Tuy nhiên, có thể thấy rằng các nghiên cứu xã hội học về thanh niên, vị thành niên hiện nay chủ yếu tập trung vào các vấn đề có liên quan đến sức khoẻ sinh sản, tình yêu, hôn nhân hay cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ PHƯƠNG ANH
NHẬN THỨC CỦA VỊ THÀNH NIÊN VIỆT NAM ĐỘ TUỔI 15- 17 VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hữu Minh
Hà Nội – 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ “Nhận thức của vị thành niên Việt Nam độ tuổi 15- 17 về bình đẳng giới và các yếu tố tác động” được hoàn thành sau một thời gian làm việc khẩn trương và nghiêm túc
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ này
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Hữu Minh, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Xã hội học – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các anh chị và bạn lớp Cao học Xã hội học khoá 2008 đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt tới bạn bè và người thân trong gia đình tôi, những người đã động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá học và khoá luận tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 3 năm 2012
Học viên
Trần Thị Phương Anh
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn ……… 3
Mục lục ……… ……… 4
Danh mục chữ cái viết tắt ……… ……… 6
Danh mục các bảng ……… ……… 7
Danh mục các biểu đồ ……… ……… 8
MỞ ĐẦU ……… ……… 9
1 Lý do chọ đề tài 9 2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12 3 Câu hỏi nghiên cứu 12 4 Giả thuyết nghiên cứu 13 5 Khung lý thuyết 14 6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 14 7 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 16 8 Ý nghĩa của đề tài 17 NỘI DUNG ……… ……… 18
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn ……… ……… 18
1.1 Cơ sở lý luận ……… ……… 18
1.1.1 Một số khái niệm liên quan ……… ……… 18
1.1.2 Những lý thuyết xã hội học vận dụng trong đề tài ……… 22
1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới ………
25 1.1.4 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới ……… 29
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ……… ……… 32
Chương 2: Thực trạng nhận thức về bình đẳng giới của vị thành niên ……….………… ………
40
2.1 Đặc điểm vị thành niên và các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu 40
2.2 Nhận thức về bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình 42
Trang 42.2.2 Nhận thức về bình đẳng giới trong hoạt động kinh tế ……… 48
2.2.3 Nhận thức về bình đẳng giới trong hoạt động giao tiếp ……… 51
2.3 Nhận thức về bình đẳng giới trong quyền quyết định các vấn đề của gia đình 53 2.3.1 Nhận thức về quyền quyết định trong các vấn đề chi tiêu ……… 54
2.3.2 Nhận thức về quyền quyết định trong các hoạt động kinh tế ……… 56
2.3.3 Nhận thức về bình đẳng giới trong quyền quyết định các hoạt động khác 59 Chương 3: Các yếu tố tác động đến nhận thức về bình đẳng giới của vị thành niên …… ………
61 3.1 Giới tính ……… ……… 61
3.2 Nơi ở ……… ……… 69
3.3 Học vấn của cha mẹ ………… 74
3.4 Phân công lao động trong gia đình và người làm chính các công việc gia đình ………
80 3.5 Mức sống ……… ……… 83
PHẦN KẾT LUẬN ……… 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ……… 96
Phụ lục ……… ……… 101
Trang 5THCS Trung học cơ sở
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nơi ở của vị thành niên 39
Bảng 2.2: Trình độ học vấn của bố và mẹ vị thành niên (%) 40
Bảng 2.3: Nhận định về người thích hợp với các công việc gia đình (%) 45
Bảng 2.4: Người quyết định chính các chi tiêu trong gia đình (%) 53
Bảng 3.1: Tương quan giới tính vị thành niên và quan điểm về người quyết
định cuối cùng công việc (%) 65
Bảng 3.2: Tương quan giữa khu vực và nhận định người phù hợp với các công
việc (%) 69
Bảng 3.3: Nhận thức của vị thành niên về vai trò của vợ và chồng theo khu
vực và giới tính (%) 73
Bảng 3.4: Tương quan giữa học vấn của bố vị thành niên với nhận định công
việc phù hợp với từng đối tượng (%) 75
Bảng 3.5: Tương quan học vấn người mẹ và nhận định của vị thành niên về
người quyết định chính công việc (%) 77
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của phân công lao động gia đình đến nhận thức của vị
thành niên về các công việc này (%) 80
Bảng 3.7: Tương quan giữa người quyết định cuối cùng công việc trong gia
đình và nhận thức của vị thành niên về các công việc tương ứng (%) 81
Bảng 3.8: Tương quan mức sống và nhận định về công việc thích hợp với
mỗi đối tượng (%) 83
Bảng 3.9: Tương quan Mức sống * Giới tính * Nhận định về công việc thích
hợp với mỗi đối tượng (%) 84
Trang 7Bảng 3.10: Tương quan giữa Khu vực * Mức sống * Nhận định “người chồng
lo kiếm tiền là chủ yếu, vợ ở nhà chăm sóc con và làm nội trợ” (%) 85
Bảng 3.11: Tương quan Khu vực * Mức sống * Nhận thức của vị thành niên
về quyền quyết định trong sản xuất kinh doanh 86
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1: Mức sống của hộ gia đình vị thành niên (%) 40
Biểu 2.2: Tỉ lệ vị thành niên đồng ý đối với mỗi quan điểm (%) 42
Biểu 2.3: Quan điểm về người thích hợp với công việc nội trợ (%) 43
Biểu 2.4: Nhận định về người thích hợp với các công việc về kinh tế (%) 47
Biểu 2.5: Người thích hợp với các công việc về giao tiếp (%) 51
Bảng 2.6: Người quyết định chính trong các hoạt động kinh tế (%) 57
Biểu 3.1: Tương quan giới tính và quan điểm về công việc thích hợp với cả
nam giới và nữ giới (%) 61
Biểu 3.2: Tỉ lệ vị thành niên đồng ý với nhận định “Người chồng lo kiếm tiền
là chủ yếu, vợ ở nhà chăm sóc con và làm các công việc nội trợ” tương quan với học vấn của bố và học vấn của mẹ (%) 74
Biểu 3.3: Học vấn người mẹ với nhận định cả hai giới đều thích hợp với công
việc (%) 76
Biểu 3.4: Ảnh hưởng của mức sống đến nhận định cả hai vợ chồng cùng
quyết định các công việc (%) 85
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bình đẳng giới là một trong những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, là tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của mỗi xã hội và là yếu tố cơ bản để nâng cao khả năng tăng trưởng kinh tế của từng quốc gia Trong số 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, nâng cao bình đẳng giới và vị thế, năng lực
của phụ nữ là mục tiêu đứng thứ 3 trong Bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ
Trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận
trong nỗ lực giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng về giới Theo Báo cáo thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (2005), giá trị chỉ số phát triển giới
