1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hiểm y tế tự nguyện - những phân tích xã hội học (nghiên cứu trường hợp thị trấn Hòa Bình và xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An

93 516 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luật cũng quy định lộ trình để thực hiện BHYT toàn dân, các đối tượng trong thời gian chưa thực hiện BHYT bắt buộc theo lộ trình quy định có quyền tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LƯƠNG QUỲNH TRANG

BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN - NHỮNG PHÂN TÍCH XÃ HỘI HỌC (Nghiên cứu trường hợp thị trấn Hoà Bình và xã

Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An)

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

Lương Quỳnh Trang

BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN - NHỮNG PHÂN TÍCH XÃ HỘI HỌC (Nghiên cứu trường hợp thị trấn Hoà Bình và xã

Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 60 31 30

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tuấn Anh

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1.Lý do chọn đề tài 6

2.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 7

3.Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 8

4.Mục tiêu nghiên cứu 8

5.Câu hỏi nghiên cứu 8

6.Giả thuyết nghiên cứu 8

7 Khung phân tích 9

8 Phương pháp nghiên cứu 9

NỘI DUNG 12

Chương 1 - Cơ sở lý luận của đề tài 12

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 12

1.2. Khái niệm bảo hiểm y tế 15

1.3. Khái niệm bảo hiểm y tế tự nguyện 16

1.4 Lược sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt Nam 17

1.5 Kinh nghiệm thực hiện BHYT tự nguyện tại một số nước trên thế giới 30

1.6 Bảo hiểm y tế tự nguyện từ góc nhìn của Lý thuyết lựa chọn hợp lý 32

1.7 Bảo hiểm y tế tự nguyện từ góc nhìn của Lý thuyết cấu trúc chức năng 34

Chương 2 – Bảo hiểm y tế tự nguyện: từ mục tiêu đến những thách thức trong quá trình triển khai 37

2.1.Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 37

2.2 Nhận thức của người dân đối với BHYT tự nguyện 47

2.3 Thực trạng tham gia BHYT tự nguyện của người dân 51

2.4 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến thực tế sử dụng thẻ BHYT tự nguyện 58

2.4.1 Chính sách BHYT 61

Trang 4

2.4.2 Cung cách phục vụ và ứng xử của nhân viên y tế trong KCB BHYT 67

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75

1 Kết luận 75

2.Khuyến nghị 76

2.1 Đối với người dân 76

2.2 Đối với cơ quan BHYT và các cơ quan liên quan 77

Danh mục tài liệu tham khảo 80

PHỤ LỤC 83

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

BHYT: Bảo hiểm y tế BHYTTN: Bảo hiểm y tế tự nguyện PTTT: Phương thức thanh toán

HSSV: Học sinh sinh viên UBND: Uỷ ban nhân dân BLĐTB&XH: Bộ lao động thương binh và xã hội

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 1: Tỷ lệ người dân biết về BHYTTN qua các nguồn thông tin ở hai địa phương (%) 49Bảng 2: Tỷ lệ người dân biết về lợi ích của người tham gia BHYTTN tại 2 địa phương (%) 50 Bảng 3: Lý do người dân không tham gia BHYTTN tại 2 địa phương (%) 56 Bảng 4: Tương quan giữa nghề nghiệp với mức độ sử dụng thẻ BHYTTN khi

đi KCB (%) 59 Bảng 5: Lý do người dân sử dụng thẻ BHYTTNđể khám chữa bệnh ở 2 địa phương (%) 65 Bảng 6: Đánh giá của người dân về dịch vụ khám chữa bệnh bằng thẻ

BHYTTN so với việc khám chữa bệnh không sử dụng thẻ BHYT (%) 69 Bảng 7: Lý do người dân không sử dụng thẻ BHYTTN để khám chữa bệnh (%) 73

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Các nguồn thông tin người dân nghe nói về BHYTTN (%) 48 Biểu đồ 2: Lý do người dân không tham gia BHYTTN (%) 54 Biểu đồ 3: Đánh giá mức độ hài lòng của người dân về mức đóng phí

BHYTTN hiện nay (%) 62 Biểu đồ 4: Lý do người dân sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh (%) 64 Biểu đồ 5: Mức độ người dân sử dụng thẻ BHYTTN để khám chữa bệnh (%)……… 66 Biểu đồ 6: Lý do người dân không sử dụng thẻ BHYTTN để khám chữa bệnh (%) 71

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức, cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh (KCB) cho những người gặp rủi ro ốm đau bệnh tật Thực hiện chính sách BHYT không những giải quyết được các mối quan hệ phát sinh trong nội tại trong việc thanh toán chi phí y tế của người tham gia mà nó còn giải quyết được vấn đề kinh tế

xã hội của mỗi quốc gia, đảm bảo được sự công bằng trong KCB của các tầng lớp dân cư khác nhau trong xã hội Năm 1978, Tổ chức Y tế thế giới đã ra lời

tuyên bố Alma-Ata: “Sức khoẻ cho mọi người”, được xem là cương lĩnh hành

động cho các nước trên thế giới với phương châm là phải chăm lo bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng Với những ưu điểm vốn có, bảo hiểm y tế là giải pháp được hầu hết các quốc gia lựa chọn để thực hiện sứ mệnh chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng hướng tới mục tiêu công bằng và hiệu quả vì một xã hội

ổn định, vững mạnh

Theo Luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đến năm 2014 sẽ thực hiện BHYT toàn dân bằng cách chuyển dần các đối tượng tham gia BHYT sang diện BHYT bắt buộc Trong luật cũng quy định lộ trình để thực hiện BHYT toàn dân, các đối tượng trong thời gian chưa thực hiện BHYT bắt buộc theo lộ trình quy định có quyền tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện (BHYTTN)

theo quy định của Chính phủ [10;tại Khoản 2 Điều 5]

Như vậy, BHYTTN là một hợp phần của hệ thống an sinh xã hội Một trong những nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội là đảm bảo tính bền vững

về mặt tài chính Trong những năm qua, nếu như BHYTTN học sinh, sinh viên ngày càng phát triển thì việc thực hiện BHYTTN nhân dân còn gặp nhiều

Trang 9

khó khăn trong tổ chức thực hiện, trong việc cân đối quỹ do số lượng người tham gia ít, do mức đóng thấp Trong bối cảnh đó, một câu hỏi quan trọng đặt

ra là việc tham gia BHYTTN ở vùng sâu, vùng xa được thực hiện như thế nào

? Qúa trình triển khai chính sách BHYTTN ở vùng sâu, vùng xa gặp những thách thức gì ? Nhằm góp phần trả lời những câu hỏi trên đây Tôi chọn

nghiên cứu “Bảo hiểm y tế tự nguyện – Những phân tích xã hội học (Nghiên cứu trường hợp thị trấn Hòa Bình và xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An)” để làm đề tài cho luận văn thạc sỹ này

Tương Dương là một trong những 62 huyện nghèo nhất cả nước hiện nay, với địa hình hiểm trở, nền kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, và ở

đó chủ yếu là dân tộc thiểu số Trong bối cảnh này, việc tham gia BHYTTN của người dân ở đây như thế nào là một điều cần được khám phá Với việc thực hiện nghiên cứu này, tác giả luận văn hy vọng không chỉ góp thêm về sự hiểu biết đối với việc thực hiện chính sách BHYT, và còn cung cấp những góc nhìn xã hội học đối với một trong những khía cạnh an sinh xã hội quan trọng

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu này áp dụng một số lý thuyết xã hội học: sử dụng thuyết lựa chọn duy lý và cấu trúc chức năng để giải thích vấn đề tiếp cận Bảo hiểm y tế

tự nguyện của người dân hiện nay

Đề tài góp phần làm phong phú thêm về chủ đề nghiên cứu an sinh xã hội ở nước ta hiện nay

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu nhận thức và thực trạng tiếp cận, sử dụng của người dân đối với BHYTTN Đồng thời đề xuất một số kiến nghị, giải pháp

Trang 10

để mở rộng BHYT toàn dân ở vùng nông thôn miền núi, tiến tới xã hội hóa BHYT vào năm 2014

Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng vào công tác quản lý và chăm sóc sức khỏe cho người dân bằng thẻ BHYTTN không chỉ ở huyện Tương Dương mà còn ở các địa phương khác Và kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm cơ sở

và tài liệu tham khảo cho các tổ chức, cá nhân quan tâm đến vấn đề này

3 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và những thách thức trong việc thực hiện BHYTTN

- Thời gian khảo sát: Tháng 9/2012 đến Tháng 11/2012

4 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu nhận thức của người dân về BHYTTN

- Tìm hiểu thực trạng tham gia BHYTTN của người dân hiện nay

- Tìm hiểu thực tế sử dụng BHYTTN của người dân hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp đối với việc triển khai BHYT toàn dân

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Nhận thức của người dân về BHYTTN hiện nay như thế nào ?

- Thực trạng tham gia BHYTTN ở Tương Dương hiện nay như thế nào ?

- Thực tế người dân sử dụng dịch vụ BHYTTN như thế nào ?

