1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo in Việt Nam với vấn đề nghiên cứu, phê bình mỹ thuật

123 302 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khỏc, đối với bỏo in, tuy đó tớch cực chuyển tải thông tin nghệ thuật trong đó có nghiên cứu, phê bình mỹ thuật, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mỹ thuật Việt Nam, nâng cao nhận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

Bảng chữ viết tắt 2

A M mở đầu 3

Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về báo invà việc nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in 9

1.1 Vai trò của báo in và việc nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in 9

1.1.1 Một số vấn đề lý luận về báo in 9

1.1.2 Vai trò của báo in trong đời sống xã hội 18

1.1.3 Vai trò của nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trong đời sống mỹ thuật 23

1.2 Quan điểm của Đảng về báo chí và công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật 26

1.2.1 Quan điểm của Đảng về báo chí 26

1.2.2 Quan điểm của Đảng về công tác nghiên cứu phê bình mỹ thuật 28

1.3 Mối quan hệ giữa báo in với nghiên cứu, phê bình mỹ thuật 32

1.3.2 Hoạt động nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in 37

Kết luận chương 1 38

Chương 2 Đánh giá công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in từ 2000 đến nay 39

2.1 Nội dung nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in 39

2.1.1 Những thông tin về mỹ thuật 40

2.1.2 Những bài viết về nghiên cứu, phê bình mỹ thuật 49

2.1.3 Phân bổ các loại bài nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo và tạp chí 55

2.3 Ngôn ngữ báo in về nghiên cứu, phê bình mỹ thuật 78

chương 3 86

3.1 Phương hướng : 86

3.1.1 Quan điểm của Đảng ta về tiếp tục xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 87

3.1.2 Hội nhập quốc tế 90

Trang 3

3.1.3 Tác động của cơ chế thị trường 93

3.1.4 Thực trạng về nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in 95

3.2 Một số giải pháp 98

3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với báo in và Hội Mỹ thuật Việt Nam 99

3.2.2 Tăng cường mối quan hệ giữa báo in với nghiên cứu, phê bình mỹ thuật 100

3.2.4 Nâng cao nghiệp vụ chuyên môn của báo in 103

3.2.6 Tiếp tục nâng cao nhận thức về hoạt động nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in cho công chúng 106

3.3 Một số kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in trong thời gian tới 108

3.3.1 Tăng thêm một số giờ học về ngành mỹ thuật cho sinh viên báo chí và mở thường xuyên các khoá học ngắn hạn mỹ thuật dành cho các nhà báo chuyên viết về mỹ thuật 108

3.3.3 Các nhà phê bình chuyên nghiệp cần có sự cộng tác chặt chẽ và tích cực hơn nữa với báo chí 111

3.3.4 Mở chuyên mục mỹ thuật thường xuyên có chất lượng cao đối với các báo chuyên ngành văn hoá và các trang văn hoá nghệ thuật của nhiều tờ báo khác 112

Kết luận chương 3 113

Kết luận 114

Danh mục tài liệu tham khảo 118

Phụ lục 121

Trang 5

A Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới hiện tại ghi nhận sự ra đời, phát triển của nhiều nền mỹ thuật, nhiều xu hướng, phong cách mỹ thuật khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau Chính sự giao hoà giữa mỹ thuật truyền thống và mỹ thuật đương đại đó tạo đà mạnh mẽ cho sự xuất hiện, phát triển của nhiều trường phỏi sỏng tỏc mỹ thuật tại nhiều quốc gia trong đú cú Việt Nam

Trong bối cảnh chung đú, nhằm phản ỏnh và theo kịp đời sống sỏng tỏc, cụng tỏc nghiờn cứu, phờ bỡnh mỹ thuật đó cú những bước tiến đỏng ghi nhận Nội dung và hình thức của nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trong quá trình phát triển đã phần nào tích cực đáp ứng sự mong mỏi của công chúng muốn tìm hiểu về mỹ thuật Song, trên thực tế mới chỉ thoả mãn được một bộ phận công chúng Đại đa số công chúng mỹ thuật rất ít có điều kiện để tiếp cận, hiểu biết tường tận về giá trị tác phẩm, đặc biệt là giá trị giáo dục thẩm mỹ do mỹ thuật mang lại

Việc nâng cao thẩm mỹ cho công chúng, hiện có nhiều kênh thông tin khác

nhau, một trong những kênh đó là báo chí, trong đó báo in đóng vai trò quan trọng

Báo chí với tư cách là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu của xã hội, có chức năng chuyển tải thông tin tới công chúng mà thông tin về mỹ thuật và nghiên cứu,

phê bình mỹ thuật là một loại hình

Qua việc chuyển tải của báo chí, qua sự nhận định, phẩm bỡnh, phõn tớch, đánh giá của các nhà nghiờn cứu, phờ bỡnh mỹ thuật chuyờn và khụng chuyờn nghiệp, “bức tranh” mỹ thuật thời hiện đại thực sự mang sắc thỏi riờng trờn nền nghệ thuật Việt Nam núi chung Bàn về hoạt động phê bình lý luận, Nghị quyết Hội

nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa VIII nhấn mạnh : “Hoạt động

lý luận, phê bình đã đạt được những kết quả tích cực, khẳng định mạnh mẽ văn nghệ cách mạng và kháng chiến, đẩy lùi một bước những quan điểm sai trái”

Trang 6

Trải qua hàng chục năm phát triển, trưởng thành công tác nghiên cứu, phờ bỡnh mỹ thuật Việt Nam hiện nay đó được công chúng và xó hội ghi nhận như một chuyờn ngành khoa học khu biệt Nhiều cụng trỡnh khoa học nghiờn cứu về mỹ thuật cổ, mỹ thuật trung đại, cận hiện đại và hiện đại; nhiều cụng trỡnh bàn về tớnh định hướng trong cụng tỏc phờ bỡnh, xó hội hoỏ cụng tỏc phờ bỡnh, hướng tồn tại

và phỏt triển của cụng tỏc phờ bỡnh mỹ thuật Việt Nam…do Viện Mỹ thuật, Vụ

Mỹ thuật, NXB Mỹ thuật biên soạn, phát hành đó, đang là những tài liệu quý phục

vụ cho việc nghiờn cứu, tỡm hiểu về ngành phờ bỡnh mỹ thuật Việt Nam Tuy nhiờn, so với yờu cầu thực tế, cụng tỏc nghiờn cứu, phờ bỡnh mỹ thuật vẫn cũn nhiều hạn chế, bất cập Mặt khỏc, đối với bỏo in, tuy đó tớch cực chuyển tải thông tin nghệ thuật trong đó có nghiên cứu, phê bình mỹ thuật, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mỹ thuật Việt Nam, nâng cao nhận thức thẩm mỹ cho công chúng, cũng còn chưa thể hiện đầy đủ, ngang tầm trong việc đánh giá thành tựu, định hướng hoạt động mỹ thuật, tổ chức, hướng dẫn dư luận thẩm định cái đẹp một cách toàn diện

Vì vậy, việc đặt vấn đề tìm hiểu sự chuyển tải của báo in Việt Nam hiện nay đối với công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật được đặt ra một cách cấp thiết Thực trạng công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in thời gian qua thế nào? Những vấn đề gì được đặt ra trong việc nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in? Những vấn đề đó có tác động

ra sao đối với nhận thức về mỹ thuật của giới mỹ thuật và công chúng? Sự biến đổi nhận thức từ ảnh hưởng đó dẫn đến biến đổi hành vi, mức độ hiệu quả của công chúng yêu mỹ thuật có phù hợp với tiến trình đổi mới của Đảng trên bước đường xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế ? Tất cả những vấn đề đó đã thôi thúc

tác giả chọn đề tài “Báo in Việt Nam với vấn đề nghiên cứu, phê bình mỹ thuật” làm

luận văn cấp Thạc sĩ Báo chí

2 Tình hình nghiên cứu

Trải qua gần 80 năm ra đời, phát triển, báo chí cách mạng Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về nội dung, hình thức và chất lượng Giai đoạn từ đổi mới

Trang 7

đến nay, báo chí Việt Nam trong đó có báo in ngày càng khẳng định sự trưởng thành trong việc phản ánh các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Nhiều vấn đề về nghệ thuật được báo in chuyển tải dưới các hình thức khác nhau của thể loại báo chí bằng các bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà phê bình mỹ thuật Tuy nhiên,

đó mới chỉ là những bài báo riêng lẻ, chưa tập hợp thành những công trình nghiên cứu, phê bình mỹ thuật chuyên sâu trên báo in về các vấn đề của nghệ thuật nói chung và

mỹ thuật nói riêng Trên lĩnh vực mỹ thuật, các công trình nghiên cứu, phê bình vẫn

nối tiếp nhau ra đời như Mỹ thuật Thủ đô thế kỷ XX của Quang Phòng, Cảm luận nghệ

thuật của Trần Duy, Nét đẹp đình làng miền Bắc của Lê Thanh Đức, Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật của Chu Quang Trứ, Điêu khắc cổ, đồ hoạ cổ Việt Nam, Chùa Dâu của Phan Cẩm Thượng, Lược sử mỹ thuật Việt Nam của Trịnh Quang Vũ, Hội hoạ trẻ Việt Nam của Bùi Như Hương, Tiếp xúc với nghệ thuật của Thái Bá Vân …và

khá nhiều luận văn tốt nghiệp cử nhân Mỹ thuật, cử nhân báo chí đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của nghệ thuật và báo chí Nhưng, phạm vi nghiên cứu của các luận văn trên thường bó hẹp trong một đơn vị báo chí địa phương, đoàn thể hoặc ngành; mục đích nghiên cứu thường tập trung vào những vấn đề như: mối quan hệ giữa báo chí và văn nghệ, xu hướng nghệ thuật trên báo chí, cụ thể hơn là : những nội dung và biểu hiện của các thể loại mỹ thuật, sân khấu trên báo chí, các thể loại âm nhạc, nhạc thiếu nhi trên báo chí… Chung quy lại, đó chỉ là những công trình mang tính chuyên ngành đi sâu vào từng lĩnh vực của nghệ thuật, mỹ thuật cổ hoặc hiện đại Cho đến nay, chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu việc chuyển tải của báo in trong quá trình phản ánh sự đa dạng của hoạt động mỹ thuật, nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên phương diện tổng thể

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu :

Vấn đề nghiên cứu, phê bình mỹ thuật được chuyển tải trên báo in Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI

Trang 8

Các tờ báo nằm trong diện nghiên cứu gồm các tờ chuyên ngành văn hoá nghệ thuật, các tờ có trang văn hoá, văn nghệ thường xuyên đăng tải những bài nghiên cứu, phê bình mỹ thuật gồm: báo Văn nghệ, Văn hoá, Nhân dân, Thể thao &Văn hoá, Quốc tế; về tạp chí gồm: Mỹ thuật, Văn hoá nghệ thuật, Tư tưởng Văn hoá, Quê hương, Báo chí và Tuyên truyền

