lây truyền qua đường
tình dục và bệnh AIDS”, Tohn Caldwell, John K.Anafii và Pat Caldwell Các tác giả
đã chỉ ra nguy cơ tăng nhanh của các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục tại các nước thứ ba ở Châu Phi qua các thời kỳ thuộc địa và hiện đại hóa ngày nay Nghiên cứu cho rằng, mối quan hệ giữa mại dâm và di dân tương đối chặt chẽ bởi họ đều có tính di động cao, dễ có hành vi tình dục không an toàn cũng như sự thiếu kiến thức
về chăm lo sức khỏe đời sống tình dục Thêm vào đó, nghiên cứu còn chỉ ra được một số yếu tố tác động dẫn đến hành vi tình dục không an toàn và nguy cơ làm tăng nhanh nạn dịch HIV /AIDS Nguyên nhân phần lớn do họ thường sống trong những điều kiện nghèo khổ, thiếu thốn, không được tiếp cận với kiến thức về tình dục an toàn và quan hệ tình dục với nhiều người , gái mại dâm nghèo , bị bệnh STD mà không đủ điều kiện chữa bệnh Tuy nhiên, sự lây nhiễm STDs , HIV/AIDS có thể ngăn ngừa được nếu như những cộng đồng nghèo có sự trang bị đầy đủ kiến thức về tình dục an toàn và được chữa trị STDs …Các nghiên c ứu tuy chưa đề cập hết được
về các khía cạnh dẫn đến tình dục không an toàn nhưng đã thể hiện rất thành công mối quan hệ chặt chẽ giữa mại dâm và di dân, hậu quả của tình dục không an toàn cũng như nhấn mạnh yếu tố làm tăng STDs và HIV/AIDS
Trang 18Nghiên cứu trong nước:
Báo cáo “Tăng tỷ lệ sử dụng bao cao su ở Việt Nam: Thay đổi bối cảnh, văn hóa đạo Khổng và những vấn đề liên quan đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục”, Phan Thục Anh và Daniel Goodkind, Trung tâm nghiên cứu dân số, 1996 Báo cáo được hoàn thành trên cơ sở phân tích các số liệu và tài liệu liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai ở Việt Nam trong đó nhấn mạnh đến việc sử dụng bao cao su Nhìn chung, nghiên cứu đã đưa ra được những khía cạnh mâu thuẫn trong hành vi sử dụng biện pháp bao cao su Kết quả của các số liệu cũng cho thấy xu hướng tăng dần về sử dụng biện pháp bao cao su ở Việt Năm tăng nhanh hơn so với các biên pháp khác và điều này được lý giải trong tính hiệu quả của biện pháp này, không chỉ có vai trò quan trọng trong việc phòng có thai ngoài ý muốn
mà còn tránh được nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục Măt khác, sự thuận tiện trong việc phân phối bao cao su thuận tiện và dễ hơn so với các biên pháp tránh thai phổ biến trước đây đã giúp bao cao su đến gần hơn với người dân Bên cạnh đó, sự khác biệt về măt xã hội trong việc sử dung bao cao su và nhu cầu sử dụng bao cao su đối với những người tuổi vị thành niên, những người chưa lập gia đình và những người có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân cũng được xem xét trong báo cáo
Nghiên cứu “ Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Di dân và sức khỏe”, 2004,
Tổng cục Thống kê, Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc Đây là cuộc điều tra đầu tiên về di
cư mang tầm cỡ quốc gia với mục đích là bổ sung sự thiếu hiểu biết về nguyên nhân dẫn đến lao đô ̣ng ngoa ̣i tỉnh di cư và ảnh hưởng của quá trình đó tới sự phát triển
kinh tế - xã hội Trong đó “ di dân với sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục” được
đề cập tương đối đầy đủ trong một chương riêng cụ thể Sự hiểu biết của người lao
đô ̣ng ngoa ̣i tỉnh về các bệnh LTQĐTD và HIV /AIDS có sự chênh lệch tương đối đáng kể với người không di cư ; người lao đô ̣ng ngoa ̣i tỉnh đến các vùng miền khác nhau như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ và trong số đó
có người dân tộc thiểu số đều có sự hiểu biết thấp hơn so với người Kinh
Một phát hiện khá thú vị trong nghiên cứu ở chương này là có sự khác biệt
về nguyên nhân lây nhiễm các bệnh LTQĐTD theo tình trạng đăng ký hộ khẩu
Trang 19Những người không có đăng ký hộ khẩu và KT1 hiểu biết nhiều về các nguyên nhân dẫn đến bệnh LTQĐTD chỉ có 56,3%; 55,5% trong khi đó KT4 lên tới 65,1%
Và khi nghiên cứu ảnh hưởng của di cư đến hiểu biết về các bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS thì yếu tố chính tác động đến sự hiểu biết về vấn đề này là do trình độ học vấn, mức chi tiêu bình quân hàng tháng tỷ lệ thuận với sự hiểu biết của người di
cư Tuy còn hạn chế trong văn hóa các vùng miền khác nhau cũng như tập trung chung về tất cả mọi đối tượng di cư nhưng nghiên cứu đã rất thành công trong việc làm rõ mối quan hệ giữa di cư với sự hiểu biết, thái độ và hành vi liên quan đến sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục
Nghiên cứu “ Tình dục trong nhóm lao động di cư tại Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh”, 2005 Đinh Thái Sơn Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về đời
sống tình dục của những lao động di cư tạm thời từ nông thôn ra thành thị Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp định tính: thông qua phỏng vấn sâu 103 nam và 100
nữ lao động di cư từ nông thôn ra thành thị, tuổi chủ yếu từ 15 đến 55 được chia làm ba nhóm (15-24;25-34;35-55) Nghiên cứu sử dụng mẫu phỏng vấn sâu thuận tiện thông qua kỹ thuật “snowball” hoặc chủ động gặp gỡ đối tượng phù hợp với những đặc trưng cử cuộc khảo sát Tuy còn hạn chế trong cỡ mẫu nghiên cứu nhưng tác giả đã phần nào bổ sung những khiếm khuyết trong nhận thức về tình dục và những vấn đề liên quan đến sức khỏe tình dục và nhóm lao động di cư từ nông thôn
ra thành thị thông qua tìm hiểu tình dục và hành vi tình dục của họ
Cuốn sách “ Tình dục trong xã hội Việt Nam đương đại- Chuyện dễ đùa khó
nói”, Khuất Thu Hồng, Lê Bạch Dương, Nguyễn Ngọc Hường, Nxb TT Đây là một
nghiên cứu định tính được thể hiện ở bốn địa phương: Hà Nôi, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Hà Tây Mẫu nghiên cứu bao gồm 245 người với 128 nam và
117 nữ thuộc bốn nhóm tuổi: 15 – 24; 25 – 34, 35 – 49 và 50 trở lên Đây là bốn nhóm tuổi đại diện cho bốn thế hệ người Việt Nam trong xã hội hiện nay với mục tiêu chính là tìm hiểu quan niệm, thái độ và hành vi tình dục của bốn thế hệ khác nhau để có những hiểu biết khoa học về con người và xã hội Việt Nam