- Trong quá trình sử dụng dịch vụ BHYTTN người dân gặp khó khăn gì ?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Trang 11

- Nhận thức về lợi ích và trách nhiệm của người tham gia BHYT vẫn còn nhiều hạn chế

- Hiện nay tỷ lệ người dân ở hai địa phương tham gia và sử dụng thẻ BHYTTN có tỷ lệ khá cao va không có nhiều sự khác biệt giữa hai địa phương

- Chính sách BHYT, cung cách phục vụ và ứng xử của các nhân viên y tế trong khám chữa bệnh gây khó khăn đến quá trình sử dụng dịch vụ BHYT

7 Khung phân tích

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Trong nghiên cứu này có 3 nguồn tài liệu chính được thu thập và phân tích: (i) các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài (chủ yếu là các công trình nghiên cứu liên quan ở mức độ gián tiếp), (ii) các tài liệu, thông tin thu

Chính sách BHYT

Cung cách phục vụ, ứng

xử của nhân viên y tế

Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An

Nhận thức của người dân đối với BHYT

Thực trạng tham gia BHYT

Trang 12

thập từ Internet có liên quan tới đề tài và (iii) các tài liệu, thông tin kinh tế -

xã hội do các địa phương cung cấp

8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Thực hiện phỏng vấn sâu đối với 05 người dân (03 nam và 02 nữ) trong

đó, tại thị trấn đã thực hiện phỏng vấn sâu đối với 02 nam và 01 nữ và tại xã Tam Quang đã thực hiện phỏng vấn sâu đối với 01 nam và 01 nữ Và đối với lãnh đạo địa phương đã thực hiện 02 phỏng vấn sâu: 01 lãnh đạo Bảo hiểm xã hội huyện và 01 phỏng vấn sâu đối với Trạm trưởng Trạm y tế của xã

8.4 Mẫu nghiên cứu

Tôi chọn 350 đơn vị mẫu trong đó có:

Trang 13

Trung học chuyên nghiệp 12,6% Cao đẳng, đại học, trên đại học 1,4%

- Nghề nghiệp:

Sản xuất nông nghiệp 21,4% Lâm nghiệp 15,7% Chăn nuôi 21,7% Sản xuất tiểu thủ công nghiệp 2,9% Kinh doanh buôn bán 23,1% Lao động tự do 14,6%

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1 - Cơ sở lý luận của đề tài 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu Bảo hiểm y tế tự nguyện là một trong những vấn đề rất quan trọng, phức tạp và nhạy cảm triển khai chính sách BHYT trong thực tiễn đạt được hiệu quả cao Chính vì thế nó luôn được Đảng và Nhà Nước ta đặc biệt quan tâm Đặc biệt là các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách Mỗi một tác

giả đi vào tìm hiểu, nghiên cứu ở nhiều khía cạnh và cấp độ khác nhau như:

Kết quả nghiên cứu “Xây dựng chính sách phát triển BHYT tại Việt Nam” do Viện Chiến lược và Chính sách y tế tiến hành năm 2005 nghiên cứu

này đã đề cập đến vấn đề BHYTTNhiện nay mới dừng ở mức thí điểm và hầu như không có tính bền vững, mệnh giá thẻ chưa phù hợp, việc tổ chức thực hiện chưa tốt nên ít người tham gia, có tình trạng người già, ốm tham gia còn người trẻ ít tham gia

Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học y tế công cộng của

Nguyễn Minh Thảo (2004) về “Nhu cầu tham gia BHYT của người dân quận Tây Hồ chưa có BHYT và một số yếu tố liên quan” nghiên cứu này đã

đưa ra một số thông tin về nhu cầu tham gia BHYT của người dân: có 69,7% người dân đồng tình về việc tham gia BHYT, lý do chính để người dân không tham gia BHYT tự nguyện là: không hài lòng về chất lượng KCB, không hài lòng về thủ tục hành chính, không biết về BHYT Và nghiên cứu cũng đã kết luận: sự hiểu biết về BHYT và điều kiện kinh tế của người dân có liên quan đến nhu cầu tham gia BHYT: những người được nghe nói về BHYT, những người hiểu biết về BHYT, và những những người có điều kiện kinh tế khá có nhu cầu tham gia BHYT cao hơn nhóm người còn lại Về khả năng đóng góp của người dân thì có 42% đối tượng nghiên cứu chấp nhận mệnh giá thẻ

Trang 15

<50.000đồng, 36% đối tượng nghiên cứu chấp nhận mệnh giá thẻ từ 100.000 đồng [16]

50-Đề án “Tổ chức thực hiện chính sách BHYT ở Việt Nam trong tình hình mới” chủ nhiệm đề án Hoàng Kiến Thiết, Trưởng Ban BHXH tự

nguyện Đề án được phân tích theo từng giai đoạn khác nhau có liên quan đến việc thay đổi chế độ, chính sách, đến hệ thống tổ chức và các quy chế quản lý tài chính có liên quan nhằm thấy rõ được quá trình phát triển của toàn hệ thống và dự báo các quỹ BHXH, BHYT trong thời gian tới Trên cơ sở các dự báo cân đối quỹ, đề án cũng đề xuất các kiến nghị mang tính tổng hợp nhằm thực hiện được mục tiêu cân đối quỹ đề ra theo chiến lược lâu dài [17]

Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thực hiện các chính sách BHXH, BHYT, bên cạnh những thành tựu đạt được, tác giả đã không đưa ra được những hạn chế

về chính sách, về tổ chức thực hiện, nhất là trong các khâu đầu tư, bảo tồn và phát triển quỹ BHXH và khâu quản lý quỹ BHYT; hạn chế tình trạng nợ đọng hoặc lạm dụng quỹ BHYT… gây thất thoát và kém hiệu quả trong việc sử dụng quỹ Đó là những bài học thiết thực giúp cho công tác quản lý trong thời gian tới [17]

Báo cáo “Bảo hiểm y tế - Nhu cầu và khả năng mở rộng ở nông thôn”

do Trưởng phòng Sức khỏe – Viện Xã hội học – TS Trịnh Hòa Bình và các cộng sự thực hiện vào năm 2006 Báo cáo trình bày kết quả khảo sát tại xã Yên Thường - Gia Lâm với quy mô 500 mẫu phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi, 3 thảo luận nhóm và 17 phỏng vấn sâu

Báo cáo đã nêu rõ được những vấn đề về thực trạng tham gia cũng như khả năng mở rộng Bảo hiểm y tế ở nông thôn Báo cáo đã đi sâu tìm hiểu và phân tích khả năng của người dân tham gia trong việc chăm sóc sức khỏe thông qua việc tìm kiếm các dịch vụ và tham gia BHYTvà sử dụng BHYT trong việc khám chữa bệnh Đồng thời, báo cáo cũng chỉ rõ nhận thức của

Trang 16

người dân về BHYT và nhu cầu tham gia, khả năng mở rộng BHYT ở vùng nông thôn là rất lớn Từ những thực tế thu nhận được, báo cáo đã đề xuất một

số kiến nghị, giải pháp đối với các cơ quan chức năng và người dân có liên quan đến BHYT nhằm mở rộng mạng lưới BHYT trong dân cư nói chung và vùng nông thôn nói riêng Tóm lại, Báo cáo này đã khảo sát thực tế tại xã Yên Thường – Gia Lâm – Hà Nội với mẫu nghiên cứu tương đối lớn Báo cáo đã khảo sát được nhu cầu của người dân và thực trạng tham gia BHYT của họ, phân tích chi tiết các kết quả thu được và làm rõ được những mục tiêu mà nghiên cứu đặt ra [2]

Tuy nhiên, Báo cáo chưa so sánh được nhu cầu, thực trạng tham gia và khả năng mở rộng BHYT ở các nhóm có điều kiện kinh tế, thu nhập khác nhau; các nhóm được hưởng chế độ BHYT của nhà nước và nhóm tự nguyện tham gia BHYT, nhóm bắt buộc tham gia BHYT Đồng thời, báo cáo cũng nên chỉ ra các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến việc tiếp cận BHYT của người dân để từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp cho phù hợp, sát với tình hình thực tế của địa phương

Báo cáo “ Những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận Bảo hiểm y tế ở Việt Nam” của tác giả Đặng Nguyên Anh và các cộng sự (2006) đã sử dụng

kỹ thuật phân tích các số liệu định lượng, sử dụng các bộ số liệu từ các cuộc điều tra quốc gia để thống kê số lượng người tham gia BHYT, đồng thời xem xét các yếu tố tác động đến khả năng tham gia BHYT của người dân ở các nhóm đối tượng khác nhau trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến 2006 Báo cáo nêu rõ những nội dung dưới dây:

Tình hình BHYT trong dân cư: Năm 2006, có khoảng 30,5 triệu người tham gia BHYT (chiếm khoảng 36% dân số cả nước), trong đó có 20,8% triệu thẻ BHYT bắt buộc và 9,7 triệu thẻ BHYT tự nguyện Đối tượng chủ yếu là nhóm BHYT bắt buộc và học sinh Tuy nhiên, chỉ có 25,7% học sinh tham gia

Trang 17

BHYT BHYT lao động di cư ra thành thị: rất ít người lao động nhận thức được tầm quan trọng của việc tham gia BHYT Những người đã đăng ký cư trú thì khả năng tiếp cận và nhận thức về BHYT cao hơn so với các nhóm chưa đăng ký cư trú Người có thu nhập cao hơn thì cũng có khả năng tham gia BHYT lớn hơn người có thu nhập thấp, người nghèo [2]

BHYT trong nhóm cán bộ công chức đô thị: Do lợi thế về nghề nghiệp

và điều kiện kinh tế nên có 83% tham gia BHYT Các nhóm cán bộ ở các khu vực khác nhau thì cũng có tỷ lệ tham gia BHYT khác nhau: lớn nhất là các nhóm ở Đồng bằng sông Hồng, sau đó là đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ có tỷ lệ thấp hơn (theo kết quả Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004) Học vấn và truyền hình là yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất đến nhận thức về BHYT trong nhóm đối tượng này [2]

Nhìn chung, Báo cáo này mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung về khả năng tiếp cận BHYT của các nhóm đối tượng khác nhau thông qua các nguồn số liệu điều tra mức sống, điều tra y tế quốc gia Đồng thời, báo cáo cũng chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT trong từng nhóm Báo cáo chỉ sự trên các nguồn số liệu điều tra sẵn có nên không đánh giá được đúng nhu cầu tham gia BHYT của người dân ở từng nhóm đối tượng

và thái độ của họ đối với BHYT cũng như chính sách về BHYT của nhà nước

1.2 Khái niệm bảo hiểm y tế

Theo thông lệ quốc tế hiện nay, Bảo hiểm y tế xã hội (social health insurance) là tên gọi của loại hình bảo hiểm y tế không kinh doanh, không

hoạt động vì mục đích lợi nhuận, nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, hoàn toàn khác biệt với loại hình bảo hiểm

y tế thương mại, hoạt động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận BHYT do hệ thống BHYT Việt Nam thực hiện theo Nghị định số 299/HĐBT trước đây và