(GDI) của Việt Nam tăng từ 0,668 năm 1998 lên 0,689 năm 2004 và thuộc nhóm nước có thành tựu tốt trong khu vực về chỉ số phát triển giới [1; tr 17] Việc đẩy mạnh các hoạt động về giới đã tạo ra sự chuyển biến tích cực về nhận thức cũng như hành động của xã hội trước những vấn đề bất bình đẳng giới
Tuy nhiên cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và tình trạng bất bình đẳng giới là một trong những thách thức chính
về phát triển đối với Việt Nam Trước hết, đó là những định kiến giới ở nhiều tầng lớp xã hội coi trọng nam giới hơn phụ nữ Các biểu hiện tập trung có thể liệt kê như: thích sinh con trai hơn con gái, coi việc nội trợ, chăm sóc con cái
là của phụ nữ, khi chia tài sản thừa kế thường dành cho con trai nhiều hơn, ưu tiên đầu tư vào con trai, coi nam giới là chủ hộ gia đình vì nam giới được xem
là người trụ cột, quyết định chính trong gia đình và thành thạo mọi việc xã hội [1; tr 38] Nhìn chung, nhận thức về bình đẳng giới của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế Trong nhiều trường hợp, những quan niệm bất bình đẳng giới được khái quát hoá và trở thành các chuẩn mực và giá trị xã
Trang 9hội Trong khi điều kiện kinh tế đang thay đổi nhanh chóng thì các chuẩn mực, giá trị văn hoá liên quan đến vai trò giới dường như thay đổi rất chậm chạp [49; tr.11] Do đó, cuộc chiến đấu chống lại bất bình đẳng giới ở Việt Nam đòi hỏi nỗ lực nhiều hơn trong việc nâng cao nhận thức người dân về bình đẳng giới
Vị thành niên là giai đoạn quá độ từ trẻ con sang người lớn, đây cũng là giai đoạn diễn ra sự học tập, thích nghi và lựa chọn các giá trị, chuẩn mực một cách mạnh mẽ Quá trình nhận thức, hình thành nhân cách ở giai đoạn này giữ vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con người và chịu sự chi phối không nhỏ từ ý thức hệ chủ đạo đang tồn tại trong xã hội Nhóm vị thành niên ở độ tuổi từ 15 đến 17 phần lớn vẫn đang là học sinh, những hiểu biết xã hội và nhận thức của các em về bình đẳng giới chủ yếu thông qua quan sát, học hỏi
từ cha mẹ, thầy cô và mọi người xung quanh Vì thế, nhận thức không đầy đủ
sẽ dẫn tới việc nhóm vị thành niên này tiếp thu một cách thụ động các chuẩn mực, định kiến giới Mặt khác, quá trình xã hội hoá vai trò giới được chia thành 3 giai đoạn, mà theo đó, ở giai đoạn thứ ba, giai đoạn ở tuổi vị thành niên, trẻ em bắt đầu có ý thức hơn về giới do quá trình xã hội hoá toàn diện hơn Ở giai đoạn này, các em có thể tiếp nhận những nhận thức mới về bình đẳng giới để thay thế cho các quan niệm nam quyền cũ [36; tr 47]
Thêm vào đó, ở lứa tuổi này, vị thành niên đã biết để ý đến những người bạn khác giới và bắt đầu có xu hướng học hỏi các khuôn mẫu vai trò được cho là “mẫu mực” để nhận được sự đánh giá cao từ phía bạn khác giới Trong khi đó truyền thông về bình đẳng giới chưa xây dựng được thành những chương trình giáo dục cho từng nhóm đối tượng cụ thể và chưa chú trọng đến việc giáo dục bình đẳng giới cho nhóm vị thành niên Vì thế, các
em dễ học tập theo mô hình bất bình đẳng giới diễn ra trong gia đình và ngoài
Trang 10Đồng thời có thể thấy rằng nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới chịu ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố Ngay từ gia đình, sự định hướng của cha mẹ về lối sống, chuẩn mực, học tập, lao động- nghề nghiệp và trong cả sự đầu tư của cha mẹ đối với con cái cũng thường có sự phân biệt tương đối rõ ràng về giới Trong nhiều gia đình, công việc do trẻ em đảm nhận thường có
sự phân biệt rõ ràng theo vai trò giới Chính yếu tố này có thể dẫn tới nhận thức của các em về chuẩn mực cho từng giới trong phân công lao động gia đình
Tuy nhiên, có thể thấy rằng các nghiên cứu xã hội học về thanh niên, vị thành niên hiện nay chủ yếu tập trung vào các vấn đề có liên quan đến sức khoẻ sinh sản, tình yêu, hôn nhân hay các vấn đề về học tập, lao động- việc làm; nhận thức đối với bình đẳng giới còn ít được đề cập trong các công trình nghiên cứu Chính vì thế, tìm hiểu nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi
từ 15- 17 về bình đẳng giới là hết sức cần thiết Qua đó chúng ta biết được thực trạng nhận thức của vị thành niên Việt Nam về bình đẳng giới và có định hướng thích hợp trong việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, góp phần thay đổi nhận thức của người dân ngay từ khi còn trẻ, tạo nền tảng vững chắc trong nhận thức về bình đẳng giới sau này Đây cũng là việc quan trọng góp phần vào nỗ lực cải thiện tình hình bất bình đẳng giới ở Việt Nam về mặt nhận thức
Trong khuôn khổ của luận văn cao học, tác giả chỉ giới hạn ở tìm hiểu nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi 15- 17 về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình
Trang 112 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Xác định nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi từ 15- 17 về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình hiện nay
- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của vị thành niên
về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Nhận thức, vị thành niên, giới, bình đẳng giới,… Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng
cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu
- Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan đến việc phân tích nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới
- Mô tả thực trạng nhận thức của nhóm vị thành niên từ 15- 17 tuổi ở Việt Nam hiện nay về vấn đề bình đẳng giới Cụ thể là: Nhận thức về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình (vai trò của người vợ và người chồng, sự phân công lao động trong gia đình, mối quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng qua các quyết định…)
- Phân tích các nhân tố tác động đến nhận thức của vị thành niên (từ 15-
17 tuổi) về bình đẳng giới Cụ thể: Các nhân tố từ phía bản thân vị thành niên (giới tính); các nhân tố gia đình (học vấn cha mẹ, nơi ở, mức sống…)
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Vị thành niên hiện nay quan niệm như thế nào về sự phân công lao động và quyền quyết định trong các công việc gia đình giữa nam giới và phụ
nữ, người vợ và người chồng?
Trang 12- Có sự khác biệt trong nhận thức về bình đẳng giới giữa những vị thành niên ở các hoàn cảnh khác nhau về mức sống, nơi ở, trình độ học vấn của cha mẹ, giới tính của vị thành niên không?
- Mô hình phân công lao động của cha mẹ và mô hình quyền quyết định các công việc trong gia đình của cha mẹ có ảnh hưởng đến quan điểm của vị thành niên về sự phân công lao động và quyền quyết định giữa nam giới và phụ nữ trong gia đình không?