Các tác giả đã phân tích những quan niệm tình dục của nho giáo, nhận thức
và hành vi của người Việt về trinh tiết, tình dục trong hôn nhân, ngoài hôn nhân và
Trang 20cả tình dục đồng giới Nghiên cứu không chỉ đưa ra được khái niệm lý thuyết cơ bản về tình dục mà còn chỉ ra được chính chương trình kế hoạch hóa gia đình đã tạo
ra một lối mở bất ngờ và an toàn cho những biểu hiện tình dục vốn bị kìm nén hàng thế kỷ và từng bị coi là đáng hổ thẹn trong mấy chục năm chiến tranh và nghèo đói;
sự tăng nhanh HIV/AIDS với xu hướng lây nhiễm virút qua QHTD ngày càng rõ rệt hơn liên quan đến mại dâm, hành vi tình dục không lành mạnh và không được bảo vệ
SAVY 1 (2003) và SAVY 2 (2009) là 2 cuộc điều tra quốc gia về vị thành
niên và thanh niên Việt Nam về nhiều vấn đề khác nhau: giáo dục, lao động, việc làm, tình dục và sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tâm thần, tai nạn, thương tích và bệnh
tật, hành vi, ước muốn, hoài bão Đặc biệt, SAVY 2 được tiến hành với 10.044 vị
thành niên và thanh niên trong độ tuổi 14-25 tại 63 tỉnh/thành (mẫu nghiên cứu ở SAVY 1 là 7.584 vị thành niên và thanh niên tại 42 tỉnh/thành) Sức khoẻ tuổi vị thành niên và người trẻ cần được nghiên cứu toàn diện và sâu hơn Kết quả của 2 cuộc điều tra cho phép so sánh sự thay đổi và xu hướng phát triển quan trọng trong
kiến thức, thái độ, hành vi, lối sống và điều kiện sống của thanh thiếu niên Thêm
vào đó, hầu như chưa có sách y học chuyên đề về sức khoẻ vị thành niên Có thể cho rằng sự hiểu biết về các bệnh LTQĐTD không thay đổi sau 2 lần điều tra Trên thực tế, điều cần lưu ý các thầy thuốc thực hành là bệnh phụ khoa thường gặp nhất lại chính là viêm âm đạo (do nấm chiếm tỷ lệ cao nhất) và sự dễ tái diễn của bệnh này, có nguyên nhân từ hiểu biết hạn chế về vệ sinh phụ nữ và đời sống tình dục vợ chồng Chính vì vậy cần có chương trình kiểm soát bệnh viêm âm đạo do virut gây
u sui (HPV) ở phụ nữ trẻ vì là nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung sau này
Các công trình nghiên cứu đã hướng tới nghiên cứu thực tiễn và lý luận nhằm mô tả thực trạng nhận thức về tình dục an tòa của người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị, làm rõ mối quan hệ của họ về sức khỏe tình dục với các nhân tố liên quan như : trình độ học vấn, việc làm, thu nhập, sự hòa nhập văn hóa, mạng lưới xã hội…Tuy nhiên trong các vấn đề trên thì việc nghiên cứu tìm hiểu nhận thức, thái độ và hành vi của nhóm công nhân ngoại tỉnh về tình dục an toàn
vẫn đang còn còn ít được đề cập đến một cách cụ thể Vì vậy nghiên cứu “Nhận thức, thái độ và hành v i về tình dục an toàn của công nhân ngoại tỉnh trên địa
Trang 21bàn Hà Nội hiện nay” là một hướng mới , nhằm đi sâu vào tìm hiểu và phân tích
tích thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi về TDAT cũng như các yếu tố tác động tới quá trình nhận thức , thái độ , hành vi của họ Từ đó , đưa ra những kết luận , khuyến nghị góp phần hoàn thiện chính sách nhằm giúp đỡ công nhân ngoa ̣i tỉnh trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tình dục
1.2 Khái niệm liên quan
1.2.1 Nhận thức
Theo quan điểm triết học: Nhận thức là quá trình phản ánh và tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi những quy luật phát triển xã hội và không thể tách rời thực tiễn Mục tiêu của nhận thức là đạt đến chân lý khách quan Quá trình nhận thức là thu thập kiến thức, hình thành khái niệm về hiện tượng thực tế giúp con người hiểu biết về thế giới xung quanh Quá trình nhận thức là để tích lũy tri thức, tích lũy kinh nghiệm từ đó cải tạo thế giới Nhận thức nảy sinh, bộc lộ và phát triển trong sự tương tác giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan [30]
Nhâ ̣n thức là mô ̣t trong ba mă ̣t cơ bản của đời sống tâm lý con người ( nhâ ̣n thức, tình cảm, hành động) Nó cũng có quan hệ mật thiết với các hi ện tượng tâm lý khác của con người Ở con người hoạt động này thường gắn với mục đích nhất định nên nhâ ̣n thức là phản ánh hiê ̣n thực khách quan Hoạt động nhận thức được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong, như sau:
Nhâ ̣n thức cảm tính (hay còn go ̣i là trực quan sinh đô ̣ng ) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy Nhận thức cảm tính gồm các hình thức sau: cảm giác, tri giác và biểu tươ ̣ng
Nhâ ̣n thức lý tính (hay còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận
Trang 22Theo quan điểm xã hô ̣i ho ̣c , nhâ ̣n thức có thể đo lường được trong thực tế
Đo nhâ ̣n thức nghĩa là khảo sát được lượng thông tin mà chủ thể nhâ ̣n thức được qua quá trình ghi nhớ, hồi ức và lựa cho ̣n
1.2.2 Thái độ
Trước mô ̣t số đối tượng nhất đi ̣nh như hàng hóa hoă ̣c mô ̣t ý tưởng nào (chính trị, tôn giáo, triết lí…), nhiều người thường có những phản ứng tức thì , tiếp nhâ ̣n dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay phản đối , như đã có sẵn những cơ cấu tâm lí ta ̣o
ra đi ̣nh hướng cho viê ̣c ứng phó Từ những thái đô ̣ tri giác, tri thức sẵn có về các đối tươ ̣ng cần phải bày tỏ thái đô ̣
- Theo tâm lý học, thái độ là nền tảng ứng xử của cá nhân, định hướng hành động của con người theo một hướng nào đó trước một sự kiện: Thái độ của một người trước một sự kiện xã hội thông qua sự tán thành hoặc phản đối, thông qua hành vi tham gia hoặc không tham gia sự kiện đó Thái độ của một người bị quy định bởi các yếu tố xã hội phụ thuộc vào các khuôn mẫu xã hội Trước một sự kiện
xã hội, con người đối chiếu với khuôn mẫu xã hội đã được lĩnh hội, nếu nó đúng thì tán thành và ngược lại nếu nó không đúng thì không tán thành
- Theo Từ điển xã hội học, thái độ được hiểu là: Trong mọi xã hội con người bao giờ cũng biểu hiện thái độ của mình, hữu thức hoặc vô thức, ngấm ngầm hay công khai, là nền tảng ứng xử của cá nhân, một hành động tâm lý của cá nhân bao hàm sự lý giải và biến đổi của các biến đổi khuôn mẫu xã hội hoặc kinh nghiệm cá nhân [36]
- Thuật ngữ Thái độ (attitude) có nhiều định nghĩa khác nhau Theo Shaver