Trang 18

Nghị định số 58/1998/NĐ-CP hiện nay là loại hình BHYT xã hội, gọi tắt là

chính sách Bảo hiểm y tế [4]

Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội lớn, là loại hình bảo hiểm đặc biệt, mang ý nghĩa nhân đạo cộng đồng sâu sắc, góp phần quan trọng thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Bảo hiểm

y tế là cơ chế kinh tế, theo đó 90% người khoẻ giúp 10% người cần chữa bệnh, mức đóng góp theo luỹ kế lương nhưng hưởng thụ thì theo bệnh tật Các nước phát triển cũng như đang phát triển hiện nay đảm bảo nguồn tài chính dành cho chăm sóc sức khoẻ nhân dân chủ yếu từ hai nguồn sau đây:

(1)Quỹ BHYT xã hội: Mô hình tài chính y tế theo cơ chế BHYT xã hội toàn

dân là mô hình chung của đa số các nước phát triển trong khu vực châu Á

cũng như các nước phát triển trên thế giới; (2)Ngân sách Nhà nước (chủ yếu

là từ thuế thu nhập): hàng năm, một phần ngân sách Nhà nước được chuyển cho một tổ chức trung gian của Nhà nước để chi trả cho người cung ứng dịch

vụ y tế (mô hình của Canada và các nước Bắc Âu như Anh, Thụy Điển, Đan Mạch) [4]

1.3 Khái niệm bảo hiểm y tế tự nguyện

Tại Khoản 2 Điều 2 Điều lệ Bảo hiểm y tế quy định: Bảo hiểm y tế tự nguyện là hình thức bảo hiểm y tế được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của người tham gia [6]

BHYTTN là hình thức áp dụng cho các đối tượng hoặc nhóm đối tượng chưa tham gia BHYT bắt buộc hoặc không thỏa mãn với chất lượng dịch vụ BHYT theo qui định

Từ khi BHYT ra đời cho đến nay, loại hình BHYTTN tồn tại và phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới Tuy nhiên, mô hình tổ chức và tác dụng của mô hình BHYTTN là rất khác nhau.Tại các nước phát triển ở Châu Âu, BHYTTN được xem là một loại hình BHYT bổ sung nhằm thanh toán cho

Trang 19

các dịch vụ y tế mà BHYT cơ bản không chi trả hoặc đáp ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nằm ngoài quy định của BHYT cơ bản [3] BHYTTN, trong đó việc tham gia do cá nhân tự quyết định Mức phí được định trên tình trạng sức khỏe cá nhân Hầu hết các nước phát triển đều sử dụng nguyên tắc định phí theo tình trạng sức khỏe cá nhân khi bán BHYTTN bổ sung cho người tham gia Các yếu tố được đưa ra làm cơ sở tính toán như tuổi, giới tính, nghề nghiệp, số người trong gia đình, tình trạng sức khỏe, bệnh sử của cá nhân, gia đình, mức độ quyền lợi được hưởng

Ở Việt Nam, BHYTTN được áp dụng với mọi đối tượng có nhu cầu tham gia BHYT Các hình thức BHYTTN bao gồm: KCB nội, ngoại trú; bổ sung ngoài BHYT bắt buộc; BHYT cộng đồng, BHYT hộ gia đình,…Tuy vậy, từ khi có Thông tư liên tịch số 77/2003/TTLT-BTC-BYT ngày 7/8/2003 hướng dẫn thực hiện Bảo hiểm y tế tự nguyện, Thông tư đầu tiên hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện đến nay thì BHYT tự nguyện tại Việt Nam được triển khai thực hiện theo hình thức KCB nội, ngoại trú như đối với đối tượng bắt buộc và được triển khai đến các nhóm đối tượng là: học sinh, sinh viên,thành viên hộ gia đình, hội viên hội đoàn thể, thân nhân người lao động (gọi chung là nhóm đối tượng BHYTTN nhân dân) [6; Tại Điều 25; Chương VI]

1.4 Lƣợc sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt Nam

Tại Việt Nam, chính sách BHYT được xây dựng theo loại hình bảo hiểm

y tế xã hội, là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức, cá nhân để thanh toán chi phí KCB theo quy định cho người có thẻ BHYT khi ốm đau Ra đời từ năm 1992 bằng Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng Bộ trưởng, sau 17 năm chính sách BHYT ở Việt

Trang 20

Nam đã có nhiều thay đổi về cách thức tổ chức, phương thức chi trả chi phí KCB cho người tham gia BHYT Trước năm 2003, BHYT Việt Nam do Bộ Y

tế trực tiếp quản lý, điều hành Từ năm 2003 đến nay, chính sách BHYT do BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ

Từ 01/07/2005 đến 30/9/2009, chính sách BHYT được thực hiện theo Nghị định 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ Điểm cơ bản trong phương thức chi trả chi phí KCB cho người có thẻ BHYT trong giai đoạn này

là thanh toán thực chi, bãi bỏ trần thanh toán trong điều trị nội trú, một số loại thủ thuật, phẫu thuật được thanh toán trong điều trị nội trú, chi phí của nhiều loại vật tư y tế tiêu hao được BHYT thanh toán không nằm trong cơ cấu giá dịch vụ y tế, đối với đối tượng bắt buộc là bãi bỏ quy định cùng chi trả 20% Riêng đối với các dịch vụ kỹ thuật cao theo danh mục của Bộ Y tế có chi phí lớn trên 7 triệu đồng thì bệnh nhân BHYT bắt buộc được thanh toán 60% chi phí nhưng không được vượt quá hai mươi triệu đồng cho một lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật đó, phần còn lại người bệnh tự thanh toán với cơ sở KCB (trừ người nghèo, người có công, hưu trí được thanh toán 100%) Vì vậy, quyền lợi của người có thẻ BHYT giai đoạn này được mở rộng gần như tối đa nhưng từ năm 2005 quỹ BHYT bắt đầu bị bội chi Ngày 14/11/2008 Luật BHYT đầu tiên tại Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong chính sách BHYT tại Việt Nam Từ 1/10/2009, chính sách BHYT tại Việt Nam được thực hiện theo Luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội, Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính phủ, Thông tư số 09/2009/TTLT-BYT-BTC ngày 14/8/2009 của liên Bộ Y tế - Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT Điểm thay đổi cơ bản trong chính sách BHYT mới là bệnh nhân phải cùng chi trả chi phí KCB (trừ một số đối tượng đặc biệt), tăng mức đóng, mở rộng đối tượng và có lộ trình tiến tới BHYT toàn dân vào năm 2014 bằng cách chuyển dần các đối tượng tham gia BHYT

Trang 21

tự nguyện sang diện BHYT bắt buộc Trong thời gian các đối tượng chưa thuộc diện tham gia BHYT bắt buộc thì tiếp tục tham gia BHYT tự nguyện, BHYT tự nguyện là giai đoạn quá độ để tiến tới BHYT toàn dân Có hai loại hình bảo hiểm y tế ở nước ta hiện nay [4]:

- BHYT bắt buộc: áp dụng cho các đối tượng được hưởng lương và sinh

hoạt phí, bao gồm cán bộ công chức, người lao động trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, người về hưu, mất sức, các đối tượng ưu đãi xã hội, các đối tượng bảo trợ xã hội được Nhà nước cấp kinh phí thông qua BHXH, thân nhân sĩ quan quân đội, công an nhân dân Việt Nam, người nghèo theo chuẩn của Bộ LĐ - TB&XH Trừ đối tượng người nghèo có mức đóng 130.000 đồng/người/năm còn các đối tượng khác trong nhóm BHYT bắt buộc có mức đóng bằng 3% tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, tiền sinh hoạt phí hoặc 3% mức lương tối thiểu hiện hành tuỳ theo từng nhóm đối tượng [4]

- BHYT tự nguyện: áp dụng đối với mọi đối tượng có nhu cầu tham gia BHYT, bao gồm 2 nhóm đối tượng là BHYT tự nguyện học sinh, sinh viên và BHYT tự nguyện nhân dân Ngày 27/8/2008 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 117/2008/QĐ-TTg về việc triển khai loại hình BHYT tự nguyện cho người cận nghèo nhưng sang năm 2009 mới bắt đầu được triển khai thực hiện [6]

Bảo hiểm y tế tự nguyện (BHYTTN) được xác định là cơ sở để thực hiện BHY toàn dân là một hình thức BHYT được áp dụng cho người có thu nhập thấp không đủ điều kiện tham gia BHYT bắt buộc hoặc BHYT tư nhân, do người dân tự nguyện tham gia Như vậy đối với bất kì một quốc gia nào khi mới triển khai BHYT, hoặc khi chưa triển khai được BHYT toàn dân hay BHYT cộng đồng thì đối tượng tham gia bắt buộc chỉ chiếm một phần nào đó trong xã hội chỉ bao gồm những người có thu nhập ổn định và những đối

Trang 22

tượng được nhà nước cấp tiền tham gia BHYT, phần còn lại sẽ không được tham gia BHYT, đây sẽ là gánh nặng rất lớn cho họ bởi phần lớn là những người có thu nhập không ổn định như lao động tự do, học sinh, sinh viên…

Để góp phần nâng cao công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của những đối tượng này, để đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội thì việc triển khai BHYTTN là rất cần thiết Mặt khác ngân sách nhà nước chi cho y tế hàng năm có hạn, mà chi phí chữa bệnh ngày một tăng cao do vậy việc thực hiện BHYTTN sẽ là giải pháp hiệu quả cho toàn ngành y tế trong chăm sóc sức khỏe nhân dân BHYTTN có những điểm khác biệt so với BHYT bắt buộc như sau:

Đặc điểm nổi bật của BHYTTN chi phối quá trình tổ chức thực hiện không chỉ có riêng ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia có trình độ phát triển cao trên thế giới và khu vực chính từ hình thức tham gia là tự nguyện nên số lượng tham gia nhỏ, không ổn định dễ bị lựa chọn ngược bởi chỉ có một số ít người có nguy cơ ốm đau bệnh tật cao, người già mới tham gia Việc huy động được số lượng đông đảo người tham gia, nhất là những người đang khỏe mạnh, trẻ tuổi là cực kỳ khó khăn Trong BHYT bắt buộc số lượng người tham gia thường thì ổn định và tăng qua các năm còn trong BHYTTN thì lại không có điều đó, các mô hình BHYTTN được thực hiện thường là thiếu bền vững một phần do trong thời gian tham gia họ không phát sinh nhu cầu KCB

từ đó không muốn tham gia tiếp khi hết hạn hợp đồng hoặc do quỹ BHYTTN không đủ chi trả cho nhu cầu KCB của số ít người tham gia [17]

Hoạt động của BHYTTN do chính cộng đồng người tham gia đảm nhiệm với nguyên tắc tài chính là phi lợi nhuận, do vậy mức đóng BHYTTN không hoàn toàn phụ thuộc vào thu nhập của người tham gia Nếu mức đóng của BHYT bắt buộc được quy định bằng một tỷ lệ phần trăm nào đó so với thu nhập tức thu nhập cao thì mức đóng cao, thu nhập thấp thì mức đóng của

Trang 23

loại hình BHYTTN thường là thấp mà các dịch vụ y tế được hưởng là như nhau khi phát sinh nhu cầu KCB Đây cũng là cách để thu hút số lượng người tham gia BHYTTN

Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động, mà trước hết là nhận thức của người dân, là điều kiện kinh tế của từng cá nhân và từng cộng đồng là thói quen nếp sống và nhiều nguyên nhân khác tùy theo đặc điểm của mỗi nước làm cho việc vận động người dân tham gia luôn là thách thức lớn đối với mọi cơ quan thực hiện BHYTTN Không hoàn toàn giống như BHYT bắt buộc theo luật định, BHYTTN được tiến hành hướng tới việc đảm bảo quyền lợi cho người tham gia một cách mềm dẻo và đồng thuận trong cộng đồng đó Chính từ tiêu chí này mà hình thức BHYTTN rất phong phú và đa dạng ở mỗi quốc gia, không thể áp đặt hoặc sao chép nguyên bản mô hình ở nước này cho nước khác và ngay trong một nước cũng thường không có sự giống nhau về mô hình triển khai BHYTTN khi thực hiện ở những vùng mà

có sự khác nhau về điều kiện kinh tế xã hội hoặc phong tục tập quán [17] Mặc dù có nhiều hạn chế và khó khăn khi thực hiện các mô hình BHYTTN nhiều năm nay đều khẳng định: BHYTTN là bước quá độ, là bước tập dượt cần thiết để tiến tới BHYT toàn dân…Trong giai đoạn đầu triển khai BHYT thì đối tượng bắt buộc tham gia có phạm vi rất hẹp chỉ bao gồm những người có thu nhập ổn định do đó mà phạm vi những đối tượng không đủ điều kiện tham gia BHYT là rất đông, phần lớn trong xã hội, BHYTTN sẽ đáp ứng được nhu cầu tham gia của những người này từ đó góp phần nâng cao công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho mọi người dân trong xã hội Do không

có tính chất bắt buộc như trong BHYT bắt buộc nên BHYTTN thực hiện được gọi là thành công phụ thuộc rất lớn vào đường lối chính sách và quan điểm của mỗi quốc gia trong phát triển sự nghiệp bảo vệ sức khỏe cho nhân dân nước mình Mặt khác tùy vào điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước chọn cho

Trang 24

mình một cách riêng để thực hiện bởi để thực hiện thành công không phải là

dễ mà đó là cả một quá trình Quá trình đó là quá trình đưa khái niệm BHYTTN vào trong nhận thức của mọi người dân trong xã hội, khi họ hiểu rằng tham gia BHYTTN họ và gia đình của họ sẽ được an toàn, được bảo vệ trước những rủi ro ốm đau bệnh tật thì họ sẽ tự giác tham gia Một khi có đông đảo người trong xã hội tham gia thì khả năng đáp ứng cho số ít những người bị ốm đau bệnh tật là rất tốn, kể cả khi mà cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế chi phí KCB đang tăng lên một cách chóng mặt thì một cá nhân khó mà có thể tự trang trải mọi chi phí cho mình lúc lâm bệnh và trong giai đoạn phục hồi Thực tế trong quá trình thực hiện BHYTTN ở các nước thì loại hình bảo hiểm này đã bộc lộ ra những ưu nhược điểm sau [14]:

Ưu điểm: BHYTTN dù mô hình có khác nhau nhưng đều thống nhất ở lợi ích cho cộng đồng người tham gia, đó là làm tăng khả năng tiếp cận dịch

vụ y tế cho người có thu nhập thấp và người lao động tự do, bảo vệ người nghèo trước nguy cơ “bẫy nghèo”, góp phần cải thiện công tác KCB, chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng; góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng; thực hiện hiệu quả công bằng trong KCB, nâng cao vị thế của người nghèo trong xã hội, khắc phục được những mặc cảm do tình trạng thu nhập thấp của người nghèo gây ra [14]

Nhược điểm: Bên cạnh những ưu điểm về lợi ích và ý nghĩa xã hội to lớn mà nó mang lại, BHYTTN luôn gặp phải một số hạn chế đó là khả năng huy động vốn thấp vì mức đóng thường nhỏ và số lượng người tham gia ít, không ổn định và thiếu bền vững, khả năng gánh vác rủi ro thấp của quỹ, rất ít quỹ BHYTTN có thể cân đối được thu chi trong thời gian dài mà nguyên nhân chính là mức đóng căn bản không đủ để trang trải chi phí KCB, là tình trạng lựa chọn ngược của người tham gia, bên cạnh đó nếu quỹ hoạt động độc lập, phân tán thì nhược điểm còn ở năng lực quản lý hạn chế và quyền lợi có

Trang 25

thể không đồng nhất [14]

Ngoài nắm bắt được những đặc thù của mô hình bảo hiểm này để phát huy được những ưu điểm và hạn chế những khuyết điểm vốn có thì một điều không thể thiếu đó là vai trò của nhà nước trong tổ chức thực hiện BHYTTN BHYT nói chung và BHYT tự nguyện nói riêng luôn luôn cần có sự can thiệp của nhà nước, biểu hiện cụ thể là [14]:

- Nhà nước xây dựng chính sách, xây dựng luật BHYT, thiết kế chương trình BHYTTN chung của quốc gia thông qua hàng loạt chính sách quy định

về điều kiện triển khai, đối tượng mức đóng và ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn các địa phương thực hiện [14];

- Nhà nước thực hiện việc quản lý giám sát hoạt động của cả thống làm BHYTTN [14];

- Nhà nước phân cấp việc đào tạo, tổ chức huấn luyện đội ngũ cán bộ làm BHYTTN [14];

- Cuối cùng bằng nguồn ngân sách, Nhà nước thực hiện bao cấp một phần mức phí, bao cấp dịch vụ y tế có chi phí lớn, bổ sung và hỗ trợ chi phí hoạt động điều hành quỹ BHYTTN [14];

Thực tế ở Việt Nam, vấn đề này đã được Nhà nước cụ thể là hệ thống BHXH quan tâm và triển khai đồng bộ bằng cơ chế phân phối và quản lý quỹ BHXH nói chung, quỹ BHYT nói riêng Nhưng để lâu dài, để có thể tiến tới mục tiêu mọi người dân đều có BHYT, điều cốt yếu không thể chỉ là việc tăng cường vận động tuyên truyền, không chỉ là việc xã hội hóa BHYT mà vai trò quyết định là tiềm lực kinh tế cả nước, hậu thuẫn vững chắc và khả thi để hỗ trợ mức đóng cho người dân từ ngân sách Nhà nước, nhất là đối tượng cận nghèo và lao động tự do [14]

Ở Việt Nam, BHYTTN được áp dụng với mọi đối tượng có nhu cầu tham gia BHYT, được triển khai thực hiện theo địa giới hành chính và nhóm đối

Trang 26

tượng theo loại hình KCB nội, ngoại trú như đối với đối tượng BHYT bắt buộc Tuỳ theo từng giai đoạn, BHYTTN nhân dân có thể có các đối tượng: thành

viên hộ gia đình, hội viên hội đoàn thể, thân nhân người lao động, cá nhân Từ

khi BHYT được thực hiện từ năm 1992 đến nay, BHYTTN nhân dân được

chia làm 4 giai đoạn:

 Giai đoạn từ năm 1992 đến tháng 8/1998

Giai đoạn chính sách BHYT được thực hiện theo Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).Trong giai đoạn này, mặc dù các cơ quan quản lý nhà nước chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện BHYTTN cho các đối tượng dân cư nông thôn và lao động tự do, song căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, trên cơ sở Điều lệ BHYT

và các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, hệ thống cơ quan BHYT đã nỗ lực phối hợp với chính quyền các cấp xây dựng và triển khai thí điểm nhiều mô hình BHYTTN cho nhân dân theo các đề án đã được UBND tỉnh, thành phố phê duyệt [4; tr19]

Điển hình trong giai đoạn này là mô hình thí điểm BHYTTN cho nông dân của Hải Phòng Hải Phòng là địa phương thực hiện thí điểm BHYTTN từ rất sớm với các hình thức đa dạng và được duy trì qua nhiều năm Để triển khai BHYTTN cho nông dân, Hải Phòng xây dựng mức đóng BHYTTN là 35.000đ/người/năm; trong đó có khoảng 20% số đối tượng tham gia được ngân sách xã hỗ trợ 1/3 mức đóng; người tham gia được hưởng quyền lợi như người tham gia BHYT bắt buộc Điều kiện triển khai để phát hành thẻ là có ít nhất 50% dân của một đơn vị thôn hoặc xã tham gia BHYT [4; tr7]