4 Giả thuyết nghiên cứu
- Nhận thức của một bộ phận vị thành niên Việt Nam độ tuổi từ 15- 17
về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình vẫn tiếp tục duy trì quan niệm về
sự phân công lao động và quyền quyết định các công việc giao đình theo mô hình truyền thống
- Nữ vị thành niên có nhận thức về bình đẳng giới tốt hơn nam vị thành niên; Nhóm vị thành niên ở khu vực thành thị, nhóm có mức sống cao hơn, nhóm vị thành niên có cha mẹ trình độ học vấn cao hơn có nhận thức tốt hơn
so với các nhóm vị thành niên còn lại
- Vị thành niên trong những gia đình có sự bình đẳng giữa cha và mẹ trong phân công lao động và quyền quyết định các công việc gia đình có nhận thức tốt hơn về sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong các công việc này so với nhóm còn lại
Trang 135 Khung lý thuyết
Trong đó:
- Đặc điểm vị thành niên: Giới tính
- Đặc điểm gia đình: học vấn của cha mẹ, mức sống, mô hình phân công lao động của cha mẹ, mô hình quyền quyết định của cha mẹ
- Đặc điểm cộng đồng: Khu vực (nông thôn- đô thị)
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Môi trường KT- XH
Nhận thức của
vị thành niên (15- 17 tuổi) về bình đẳng giới
Đặc điểm cộng
đồng
Trang 14- Phương pháp luận chuyên biệt: Sử dụng một số lý thuyết xã hội học như: Lý thuyết về Giới và Phát triển, lý thuyết về vai trò xã hội
Từ đó vận dụng các lý thuyết này vào việc giải thích nhận thức của vị thành niên Việt Nam hiện nay về bình đẳng giới, sự biến đổi trong nhận thức
và các yếu tố tác động đến nhận thức về bình đẳng giới của nhóm xã hội này
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1 Phương pháp phân tích số liệu thứ cấp
Đề tài “Nhận thức của vị thành niên Việt Nam độ tuổi 15 đến 17 về bình đẳng giới và các yếu tố tác động” sử dụng phương pháp phân tích số liệu có sẵn từ Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 do Bộ Văn hoá, Thể thao
và Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện Gia đình và Giới phối hợp thực hiện điều tra trên địa bàn 64 tỉnh/ thành phố trong cả nước với tổng số mẫu là 9.300 hộ gia đình, chia ra làm 3 nhóm đối tượng: nhóm từ 18 đến 60 tuổi, nhóm từ 61 tuổi trở lên và nhóm vị thành niên từ 15-17 tuổi
Cuộc điều tra này tập trung vào 4 chủ đề chính là: (a) Quan hệ gia đình; (b) Các giá trị và chuẩn mực của gia đình; (c) Kinh tế gia đình; (d) Phúc lợi gia đình Trong mỗi chủ đề, cuộc điều tra tập trung vào một số nội dung cơ bản nhằm nhận diện thực trạng, xu hướng biến đổi gia đình
Công tác chọn mẫu được Tổng cục Thống kê tiến hành với sự tư vấn của chuyên gia chọn mẫu của Bộ Gia đình, Dịch vụ Cộng đồng và Người bản địa Úc (FaHCSIA) Thiết kế mẫu cuộc điều tra là một mẫu xác suất, chọn theo tầng và chùm Các địa bàn, hộ gia đình đc chọn theo phương pháp hệ thống từ dàn mẫu chủ của Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam Dàn mẫu của Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam do chuyên gia của Ngân hàng Thế giới và Tổng cục Thống kê thiết kế năm 2001 Dàn mẫu này có 3100 xã/
Trang 15tỷ lệ với căn bậc hai của quy mô dân số Tại mỗi xã/ phường được chọn, tiến hành chọn ngẫu nhiên 3 địa bàn Kết quả có 9300 hộ được chọn chính thức và
9300 hộ được chọn dự phòng Trong đó có 2364 hộ thành thị và 6936 hộ nông thôn Mẫu Điều tra Quốc gia Gia đình Việt Nam đại diện chung cả nước, khu vực thành thị/ nông thôn và 8 vùng
Tuy nhiên nguồn số liệu chính được sử dụng trong luận văn là số liệu
từ cuộc điều tra đối với nhóm tuổi từ 15- 17 tuổi Trong 9.300 hộ điều tra có 3.125 vị thành niên từ 15- 17 tuổi, trong đó số người được phỏng vấn là 2.452 người Số liệu thu được được xử lý bằng chương trình SPSS Các thông tin
chi tiết về Cuộc điều tra này có thể tham khảo trong Kết quả điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 hoặc tham khảo trên website của Tổng cục Thống
kê http://www.gso.gov.vn
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đề tài tiến hành 8 cuộc phỏng vấn sâu để nắm bắt được quan điểm, suy nghĩ của vị thành niên hiện nay về các vấn đề như phân công lao động gia đình, mối quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng trong các quyết định, đồng thời tìm hiểu những yếu tố nào tác động đến những nhận thức của vị thành niên, như mô hình phân công lao động và quyết định công việc trong gia đình, khuôn mẫu truyền thống, khu vực sinh sống, sự ảnh hưởng của các nhóm bạn
bè, giáo dục của nhà trường,
7 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về bình đẳng giới của vị thành niên
Việt Nam độ tuổi từ 15 đến 17
Trong khuôn khổ của luận văn cao học, tác giả chỉ giới hạn ở tìm hiểu nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi 15- 17 về bình đẳng giới trong cuộc
Trang 16- Khách thể nghiên cứu: Nhóm vị thành niên từ 15 đến 17 tuổi
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: 64 tỉnh/ thành phố trên cả nước
Phạm vi thời gian: Năm 2006
8 Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần bổ sung những nghiên cứu về nhận thức đối với vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là nhận thức của nhóm vị thành niên
- Cung cấp những luận giải khoa học cho việc đánh giá hiệu quả của công cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
Luận văn “Nhận thức của vị thành niên Việt Nam độ tuổi 15 đến 17 về bình đẳng giới và các yếu tố tác động” chủ yếu chú trọng đến nghiên cứu, tìm
hiểu nhằm phát hiện cái mới trong nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới và những yếu tố có ảnh hưởng đến nhận thức Do đó, trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ này, chúng tôi không nhấn mạnh đến việc đưa ra các kiến nghị, giải pháp cho vấn đề nhận thức về bình đẳng giới của vị thành niên
Trang 17NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Khái niệm vị thành niên
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khái niệm “thanh thiếu niên” được hiểu là độ tuổi từ 10- 24, trong đó “vị thành niên” được định nghĩa là thời kỳ trong độ tuổi 10- 19 và “thanh niên” là nhóm tuổi từ 15- 24 [42; tr 13]
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, vị thành niên là nhóm tuổi từ 10-
19
Ở Việt Nam, vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi Thanh niên là
từ 16 - 24 tuổi Trẻ em được luật pháp bảo vệ chăm sóc giáo dục là dưới 16 tuổi Về mặt luật pháp vị thành niên là dưới 18 [29; tr.1]
Đối tượng của cuộc nghiên cứu này là vị thành niên trong độ tuổi từ 15-
17 vì những lý do sau: Đây là nhóm tuổi phù hợp nhất để tiến hành điều tra (vì độ tuổi từ 15- 17 có thể được xem là tương đối lớn để trả lời các câu hỏi được thiết kế trong bảng hỏi mà không cần sự có mặt của cha mẹ) Trong luận văn này, thuật ngữ vị thành niên được dùng để chỉ nhóm tuổi từ 15- 17
1.1.1.2 Khái niệm nhận thức
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là quá trình biện chứng phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến gần đến khách thể Sự nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ thấp đến cao như sau:
Trang 18- Nhận thức cảm tính: vận dụng cảm giác, tri giác, biểu tượng
- Nhận thức lý tính: vận dụng khái niệm, phán đoán, suy lý