(1977) thì thái độ là “một tâm thế ủng hộ hay phản đối đối với một nhóm đối tượng
nhất định”, hay theo Fishbein và Ajzen (1975) thì đó là “một vị trí trong thang lưỡng cực về tình cảm hoặc đánh giá” Một định nghĩa gần đây của Tourangeau và
Rasinksi (1988) thì cho rằng thái độ là “ những mạng lưới của các niềm tin liên kết
đan chéo nhau vốn được lưu giữ lâu dài trong trí nhớ của chúng ta và được kích hoạt khi chúng ta gặp đối tượng của đối tượng hoặc vấn đề liên quan”[39] Nói tóm
lại, thái độ luôn bao hàm những yếu tố sau:
+ Nó được quy nạp, kết tinh và khái quát hóa từ kinh nghiệm sống
Trang 23+ Nó mang tính tổng hợp Một thái độ có thể tổng hợp nhiều hành vi khác nhau + Nó có sẵn trong tâm trí của chúng ta Nó tiết kiệm thời gian tư duy và phản ứng của chúng ta nhờ việc đưa ra những mô hình đã chương trình hóa
+ Nó được coi là nguyên nhân (cause) của hành vi
+ Nó có hai cực (bipolar) Tuy nhiên, một cá nhân có thể có “tâm trạng nước đôi” (ambivalent) Nhưng thực chất, đấy chỉ là một trạng thái trong đó ở cá nhân tồn tại cả hai thái độ “ủng hộ” hay “phản đối” chứ không phải là một trạng thái thái độ mới
Nhiều khi khái niệm thái độ và ý kiến được sử dụng như những thuật ngữ
đồng nghĩa Nói cách khác khi một chủ thể có “ý kiến rõ ràng cũng được coi là có
thái độ rõ ràng” Hai khái niệm này có liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng không
nhất thiết trùng lặp
Từ những quan niệm trên về thái độ, ta có thể khái quát nội dung chủ yếu của thái độ như sau:
Thái độ được hình thành trong mối quan hệ xã hội, có thái độ cá nhân và thái độ của nhóm
Thái độ là mọi hoạt động tâm lý cá nhân, là ý nghĩ tình cảm của cá nhân, nó định hướng hành động của con người theo một hướng nào đó trước một tình hình Thái độ là một ý nghĩ, một tình cảm bên trong của một con người nhưng lại thể hiện
ở hành vi, hành động của con người
Thái độ liên quan tới các động cơ và các dục vọng bản năng , nhưng khác với dục vọng, là khi bày tỏ thái độ rồi , vị tất nó sẽ dịu đi , như khi thỏa mãn du ̣c vo ̣ng (ghét ai , có xỉ vả rồi nhiều khi vẫn giữ thái độ như trước ) Thái độ thay đổi trong quá trình hoạt động và tùy hoàn cảnh
Thái độ là mô ̣t khái niê ̣m tâm lí ho ̣c khó xác đi ̣nh được mô ̣t cách chính xác , cho nên mă ̣c dù thái đô ̣ được nghiên cứu nhiều , nhất là về mă ̣t xã hô ̣i , những bâ ̣c thang đo lường thái đô ̣ đưa ra chưa được công nhâ ̣n mô ̣t cách phổ biến Thái độ của mỗi cá nhân đối với vấn đề tình du ̣c an toàn cũng tuân theo những cơ chế vừa nêu trên Sự bày tỏ thái đô ̣ của mỗ i cá nhân đối với vấn đề tình du ̣c an toàn tùy theo những thái đô ̣, tri giác, tri thức sẵn có của họ đối với nó Những thái đô ̣ này có thể mất đi hay trở nên ma ̣nh mẽ hơn tùy vào từng hoàn cảnh của mỗi cá nhân khi xem
Trang 24xét sự việc Tuy nhiên chúng ta không nên đánh đồng thái đô ̣ của mỗi cá nhân khi
họ bày tỏ th ái độ về vấn đề tình dục an toàn với hành vi của họ Bởi lẽ, dù sao đó cũng chỉ là những thái độ mang tính cá nhân lại chịu sự chi phối của nhiều yếu tố tác động từ bên ngoài hơn là những yếu tố cá nhân của họ
1.2.3 Hành vi
Khi nói đến hành vi, hành động của một cá nhân hay một nhóm người nào đó tồn ta ̣i trong mô ̣t xã hô ̣i cu ̣ thể là nói đến những hành vi , hành động xã hội của nhóm hay cá nhân đó
Hành vi xã hội (hành động xã hô ̣i) là một hành vi hướng đích gắn bó về nghĩa với hành vi , với các kì vo ̣ng được cảm nhâ ̣n hay phỏng đoán của đối tác tương tác và được đi ̣nh hướng theo chuẩn mực và giá tri ̣ xã hô ̣i
Theo nghĩa rô ̣ng nhất thì mo ̣i hành vi của con người ( tức là cả viê ̣c làm ra
mô ̣t sản phẩm ) không chỉ thể hiê ̣n mô ̣t phản ứng với các kích thích bên trong hay bên ngoài ( như các phản xa ̣ các phản ứng được quy đi ̣nh bởi tâm lí ) mà còn có thể gọi là hành động xã hô ̣i
Hành động xã hội được xác định trong mối liên hệ mang ý nghĩa của nó với người khác về truyền thống, cảm xúc, phù hợp về giá trị và lợi ích (Weber) [13]
1.2.4 Tình dục
Tình dục là một nhu cầu tự nhiên của con người, bắt đầu xuất hiện ở tuổi dậy thì và là một bản năng duy trì nòi giống Tình dục là một hoạt động sống mạnh mẽ nhất, đam mê nhất, đồng thời đem lại khoái cảm mãnh liệt nhất, nhờ đó mà có sự sinh sản để duy trì nòi giống
Tình dục nếu được hiểu theo nghĩa rộng đó là tất cả những gì hai người có thể làm để gần gũi và đem lại cho nhau khoái cảm Hành vi tình dục là cách tạo cảm xúc từ nhẹ nhàng âu yếm đến những kích thích mạnh mẽ Hoạt động tình dục không
hề theo những công thức nhất định mà cả nó luôn biến đổi phong phú trong thực tế tùy thuộc vào khả năng của hai người Giao hợp nam nữ chỉ là một trong các hoạt động tình dục và là hoạt động mạnh mẽ nhất mang lại khoái cảm tình dục
Trang 25Song quan hệ tình dục không chỉ dừng lại ở quan hệ khác giới giữa nam-nữ
mà còn bao gồm ở quan hệ cùng giới giữa cặp nam-nam hay cặp nữ-nữ, người ta gọi đó là “ đồng tính luyến ái”
Để hiểu rõ hơn về khái niệm tình dục, theo cách nhìn xã hội học của Giáo sư, Tiến sĩ Brucej Cohen và Terril Orbuch: Tình dục là khái niệm chỉ liên quan hệ tính giao với người khác giới hay cùng giới ( đồng tính luyến ái) hoặc là tình dục lưỡng tính (quan hệ tình dục với cả người cùng phái hay khác phái).[24]
Tình dục (sex) là sự thể hiện tính dục của con người gồm:
- Tưởng tượng, mơ ước về quan hệ tình dục với đối tượng
- Nói chuyện về vấn đề tình dục
- Tự kích thích, thủ dâm
- Quan hệ tình dục( âu yếm, giao hợp …) với đối tượng
Nói tóm lại, tình dục là những hoạt động, những suy nghĩ đem lại cảm xúc tình dục cho con người Tình dục không chỉ bao gồm hoạt động và hành vi tình dục
mà cả suy nghĩ, thái độ, cảm xúc
Hoạt động tình dục không chỉ đơn thuần là với mục đích tạo ra đứa con, mà còn có mục đích là để tận hưởng niềm vui thú, sự gần gũi tâm tình, để giải phóng năng lượng và để tìm nguồn hạnh phúc Chính vì vậy mà tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân, ngoài hôn nhân, nhất là tầng lớp lao đô ̣ng ngoa ̣i tỉnh càng cần phải xây dựng cho họ quan điểm về hoạt động tình dục có trách nhiệm Các yếu tố quy định cho hành vi tình dục có nhiều loại nhưng chủ yếu dựa vào các yếu tố:
- Con người phải quyết định hành vi tình dục của chính mình, coi đó là một bộ phận trong phương hướng cuộc đời, một bộ phận trong cách sống của mình
- Các mối quan hệ giữa người với người, trong đó bao gồm cả quan hệ tình dục, dựa trên cơ sở quan tâm và tôn trọng lẫn nhau
- Con người, cả nam và nữ, phải chịu trách nhiệm trước hậu quả của hành vi tình dục mà mình gây ra cho bạn tình
Con người , cả nam và nữ , phải chịu trách nhiệm đối với đứa con , kết quả hoạt động tình dục của mình
Trang 26Tuy mỗi người có cách cảm thụ các mỗi quan hệ tình dục của mình một cách khác nhau nhưng đều có thể tham gia vào các mối quan hệ này một cách thoải mái
và an toàn nhất, thì quan hệ tình dục luôn xuất phát từ sự tự nguyện của cả hai bên cho dù là đã kết hôn hay chưa Mỗi người tham gia vào quan hệ tình dục đều có thể quyết định thực hiện hay chấm dứt hành vi này một cách tự do mà không bị ép buộc bởi bạo lực, tình cảm hay tài chính
Tình dục là hành vi cá nhân của mỗi người nhưng la ̣i là sản phẩm của xã hội,
bị quy định bởi các yếu tố văn hóa xã hội Các xã hội khác nhau, các nền văn hóa khác nhau, các thời kỳ lịch sử khác nhau có những quan niệm, thái độ và hành vi tình dục khác nhau Tình dục chịu ảnh hưởng chi phối của sự phối hợp giữa các yếu
tố sinh học, tâm lý, xã hội… Sự thể hiện của tình dục chịu ảnh hưởng bởi các mối quan tâm về đạo đức, tinh thần, văn hóa và luân lý
Sự thể hiện tình dục ở mỗi người được thể hiện ở hành vi tình dục Hành vi tình dục là các hành động (vuốt ve, ôm hôn, kích thích, giao hợp) thể hiện tính dục của một người Những hành động được thực hiện theo thói quen được coi là hoạt động tình dục hay thói quen tình dục
1.2.5 Tình dục an toàn
Tình dục an toàn là tình dục giữa nam và nữ mà không dẫn đến việc thụ thai ngoài ý muốn và không bị lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục ( BLTQĐTD)
Tình dục an toàn ( safe sex) là “nghệ thuật” đạt cùng lúc hai yêu cầu: hưởng thụ tình dục mà vẫn an toàn An toàn tức là không để máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo của bạn tình tiếp xúc hay xâm nhập vào cơ thể Nguyên tắc cơ bản của “tình dục an toàn” là không bao giờ để máu, tinh di ̣ch hoă ̣c di ̣ch âm đa ̣o từ người ba ̣n tình vào chính cơ thể của bạn , ngoại trừ bạn biết chắc người bạn tình không bị bê ̣nh LTQĐTD và HIV Tuân theo nguyên tắc cơ bản sẽ không loa ̣i trừ tất cả những nguy
cơ bi ̣ lây nhiễm bê ̣nh qua đường tình du ̣c , nhưng sẽ giảm thiểu rất nhiều và loa ̣i trừ mọi nguy cơ bị lây nhiễm những bệnh trầm trọng nhất , trong đó có HIV /AIDS Những chất di ̣ch của cơ thể được biết có mang theo mầm LTQĐTD và HIV là máu ,
Trang 27tinh di ̣ch và di ̣ch âm đa ̣o Nước bo ̣t có thể mang mô ̣t vài mầm bê ̣nh LTQĐTD như mụn rộp/ Herpes và bê ̣nh lâ ̣u nhưng không thể lây truyền vi rút HIV[25]
Để đạt được tình du ̣c an toàn có hai cách”
+ Thứ nhất là không giao hợp mà vẫn đạt được khoái cảm bằng cách ôm hôn, vuốt ve, xoa nắn…( kể cả thủ dâm)
+ Thứ hai là giao hợp được bảo vệ bằng bao cao su
Tình dục an toàn không những phòng ngừa được AIDS mà còn tránh được các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục khác như giang mai, lậu, sùi mào gà , nhiễm Chlamydia…[25, Tr72]
1.2.6 Bệnh lây nhiễm qua đường tình dục (BLNQĐTD)
BLTQĐTD là tình trạng nhiễm khuẩn hay nhiễm trùng do các tác nhân gây bệnh và truyền từ người này sang người khác qua đường tình dục
BLNQĐTD trước đây gọi là bệnh hoa liễu, là một trong năm loại bệnh thường gặp nhất trên toàn cầu, là những bệnh do vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng và nấm gây nên Đối với y học, đó là các bệnh nhiễm khuẩn, điều đặc biệt là các BLNQĐTD lây truyền từ người này sang người khác qua QHTD
Tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm ba nhóm: virút,
vi khuẩn và ký sinh trùng
- Các bệnh do đơn bào: Trùng roi nấm âm đạo
- Nấm: Candida âm đạo
- Các ký sinh vật ngoài da: cái ghẻ, rận mu…
Việc hạn chế các hành vi nguy cơ có thể giúp cho công nhân ngoại tỉnh phòng tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục, cụ thể:
Giúp họ hiểu được tầm quan trọng của việc phòng tránh và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục
Trang 28Luôn luôn sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, tránh các hoạt động tình dục gây chấn thương như giao hợp đường hậu môn…
Quan hệ chung thủy một bạn tình , không quan hệ tình dục với gái mại dâm, với nhiều bạn tình hoặc với bạn tình đang mắc STDs
Tránh quan hệ tình dục khi mắc STDs
Phát hiện và điều trị sớm, triệt để Khuyến khích bạn tình cùng điều trị Khoảng một nửa số người nhiễm STDs không có triệu chứng gì hoặc có triệu chứng không rõ ràng, có thể tự biến mất (nhưng không có nghĩa là khỏi bệnh) Khi
bị nhiễm STDs dễ xuất hiện những dấu hiệu bất thường sau đây:
- Dương vật âm đạo có tiết dịch bất thường
- Cơ quan sinh dục ngứa, đau, rát, đỏ, có các nốt, các vết loét
- Tiểu đau hoặc rát, hoặc tiểu nhiều hơn bình thường
Do vậy, khi đã có triệu chứng này thì việc đầu tiên cần làm là nên đi khám chuyên khoa da liễu tại các viện tỉnh hoặc thành phố hay tới các Viện da liễu Đây
là những cơ sở y tế có điều kiện xét nghiệm tốt, cán bộ y tế có trình độ và việc chuẩn đoán, điều trị bệnh chính xác Các bệnh thuộc nhóm STDs biểu hiện rất phức tạp vì có thể triệu chứng giống nhau nhưng không có nghĩa là mắc cùng một bệnh,
do đó việc tự ý mua thuốc về điều trị là hết sức nguy hiểm bởi nếu không dùng thuốc đúng cách, đúng bệnh thì có thể bị nặng hơn hoặc dẫn đến hiện tượng “ nhờn thuốc”, khiến cho bệnh trở nên khó chữa trị Ngoài ra, một trong những yếu tố giúp cho việc điều trị STDs hiệu quả là điều trị cả bạn tình Việc trao đổi và giúp bạn tình tham gia khám và điều trị là rất cần thiết, tránh để tình trạng bệnh lây đi lây lại, khó chữa