Trong quá trình thực hiện, do công tác quản lý và tổ chức thiếu chặt chẽ, các Chi nhánh BHYT huyện chạy theo số lượng nên bỏ qua nguyên tắc, phát hành thẻ cho các đơn vị dân cư chưa đạt tỷ lệ quy định Năm 1997 Hải Phòng

đã phát hành được: 130.000 thẻ cho những người tham gia BHYTTN, đưa

Trang 27

tổng số người có thẻ BHYT chiếm gần 40% dân số toàn thành phố, đó là năm

số người tham gia BHYT cao nhất trong các năm và cũng là cao nhất trong cả nước Nhưng sau đó, tình trạng mất cân đối quỹ (thu không đủ chi) đã xuất hiện và đến năm 1998 thì quỹ đã mất cân đối trầm trọng, sang năm 1999 buộc phải ngừng phát hành thẻ BHYTTN nhân dân đại trà trên địa bàn [4; tr7]

 Giai đoạn từ 8/1998 đến năm 2002

Giai đoạn chính sách BHYT được thực hiện theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ, nhưng chưa có Thông tư hướng dẫn về BHYTTN nhân dân.Vì vậy, việc triển khai BHYTTN nhân dân vẫn tiếp tục dưới hình thức thí điểm, mang tính nhỏ lẻ, thiếu thống nhất, kết quả thu được không đáng kể Mô hình BHYT cho thân nhân người lao động, thành viên, hội viên của một số hội, đoàn thể cũng bước đầu được thí điểm Nổi bật trong giai đoạn này là thành phố Hà Nội, khi năm trước triển khai BHYTTN nhân dân tại Gia Lâm, năm sau lại triển khai tại Sóc Sơn, với mong muốn thực hiện BHYT toàn dân trên địa bàn thành phố Hà Nội Tuy nhiên, dù đầu tư nhiều tiền của và công sức, hầu hết các mô hình thí điểm đều thất bại,

đa số duy trì không được quá 1 năm mà nguyên nhân chính là do số người tham gia ít, không cân đối được thu chi quỹ BHYTTN Đến cuối năm 2002, trên địa bàn cả nước chỉ còn 30.000 người tham gia BHYTTN [4; tr 203]

 Giai đoạn từ 2003 đến 01/7/2005

Giai đoạn chính sách BHYT được thực hiện theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ, Thông tư số 77/2003/TTLT-BYT-BTC ngày 7/8/2003 của liên Y tế - Bộ Tài chính.Trong giai đoạn này, BHYTTN được áp dụng cho mọi đối tượng có nhu cầu tham gia BHYT và được thực hiện theo quy định của Nghị định số 58, Thông tư số 77, Thông tư đầu tiên hướng dẫn BHYTTN Nội dung cơ bản của Thông tư là triển khai BHYTTN nhân dân theo hộ gia đình và hội viên hội đoàn thể, có điều kiện về tỷ lệ số

Trang 28

người tham gia trong cộng đồng mới phát hành thẻ (triển khai tại xã phường theo

hộ gia đình khi có ít nhất 100% thành viên trong hộ gia đình và 20% số hộ gia đình tại xã, phường tham gia; triển khai theo hội đoàn thể khi có ít nhất 40% số người trong hội tham gia), mức đóng phân theo khu vực thành thị và nông thôn,

có một số thời gian tham gia đủ thời gian theo quy định mới được hưởng một số dịch vụ kỹ thuật như thai sản, phẫu thuật tim, chạy thận nhân tạo, 1 số dịch vụ kỹ thuật cao… Người có thẻ BHYTTN nhân dân được thanh toán chi phí KCB theo phương thức thực chi, có trần trong điều trị nội trú, cùng chi trả 20% chi phí KCB Sau 2 năm thực hiện (2003, 2004), quỹ BHYTTN nhân dân tại một số địa phương không cân đối được nhưng quỹ BHYTTN chung của toàn ngành vẫn bảo đảm và có một phần kết dư: năm 2003 kết dư 32 tỷ đồng, năm 2004 kết dư

16 tỷ đồng [4]

 Giai đoạn từ 10/2005 đến 30/9/2009

Giai đoạn chính sách BHYT được thực hiện theo Nghị định số

63/2005/CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ Từ tháng 10/2005 đến 3/2007:

BHYTTN nhân dân được tổ chức, thực hiện theo Nghị định số 63 và Thông

tư liên tịch số 22/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 24/8/2005 của liên Bộ Y tế - Tài chính BHYTTN nhân dân theo vẫn được triển khai theo hộ gia đình và hội viên hội đoàn thể nhưng giảm bớt điều kiện về tỷ lệ số đông khi tham gia (triển khai tại xã phường theo hộ gia đình khi có ít nhất 100% thành viên trong

hộ gia đình và 10% số hộ gia đình tại xã, phường tham gia; triển khai theo hội đoàn thể khi có ít nhất 30% số người trong hội tham gia), bỏ điều kiện tham gia

đủ thời gian theo quy định mới được hưởng một số dịch vụ kỹ thuật Với Điều lệ mới ban hành kèm theo Nghị định số 63, quyền lợi của bệnh nhân BHYT nói chung và BHYTTN nhân dân nói riêng được mở rộng gần như tối đa: được thanh toán thực chi, không có trần thanh toán trong điều trị nội trú, không cùng chi trả (trừ một số dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn theo

Trang 29

danh mục của Bộ Y tế), được thanh toán một số chi phí mà trước đây không có như chi phí điều trị do tai nạn giao thông, chi phí thủ thuật, phẫu

thuật, chi phí vật tư tiêu hao y tế [4]

Kết quả là số người tham gia BHYTTN nhân dân tăng nhưng quỹ bị thiếu hụt nghiêm trọng: Năm 2005 số người tham gia BHYTTN nhân dân là 1.534.233 người, năm 2006 là 3.069.550 người, gấp 10 lần số người tham gia BHYTTN nhân dân của năm 2004 Theo số liệu quyết toán của BHXH Việt Nam, bắt đầu từ năm 2005 quỹ khám chữa bệnh BHYTTN bắt đầu bị mất cân đối thu chi: năm 2005 thiếu 246 tỷ đồng, năm 2006 thiếu 1260 tỷ đồng, trong

đó chủ yếu tập trung ở BHYTTN nhân dân, quỹ BHYTTN học sinh cũng bị thiếu nhưng không nhiều, chỉ vượt 10-15% số thu BHYT học sinh [4]

Trước tình trạng quỹ BHYTTN bị thiếu hụt nghiêm trọng, BHXH Việt Nam đã tập trung nghiên cứu, phân tích số liệu thu chi và tình hình triển khai BHYTTN tại 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, qua đó tìm hiểu, xác định các nguyên nhân dẫn đến sự tăng đột biến chi phí khám chữa bệnh BHYTTN Có một thực tế là tỉnh, thành phố nào, số người tham gia BHYTTN nhân dân càng nhiều, thì quỹ BHYTTN bị bội chi càng lớn Qua kiểm tra ngẫu nhiên 487 trường hợp bệnh nhân BHYTTN, có chi phí KCB tương đối lớn trong một quý, thì hầu hết các trường hợp này rơi vào tình trạng vừa mua thẻ BHYT đã sử dụng ngay để KCB Đây có thể coi là ví dụ điển hình của việc “lựa chọn ngược” của BHYTTN, cứ khi nào có bệnh nặng, phải điều trị tại bệnh viện, khi đó người dân mới mua thẻ BHYT Vì vậy, BHXH Việt Nam đã tạm dừng việc triển khai BHYTTN cho các đối tượng tham gia lần đầu, đề nghị liên Bộ nghiên cứu, điều chỉnh lại các quy định, hướng dẫn

về BHYTTN trong những tháng đầu năm 2007 [4; tr 181]

Tháng 3/2007, liên Bộ Y tế - Tài chính ban hành Thông tư số 06/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 24/8/2005 hướng dẫn thực hiện BHYTTN,

Trang 30

thay thế cho Thông số 22 Thông tư số 06 hướng dẫn bỏ hai loại đối tượng BHYTTN nhân dân là hội viên hội đoàn thể, và thân nhân người lao động, thân nhân của hội viên hội đoàn thể, chỉ còn một đối tượng duy nhất là thành viên hộ gia đình, đồng thời thực hiện việc cùng chi trả chi phí KCB, có thêm điều kiện tham gia đủ thời gian mới được quỹ BHYT thanh toán đối với một

số bệnh Đây thật sự là một giai đoạn rất khó khăn đối với đơn vị tổ chức thực hiện chính sách, bởi các quy định của Thông tư 06 về BHYTTN đã không nhận được sự đồng tình của một bộ phận nhân dân, đặc biệt là những người bệnh, những người đã có thẻ BHYT, nay thẻ hết hạn, nhưng không được mua thẻ BHYT do quy định mới… và áp lực của công luận cũng ngày một lớn Thực tế triển khai BHYTTN năm 2007 cho thấy, số học sinh, sinh viên tham gia BHYT vẫn được giữ vững ở mức trên 8 triệu em, còn số nhân dân tham gia

đã giảm đáng kể, chỉ còn 1.371.008 người, chỉ bằng 40% so với năm trước Số thu

về quỹ đạt trên 831 tỷ đồng, tăng so với năm trước do mức đóng được điều chỉnh tăng, tuy nhiên quỹ khám chữa bệnh BHYTTN vẫn thiếu 1.546 tỷ đồng, do số đối tượng nhân dân tham gia BHYT năm 2006 (trên 3 triệu người), vẫn KCB sang năm 2007 [4]