- Nhận thức trở về thực tiễn, ở đây tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay sai Do đó thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là cơ sở động lực, mục đích của nhận thức
Mục đích cuối cùng của nhận thức không chỉ để giải thích thế giới mà còn để cải tạo thế giới Do đó, sự nhận thức ở giai đoạn này có chức năng chỉ đạo đối với thực tiễn Sự nhận thức là một quá trình vận động không ngừng,
vì nó gắn liền với hoạt động thực tiễn Để tiến hành quá trình nhận thức, cần phải sử dụng rất nhiều phương pháp, trong đó chủ yếu là phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgic, trừu tượng hoá, khái quát hoá, vận dụng con đường nhận thức đi từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể [17; tr.239]
Theo định nghĩa trong cuốn Từ điển hiện đại về Xã hội học, “Nhận
thức là quá trình trong đó cá nhân nhận biết và lý giải môi trường sống của mình Nhận thức bao gồm tất cả các quá trình mà nhờ nó cá nhân tìm được tri thức, bao gồm quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ghi nhớ, tìm tòi, tưởng tượng, phán xét” [48; tr 56]
Khái niệm nhận thức trong luận văn này được dùng với nghĩa là quá trình mà nhóm vị thành niên hiểu biết ý nghĩa và giá trị về bình đẳng giới và tiếp nhận, học hỏi được những tri thức khoa học về bình đẳng giới biểu hiện ở trình độ hiểu biết, tri thức về bình đẳng giới Từ góc độ xã hội học, khái niệm nhận thức nói đến quá trình nhận thức về xã hội thông qua các tương tác xã hội, ví dụ nhận thức về bình đẳng giới qua tương tác giữa các thành viên trong gia đình Đó là sự hiểu biết của vị thành niên về các quan niệm, giá trị, chuẩn
Trang 19mực liên quan đến mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới trong các khía cạnh của đời sống xã hội
1.1.1.3 Khái niệm Giới và Bình đẳng giới
- Giới:
Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa
vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ
xã hội [35; tr.23]
Giới là một phạm trù chỉ vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới
và phụ nữ Nói đến giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới
và phụ nữ, liên quan tới hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế và xã hội chứ không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay phụ nữ nào [48; tr.17]
Nói đến giới là nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho người nam và người nữ Bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia nguồn lợi và và tương quan về địa vị xã hội của nam giới và nữ giới trong một bối cảnh văn hoá xã hội cụ thể Thuật ngữ giới đề cập đến những đặc tính và cơ hội về mặt kinh tế, xã hội, văn hoá, tâm lý gắn với việc là phụ
nữ hay nam giới Trong phần lớn các xã hội, là một người đàn ông hay là một người phụ nữ không chỉ có các đặc điểm sinh học khác nhau mà còn phải đối diện với những mong đợi khác nhau của xã hội về mặt ngoại hình, các cư xử, tính cách và những công việc được cho là thích hợp với giới tính của người đó [13; tr 26]
- Bình đẳng giới:
Trang 20Theo Từ điển Tiếng Việt, bình đẳng là sự ngang bằng nhau về địa vị và
quyền lợi [34; tr 84]
Từ điển xã hội học, bình đẳng được hiểu trên hai bình diện có quan hệ
mật thiết với nhau: bình diện tự nhiên và bình diện xã hội Trên bình diện tự nhiên, bình đẳng không có nghĩa là mọi con người đều có những năng lực thể chất và tinh thần hoàn toàn giống nhau Các khảo sát khoa học cho thấy những năng lực đó là khác nhau một cách bẩm sinh Trên bình diện xã hội, khái niệm bình đẳng bao hàm nhiều lĩnh vực khác nhau: bình đẳng chính trị, bình đẳng kinh tế, bình đẳng chủng tộc và dân tộc, bình đẳng giới,… [48; tr 21]
Theo Luật Bình đẳng giới, bình đẳng giới là nam và nữ có vị trí, vai trò
ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó
Theo Công ước CEDAW, khái niệm bình đẳng giới được hiểu: Là tình trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc ) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ
sự phát triển đó
Trong đề tài luận văn này, chúng tôi sử dụng quan điểm về bình đẳng giới với nhận thức giới, theo đó, bình đẳng giới là nam giới và nữ giới được tạo điều kiện tối đa để phát huy khả năng của họ cũng như thụ hưởng các thành quả đó có tính tới những yếu tố khác biệt tự nhiên giữa nam giới và nữ giới
Trang 211.1.2 Những lý thuyết xã hội học vận dụng trong đề tài
1.1.2.1 Lý thuyết về Giới và Phát triển
Lý thuyết về Giới và Phát triển dựa trên quan niệm rằng sự khác biệt giữa nam và nữ nhất thiết phải được giải thích bằng hai khái niệm đi liền nhưng có sự tách biệt rõ ràng Thứ nhất, đó là sự khác biệt về đặc điểm sinh học, còn gọi là giới tính, liên quan chủ yếu đến vai trò sinh sản Thứ hai là đặc điểm xã hội, còn gọi là giới, có liên quan đến các yếu tố thể chế chính trị, tôn giáo, văn hoá, kinh tế,… Trong hai nhóm đặc điểm này, các yếu tố xã hội có vai trò quyết định đối với bản chất của các tương quan giữa nam và nữ trong gia đình và xã hội Nếu một gia đình (tương tự như một xã hội) đã xây dựng được các quan hệ tôn trọng và bình đẳng giữa vợ và chồng thì đó không phải
là do các đặc điểm sinh học của mỗi cá nhân mà do quá trình giáo dục của cha
mẹ, của nhà trường, do môi trường sống và làm việc được tạo dựng bởi các chính sách cụ thể, bởi các cơ hội mà xã hội mang lại cho mỗi người với tư cách là phụ nữ và nam giới và cuối cùng do những nỗ lực của bản thân từng người
Khái niệm giới và giới tính một mặt giải thích sự khác biệt giữa hai giới dựa trên cơ sở một bên là các đặc điểm sinh học, không thể thay đổi và một bên là các đặc điểm xã hội luôn biến đổi, mặt khác, lý giải nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khoảng cách về vị trí và tiếng nói của phụ nữ trong gia đình
và xã hội Quan trọng hơn cả là tự khái niệm này có thể vận dụng để xem xét thực tế vị thế của người phụ nữ và nam giới trong gia đình và xã hội không phải như một [2; tr.23]
Giới là mối quan hệ giữa nam và nữ và cách thức xây dựng mối quan
hệ đó trong xã hội Giới được biểu hiện dưới các hình thức:
Trang 22- Tính cách và phẩm chất: Tính cách và phẩm chất của mỗi giới do xã hội cảm nhận và quy định Xã hội đòi hỏi tính cách và phẩm chất của nam và
nữ khác nhau Đó là chuẩn mực văn hóa xã hội có thể thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh văn hóa, chế độ chính trị Tính cách và phẩm chất giới được giáo dục ngay từ khi còn nhỏ bởi gia đình, cha mẹ
- Tư tưởng: Xã hội loài người là biểu hiện của những bất bình đẳng
mà bất bình đẳng về giới là một trong những bất bình đẳng tồn tại dai dẳng nhất Đó là sự bất bình đẳng từ trong nhận thức, tư tưởng của con người Lý thuyết về giới đòi hỏi sự trao quyền cho phụ nữ, nâng cao vị thế của phụ nữ
Sự phân công lao động giữa nam và nữ, giữa cha mẹ và con cái, giữa con trai và con gái trong gia đình là sự biểu hiện rõ nhất của vấn đề giới và cũng là cách giáo dục gián tiếp cho trẻ
Các vai trò giới là kết quả của quá trình xã hội hoá, của điều kiện kinh tế- xã hội chứ không phải do những khác biệt về đặc điểm sinh học giữa nam
và nữ quyết định Quan điểm của lý thuyết giới cho rằng các vai trò giới là do các thiết chế xã hội quy định, vì vậy khi xã hội có sự biến đổi thì vai trò giới cũng có những biến đổi tương ứng
Áp dụng lý thuyết về giới trong nghiên cứu này sẽ cho ta thấy được
sự tác động của các yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội đến quan niệm, nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới Theo đó, vị thành niên chịu sự tác động từ chính khuôn mẫu trong gia đình, nhà trường, cộng đồng
xã hội, từ đó dẫn đến những quan niệm khác nhau trong các vấn đề như phân công lao động, vai trò của từng giới và mối quan hệ quyền lực của nam giới
và nữ giới trong các quyết định gia đình…
Trang 231.1.2.2 Lý thuyết vai trò xã hội
Lý thuyết vai trò xã hội trong xã hội học được đề cập nhiều nhất khi giải thích về các vấn đề giới Quan điểm này nhấn mạnh rằng những hành vi ứng xử của con người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các vai trò xã hội mà họ đóng (Eagly, 1987)
Cuộc sống của người trưởng thành được quy định bởi những vai trò xã hội khác nhau, như vừa là thành viên của gia đình, vừa là người lao động Trong phạm vi gia đình, người ta có mong đợi khác nhau đối với vai trò người
bố và người mẹ, đối với vai trò người chồng và người vợ, đối với vai trò con trai và con gái Vai trò xã hội truyền thống ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của mỗi giới tính Những kỹ năng và sự tập luyện vai trò đã được con người chuẩn bị từ thời thơ ấu và tiếp tục được hoàn thiện hơn khi họ ở lứa tuổi trưởng thành
Tuổi vị thành niên là bước đệm để một đứa trẻ bước vào cuộc sống của người trưởng thành, ở đó họ phải đảm nhận các vai trò, ở các vị trí khác nhau, một mặt là do sự phấn đấu của từng cá nhân, một mặt là tiếp nhận những vai trò theo khuôn mẫu truyền thống Ở lứa tuổi vị thành niên, các em đã biết giúp đỡ gia đình theo khả năng cũng như sự phân công vai trò cho từng đối tượng Cũng ở chính giai đoạn này, các em đã học hỏi và từng bước hình thành nên nhận thức của mình về bình đẳng giới thông qua các vai trò của mình đảm nhiệm cũng như khuôn mẫu vai trò được giáo dục qua các khuôn mẫu trong gia đình và ngoài xã hội
Định kiến giới tồn tại trong từng xã hội đã ảnh hưởng đến nhận thức của mỗi người trong đó về vị trí, vai trò gán cho từng giới Những định kiến này đã áp đặt trong nhận thức của vị thành niên, qua đó giáo dục khuôn mẫu bất bình đẳng giới cho họ Do đó, cần thiết phải có sự thay đổi khuôn mẫu
Trang 24giáo dục truyền thống sang khuôn mẫu hiện đại về giới Vị thế của người phụ
nữ không phải là vị thế cố định mà là vị thế áp đặt đối với người phụ nữ Để thay đổi được vị thế này, sự thay đổi trong nhận thức của vị thành niên là sự khởi đầu cần thiết Chính vì thế, giáo dục giới cho vị thành niên là vấn đề đặc biệt quan trọng
Một số thuật ngữ cơ bản trong lý thuyết vai trò là thuật ngữ sự mong đợi về vai trò và chuẩn mực, sự đánh giá vai trò và sự trừng phạt Tuy nhiên
đây lại chính là những rào cản lớn để xoá bỏ đi những nhận thức mang tính bất bình đẳng giới Theo thuyết vai trò, nhiều sự khác biệt giới là sản phẩm của các vai trò xã hội khác nhau được nam giới hoặc phụ nữ chiếm lĩnh Thuyết vai trò cũng nêu ra ý tưởng là các vai trò xã hội thường dẫn đến những khuôn mẫu xã hội Điều này gợi ý rằng có thể dần xoá bỏ những khuôn mẫu
giới không phù hợp bằng vào việc thay đổi các vai trò giới trong thực tế 1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới
1.1.3.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bình đẳng giới
Ngay từ thế kỷ XIX, C Mác và Ph Ăngghen – các lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản toàn thế giới – đã chỉ ra rằng chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của giới nữ
Người ta thấy rằng sự giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam
và nữ đều không thể có được và mãi mãi không thể có được, chừng nào mà phụ nữ vẫn còn bị gạt ra ngoài lao động sản xuất của xã hội và còn phải bị bó hẹp trong công việc riêng tư ở gia đình Muốn thực hiện sự giải phóng phụ nữ thì trước hết phải làm cho người phụ nữ có thể tham gia sản xuất trên một quy
mô xã hội rộng lớn và chỉ phải làm công việc trong nhà ít thôi Điều đó chỉ có
Trang 25những chỉ thu nhận lao động của phụ nữ trên quy mô lớn, mà cũng nhất thiết đòi hỏi phải có lao động nữ và cũng tiến dần tới chỗ biến công việc tư nhân trong gia đình thành một ngành sản xuất xã hội [4; tr 507]
Ph Ăngghen cho rằng, kinh tế (cụ thể là chế độ sở hữu) là điều kiện và nguyên nhân quan trọng gây nên bất bình đẳng giữa nam và nữ Muốn thiết lập lại sự bình đẳng thật sự cho phụ nữ cần phải có sự thay đổi toàn diện trong nền kinh tế- xã hội
“Ngay cả ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần”; “người vợ trở thành người đầy tớ chính và không được tham gia vào nền sản xuất xã hội” [5; tr.93] “Tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà
là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế” [5; tr.115] Hai ông khẳng định: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội” [5; tr 341]
V.I Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản thế kỷ XIX – XX
kế thừa quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen, chỉ ra tình cảnh khốn khổ của
nữ công nhân lao động trong các nhà máy, công xưởng: “Hàng triệu và hàng triệu phụ nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói đúng hơn đang bị đọa đầy) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn, lo mặc cho gia đình bằng từng xu nhỏ mà họ phải trả bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiết kiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động của bản thân” [23; tr.173]
Trang 26V.I Lênin chủ trương “Phụ nữ được bình quyền với nam giới về mọi mặt”, “Thủ tiêu chế độ đẳng cấp; quyền bình đẳng hoàn toàn của mọi công dân, không phân biệt trai gái, tôn giáo, chủng tộc”; “bổ nhiệm nữ thanh tra trong các ngành mà lao động nữ chiếm đa số”; “hủy bỏ tất cả mọi sự hạn chế, không trừ sự hạn chế nào, đối với các quyền chính trị của phụ nữ so với các quyền của nam giới” Người khẳng định: “Giai cấp vô sản sẽ không đạt được
tự do hoàn toàn, nếu không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ”
1.1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới
Tiếp thu quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh
từ lâu đã thấu hiểu nỗi khổ nhục, bất công của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến Người khẳng định: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề hơn… Ngay từ đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông” Người nhận thấy vai trò to lớn của phụ nữ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Hồ Chí Minh là một trong những người đầu tiên đặt vấn đề giải phóng phụ nữ trong mối quan hệ chặt chẽ với sự nghiệp giải phóng dân
tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Người viết: ”Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người, nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa, nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả” [25; tr 523]
Hơn một tháng sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trong Lời
kêu gọi chống thất học (tháng 10/1945), Người chỉ ra: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới
có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà… Phụ nữ lại càng cần phải
Trang 27học, đã lâu chị em bị kìm hãm Đây là lúc các chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu và ứng cử”
Khi Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới, phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”
Năm 1959, khi Luật Hôn nhân và gia đình lần đầu tiên được Quốc hội
thông qua, Người nói: “Luật Hôn nhân và gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình đẳng, gia đình thật sự hạnh phúc” Khi đề cập đến vấn đề bình đẳng nam- nữ, vợ- chồng trong gia đình, Hồ Chí Minh đã nói: “Nhiều người lầm tưởng đó là việc dễ, chỉ hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát, thế là bình đẳng, bình quyền, lầm to”
[25; tr 433] Người đã phân tích trọng nam khinh nữ là thói quen mấy nghìn năm để lại vì nó ăn sâu trong đầu óc mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội Nó trở thành một vấn đề tâm lý xã hội Bởi vậy, cuộc đấu tranh chống sự phân biệt đối xử với phụ nữ là cuộc đấu tranh tư tưởng lâu dài, khó khăn Không thể dùng vũ lực để tranh đấu mà phải thông qua cuộc cách mạng tư tưởng, văn hoá mà giáo dục; phê phán và thuyết phục mọi người xoá bỏ tư tưởng lạc hậu, xây dựng tư tưởng tiến bộ, tích cực
Nâng cao nhận thức cho người dân về vấn đề bình đẳng giới mà đối tượng chủ yếu là đàn ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là một giải pháp khá quan trọng không thể thiếu để đạt được bình đẳng giới Người đã nói đến
không chỉ một lần rằng “đàn ông phải kính trọng phụ nữ” Không những thế,
theo Người, bản chất của cuộc đấu tranh giành quyền bình đẳng nam nữ phải
Trang 28là cuộc cách mạng trong tư tưởng, cuộc cách mạng trong nhận thức của từng
gia đình, từng người dân, thông qua những tiến bộ trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, pháp luật chứ không thể đấu tranh bằng vũ lực cũng như không đơn giản như nhiều người nghĩ chỉ là việc phân công rửa bát, quét nhà giữa vợ và chồng trong gia đình Bình đẳng thực sự của người phụ nữ phải là
“người phụ nữ Việt Nam đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền lợi công dân”, “ không thể dùng vũ lực mà đấu tranh Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật” [25; tr 433]
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình nam nữ xuyên suốt trong các văn bản pháp luật của Việt Nam về các vấn đề liên quan đến bình đẳng giới Cho đến nay quan điểm này của Người đã trở thành kim chỉ nam cho rất nhiều những chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với các vấn đề giới và gia đình, cụ thể nhất hiện nay đó là Luật bình đẳng giới, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật phòng chống bạo lực gia đình, v.v
1.1.4 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới
Ngay từ năm 1930, Chánh cương vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ: về phương diện xã hội thì thực hiện “nam, nữ bình quyền” Luận cương chính trị
của Đảng cũng ghi: một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là “nam, nữ bình quyền”
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư về một số vấn đề
công tác cán bộ nữ trong tình hình mới khẳng định: “Cần xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng… Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ làm công tác khoa học – kỹ thuật, kinh
tế, pháp luật, hành chính, quản lý nhà nước… cán bộ nữ dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa Các trường lớp đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, Nhà
Trang 29nước và các đoàn thể khi chiêu sinh cần có quy định tỷ lệ nữ một cách thoả đáng, đưa vào chương trình đào tạo những kiến thức về giới…”
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ghi: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến
bộ, hạnh phúc”
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục
khẳng định: “Nâng cao trình độ mọi mặt về đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thày đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà
mẹ, trẻ em Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”
Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đề ra các quan điểm, mục tiêu và năm nhiệm vụ, giải pháp Cụ thể là: Nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới; xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng
Trang 30động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, cò lòng nhân hậu; xây dựng đội ngũ cán
bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng, củng cố Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực sự vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ
Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị khẳng định: Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40% Các cơ quan, đơn vị có tỷ
lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực
Có thể nói, nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, hơn 80 năm qua, dù trong hoàn cảnh chiến tranh hay hoà bình, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm nhằm phát huy vai trò của phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình và xã hội Trong suốt 65 năm qua, đội ngũ cán bộ nữ ngày càng đông đảo, trưởng thành
ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực; đặc biệt, những thành tích về chỉ số phát triển con người Việt Nam (HDI) là 0,725, xếp ở vị trí 116/182 quốc gia và vùng lãnh thổ; chỉ số phát triển giới (GDI) xếp vị trí 94/155 nước (theo Báo cáo phát triển con người của Liên hợp quốc năm 2009) là những minh chứng sinh động về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về giới và bình đẳng giới từ lâu đã là chủ đề quan trọng cuốn hút sự tham gia của nhiều nhà xã hội học, tâm lý học và các nhà hoạt động xã hội Trên thế giới, vấn đề về giới và bình đẳng giới đã được quan tâm
Trang 31từ rất lâu, đặc biệt ở các nước phát triển, qua đó xây dựng được chiến lược nhằm thúc đẩy quá trình bình đẳng giới trên quy mô rộng Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu bình đẳng giới ở nhóm người trưởng thành trở thành vấn đề cấp thiết nhận được sự quan tâm của nhiều chương trình nghiên cứu thì vấn đề này
ở nhóm vị thành niên cho tới gần đây mới bắt đầu thu hút được sự quan tâm của nhiều chuyên gia và nhà nghiên cứu
Nghiên cứu của Chikako (2005) với tên gọi The Effect of Parents upon High school Students Attitudes towards Gender thực hiện trên 230 học
sinh phổ thông tại Yamagata Prefecture, Nhật Bản về ảnh hưởng của cha mẹ đến thái độ của học sinh về bình đẳng giới Tác giả rút ra kết luận qua cuộc nghiên cứu, học sinh trong những gia đình có sự bình đẳng giới giữa cha và
mẹ có xu hướng nhận thức bình đẳng về giới hơn so với những học sinh khác; nhiều bậc phụ huynh cho rằng chia sẻ công việc ở nhà của học sinh rất quan trọng cho việc nhận thức về bình đẳng giới; những học sinh thường được cha
mẹ yêu cầu giúp đỡ công việc gia đình có ý thức hơn về bình đẳng giới so với các học sinh khác; trong trường hợp cha mẹ thoả mãn với cách chia sẻ công việc nhà hiện tại thì con cái họ chấp nhận điều kiện đó Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cha mẹ có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc hình thành nhận thức của học sinh đối với vấn đề bình đẳng giới
Báo cáo Tình hình trẻ em Thế giới do UNICEF thực hiện năm 2011
cho thấy tính cấp thiết của việc đầu tư vào trẻ vị thành niên Mặc dù báo cáo này không tập trung vào vấn đề bình đẳng giới nhưng đây là một trong những vấn đề được quan tâm trong các nội dung được trình bày trong báo cáo Theo kết quả nghiên cứu, các mối đe doạ đối với quyền của trẻ vị thành niên trở nên trầm trọng hơn dưới tác động của hiện tượng phân biệt đối xử giới và loại trừ giới Tỉ lệ bị bạo hành gia đình và bạo hành tình dục của các em gái cao
Trang 32của nam giới trong gia đình và cộng đồng, gây cản trở cho việc nâng cao vị thế cho nữ giới [46; tr.8] Tuy không có những thống kê cụ thể về thực trạng bất bình đẳng giới của nhóm vị thành niên trên thế giới, nhưng những đề xuất cho thấy tầm quan trọng của việc cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới và mối liên hệ của nó đến những vấn đề cấp bách khác của nhóm tuổi vị thành niên
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về bình đẳng giới Những công trình nghiên cứu này không chỉ đưa ra bức tranh chung về tình hình bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay mà còn chỉ ra được những bước tiến trong quá trình cải thiện tình hình bất bình đẳng giới ở một nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tư tưởng Nho giáo như Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu này cũng tập trung chủ yếu ở nhóm người trưởng thành
Trong Báo cáo nghiên cứu, phân tích đối tượng truyền thông và chiến dịch truyền thông vì sự bình đẳng giới (2001), tác giả T.S Barbara A
K Franklin- phỏng vấn sâu về nhận thức của 28 cán bộ truyền thông làm việc trong ngành báo chí, phát thanh và truyền hình- cho biết, ngay cả những người tham gia chiến dịch truyền thông về phụ nữ hay được giao nhiệm vụ viết về chủ đề phụ nữ cũng hiểu biết ít về giới Chính vì thế, họ cũng không khác biệt nhiều so với những độc giả nam nữ của họ Các nhà báo còn cho biết họ thường chỉ được giao viết về những vấn đề của phụ nữ vào những dịp đặc biệt như ngày Phụ nữ 8/3 và 20/10
Định kiến và phân biệt đối xử theo giới- Lý thuyết và thực tiễn (2006)
của nhóm tác giả GS TS Trần Thị Minh Đức, Hoàng Xuân Dung, Đỗ Hoàng
đã đưa ra một cái nhìn tương đối tổng quát và đầy đủ các vấn đề về định kiến giới, phân biệt đối xử theo giới, và có những phân tích về nhận thức giới ở Việt Nam hiện nay Theo đó, trong những năm tuổi thơ, các bé trai được trang
Trang 33bị những đồ chơi thiên về hành vi mạnh mẽ, đồ chơi có tính chất “chiến đấu” như xe tăng, máy bay, tầu hoả, súng ống, rô bốt, siêu nhân hoặc các trò chơi ghép hình, lắp ráp Còn kiểu mẫu của một bé gái sẽ thiên về búp bê, thú nhồi bông, bộ đồ làm bếp hoặc bộ đồ trang điểm… Những kỳ vọng về giới của cha
mẹ, người lớn tiếp tục theo đuổi các em khi vào tuổi trưởng thành Trong lĩnh vực nghề nghiệp, nam giới có xu hướng lựa chọn những nghề về kinh tế, xây dựng hoặc kỹ thuật để trở thành người “mạnh mẽ”, người làm chủ kinh tế gia đình Còn nữ giới tập trung nhiều hơn vào những nghề mà xã hội thường ấn định cho phái nữ để trở thành giáo viên, kế toán hoặc bà nội trợ… Cuốn sách này đã đưa ra nhiều vấn đề trong nhận thức về bình đẳng giới, tuy nhiên còn ít
số liệu điều tra nghiên cứu được sử dụng trong đó và đối tượng của cuốn sách không tập trung vào riêng nhóm đối tượng vị thành niên
Bài nghiên cứu Khuôn mẫu giới trong gia đình hiện nay của tác giả
Trần Thị Hồng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới số 4/2007 cho biết, hiện nay khuôn mẫu giới trong gia đình còn mang định kiến giới khá rõ Phụ nữ được đa số đánh giá là người đảm nhận các trách nhiệm như chăm sóc gia đình, lo toan công việc gia đình, giữ không khí hoà thuận trong gia đình tốt hơn so với nam giới
Tỷ lệ phụ nữ đồng ý với nhận định cho rằng phụ nữ biết chăm sóc gia đình hơn so với nam giới chiếm 92,8%, trong khi nam giới cùng quan điểm là 88,3% Khi được hỏi về mong muốn người trụ cột gia đình, phần đông cả nam giới và nữ giới đều mong muốn nam giới là trụ cột, với tỉ lệ 78,7% nữ và 84,2% nam Trong khi tỉ lệ quan niệm “phụ nữ là người quán xuyến các công việc gia đình” chiếm 84,7% đối với nữ và 77,2% đối với nam
Nhìn chung không có sự khác biệt trong quan niệm hiện nay của hầu hết phụ nữ và nam giới với cách hiểu mang tính truyền thống về năng lực
Trang 34thực hiện vai trò giới trong gia đình Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy không
có sự khác biệt về tuổi, học vấn và khu vực sinh sống của người trả lời trong những nhận định về phụ nữ và nam giới Điều này cho thấy quan điểm truyền thống về năng lực của phụ nữ và nam giới vẫn tiếp tục được duy trì
Báo cáo Vị thành niên và biến đổi xã hội ở Việt Nam do nhóm tác giả
Barbara S Mensch, Đặng Nguyên Anh, Wesley H Clark thực hiện năm 1999, đưa ra một bức tranh tổng thể về đời sống của vị thành niên trên ba cấp độ: cá nhân, gia đình, và cộng đồng Kết quả nghiên cứu cho thấy, các em gái sử dụng thời gian để làm các công việc nhà nhiều gấp đôi các em trai (13% và 6%) Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vị thành niên có xu hướng ủng hộ bình đẳng giới trong quyết định gia đình hơn là trong công việc gia đình Đối với một số công việc, các em đều nhấn mạnh vào trách nhiệm của một giới Đại đa số các em coi việc kiếm tiền nuôi gia đình là trách nhiệm của hai vợ chồng, song hầu hết lại coi việc nội trợ chủ yếu dành cho người vợ Đây là cuộc nghiên cứu tập trung vào hầu hết các mặt trong đời sống của vị thành niên Việt Nam, trong đó có các vấn đề về bình đẳng giới Cuộc khảo sát này xác định vị thành niên trong độ tuổi từ 13 đến 22 và tiến hành trên 6 tỉnh thành nên không mang tính chất đại diện cho toàn thể vị thành niên Việt Nam
Tìm hiểu những yếu tố tác động đến nhận thức giới nói chung, nhận thức giới trong các công việc gia đình nói riêng có thể kể đến một số bài viết,
bài nghiên cứu như Quan niệm và thái độ của vợ chồng trẻ về bình đẳng giới trong gia đình (Trần Thị Anh Thư, 2010), Quyền lực của vợ và chồng trong việc quyết định các công việc của gia đình (Trần Thị Cẩm Nhung, 2009), Vai trò giới của cha mẹ và nhận thức của con trai (Nguyễn Phương Thảo, 2007), Nhận thức, thái độ và hành vi về bình đẳng giới của học sinh trung học phổ thông ở miền núi phía Bắc hiện nay (Đặng Thị Ánh Tuyết, 2009),…
Trang 35Theo tìm hiểu của tác giả Vũ Thị Cúc (2007) trong nhận thức của tầng lớp trí thức trẻ hiện nay còn tồn tại sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ, đề cao quan niệm “nam tôn nữ ti” Một bộ phận người dân chưa thực sự quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới Hiểu biết, nhận thức của người dân về khái niệm giới hiện nay còn nhiều hạn chế, hiểu biết một cách mơ hồ, không đầy
đủ và còn nhầm lẫn giữa hai khái niệm giới và giới tính Có mối liên hệ giữa giới tính người trả lời với quan niệm về tầm quan trọng của bình đẳng giới nam nữ Theo đó, tỉ lệ phụ nữ thừa nhận tầm quan trọng của bình đẳng giới cao hơn so với nam giới, tuy nhiên sự chênh lệch không nhiều Người dân ở nông thôn cho rằng bình đẳng nam nữ có quan trọng cao hơn so với người dân
ở thành thị Ngoài ra, những người có trình độ học vấn càng thấp có xu hướng trả lời không biết về tầm quan trọng của bình đẳng giới càng nhiều
Bài viết Quan niệm và thái độ của vợ chồng trẻ về bình đẳng giới trong gia đình của tác giả Trần Thị Anh Thư đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
Gia đình và Giới (2007) cho thấy quan niệm và hành vi ứng xử của những đôi
vợ chồng trẻ về bình đẳng giới trong gia đình còn bị chi phối nhiều bởi quan niệm truyền thống Mặc dù những người trẻ có tiếp nhận tư tưởng mới, như bình đẳng, quyền, tiếng nói và cơ hội ngang bằng cho cả hai giới, tuy nhiên, dưới các áp lực xã hội, họ vẫn tiếp tục duy trì các quan niệm và phân công lao động trong gia đình, nhằm có được mục tiêu trước mắt là sự hoà thuận và hạnh phúc gia đình Phần lớn những người được hỏi đều xác nhận việc tạo thu nhập là trách nhiệm chủ yếu của người đàn ông, nhiều người xem đó như là trách nhiệm tất nhiên, và vai trò của người mẹ, người vợ trong gia đình vẫn không thay đổi Phân tích thông tin định tính cho thấy quan niệm của một số người chồng bị ảnh hưởng bởi môi trường gia đình, như cách ứng xử của cha
mẹ, phân công lao động giữa cha và mẹ, cách dạy dỗ đối với con trai và con
Trang 36quan hệ vợ chồng Tuy nhiên họ xác định đó là mục tiêu lâu dài, khó có thể thực hiện trong giai đoạn hiện tại
Tác giả Trần Thị Cẩm Nhung trong Quyền lực của vợ và chồng trong việc quyết định các công việc của gia đình (2009) dựa trên thông tin của một
số cuộc điều tra quy mô lớn đã công bố từ 1990 đến đã cho thấy sự biến đổi
từ mô hình quyết định truyền thống (nam giới quyết định là chính) sang mô hình bình đẳng giới (có sự tham gia của cả hai vợ chồng) diễn ra nhiều hơn ở khu vực thành thị, ở nhóm dân cư có trình độ học vấn cao, ở những gia đình
mà người vợ có đóng góp quan trọng vào kinh tế hộ gia đình Việc đứng tên
sở hữu cơ sở sản xuất kinh doanh là một yếu tố quan trọng làm tăng khả năng
là người quyết định công việc này trong gia đình
Bài nghiên cứu Vai trò giới của cha mẹ và nhận thức của con trai
(2007) của tác giả Nguyễn Phương Thảo đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng gồm 604 người cha, 293 người mẹ và 299 nam thanh niên (tuổi từ 17 trở lên và chưa lập gia đình) tại 6 xã/ phường thuộc huyện Tiên Du, huyện Quế Võ và thị xã Bắc Ninh, thực hiện năm 2005 Kết quả cho thấy, nhận thức của nam thanh niên đã có sự chuyển hướng theo cách có lợi hơn cho người phụ nữ, tuy nhiên quyền quyết định các vấn đề chính trong gia đình vẫn thuộc về người đàn ông Nam thanh niên đã tỏ ra “tiến bộ” hơn bố mẹ vì ngoài hai lĩnh vực kinh tế và nội trợ được phân công theo kiểu rập khuôn thì các hoạt động còn lại trong cuộc sống gia đình được cho nên là trách nhiệm của cả hai vợ chồng Nam thanh niên ở khu vực đô thị có những suy nghĩ thể hiện sự bình đẳng giới hơn so với nam thanh niên nông thôn Họ cho rằng nên có sự chia sẻ nhiều hơn giữa vợ và chồng, đặc biệt là các công việc liên quan đến con cái
Trang 37Suy nghĩ của nam thanh niên về việc ai nên là người ra quyết định về các công việc gia đình không chỉ chịu ảnh hưởng của môi trường gia đình (như mô hình phân công lao động cũng như cách ứng xử của các bậc cha mẹ trong các gia đình họ đang sống) mà còn chịu tác động của truyền thông, sự giáo dục ở nhà trường và phong tục tập quán ở địa phương
Luận án tiến sĩ Nhận thức, thái độ và hành vi về bình đẳng giới của học sinh trung học phổ thông ở miền núi phía Bắc hiện nay (qua khảo sát
ở tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Sơn La) do tác giả Đặng Thị Ánh Tuyết thực hiện
năm 2007 - 2008, với 908 phiếu điều tra và 36 phỏng vấn sâu tại 6 trường THPT thuộc tỉnh Sơn La, Lào Cai và Hà Giang với khách thể nghiên cứu chính là học sinh THPT Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy, tỷ lệ học sinh còn có định kiến giới trong nhận thức về khả năng học tập của con gái và con trai là rất thấp Phần lớn các em cho rằng những công việc nội trợ là dành cho cả nam và nữ, cả vợ và chồng Tuy nhiên, vẫn có trên dưới 1/3 ý kiến cho rằng những công việc như: đi mua thức ăn; giặt giũ; chăm sóc người già; trông coi trẻ em là công việc dành riêng cho phụ nữ trong khi tỉ lệ người cho rằng những công việc này dành cho nam giới có tỷ lệ rất thấp Học lực là yếu
tố có ảnh hưởng khá rõ ràng đến mức độ hiểu biết về Luật Bình đẳng giới của học sinh Các em học sinh có học lực cao, mức độ hiểu biết Luật cũng cao hơn so với nhóm có học lực thấp hơn
Đây là một nghiên cứu tương đối đầy đủ, toàn diện tìm hiểu nhận thức
về bình đẳng giới và các yếu tố tác động đến nhận thức của nhóm học sinh THPT Tuy nhiên, một số câu hỏi trong bảng hỏi được tác giả dựa trên những câu nói mang đậm tính định kiến giới để so sánh, do đó đại đa số kết quả thu được cho thấy sự không đồng tình đối với những định kiến này, như câu hỏi
về sự đồng tình với quan điểm “Thiên chức của người phụ nữ là thực hiện
Trang 38các công việc nội trợ gia đình” Do đó, kết quả của luận án mang tính tương
đối và khó so sánh với các cuộc điều tra khác
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề trong các nhận thức về giới của người dân hiện nay Tuy nhiên, cho đến nay, các công trình nghiên cứu về giới và bình đẳng giới ở nhóm vị thành niên ở Việt Nam không nhiều và đầy đủ như nhóm người trưởng thành Trong đó, đi sâu tìm hiểu nhận thức của nhóm này trong cuộc sống gia đình qua từng quan điểm, nội dung cụ thể cũng như các yếu tố tác động đến nhận thức của họ còn là chủ
đề rộng mở, cần được tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ BÌNH ĐẲNG
GIỚI CỦA VỊ THÀNH NIÊN
2.1 Đặc điểm vị thành niên và các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu Nơi ở: Cuộc nghiên cứu tiến hành điều tra vị thành niên trên cả nước, trong đó vị thành niên sống ở nông thôn chiếm tỉ lệ 78,2%, vị thành niên sống
ở thành thị là 21,8% Tỉ lệ này cũng tương ứng với tỉ lệ phân bố dân số nông thôn- đô thị ở nước ta hiện nay
Bảng 2.1 Nơi ở của vị thành niên
Khu vực Tần suất (người) Tỷ lệ (%)
Giới tính: Giới tính của vị thành niên tham gia phỏng vấn có sự phân
bố tương đối đồng đều cho cả hai giới, trong đó nữ vị thành niên là 1205 em (chiếm tỉ lệ 49,1%) và nam vị thành niên là 1247 em (chiếm tỉ lệ 50,9%)
Độ tuổi: Trong 2452 em tham gia cuộc điều tra, vị thành niên 15 tuổi chiếm 27,7% số người được phỏng vấn, vị thành niên 16 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 38,9% và vị thành niên 17 tuổi là 33,4%
Mức sống: Mức sống hộ gia đình của các vị thành niên trong cuộc điều tra do người trả lời tự đánh giá cùng với sự quan sát của phỏng vấn viên
và được nhóm thành 5 nhóm mức sống là: giàu có, khá giả, trung bình; nghèo
và rất nghèo Luận văn phân tích mức sống thành 3 nhóm chính: Nhóm có
Trang 4012,4%; Nhóm có mức sống trung bình có 1673 em, chiếm tỉ lệ 68,2% và nhóm có mức sống nghèo và rất nghèo có 472 em, chiếm tỉ lệ 19,2% Phần lớn các gia đình được hỏi đều khiêm tốn trong việc đánh giá mức sống gia đình, do đó, không loại trừ khả năng tỷ lệ các gia đình ở mức sống khá giả trên thực tế còn cao hơn số liệu thu được
Biểu đồ 2.1: Mức sống của hộ gia đình vị thành niên (%)
Trình độ học vấn của bố và mẹ vị thành niên: Với 5 nhóm học vấn:
Mù chữ; TH; THCS; PTTH; trung cấp/ cao đẳng/ đại học, học vấn của bố và
mẹ vị thành niên được trình bày ở bảng 2.1 dưới đây