Một số hậu quả của STDs: vô sinh, viêm co bóp niệu đạo, mang thai ngoài dại con, sinh non hoặc trẻ sinh ra rất yếu ớt, nguy cơ ung thư cao, các vấn đề về tâm thần, viêm ống dẫn trứng, viêm khung xương chậu, tử vong [16]
1.2.7 Biện pháp tránh thai
Tránh thai là phương pháp đảm bảo không có sự thụ thai khi quan hê ̣ tình dục Nhờ đó mà tránh được có con ngoài ý muốn mà vẫn có thể hưởng thu ̣ đầy đủ , trọn vẹn khoái lạc, không có sự băn khoăn lo lắng
Trang 29Các biện pháp tránh thai phải thật sự đáng tin cậy, không làm tổn hại sức khỏe đến hai người Sau khi ngừng sử dụng các biện pháp tránh thai và phương tiện tránh thai, khả năng thụ thai phải được khôi phục trở lại, không làm tổn hại tới sức khỏe của đứa trẻ muốn sinh sau này Hiện nay, có rất nhiều biện pháp phòng tránh thai được sử dụng nhưng chúng được chia ra làm hai loại chính: BPTT truyền thống ( tính theo chu kỳ, theo sự bài tiết chất nhầy cổ tử cung, theo thân nhiệt, xuất tinh ngoài…) và BPTT hiện đại ( bao cao su, vòng, mũ cổ tử cung, dịch vụ làm tắc ống dẫn tinh hoặc ống dẫn trứng, thuốc uống, thuốc tiêm tránh thai…) [3]
Biến chứng của nạo hút thai:
+ Tai biến sớm: lo sợ vì ra máu nhiều, buồn nôn hoặc nôn
+ Tai biến muộn: vô sinh, chửa ngoài dạ con…[3]
Hiện tượng di chuyển con người được coi là di cư phải hội đủ ba tiêu chí:
- Di chuyển ra khỏi đơn vị hành chính, lãnh thổ sang một đơn vị hành chính lánh thổ khác ( xã, huyện, tỉnh, thành phố, quốc gia)
- Cư trú chỗ đến trong một thời gian tương đối dài, từ vài ba tháng trở lên
- Tới chỗ ở mới để tìm kiếm những điều kiện sống, công việc, thu nhập, phát triển tốt hơn chỗ cũ
Trang 30Có hai dạng di cư:
- Di cư có tổ chức: được tiến hành theo một chương trình kế hoạch của nhà nước, ví dụ: xuất khẩu lao động, di cư xây dựng khu kinh tế mới
- Di cư tự do: người dân tự di chuyển đến cư trú khác:
+ Trong điều kiện phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và mở rộng nền kinh tế thị trường, di cư tự do không bị coi là phạm pháp Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã tác động nhiều đến quá trình biến động dân cư, đặc biệt là di
cư từ nông thôn ra thành thị; Điều này phản ánh thực trạng nghèo ở nông thôn và nhu cầu sức lao động gia tăng mạnh ở thành thị
+ Di cư tự do diễn ra theo nhiều hướng, nhiều mức độ và tính chất khác nhau, nhưng chủ yếu là từ nông thôn ra thành thị Nhiều đối tượng khác nhau di cư
tự do: già, trẻ, nam nữ, người học vấn cao , người học vấn thấp , người có tay nghề , người không có nghề nghiệp , có người đến thành phố lâu dài , có người đến thành phố kiếm sống trong thời gian nông nhàn, rỗi rãi…
+ Người lao động nghèo ở nông thôn ra thành thị thường gặp nhiều khó khăn, thách thức, rủi ro, họ chưa có được sự bảo trợ xã hội Những hiểu biết về di
cư an toàn là rất cần thiết với người lao động ở nông thôn đi làm xa nhà
Trong những năm gần đây, hiện tượng người lao động rời nơi cu trú đi tìm kiếm việc làm xa nhà ngày càng tăng lên, về mặt địa lý được phân thành di cư trong nước và xuất khẩu lao động Tuy nhiên trong đề tài này chỉ nghiên cứu những người
di cư lao động trong nước và chủ yếu là di cư từ nông thôn ra thành thị
Về lao động di cư trong nước: những người lao động thường tìm kiếm cơ hội việc làm tại thành thị: những việc tạm thời, mang tính mùa vụ ( nông nhàn) như lao động công nhật tại các chợ lao động hoặc những công việc lâu dài: thợ hồ, phục vụ nhà hàng, giúp việc gia đình…Lao động di cư trong nước cũng đóng góp một lực lượng đáng kể trong các khu công nghiệp, đặc biệt là lao động nữ với các ngành nghề may mặc, chế biến thủy sản, da giày…
Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giả chỉ nghiên cứu đối tượng công nhân ngoại tỉnh làm trong nhà máy Dệt may, có đầy đủ hợp đồng lao động hợp pháp và độ tuổi từ 18 đến 59
Trang 311.2.10 Công nhân ngoại tỉnh
Công nhân ngoại tỉnh là những người từ nơi khác di cư đến (thuộc đối tương KT4) và làm việc trong các khu chế xuất, nhà máy, khu công nhiệp, xí nghiệp Qua mạng lưới trung tâm xúc tiến việc làm của các sở lao động, thương binh và xã hội hoặc của Liên đoàn lao động, họ có thể tìm việc làm ở các địa điểm trên Đối với những nhóm người lao động này, họ thường phải tìm hiểu cụ thể về thông tin lao động, công việc và chịu sự kỷ luật cũng như tác phong công nghiệp tại nơi làm việc [21, tr.9]
Đặc điểm của công nhân: Người lao động làm việc dưới sự điều hành, quản
lý của người khác Các công việc của công nhân thường theo hợp đồng trong nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất tư nhân nhưng tình trạng công việc thường không ổn định và phụ thuộc vào đơn đặt hàng Người lao động phụ thuộc vào chủ, tính chất làm công ăn lương Kỷ luật lao động cao và đòi hỏi có tay nghề
Do chi phí và thời gian nên tác giả chỉ chọn nghiên cứu ở nhóm công nhân ngoại tỉnh đang làm dệt may Thêm vào đó, đây cũng là đối tượng đang chiếm số lượng khá đông công nhân ngoại tỉnh trong số lao động ngoại tỉnh và hai ngành này cũng đang có xu hướng phát triển nhanh ở đô thị
Tuy là ngành đang có xu hướng phát triển mạnh , chiếm một số lượng đông đảo công nhân ngoại tỉnh và có đóng góp nhất đi ̣nh trong sự phát triển nền kinh tế đất nước hiện nay nhưng đời sống và sức khỏe của người công nhân vẫn đang còn nhiều bất cập và chưa có sự quan tâm thỏa đáng của Đảng , Nhà nước nói chung và
từ các doanh nghiệp nói riêng Đặc biệt là trong vấn đề tình dục an toàn, một vấn đề khá nhạy cảm thì công nhân hội được tiếp cận thông tin và các dịch vụ y tế tại cơ quan làm việc
Cũng chính vì vậy mà tác giả quyết định nghiên cứu tìm hiểu nhận thức của người công nhân ngoại tỉnh về vấn đề tình dục an toàn nhằm tìm hiểu mức độ hiểu biết về vấn đề này của họ đến đâu cũng như các yếu tố tác động đến nhâ ̣n thức của
họ Theo khảo sát di cư thì nhóm lao động ngoại tỉnh thường từ 15 đến 59 tuổi và qua số liệu về độ tuổi giữa các nhóm trên, tác giả cũng nghiên cứu nhóm lao động ngoại tỉnh theo ba nhóm từ 15-30; 30-40 và từ 40-59 nhằm phân tích, tìm hiểu và có