+ Phạm vi nghiên cứu :

- Do điều kiện và mục tiêu nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung khảo sát các bài viết về nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in

- Về mặt thời gian là 5 năm, từ năm 2000 đến nay

- Thời gian chọn để khảo sát là những năm đầu của thế kỷ XXI, khi giai đoạn Đổi mới đã đi được hơn 15 năm Vì lẽ, đây là giai đoạn ghi nhận sự phát triển mạnh

mẽ nhất của sáng tạo nghệ thuật Việt Nam và công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo chí

- Về nội dung, tập trung khảo sát :

Về nghiên cứu: Việc tiếp nhận các xu thế sáng tác hiện đại trong phê bình;

đánh giá thành tựu của mỹ thuật cách mạng; các nhà phê bình nhìn nhận về mỹ thuật truyền thống; các nhà phê bình đánh giá về sự bùng nổ các xu hướng sáng tác

mỹ thuật đương đại; sự tác động của kinh tế thị trường tới xu hướng phát triển mỹ thuật

Về phê bình: Sự ngang tầm của phê bình và nghiên cứu trong hỗ trợ sáng tác,

định hướng cho công chúng; phê bình đối thoại với sáng tác theo xu hướng tích cực, tiêu cực; phê bình mỹ thuật góp phần nâng cao thẩm mỹ trong việc tiếp nhận của công chúng; phê bình mỹ thuật có giới thiệu và chú ý đến mỹ thuật kháng chiến; sự biểu hiện bản sắc văn hoá dân tộc trong mỹ thuật; thái độ của các nhà phê bình trước nhiều xu hướng khác nhau của mỹ thuật đương đại

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 9

+ Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu, khảo sát việc chuyển tải các vấn đề nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in

- Nhận xét, đánh giá, chỉ ra những mặt được, chưa được của việc chuyển tải các vấn đề mỹ thuật Việt Nam qua công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo

in

- Đề ra những giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng nội dung giới thiệu, nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in giúp công chúng tiếp cận hiệu quả hơn đối với các tác phẩm mỹ thuật

+ Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thông qua việc khảo sát nội dung của nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in để đánh giá những điểm mạnh, yếu của báo in trong việc chuyển tải các vấn

đề nghệ thuật nói chung và mỹ thuật nói riêng

- Làm rõ nhu cầu của công chúng trong việc tiếp nhận những thông tin mỹ thuật qua báo in

- Đề ra kiến nghị và giải pháp cụ thể trong việc chuyển tải những vấn đề thuộc

lĩnh vực nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in

5 Phương pháp nghiên cứu

- Về lý luận : Dựa trên các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về văn hoá nghệ thuật nói chung và nghiên cứu, phê bình mỹ thuật nói riêng

- Về thực tiễn: Khảo sát báo in trong vòng 5 năm từ 2000 đến nay Bằng

phương pháp tổng hợp, phân tích, khái quát, diễn giải có so sánh, đối chiếu, điều tra

xã hội học…nhằm chỉ ra tác động của việc nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo

in đối với nhận thức thẩm mỹ của công chúng

6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trang 10

+ ý nghĩa thực tiễn :

- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng

tuyên truyền mỹ thuật trên báo in

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên mỹ thuật và sinh viên báo chí quan tâm đến lĩnh vực mỹ thuật

Trang 11

Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về báo in

và việc nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in

1.1 Vai trò của báo in và việc nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in

1.1.1 Một số vấn đề lý luận về báo in

1.1.1.1 Khái niệm, các đặc trưng của báo in

+ Khái niệm báo in: Luật Báo chí sửa đổi bổ sung năm 1999 ghi: Báo in gồm báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn

Loại hình báo chí này có quy trình in để ra thành phẩm là những tờ báo, bản tin trên chất liệu giấy

Theo số liệu thăm dò ý kiến công chúng về các loại hình báo chí của 250 đối tượng có thẻ đọc tại Thư viện Quốc gia Việt Nam :

- Anh, chị quan tâm loại hình báo nào nhất trong các báo sau?-cho thấy,

hiện nay công chúng vẫn coi loại hình báo in là quan trọng nhất

Loại hình báo chí Người trả lời Tỷ lệ

Báo điện tử 42/250 16,8%

(nguồn: Phiếu thăm dò ý kiến cho đề tài)

Với con số 52,85% độc giả (chủ yếu là sinh viên), trình độ nhận thức khá đồng đều cho thấy, báo in chiếm vị trí khá cao, là mối quan tâm chung của toàn xã hội Mặc dù hiện nay đã có sự xuất hiện, phát triển nhanh chóng của các loại hình báo chí khác thì báo in vẫn không mất đi vị trí trong lòng độc giả Trong khi đó, báo nói (thể loại báo chí xuất hiện đầu tiên) chỉ được số rất ít độc giả quan tâm (4%) thì tỷ lệ độc giả quan tâm đến báo in như vậy chứng tỏ hiệu quả cũng như tính năng hữu dụng của thể loại báo chí này

Trang 12

Vì vậy, việc tác giả chọn lĩnh vực báo in để nghiên cứu cũng là nhu cầu mang tính cấp thiết, mang ý nghĩa khoa học và thực tế

Bên cạnh nhiều vấn đề đã được xem xét và khảo sát trên báo in, nghiên cứu, phê bình mỹ thuật là một lĩnh vực mới chưa có đề tài nào đề cập tới một cách hệ thống nhằm làm rõ việc chuyển tải của báo in với các vấn đề thuộc chuyên ngành này trong giai đoạn hiện nay

B: Các đặc trưng của báo in:

- Báo in là ấn phẩm được sản xuất bằng phương tiện kỹ thuật ra thành phẩm trên giấy Khác với các loại hình truyền thông báo chí khác, báo in buộc phải qua khâu in

ấn tại nhà in bằng các phương tiện kỹ thuật máy móc và ra thành phẩm cụ thể lưu hành ngay trong ngày (đối với báo ngày), trong tuần (đối với báo tuần) và trong tháng (đối với báo tháng)…

- Ngôn ngữ báo in là ngôn ngữ văn bản “text” Điều này cũng là đặc trưng riêng của báo in Đối với các loại hình báo chí khác như truyền hình, đài phát thanh dùng chủ yếu là phương tiện ngôn ngữ nói kèm âm thanh, hình ảnh động thì ngôn ngữ báo

in chủ yếu là ngôn ngữ viết, ngôn ngữ tĩnh

- Bỏo in chuyển tải nội dung thụng tin thụng qua văn bản in gồm chữ, hỡnh vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ tĩnh…Nội dung thụng tin của văn bản bỏo in xuất hiện đồng thời trước mắt người đọc Người đọc cú thể hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thụng tin, lựa chọn trỡnh tự, tốc độ đọc, cỏch thức đọc và cú thể đọc kỹ những nội dung quan trọng hoặc quan tõm, ưa thớch

- Người viết bỏo in cú thể trỡnh bày, lý giải những thụng tin cú nội dung, chi tiết,

sự kiện, vấn đề đan xen nhau với những mối quan hệ phức tạp, chồng chéo…mà người đọc vẫn cú thể tiếp nhận và hiểu được Bỏo in cú ưu thế chuyển tải được những nội dung sõu sắc, phức tạp…

- Nguồn thụng tin trờn bỏo in thường đảm bảo tớnh chớnh xỏc cao Cỏc thụng tin trờn bỏo in cú thể lưu giữ lại dựng để xỏc minh, so sỏnh, đối chiếu…Việc lưu giữ báo

Trang 13

in rất đơn giản, thuận tiện, phù hợp với thói quen của người đọc, là nguồn tài liệu quý đối với người đọc vỡ cú thể lưu giữ lõu dài, nguyờn bản những tin tức, bài vở quan trọng, trở thành dẫn liệu, minh chứng cho những cụng trỡnh nghiờn cứu khoa học

- Sự tiếp nhận thụng tin từ bỏo in đũi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, tăng khả năng ghi nhớ, giỳp độc giả hiểu sõu sắc vấn đề được phản ỏnh Người đọc cú thể sỏng tạo, vận dụng và phỏt triển tư duy

Bỏo in cũng cú một số hạn chế như: tốc độ cập nhật chậm so với cỏc loại hỡnh bỏo chớ khỏc, khõu in và phỏt hành tốn kộm phức tạp hơn, dung lượng phỏt hành cú hạn, người đọc phải biết chữ và cú trỡnh độ nhất định, tớnh mở và tớnh liờn kết của bỏo in kộm, sự phản hồi khụng nhanh nhậy như cỏc phương tiện bỏo chớ khỏc

1.1.1.2 Báo in và việc giới thiệu nghiên cứu, phê bình mỹ thuật

A Một số khái niệm mỹ thuật

+ Khái niệm mỹ thuật : Mỹ thuật là ngành nghệ thuật sáng tạo và thể hiện cái đẹp bằng đường nét, màu sắc, hình khối

Mỹ thuật bao gồm các loại hình tiêu biểu như: Nghệ thuật điêu khắc, hội hoạ, đồ hoạ và nghệ thuật trang trí

Nghiên cứu và phê bình mỹ thuật là một chuyên ngành nhằm phân tích, bình luận, đánh giá, định hướng hoạt động sáng tác mỹ thuật

- Nghệ thuật điêu khắc: Từ điển Tiếng Việt Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật năm

1988 viết “Điêu khắc là loại hình nghệ thuật thể hiện hoặc gợi tả sự vật trong không

gian bằng cách sử dụng những chất liệu như đất, gỗ, kim loại, đồng… tạo thành những hình nhất định” [44.342]

Điêu khắc là một loại hình của nghệ thuật tạo hình Ngôn ngữ của điêu khắc là

sự phối kết hợp các mảng khối trong không gian ba chiều nhằm biểu hiện giá trị tinh thần của đời sống thông qua các phương thức biểu hiện là tượng tròn và phù điêu Tượng tròn là một loại hình điêu khắc được thể hiện trong không gian ba chiều Chỉ có cách tiếp cận hoàn thiện mới cảm nhận hết được cái đẹp tự nó toát ra từ tác phẩm Phù

Trang 14

điêu không giống với tượng tròn, chỉ được phản ánh trên một bề mặt nổi và lệ thuộc vào không gian mà nó biểu hiện

Một số người còn phân chia điêu khắc theo chất liệu như tượng đá, tượng gỗ, tượng đồng, tượng xi măng, tượng đất nung…

Tuy nhiên, điêu khắc còn dùng màu sắc để tô điểm hoặc mầu tự nó khoe sắc như: tượng đá cẩm thạch, tượng đồng đen, tượng đá đen…riêng các tượng Phật hầu như đều dùng sơn ta phủ lên tác phẩm Loại hình này đã được nghệ thuật điêu khắc Việt Nam sử dụng từ hàng trăm năm nay