Những điều chỉnh về chính sách trong thực hiện BHYTTN theo Thông

tư số 06 của liên Bộ chưa đủ thời gian để có thể điều chỉnh, khắc phục những vấn đề cần thiết, thì một lần nữa liên Bộ lại phải thực hiện việc sửa đổi một số điểm của Thông tư số 06 vì mục tiêu an sinh xã hội, kết quả là 10/12/2007, liên Bộ Y tế - Tài chính ban hành Thông tư số 14/2007/TTLT-BYT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 06: quy định mức đóng của các đối tượng tham gia BHYTTN là mức tối đa quy định tại thông tư số 06, bỏ điều kiện quy định tỷ lệ số đông trong triển khai, ai muốn tham gia đều được đáp ứng, không phụ thuộc vào các thành viên khác trong gia đình, trong cộng đồng

Trang 31

 BHYT tự nguyện nhân dân tại Việt Nam năm 2008:

Điều kiện triển khai: Theo cá nhân, bỏ điều kiện có đủ tỷ lệ theo số

đông trong cộng đồng mới được tham gia [6;Tại Khoản 3; Chương I]

Mức đóng phí BHYT: Khu vực thành thị (các quận nội thành) là

320.000 đồng/người/năm, khu vực nông thôn (các quận ngoại thành) là 240.000 đồng/người/năm [6; Tại Điểm a; Khoản 1; Chương II]

Quyền lợi được hưởng: Cũng giống như bệnh nhân BHYT bắt buộc,

bệnh nhân BHYTTN nhân dân khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến được cơ quan BHXH thanh toán chi phí khám chữa bệnh nội, ngoại trú, bao gồm:

Khám bệnh, điều trị và phục hồi chức năng; Xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng; Thuốc, dịch truyền theo danh mục Bộ y tế quy định; Máu

và các chế phẩm của máu; Các phẫu thuật, thủ thuật; Sử dụng vật tư, thiết bị y

tế và giường bệnh[6; Tại Điểm b; Khoản 1; Chương III]

Khác với bệnh nhân BHYT bắt buộc không phải cùng chi trả, bệnh nhân BHYT tự nguyện nhân dân được thanh toán 80% chi phí KCB theo quy định (trừ chi phí điều trị ngoại trú dưới 100.000đ thì được thanh toán 100%) Riêng đối với các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn theo danh mục của Bộ Y tế thì được thanh toán 80% chi phí nhưng không được vượt quá hai mươi triệu đồng cho một lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật đó, phần còn lại người bệnh tự thanh toán với cơ sở KCB [6; Tại Điểm c1; Khoản 1; Chương III]

Thời gian để được hưởng quyền lợi BHYTTN:

Thẻ có giá trị sử dụng và được hưởng quyền lợi theo quy định sau 30 ngày kể từ ngày đóng BHYT lần đầu hoặc gián đoạn.Thẻ có giá trị sử dụng

và được hưởng quyền lợi khi sử dụng các dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn sau

180 ngày kể từ ngày đóng BHYT lần đầu hoặc gián đoạn.Thẻ có giá trị sử dụng và được hưởng quyền lợi về chăm sóc thai sản, sinh đẻ sau 270 ngày kể

từ ngày đóng BHYT lần đầu hoặc gián đoạn [6; Tại Điểm a; Khoản 1;

Trang 32

Chương III]

Người bệnh có thẻ BHYT có thời gian tham gia BHYT liên tục đủ 36 tháng, từ tháng thứ 37 trở đi, khi sử dụng các thuốc điều trị ung thư, thuốc chống thải ghép ngoài danh mục quy định của Bộ Y tế nhưng được phép lưu hành tại Việt Nam thì được cơ quan BHXH thanh toán 50% chi phí các loại thuốc này [6; Tại Điểm a; Khoản 1; Chương III]

1.5 Kinh nghiệm thực hiện BHYT tự nguyện tại một số nước trên thế giới

Từ khi bảo hiểm y tế ra đời cho đến nay, loại hình BHYTTN tồn tại và phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới Tuy nhiên, mô hình tổ chức và tác dụng mô hình BHYTTN là rất khác nhau

Tại các nước phát triển ở châu Âu, BHYTTN được xem là một loại hình BHYT bổ sung nhằm thanh toán cho các dịch vụ y tế mà BHYT cơ bản không chi trả hoặc đáp ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nằm ngoài qui định của BHYT cơ bản BHYTTN , trong đó việc tham gia do các nhân tự quyết định Mức phí được định trên tình trạng sức khỏe cá nhân Hầu hết các nước phát triển đều sử dụng nguyên tắc định phí theo tình trạng sức khỏe cá nhân khi bán BHYTTN bổ sung cho người tham gia Các yếu tố được đưa ra làm cơ sở tính toán như tuổi, giới, nghề nghiệp, số người trong gia đình, tình trạng sức khỏe, bệnh sử của cá nhân, gia đình, mức độ quyền lợi được hưởng

1.5.1 BHYT tại Cộng hoà liên bang Đức

Cộng hòa liên bang Đức là một đất nước có bảo hiểm y tế tương đối sớm trên thế giới Từ những năm 1884, bảo hiểm y tế Cộng hoà liên bang Đức đã tương đối hoàn thiện và đã đạt tiêu chí bảo hiểm y tế toàn dân trên cơ sở hoạt động bảo hiểm y tế theo luật định Vì vậy, tất cả mọi người đều phải tham gia BHYT bắt buộc, BHYTTN chỉ cho phép các cá nhân có mức thu nhập xã hội cao (trên 45.900 Euro/năm) hoặc các công chức viên chức có mức thu nhập dưới 45.900 Euro sau khi đã đóng bảo hiểm y tế bắt buộc, được phép mua các loại

Trang 33

hình bảo hiểm y tế bổ sung khác cho bản thân hoặc cho gia đình Quyền lợi của người tham gia BHYTTN vì thế cũng rất khác nhau, tùy theo các mức phí mà

có các gói dịch vụ tương ứng, nhằm chi trả một phần chi phí cho người bệnh

và hầu hết các loại hình BHYTTN đều do tư nhân cung cấp Vì vậy, từng mức thu và chi đều phải được xác định và cân đối cụ thể trong đó có tính đến cơ cấu lợi nhuận Tính đến 2003, tỷ lệ người tham gia BHYTTN tại Cộng hoà liên bang Đức chỉ chiếm có 9,7% dân số [5]

1.5.2 BHYT tại Pháp

Tại Pháp, tài chính cho y tế chủ yếu là từ nguồn bảo hiểm y tế bắt buộc Đến năm 2000, toàn bộ dân số Pháp đều có Bảo hiểm y tế bắt buộc Quỹ Bảo hiểm y tế bắt buộc chỉ đảm nhiệm được 3/4 chi phí y tế, phần còn lại do bảo hiểm y tế bổ sung do Bảo hiểm y tế tư nhân thực hiện và hoạt động trên nguyên tắc mức hưởng tương xứng với mức đóng góp [5]

1.5.3 BHYT tại Thái Lan

Thái Lan bắt đầu làm BHYTTN từ năm 1983 Tại thời điểm đó, GDP của Thái Lan là 563USD/bình quân đầu người Chương trình BHYT tự nguyện này được tổ chức cho nông dân cận nghèo và trung lưu, được nhà nước hỗ trợ tới 50% phí BHYT thông qua Bộ Y tế Mỗi thẻ BHYT được Bộ

Y tế Thái Lan cấp 500 bạt Người có thẻ BHYT được khám chữa bệnh tại các

cơ sở y tế công lập và phải đi khám chữa bệnh theo tuyến chuyên môn kỹ thuật Năm 1988, sau 5 năm, toàn quốc có 2,1 triệu thẻ; tới năm 1996 được 6 triệu thẻ trong tổng số 60 triệu dân của Thái Lan Với 18 năm làm liên tục, được Nhà nước hỗ trợ nguồn kinh phí rất lớn, tỉ lệ tham gia BHYTTN mới đạt

9-10% dân số [5; tr 185]

1.5.4 BHYT tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

BHYT tại Lào mới được thí điểm vào năm 2002 Chương trình BHYT dựa trên cộng đồng được thực hiện tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào do

Trang 34

WHO trợ giúp kỹ thuật Đây là mô hình được WHO đánh giá là có tính khả thi cao cho một số nước đang phát triển Hoạt động BHYT dựa vào cộng đồng của Lào được điều hành từ các Ban Quản lý dự án ở địa phương bao gồm: Chủ tịch quận, huyện làm trưởng ban, các thành viên là đại diện bệnh viện huyện, cơ quan tài chính, các đoàn thể và trưởng các thôn [14]

Đối tượng vận động và điều kiện tham gia BHYT dựa vào cộng đồng

là toàn thể gia đình, những người có tên trong hộ khẩu được coi là một đơn

vị tham gia BHYT Quỹ BHYT từ quỹ đóng góp của cộng đồng theo hộ gia đình có áp dụng giảm phí cho các loại hộ tham gia đông Phí thu theo tháng hoặc quí, được gửi tại tài khoản ngân hàng và được thanh toán cho bệnh viện

có ký hợp đồng khoán quỹ Quyền lợi người tham gia [14]:

Được khám chữa bệnh ngoại trú sau khi đã đóng phí BHYT ít nhất 2 tháng, được nằm viện sau khi đã đóng BHYT ít nhất 4 tháng Có các thời gian chờ đợi điều trị cho các loại hình điều trị đặc biệt khác nhau Khám chữa bệnh ngoại trú cũng theo hình thức khoán quỹ và qui định danh mục thuốc thiết yếu Khám chữa bệnh nội trú có bao gồm cả tiền ăn, tiền vận chuyển bệnh nhân nếu là cấp cứu, tuy nhiên chỉ được hưởng 90 ngày nằm viện trong 1 năm

và không thanh toán các trường hợp không có trong chế độ BHYT hoặc ở các

cơ sở y tế không do BHYT chỉ định

Ngoài chế độ khám chữa bệnh, bệnh nhân còn được chăm sóc y tế khi

bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

1.6 Bảo hiểm y tế tự nguyện từ góc nhìn của Lý thuyết lựa chọn hợp lý

Homans là một trong những tác giả tiêu biểu nhất của lý thuyết trao đổi

xã hội George Homans đã đưa ra “mô hình lựa chọn duy lý” của hành vi cá nhân theo các nguyên tắc cơ bản: Nếu một dạng hành vi được thưởng, hay có lợi thì hành vi đó có xu hướng lặp lại Hành vi được thưởng hay được lợi trong hoàn cảnh nào thì cá nhân sẽ có xu hướng lặp lại hành vi đó trong hoàn