Trang 32sự so sánh giữa ba nhóm đối tượng trên về nhâ ̣n thức tình dục an toàn Thêm vào
đó, do sự hạn chế về chi phí, thời gian và căn cứ vào mức độ phát triển của các ngành đang có sự tham gia số lượng công nhân ngoại tỉnh nên tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu ở công nhân dệt may
1.3 Lý thuyết áp dụng
1.3.1 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
Thuyết lựa chọn hợp lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối quan hệ với hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu
ra của từng lựa chọn và các đặc điểm khác “Theo M Weber, hành động được gọi là hành động xã hội khi nó tương quan và định hướng vào hành động của người khác theo cái ý đã được nhận thức bởi chủ thể hành động” [13]
Ông chỉ ra rằng khi con người hành động thì luôn có nội dung, ý nghĩa chủ quan Do đó, chúng ta phải xâm nhập vào thế giới tình cảm, thế giới suy nghĩ nếu muốn giải thích hành động của người đó
Để nghiên cứu hành động xã hội, M Weber đưa ra phương pháp hiểu Ông
đã xây dựng một hệ thống kiểu mẫu hành động xã hội, bao gồm 4 dạng hành động
cơ bản: hành động theo cảm xúc, hành động mang tính truyền thống, hành động duy
lý giá trị và hành động hợp mục đích Bốn kiểu hành động này không tách rời nhau một cách minh bạch Trong số những hành động của con người, có hành động vì mục đích, có hành động vì một giá trị nào đó, hay hành động theo cảm xúc hoặc hành động tuân thủ các giá trị truyền thống Trên thực tế rất hiếm khi hành động của con người thuần tuý thuộc về một trong 4 loại đã nêu, nó thường là sự kết hợp giữa các loại hành động đó Trong quá trình con người hành động, tương tác với nhau, con người luôn suy nghĩ lựa chọn phương án hành động, qua tìm hiểu phương thức hành động và cách biểu đạt nó, ta có thể nhận ra ý nghĩ của họ Và những cơ sở hành động chính là tiền đề cho sự lựa chọn hợp lí của mỗi cá nhân trước một vấn đề
cụ thể
Thuyết sự lựa chọn hợp lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỉ XVIII – XIX Một số nhà triết học đã từng cho rằng bản chất
Trang 33con người là vị kỷ luôn tìm đến sự hài lòng, sự thoả mãn và lảng tránh nỗi khổ đau Một số nhà kinh tế học cổ điển từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, động cơ lợi nhuận khi con người phải ra quyết định lựa chọn hành vi
Thuyết sự lựa chọn hợp lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn luôn hành động một cách có mục đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Theo Marx, mục đích tự giác của con người như là quy luật quyết định toàn bộ cấu trúc, nội dung, tính chất của hành động và ý chí của con người[13]
Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán
để quyết định sử dụng loại phương tiện tối ưu trong số những điều kiện hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực
Định đề cơ bản của thuyết sự lựa chọn hợp lý được Homans diễn đạt: khi lựa chọn trong các hành động có thể có, cá nhân sẽ lựa chọn cách nào mà họ cho là tích của xác suất thành công của hành động đó với giá trị mà phần thưởng của hành động đó mang lại là lớn nhất
Tương tự như Homans, John Elster tóm lược nội dung cơ bản của thuyết sự lựa chọn hợp lý như sau: “Khi đối diện với một số cách hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất”[13]
Thuyết này được phát triển mạnh trong kinh tế học hiện đại Coi hành vi kinh
tế là hành vi lựa chọn một cách duy lý, các nhà kinh tế học luôn chú ý đến các yếu
tố vật chất như chi phí, giá cả, lợi nhuận, ích lợi để giải thích hành vi kinh tế Từ cách giải thích này, nhiều người cũng đã suy luận ra để lý giải hành vi xã hội của cá nhân Một cá nhân cũng sẽ lựa chọn một hành vi hợp lý nhất để tối đa hoá lợi ích của mình
Tuy nhiên, sự lựa chọn hợp lý nhất sẽ không thể xảy ra nếu như chủ thể hành động không có được đầy đủ thông tin hoặc thông tin không đúng dẫn đến có sự hiểu biết không đúng về những lựa chọn đó Sự lựa chọn của chủ thể cũng phụ thuộc vào quan điểm và ý kiến của chính họ coi cái gì là thoả đáng và cái gì là không Nhưng mặt khác, chủ thể ra quyết định cũng không thể đưa ra sự lựa chọn đối với những cái gì không thể, tức là những cái mà luật pháp, chuẩn mực xã hội, văn hoá… không
Trang 34cho phép Tuy vậy, đôi khi họ vẫn lựa chọn những cái hay những hành vi mà người khác không thích hoặc không cho phép nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với họ hoặc vì
nó mang lại cho họ lợi ích cao nhất và họ xem đó là sự lựa chọn tốt nhất cho họ Bất
cứ khi nào họ làm như vậy thì hành vi của họ cũng được cho là hợp lý thậm chí họ
có lựa chọn sai đi chăng nữa
Thuyết sự lựa chọn hợp lý không phải chỉ giải thích hành động xã hội trên cấp độ vi mô, hành động cá nhân Thuyết này được xây dựng, phát triển để xem xét hoạt động chức năng của các hệ thống và thiết chế kinh tế xã hội, tức là trên cấp độ
vĩ mô Nó được dùng làm phương pháp tiếp cận hành động của cá nhân, của nhóm
và chức năng của cả hệ thống cũng như các mối liên hệ chức năng giữa cá nhân, nhóm và hệ thống Đối với câu hỏi cơ bản của xã hội học: Cái gì tạo nên sự trật tự
xã hội? thì các tác giả của thuyết này đã đưa ra câu trả lời khá rõ ràng Đó là sự lựa chọn hợp lý, sự trao đổi xã hội có khả năng tạo dựng và duy trì sự ổn định, trật
tự xã hội
Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý chỉ được tác giả áp dụng để phân tích một số phần nhỏ trong các vấn đề cần nghiên cứu Đó là vấn đề lựa chọn các biện pháp tránh thai nhằm tạo nên sự thỏa mãn nhu cầu tình dục mà vẫn đảm bảo an toà n và vấn đề nạo phá thai của những người công nhân ngoại tỉnh hiê ̣n nay
Ở đây, hành vi lựa chọn hay không lựa chọn sử dụng các biện pháp an toàn trong khi quan hệ tình dục của những người công nhân ngoại tỉnh phụ thuộc vào sự cân nhắc hợp lý dựa trên nhiều yếu tố Đó là các thói quen, sở thích, những nhận thức của họ về vấn đề an toàn trong quan hệ tình dục, những hiểu biết về phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, có thai ngoài ý muốn và ngoại cảnh tác động (như không có bao su, có nhưng không sử dụng…) Mỗi cá nhân có một thói quen, sở thích khác nhau như: thói quen không sử dụng bao cao su trong khi quan hệ tình dục để có cảm giác thực, thói quen đùn đẩy trách nhiệm phòng tránh thai cho phụ nữ của nam giới, sở thích sử dụng bao cao su, sở thích sử dụng các biện pháp khác ngoài bao cao su… Các kiến thức, hiểu biết về tình dục an toàn của mỗi cá nhân cũng có sự khác biệt: có người hiểu biết sâu, có người chỉ biết qua, có người không biết gì hoặc không để ý đến Chính vì thế, cách lựa chọn một biện
Trang 35pháp an toàn của mỗi người cũng khác nhau mà họ cho là phù hợp nhất đối với họ
Có người chỉ chú ý đến việc phòng tránh thai ngoài ý muốn, nhưng có cá nhân lại chú ý đến việc sử dụng một biện pháp vừa phòng tránh được có thai ngoài ý muốn vừa phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục Điều này hoàn toàn dựa vào sự cân nhắc hợp lý riêng của mỗi cá nhân
Đối với vấn đề nạo phá thai, những người công nhân cũng có cơ hội cân nhắc lựa chọn hợp lý giữa mong muốn, hoàn cảnh sức khỏe, hoàn cảnh kinh tế, hậu quả của việc phá thai đối với sức khỏe và tinh thần của người phụ nữ trước khi đưa ra quyết định việc có hay không phá thai Có những trường hợp thụ thai ngoài ý muốn của cả người đàn ông và người phụ nữ như khi họ đều chưa kết hôn, hoặc đã có nhiều con mà không mong muốn sinh thêm… Có trường hợp do không có đủ sức khỏe để mang thai , hay không có đủ điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng đứa trẻ… Trước những trường hợp này , mỗi cá nhân đều phải cân nhắc hợp lý để lựa chọn biện pháp mà họ cho là phù hợp với hoàn cảnh của họ nhất Việc phá thai hay không cũng được cân nhắc dựa trên những hiểu biết về hậu quả của việc nạo phá thai mang lại như vô sinh, nguy cơ ung thư cổ tử cung cao, ảnh hưởng đến tâm sinh
lý của người phụ nữ Từ đó, cá nhân cân nhắc lựa chọn có nạo phá thai hay không , phá thai ở đâu , khi thai nhi trong khoảng thời gian nào và bằng biện pháp nào để đảm bảo an toàn và tránh để lại hậu quả sau này Đôi khi, cũng chính từ những cân nhắc này, cá nhân sẽ có lựa chọn sử dụng các biện pháp tránh thai trong những lần quan hệ tình dục sau này
Như vậy, để đưa ra được một quyết định hợp lý và có lợi nhất về việc sử dụng các biện pháp an toàn và nạo phá thai được mỗi cá nhân cân nhắc dựa trên nhiều yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài Vì thế, đối với họ, quyết định đó cho dù đối với người khác là sai thì cũng là quyết định đúng và hợp lý đối với họ
1.3.2 Lý thuyết xã hội hóa
Xã hội hoá là một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ quá trình chuyển biến từ chỉnh thể sinh vật có bản chất xã hội với các tiền đề tự nhiên đến một chỉnh thể đại diện của xã hội loài người Nhờ quá trình xã hội hoá cá nhân, con người chúng ta có thể giao tiếp với nhau, học hỏi,
Trang 36lĩnh hội tiếp nhận các quy tắc văn hoá nhất định mà xã hội trao cho Quá trình xã hội hoá giúp con người dần dần hoà nhập vào xã hội
Nhà khoa học người Nga G Andreeva đã định nghĩa khái niệm xã hội hoá:
“Xã hội hoá là quá trình hai mặt Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan
hệ xã hội.” [5, tr 258,259]
Quá trình xã hội hóa là quá trình quá độ mà chúng ta có thể tiếp nhận được nền văn hóa của xã hội, quá trình mà nhờ nó chúng ta đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học cách suy nghĩ và ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội của chúng ta Khi cá nhân thông qua xã hội hóa, chấp nhận những quy tắc và chuẩn mực nền văn hóa xã hội mà họ đang sống , sử dụng chúng để quy định hành vi của mình, chúng ta nói họ đã tiếp thu được các quy luật văn hóa của xã hội
Quá trình xã hội hóa được bắt đầu từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời cho đến khi chúng ta trưởng thành, già và chết đi Quá trình này có ảnh hưởng quyết định đến nhận thức, thái độ và hành vi của mỗi cá nhân
Trong mỗi giai đoạn, cá nhân chúng ta lại tiếp thu thông tin, hiểu biết, kinh nghiệm mới và chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố để phát triển và hình thành nên nhân cách của mình như gia đình, bạn bè, nhà trường, đồng nghiệp, các phương tiện truyền thông đại chúng…Trong mỗi môi trường xã hội hóa khác nhau cá nhân có thể thực hiện thuận lợi các tương tác xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội Trong gia đình, cá nhân học hỏi những kinh nghiệm và kiến thức thông qua sự dạy dỗ có chủ đi ̣nh từ những người thân nhằm có được những kiến thức nhất đi ̣nh về TD, TDAT và tránh được những rủi ro không đáng có Trong trường ho ̣c , vấn đề TDAT cũng được lồng ghép vào chương trình ho ̣c chính thống và nếu được tiếp câ ̣n đầy đủ về nguồn thông tin này sẽ là nền tảng cơ bản để mỗi cá nhân có thể phá t huy được kiến thức vốn có của mình Và một môi trường khác cũng không kém phần quan trọng đó là cá nhân có thể học hỏi và lĩnh hội thêm kiến thức từ các kênh truyền thông khác nhau Tuy nhiên , dù trong bất cứ môi
Trang 37trường nào thì mỗi cá nhân cũng phải tuân thủ theo những chuẩn mực , những khuôn mẫu mà mỗi môi trường ấy quy định với tư cách là một thành viên của nó Có thể nói xã hội hóa chính là cầu nối giúp mỗi cá nhân có thể hòa nhập vào cộng đồng, vào xã hội với tư cách là một thành viên của nó
Chính vì vậy mà tác giả đã sử dụng lý thuyết xã hội hóa vào nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò của môi trường xã hội , gia đình, bạn bè, các phương tiện truyền thông đại chúng đối với quá trình nhận thức, biểu hiện thái độ và xây dựng hành vi về tình dục an toàn của nhóm những người công nhân ngoại tỉnh Các yếu
tố này có tác động gì đến nhận thức về tình dục an toàn của những người công nhân ngoại tỉnh hay không, tác động như thế nào và bản thân người công nhân ấy có học hỏi, tiếp thu được gì từ những yếu tố tác động đó hay không? Bởi thông quan quá trình xã hội hóa, những yếu tố bên ngoài có khả năng truyền đạt những thông tin, những kiến thức, những hiểu biết, kinh nghiệm về tình dục an toàn đến cho cá nhân
và cá nhân cũng có khả năng tiếp thu, lĩnh hội những thông tin, những kiến thức, kinh nghiệm ấy để chuyển hóa nó thành nhận thức, hiểu biết, kinh nghiệm của chính bản thân mình
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA
CÔNG NHÂN NGOẠI TỈNH VỀ TÌNH DỤC AN TOÀN
2.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu
Theo các cuộc nghiên cứu về công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh trong những năm 1990 đều đưa ra các con số, trung bình lao động nữ chiếm 85% trong số công nhân làm việc ở các xí nghiệp dệt , may, công nghiệp thực phẩm liên doanh với nước ngoài Số công nhân doanh nghiệp này thuộc nhóm tuổi từ 18-30 chiếm hơn 80% [11, tr 40]
Trong các ngành dê ̣t may , da giày và công nghiệp thực phẩm có 18.756 người năm 2000 có tới 21.089 người năm 2001, chiếm 16,8% số lao động trong các doanh nghiệp liên doanh thuộc các ngành trong cả nước Riêng ngành dệt may, da giày năm 2001 có tới 11.416 người so với năm 2000 là 9.677 người Tại Hà Nội, ngành dệt may, da giày với 3 dự án có 1.064 người, chiếm 10%
Theo một nghiên cứu mẫu 61 doanh nghiệp liên doanh của 3 ngành: dệt may, điện tử và công nghiệp thực phẩm tại Hà Nội tháng 6/ 1998: đa số các ngành dệt may, công nghiệp thực phẩm là nữ, độ tuổi dưới 30 chiếm 60,1%, từ 30-40 tuổi chiếm 22,4%, trên 40 tuổi chiếm 17,6% Họ không chỉ lao động để kiếm sống, phục
vụ cho riêng bản thân mình mà còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển toàn diện hơn của đất nước.[11, tr.36-41]
Theo Quyết định năm 2005, Công ty Cổ Phần May Đông Mỹ (tại thôn 2, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì) chuyển đổi doanh nghiê ̣p nhà nước theo quyết đinh số 2627/QĐ-BCN ngày 17/8/2005 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Công ty Cổ Phần May Đông Mỹ là một doanh nghiệp thuộc ngành dệt may với đặc thù về nguyên vật liệu rất đa dạng và phong phú về chủng loại , mẫu mã Lĩnh vực hoạt động chính của công ty là thiết kế sản xuất , kinh doanh hàng may mặc; kinh doanh nguyên liệu phụ tùng hàng may mặc; kinh doanh vận tải
Công ty chuyên sản xuất - kinh doanh - xuất nhập khẩu hàng dệt may gồm: các loại nguyên liệu bông, xơ, sợi, vải dệt kim và sản phẩm may mặc dệt kim, vải denim và các sản phẩm may mặc dệt thêu Nguồn nguyên liệu chính là vải do công
Trang 39ty tự sản xuất và nhập khẩu Các mặt hàng chính: Áo Poloshirt, T.shirt, Hi-neck, quần áo thể thao, quần áo ngủ…cho người lớn và trẻ em
Công ty do Giám đốc Nguyễn Thi ̣ Tứ điều hành Tại nhà máy may cũng có nhiều khâu khác nhau như cắt vải và dê ̣t may , là quần áo và phòng kỹ thuật Trong đó nam công nhân ngoa ̣i tỉnh thường làm trong khâu đóng gói hàng , cắt vải, là quần
áo và trong phòng kỹ thuật máy trong khi đó phần lớn công nhân nữ là may , khâu
vá các sản phẩm
Khách thể nghiên cứu là công nhân ngoại tỉnh đang làm việc tại nhà m áy may II thuô ̣c Tổng công ty cổ phần Dê ̣t may Hà Nô ̣i Công nhân ngoa ̣i tỉnh có đô ̣ tuổi từ 18 đến 59 nhưng phần đông công nhân thuô ̣c đô ̣ tuổi từ 18 -35 và đây là tuổi trong thời kỳ sung mãn tình du ̣c nên tác giả tâ ̣p trung nghiên cứu ở nhóm đối tượng này
Công nhân ngoa ̣i tỉnh thường từ các nơi khác đến như Hà Nam , Hưng Yên, Vĩnh Phúc Nghệ An , Hà Tĩnh… Họ đến làm việc tại nhà máy và thuê trọ ở bên ngoài hoặc ở trong ký túc xá tại nhà máy
2.2 Thƣ ̣c tra ̣ng hiểu biết của công nhân ngoa ̣i tỉnh về tình dục an toàn
Nhận thức của công nhân ngoại tỉnh về bản chất của tình dục, tình dục
an toàn
Tình dục là nhu cầu tự nhiên của con người , bắt đầu xuất hiê ̣n từ tuổi dâ ̣y thì nhằm thỏa mãn tình dục và duy trì nòi giống Theo tổ chức Y tế Thế giới thì giao hợp chỉ là một hình thức của tình dục Tình dục là tất cả những gì mà hai người làm cho nhau để thoả mãn nhu cầu tình cảm và sinh lý của con người, bao gồm những hoạt động, cử chỉ như: âu yếm, vuốt ve, ôm, hôn, kích thích, động chạm vào thân thể
Hầu như công nhân ngoa ̣i tỉnh được khảo sát đều nghe nói đến khái niê ̣m tình dục nhưng lại chưa có một sự hiểu biết toàn diện Tình dục là những hoạt động, những suy nghĩ đem lại cảm xúc tình dục cho con người Tình dục không chỉ bao gồm hoạt động tình dục mà bao gồm cả suy nghĩ , thái độ, cảm xúc
Trang 40Bảng 2.2.1: Hiểu biết của công nhân ngoại tỉnh về tình dục (Tỷ lệ: %)
Giao hơ ̣p dương vâ ̣t/ âm đa ̣o 188 94,0
Giao hơ ̣p dương vâ ̣t/ hâ ̣u môn 56 28,0
Tiếp xúc bô ̣ phâ ̣n sinh du ̣c ,
không giao hơ ̣p
Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, công nhân ngoại tỉnh cho rằng tình dục là giao hơ ̣p dương vâ ̣t / âm đa ̣o chiếm tỷ lệ rất cao 94.0% Đây là mô ̣t cách hiểu thông thường nhất nhưng nếu chỉ dừng la ̣i hiểu ở khía ca ̣nh này thì chưa thâ ̣t đầy đủ và chính xác Trong khi đó chỉ có mô ̣t tỷ lê ̣ rất ít công nhân cho rằng tình du ̣c là gia o
hơ ̣p dương vâ ̣t/ hâ ̣u môn (28,0) và hôn hít/ đô ̣ng cha ̣m (8,5%) Sự chênh lê ̣ch trong cách hiểu về các khía cạnh của khái niệm tình dục là một hạn chế bởi nếu không có sự hiểu biết đầy đủ về tình du ̣c sẽ là nguyên nhân dẫn đến nhiều cách hiểu và hành
đô ̣ng sai
Phần lớn công nhân ngoa ̣i tỉnh đều nhấn ma ̣nh mu ̣c đích của tình du ̣c là để sinh đẻ (73.0%) Dù chuẩn mực về quy mô gia đình đã thay đổi, xã hội Việt Nam chấp nhâ ̣n mô hình gia đình hai con , nhưng không vì thế giá tri ̣ của con cái bi ̣ thay đổi Mục đích hàng đầu của tình dục, mối quan hê ̣ hôn nhân bền vững vẫn là để sinh
con và chức năng quan tro ̣ng nhất củ a gia đình “ là tái sinh sản con người để tiếp
tục các thế hệ tương lai”[8, Tr110]
“Tình dục là rất quan trọng , đầu tiên là để duy trì nòi giống nhằm tái sản xuất nguồn lực con người , những thế hê ̣ trẻ nối tiếp nhau và trong gia đình cần có những đứa con để nối dõi tông đường Nếu như kết hôn vài năm rồi mà không có con thì không khí trong gia đình nhiều khi nặng nề lắm và không biết phải giải quyết thế nào”
(PVS, nữ công nhân, 26 tuổi)