Với đặc thù điêu khắc mang tính đối thoại trực tiếp giữa người đối thoại với hình tượng nên những tác phẩm điêu khắc đại diện cho những nhân vật tiêu biểu, anh hùng trong dân gian thường được đặt ở những nơi công cộng, đông người qua lại để hàng ngày con người được tiếp xúc với cái đẹp, oai phong, vĩ đại, cái hùng của nhân vật Điều đó có ý nghĩa giáo dục rất cao đối với sự cảm nhận cái đẹp mà mỹ thuật đem lại

đường nét, màu sắc để phản ánh thế giới hình thể lên mặt phẳng”[44 483]

Hội hoạ có từ rất lâu đời, nhưng đến thế kỷ XVI, XVII, khi nghệ thuật tạo hình chia thành các loại hình, các loại thể có hệ thống rõ rệt, nhất là khi đã có kỹ thuật mầu dầu, khắc và in mới được phát triển toàn diện Hội hoạ được chia thành hai thể loại: Hội hoạ giá vẽ và hội hoạ hoành tráng

Hội hoạ giá vẽ là thể loại hội hoạ dùng giá vẽ để dựng tranh Giá vẽ có khi nhỏ, khi to, tùy thuộc vào kích thước của bức tranh định vẽ, nhưng thường dùng nhất vẫn là giá vẽ cỡ nhỏ, cao không quá đầu người Hội hoạ giá vẽ có đầy đủ khả năng phản ánh trung thực và trọn vẹn các mặt của hiện thực đời sống xã hội Hoạ sĩ thuộc lĩnh vực này không bị hạn chế về đề tài, cách vẽ và ý đồ tạo hình Họ có thể tự do sáng tác đề tài yêu thích về vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người (từ nội tâm đến ngoại hình), cuộc sống đời thường cũng như ước mơ về tương lai

Trang 15

Hội hoạ hoành tráng là thể loại trong đó tranh tường và tranh ghép đá màu mang

tư tưởng và ý đồ nghệ thuật, phản ảnh những sự kiện quan trọng trong cuộc sống, xã hội, con người với ý nghĩa lớn Hội hoạ hoành tráng thường được thể hiện trong những kích thước lớn, thường ăn nhập với điêu khắc và kiến trúc, với những công trình xây dựng nhà cửa, lâu đài, cung điện, đền chùa, nhà hát, nhà ga, sân bay Trong nhiều trường hợp, hội hoạ hoành tráng được coi là một bộ phận của kiến trúc

Với Việt Nam, nghệ thuật hội hoạ hiện đại được tính từ khi Trường Cao đẳng

Mỹ thuật Đông Dương (1925) ra đời Lớp nghệ sĩ đi theo cách mạng đã tập hợp lại thành đội ngũ nghệ sĩ đầu đàn trong những năm chống Pháp, những tác phẩm đầu tiên của nghệ thuật hội hoạ cách mạng đặt nền móng cho phong trào nghệ thuật hội hoạ sau này của cả nước Nếu như vào những năm 50, 60 hội hoạ bước một bước dài với những thành tựu to lớn, đặc biệt là những tác phẩm sơn mài và lụa, thì những năm 70, 80 điêu khắc lại chuyển biến rất nhanh Hội hoạ được chia theo chất liệu như : Tranh sơn dầu, sơn mài, tranh lụa…hoặc được chia theo chủ đề, đối tượng thể hiện như: Tranh phong cảnh, tĩnh vật, chân dung, lịch sử, tranh cổ động, tranh minh hoạ, sách báo…

- Nghệ thuật đồ hoạ: Từ điển đã dẫn viết : “Đồ hoạ: Tranh đồ hoạ - Thể loại tranh được thể hiện chủ yếu bằng đường nét và mảng màu như ký hoạ, tranh tường, tranh khắc gỗ, tranh cổ động” [44.1057]

Đồ hoạ là một trong những loại hình nghệ thuật phổ biến nhất, xuất hiện khá lâu đời, ngay từ khi con người biết làm đẹp cuộc sống trong các hang động Nhờ ngôn ngữ giản dị, tinh tế, thiết thực và nhờ khả năng tiện dụng trong việc nhân bản,

đồ hoạ thường được áp dụng nhiều trong ngành thông tin, tuyên truyền cổ động; vẽ quảng cáo, áp phích, truyền đơn, minh hoạ sách báo, vẽ tranh đả kích, tranh châm biếm thậm chí trong cả việc tái tạo các tác phẩm hội hoạ và điêu khắc Bằng các phương tiện biểu đạt cốt yếu như đường, nét, chấm, vạch, mảng kết hợp với các

Trang 16

mầu sắc xanh, đỏ, tím, nâu đồ hoạ biểu hiện những đặc thù riêng khác với các thể loại nghệ thuật tạo hình khác

Đồ hoạ được chia thành : Đồ hoạ giá vẽ và Đồ hoạ ấn loát Đây là hai loại hình đều cho phép người hoạ sĩ được tự do sáng tác, trực tiếp và độc lập lựa chọn, thể hiện đề tài của tranh, không lệ thuộc vào bài văn, bài báo của người khác, cả kích thước, khuôn khổ của tranh, giấy vẽ Đồ hoạ ngoài sự sáng tạo của con người còn thêm yếu tố của kỹ thuật

Đồ hoạ ở Việt Nam ra đời đã lâu với khá nhiều thành tựu được lịch sử mỹ thuật ghi nhận Đến những thập niên gần đây, đồ hoạ ngày một phát triển với nhiều phong cách mới mẻ, hiện đại trên sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hình thức đồ họa truyền thống và đồ họa đương đại

- Nghệ thuật trang trí: Từ điển đã dẫn viết “Trang trí - bố trí các vật thể có hình khối, đường nét, màu sắc khác nhau sao cho tạo ra một sự hài hoà, làm đẹp một khoảng không gian nào đó” [44.1056]

Nghệ thuật trang trí là phạm trù rất rộng nhưng đối với lịch sử mỹ thuật Việt Nam, nổi lên mỹ thuật trang trí chiến thuyền và mỹ thuật trang trí đồ sơn mài Ngành trang trí nói chung và nghệ thuật trang trí ứng dụng nói riêng gắn bó hết sức mật thiết với đời sống con người

Tuy nhiên, trang trí mỹ thuật mới phần nào đáp ứng được các công trình lớn và công cộng Còn các công trình nhỏ lẻ vẫn còn là khu vực bỏ ngỏ Hiện nay, cộng đồng đang rất cần trang trí mỹ thuật phát huy, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, nhằm xây dựng nếp sống mới văn minh, hiện đại hoà quyện với truyền thống, tạo ra không gian mới, tiện nghi, hoàn thiện

- Nghiên cứu mỹ thuật: Từ điển đã dẫn viết : “Nghiên cứu là dùng tri thức để xem xét, tìm hiểu, giải quyết các vấn đề đặt ra trong khoa học, trong cuộc sống”

Vì vậy, “Nghiên cứu mỹ thuật là dùng tri thức mỹ thuật để xem xét, tìm hiểu, giải

quyết các vấn đề đặt ra trong mỹ thuật và trong đời sống”

Trang 17

Hoạt động nghiên cứu mỹ thuật lớn mạnh cùng sự hình thành và phát triển của Viện Mỹ thuật Việt Nam (Bộ VHTT) Với sự phân bổ trách nhiệm của các Ban chuyên môn như: Ban Mỹ thuật cổ, Ban Mỹ thuật hiện đại, Ban Mỹ thuật ứng dụng…công tác nghiên cứu mỹ thuật đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong hàng chục năm vừa qua Các cuộc Hội thảo định kỳ do Viện tổ chức đã được đánh giá cao về mặt chuyên môn Viện đã đi vào những vấn đề tồn tại hiện đang đặt ra với mỹ thuật Việt Nam như: Hội thảo về tính tiếp cận đời sống của mỹ thuật ứng dụng, Hội thảo về chất liệu và ngôn ngữ của mỹ thuật đương đại, Hội thảo về nghệ thuật sơn mài Việt Nam- truyền thống và hiện đại…Hàng trăm đầu sách của Viện

ra đời thuộc các lĩnh vực mỹ thuật truyền thống và hiện đại đã chứng tỏ sự dày công nghiên cứu của các cán bộ Viện trong từng chuyên ngành Tuy nhiên, để có được một nền nghiên cứu mỹ thuật hoàn chỉnh, Viện Mỹ thuật cần phải có được sự đầu tư một cách nghiêm túc về con người và tư duy nghiên cứu Bởi, cho đến nay, trong một số lĩnh vực chuyên ngành của Viện vẫn còn thể hiện sự chậm chạp và bảo thủ trong nghiên cứu khiến kết quả nghiên cứu không được ứng dụng trong thực tiễn hoặc không đạt được kết quả cao

- Phê bình mỹ thuật: Từ điển đã dẫn viết : “Phê bình là góp ý kiến, chê trách

về khuyết điểm của đối tượng nào, nhận xét, đánh giá cái hay, cái đẹp cũng như cái chưa đạt của tác phẩm nghệ thuật” Chính vì vậy, “Phê bình mỹ thuật là góp ý, phân tích, nhận xét, đánh giá cái hay, cái đẹp cũng như cái chưa đạt của tác phẩm nghệ thuật” Quan niệm về phê bình mỹ thuật được hiểu rộng hơn là một chuyên

ngành có khả năng tổ chức, tập hợp dư luận và định hướng giá trị nghệ thuật

Phê bình mỹ thuật của nước ta tuy ra đời muộn, song đã có nhiều công trình thiết thực đóng góp vào sự phát triển mỹ thuật Nhiều bài viết, phân tích về tác giả, tác phẩm góp phần tích cực hướng dẫn dư luận hiểu đúng cái đẹp trong thời kỳ đổi mới Cái đẹp của thời kỳ văn minh đến với mọi nhà, mọi gia đình và ở bất cứ chỗ nào trong cộng đồng

Trang 18

Tuy nhiên, hiện nay phê bình mỹ thuật Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm Cấp thiết phải phát triển số lượng và chất lượng của các nhà phê bình chuyên nghiệp Phải có được nhiều bài viết mang tầm định hướng, có tác động đến sự phát triển tất yếu của mỹ thuật Nhiều bài phê bình công tâm mang tính chuyên môn về cái được và chưa được của mỹ thuật Tiếp thu phản hồi từ công chúng về những vấn đề mỹ thuật hiện đang được đặt ra như hướng đi của mỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, xu hướng, phong cách sáng tác cũng như đội ngũ sáng tác mỹ thuật đương đại

Tại phiếu thăm dò của tác giả đối với 250 bạn đọc trả lời câu hỏi: Anh, chị hiểu

biết ở mức nào về nghiên cứu, phê bình mỹ thuật ? hầu hết đều rất chú trọng đến câu

hỏi, đem lại câu trả lời khách quan :

Mức hiểu biết Số người trả lời Tỷ lệ

(nguồn: Phiếu thăm dò ý kiến cho đề tài)

Vậy là, mức độ hiểu biết của số đối tượng điều tra chọn mẫu cho thấy, phần đông công chúng hiểu biết về nghiên cứu, phê bình mỹ thuật ở mức độ trung bình (43,2%), còn đối tượng biết khá nhiều về nghiên cứu, phê bình mỹ thuật lại không nhiều chỉ chiếm (6,4%)

Điều đó nói lên sự chuyển tải các vấn đề về mỹ thuật trên báo chí chưa thực sự hiệu quả Mức độ và chất lượng đăng tải những thông tin mỹ thuật trên mặt báo cũng chưa đúng mức, chưa tạo được ấn tượng đối với sự quan tâm của công chúng

B Các đặc trưng của nghiên cứu, phê bình mỹ thuật

+ Đặc trưng của nghiên cứu mỹ thuật

Trang 19

- Miêu tả tác phẩm, tác giả, xác định niên đại, suy nghĩ về thẩm mỹ…chỉ ra những xu hướng, khuynh hướng, phong trào mỹ thuật…Đặc trưng này giúp khu biệt lĩnh vực mỹ thuật trong một phạm vi hẹp với nội hàm hẹp

- Lấy tác phẩm làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu, có nhiệm vụ dựng lại kết cấu văn hoá nhân loại thông qua hình tượng tạo hình, thông qua suy nghĩ và thể hiện của nghệ sĩ, từ đó nêu bật giá trị và tinh thần của tác phẩm

- Làm rõ trong mỗi tác phẩm những sự kiện văn hoá-xã hội (tư tưởng chính trị, luận điểm mỹ học, năng lực sáng tạo, nhân cách văn hoá tác giả…) để từ đó hình thành quan niệm về một thời điểm, một giai đoạn phát triển của mỹ thuật

- Làm sáng tỏ chức năng thẩm mỹ bên cạnh chức năng ứng dụng của tác phẩm

mỹ thuật Đưa mỹ thuật đến gần hơn với đời sống

- Biên dịch và biên soạn những tài liệu về lịch sử mỹ thuật Tiến hành phổ biến và xuất bản rộng rãi những công trình nghiên cứu nhằm quảng bá sâu rộng hơn về mỹ thuật

Công tác nghiên cứu mỹ thuật trên thế giới đã hình thành từ rất lâu đời, cùng với

sự ra đời của mỹ thuật ở Việt Nam, công tác nghiên cứu mỹ thuật hình thành cùng với

sự ra đời của Viện Nghiên cứu mỹ thuật Trong suốt quá trình phát triển của mình, Viện Mỹ thuật đã cho ra đời hàng trăm công trình nghiên cứu mỹ thuật mang tầm

quốc gia như Mỹ thuật cổ Việt Nam, Chùa Dâu, Đình làng Việt Nam, Văn hoá Việt

Nam nhìn từ mỹ thuật…Từ những công trình nghiên cứu mang tính quy mô đó, các

nhà nghiên cứu đã chỉ ra xu hướng và sự hình thành các trào lưu mỹ thuật Việt Nam trong suốt gần 80 năm qua

+ Đặc trưng của phê bình mỹ thuật :

- Tổ chức dư luận Phê bình mỹ thuật có tác dụng tổ chức dư luận khá mạnh mẽ

Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, tiếng nói của phê bình có tác dụng giúp người đọc, người xem, người nghe, hiểu và cảm được bản chất của nghệ thuật

Trang 20

- Tập hợp dư luận Phê bình giúp công chúng hiểu bản chất của nghệ thuật, bản

chất của những phong cách, xu hướng, khuynh hướng mỹ thuật…từ đó hình thành dư luận ủng hộ hoặc không ủng hộ

- Xác định giá trị nghệ thuật Công tác phê bình chuyên nghiệp chính là sự xác

định và thẩm định một cách chính xác nhất giá trị nghệ thuật của tác phẩm để đưa ra được những nhận xét và đánh giá xác đáng

- Định hướng giá trị nghệ thuật Đây là đặc trưng rất đáng lưu ý của công tác phê

bình mỹ thuật Thông qua những bài phê bình tác giả, tác phẩm, công việc định hướng giá trị nghệ thuật được đẩy mạnh Việc định hướng luôn hướng tới công chúng, những người góp phần thẩm định và đánh giá tác phẩm nghệ thuật Từ đó, có xu hướng nâng cao vai trò và phương thức hoạt động đưa phê bình mỹ thuật nhập cuộc trong nền kinh

tế thị trường

Bên cạnh công tác nghiên cứu, công tác phê bình mỹ thuật cũng rất được chú trọng Nếu như nghiên cứu đi vào chiều sâu đời sống thầm lặng của mỹ thuật thì phê bình lại đi vào bề nổi của đời sống mỹ thuật Việt Nam Nhiều nhà phê bình chuyên nghiệp bằng ngòi bút của mình lên tiếng về những ảnh hưởng của các xu hướng, trào lưu cũng như phong cách nghệ sĩ, trong đó đặc biệt chú ý tới ảnh hưởng của thế hệ hoạ

sĩ cách mạng tới các thế hệ hoạ sĩ trẻ sau này

1.1.2 Vai trò của báo in trong đời sống xã hội

Trả lời câu hỏi trong cùng phiếu thăm dò công chúng về vai trò của báo in trong đời sống xã hội, kết quả cho thấy :

Câu hỏi Số người đánh giá Tỷ lệ

Trang 21

Mức độ quan trọng của báo in trong đời sống xã hội được công chúng quan tâm nhất (78,4%) Điều đó khẳng định, trong môi trường báo chí phong phú hiện nay với sự đa dạng của các loại hình báo chí, báo in vẫn không mất đi hoặc sút giảm vai trò của mình Tuy có những ưu thế riêng so với các loại hình báo chí khác (báo hình, báo nói, báo điện tử) không thể khiến báo in mất đi vị trí trong lòng công chúng Chính tính lưu trữ thông tin dễ dàng, tính giản tiện, chấp nhận đến với mọi loại công chúng đã khiến báo in ngày càng nâng cao vai trò của mình trong thời đại công nghệ thông tin phát triển hiện nay

Sở dĩ có kết quả trên vì hiện nay báo in vẫn là kênh thông tin quan trọng, nằm trong vai trò của báo chí nói chung được công chúng quan tâm đón nhận hàng ngày Vai trò đó được thể hiện:

1.1.2.1 Báo chí là kênh thông tin quan trọng chuyển tải các văn bản của Đảng và Nhà nước

Ngày nay, báo chí đã và đang trở thành kênh thông tin quan trọng, hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế và mọi mặt của đời sống xã hội

Thông tin báo chí trở thành yếu tố thúc đẩy tiến trình đổi mới đất nước, về một mặt nào đó, có thể được xem như là thước đo đối với sự phát triển của một xã hội tiến bộ Báo chí góp phần quan trọng tham mưu cho việc lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, nhất là đối với nhiệm vụ quản lý và hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Đặc biệt, trong lĩnh vực thông tin đối ngoại, báo chí là kênh mở rộng tầm hiểu biết của người Việt Nam và người nước ngoài muốn tìm hiểu về đất nước, con người Việt Nam

Các văn bản của Đảng và Nhà nước thông qua cơ quan báo chí trở nên gần gũi

dễ hiểu hơn, đi vào đi sống thực tiễn dễ dàng hơn Báo chí là tiếng nói tin cậy của Đảng và Nhà nước, vì thế, báo chí ngoài trách nhiệm chuyển tải các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước tới công chúng, còn là cầu nối thông tin hai chiều giữa sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước với toàn thể quần chúng nhân dân

Trang 22

1.1.2.2 Báo chí là tiếng nói phản hồi, phản ánh việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và cuộc sống của nhân dân

Báo chí phản ánh nhân tố mới, con người mới và những điển hình tiên tiến giúp Đảng, Nhà nước, Chính phủ có thêm thông tin làm cơ sở ban hành chính sách, quyết định, nhân rộng ra toàn xã hội

Tiếng nói phản hồi của báo chí thể hiện ở việc phản ánh kịp thời những biến động xã hội hoặc qua việc chấp hành các văn bản chỉ thị, hoặc phản ánh nhân tố mới, con người mới, điển hình tiên tiến Báo chí nắm bắt những nhân tố mới, phân tích, đánh giá, nêu ra những bài học kinh nghiệm bổ ích, khái quát thành những vấn đề mới

có tính phổ biến nhằm cổ vũ, tuyên truyền và nhân rộng toàn xã hội Phản ánh con người mới, điển hình tiên tiến là việc làm thường xuyên, liên tục của báo chí, không bó hẹp trong giới hạn của một lĩnh vực cụ thể mà mở rộng trên các mặt hoạt động của đời sống xã hội

Những thông tin phát hiện, dự báo trên báo chí đã giúp cho các nhà quản lý và lãnh đạo biết trước tình hình có thể hoặc sẽ diễn ra trong thời gian tới để có những phương án ứng phó, xử lý kịp thời

1.1.2.3 Báo chí đấu tranh với những biểu hiện vi phạm pháp luật, chống tham nhũng, tiêu cực, tệ nạn xã hội

Đấu tranh với những biểu hiện trái pháp luật đòi hỏi người cầm bút phải có bản lĩnh vững vàng, phải liên tục học hỏi, nâng cao kiến thức pháp luật Đảng và Nhà nước có rất nhiều văn bản quy định, hướng dẫn các tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể và tổ chức chính trị-xã hội tiến hành cuộc vận động làm trong sạch nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội Báo chí nước ta thời gian qua đã đấu tranh không khoan nhượng với các hiện tượng trái pháp luật nhằm thông tin, cổ vũ quần chúng chống lại cái xấu, cái ác trong xã hội, đồng thời cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng về những vấn

đề nổi cộm hoặc còn “âm ỉ” để ngăn chặn, xoá bỏ Đấu tranh công khai, triệt để

Trang 23

trên báo chí và công luận góp phần thúc đẩy quần chúng tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật hiện nay

Đã có không ít tờ báo và nhà báo không ngại hiểm nguy, dám đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, dũng cảm đấu tranh vì công lý, lẽ phải, bảo vệ pháp luật, trật tự kỷ cương xã hội và sự yên bình của người dân Ví dụ, loạt bài trên báo Thanh niên đấu tranh chống lại băng đảng xã hội đen Năm Cam năm 1995, loạt bài lên án nạn cơm tù của báo Tuổi trẻ TPHCM (đoạt giải thưởng báo chí toàn quốc năm 2004), loạt bài đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực qua Vụ án chạy hạn ngạch dệt may tại Bộ Thương Mại trên các báo Thanh Niên, Tuổi trẻ TPHCM, An ninh Thủ đô, VnExpress, VietnamNet…Báo chí lên tiếng khá nhiều, đóng vai trò không nhỏ trong việc phản ánh thực trạng và đấu tranh với thực trạng tiêu cực trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống

1.1.2.4 Báo chí định hướng thông tin

Định hướng thông tin cũng như tổ chức dư luận là vai trò không thể thiếu của báo chí trong bất kỳ thời đại nào Lê nin nói “Báo chí là người tuyên truyền tập thể

cổ động tập thể và tổ chức tập thể” Với vai trò định hướng thông tin, báo chí có chức năng phải thông tin cho công chúng biết và hiểu sự thật cũng như các vấn đề nổi cộm trong đời sống xã hội để hướng dư luận vào việc có thể hoặc không ủng hộ một hành động nào đó tốt hoặc xấu trong xã hội Nếu làm tốt công tác định hướng thông tin báo chí sẽ càng nâng cao vị thế là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, Chính phủ trong việc xây dựng đất nước cũng như bảo vệ những hành động xâm hại đất nước của các thế lực thù địch

Nói đến vai trò định hướng thông tin của báo chí không thể không nhắc đến vai trò của Ban Tư tưởng Văn hoá TW Vụ Báo chí-Ban TTVHTW chính là cơ quan định hướng thông tin báo chí (kết hợp với việc quản lý Nhà nước về mặt báo chí của Cục Báo chí-Bộ Văn hoá Thông tin), giúp báo chí đi đúng đường lối, đúng

sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, hạn chế những sai phạm về chính trị, hạn chế

Trang 24

những sai lầm báo chí có thể mắc phải trong quá trình tuyên truyền mọi mặt của đời sống

Nói đến vai trò định hướng thông tin của báo chí là nói đến ưu thế của báo chí trong thời đại hiện nay Có những thời gian (trong lịch sử phát triển báo chí), báo chí được quan niệm như cơ quan quyền lực thứ tư, có tiếng nói mạnh mẽ và quyết liệt trong nhiều vấn đề Tuy không quan niệm như vậy, nhưng hiện nay, tác động của báo chí đối với xã hội và đời sống xã hội là vô cùng quan trọng Khá nhiều vụ án mờ ám được phanh phui nhờ báo chí, khá nhiều cá nhân bị mất chức, mất quyền, thậm chí vào tù cũng vì báo chí Mặt khác, nhiều tấm gương tốt, điển hình tiên tiến được vinh danh, được xã hội biết đến cũng nhờ báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng

1.1.2.5 Báo chí hướng dẫn dư luận

Hướng dẫn dư luận là một trong những vai trò được báo chí phát huy mạnh

mẽ Bên cạnh việc định hướng thông tin cho đông đảo dư luận, báo chí còn góp phần hướng dẫn dư luận tạo thành niềm tin (về vấn đề xấu hoặc tốt) nơi công chúng Có thể là vấn đề hiện được xã hội quan tâm như tình trạng tham nhũng tại một số Tổng Công ty lớn như Vietsovpetro, Tổng Công ty Thép Việt Nam, Tổng Công ty đầu tư và phát triển đô thị, Tổng Công ty Hàng hải VN…Hoặc những vấn

đề thuộc các lĩnh vực chuyên ngành khác nhau như văn học, nghệ thuật, kiến trúc…Ví như, thời gian qua, báo chí đã tạo dư luận phản đối việc xây dựng khu du lịch trên đồi Vọng Cảnh-Life Resorts tại tỉnh Thừa Thiên-Huế với hàng trăm ý kiến đóng góp của GS, các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành, công chúng Cuối cùng, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo UBND tỉnh Thừa Thiên–Huế phải bàn bạc với nhà đầu tư dịch chuyển vị trí xây dựng tránh làm mất cảnh quan của di sản thiên nhiên thế giới

Vai trò hướng dẫn dư luận của báo chí còn được thể hiện trong việc tổ chức một đội ngũ đông đảo các tờ báo và nhà báo cùng hướng đến việc phản ánh một số

Trang 25

vấn đề đang nổi cộm trong xã hội, có thể là lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội…hiện dư luận đang quan tâm Từ việc phản ánh đó, báo chí hướng dư luận đi theo chiều thuận hoặc không thuận với vấn đề đặt ra Đây là một trong các phương cách hướng dẫn dư luận hiện nay được báo chí áp dụng nhiều nhất và đạt hiệu quả khá cao Ví dụ, vụ tham nhũng tại Tổng Công ty dầu khí Vietsovpetro lên đến hàng chục triệu USD Báo chí có hàng trăm bài phản ánh sự việc này gây chấn động dư luận và công luận đã lên tiếng theo hướng ủng hộ báo chí và lên án những kẻ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu lợi cá nhân

Vai trò hướng dẫn dư luận của báo chí luôn nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân

1.1.3 Vai trò của nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trong đời sống mỹ thuật

Đời sống mỹ thuật đa dạng, phong phú và luôn có những bước đột phá mang tính quyết định trong từng giai đoạn Vì vậy, với tư cách là một bộ môn chuyên ngành mang tính định hướng- nghiên cứu, phê bình mỹ thuật có vai trò rất quan trọng

Đánh giá của công chúng Số người trả lời câu hỏi Tỷ lệ

(nguồn: Phiếu thăm dò ý kiến cho đề tài)

Đa phần những người được hỏi đều trả lời rằng, họ coi vai trò của nghiên cứu, phê bình mỹ thuật là quan trọng (52,8%) Tuy mức độ hiểu biết của công chúng về nghiên cứu, phê bình mỹ thuật không đồng đều, nhưng sự đánh giá trên, một lần nữa khẳng định, công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật đối với mỹ thuật là rất quan trọng, cần phát triển cũng như có hướng đi đúng đắn cho lĩnh vực này

1.1.3.1 Định hướng thẩm mỹ

Trang 26

Đây là vai trò đầu tiên của công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trong mọi thời đại Việc định hướng thẩm mỹ cho công chúng, cho tác giả, cho chính các nhà phê bình và những người làm công tác nghiên cứu, phê bình là việc làm thường xuyên, lâu dài và khu biệt của riêng ngành mỹ thuật Kỳ vọng vào điều này nên công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật thế giới đã có những bước tiến đáng kể trong việc nghiên cứu, nhận xét, đánh giá về tác giả, tác phẩm Các nhà phê bình mỹ thuật chuyên nghiệp ở một vài nước như Mỹ, Anh, Pháp, Hồng Kông, Singapore…đều được coi trọng bởi chính vai trò của họ trong việc định hướng thẩm mỹ cho người sáng tác và đối tượng thưởng thức Còn ở Việt Nam, công tác nghiên cứu và phê bình mỹ thuật chưa thực sự được chú trọng và đánh giá cao Vì vậy, việc định hướng thẩm mỹ cho công chúng cũng như cho người sáng tác còn ở mức trung bình Các công trình nghiên cứu mỹ thuật khi được công bố đều chưa thực sự rộng rãi mà mới chỉ bó hẹp trong phạm vi giới mỹ thuật Về phê bình cũng vậy, trên các phương tiện thông tin đại chúng còn rất hiếm những bài phê bình có trình độ chuyên sâu, những bài phê bình mang tính định hướng thẩm mỹ giúp cho người sáng tác tự nhìn lại mình và người thưởng thức được thưởng thức một cách chính xác ý nghĩa cũng như tính nghệ thuật của tác phẩm

1.1.3.2 Phát hiện, giới thiệu, truyền bá tác giả, tác phẩm

Nghiên cứu mỹ thuật đi sâu vào tầng lớp, ngữ nghĩa của những giai đoạn, thời kỳ

và sự phân tầng mỹ thuật trong lịch sử mỹ thuật Từ đó, phát hiện những vấn đề mỹ thuật để giới thiệu và truyền bá tạo sự hiểu biết, đồng cảm với những vấn đề mỹ thuật nơi công chúng Đây không thể là một việc làm đơn thuần mà đòi hỏi cả một quá trình dài và công phu của rất nhiều người làm công tác nghiên cứu, phê bình Tại một số nước, hệ thống phương tiện truyền thông đại chúng góp phần khá lớn vào việc giới thiệu và truyền bá này Bên cạnh đó, hệ thống gallery chuyên nghiệp cũng là những địa chỉ tin cậy trong công việc giới thiệu và truyền bá các tác phẩm mỹ thuật Tuy nhiên, ở Việt Nam, công tác giới thiệu và truyền bá tác phẩm mỹ thuật cho đến thời điểm này vẫn mang tính tự phát Mặc dù đã có Quy chế quy định hoạt động của

Trang 27

gallery nhưng việc quản lý công tác giới thiệu và bán buôn tác phẩm mỹ thuật hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa mang tính chuyên nghiệp Mang nặng tính nhỏ, lẻ, cá nhân, mạnh ai nấy làm Chính vì thế, vai trò phát hiện, giới thiệu và truyền bá tác phẩm mỹ thuật ở Việt Nam chưa phát triển một cách đồng bộ, chuyên nghiệp và có hệ thống

Thông qua việc tổng kết, đánh giá những xu hướng, khuynh hướng của mỹ thuật, nghiên cứu, phê bình mỹ thuật đúc rút những điểm mạnh, yếu trong sáng tác, từ đó đề

ra hướng phát triển đúng định hướng cho từng giai đoạn mỹ thuật Đây là vai trò rất quan trọng của công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật Nếu việc tổng kết, đánh giá thành tựu được làm tốt và có hệ thống thì sẽ xây dựng một đường hướng đúng đắn cho

sự phát triển của mỹ thuật trong tương lai

Những năm gần đây, công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật Việt Nam đã đạt một số kết quả trong việc tổng kết, đánh giá thành tựu mỹ thuật cách mạng Việt Nam trong suốt 80 năm qua, định ra hướng phát triển lâu dài, chiến lược đúng đắn cho toàn ngành trong những năm tới Công việc này được chứng minh bằng các công trình nghiên cứu, phê bình mỹ thuật liên tiếp ra đời của Viện Mỹ thuật Việt Nam, Nhà xuất bản Mỹ thuật, Trường Đại học Mỹ thuật HN, TPHCM…Tuy là những công trình mang tính chất chuyên ngành nhưng chính việc ra đời của các công trình này trong một khía cạnh nào đó đã khẳng định vai trò tổng kết, đánh giá thành tựu và định hướng phát triển của công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật

1.2 Quan điểm của Đảng về báo chí và công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật

1.2.1 Quan điểm của Đảng về báo chí

Nằm trong hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam nói chung, báo in Việt Nam luôn nhận được sự chỉ đạo, lãnh đạo, định hướng của Đảng, Nhà nước gần 80 năm qua

Trang 28

Trong suốt quá trình dài đó, báo chí luôn được coi là cơ quan ngôn luận, vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng - văn hoá, là phương tiện để Đảng và Nhà nước tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tổ chức, hướng dẫn quần chúng làm cách mạng Báo chí Việt Nam là một tổ chức chính trị xã hội (Hội Nhà báo Việt Nam), hoạt động của báo chí là hoạt động chính trị xã hội có hệ thống

Báo chí có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, phân tích, lý giải mọi vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày diễn ra trong xã hội Thông tin là công cụ chủ yếu để báo chí thực hiện mục đích, khẳng định vị trí và thể hiện rõ quan điểm của Đảng về báo chí hiện nay

1.2.1.1 Báo chí là tiếng nói của Đảng:

Báo chí cách mạng là báo chí của giai cấp vô sản, với Bộ tham mưu là Đảng

Cộng sản Việt Nam Trong bài báo nổi tiếng Tổ chức đảng và văn học Đảng, chủ tịch

Hồ Chí Minh nhấn mạnh : “Báo chí phải trở thành những cơ quan của các tổ chức của đảng Các nhà văn nhất thiết phải tham gia các tổ chức của đảng” [ tr 124]

Nhiệm vụ của báo chí cách mạng là tuyên truyền, giải thích chủ trương, đường lối, chính sách; góp phần đưa các chủ trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống, phản ánh những vấn đề thực tiễn từ cuộc sống của nhân dân Báo chí bám sát các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn nhân dân thực hiện Nghị quyết, đồng thời kiến nghị với Đảng những vấn đề nổi cộm, cần sửa đổi, bổ sung

Báo chí là tiếng nói của Đảng thể hiện không chỉ ở chỗ đứng trên lập trường, quan điểm của Đảng để phản ánh đời sống chính trị mà còn từ quan điểm đó phân tích, lý giải mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Báo chí khẳng định rõ vị trí và tiếng nói của Đảng Cộng sản Việt Nam cho công chúng trong nước và nhân dân toàn thế giới biết con đường Đảng, nhân dân

đã và đang tiến hành nhằm xây dựng và bảo vệ tổ quốc

1.2.1.2 Báo chí là tiếng nói của Nhà nước

Trang 29

Báo chí thể hiện rõ là kênh thông tin quan trọng trong việc chuyển tải những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các chủ trương, chính sách của Chính phủ, chương trình hành động của các cấp, các ngành tới công chúng, để công chúng biết và thực hiện

Báo chí tích cực tuyên truyền về chính sách kinh tế mở cửa của Nhà nước ta trên các phương tiện thông tin đối ngoại để thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Báo chí nói rõ quyết tâm của Chính phủ về tiến trình cải cách các thủ tục hành chính, giảm bớt phiền hà cho dân Báo chí thông tin kịp thời các Nghị quyết chỉ đạo, điều hành của Chính phủ tập trung vào những vấn đề cụ thể của từng giai đoạn cho công chúng biết để ủng hộ và tham gia

1.2.1.3 Báo chí là tiếng nói của các tổ chức chính trị xã hội

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mạng lưới các tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng Bằng uy tín và khả năng vận động quần chúng của mình, các tổ chức chính trị xã hội tích cực tuyên truyền các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, động viên các thành viên và nhân dân tích cực tham gia, thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và của tổ chức mình đề ra

Hiện nay, ở nước ta có rất nhiều tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, hầu hết các tổ chức này đều có tờ báo riêng : Hội Liên hiệp Phụ

nữ Việt Nam có báo Phụ nữ Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam có báo Nhà báo và Công luận, Hội Nhà văn Việt Nam có báo Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Hội Người cao tuổi có báo Người cao tuổi, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam có báo Thanh niên, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội có báo Người Hà Nội… các tổ chức trên trong nhiều năm qua, thông qua báo chí, đã nói lên tiếng nói của mình trong việc cổ vũ, lôi kéo quần chúng, hội viên tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước

1.1.1.4 Báo chí là diễn đàn của Nhân dân

Trang 30

Hiến pháp Việt Nam ghi rõ “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí;

có quyền được thông tin, có quyền hội họp ” Pháp luật xác lập cho báo chí và công dân có một diễn đàn, ở đó công dân có quyền trao đổi thông tin, trao đổi kiến thức về mọi mặt của đời sống xã hội, tham gia xây dựng và đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước, nhằm mục đích xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập dân chủ, công bằng

về các vấn đề bức xúc, nổi cộm của xã hội mà dư luận quan tâm

Thông qua những diễn đàn này, nhân dân tự phát hiện nhân tố mới nảy sinh từ cuộc sống Rất nhiều cái mới được phát hiện từ nhân dân lúc đầu còn mang tính chất đơn lẻ, như những cái riêng, nhưng được báo chí phân tích lý giải, nhiều vấn

đề đóng góp của nhân dân trên diễn đàn này đã tới Đảng, Nhà nước trở thành những thông tin có giá trị và trở thành điển hình tiên tiến, được nhân rộng

Hiện nay, tiếng nói của người dân trên báo chí đã cởi mở, thẳng thắn và kịp thời hơn Hơn nữa, dân trí của nhân dân đã từng bước được nâng lên và càng thấy

rõ trách nhiệm công dân đối với Đảng, Nhà nước và Chính phủ Vì vậy, ngày càng

có nhiều người tham gia viết báo để nói lên ý chí, nguyện vọng và những đóng góp xây dựng cho Đảng, Nhà nước trên mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội

1.2.2 Quan điểm của Đảng về công tác nghiên cứu phê bình mỹ thuật

1.2.2.1.Nghiên cứu, phê bình mỹ thuật là một bộ phận của hoạt động sáng tạo nghệ thuật

Vận dụng và tiếp thu những quan điểm về lý luận văn nghệ Mác-xít, Đảng ta luôn khẳng định văn nghệ là vũ khí đấu tranh cách mạng Sự nghiệp văn nghệ là một

Trang 31

bộ phận trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, tiền đồ của văn nghệ nằm trong tiền

đồ vẻ vang của dân tộc Ngay từ Đề cương Văn hoá Việt Nam năm 1943, Đảng nêu rõ quan điểm “Phải hoàn thành cách mạng văn hoá mới hoàn thành được công cuộc cải tạo xã hội”

Văn hoá, văn học nghệ thuật, trong đó Mỹ thuật, nghiên cứu, phê bình mỹ thuật là một bộ phận của hoạt động sáng tạo nghệ thuật được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thường xuyên quan tâm, định hướng, tạo điều kiện để xây dựng, đổi mới, phát triển cùng với từng thời kỳ phát triển của đất nước

Đảng ta luôn ý thức sâu sắc rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nền văn hoá, văn học nghệ thuật nước nhà có đổi mới, phát triển tích cực, lành mạnh, đúng hướng phục vụ tốt cho công cuộc đổi mới và xây dựng đời sống tinh thần xã hội hay không, trách nhiệm ấy trước hết thuộc về Đảng và Nhà nước Vì vậy, trong thư gửi anh em văn hoá và trí thức Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà” [31.11] Trong suốt cả đời mình, Người đã chứng minh bằng những tác phẩm đanh thép và hùng hồn mục đích phục vụ cách mạng của văn hoá, văn nghệ Người giải thích: “Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy Văn nghệ của dân tộc

ta vốn rất phong phú nhưng dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị nô

lệ, văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được” Người nhấn mạnh đến văn hoá văn nghệ phải luôn phục vụ đời sống “Văn hóa phải gắn liền với lao động, sản xuất Văn hoá xa đời sống, xa lao động là văn hóa suông” Hồ Chí Minh

tự nhận là “một người yêu chuộng văn nghệ chứ không phải là một nhà văn nghệ”, nhưng Người nhận xét về vai trò của văn nghệ thật sâu sắc “Nghệ thuật phải gần với cuộc sống, người vẽ không thể tùy ý muốn tưởng tượng ra thế nào cũng được,

rồi quần chúng phê bình lại bảo người ta dốt” [46, tr.304]

Những quan điểm, tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được phát triển trong đời sống văn nghệ, trở thành một nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng một nền

Trang 32

văn hoá mới dưới sự lãnh đạo của Đảng và luôn được đề cập đến trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4, khoá VII đã ra Nghị quyết về văn hoá văn nghệ với tiêu đề “Một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ những năm trước mắt” Nghị quyết Trung ương V, khoá VIII nhấn mạnh về nội dung và phương hướng sáng tác: “Hướng văn nghệ nước ta phản ánh hiện thực sinh động, chân thật và sâu sắc sự nghiệp của nhân dân trong cách mạng và kháng chiến, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cũng như tái hiện lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc” [40, tr.56]

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ quan điểm của Đảng là “Bảo đảm tự do dân chủ cho mọi sáng tạo văn học nghệ thuật, tạo điều kiện làm việc thuận lợi để phát huy hiệu quả của lao động nghệ thuật Văn nghệ sĩ nêu cao trách nhiệm trước nhân dân, trước Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội, phấn đấu có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng giáo dục, xây dựng con người” [50, tr.115]

Phát biểu trên tạp chí Mỹ thuật Thời nay, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh : “Trong giai đoạn cách mạng mới, trách nhiệm của văn nghệ sĩ trước nhân dân rất nặng nề, nhưng cũng hết sức vẻ vang” Đồng chí còn kêu gọi anh chị em hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật “Hãy thực sự hoà mình vào công cuộc đấu tranh của dân tộc để có những tác phẩm có giá trị”

1.2.2.2 Nghiên cứu, phê bình mỹ thuật có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, nâng cao nhận thức thẩm mỹ cho công chúng

Việc hướng dẫn, nâng cao nhận thức thẩm mỹ cho công chúng nói chung và công chúng yêu thích mỹ thuật nói riêng hiện nay một phần nhờ tác động của công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật

Trong bài phát biểu Hội nghị tổng kết Nghị quyết Trung ương V về Văn hoá và xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc (cuối 2004), đồng chí Nguyễn

Trang 33

Khoa điềm- ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương nhấn mạnh: Phải coi trọng văn nghệ và lấy văn nghệ làm nền tảng trong việc nâng cao nhận thức và thẩm mỹ cho công chúng Điều đó đã được thực hiện trên mọi lĩnh vực hoạt động của nhiều ngành nghệ thuật, trong đó có mỹ thuật

Nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trong những năm qua đã có nhiều đóng góp trong việc thực hiện triển khai đưa Nghị quyết TW V vào cuộc sống Việc xã hội hoá mỹ thuật (do Hội Mỹ thuật phát động) đã được thực hiện rộng khắp trên cả nước, đặc biệt

ở những thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng…nhằm nâng cao nhận thức về mỹ thuật cho công chúng Hàng trăm cuộc triển lãm lớn nhỏ đã được thực hiện trên khắp đất nước Công chúng mỹ thuật ngày càng tăng Phần đông

số công chúng đó không những hiểu hơn về kiến thức mỹ thuật qua việc được tiếp xúc trực tiếp với tác giả, tác phẩm, mà trong số đó có không ít người chủ ý hoặc ngẫu nhiên trở thành những hoạ sĩ, nghệ sĩ với sự đam mê nghệ thuật thực sự

Tất cả những điều đó đã được nghiên cứu, phê bình mỹ thuật đưa vào các bài viết, bài nghiên cứu, thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, nâng cao nhận thức thẩm mỹ cho công chúng- bộ phận quan trọng nhất của xã hội

1.2.2.3 Nghiên cứu, phê bình mỹ thuật góp phần giáo dục thẩm mỹ truyền thống và đạo đức trong nhân dân

Nhiệm vụ và trách nhiệm của công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật hiện nay không những góp phần nâng cao nhận thức thẩm mỹ trong nhân dân mà còn phải đi sâu vào việc giáo dục truyền thống yêu nước, yêu cái đẹp, giáo dục tinh thần đạo đức trong sáng thông qua việc phản ánh nội dung và hình thức của các tác phẩm mỹ thuật Giáo dục thẩm mỹ truyền thống và đạo đức trong nhân dân thông qua lĩnh vực hoạt động nghiên cứu, phê bình mỹ thuật đã và đang được Đảng, Nhà nước ta đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách Trong những năm chiến tranh, văn học nghệ thuật có tác động rất to lớn trong việc động viên cả nước tham gia vào cuộc đấu tranh vì độc lập

Trang 34

dân tộc, vì tự do cho Tổ quốc Hoà bình, trong công cuộc xây dựng đất nước, văn học nghệ thuật (trong đó có mỹ thuật) vẫn chiếm một vị trí không nhỏ trong việc giáo dục tình yêu quê hương đất nước, sự hy sinh, lòng dũng cảm, tính kiên nhẫn, sáng tạo trong lao động sản xuất…

Truyền thống yêu nước thông qua các tác phẩm âm nhạc, mỹ thuật ngày nay hơn bao giờ hết càng cần phải được đề cao Chính vì vậy, trong bài phát biểu của đồng chí Hồng Vinh, nhân Hội nghị Lý luận văn nghệ mới đây (đầu 2005) đã nhấn mạnh việc cần thiết và nhất thiết đẩy mạnh các giá trị nhân văn, giá trị đời sống trong các sáng tác văn nghệ, đặc biệt là âm nhạc và mỹ thuật Việc xã hội và dư luận phản đối quyết liệt với những ca khúc, ca từ non kém về ngữ nghĩa, cẩu thả về câu chữ, phản đối những tác phẩm mỹ thuật mang danh hiện đại, hậu hiện đại nhưng phản thẩm mỹ đã chứng tỏ một xã hội đang chuyển mình theo xu hướng lành mạnh về văn hoá, trong đó có nghệ thuật, mỹ thuật

1.3 Mối quan hệ giữa báo in với nghiên cứu, phê bình mỹ thuật

Báo chí ra đời do nhu cầu thông tin, giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người Thực hiện chức năng phát triển văn hoá và giải trí, báo chí luôn quan tâm đến việc giới thiệu các tác phẩm văn học nghệ thuật bên cạnh những thông tin về kinh tế, chính trị, xã hội

Báo chí, trong đó báo in đã có nhiều công lao trong việc chuyển tải các tác phẩm

mỹ thuật lên mặt báo Chính các bài viết chuyên ngành mỹ thuật, bàn về các vấn đề

mỹ thuật, đi sâu vào một số lĩnh vực mỹ thuật, nghiên cứu và phê bình mỹ thuật, một phần nhờ báo chí đã đến được với công chúng Công chúng tiếp nhận và cảm nhận cái đẹp của mỹ thuật cũng một phần nhờ công của báo chí Vì vậy, báo chí có vai trò to lớn trong việc tạo lập và xác định mối quan hệ chặt chẽ này

Trong quá trình phát triển của báo chí, cùng với nhiều đề tài khác, mỹ thuật luôn

là đề tài khởi nguồn cho báo chí viết về cái đẹp, cái ác, cái thiện, cái hùng, cái bi, cái hoành tráng Những đề tài này chính là hiện thực đời sống được hoạ sĩ khái quát hoá,

Trang 35

cụ thể hoá thành tác phẩm nhằm tác động đến công chúng với hy vọng thay đổi nhận thức và tư duy hướng con người vào cái đẹp

Theo Tiến sĩ Vũ Duy Thông “Cái đẹp là hiện hữu trong tự nhiên và trong xã hội; con người có khả năng cảm nhận được nó, khu biệt nó với những gì không phải là đẹp Con người có nhu cầu hưởng thụ cái đẹp, không những thế, còn có năng lực sáng tạo

ra nó Nhưng bản chất của cái đẹp dường như vẫn còn là điều bí ẩn Hàng nghìn năm nay, người ta tìm cách giải thích cái đẹp là gì, càng giải thích, càng thấy không thoả mãn Sự không thoả mãn đó phản ánh quá trình vận động của tư duy nhằm khám phá chân lý” [52, tr.9]

“Cái đẹp được biểu hiện trong sự hài hoà, tương xứng, toàn vẹn Sự hài hoà là mặt biểu hiện bản chất nhất của cái đẹp, đó là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng, nội dung và hình thức, cái riêng và cái chung trong sự vận động biện chứng Những mối quan hệ đó càng tương xứng bao nhiêu, càng toàn vẹn bao nhiêu thì sự vật càng đẹp” [52, tr.29]

Trong phiếu thăm dò công chúng về mối quan hệ giữa báo chí với mỹ thuật, được biết :

Đánh giá của công chúng Số người trả lời Tỷ lệ

(nguồn: Phiếu thăm dò ý kiến cho đề tài)

Với câu hỏi này, phần đông người được hỏi cho rằng, hiện tại mối quan hệ giữa báo chí với mỹ thuật đạt mức độ khá (chiếm 42,4%) Điều đó chứng tỏ rằng báo chí đã

có nhiều động thái tích cực trong việc khai thác những vấn đề mỹ thuật để đưa lên mặt báo Báo chí đã chủ động trong thông tin Tuy nhiên, vẫn có khá nhiều độc giả cho rằng mối quan hệ này chỉ ở mức trung bình (38,4%) Tỷ lệ đánh giá tốt chỉ là 11,2%

Trang 36

Văn nghệ cần báo chí để công bố tác phẩm, giới thiệu với công chúng, phê bình nghiên cứu để định hướng sáng tác, cung cấp vốn sống gián tiếp

Báo chí cần văn nghệ để tiếp thu những thành tựu sáng tạo của nghệ thuật, để thoả mãn đòi hỏi của bạn đọc, tạo uy tín cho báo, tăng lượng phát hành Bên cạnh đó, còn là sự thâm nhập lẫn nhau về mặt con người Có nhà văn làm báo và có nhà báo là nhà văn, là nhạc sĩ, hoạ sĩ…Chính trong quá trình thâm nhập ngày càng đầy đó, mỹ thuật cũng không nằm ngoài sự quan tâm của báo chí

Ngay từ khi báo chí ra đời đã không thể thiếu vai trò của mỹ thuật Những người làm báo rất quan tâm đến việc đầu tiên là sự trình bày Một tờ báo được coi là hấp dẫn khi bên cạnh thông tin còn được minh hoạ bởi những tấm ảnh, những tác phẩm mỹ thuật có giá trị mang tính chất báo chí Tuy nhiên, việc đăng tải không phải thường xuyên Tranh - chỉ dùng cho minh hoạ là chính Có thể thấy điều ấy trên tất cả các tờ báo có sử dụng yếu tố hội hoạ Thảng hoặc mới có một vài tác phẩm được giới thiệu riêng như một bài báo hay tác phẩm độc lập (trừ những tờ báo chuyên ngành mỹ thuật) Ban đầu, chỉ là những tranh minh hoạ nhỏ, lẻ mang tính chất ghi chú cho một bài báo, sau dần dần vị trí của những tác phẩm mỹ thuật được coi trọng hơn Tranh minh hoạ lúc này đã đứng ở hai vị trí riêng biệt Một mặt vẫn minh hoạ cho bài báo, mặt khác nhiều tranh đã đứng ở vị trí riêng đảm nhiệm chức năng tuyên truyền, phục

vụ thị hiếu thẩm mỹ của công chúng, độc giả Mỹ thuật được đưa lên báo với tư cách tranh minh hoạ và không nằm ngoài thể loại hội hoạ giá vẽ Mối quan hệ giữa báo chí

và mỹ thuật vì thế mà trở nên khăng khít và biện chứng

Mối quan hệ báo chí với mỹ thuật, với nghiên cứu, phê bình mỹ thuật là mối quan hệ vì cái đẹp, tuyên truyền cái đẹp, nhân rộng cái đẹp, phổ biến cái đẹp và hướng dẫn thưởng thức cái đẹp trong cuộc sống

Mối quan hệ giữa báo chí với mỹ thuật là mối quan hệ hoàn thiện chân, thiện,

mỹ Giá trị chân-thiện-mỹ là đỉnh cao, luôn hướng tới của tất cả mọi người Báo chí

Trang 37

quan hệ khăng khít với mỹ thuật sẽ giúp từng cá nhân trong cộng đồng nâng cao thẩm

mỹ, cảm nhận được giá trị đích thực mà mỹ thuật đem lại

Mối quan hệ báo chí với mỹ thuật là mối quan hệ phát huy và bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc Hoạt động của báo chí và mỹ thuật là hoạt động vì sự nghiệp xây dựng con người mới, con người có khả năng cảm nhận và tiếp thu được bản sắc văn hoá dân tộc, phát huy nó trên mọi lĩnh vực

Mối quan hệ báo chí với mỹ thuật là mối quan hệ tiếp thụ tinh hoa văn hoá của nhân loại Bằng những con đường riêng nhưng vì một mục đích chung là học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại để hướng con người Việt Nam nhanh chóng tiếp cận và nhận thức được giá trị thẩm mỹ ngang tầm với nền văn minh của nhân loại

Mỹ thuật trở thành một trong những đề tài khai thác không bao giờ hết của báo chí, gắn với báo chí như hình với bóng (mối quan hệ biện chứng) Chính từ những mầu sắc, đường nét, trang trí, bố cục,thiết kế mỹ thuật khiến tờ báo ngày càng trở nên đẹp hơn, thu hút công chúng mua báo ngày càng nhiều bởi chất lượng, nội dung, hình thức đưa tin, trình bày tin, bài trên mặt báo

Với các màu sắc được phối hợp hài hoà cộng với công nghệ in ấn phát triển đã làm nên sự hoàn hảo của tờ báo, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của những độc giả khó tính ở bất kỳ một tờ báo nào dù là báo Trung ương hay báo địa phương, báo cấp một, hay báo cấp hai, cấp ba đều có hoạ sĩ chuyên nghiệp Nhiều báo còn có hẳn bộ phận (phòng, ban) hoạ sĩ chuyên lên makét báo

Ngày nay, không một tờ báo nào lại không sử dụng màu sắc, đường nét, cách thiết kế, trang trí mỹ thuật để làm đẹp cho tờ báo của mình

Có được cái đẹp trên báo chí phần nào nhờ vào công sức của đội ngũ những người làm công tác mỹ thuật

1.3.2 Hoạt động nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in

1.3.2.1 Đánh giá hoạt động sáng tác mỹ thuật

Trang 38

Báo in chuyển tải những bài viết nghiên cứu, phê bình mỹ thuật nhằm khẳng định thành tựu của mỹ thuật nói chung và mỹ thuật Việt Nam nói riêng

Rõ ràng, trong mỗi giai đoạn, mỹ thuật có những nét riêng với những tên tuổi

và sứ mệnh riêng Báo in chính là cầu nối để đưa những tên tuổi và sứ mệnh đó đến với công chúng Ví dụ, mỹ thuật kháng chiến, tên tuổi của hàng trăm hoạ sĩ, nhà điêu khắc với hàng ngàn tác phẩm phản ánh thực tiễn đất nước chiến tranh đã được báo chí nhắc đến nhiều như những chứng nhân của lịch sử Hay mỹ thuật đương đại, trong những năm đầu thập niên 90 khi trào lưu mỹ thuật này bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam qua một vài con đường, một vài tên tuổi hoạ sĩ mang tính đột phá; báo in đã nhắc đến họ như những người khai phá, mở đường cho dòng nghệ thuật mới, nghệ thuật mang nặng tính ý tưởng Thành tựu của mỹ thuật luôn được báo in nhắc đến một cách có hệ thống, xuyên suốt

Bên cạnh việc phản ánh những thành tựu của mỹ thuật, báo in đã có không ít bài viết, bài nghiên cứu lên tiếng phản ánh về những điều dư luận cho là chưa được trong một số ngành, trong đó có mỹ thuật Ví dụ, vấn đề tượng đài và chủ trương xây dựng tượng đài bừa bãi không quy hoạch tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước Báo chí, dư luận lên tiếng khá nhiều Dư luận thông qua báo chí phản đối chủ trương xây dựng tượng đài tại HN,Vĩnh Phúc, Nghệ An, TPHCM…Báo chí một mặt đăng tải sự phản đối của dư luận, mặt khác đưa ý kiến của đông đảo những nhà chuyên môn, nhà khoa học, kiến trúc sư…bày tỏ quan điểm, chính kiến về vấn đề nên hay không nên xây dựng tượng đài tại vị trí này, vị trí kia…Vấn đề chấp nhận hay không chấp nhận dòng nghệ thuật đương đại như là một dòng nghệ thuật chính thống tại Việt Nam?! Báo in cũng lên tiếng khá nhiều về vấn đề này Một số tờ báo

đã mời những nhà phê bình mỹ thuật chuyên nghiệp tìm hiểu và bình luận về sự có mặt cũng như hướng phát triển của dòng mỹ thuật này tại Việt Nam Nhiều bài nghiên cứu, phê bình mỹ thuật như vậy trên báo in đã hướng công chúng quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề tồn tại của mỹ thuật Việt Nam hiện nay Và, trong một

Trang 39

chừng mực nào đó, chính báo in bằng các bài viết, bài nghiên cứu đã có tiếng nói nhận xét,đánh giá về thực trạng hoạt động mỹ thuật và những xu thế phát triển của hoạt động sáng tác nói chung

1.3.2.2 Định hướng thẩm mỹ cho công chúng

Báo in là một trong những kênh thông tin góp phần định hướng thẩm mỹ cho công chúng Trong việc định hướng thẩm mỹ, các bài viết nghiên cứu, phê bình mỹ thuật đã đóng một vai trò không nhỏ Thẩm mỹ mỹ thuật của công chúng có được cũng một phần nhờ đến báo in Chính việc chuyển tải hàng ngày các bài viết thuộc lĩnh vực mỹ thuật trên mặt báo là một sự cung cấp thông tin đều đặn, phong phú và

đa dạng Sự tiếp nhận của công chúng về mỹ thuật cũng vì thế mà trở nên đa dạng hơn

Phải thừa nhận rằng, việc định hướng thẩm mỹ cho công chúng qua việc chuyển tải của báo in là một việc làm mang tính xã hội cao Bởi chỉ nhờ có báo chí những thông tin mỹ thuật mới đến được với công chúng nhanh nhất và kịp thời nhất Tuy nhiên, trong quá trình định hướng thẩm mỹ đó phải thừa nhận rằng cũng

có nhiều thời kỳ báo chí chưa thực sự phát huy vai trò và thế mạnh của mình Điều này được lý giải bằng sự quan tâm không đồng đều trong việc chuyển tải thông tin

mỹ thuật đến công chúng, trong việc chưa thực sự bao quát toàn bộ thực trạng mỹ thuật để chuyển đến công chúng nên việc định hướng và tiếp nhận các vấn đề mỹ thuật chưa được thống nhất

1.3.2.3 Dự báo xu hướng vận động của hoạt động sáng tác mỹ thuật

Hoạt động nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo in còn thể hiện ở những dự báo về xu hướng vận động của hoạt động sáng tác mỹ thuật Những dự báo này tuy không nhiều và không liên tục nhưng đó là những dự báo cần thiết cho quá trình hoạt động của một ngành nghệ thuật được coi là khá quan trọng trong vai trò phổ biến giá trị thẩm mỹ đến người xem

Trang 40

Tính dự báo này được thể hiện thông qua thực trạng sáng tác mỹ thuật Các nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật dựa trên thực trạng sáng tác mỹ thuật để đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển mỹ thuật trong tương lai Có thể đó là những

dự báo chỉ đơn thuần mang tính khuynh hướng, cũng có thể là những dự báo tương đối chính xác dựa trên sự phán đoán cụ thể về tình hình và thị trường mỹ thuật Dự báo có thể đem lại kết quả, nhưng cũng có thể chỉ là dự báo Nhưng, nhìn chung,

dự báo về sự vận động của các khuynh hướng, xu hướng sáng tác mỹ thuật được chuyển tải trên báo in là một trong những nhiệm vụ gắn liền với hoạt động của công tác nghiên cứu, phê bình mỹ thuật

Kết luận chương 1

Những vấn đề lý luận về báo chí, trong đó có báo in và nghiên cứu, phê bình

mỹ thuật thuộc phạm vi đề tài đặt ra, tác giả đã tập trung làm rõ và khẳng định :

Từ khi báo chí cách mạng ra đời đến nay, trải qua hơn 80 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, báo chí cách mạng Việt Nam luôn là cầu nối vững chắc

để những thông tin về mỹ thuật cách mạng, mỹ thuật kháng chiến, mỹ thuật đương đại đến được với đông đảo công chúng trong và ngoài nước

Thông qua việc khái quát hoá những vấn đề lý luận liên quan đến mỹ thuật, tác giả đã chỉ ra rằng nghiên cứu, phê bình mỹ thuật là một lĩnh vực hoạt động phong phú,

đa dạng, đi sâu vào những vấn đề mang tính thực trạng và khuynh hướng của hoạt động sáng tác mỹ thuật Việt Nam

Mối quan hệ giữa báo chí, trong đó có báo in với mỹ thuật là một sự liên kết khá chặt chẽ trong việc chuyển tải những giá trị mỹ thuật đến với công chúng Trên cơ

sở những bài viết nghiên cứu, phê bình mỹ thuật trên báo chí, công chúng trong và ngoài nước có thể hiểu và quan tâm hơn đến lĩnh vực chuyên ngành này

Trong quá trình phát triển của lịch sử mỹ thuật Việt Nam đã có sự đóng góp không nhỏ của báo chí, trong đó có báo in Báo chí góp phần chuyển tải thông tin mỹ

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nguyễn Thị Hương Giang- Luận văn Thạc sĩ Báo chí, năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ Báo chí
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Giang
Năm: 2000
16. Đỗ Xuân Hà; Báo chí với thông tin quốc tế NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội 1997, tr 52, 58, 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với thông tin quốc tế
Tác giả: Đỗ Xuân Hà
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội
Năm: 1997
19. Nguyễn Sỹ Hùng- Luận văn Thạc sĩ Báo chí, năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ Báo chí
Tác giả: Nguyễn Sỹ Hùng
Năm: 2000
29. C.Mác-Ph.Ăngghen-V.I.Lênin: Về văn học và nghệ thuật, NXB Sự thật, Hà Nội,1997, tr.96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác-Ph.Ăngghen-V.I.Lênin: Về văn học và nghệ thuật
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1997
33. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội,1995, T.6, tr.52-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1995
3. Báo Nhân Dân năm 1997, 1998, 1999, 2000, 2001 Khác
4. Báo Nhân Dân cuối tuần năm 1997, 1998, 1999, 2000, 2001 Khác
5. Báo Phụ nữ Việt Nam năm 1997, 1998, 1999, 2000, 2001 Khác
6. Báo Thanh niên năm 1997, 1998, 1999, 2000, 2001 Khác
7. Báo Văn nghệ năm 1997, 1998, 1999, 2000, 2001 Khác
8. Báo Văn hoá năm 1997, 1998, 1999, 2000, 2001 Khác
10. Hà Minh Đức. C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lê-nin và một số vấn đề lý luận văn nghệ - NXB CTQG, Hà Nội, 2001, tr 7-35, 36-74 Khác
11. Hà Minh Đức - Đi tìm chân lý nghệ thuật, NXB Văn học, 2000, tr18-58 Khác
12. Hà Minh Đức - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội 1997, tr 176-182, 232-242,399,406 Khác
13. Hà Minh Đức - Báo chí Hồ Chí Minh - Chuyên luận và tuyển chọn NXB CTQG, Hà Nội 2000, 17-32, 87-108, 139-162 Khác
14. Nguyễn Thiện Giáp - Dẫn luận Ngôn ngữ học, NXB giáo dục, 2000, tr.8 Khác
17. Vũ Quang Hào - Ngôn ngữ báo chí NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2001, tr 18 Khác
18. Hiến Pháp Việt Nam; NXBCTQG, Hà Nội 1995, tr 159 Khác
20. Nguyễn Thị Thanh Huyền - Luận văn Thạc sĩ Báo chí, năm 2001 Khác
21. Hội Nhà Báo Việt Nam; Đại hội thi đua toàn quốc giới báo chí Việt Nam lần thứ nhất, Hà Nội 2001, tr18-36 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng chữ viết tắt - Báo in Việt Nam với vấn đề nghiên cứu, phê bình mỹ thuật
Bảng ch ữ viết tắt (Trang 4)
Sơ đồ truyền thông báo chí chuyển tải về mỹ thuật tới công chúng và công chúng với mỹ  thuật - Báo in Việt Nam với vấn đề nghiên cứu, phê bình mỹ thuật
Sơ đồ truy ền thông báo chí chuyển tải về mỹ thuật tới công chúng và công chúng với mỹ thuật (Trang 42)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w