Trang 35

cảnh như vậy Nếu như phần thưởng, mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng

bỏ ra nhiều “ chi phí” vật chất và tinh thần để đạt được nó Mức độ hài lòng, thoả mãn với những phần thưởng, mối lợi cá nhân giành được cao nhất ở lần đầu và có xu hướng giảm dần [7; tr 353]

Thuyết lựa chọn duy lý dựa trên tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được hiệu quả tối đa với chi phí tối thiểu[7;tr 354] Trước khi quyết định tham gia Bảo hiểm y tế, người dân cũng đã cân nhắc, tính toán đến những quyền lợi được hưởng cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ của mình khi tham gia sao cho phù hợp với tình hình hiện tại của bản thân Từ

đó, người dân quyết định tham gia BHYT

Đồng thời, thuyết lựa chọn duy lý cũng đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu ra của từng lựa chọn cùng các đặc điểm khác Do tác động của nhiều yếu tố như vậy mà các hành vi lựa chọn duy lý của các cá nhân có thể tạo ra những sản phẩm phi lý không mong đợi của cả nhóm, của tập thể [7; tr 356]

Thuyết này nhấn mạnh yếu tố mong đợi hợp lý và các chiến lược hợp lý giải quyết vấn đề mà các bên tham gia phải phân tích, lựa chọn và ra quyết định hành động Về nguyên tắc, thuyết này cho rằng mỗi cá nhân đều xuất phát từ động cơ duy lý là lựa chọn hành động nào đem lại lợi ích lớn nhất với nguy cơ chi phí và thiệt hại nhỏ nhất Nhưng trong điều kiện thiếu thông tin, thiếu sự hợp tác tức là thiều tính xã hội nên từng hành động lựa chọn duy lý của cá nhân đã ngăn cản việc xuất hiện một giải pháp, một kết cục tốt nhất cho cả hai Harold Kelly và John Thibaut đã đưa ra “các ma trận phụ thuộc lẫn nhau” để phân tích các kiểu kết hợp khác nhau của các hành vi mà các thành

Trang 36

viên rong nhóm có thể xem xét, lựa chọn và để phân tích những cách mà các

cá nhân đó kiểm soát hành vi của nhau [7; tr 358] Chính vì vậy, việc người dân cân nhắc, tính toán, xem xét để tham gia BHYT cũng chịu tác động của nhiều yếu tố Không ít trường hợp người dân nhận thấy những tác dụng của việc tham gia BHYT hay những quyền lợi của người dân khi tham gia không được đảm bảo, và trong quá trình thực hiện cũng thiếu nghiêm túc Đây chính

là những hệ quả mà người dân không mong muốn nhưng họ cũng không thể tính toán được

Nhìn chung, tham gia BHYTTN đối với người dân là một quyết định quan trọng, đòi hỏi người dân phải tính toán, xem xét các điều kiện, hoàn cảnh của bản thân cũng như gia đình

1.7 Bảo hiểm y tế tự nguyện từ góc nhìn của Lý thuyết cấu trúc chức

năng

Cấu trúc xã hội hay còn gọi là cơ cấu xã hội (social structure) được hiểu:

“là mô hình của các mối liên hệ giữa các thành phần cơ bản trong một hệ thống xã hội Những thành phần này tạo nên bộ khung cho tất cả các xã hội loài người, mặc dầu tính chất của các thành phần và các mối quan hệ giữa chúng biến đổi từ xã hội này đến xã hội khác Những thành phần quan trọng nhất của cơ cấu xã hội là vị trí, vai trò, nhóm và các thiết chế…”[9, tr.205] Trong khi đó: “chức năng là nhu cầu, lợi ích, sự cần thiết, sự đòi hỏi, hệ quả, tác dụng mà một thành phần, bộ phận tạo ra hay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vận động của cả hệ thống”[9, tr.201] Bản chất của thuyết cấu trúc - chức

năng đều nhấn mạnh tới tính ổn định và khả năng thích ứng của cấu trúc Xã hội là một hệ thống tương đối chặt chẽ được cấu thành từ nhiều hệ thống có mối quan hệ tác động và phụ thuộc lẫn nhau tạo nên sự ổn định của cấu trúc

xã hội: “Sự biến đổi của cấu trúc tuân theo quy luật tiến hoá, thích nghi khi môi trường sống thay đổi; sự biến đổi của của cấu trúc luôn hướng tới thiết

Trang 37

lập lại trạng thái cân bằng, ổn định”[9, tr.199] Các tác giả của trường phái

cấu trúc-chức năng cũng đặc biệt đề cao vai trò của các yếu tố giá trị, chuẩn mực để góp phần duy trì tính ổn định và trật tự của cấu trúc

Lý thuyết cấu trúc – chức năng đều nhấn mạnh tính cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc Thuyết này cho rằng một xã hội tồn tại, phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau

để bảo bảm sự cân bằng chung của cả cấu trúc; bất kỳ sự thay đổi nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác Sự biến đổi của cấu trúc thay đổi theo quy luật tiến hóa, thích nghi khi môi trường sống thay đổi; sự biến đổi của cấu trúc luôn hướng tới thiết lập trạng thái cân bẳng, ổn định Đối với cấu trúc xã hội, các đại diện của chủ thuyết chức năng vừa nhấn mạnh tính hệ thống của nó vừa đề cao vai trò quan trọng của hệ giá trị, hệ chuẩn mực xã hội trong việc tạo dựng sự nhất trí, thống nhất, ổn định, trật tự trong xã hội [9; tr 222]

Về phương pháp luận, thuyết chức năng hướng vào giải quyết vấn đề bản chất của cấu trúc xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội Đối với bất kỳ sự kiện, hiện tượng xã hội nào, những người theo thuyết chức năng đều hướng vào việc phân tích các thành phần cấu tạo nên cấu trúc của chúng, xem các thành phần đó có mối liên hệ với nhau như thế nào và đặc biệt xem xét quan hệ của chúng đối với nhu cầu chung của sự tồn tại và phát triển sự kiện, hiện tượng

đó Đồng thời, chủ thuyết này đòi hỏi về phương pháp luận phải tìm hiểu cơ chế hoạt động của từng thành phần để biết chúng có chức năng, tác dụng gì đối với sự tồn tại một cách cân bằng ổn định của cấu trúc xã hội [9; tr 223] Quan điểm lý thuyết cấu trúc - chức năng trong đề tài này được sử dụng

với 3 mục đích chính: (i) đánh giá cấu trúc của hệ thống cơ quan bảo hiểm xã hội đối với hoạt động BHYT và chỉ ra nhận thức của người dân với BHYTTN tại huyện Tương Dương hiện nay, (ii) đánh giá thực tế sử dụng thẻ BHYTTN

Trang 38

và những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng thẻ BHYTTN hiện nay và (iii) từ đó chỉ ra vai trò của các cơ quan bảo hiểm xã hội và đề xuất các giải pháp để tiến tới BHYT toàn dân ở các vùng nông thôn hiện nay

Trang 39

Chương 2 – Bảo hiểm y tế tự nguyện: từ mục tiêu đến những thách thức trong quá trình triển khai 2.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Giới thiệu địa bàn xã Tam Quang

Tam Quang là xã cuối cùng của huyện Tương Dương nếu chúng ta đi từ trên xuống Có sông Lam và quốc lộ số 7 đi qua, Tam Quang được nhiều người biết đến với những tên đất như Khe Bố, Khe Sao Với diện tích tự nhiên: 37.849.31ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp: 195.50ha; diện tích đất lâm nghiệp có rừng: 29.573.50ha; diện tích đất chưa sử dụng: 5.825.01ha;

đất chuyên dùng: 514.20ha; đất ở: 25.000ha Về vị trí địa lý: Phía đông giáp

huyện Con Cuông, Phía Tây giáp xã Tam Đình, Phía Bắc giáp xã Yên Thắng, Phía Nam giáp Lào và xã Tam Hợp Với tổng dân số trong xã là 6934 người

và lao động nông nghiệp có 2738 người, dân ở đây chủ yếu là các dân tộc ít

người như: Thái, Tày poọng, Khơ mú, [17; tr 1]

Tam Quang có diện tích đất nông nghiệp rộng nhất huyện, nhưng dân số đông, nên bình quân đầu người không đáng kể, đời sống của nhân dân nơi đây còn gặp rất nhiều khó khăn Ngoài làm ruộng, làm rẫy, cư dân Tam Quang còn khai thác lâm sản và làm một số nghề thủ công Điều đặc biệt, Tam Quang là xã duy nhất ở miền núi có mỏ than Khe Bố Trước Cách mạng tháng

8, dân Tam Quang hầu hết là mù chữ, nay Tam Quang có ba trường tiểu học, một trường trung học cơ cở Một trường Trung học phổ thông của huyện Tương Dương cũng đóng ở Tam Quang Số người có trình độ đại học nhiều nhất Tam Quang cũng có một trạm xá, điện về 7 bản: Tam Bông, Sơn Hà, Khe Bố, Nhùng, Bãi Xa, Tùng Hương, Tam Hương, Liên Hương, Tam Liên, Bãi Sở, Mỏ Than Khe Bố, Tân Hương Người dân Tam Quang cần cù, chịu khó, có một thời du canh du cư Tam Quang có chùa ở bản Sơn Hà, có hai đền: đền Khe Bố và đền Tà Pù, cũng ở bản Sơn Hà, có chợ trung tâm xã ở bản

