TCVM là một chương trình dành cho người nghèo, đặc biệt người nghèo ở nông thôn khi họ ít có cơ hội tiếp cận các nguồn vốn để phát triển kinh tế, và trên thế giới cũng có những nghiên cứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ VĂN TOẢN
TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỘNG ĐỒNG (Nghiên cứu tại xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng)
Chuyên ngành: Công Tác Xã Hội
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ VĂN TOẢN
TÁC ĐỘNG CỦA TCVM ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu tại xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng)
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Văn Tùng
Hà Nội – 2013
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 2
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
2.1 Tình hình trên thế giới 6
2.2 Tình hình ở Việt Nam 10
3 Ý nghĩa nghiên cứu 13
3.1 Ý nghĩa lý luận 13
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 13
4 Câu hỏi nghiên cứu 14
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
5.1 Mục đích nghiên cứu 14
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 14
6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 15
6.1 Đối tượng nghiên cứu 15
6.2 Khách thể nghiên cứu 15
7 Phạm vi nghiên cứu 15
7.1 Phạm vi về thời gian 15
7.2 Phạm vi về không gian 15
7.3 Giới hạn nội dung nghiên cứu 15
8 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, phương pháp thu thập và xử lý thông tin 16
8.1 Cách tiếp cận và phương pháp tiếp cận 16
8.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin 17
8.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp 17
8.2.2 Quan sát tham dự 17
8.2.3 Phỏng vấn sâu 19
8.2.4 Thảo luận nhóm tập trung 22
8.2.5 Xử lý dữ liệu định tính 22
9 Khung phân tích 23
10 Cấu trúc của luận văn 23
Trang 4NỘI DUNG CHÍNH 24
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu 24
1.1 Cơ sở lý luận 24
1.1.1 Các khái niệm công cụ 24
1.1.1.1 Tài chính vi mô 24
1.1.1.2 Tác động 24
1.1.1.3 Cộng đồng 25
1.1.1.4 Năng lực 25
1.1.1.5 Năng lực cộng đồng 25
1.1.1.6 Phát triển 26
1.1.1.7 Phát triển năng lực cộng đồng 26
1.1.1.8 Vốn xã hội 28
1.1.1.9 Tổ tiết kiệm & vay vốn 29
1.1.2 Khung ứng dụng trong nghiên cứu 29
1.2 Cơ sở thực tiễn 32
1.2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
1.2.2 Tổng quan tài chính vi mô 35
1.2.2.1 Phát triển tài chính vi mô trên thế giới 35
1.2.2.2 Phát triển tài chính vi mô tại Việt Nam 36
1.2.2.3 Phát triển tài chính vi mô tại Lâm Đồng 39
1.2.2.4 Thực trạng hoạt động của tài chính vi mô tại xã Bình Thạnh 41
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
Chương 2 Tác động của tài chính vi mô đến sự thay đổi ý thức cộng đồng và trách nhiệm về cộng đồng 45
2.1 Tác động của tài chính vi mô đối với sự thay đổi ý thức cộng đồng 45
2.1.1 Những biểu hiện thay đổi trong ý thức cộng đồng dưới tác động của tài chính vi mô 45
2.1.1.1.Thay đổi trong các phẩm chất tâm lý 46
2.1.1.2 Thay đổi mối quan hệ xã hội trong cộng đồng 49
2.1.1.3 Sự gia tăng độ tin cậy giữa các thành viên trong cộng đồng 53
2.1.1.4 Thay đổi trong các hoạt động của tổ tiết kiệm & vay vốn tại cộng đồng 56
2.1.1.5.Thay đổi trong ý thức tham gia các hoạt động thúc đẩy cộng đồng 58
2.1.2 Sự gia tăng cảm xúc an toàn của các thành viên 60
2.1.2.1 Cảm xúc an toàn của các thành viên thể hiện ở sự kết nối, hình thành nhóm hỗ trợ 61
Trang 52.1.2.2 Cảm xúc an toàn của các thành viên thể hiện ở khả năng trợ giúp 64 2.1.3 Sự thay đổi về ý thức cộng đồng thể hiện ở “cảm giác thuộc về” và nhận biết bản thân 65 2.1.4 Sự thay đổi về ý thức cộng đồng thể hiện ở chất lượng của sự tương tác 67 2.2 Tác động của tài chính vi mô đối với sự thay đổi trách nhiệm cộng đồng 71 2.2.1 Sự thay đổi trách nhiệm của các tổ trưởng tổ tiết kiệm & vay vốn 71 2.2.1.1 Sự thay đổi trách nhiệm của tổ trưởng đối với các thành viên trong tổ tiết kiệm & vay vốn 72 2.2.1.2 Sự thay đổi trách nhiệm của tổ trưởng đối với cộng đồng 75 2.2.2 Sự thay đổi trách nhiệm của các thành viên tổ tiết kiệm & vay vốn thể hiện ở sự tham gia cộng đồng 76 2.2.2.1 Thay đổi về sự tham gia của các thành viên tổ tiết kiệm & vay vốn đối với các hoạt động trong cộng đồng 76 2.2.2.2 Thay đổi thể hiện trong việc tham gia vào các tổ chức xã hội tại cộng đồng 79
Chương 3 Tác động của tài chính vi mô đến năng lực giải quyết vấn đề và gia tăng cơ hội sử dụng các nguồn lực 83
3.1 Tác động của tài chính vi mô đối với năng lực giải quyết vấn đề 83 3.1.1 Những chuyển biến về năng lực giải quyết vấn đề trong cộng đồng 83 3.1.1.1 Chuyển biến về nội dung các chủ đề trong sinh hoạt tổ tiết kiệm & vay vốn 83 3.1.1.2 Chuyển biến về những thay đổi muốn mang lại cho cộng đồng của các thành viên tổ tiết kiệm & vay vốn 85 3.1.2 Sự thay đổi năng lực giải quyết vấn đề thể hiện trong những hành động 88 3.1.2.1 Sự thay đổi năng lực giải quyết vấn đề thể hiện ở sự tham gia của cộng đồng vào việc can thiệp giải quyết các vấn đề xã hội 88 3.1.2.2 Sự thay đổi năng lực giải quyết vấn đề thể hiện ở năng lực can thiệp tạo sự thay đổi trong cộng đồng 92 3.1.2.3 Sự thay đổi năng lực giải quyết vấn đề thể hiện ở năng lực liên kết, phối hợp các tổ chức/ nhóm nhỏ 94 3.2 Tác động của tài chính vi mô đến việc gia tăng cơ hội sử dụng các nguồn lực 96 3.2.1 Gia tăng cơ hội sử dụng nguồn lực tài chính 96 3.2.1.1 Gia tăng cơ hội sử dụng nguồn vốn vay của Ngân hàng Chính sách96
Trang 63.2.1.2 Gia tăng cơ hội sử dụng nguồn tài chính được hình thành trong quá
trình hoạt động tổ tiết kiệm & vay vốn 98
3.2.2 Gia tăng cơ hội sử dụng nguồn kinh nghiệm cá nhân 100
3.2.3 Gia tăng cơ hội sử dụng nguồn nhân lực, trao đổi nhân công 102
3.2.4 Gia tăng cơ hội sử dụng nguồn lực nguồn lực thông tin 105
3.2.4.1 Gia tăng cơ hội sử dụng nguồn thông tin có được từ các khóa tập huấn 105
3.2.4.2 Gia tăng cơ hội sử dụng nguồn thông tin có được từ các chủ đề trong buổi sinh hoạt tổ tiết kiệm & vay vốn 106
3.2.5 Gia tăng cơ hội sử dụng nguồn lực các tổ chức, mở rộng mạng lưới liên kết 109
KẾT LUẬN 114
HẠN CHẾ 116
KHUYẾN NGHỊ 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC 123
Phụ lục 1 123
Phụ lục 2 124
Phụ lục 3 129
Phụ lục 4 132
Phụ lục 5 136
Phụ lục 6 139
Phụ lục 7 140
Phụ lục 8 141
Phụ lục 9 159
Phụ lục 10 180
Phụ lục 11 198
Phụ lục 12 220
Trang 71
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AKFC Aga Khan Foundation of Canada
HCCB Hội cựu chiến binh
HLHPNVN Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
NGOs Tổ chức phi chính phủ quốc tế
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PTCĐ Phát triển cộng đồng
TCVM Tài chính vi mô
TK & VV Tiết kiệm và vay vốn
UBND Ủy ban nhân dân
UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc
Trang 82
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Nội dung quan sát tham dự 18
Bảng 2 Danh sách số lượng mẫu tham gia phỏng vấn sâu 19
Bảng 3 Danh sách thành viên tham gia phỏng vấn 20
Bảng 4 Số lượng thành viên tham gia thảo luận nhóm tập trung 22
Bảng 5 Khung phân tích chung 23
Bảng 1.1 Thống kế tình hình cho vay vốn tổ chức đoàn thể xã Bình Thạnh 41
Bảng 2.1 Khung phân tích tác động của tài chính vi mô đến sự thay đổi ý thức cộng đồng 45
Bảng 2.2 Khung phân tích tác động của tài chính vi mô đến sự thay đổi trách nhiệm về cộng đồng 71
Bảng 3.1 Khung phân tích tác động của tài chính vi mô đến năng lực giải quyết vấn đề 83
Bảng 3.2 Khung phân tích tác động của tài chính vi mô đối với sự gia tăng cơ hội sử dụng các nguồn lực 96
Trang 9sự giám sát của Ngân hàng nhà nước (NHNN) Sự phát triển mạnh mẽ của TCVM
về phạm vi tiếp cận và các dịch vụ cung ứng, đặc biệt là các dịch vụ về tín dụng và tiết kiệm đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế Theo quyết
định của Thủ tướng chính phủ số 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011 phê duyệt Đề án
xây dựng và phát triển hệ thống TCVM Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu xây
dựng và phát triển một hệ thống TCVM phát triển an toàn, bền vững tại Việt Nam, hướng đến phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp, góp phần thực hiện chủ trường của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an sinh và giảm nghèo bền vững [14, tr 1]
Trong Công tác xã hội thực hành chuyên nghiệp, phát triển cộng đồng (PTCĐ) được xem như là một phương pháp can thiệp ở cấp độ vĩ mô bên cạnh các phương pháp công tác xã hội khác ở cấp độ vi mô và trung mô là phương pháp công tác xã hội với cá nhân và công tác xã hội với nhóm Với lịch sử phát triển, hiện nay
có nhiều phương pháp tiếp cận trong PTCĐ lấy con người làm trọng tâm và phát
Trang 104
triển con người vì con người Vì vậy, thước đo của phát triển là thể hiện tiềm năng, khả năng của con người để làm chủ môi trường sống của chính họ Mục đích là nhằm tăng cường quyền lực cho cộng đồng thông qua các phương thức tạo quyền, tăng năng lực hướng đến PTCĐ một cách tự lực Vì mục đích của PTCĐ không chỉ
là tạo ra những thay đổi về lượng (có nhà cửa, vốn liếng, thu nhập, .) mà quan trọng hơn cả là một tinh thần tự nguyện, biết hợp tác, biết chia sẻ trách nhiệm, biết huy động tài nguyên từ bên trong và bên ngoài khi gặp khó khăn, nhằm không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống trong cộng đồng
Hiện nay, trong các chương trình/ dự án PTCĐ, bên cạnh việc nhắm đến mục đích đáp ứng các nhu cầu trước mắt của cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì mục đích quan trọng nhất muốn hướng đến là PTCĐ một cách bền vững thông qua một quá trình nâng cao năng lực cộng đồng (NLCĐ) để hướng
đến cộng đồng tự lực Theo Chaskin (2001) trong Xây dựng năng lực cộng đồng, thì
NLCĐ có những đặc điểm thể hiện trên bốn lĩnh vực: ý thức cộng đồng, trách nhiệm cộng đồng, năng lực giải quyết vấn đề và cơ hội sử dụng các nguồn lực [28,
tr 14] Ở trên thế giới có rất nhiều chương trình, chính sách được lồng ghép trong các dự án PTCĐ, ngoài mục đích nhằm tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống thì còn nhắm đến nâng cao NLCĐ thể hiện thông qua các cách tiếp cận như phương pháp tiếp cận từ dưới lên (bottom-up); phương pháp đồng tham gia (PRA); phương pháp tiếp cận PTCĐ dựa vào nội lực và do người dân làm chủ (ABCD); và phương pháp phân tích kinh tế cộng đồng (“chiến lược xô kinh tế” - bucket strategies) Những phương pháp tiếp cận này đã và đang được triển khai áp dụng tại Việt Nam thông qua rất nhiều các tổ chức trong và ngoài nước như NGOs; các Trung tâm nghiên cứu phát PTCĐ; và đã đạt được những thành quả nhất định trong mục tiêu chiến lược phát triển quốc gia TCVM là một chương trình dành cho người nghèo, đặc biệt người nghèo ở nông thôn khi họ ít có cơ hội tiếp cận các nguồn vốn để phát triển kinh tế, và trên thế giới cũng có những nghiên cứu cho thấy mối quan hệ của TCVM đến phát triển NLCĐ như nghiên cứu của Horvath (2001)
trường Đại học Calgary “Xây dựng NLCĐ thông qua nhóm tín dụng tiết kiệm cho
Trang 11Ở Việt Nam, hiện nay TCVM là một lĩnh vực ngày càng được quan tâm và
có những chiến lược, kế hoạch phát triển theo lộ trình rõ ràng Hiện cũng đã có một
số công trình nghiên cứu đánh giá về những tác động của TCVM Những tác động thường được đánh giá và nhìn nhận trên bốn cấp độ: kinh doanh, cá nhân, hộ gia đình, và cộng đồng [22, tr 9] Thực tế cho thấy, nhiều công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào đánh giá những tác động ở cấp độ kinh doanh, cá nhân hay hộ gia đình Như vậy ở cấp độ cộng đồng thường có ít những nghiên cứu đi sâu vào phân tích tìm hiểu đánh giá một cách cụ thể
Hiện nay, tại Lâm Đồng nói chung và huyện Đức Trọng nói riêng có nhiều chương trình dự án đã và đang triển khai với mục đích nâng cao năng lực của cộng đồng Và cũng có những hoạt động đánh giá tính hiệu quả của các chương trình hỗ trợ đem lại, đặc biệt là TCVM thuộc NHCSXH cho người nghèo, người thu nhập thấp vay dưới mô hình các Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK & VV) Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu sâu những tác động của TCVM ở cấp độ cộng đồng, đặc biệt là ở khía cạnh tác động của nó đối với phát triển NLCĐ
Như vậy, làm thế nào để các tổ TK & VV hỗ trợ tốt nhất cho các thành viên
và cộng đồng? Vai trò thực tế cuat tổ TK & VV là gì? Tác động chính của TCVM thông qua tổ TK & VV đến NLCĐ thể hiện như thế nào? Đây là những vấn đề thường chưa được quan tâm nhiều trong các nghiên cứu cho đến nay Khỏa lấp một khoảng trống hiện nay về TCVM và có cái nhìn xác thực, sâu rộng hơn về những
tác động của TCVM đối với NLCĐ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tác
động của tài chính vi mô đối với phát triển năng lực cộng đồng” (Nghiên cứu tại
xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng)
Trang 126
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Tình hình trên thế giới
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tài chính vi mô với năng lực cộng đồng
Mối quan hệ giữa tài chính vi mô và năng lực cộng đồng được Horvath
(2001) quan tâm nghiên cứu trong “Xây dựng năng lực cộng đồng thông qua các
nhóm tín dụng – tiết kiệm cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Canada”
Trong nghiên cứu của mình, Horvath xem xét việc thúc đẩy NLCĐ thông qua các nhóm TCVM cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Canada Dựa trên nghiên cứu định tính thông qua quan sát tham dự và phỏng vấn sâu, Horvath có những đúc kết rằng, các hoạt động TCVM phải vượt xa hơn mục tiêu đơn thuần về kinh tế, nghĩa
là kết hợp các mục tiêu tham gia của cộng đồng và phát triển vào chương trình của chính cộng đồng Sáu khía cạnh quan trọng của NLCĐ được Horvath xác định trong nghiên cứu này gồm: 1) phát triển cá nhân; 2) ý thức cộng đồng; 3) mạng lưới kinh
tế xã hội; 4) khả năng mang đến sự thay đổi cộng đồng; 5) Tăng sức mạnh bên ngoài cộng đồng; và 6) duy trì nền văn hóa
Horvath đã có những hướng dẫn giúp cho việc nâng cao NLCĐ thông qua các hoạt động nhóm TCVM Ông cũng có những phát hiện rằng, các nhóm tham gia vào TCVM không được nhận thanh toán các chi phí của các hoạt động sáng kiến chẳng hạn như: vận động chính sách, đào tạo Nghiên cứu không cho thấy những vấn đề có thể nảy sinh có thể ảnh hưởng đến nhóm, ảnh hưởng đến tính bền vững của TCVM khi các thành viên tham gia trong các nhóm TCVM không có những khoản tài trợ cho sáng kiến Điều này ông lý giải rằng, người dân tham gia vào nhóm TCVM đã kết nối, hình thành mạng lưới, biết hành động mang đến sự thay đổi bên trong cộng đồng thông qua khả năng huy động nguồn lực của nhóm mà không cần sự hỗ trợ từ bên ngoài Điều này thể hiện yếu tố tự lực của các nhóm TCVM góp phần thúc đẩy phát triển cộng đồng
Như vậy, trong nghiên cứu của mình, Horvath sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, tập trung vào phỏng vấn sâu và quan sát tham dự Ông đã đưa ra được 06 kết quả chính của nghiên cứu thể hiện tác động của TCVM đối với phát
Trang 13Bên cạnh nghiên cứu của Horvath (2001), thì Diaz, Luis (2007) cũng có
công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa NLCĐ và kinh tế vi mô trong “Năng lực
cộng đồng và phát triển kinh tế vi mô: nghiên cứu đến từ Peru”
Trong nghiên cứu của mình, Diaz và Luis tập trung vào các nguồn vốn như
là các thành phần cốt lõi của NLCĐ nhằm mục đích để khám phá mối liên hệ giữa các tổ chức, hiệp hội với phát triển kinh tế vi mô Diaz và Luis tiến hành nghiên cứu định lượng với việc các ông chọn 20 cộng đồng ở Peru trong thực hiện nghiên cứu Trong 20 cộng đồng này có 10 cộng đồng tham gia vào một dự án cứu trợ và phát triển Cơ Đốc Phục Lâm (ADRA), và 10 cộng đồng phục vụ việc kiểm soát, đối chứng, nghĩa là không tham gia dự án ADRA Khách hàng trong 10 cộng đồng tham gia vào dự án ADRA được hỗ trợ các dịch vụ như tạo thu nhập, hoạt động tín dụng nhỏ, cung cấp dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và các kỹ năng nuôi dạy con cái
Diaz và Luis đưa ra những kết luận rằng, việc tham gia trong dự án ADRA
đã có một ảnh hưởng tích cực đáng kể về nâng cao NLCĐ thông qua phát triển kinh
tế vi mô, và cũng một phần nào chỉ ra được mối quan hệ hai chiều giữa kinh tế vi
mô và NLCĐ: 1) tác động của hoạt động kinh tế vi mô đối với phát triển NLCĐ; 2) NLCĐ góp phần thúc đẩy PTCĐ Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình, các tác giả mới chỉ ra được mối quan hệ giữa NLCĐ với kinh tế vi mô bằng những con số cụ
Trang 14sử dụng các nguồn lực
Nghiên cứu về vốn xã hội và tài chính vi mô
Hiện nay, trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn xã hội và TCVM Có thể kể đến nghiên cứu của tổ chức Aga Khan Foundation of Canada (AKFC) và nghiên cứu của Lisa Young Larance (1998)
Nghiên cứu của AKFC (2002) “Tiếp cận người nghèo thông qua trung gian
xã hội: TCVM và xây dựng vốn xã hội” nhằm kiểm tra vốn xã hội và mối quan hệ
giữa các loại vốn này và TCVM Nhóm tác giả đã xem xét 06 tổ chức TCVM tại bốn quốc gia, và lý giải cho câu hỏi làm thế nào để nhóm TCVM đóng góp vào sự phát triển và hình thành của vốn xã hội Một kết luận quan trọng mà AKFC đưa ra
là các nhóm TCVM có thể đóng một vai trò tạo sự khác biệt trong việc thúc đẩy sự hình thành của vốn xã hội Ngược lại cho thấy, vốn xã hội lại có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với xóa đói giảm nghèo tại cộng đồng
Một trong những phát hiện cần lưu ý trong nghiên cứu của AKFC là thông qua quá trình hoạt động, nhóm hình thành những bản sắc Các thành viên nói là, lần đầu tiên, một cảm giác thuộc về một tổ chức như của riêng mình Phát hiện này
Trang 159
cũng có những điểm tương đồng trong một số quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu
về NLCĐ trong khuôn khổ liên quan đến cảm giác mình thuộc về một tổ chức Trong quá trình khảo sát, AKFC cũng có những phát hiện về lợi ích kinh tế đem lại cũng như vai trò của phương thức trao quyền cho phụ nữ Chẳng hạn, phụ nữ ngày càng có tiếng nói đối với việc ra quyết định trong gia đình Điều quan trọng là ý nghĩa về mặt xã hội của nhóm được ghi nhận hơn là các khoản họ được vay Trong nghiên cứu cho thấy những mặt thay đổi tích cực, tuy nhiên còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và mối quan hệ hiện tại của các thành viên Bên cạnh đó, trong nghiên cứu này, khả năng chia sẻ thông tin và chuyển giao kỹ năng được ghi nhận Đây là đóng góp đáng kể của nhóm TCVM đối với các thành viên và cộng đồng Ngoài ra, hoạt động của các nhóm TCVM cũng là cách để phát triển lãnh đạo Tuy nhiên, cơ hội phát triển này không phải ai trong nhóm cũng được thể hiện Tăng cường giải quyết xung đột và khả năng ra quyết định đã được ghi nhận đối với một số người tham gia, do đó cần nâng cao cả hoạt động của nhóm TCVM và khả năng của người tham gia Một phát hiện trong nghiên cứu cần lưu ý là, các nhóm có thể hành động trực tiếp gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh để cải thiện các dịch vụ xã hội hoặc TCVM phần nào đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, bằng cách tăng tiếng nói, vai trò của họ trong cộng đồng, thể hiện thông qua cách tạo ra các mối liên kết với các tổ chức khác
Nghiên cứu của Lisa Young Larance (1998) “Xây dựng vốn xã hội từ trọng
tâm: một điều tra cấp thôn bản của Ngân hàng Grameen” có cái nhìn thông qua
hoạt động cho vay theo mô hình nhóm của Ngân hàng Grameen đối với việc phát triển nguồn vốn xã hội Kết quả nghiên cứu cho thấy khách hàng có thể xây dựng lòng tin và có mạng lưới cần thiết cho sự phát triển hiệu quả của vốn xã hội Bên cạnh đó, thông qua một loạt cách thức thu thập dữ liệu, trong nghiên cứu của mình, Larance kết luận rằng, có hầu hết người tham gia trong nghiên cứu của bà (72 thành viên) đều có kinh nghiệm gia tăng vốn xã hội Đây cũng là kết luận cho thấy vai trò của TCVM trong việc làm gia tăng nguồn vốn xã hội
Trang 1610
Trong nghiên cứu của mình, Larance đã tập trung vào tác động các hoạt động của Ngân hàng Grameen ở vùng nông thôn Bangladesh đối với việc xây dựng nguồn vốn xã hội Tác giả cũng chỉ ra rằng, ngoài việc nghiên cứu các hoạt động nhóm TCVM, thì các yếu tố liên quan như tôn giáo, văn hóa và truyền thống của Bangladesh là đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, phát triển vốn xã hội
Thông qua hai công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã chỉ ra được mối quan hệ giữa vốn xã hội và TCVM Và cũng chỉ ra được những tác động hai chiều: hoạt động nhóm TCVM làm gia tăng nguồn vốn xã hội, và ngược lại nguồn vốn xã hội thúc đẩy phát triển TCVM, và hiệu quả trong hoạt động giảm nghèo Ở một góc nhìn, vốn xã hội được thể hiện thông qua NLCĐ, nguồn vốn xã hội càng phát triển thì đồng với nghĩa sự phát triển của NLCĐ Với cách nhìn từ vốn xã hội, hai công trình nghiên cứu này cũng cho thấy những tác động của TCVM đối với phát triển NLCĐ Tuy nhiên, cả hai công trình nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích tác động của TCVM với nguồn vốn xã hội, chưa tập trung sâu phân tích về những tác động của TCVM đối với phát triển NLCĐ
2.2 Tình hình ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam cũng bắt đầu có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến TCVM Tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu chỉ tập trung đến nguồn vốn vay, phát triển kinh tế cá nhân, hộ gia đình và những tác động nhằm mang lại thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống Có rất ít công trình nghiên cứu cụ thể liên quan đến tác động của TCVM về mặt xã hội như phát triển NLCĐ hay phát triển nguồn vốn
xã hội Một số công trình nghiên cứu cũng đã cho kết tác động của TCVM về mặt
xã hội, nhưng chủ yếu tập trung vào phần nhỏ và chỉ cho thấy kết quả chung chung, chưa nhiều nghiên cứu tập trung sâu về tác động của TCVM đối với phát triển LNCĐ
Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Kim Anh, Ngô Văn Thứ, Lê Thanh Tâm,
Nguyễn Thị Tuyết Mai (2011) “TCVM với giảm nghèo tại Việt Nam - kiểm định và
so sánh” Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đưa ra được hai nhóm tác động của
TCVM là tác động đối với các khía cạnh kinh tế (thu nhập, tài sản, tiết kiệm, ) và
Trang 1711
tác động đối với các khía cạnh xã hội (việc làm, đào tạo, sức khỏe, nâng cao năng lực xã hội, .) Với việc sử dụng phương pháp thực nghiệm đối chứng, xác định mẫu phỏng vấn là 971 mẫu thuộc hai huyện của tỉnh Hải Dương và hai huyện của tỉnh Tiền Giang, nhóm tác giả đã đưa ra được dữ liệu tác động của TCVM đến tạo thu nhập và tăng tài sản; tác động đến mức sống của các hộ gia đình tham gia nhóm TCVM Một trong những khám phá, phát hiện quan trọng trong nghiên cứu này, là mối quan hệ giữa TCVM và năng lực của các thành viên nhóm TCVM Đây là những nội dung tạo nên sự thành công của TCVM, tạo thêm các cơ hội và phát triển năng lực cho các thành viên nhóm TCVM Nhóm tác giả xác định, phát triển năng lực của thành viên nhóm TCVM là xuất phát từ quá trình cùng tham gia của họ trong việc xây dựng và vận hành tổ chức (cơ chế nhóm, tổ), cũng như các dịch vụ phi tài chính đi kèm Tuy nhiên, trong nghiên cứu này những tác động của TCVM đối với phát triển năng lực ở phạm vi thành viên các nhóm TCVM, nghiên cứu chưa cho thấy được những khám phá, phát hiện tác động của TCVM đối với phát triển
năng lực ở cấp độ cộng đồng
Nghiên cứu của Đặng Ngọc Quang (2009) "Vai trò và tác động của tín dụng
nhỏ theo nhóm với phụ nữ nông thôn vùng ven Sông Đà" Tác giả thực hiện ở bốn
cộng đồng có hoàn cảnh gần giống nhau ở hai xã vùng ven Sông Đà, trong đó có hai cộng đồng (hai thôn) thực nghiệm, hai cộng đồng (hai thôn) đối chứng với phương pháp được tác giả tiếp cận là nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng Tác giả đã đưa ra được vai trò của việc tạo quyền cho phụ nữ Nhưng tác động của việc tạo quyền này chỉ thể hiện rõ trong phạm vi hoạt động nhóm tín dụng phụ nữ, chưa cho thấy tác động đến phạm vi cộng đồng Mặt khác, nghiên cứu cũng khám phá, phát hiện ra những tác động của TCVM có thể tạo ra những thay đổi theo thời gian Ở giai đoạn ban đầu, nguồn vốn này được người vay ghi nhận như có tác dụng cải thiện thu nhập, qua đó tiến tới tác động đến việc giảm nghèo Nhưng sau một thời gian dài, tác động của TCVM được ghi nhận là cải thiện năng lực quản lý,
tổ chức tài chính của phụ nữ Qua phát hiện này, cho thấy những nhóm TCVM có mối liên hệ với năng lực của thành viên nhóm, tuy nhiên, nghiên cứu chưa cho thấy
Trang 1812
được những tác động đối với việc phát triển năng lực ở cấp độ cộng đồng Bên cạnh
đó, nghiên cứu cũng có quan điểm nhìn nhận ở góc độ mối quan hệ giữa TCVM đối với nguồn vốn xã hội Bằng việc sử dụng phương pháp thực nghiệm kiểm chứng, tác giả so sánh các cộng đồng và đưa ra kết luận rằng, TCVM theo nhóm không cải thiện đến mối quan hệ với chính quyền cơ sở, với các thành viên cùng tổ chức, hoặc láng giềng Tuy vậy, lại cho rằng, quan hệ với các thành viên của các tổ chức trong thôn lại cải thiện rõ rệt Trong nghiên cứu của mình, tác giả cũng ghi nhận cải thiện mạnh sự gắn bó và sự hòa thuận giữa các thành viên trong gia đình khi TCVM hoạt động lâu dài và bền vững Tuy nhiên, mức độ tác động, ảnh hưởng chỉ trong phạm
vi gia đình nhóm phụ nữ tham gia TCVM, nghiên cứu chưa cho thấy được những tác động ở phạm vi cộng đồng
Ở Lâm Đồng, liên quan đến nguồn vốn vay của NHCSXH, có nghiên cứu
của Hà Thị Ân (2012) “Đánh giá tác động kinh tế - xã hội của chương trình tín
dụng ưu đãi hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội” Ngoài mục tiêu đánh giá
hiệu quả kinh tế của chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo trên các phương diện thoát nghèo và phát triển kinh tế hộ gia đình, thì tác giả còn có mục tiêu đánh giá hiệu quả xã hội của chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo trên phương diện tăng năng lực và phát triển vốn xã hội Đề cập về sự tăng năng lực của các thành viên tham gia TCVM, tác giả đưa ra được những chỉ báo cho thấy về cách sử dụng vốn hiệu quả; cách làm ăn, sản xuất, kinh doanh; cách quản lý chi tiêu trong gia đình; các lợi ích của tiết kiệm; và cách ghi chép sổ sách Bên cạnh đó, tác giả cũng cho thấy phát triển nguồn vốn xã hội thông qua các hoạt động của tổ TK & VV như chia
sẻ kinh nghiệm làm ăn, trao đổi công làm với nhau; chia sẻ những thông tin bổ ích; giúp đỡ nhau khi khó khăn tiền bạc; chia sẻ chuyện gia đình, con cái; và thăm hỏi nhau khi ốm đau Ngoài ra, tác giả cũng cho thấy các hỗ trợ nhận được khi người dân tham gia vào chương trình vay vốn như có cơ hội nhận được sự hỗ trợ; có cơ hội tiếp cận với các chính sách, chương trình hỗ trợ khác; và dễ dàng tìm kiếm sự giúp đỡ hơn khi gặp khó khăn Tác giả đã nêu ra được những con số định lượng thông qua điều tra xã hội học, tuy nhiên lại chưa thể hiện được thông qua các dữ
Trang 1913
liệu định tính Mặt khác, nghiên cứu chưa thể hiện được chi tiết, phân tích sâu từng khía cạnh về những tác động của TCVM đối với phát triển NLCĐ, và mối quan hệ với vốn xã hội
Từ những điển cứu trên cho thấy, hiện nay cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến TCVM, tuy nhiên lại có rất hạn chế những công trình nghiên cứu về TCVM liên quan đến NLCĐ hay đến nguồn vốn xã hội, đặc biệt là các công trình trong nước Đây là một hạn chế trong việc tìm hiểu, tổng quan tài liệu nghiên cứu của chúng tôi để so sánh nhằm có cái nhìn bao quát hơn về lĩnh vực nghiên cứu Từ những công trình nghiên cứu trên, để làm sáng tỏ những mối quan
hệ giữa TCVM và NLCĐ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tác động của TCVM đối với phát triển NLCĐ ở trên 04 góc độ: 1) ý thức cộng đồng; 2) trách nhiệm về cộng đồng; 3) năng lực giải quyết vấn đề; 4) cơ hội sử dụng các nguồn lực
3 Ý nghĩa nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa lý luận
Thứ nhất, nghiên cứu này giới thiệu và vận dụng quan điểm NLCĐ trong
phân tích TCVM để thấy được vai trò của TCVM đối với phát triển NLCĐ
Thứ hai, kết quả của nghiên cứu này bổ sung thêm nguồn văn liệu về PTCĐ
dựa vào phát triển NLCĐ
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thứ nhất, kết quả giúp cho biết những tác động của TCVM đến phát triển
NLCĐ, giúp cán bộ, lãnh đạo địa phương có những biện pháp thiết thực thúc đẩy hoạt động TCVM ngày càng phát triển mạnh hơn
Thứ hai, có cái nhìn thực tiễn thúc đẩy chất lượng cuộc sống của người nghèo,
nâng cao năng lực và phát huy tính tự lực, tự chủ của của cộng đồng
Thứ ba, những phát hiện giúp cho những nhà hoạch định, chuyên gia thấy
được một cách tiếp cận trong PTCĐ của TCVM và góp phần thúc đẩy phát triển ngành TCVM tại Việt Nam nói chung và tại Lâm Đồng nói riêng
Thứ tư, nghiên cứu này làm cơ sở để đánh giá tính hiệu quả của TCVM ở
khía cạnh cộng đồng, hướng đến phát triển bền vững
Trang 2014
Thứ năm, làm tài liệu tham khảo cho các các tổ chức, cá nhân hoạt động và
quan tâm đến lĩnh vực TCVM và PTCĐ
4 Câu hỏi nghiên cứu
Tài chính vi mô có những tác động như thế nào đối với việc phát triển năng
lực của cộng đồng?
Dựa trên câu hỏi chính, có những câu hỏi cụ thể sau:
Thứ nhất, TCVM tác động như thế nào đến ý thức cộng đồng?
Thứ hai, TCVM tác động như thế nào đến trách nhiệm về cộng đồng?
Thứ ba, TCVM tác động như thế nào đến năng lực giải quyết vấn đề của
người dân trong cộng đồng?
Thứ tư, TCVM tác động như thế nào đến việc gia tăng cơ hội sử dụng các
nguồn lực của người dân trong cộng đồng?
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu này là khám phá, phát hiện những tác động của TCVM thông qua các tổ TK & VV đối với phát triển NLCĐ, qua đó thấy được vai trò của TCVM cũng như việc đưa ra các bài học kinh nghiệm nhằm thúc đẩy phát triển NLCĐ, hướng đến PTCĐ một cách bền vững
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống hóa lý thuyết về mối quan hệ giữa TCVM và NLCĐ Thứ hai, tìm hiểu hoạt động của các tổ tổ TK & VV (thuộc TCVM)
Thứ ba, tìm hiểu mối quan hệ giữa TCVM và sự thay đổi về ý thức cộng đồng
Thứ tư, tìm hiểu mối quan hệ giữa TCVM và sự thay đổi trách nhiệm về cộng đồng
Thứ năm, tìm hiểu mối quan hệ giữa TCVM và năng lực giải quyết vấn đề của cộng đồng
Thứ sáu, tìm hiểu mối quan hệ giữa TCVM và sự gia tăng cơ hội sử dụng các nguồn lực của cộng đồng
Trang 2115
6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác động của tài chính vi mô đối với phát triển năng lực cộng đồng
6.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể quan trọng và chủ yếu nhất trong nghiên cứu này được xác định là thành viên của các tổ TK & VV Họ là đối tượng hưởng lợi từ các hoạt động TCVM Bên cạnh đó, những khách thể là các cán bộ và nhân viên Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH): là những cán bộ quản lý phụ trách về TCVM và nhân viên làm việc trực tiếp ở tỉnh Lâm Đồng và huyện Đức Trọng Mặt khác, khách thể được xác định là cán bộ và nhân viên các tổ chức chính trị - xã hội được NHCSXH ủy thác quản lý nguồn vốn vay và hoạt động của các tổ TK & VV như HPN, HND, ĐTN, HCCB Ngoài ra, các lãnh đạo cộng đồng là những lãnh đạo, quản lý phụ trách trong xã Bình Thạnh và các thôn
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Phạm vi về thời gian
Dựa vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu theo hình thức lát cắt, tức là trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây (2003 - 2013)
7.2 Phạm vi về không gian
Địa bàn nghiên cứu được tiến hành tại xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
7.3 Giới hạn nội dung nghiên cứu
NLCĐ là một lĩnh vực rộng, nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu cho thấy những mối liên hệ giữa TCVM, mà cụ thể ở đây là nguồn vay các tổ TK &
VV với phát triển NLCĐ Tập trung vào tìm hiểu, khám phá những tác động của TCVM đối với phát triển NLCĐ, nhằm xác định những yếu tố đóng góp và phát triển NLCĐ thông qua hoạt động của TCVM Nghiên cứu không đi vào tìm hiểu để kiểm chứng những giả thuyết mà tập trung khám phá, phát hiện TCVM có ảnh hưởng như thế nào đến phát triển năng lực của thành viên các tổ TK & VV và của
Trang 228 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, phương pháp thu thập và xử lý thông tin
8.1 Cách tiếp cận và phương pháp tiếp cận
Theo Angelika Kruger, tiếp cận nghiên cứu PTCĐ nói chung hiện nay thường sử dụng là tiếp cận từ dưới lên (bottom-up), tức là xuất phát từ cộng đồng yếu thế được hưởng lợi Cách tiếp cận này được chia ra thành năm cách tiếp cận nhỏ hơn, căn cứ vào xuất phát điểm và cơ chế nghiên cứu, cụ thể gồm:
Thứ nhất, tiếp cận nghiên cứu PTCĐ lấy xuất phát điểm là bản thân toàn bộ cộng đồng Theo cách tiếp cận này, phương pháp nghiên cứu thường dùng là hỗn hợp giữa định tính và định lượng, khi nhà nghiên cứu tiến hành đánh giá và đo lường nhu cầu cũng như nguồn lực của cộng đồng để phát triển
Thứ hai, tiếp cận nghiên cứu PTCĐ lấy xuất phát điểm là chính sách xã hội Theo cách tiếp cận này, phương pháp nghiên cứu cũng thường là hỗn hợp giữa định tính và định lượng, khi nhà nghiên cứu tiến hành đánh giá hiệu quả và hạn chế của các chính sách xã hội đang được thực hiện tại cộng đồng, để tiến hành đề xuất các biện pháp can thiệp
Thứ ba, tiếp cận nghiên cứu PTCĐ lấy xuất phát điểm là chương trình dịch
vụ đang có tại cộng đồng Theo cách tiếp cận này, nhà nghiên cứu thường sử dụng phối hợp nhóm phương pháp định tính và định lượng để đánh giá chất lượng các
Trang 2317
dịch vụ cung cấp cho cộng đồng và nhu cầu của cộng đồng để cải thiện dịch vụ sẵn
có hoặc phát triển dịch vụ mới
Thứ tư, tiếp cận nghiên cứu PTCĐ lấy xuất phát điểm là các nhóm đặc biệt yếu thế trong cộng đồng như người khuyết tật, phụ nữ hay dân tộc ít người Theo cách tiếp cận này, nhà nghiên cứu thường nhắm đến mục đích giảm kì thị, phân biệt
và lạm dụng Do vậy, phương pháp nghiên cứu được khuyên dùng thường là phương pháp định tính
Thứ năm, tiếp cận nghiên cứu PTCĐ lấy xuất phát điểm là các nhóm nòng cốt trong cộng đồng Dạng nghiên cứu này thường có mục đích tìm kiếm và xây dựng các tác nhân trụ cột có ảnh hưởng và uy tín để từ đó thực hiện mục tiêu chung cho toàn cộng đồng Theo cách tiếp cận này, nhà nghiên cứu thường sử dụng nhóm nghiên cứu định tính Đây cũng là cách tiếp cận nghiên cứu mà chúng tôi theo đuổi
để thực hiện nghiên cứu này Nhóm nòng cốt mà chúng tôi nghiên cứu ở đây chính
là các tổ tiết kiệm và vay vốn (TK & VV) trong TCVM
8.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin
8.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tham khảo các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước về lĩnh vực liên quan TCVM, NLCĐ hay nguồn vốn xã hội Đặc biệt
là những nghiên cứu trên thế giới hiện nay về mối quan hệ giữa TCVM và NLCĐ Chúng tôi tiến hành điểm luận, phân tích các nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả trong nước và nước ngoài về những những mối liên hệ giữa TCVM với phát triển NLCĐ Những nguồn tài liệu này là cơ sở để nghiên cứu có sự khám phá những tác động của TCVM đối với phát triển NLCĐ Bên cạnh đó, chúng tôi có tham khảo nguồn tài liệu báo cáo có được từ NHCSXH, các tổ chức chính trị - xã hội và xã Bình Thạnh
8.2.2 Quan sát tham dự
Tham gia các buổi sinh hoạt, xâm nhập vào các hoạt động của các tổ TK &
VV và hoạt động thường ngày của thành viên các tổ tại xã Bình Thạnh Mục đích của việc quan sát này là tìm câu trả lời các câu hỏi khám phá và mô tả trong nghiên
Trang 2418
cứu (Ai? Cái gì? Diễn ra như thế nào?) Tham gia vào trong các cuộc thảo luận, sinh hoạt tổ với tư cách là người quan sát để nắm bắt các diễn biến, biểu hiện trong quá trình sinh hoạt tổ Dựa trên nội dung đã xác định, chúng tôi ghi nhận trong quan sát,
có những thông tin trong nhìn nhận, đánh giá bằng các ghi chép văn bản, từ đó có những thông tin hữu hiệu trong việc phân tích, so sánh với những thông tin có được
từ các hình thức thu thập thông tin khác như phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung
Dựa vào mục đích và câu hỏi nghiên cứu, chúng tôi tiến hành 14 buổi quan sát chính thức, cùng với 10 buổi thâm nhập điền dã trong cộng đồng Ngoài ra, chúng tôi tham gia sinh hoạt, các hoạt động tại cộng đồng Nội dung quan sát tham
dự, cụ thể:
Bảng 1 Nội dung quan sát tham dự
1
Tham dự các buổi giao dịch giữa nhân viên NHCSXH với khách
hàng (Quan sát: mối quan hệ; hành vi, cử chỉ, giao tiếp, xử lý
công việc của thành viên các tổ TK & VV)
02
2
Tham dự những buổi họp sinh hoạt tổ TK & VV - chính thức
(Quan sát: mối quan hệ; sự tương tác; cách thể hiện các nội dung
trao đổi, chia sẻ; bầu không khí; cách ứng xử; hành vi, thái độ của
các thành viên tham gia)
05
3
Tham gia các buổi sinh hoạt, tụ tập và trò chuyện không chính
thức với các gia đình mà các thành viên tổ TK & VV thường lui
tới (Quan sát: mối quan hệ; sự tương tác; cách thể hiện các chủ đề
trao đổi, bàn luận; cách thể hiện sự giúp đỡ hàng ngày; bầu không
khí; hành vi, thái độ của những thành viên tham gia)
05
4
Điều hành thảo luận nhóm tập trung (Quan sát: diễn biến nhóm;
sự tương tác nhóm; bầu không khí nhóm; cử chỉ, diệu mạo, thái
độ thành viên khi tham gia thảo luận các nội dung)
02
5
Thâm nhập vào cộng đồng trong các hoạt động thường ngày
(Quan sát mối quan hệ thường ngày; cách ứng xử; cách thể hiện
sự giúp đỡ; cách xử lý các công việc, vấn đề xảy ra trong cộng
đồng)
10
Trang 2519
8.2.3 Phỏng vấn sâu
Mục đích của nghiên cứu này là nhằm khám phá và phát hiện những tác động của TCVM đối với phát triển NLCĐ Với mục đích này, chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích trong nghiên cứu định tính Cụ thể là, chúng tôi chọn những người tham gia dựa theo những tiêu chí có tính đại diện liên quan tới một câu hỏi nghiên cứu Dựa trên những nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu phỏng vấn sâu 47 mẫu, những đại diện này sẽ được hẹn trước Nội dung phỏng vấn đã được chúng tôi thiết kế dựa vào nhiệm vụ nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Thời gian diễn ra cho mỗi cuộc phỏng vấn từ 30 - 60 phút Cụ thể như sau:
Bảng 2 Danh sách số lượng mẫu tham gia phỏng vấn sâu
STT Cơ quan/tổ chức
Phỏng vấn sâu Cấp quản lý Cấp
thực hiện
Tổng Tỉnh Huyện Xã,
Trang 2620
Nhìn vào bảng tổng hợp mẫu phỏng vấn sâu này, chúng tôi muốn cung cấp
cụ thể thông tin đối với từng nhóm như sau:
Mẫu phỏng vấn sâu thành viên các tổ tiết kiệm & vay vốn
Đây chính là khách thể nghiên cứu chính, quan trọng trong quá trình thu thập thông tin để phục vụ phân tích nội dung Họ là những thành viên tham gia vào các
tổ TK & VV do các tổ chức chính trị - xã hội quản lý Xuất phát đều thuộc các hội viên, họ có nhu cầu vay vốn để làm ăn, phát triển kinh tế Cụ thể:
Bảng 3 Danh sách thành viên các tổ TK & VV tham gia phỏng vấn
Giới tính
Nghề nghiệp
Trồng trọt
Chăn nuôi
Dệt may
Ngành khác Tổng
Mẫu phỏng vấn sâu từ Ngân hàng Chính sách xã hội
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành chọn 04 mẫu phỏng vấn sâu Cấp tỉnh: 01 trưởng phòng tín dụng, cán bộ quản lý phụ trách nguồn vốn vay
và 01 nhân viên làm việc trực tiếp nguồn tín dụng tại NHCSXH tỉnh Lâm Đồng; cấp huyện: 01 cán bộ quản lý phụ trách nguồn vay tín dụng và 02 nhân viên làm việc trực tiếp với các đối tượng vay vốn tại NHCSXH huyện Đức Trọng
Mẫu phỏng vấn sâu từ tổ chức chính trị - xã hội: Hội Liên hiệp phụ nữ
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành chọn 03 mẫu phỏng vấn sâu Cấp tỉnh: 01cán bộ quản lý liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho bên HPN tỉnh Lâm Đồng; cấp huyện: 01 cán bộ quản lý phụ trách
Trang 2721
liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho bên HPN huyện Đức Trọng; cấp xã: 01cán bộ quản lý phụ trách liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho bên HPN xã Bình Thạnh
Mẫu phỏng vấn sâu từ tổ chức chính trị - xã hội: Hội nông dân
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành chọn 03 mẫu phỏng vấn sâu Cấp tỉnh: 01 cán bộ quản lý liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho HND tỉnh Lâm Đồng; cấp huyện: 01 cán bộ quản lý phụ trách liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho bên HND huyện Đức Trọng; cấp xã: 01 cán bộ quản lý phụ trách liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho bên HND xã Bình Thạnh
Mẫu phỏng vấn sâu từ tổ chức chính trị - xã hội: Đoàn thanh niên
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành chọn 03 mẫu phỏng vấn sâu Cấp tỉnh: 01 cán bộ quản lý liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho ĐTN tỉnh Lâm Đồng; cấp huyện: 01 cán bộ quản lý phụ trách liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho bên ĐTN huyện Đức Trọng; cấp xã: 01 cán bộ quản lý phụ trách liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho ĐTN xã Bình Thạnh
Mẫu phỏng vấn sâu từ tổ chức chính trị - xã hội: Hội cựu chiến binh
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành chọn 03 mẫu phỏng vấn sâu Cấp tỉnh: 01 cán bộ quản lý liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho HCCB tỉnh Lâm Đồng; cấp huyện: 01 cán bộ quản lý phụ trách liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho bên HCCB huyện Đức Trọng; cấp xã: 01 cán bộ quản lý phụ trách liên quan đến nguồn vốn vay ủy thác của NHCSXH cho HCCB xã Bình Thạnh
Mẫu phỏng vấn sâu từ lãnh đạo cộng đồng
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành chọn 07 mẫu phỏng vấn sâu Cụ thể: 01 phó chủ tịch xã Bình Thạnh phụ trách hoạt động chung, chịu trách nhiệm quản lý cao nhất nguồn vốn của NHCSXH phân cho xã, báo cáo tình hình hoạt động của các tổ TK & VV tại xã Bình Thạnh; 04 đại diện trưởng các thôn, quản lý trực
Trang 2822
tiếp tình hình các hoạt động diễn ra trong thôn nơi các tổ TK & VV hoạt động và đây là những cá nhân có thâm niên sống lâu năm trong cộng đồng
8.2.4 Thảo luận nhóm tập trung
Bên cạnh thu thập thông tin bằng phỏng vấn sâu, chúng tôi tiến hành thảo luận nhóm tập trung Số người tham gia thảo luận nhóm tập trung là 07 thành viên,
họ là thành viên các tổ TK & VV chưa tham gia trong phỏng vấn sâu Thời gian dành cho buổi thảo luận 120 phút Cụ thể:
Bảng 4 Số lượng thành viên tham gia thảo luận nhóm tập trung
Giới tính Hội
phụ nữ
Hội nông dân
Đoàn thanh niên
Hội cựu chiến binh Tổng
Trang 2923
9 Khung phân tích
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và hạn chế, nội dung chính của đề tài được trình bày với 03 chủ đề như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu
Chương 2 Tác động của tài chính vi mô đến sự thay đổi ý thức cộng đồng và trách nhiệm về cộng đồng
Chương 3 Tác động của tài chính vi mô đến năng lực giải quyết vấn đề và gia tăng cơ hội sử dụng các nguồn lực
Bảng 5 Khung phân tích tác động của tài chính vi mô đến phát triển năng lực cộng đồng
Trang 30là công cụ phát triển” [1, tr 25]
Trong khi đó, ADB cho rằng, “TCVM là việc cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính như nhận tiền gửi, cung ứng khoản vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ” [1, tr 25]
Như vậy có thể hiểu, TCVM là loại tín dụng dành cho người nghèo, là việc cấp cho người nghèo các khoản vay rất nhỏ (gọi là tín dụng vi mô), nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ Mục tiêu của TCVM là mở rộng sự tiếp cận phục vụ những đối tượng dễ
bị tổn thương như người nghèo, người dân tộc thiểu số, tạo cơ hội về việc làm thông qua việc mở rộng các doanh nghiệp nhỏ, tăng hiệu quả công việc cũng như tăng thu nhập cho một số nhóm người, đặc biệt là phụ nữ và người nghèo, làm giảm sự phụ thuộc của các hộ gia đình ở nông thôn Đa dạng hóa các hoạt động tạo thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống, hướng đến phát triển bền vững
Trang 31VV, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức/ nhóm xã hội trong cộng đồng
1.1.1.4 Năng lực
Theo Weinert (2001): “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong các tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”
1.1.1.5 Năng lực cộng đồng
Hiện có nhiều quan niệm về NLCĐ Một số tác giả nói về NLCĐ một cách chung chung, trong khi một số người khác nhấn mạnh đến nhu cầu của NLCĐ được liên kết với một mục tiêu cụ thể như “năng lực để làm gì” Theo Chaskin (2001):
“NLCĐ là sự kết nối các nguồn lực bên trong cộng đồng, bao gồm nguồn vốn nhân lực, nguồn lực của tổ chức, và nguồn vốn xã hội để giúp cộng đồng có thể giải quyết những vấn đề tập thể, cải thiện hay duy trì sự phồn vịnh, phát triển của cộng đồng đó Điều này có thể thực hiện thông qua những tiến trình xã hội một cách không chính thức, hoặc thông qua những nỗ lực chung của mọi cá nhân, tổ chức và các mạng lưới xã hội giữa các cá nhân, tổ chức này cùng với những hệ thống rộng hơn mà trong cộng đồng thuộc về [28, tr 7]
Trang 3226
1.1.1.6 Phát triển
“Phát triển là một quá trình qua đó một xã hội người cùng nhau phấn đấu đạt đến chỗ thỏa mãn được các nhu cầu mà xã hội ấy coi là cơ bản và hiện đại” (Đinh Văn Ân, 2005) [6, tr 4] Một cách hiểu khác, phát triển là tạo ra sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, chất lượng hơn Có hai cách giúp tạo sự thay đổi: 1) tăng thêm
cơ hội cho người dân và cộng đồng (tác động bên ngoài); 2) làm tăng nội lực cá nhân và cộng đồng (tác động bên trong)
1.1.1.7 Phát triển năng lực cộng đồng
Theo Holcim Việt Nam: “Phát triển NLCĐ là quá trình hỗ trợ một cộng đồng nâng cao khả năng ứng phó với các thay đổi của đời sống; nâng cao tính tự lực tự cường và phát huy hết tiềm năng vốn có của mình để cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường”
Theo UNDP (chương trình phát triển Liên hiệp quốc, 2007): “Phát triển NLCĐ là khả năng của các cá nhân, các tổ chức và xã hội để thực hiện các chức năng, giải quyết vấn đề, thiết lập và đạt được các mục tiêu một cách bền vững Phát triển năng lực là quá trình thông qua đó khả năng được củng cố, điều chỉnh và duy trì qua thời gian”
Theo UNFPA (Quỹ dân số Liên hiệp quốc): “Phát triển NLCĐ là một quá trình bao gồm xây dựng khả năng kỹ thuật, hành vi, mối quan hệ và các giá trị để khuyến khích các cá nhân, tập thể, các tổ chức và đoàn thể tăng cường thực hiện công việc nhằm đạt được các mục tiêu phát triển theo thời gian” Quá trình này trải qua một số giai đoạn phát triển, do đó loại hình can thiệp cần có cho việc nâng cao năng lực ở các giai đoạn khác nhau cũng rất khác nhau Nó bao gồm củng cố các quá trình, hệ thống và luật lệ nhằm tạo nên hành vi và thực hành của các cá nhân và tập thể, trong phạm vi và khả năng mong muốn của con người được đóng vai trò mới và thích nghi với yêu cầu và hoàn cảnh mới Phát triển năng lực cũng được gọi
là xây dựng năng lực hay nâng cao năng lực [28, tr 11]
Về lịch sử, thuật ngữ phát triển năng lực không hoàn toàn mới, nhưng dù sao cũng là một khái niệm tương đối mới ở lĩnh vực phát triển Trên thế giới, các nhà
Trang 3327
hoạch định, phát triển tập trung vào việc xây dựng năng lực bắt đầu từ những năm
1990 trong các sáng kiến phát triển tại các cộng đồng dân cư, nhưng thời điểm đó cũng có những đánh giá cho thấy những nỗ lực như vậy chưa đem lại những thay đổi mong muốn (Lusthaus , Adrien, Perstinger, 1999)
Đặc biệt, Todaro (1994) với những nhận định của mình, ông không hài lòng với các sáng kiến phát triển trước được áp dụng thông qua một phương pháp tiếp cận từ trên xuống (top-down), với sự nhấn mạnh hẹp về lợi ích kinh tế, và đây có thể được xem đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển hướng thay thế bằng chiến lược tiếp cận "từ dưới lên" (bottom-up) (Kenny, 2007) Thực tế cho thấy, ở nước ta hay tại nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới, trước đây được viện trợ nước ngoài và hỗ trợ phát triển thường thấy thiếu hiệu quả, và được thực hiện với quan điểm hướng tới giải quyết “cái gì?, làm thế nào?” về vật chất, tài chính, sau đó là nguồn lực con người
Theo UNDP (2007), những cách tiếp cận từ trên xuống, thường bỏ qua tầm quan trọng của kiến thức, kinh nghiệm cộng đồng và sự tham gia của người dân, thất bại trong việc thúc đẩy phát triển tính cộng đồng, và không tạo cho người dân quyền sở hữu dự án Do đó, với các tiếp cận này, người được trợ giúp (đối tượng thụ hưởng) của dự án mang tính thụ động Vì vậy, dưới con mắt của nhà phát triển, với cách tiếp cận này tạo cho người dân tính thụ động, thiếu tầm nhìn mang tính chiến lược bền vững Ngoài ra, với cách tiếp cận áp đặt từ trên xuống như vậy, được coi như là sự thất bại của các nhà phát triển, đồng thời nó khẳng định và công nhận
sự cần thiết của phương thức trao quyền cũng như tạo quyền cho người dân, tạo sự tham gia của người dân trong toàn bộ quá trình hoạt động của dự án, tăng năng lực, tính tự lực và thúc đẩy sự phát triển của vốn xã hội trong bối cảnh của các nền văn hóa cộng đồng (UNDP, 1997) Sau này, dần xuất hiện những triết lý phát triển năng lực trong các nhà hoạt động phát triển, mà đỉnh cao được công nhận là vai trò quan trọng trong việc xây dựng năng lực cho các đối tượng thụ hưởng (người dân) trong chiến lược hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, OECD, 2006) Và ngày nay, với những nỗ lực, định hướng phát triển trong các
Trang 3428
chương trình can thiệp trong các cộng đồng, thì nâng cao hay phát triển năng lực là một trong những mục tiêu quan trọng nhất, nhằm hướng đến tính bền vững sau khi các dự án kết thúc, rút rui
1.1.1.8 Vốn xã hội
Vốn xã hội bao gồm những mối quan hệ giữa con người Đó là các nhóm, tổ chức, thể chế và các mối quan hệ giữa các tổ chức và cá nhân, giữa cá nhân và cá nhân Đó là môi trường xã hội với những quy tắc, chính sách của nhà nước, những mạng lưới hỗ trợ người dân
Định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (1999): “Vốn xã hội xem xét các thể chế, các quan hệ và quy tắc để định hình cho chất lượng và số lượng các quan hệ xã hội… Vốn xã hội không phải là tổng của các các tổ chức đã tạo nên xã hội mà là chất kết dính chúng lại với nhau” [24, tr 10]
Theo định nghĩa của PierreBourdieu: “Vốn xã hội là tập hợp những nguồn lực hiện hữu hoặc tiềm tàng, gắn với việc có một mạng lưới bền vững những quan
hệ quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau ít nhiều được thể chế hóa” Với định nghĩa này, vốn xã hôi được hiểu là mạng lưới xã hội sẽ đem lại những điều lợi hay những lợi ích mà các cá nhân có được nhờ tham gia vào các nhóm [4, tr 14]
Vốn xã hội có một vai trò rất quan trọng mở đường cho việc tiếp cận đến các nguồn lực khác Có hai hình thái vốn xã hội được các nhà nghiên cứu đề cập đến trong các nghiên cứu của họ: 1) vốn xã hội mang tính ràng buộc hay mối quan hệ họ hàng giữa anh em, bà con, họ hàng, làng xóm ở bên trong cộng - mối quan hệ giúp chúng ta tồn tại hiện hữu trong cộng đồng; 2) vốn xã hội là các mối quan hệ bắc cầu
từ nội tại bên trong cộng đồng ra các cộng đồng khác - mối quan hệ thông qua quen biết, bạn bè sống ở bên ngoài cộng đồng giúp chúng ta cải thiện các khả năng về sinh kế Tâm điểm của các cách tiếp cận trong PTCĐ, có vai trò quan trọng của các
tổ chức tự nguyện và mạng lưới các nguồn vốn xã hội Hai yếu tố này tạo nên một kết cấu hòa quyện giữa đời sống cộng đồng và các nỗ lực mang tính tập thể của cộng đồng Chính trong đời sống kết giao này, cộng đồng thể hiện được năng lực
Trang 3529
hành động như những công dân có trách nhiệm làm thay đổi và duy trì các mối quan
hệ xã hội [24, tr 10]
1.1.1.9 Tổ tiết kiệm & vay vốn
Tổ TK & VV là tổ chức do một tổ chức chính trị - xã hội hoặc cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập trên địa bàn hành chính của xã và được UBND cấp xã chấp thuận bằng văn bản
Thành lập với mục đích: 1) tập hợp hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu vay vốn NHCSXH để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; cùng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh
và đời sống; cùng giám sát nhau trong việc vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ Ngân hàng; 2) các tổ viên trong tổ TK & VV cùng giúp đỡ nhau từng bước có thói quen thực hành tiết kiệm để tạo lập nguồn vốn tự có và quen dần với sản xuất hàng hoá, hoạt động tín dụng và tài chính
Nguyên tắc thành lập và hoạt động: 1) tự nguyện, đoàn kết, tương trợ, cùng
có lợi; 2) các tổ viên cam kết cùng thực hiện đúng nghĩa vụ khi vay vốn, trả nợ và các nghĩa vụ khác; 3) tổ hoạt động theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa số dưới sự điều hành của Ban quản lý Tổ
Điều kiện thành lập: 1) có tối thiểu 05 tổ viên và tối đa 60 tổ viên cư trú hợp pháp theo địa bàn cấp xã, cấp thôn; 2) có Quy ước hoạt động nêu rõ nội dung hoạt động của Tổ; 3) việc thành lập Tổ và nội dung Quy ước hoạt động của Tổ phải được UBND cấp xã chấp thuận theo quy định
1.1.2 Khung ứng dụng trong nghiên cứu
Nghiên cứu về tác động của TCVM đối với phát triển NLCĐ, chúng tôi đề cập NLCĐ theo Chaskin (2001) trên 04 đặc điểm: 1) ý thức cộng đồng; 2) trách nhiệm về cộng đồng; 3) năng lực giải quyết vấn đề; 4) cơ hội sử dụng các nguồn lực Để hiểu được bản chất chính xác các đặc tính của bốn đặc điểm thể hiện NLCĐ của Chaskin, sẽ xem xét dựa trên nền tảng lý thuyết các khái niệm thích hợp
Đặc điểm đầu tiên của NLCĐ được thể hiện đó là ý thức cộng đồng Theo
McMillan, Chavis (1986), ý thức cộng đồng thể hiện "bằng sự liên kết giữa các
Trang 3630
thành viên, chấp nhận hoàn cảnh của nhau Giữa các thành viên có mối quan tâm chung, cùng nhau hướng về mục đích, giá trị và tầm nhìn” [35, tr 14] Chaskin cũng cho thấy, ý thức cộng đồng có thể là công cụ tốt, với một hoàn cảnh chia sẻ bắt nguồn từ một tình hình chung hoặc mối quan tâm chung của các thành viên khi quan hệ của họ xuất phát điểm không phải là quan hệ gắn bó Ý thức này thể hiện ở
sự thay đổi trong phẩm chất tâm lý, trong mối quan hệ hay trong các hoạt động; thể hiện ở cảm xúc an toàn của các thành viên; sự thuộc về, nhận biết bản thân; cũng như những thay đổi trong mối tương tác giữa các thành viên trong cộng đồng
Đặc điểm thứ hai của NLCĐ được Chaskin (2001) thể hiện đó là trách nhiệm
về cộng đồng Trách nhiệm về cộng đồng "mô tả trách nhiệm tham gia của cá nhân,
nhóm, hay tổ chức đối với những gì xảy ra trong cộng đồng " [28, tr 15] Trách nhiệm được định nghĩa ở khía cạnh: thể hiện là người đầu tiên trong các thành viên của cộng đồng nhận thức được bản thân mình có liên quan trong sự thành công và thịnh vượng chung của cộng đồng Tuy nhiên, điều này trong thực tế là không đủ để tạo ra các trách nhiệm thật sự trong cộng đồng, mà phải được kết nối với các thành viên sẵn sàng trong việc tham gia tích cực trong vai trò của các bên liên quan (Chaskin, 2001) Những người dân trong cộng đồng tích cực tham gia, là những thành viên thể hiện trách nhiệm bản thân đối với cộng đồng, hướng về cái chung Nhưng trong thực tế thường là những thiểu số trong cộng đồng, và những thành viên này thường có một điều kiện kinh tế xã hội tốt hơn so với các thành viên khác trong cộng đồng hoặc họ là những người có nhận thức rõ hơn về vai trò của bản thân đối với những gì xảy ra trong cộng đồng
Trong thực tế, khi miêu tả NLCĐ thể hiện ở đặc điểm trách nhiệm, một số nhà nghiên cứu có sự chồng chéo, pha trộn với ý thức cộng đồng, coi trách nhiệm là một khía cạnh, một thành phần trong ý thức cộng đồng hơn là một khía cạnh khác biệt của NLCĐ Về vấn đề này, Wilson (1996) gán trách nhiệm nhiều hơn về liên kết thành viên và sự thuộc về, do đó liên quan đến ý thức cộng đồng của McMillan, Chavis, 1986) Trong khi đó, Horvath (2001), so sánh trách nhiệm như một cảm giác được chia sẻ các giá trị và chuẩn mực Những điểm tương đồng này cho thấy
Trang 3731
những khó khăn trong việc phân định các khái niệm về "trách nhiệm" Trong tài liệu Xây dựng năng lực cộng đồng của Chaskin (2001), thì trách nhiệm được xem là một đặc điểm riêng biệt thể hiện của NLCĐ Trong phạm vi nghiên cứu, đặc tính này sẽ được thể hiện, phân tích coi như một đặc điểm quan trọng thể hiện trong NLCĐ
Đặc điểm thứ ba mà Chaskin (2001) mô tả trong NLCĐ đó là năng lực giải
quyết vấn đề Đặc điểm này thường dùng để chỉ hành động tập thể của một cộng
đồng để huy động mối quan tâm đến các vấn đề xảy ra bên trong cộng đồng, đưa ra quyết định, và tạo sự thay đổi trong đời sống của người dân bên trong cộng đồng Thể hiện sự quyết tâm, đồng lòng, cùng nhau hướng về sự thay đổi của người dân trong cộng đồng Điều này, cho thấy những cách thức trong giải quyết vấn đề dựa trên sự thống nhất, bàn thảo, cùng hành động của tập thể, không cho thấy sự phụ thuộc vào các hành động của bất kỳ một cá nhân nào (Chaskin, 2001) Đây cũng là khía cạnh thể hiện quan trọng trong việc làm thế nào để người dân có thể có những ảnh hưởng đến các nhà hoạch định chính sách, đến lãnh đạo và tổ chức tài trợ
Trong PTCĐ, đề cập đến khả năng tạo sự thay đổi, hay giải quyết vấn đề của người dân, nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới sự trao quyền Trao quyền, tổ chức và vận động cộng đồng được xem là các thành phần quan trọng của việc thể hiện NLCĐ Điều này cũng cho thấy những chú ý quan trọng trong đặc điểm khả năng tạo sự thay đổi, giải quyết vấn đề của Chaskin (2001) Schuftan (1996) mô tả trao quyền cho cộng đồng là "một quá trình liên tục cho phép người dân hiểu được cộng đồng, tăng nhận biết, và sử dụng khả năng của bản thân để kiểm soát tốt hơn với những gì xảy ra trong cộng đồng và nhằm đạt được sự tự tin, tính tự lực trong cuộc sống của mình” Tương tự như vậy Arole, Fuller, Deutschmann (2004) lưu ý rằng, tính tự lực của cộng đồng và khả năng để giải quyết các nguồn gốc của vấn đề là
điều quan trọng trong việc thúc đẩy NLCĐ Mục tiêu của sự can thiệp “người được
trao quyền để lựa chọn các mục tiêu riêng của họ trong cộng đồng, họ biết họ cần phải làm gì, tìm ra các giải pháp riêng của mình và tổ chức các hành động của họ nhằm tạo sự thay đổi” Những khía cạnh này cũng tìm thấy ở Rubin & Rubin
Trang 3832
(2001) trong việc vận động sự tham gia của người dân, “liên quan đến việc vận
động mọi người làm việc với nhau để giải quyết vấn đề được chia sẻ”
Đặc điểm cuối cùng mà Chaskin (2001) mô tả trong NLCĐ đó là cơ hội sử
dụng các nguồn lực Nguồn lực bao gồm tài sản vật chất, con người, kinh tế và
chính trị, cả trong một cộng đồng, các hệ thống, các khu vực và các tổ chức bên ngoài (Chaskin, 2001) Thông qua việc kết nối với các nguồn lực khác trong cộng đồng, các thành viên có thể tạo thêm những hiểu biết về kiến thức, kinh nghiệm, tăng kỹ năng cá nhân, … nhằm hướng đến những đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy PTCĐ, cải thiện chất lượng cuộc sống, đảm bảo cuộc sống của người dân (Krezmann, McKnight, 1993; Chaskin, 2001) Cơ hội sử dụng các nguồn lực thể hiện ở khả năng, các thành viên có thể tương tác hiệu quả với các nguồn lực bên trong và bên ngoài cộng đồng, các cơ sở vốn vượt ra ngoài cộng đồng (Chaskin, 2001)
Trong phạm vi NLCĐ thể hiện ở cơ hội sử dụng các nguồn lực, thì cơ hội sử dụng này luôn phụ vào sự kết nối và quan hệ giữa các cá nhân, các nhóm, và các tổ chức bên trong cộng đồng (Chaskin, 2001) Trong hành động, các tác giả chủ yếu nêu vấn đề của các mạng lưới trong bối cảnh của các cấp, các tổ chức xã hội mà qua
đó NLCĐ được thể hiện, và xem như là một chiến lược hơn là thể hiện thuộc tính về năng lực Nhiều tác giả cho thấy tầm quan trọng của vốn xã hội trong việc gia tăng
cơ hội sử dụng các nguồn lực Và trong quan điểm của mình, Chaskin (2001) cũng
đã chỉ ra tầm quan trọng của vốn xã hội trong việc gia tăng cơ hội sử dụng các nguồn lực
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Về vị trí địa lý, xã Bình Thạnh nằm dọc theo quốc lộ 27, là một xã vùng 2
thuộc tỉnh Lâm Đồng Với diện tích tự nhiên là 16,39 km2, dân số là 7572 người, mật độ dân số đạt 417 người/km2
Về y tế, dân số, tổng dân số 7572 nhân khẩu; trẻ em dưới 5 tuổi 817 trẻ; phụ
nữ từ 15 – 49 tuổi có 2071 Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống còn 1,2% so với
Trang 3933
năm 2011 là 1,38% Có thể nhận thất dân số ở xã Bình Thạnh tương đối trẻ, tỷ lệ sinh còn cao mặc dù trong năm qua đã giảm xuống 0,18% Tỉ lệ tăng dân số vẫn còn cao so với mặt bằng chung của huyện Đức Trọng Việc tuyên truyền và thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại trong cộng đồng còn rất nhiều khó khăn Xã Bình Thạnh có một trung tâm y tế, thực hiện vai trò khám chữa bệnh và tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho nhân dân trong địa bàn xã Nhân lực ở trung tâm y tế
xã đều có trình độ y khoa nhất định, đều đã qua đào tạo trường lớp (có 8 cán bộ, trong đó có 1 bác sĩ đa khoa, 1 y sỹ đa khoa, 1 y sỹ y học dân tộc, 1 điều dưỡng, 3
nữ hộ sinh, 1 chuyên trách dân số) Về cơ sở vật chất, nhà trạm đã được xây dựng mới, 1 nhà trệt, 1 lầu, phòng ốc sạch sẽ Tuy nhiên, trang thiết bị còn thô sơ, chưa đáp ứng được nhu cầu chuyên môn, điều này sẽ gây ra những khóa khăn và cản trở cho quá trình điều trị, khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn Trong năm 2012, địa phương đã thực hiện chương trình mục tiêu y tế quốc gia Bên cạnh đó, còn tồn tại một số hạn chế như một số chương trình, dự án hoạt động đạt kết quả chưa cao; công tác truyền thông giáo dục sức khỏe chưa đi vào chiều sâu; vệ sinh môi trường chưa được quan tâm đứng mức, ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa cao
Về kinh tế, xã Bình Thạnh trong những năm gần đây đã có những bước phát
triển nhanh chóng Trong năm 2012, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 17%, trong đó, nông – lâm - thủy sản là 11%; công nghiệp – xây dựng tăng 21%; thương mại – dịch vụ tăng 19% GDP đầu người đạt 28 triệu đồng,tăng 27,3% so với năm 2011 Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 2.835.000.000 đồng, đạt 147% chỉ tiêu huyện giao Tổng chi ngân sách Nhà nước ước thực hiện là 5,025.479,400 đồng, đạt 125,47% dự toán huyện giao Trên thực tế, trong vài năm gần đây, cùng với xu hướng thay đổi tỉ trọng kinh tế của đất nước, tỉ trọng kinh tế về công nghiệp – xây dựng và dịch vụ ở xã Bình Thạnh cũng đã tăng lên Tuy nhiên, đây vẫn là một địa phương chủ yếu tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp
Về văn hóa – xã hội, 1) giáo dục – đào tạo: trên địa bàn xã Bình Thạnh có 3
trường học, trong đó: 01 trường mẫu giáo: 4 lớp, tổng số 265 học sinh; 01 trường tiểu học: có 22 lớp, tổng số 680 học sinh; 01 trường trung học cơ sở: có 16 lớp, tổng
Trang 4034
số 631 học sinh Phòng giáo dục địa phương đã chỉ đạo các trường tiếp tục củng cố, xây dựng kỷ cương, năng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp quản lý và
dạy học; 2) lĩnh vực văn hóa, thông tin, truyền thông gia đình: xã Bình Thạnh là
một trong những xã điểm về phong trào văn hóa nông thôn mới của huyện Các chương trình, phong trào văn hóa được tổ chức thu hút được đông đảo nhân dân tham gia và thực sự mang lại hiệu quả tích cực, góp phần cải thiện đời sống văn hóa
– tinh thần cho nhân dân ở địa phương; 3) công tác tôn giáo: Nhân dân ở xã Bình
Thạnh chủ yếu theo đạo Thiên chúa giáo Có hai giáo xứ lớn có tác động đến mọi mặt của đời sống nhân dân Công tác tôn giáo luôn được quan tâm, niềm tin của tôn giáo của nhân dân với chính sách tôn giáo được nâng lên; 4) công tác xóa đói giảm
nghèo: Hàng năm, ở xã Bình Thạnh vẫn diễn ra những hoạt động hỗ trợ cho người
nghèo theo quy định của pháp luật Hoạt động vay vốn, chủ yếu là của HPN diễn ra hoạt động vay vốn giúp xóa đói giảm nghèo Ngoài ra,còn có sự kết hợp từ các tổ chức, ban ngành khác như HND, HCCB, ĐTN Kết quả mà địa phương đã đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo: số hộ nghèo trên địa bàn xã xét theo tiêu chí mới nhất giảm từ 68 hộ xuống còn 47/1656 hộ; hộ cận nghèo còn 81/1656 hộ; xây nhà tình nghĩa cho 13 hộ nghèo; địa phương đã có sự trợ cấp đầy đủ cho các hộ thuộc diện nghèo và cận nghèo; địa phương đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho các
tổ chức tôn giáo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; làm và cấp phát thẻ bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuổi và 38 thẻ bảo hiểm cho các đối tượng bị tàn tật và tâm thần mãn tính
Về các vấn đề của cộng đồng, mặc dù địa phương là một trong những xã
điểm của tỉnh tương đối phát triển về các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội nhưng vấn
đề nghèo đói và công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế vẫn là “vấn đề” hàng đầu mà địa phương hướng đến Ngoài ra, địa phương còn tồn tại một số vấn đề
về các mặt văn hóa - giáo dục, an ninh trật tự, y tế - sức khỏe cần phải được khắc
phục, cải thiện nhằm cải thiện đời sống của nhân dân trên địa bàn
Về nhu cầu của cộng đồng, nhu cầu thiết yếu nhất của xã Bình Thạnh chính
là nguồn vốn để phát triển kinh tế Theo như thông tin mà chúng tôi nắm được,