Trang 40

Khe Bố Các bản nằm ở hai bên sông Lam mà cũng là ở hai bên đường quốc

lộ 7 giờ đây lại nằm trong khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Mát [17; tr 1]

 Về Kinh tế

Trong sản xuất nông nghiệp, xã đã tiến hành trồng các loại hoa màu và chăn nuôi trâu, bò, lợn đen, nhím đạt hiệu quả cao, tổng giá trị sản xuất đạt 86.880 triệu đồng [17; tr 1]

Ủy ban nhân dân xã tổ chức phát động lễ ra quân xây dựng nông thôn mới vào ngày vào ngày 05 tháng 03 năm 2012 Các bản làng tổ chức họp toàn thể nhân dân tuyên truyền về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước , phát động nhân dân vệ sinh làng bản , giải phóng mặt bằng làm đường trục thôn bản, tu sửa, chỉnh trang vườn , chuồng trại, ngõ xóm Lồng ghép tuyên truyền Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới vào nội dung tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật hàng quý Tổ chức tâ ̣p huấn cho cán bô ̣ xã, Ban phát triển nông thôn mới 12 bản làng, các cơ quan đơn vị trong toàn xã Xây dựng mô h ình chăn nuôi lợn nái sinh sản gồm 5 hô ̣ thực hiê ̣n đang phát triển tốt [17; tr 3]

Về công tác xây dựng đường giao thông: Tính đến 31/12/2012 toàn xã đã san sửa đắp cấp phối 10.500 mét đường trục thôn bản , vâ ̣n đô ̣ng nhân đân đã

tự nguyện hiến hơn 2.887 m2 đất (giá trị ước tính hơn 500.000.000 đồng), 545 cây ăn quả các loại (giá trị ước tính hơn 120.000.000 đồng) Đổ bê tông đường trục thôn bản , đường ngõ xóm được : 5.233mét/6.398 mét theo kế hoạch Trong đó: UBND huyện hỗ trợ 975 tấn xi măng, nhân dân tự nguyện đóng góp được 930.000.000 đồng để mua cát sỏi và hơn 10.000 ngày công lao

đô ̣ng [17; tr 3]

Trong năm 2012 hoàn thành thêm 3 tiêu chí theo kế hoa ̣ch Đưa số tiêu chí đạt chuẩn Nông thôn mới lên 8/19 tiêu chí bao gồm: (Tiêu chí 1 về quy hoạch; Tiêu chí 4 về điê ̣n; Tiêu chí 5 về Trường ho ̣c; Tiêu chí 7 về chợ nông

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. LG. Nguyễn Duy Anh, (2007), Luật Bảo hiểm xã hội và toàn bộ các văn bản liên quan, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo hiểm xã hội và toàn bộ các văn bản liên quan
Tác giả: LG. Nguyễn Duy Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2007
2. TS. Trịnh Hòa Bình và các cộng sự (2006), “Bảo hiểm y tế - Nhu cầu và khả năng mở rộng ở nông thôn”, Viện xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bảo hiểm y tế - Nhu cầu và khả năng mở rộng ở nông thôn”
Tác giả: TS. Trịnh Hòa Bình và các cộng sự
Năm: 2006
4. Bảo hiểm y tế Việt Nam (2002): Qúa trình hình thành và phát triển Bảo hiểm y tế Việt Nam, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qúa trình hình thành và phát triển Bảo hiểm y tế Việt Nam
Tác giả: Bảo hiểm y tế Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2002
7. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2001), Xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
8. Trần Ngọc Duyến và cộng sự, (2004), Mở rộng Bảo hiểm y tế tự nguyện tiến tới Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, đề tài nghiên cứu khoa học, Bảo hiểm xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng Bảo hiểm y tế tự nguyện tiến tới Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Trần Ngọc Duyến và cộng sự
Năm: 2004
9. Lê Ngọc Hùng,(2009), Lịch sử và lý thuyết Xã hội học, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết Xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2009
12. Nguyễn Khang, Kinh nghiệm BHYT một số nước trên thế giới, Tạp chí Bảo hiểm xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm BHYT một số nước trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Khang
Nhà XB: Tạp chí Bảo hiểm xã hội
13. Đặng Thảo (2008), Bảo hiểm y tế ở Pháp – Kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Bảo hiểm xã hội số 7(155) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm y tế ở Pháp – Kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Đặng Thảo
Nhà XB: Tạp chí Bảo hiểm xã hội
Năm: 2008
14. Phạm Đình Thành và cộng sự, (2004), Các giải pháp cơ bản để tiến tới thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân, đề tài nghiên cứu khoa học, Bảo hiểm xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp cơ bản để tiến tới thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân
Tác giả: Phạm Đình Thành và cộng sự
Năm: 2004
15. Phạm Đình Thành (2007), "Những vấn đề cơ bản của Luật BHYT", Tạp chí Bảo hiểm xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của Luật BHYT
Tác giả: Phạm Đình Thành
Nhà XB: Tạp chí Bảo hiểm xã hội
Năm: 2007
16. Nguyễn Minh Thảo(2008), “Nhu cầu tham gia BHYT của người dân quận Tây Hồ chưa có BHYT và một số yếu tố liên quan”, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Đại học y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhu cầu tham gia BHYT của người dân quận Tây Hồ chưa có BHYT và một số yếu tố liên quan”
Tác giả: Nguyễn Minh Thảo
Năm: 2008
17. Hoàng Kiến Thiết và các cộng sự (2008) “Tổ chức thực hiện chính sách BHYT ở Việt Nam trong tình hình mới”, đề tài nghiên cứu khoa học, Bảo hiểm xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổ chức thực hiện chính sách BHYT ở Việt Nam trong tình hình mới”
18. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2006
20. Ủy ban nhân dân thị trấn Hòa Bình (2012), Báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2012 Phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT - XH, QP - AN năm 2013 của thị trấn Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2012 Phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT - XH, QP - AN năm 2013 của thị trấn Hòa Bình
Tác giả: Ủy ban nhân dân thị trấn Hòa Bình
Năm: 2012
21. Uỷ ban nhân dân huyện Tương Dương (2012), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm và ước thực hiện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm và ước thực hiện
Tác giả: Uỷ ban nhân dân huyện Tương Dương
Năm: 2012
3. Bộ Y tế - Bộ Tài Chính (2007): Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT- BTC ngày 30/3/07, Hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện Khác
5. Bảo hiểm y tế Việt Nam: Chính sách BHYT hiện nay của một số nước trên thế giới Khác
6. Chính phủ (2005): Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế Khác
10. Quốc hội CHXHCN Việt Nam (2008) Luật số 25/2008/QH12 : Luật Bảo hiểm y tế Khác
11. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2008), Nghị quyết số 18/2008/QH12 ngày 03/6/2008 về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tỷ lệ người dân biết về lợi ích của người tham gia BHYTTN  tại 2 địa phương (%) - Bảo hiểm y tế tự nguyện - những phân tích xã hội học (nghiên cứu trường hợp thị trấn Hòa Bình và xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
Bảng 2 Tỷ lệ người dân biết về lợi ích của người tham gia BHYTTN tại 2 địa phương (%) (Trang 52)
Bảng  số  liệu  trên  cũng  cho  ta  thấy,  nhận  thức  của  người  dân  ở  hai  địa  phương về lợi ích, những quyền lợi mình được hưởng khi tham gia BHYTN - Bảo hiểm y tế tự nguyện - những phân tích xã hội học (nghiên cứu trường hợp thị trấn Hòa Bình và xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
ng số liệu trên cũng cho ta thấy, nhận thức của người dân ở hai địa phương về lợi ích, những quyền lợi mình được hưởng khi tham gia BHYTN (Trang 53)
Bảng  3:  Lý  do  người  dân  không  tham  gia  BHYTTN  tại  2  địa  phương  (%). - Bảo hiểm y tế tự nguyện - những phân tích xã hội học (nghiên cứu trường hợp thị trấn Hòa Bình và xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
ng 3: Lý do người dân không tham gia BHYTTN tại 2 địa phương (%) (Trang 58)
Bảng  4:  Tương  quan  giữa  nghề  nghiệp  với  mức  độ  sử  dụng  thẻ  BHYTTN khi đi KCB (Đơn vị: %) - Bảo hiểm y tế tự nguyện - những phân tích xã hội học (nghiên cứu trường hợp thị trấn Hòa Bình và xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
ng 4: Tương quan giữa nghề nghiệp với mức độ sử dụng thẻ BHYTTN khi đi KCB (Đơn vị: %) (Trang 61)
Bảng 5: Lý do người dân sử dụng thẻ BHYTTN - Bảo hiểm y tế tự nguyện - những phân tích xã hội học (nghiên cứu trường hợp thị trấn Hòa Bình và xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
Bảng 5 Lý do người dân sử dụng thẻ BHYTTN (Trang 67)
Bảng 6: Đánh giá của người dân về dịch vụ khám chữa bệnh bằng  thẻ BHYTTN  so với  việc khám chữa bệnh không sử dụng thẻ BHYT (Tỷ - Bảo hiểm y tế tự nguyện - những phân tích xã hội học (nghiên cứu trường hợp thị trấn Hòa Bình và xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
Bảng 6 Đánh giá của người dân về dịch vụ khám chữa bệnh bằng thẻ BHYTTN so với việc khám chữa bệnh không sử dụng thẻ BHYT (Tỷ (Trang 71)
Bảng 7: Lý do người dân không sử dụng thẻ BHYTTN để khám - Bảo hiểm y tế tự nguyện - những phân tích xã hội học (nghiên cứu trường hợp thị trấn Hòa Bình và xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
Bảng 7 Lý do người dân không sử dụng thẻ BHYTTN để khám (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm