ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HOC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ HUYỀN ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG NHÀ TRƯỜNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN NGÀNH NGHỀ CỦA HỌC SINH T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HOC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HOC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HUYỀN
ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG NHÀ TRƯỜNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN NGÀNH NGHỀ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI HÀ
NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trịnh Văn Tùng
HÀ NỘI - 2013
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT NỘI DUNG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn 7
2.1 Ý nghĩa khoa học 7
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 7
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài 8
3.1 Đối tượng nghiên cứu 8
3.2 Khách thể nghiên cứu 8
3.3 Phạm vi nghiên cứu: 8
4 Mục đích nghiên cứu 8
5 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: 8
6 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 9
6.1 Câu hỏi nghiên cứu 9
6.2 Giả thuyết nghiên cứu 9
7 Phương pháp nghiên cứu: 9
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu 9
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 11
7.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu 11
7.2.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến qua bảng hỏi 12
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân 13
7.2.4 Phương phát quan sát 13
7.2.5 Phương pháp thảo luận nhóm 13
8 Khung lý thuyết 14
NỘI DUNG CHÍNH 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 15
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới: 15
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam: 17
Trang 51.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 20
1.2.1 Trường THPT Yên Hoà - Cầu giấy 20
1.2.2 Trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm 21
1.3 Những khái niệm công cụ 23
1.3.1 Khái niệm vai trò 23
1.3.2 Khái niệm định hướng 25
1.3.3 Khái niệm lựa chọn 25
1.3.4 Khái niệm nghề nghiệp 26
1.3.5 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp 27
1.4 Cơ sở lý luận 29
1.4.1 Thuyết lựa chọn duy lý 29
1.4.2 Lý thuyết hành động xã hội 30
1.4.3 Lý thuyết xã hội hóa 31
1.4.4 Lý thuyết vai trò 32
1.4.5 Lý thuyết mạng xã hội 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 34
2.1 Một số vấn đề phổ biến công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông 34
2.1.1 Thời điểm học sinh được giáo dục hướng nghiệp 34
2.1.2 Thời gian dành cho GDHN trong nhà trường 36
2.2 Mục đích của hoạt động GDHN trong trường THPT 37
2.3 Nội dung của GDHN trong trường THPT 40
2.4 Hình thức của GDHN trong trường THPT 43
2.4.1 Hình thức giáo dục hướng nghiệp qua việc lồng ghép vào các môn học 44
2.4.2 Giáo dục hướng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt lớp 48
2.4.3 Giáo dục hướng nghiệp thông qua các hoạt động của Đoàn thanh niên 49
2.4.4 Giáo dục hướng nghiệp thông qua các buổi tập trung toàn trường 50
2.4.5 Giáo dục hướng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt ngoại khoá 51
2.4.6 Giáo dục hướng nghiệp thông qua các giờ học nghề 51
Trang 62.5 Thái độ và hành vi của học sinh THPT khi tham gia vào các giờ học
hướng nghiệp 53
2.5.1 Thái độ của học sinh khi tham gia vào hoạt động GDHN 53
2.5.2 Về hành vi tham gia của học sinh vào hoạt động hướng nghiệp của nhà trường 57
Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TỚI XU HƯỚNG LỰA CHỌN NGÀNH NGHỀ CỦA HỌC SINH THPT 59
3.1 Đánh giá của học sinh về mức độ quan trọng của GDHN 59
3.2 Xu hướng lựa chọn ngành nghề của HS sau khi tốt nghiệp THPT 63
3.2.1 Thời điểm xuất hiện nhu cầu lựa chọn nghề nghiệp của học sinh 63
3.2.2 Những nhu cầu và hứng thú của học sinh THPT hiện nay 65
3.3 Các kênh tác động đến xu hướng lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT tại Hà Nội 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
KẾT LUẬN 89
KHUYẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 97
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN 98
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thời điểm học sinh được GDHN phân theo địa bàn cư trú 35
Bảng 2.2: Mục đích của họat động giáo dục hướng nghiệp phân theo địa bàn cư trú 39
Bảng 2.3 : Thứ tự ưu tiên của học sinh về các nội dung GDHN trong nhà trường THPT 41
Bảng 2.4: Thái độ của học sinh khi tham gia vào hoạt động hướng nghiệp của nhà trường 53
Bảng2.5: Đánh giá của học sinh về hiệu quả của các hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường phân theo địa bàn cư trú 56
Bảng2.6: Mức độ tham gia của học sinh vào hoạt động hướng nghiệp của nhà trường 57
Bảng3.1 : Đánh giá của học sinh về mức độ quan trọng của giáo dục hướng nghiệp phân theo khối lớp 62
Bảng 3.2: Những vấn đề HS THPT có nhu cầu và hứng thú 66
Bảng 3.3: Dự định của HS sau khi tốt nghiệp THPT 68
Bảng 3.4 : Xu hướng lựa chọn ngành nghề của học sinh 71
sau khi tốt nghiệp THPT 71
Bảng 3.5: Xu hướng lựa chọn ngành nghề của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT phân theo giới tính 73
Bảng 3.6: Các kênh thông tin giúp HS có được định hướng lựa chọn ngành nghề 78
Bảng 3.7: Yếu tố quan trọng giúp học sinh có được lựa chọn ngành nghề 79
Bảng 3.8: Tương quan giữa nghề nghiệp của bố mẹ và đánh giá của học sinh về mức độ ảnh hưởng của GDHN đến lựa chọn ngành nghề 83
Bảng 3.9: Tương quan giữa địa bàn cư trú và đánh giá của học sinh về mức độ ảnh hưởng của GDHN đối với lựa chọn ngành nghề 85
Bảng 3.10: Tương quan giữa năm học và đánh giá của học sinh về mức độ ảnh hưởng của GDHN đối với lựa chọn ngành nghề 86
Bảng 3.11: Tương quan giữa kết quả học tập và đánh giá của học sinh về mức độ ảnh hưởng của GDHN đối với lựa chọn ngành nghề 87
Trang 8DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.1: Thời điểm học sinh được GDHN trong nhà trường 34 Biểu đồ 2.2: Thời gian dành cho giáo dục hướng nghiệp ở trường trong một tuần 36 Biểu đồ 2.3: Mục đích của hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường
trung học phổ thông 37 Biểu đồ 2.4: Các hình thức giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông 43 Biểu đồ 2.5: GDHN thông qua các bộ môn khoa học 44 Biểu đồ 2.6: Đánh giá của học sinh về hiệu quả của hoạt động hướng nghiệp
trong trường THPT 55 Biểu đồ 3.1: Kì vọng của học sinh vào hoạt động giáo dục hướng nghiệp của
nhà trường 59 Biểu đồ 3.2: Đánh giá của học sinh về mức độ quan trọng của giáo dục
hướng nghiệp 61 Biểu đồ 3.3: Thời điểm học sinh có nhu cầu về lựa chọn nghề nghiệp 64 Biểu đồ 3.4: Dự định về tương lai của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT phân
theo địa bàn cư trú 70 Biểu đồ 3.5 : Lí do chính khiến HS có dự định lựa chọn ngành nghề 75 Biểu đồ 3.6: Đánh giá của học sinh về mức độ ảnh hưởng của hoạt động giáo
dục hướng nghiệp đối với lựa chọn ngành nghề 80
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược gồm: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước Mục tiêu của công nghiệp hoá là xây dựng đất nước thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
Để đạt được mục tiêu trên, chúng ta cần có một đội ngũ lao động có đủ năng lực, phẩm chất tri thức và trình độ Vì vậy, bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực con người trên nền tảng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài là một nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp CNH - HĐH Việc điều chỉnh phân
bổ nguồn nhân lực cho phù hợp với quy luật cung cầu của xã hội đang là một bài toán khó giải Thực tế hiện nay có nhiều học sinh trung học phổ thông (THPT) đã gặp một số sai lầm trong việc chọn nghề nghiệp tương lai của mình do chưa có sự định hướng đúng đắn về nghề nghiệp
Cụ thể sau khi tốt nghiệp THPT hầu hết HS lựa chọn con đường thi đại học, cao đẳng thay vì đi học trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề, rất nhiều em cho rằng để có cuộc sống ổn định, một nghề nghiệp chính thức, thu nhập cao phải bằng con đường học thức, phải thi đỗ đại học, coi “đại học là con đường duy nhất để lập nghiệp” cho dù năng lực có hạn vẫn cố thi ĐH, thậm chí thi đến ba, bốn năm mới
đỗ trong khi xã hội còn đang thiếu đội ngũ công nhân có chuyên môn cao Ngoài ra, khi lựa chọn nghề nghiệp học sinh có xu hướng lựa chọn ngành nghề chủ yếu dựa vào giá trị nghề nghiệp tức là những ngành tạo thu nhập cao và dễ xin việc mà không quan tâm đến những ngành nghề đang thiếu nguồn nhân lực Hậu quả để lại
rất nhiều sinh viên ra trường bị thất nghiệp hoặc làm trái nghề “Theo điều tra của
Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2011, cả nước có tới 63% sinh viên tốt nghiệp
Trang 10ĐH-CĐ ra trường không có việc làm, 37% có việc làm nhưng nhiều sinh viên phải làm trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại”[28] đồng thời nó cũng gây mất cân bằng
trong đào tạo và cơ cấu lao động đòi hỏi Nhà nước phải có những điều chỉnh và khắc phục Có thể lí giải điều đó bằng nhiều lí do khác nhau như: do mạng lưới đào tạo đại học ngày càng mở rộng khiến học sinh có nhiều cơ hội hay do chất lượng đào tạo đại học chưa cao mặt khác với tâm lí trọng bằng cấp của các bậc phụ huynh
đã ảnh hưởng phần nào đến học sinh và điều quan trọng hơn cả là do hiệu quả của hoạt động GDHN trong trường chưa cao
Như vậy, công tác giáo dục hướng nghiệp (GDHN) cho học sinh trong nhà trường là một giải pháp quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đến định hướng nghề nghiệp cho các em học sinh từ giai đoạn sớm để sau này các em có sự lựa chọn đúng đắn
Chính vì lý do trên đã gợi mở cho chúng tôi thực hiện đề tài "Ảnh hưởng
của giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường đến việc lựa chọn ngành nghề của học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp tại Trường THPT Yên Hoà và Trường THPT Cao Bá Quát Hà Nội) để qua đó đưa ra
khuyến nghị và giải pháp giúp hoạt động hướng nghiệp đạt hiệu quả cao hơn
2 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu này đi sâu vào phân tích cho các lý thuyết xã hội học như: lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết nhu cầu và lý thuyết hành vi lựa chọn để từ đó tìm ra cơ sở thực tiễn giải thích cho các lý thuyết Việc kiểm định những lý thuyết này sẽ góp phần đem lại một cái nhìn thực tiễn, đầy đủ hơn với hệ thống tri thức của khoa học Xã hội học
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đề tài hướng đến tìm hiểu ảnh hưởng GDHN của nhà trường
trong việc lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT từ đó giúp cho một số trường,
cơ quan quản lý có thêm một số dữ liệu và giải pháp trong việc nâng cao định hướng chọn ngành nghề cho học sinh đồng thời giúp cho học sinh có cái nhìn đúng đắn hơn về việc lựa chọn ngành nghề của mình
Trang 113 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ảnh hưởng của GDHN trong nhà trường đến việc lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT
+ Phạm vi không gian và thời gian
- Không gian: Trường THPT Yên Hoà - Hà Nội
Trường THPT Cao Bá Quát - Hà Nội
- Thời gian: Từ tháng 8/2011 - Tháng 1/2013
4 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài ảnh hưởng của GDHN trong nhà trường đến lựa chọn ngành nghề của HS THPT tại Hà Nội hiện nay nhằm tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của GDHN đến xu hướng lựa chọn ngành nghề của HS Từ đó, đề tài góp phần đưa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDHN đồng thời giúp HS THPT có cái nhìn đúng đắn hơn trong lựa chọn ngành nghề
5 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu thực trạng giáo dục hướng nghiệp ở một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội
- Tìm hiểu nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của GDHN
- Tìm hiểu xu hướng lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT hiện nay
- Tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của GDHN trong nhà trường đến lựa chọn ngành nghề cho tương lai học sinh
- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả GDHN
Trang 12trong trường THPT
6 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng GDHN ở các trường THPT trên địa bàn Hà Nội đang diễn ra như thế nào?
- Học sinh đánh giá như thế nào về vai trò GDHN của nhà trường?
- Sau khi tốt nghiệp học sinh có xu hướng lựa chọn ngành nghề gì? Lí do chính khiến học sinh có lựa chọn như vậy?
- GDHN có ảnh hưởng nhiều hay ít đến lựa chọn ngành nghề của học sinh? Mức độ ảnh hưởng của GDHN đến học sinh có cha mẹ làm nghề nghiệp khác nhau, giữa học sinh nông thôn và thành thị, giữa HS lớp 10 và 12 khác nhau như thế nào?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
- GDHN đã được phổ biến rộng rãi đối với học sinh THPT, được triển khai dưới nhiều nội dung và hình thức khác nhau
- Phần lớn học sinh cho rằng GDHN có vai trò to lớn trong việc định hướng ngành nghề cho học sinh
- Sau khi tốt nghiệp THPT phần lớn học sinh lựa chọn thi ĐH, CĐ và lựa chọn ngành nghề dựa vào giá trị nghề nghiệp Hầu hết học sinh lựa chọn ngành nghề theo cảm tính chưa được định hướng rõ ràng, giáo viên chưa đưa ra được lời khuyên cho HS với tính cách, sức khỏe và năng lực như vậy các em nên chọn ngành nghề gì cho phù hợp
- GDHN có ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT nhưng mức độ ảnh hưởng không cao Sự ảnh hưởng đó có sự khác nhau giữa HS có cha mẹ làm nghề nghiệp khác nhau, học sinh nông thôn và học sinh thành thị, giữa
HS ở khối lớp 10 và 12
7 Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin giúp chúng ta có cách nhìn đúng đắn và toàn diện về thế giới khách quan Trong đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
Trang 13lịch sử đã phát hiện những quy luật cơ bản thể hiện sự luận giải và là nguyên tắc cho nhiều khoa học nói chung và khoa học giáo dục nói riêng Con người với tư cách là “tổng hoà các mối quan hệ xã hội" không chỉ là sản phẩm của xã hội mà còn
là chủ thể cải tiến xã hội Từ đó, chiến lược phát triển con người là điểm mấu chốt
để phát triển kinh tế - xã hội Luận điểm về phát triển nhân tố con người có một vị trí quan trọng trong lý luận triết học Mác - Lênin
Vận dụng quan điểm trên vào đề tài, có thể thấy rằng GDHN cho học sinh phổ thông là một vấn đề rất cấp thiết Nó không chỉ đơn thuần là giúp cho các em chọn nghề phù hợp với nguyện vọng và sở trường của cá nhân mà còn góp phần phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý trên cơ sở đó tăng năng suất lao động xã hội Để vận dụng một cách có hiệu quả lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin trong vấn đề này thì việc đưa ra những hoạch định, những chính sách cụ thể về giáo dục và đào tạo con người là một yêu cầu cơ bản hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội hiện nay
7.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
Để có sự định hướng đúng cho tuổi trẻ khi lựa chọn nghề, khắc phục tình trạng xuống cấp của giáo dục trong bước đi ban đầu vào kinh tế thị trường chúng ta không thể để cho công tác hướng nghiệp bị coi nhẹ (nếu không nói là lãng quên) trong giáo dục toàn diện hiện nay của các trường phổ thông Tình trạng trên đây đòi hỏi phải làm sao cho hàng chục triệu HS ra trường hàng năm được định hướng về nghề nghiệp, được chuẩn bị về nhận thức, kỹ năng lao động cần thiết để chủ động đi vào các lĩnh vực nghề nghiệp Làm được điều đó, chúng ta mới có thể sử dụng hợp
lý nguồn nhân lực trẻ, gắn được trách nhiệm của người thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mười năm trở lại đây, mạng lưới các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp ( ĐH, CĐ, THCN) và dạy nghề có sự gia tăng đột biến Đây vừa là cơ may cho nhiều học sinh tốt nghiệp THPT nhưng cũng tạo ra những khó khăn trong việc phân luồng nguồn nhân lực này một cách hợp lý Từ thực tiễn của hoạt động giáo dục và đào tạo (GD & ĐT) trong mối quan hệ với phát triển bền vững nền kinh tế xã hội, Đảng và nhà nước ta đã có những chủ trương kịp
Trang 14thời và đúng đắn đối với giáo dục hướng nghiệp Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản
Việt Nam lần thứ IX đã ghi rõ : Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng
học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương [16]
Luật Giáo dục cũng đã khẳng định : Giáo dục trung học phổ thông nhằm
giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học ĐH, CĐ, THCN, học nghề và đi vào cuộc sống lao động [16] Khoản 1
Điều 20 Bộ Luật lao động của nước ta đã ghi: "Mọi người có quyền tự do chọn nghề
và học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mình"
Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 14/2001/CT - TTg về việc : "Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông để thực hiện nghị quyết số 40/2001/QH 10 của Quốc hội khoá X" Trong chỉ thị chỉ rõ : trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước, sự phát triển nhanh và mạnh mẽ của khoa học - công nghệ nói chung và khoa học giáo dục nói riêng, chương trình và sách giáo khoa phổ thông Trong chỉ thị đã đề ra bốn mục tiêu, đó là : "a) nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ; b) Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực
tự học của học sinh ; c) Tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước trong khu vực và trên thế giới ; d) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phân luồng sau trung học cơ sở và trung học phổ thông, chuẩn bị tốt cho học sinh học tập tiếp ở bậc sau trung học và tham gia lao động ngoài xã hội " Chỉ thị cũng đề ra nguyên tắc cần phải đảm bảo khi đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, trong đó
có nguyên tắc : Chọn lọc, đưa vào chương trình các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh ; hết sức coi trọng tính thực tiễn, học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với hoạt động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội [16]
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích một số tài liệu đã có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: các công trình nghiên cứu, bài tạp chí, số liệu
Trang 15của tổng cụ thống kê…có liên quan đến đề tài nghiên cứu Qua đó, bổ sung thêm cho những thiếu sót trong việc phân tích các số liệu định lượng thu được từ điều tra thông qua bảng hỏi
7.2.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến qua bảng hỏi
Phiếu trưng cầu ý kiến sẽ được sử dụng nhằm mục đích thu thập những thông tin định lượng cho đề tài nghiên cứu Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, có cân nhắc đến một số yếu tố như giới tính, địa bàn cư trú, năm học, kết quả học tập, nghề nghiệp của bố mẹ
Chúng tôi đã tiến hành phát 368 phiếu trưng cầu ý kiến, trong đó mỗi trường là
184 phiếu Kết quả chúng tôi đã thu lại được 350 phiếu với cơ cấu mẫu như sau:
Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo tiêu chí giới tính
Trang 16 Cơ cấu mẫu theo nghề nghiệp của cha mẹ
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Phỏng vấn sâu 16 người trong đó có 12 học sinh, 4 giáo viên và thông tin phỏng vấn sâu mang tính chất định tính, tập trung vào các khía cạnh liên quan đến hướng nghiệp cho HS THPT của nhà trường
7.2.4 Phương phát quan sát
tiết sinh hoạt lớp để xem GDHN đạt hiệu quả như thế nào Quan sát được diễn ra tại
2 lớp 10 Trường THPT Yên Hoà và 2 lớp10 Trường THPT Cao Bá Quát (mỗi lớp quan sát 2 lần)
Đối với HS lớp 12: Chúng tôi tiến hành quan sát học sinh làm hồ sơ thi vào các trường Cao đẳng, Đại học Quan sát diễn ra tại 3 lớp 12 Trường THPT Yên Hoà
và 3 lớp12 Trường THPT Cao Bá Quát (mỗi lớp quan sát 2 lần) Quá trình quan sát cho chúng ta thấy xu hướng lựa chọn ngành học cũng như nghề sau khi tốt nghiệp của học sinh THPT Tham dự sinh hoạt có nội dung GDHN để thu được thông tin
về chương trình GDHN Trên cơ sở đó tiến hành ghi chép và hình thành phiếu trưng cầu ý kiến Trong quá trình phỏng vấn quan sát thái độ người được phỏng vấn nhằm đánh giá mức độ tin cậy của thông tin người đó trả lời
7.2.5 Phương pháp thảo luận nhóm
Chúng tôi tổ chức hai thảo luận nhóm cho học sinh khối lớp 10 và12 tại hai trường vào thời điểm học sinh chuẩn bị làm hồ sơ thi vào các trường ĐH, CĐ và
Trang 17THCN Cuộc thảo luận có sự tham gia của nhà nghiên cứu và học sinh lớp10 và 12 Trong đó, nhà nghiên cứu có vai trò đưa ra các câu hỏi liên quan đến xu hướng lựa chọn sau khi tốt nghiệp của HS THPT và học sinh sẽ dẫn dắt các câu hỏi và trả lời Cuộc thảo luận có vai trò giúp nhà nghiên cứu có được thông tin cụ thể hơn về vấn
bè, truyền thông đại chúng
Điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội
Thực trạng GDHN ở trường THPT
Xu hướng lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT
Trang 18NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về vấn đề được nghiên cứu, chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt một số nghiên cứu, các bài viết, sách, tư liệu có liên quan đến quá trình lựa chọn nghề nghiệp của học sinh
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới:
Có thể nói, những tư tưởng về định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có
từ thời cổ đại, tuy nhiên ở dưới dạng rất sơ khai và biểu hiện thông qua việc phân chia, phân cấp lao động tuỳ thuộc vào địa vị và nguồn gốc xuất thân của mỗi người trong xã hội Điều này thể hiện rõ tính áp đặt của giai cấp thống trị và sự bất bình đẳng trong phân công lao động xã hội Đến thế kỷ XIX, khi nền sản xuất xã hội phát triển cùng với những tư tưởng tích cực về giải phóng con người trên khắp thế giới thì khoa học hướng nghiệp mới thực sự trở thành một khoa học độc lập
Cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản năm 1949 ở Pháp được xem là một trong những cuốn sách đầu tiên nói về hướng nghiệp [11] Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp từ đó đã rút ra những kết luận coi GDHN là một vấn đề quan trọng không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển
Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.L Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp Tác giả đã chỉ ra rằng, tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có được kết quả làm việc cao nhất Lý thuyết này của J.L Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp trên thế giới
Trên cơ sở các luận điểm về hướng nghiệp của C.Mác và V.I Lênin, các nhà giáo dục Liên xô như B.F Kapêep, X.Ia Batưsep, X.A Sapôrinxki, V.A Pôliacôp trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra mối quan hệ giữa hướng nghiệp và các hoạt động sản xuất xã hội Họ cho rằng, nếu sớm thực hiện
Trang 19giáo dục hướng nghiệp cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để họ chọn nghề đúng đắn,
có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội [11] Đồng thời, các tác giả này cũng đã trình bày những nguyên tắc, phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho HS phổ thông tại các cơ sở học tập - lao động liên trường
Mei Tang, Wei Pan và Mark D.Newmeyer [25] đã áp dụng mô hình lý thuyết phát triển xã hội nghề nghiệp (SCCT, Lent, Brown và Hackett, 1994) để khảo sát các yếu tố tác động đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS trung học Những phát hiện của nghiên cứu này chứng minh tầm quan trọng của các yếu tố như: kinh nghiệm học tập, tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, lợi ích, và kết quả mong đợi trong quá trình phát triển nghề nghiệp của học sinh trung học Mối quan
hệ của các yếu tố này có tính chất động Vì vậy, để can thiệp thành công cần phải xem xét mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố và kết hợp một loạt các biện pháp can thiệp ở mức độ đa hệ thống Các nhà tư vấn nên góp phần vào sự phát triển và thực hiện một chương trình phát triển nghề nghiệp toàn diện giúp HS phát triển năng lực nghề nghiệp thông qua hoạt động học tập thiết thực
Nghiên cứu của Bromley H Kniveton [23] được tiến hành trên cơ sở khảo sát 384 thanh thiếu niên (trong đó có 174 nam và 174 nữ) từ 14 đến 18 tuổi đã đã đưa ra kết luận: Cả nhà trường và gia đình đều có thể cung cấp những thông tin và hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên Giáo viên có thể xác định những năng khiếu và khả năng qua đó khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động ngoại khoá, tham gia lao động hướng nghiệp hoặc tham quan những cơ sở sản xuất Phụ huynh HS có ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp những hỗ trợ thích hợp nhất định cho sự lưa chọn nghề nghiệp, ngoài ra còn có sự tác động của anh chị em trong gia đình, bạn bè
Michael Borchert [22], trên cơ sở khảo sát 325 học sinh trung học của trường Trung học Germantown, bang Wisconsin đã đưa ra nhận xét: trong ba nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp là: Môi trường, cơ hội và đặc điểm
cá nhân thì nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự chọn lựa nghề nghiệp của HS trung học
Trang 201.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, giáo dục hướng nghiệp tuy được xếp ngang tầm quan trọng với các mặt giáo dục khác như đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhưng bản thân nó lại rất non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lượng, không mang tính chuyên nghiệp Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều hiệu quả Vấn đề hướng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và được xã hội quan tâm khi nền kinh tế đất nước bước sang cơ chế thị trường với sự đa dạng của các ngành nghề và nhu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực
Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến công tác hướng nghiệp Điều này được thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, văn kiện, các nguyên lý giáo dục của Đảng và nhà nước Có thể lấy ví dụ như nghị định 126/CP ngày 19/03/1981 của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý
HS các cấp THCS và THPT tốt nghiệp ra trường Trong văn kiện Đại hội Đảng lần
thứ IX đã ghi rõ “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung
học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”
Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục THPT nhằm giúp cho học
sinh củng cố và phát triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học nghề nhiệp, học nghề, và đi vào cuộc sống lao động” Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 - 2010 đã xác định rõ: “Thực hiện
chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi học sinh, giúp học sinh có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi tiếp sau khi tốt nghiệp”
Về mặt nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam, theo các chuyên gia thì ngành hướng nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ vào những năm 1970, 1980 GS.TS Phạm Tất Dong là người có những đóng góp rất lớn cho GDHN Việt Nam Tác giả này đã dày công nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn cho GDHN như xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của hướng nghiệp; hứng
Trang 21thú, nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan điểm, nguyên tắc hướng nghiệp, các nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục hướng nghiệp Điều này được thể hiện ở rất nhiều các báo cáo, bài báo, sách, giáo trình của ông như bài:
“Hướng nghiệp cho thanh niên”, đăng trên tạp chí Thanh Niên số 8 năm 1982; Báo cáo: “Một con đường hình thành lý tưởng nghề nghiệp cho học sinh lớn”; các tác phẩm như: “Nghề nghiệp tương lai - giúp bạn chọn nghề” hay cuốn “Tư vấn hướng nghiệp - sự lựa chọn cho tương lai” Trong một công trình nghiên cứu gần đây, tác giả đã chỉ ra rằng: “Công tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế” Bởi vì theo tác giả, đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH , cơ cấu kinh tế sẽ chuyển theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ Xu hướng chọn nghề của thanh niên phù hợp với xu hướng chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của công nghiệp
GS.TS Nguyễn Văn Hộ cũng là một trong những người rất tâm đắc và nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục hướng nghiệp [11] Trong luận án tiến sĩ của mình, tác giả đã đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” Tác giả đã xây dựng được luận chứng cho hệ thống giáo dục hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Gần đây (2006), ông cũng đã cho xuất bản cuốn sách: “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT” Cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống
về cơ sở lí luận của GDHN, vấn đề tổ chức GDHN trong trường THPT và giảng dạy
kĩ thuật ở nhà trường THPT trong điều kiện kinh tế thị trường và sự nghiệp CNH - HĐH đất nước hiện nay Trong thời gian gần đây, nhằm hiện thực hoá những phương hướng, mục tiêu mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra về GDHN
và phân luồng học sinh phổ thông, đã có rất nhiều những nghiên cứu về hướng nghiệp ở nhiều cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với sự đa dạng trong nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của giảng viên Khoa Tâm lý (Đại học Sư phạm Hà Nội)
đã rút ra kết luận: (1) Các hình thức hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông hiện
Trang 22tại chưa thực sự phong phú và được tổ chức thường xuyên Nhiều hình thức hấp dẫn, có sức thuyết phục tốt như tham quan thực tế các cơ sở sản xuất địa phương, nghe các nghệ nhân nói chuyện về nghề … ít được thực hiện (2) Nhu cầu tìm hiểu nghề là nhu cầu chính đáng của học sinh, nhưng khi tìm hiểu về nghề thì các em gặp phải rất nhiều khó khăn như nhà trường ít tổ chức hướng nghiệp, các nội dung hướng nghiệp thực hiện không đồng bộ (3) Do tác động của nhà trường trong việc hướng nghiệp chưa cao nên các thông tin về nghề mà học sinh thu nhận được khi chọn nghề phần lớn từ các kênh ngoài nhà trường như từ cha mẹ, người thân, từ những người đang làm trong nghề đó hay từ các sách báo hoặc phương tiện thông tin đại chúng khác
Bài viết của tác giả Huỳnh Văn Sơn được đăng trên tạp chí Khoa học và
công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 2(43)2011 “Đánh giá của học sinh về hiệu quả của
hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông tỉnh Bình Dương” đã nêu lên những đánh giá của học sinh về hiệu quả của các hoạt động
hướng nghiệp trong trường phổ thông đồng thời lí giải nguyên nhân tại sao hoạt động hướng nghiệp chưa đạt hiệu quả cao Từ đó, tác giả đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp
Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu việc tổ chức tư vấn nghề cho sinh
viên trong trường đại học” của GS.TS Nguyễn Minh Thuyết và TS Trịnh Văn
Tùng đề cập tới thực trạng nhận thức về hướng nghiệp và tư vấn nghề của sinh viên hiện nay cũng như những yếu tố tác động đến hướng nghiệp hay xu hướng chọn nghề của họ để từ đó tìm ra phương thức tư vấn nghề (lời khuyên chọn nghề) phù hợp nhất; phân tích các mô hình tư vấn nghề khác nhau ở một số nước tiên tiến để từ đó rút
ra những bài học quý báu về mặt lí luận cũng như về mặt thực tiễn nhằm cung cấp những yếu tố cơ bản cho công tác tư vấn nghề Nghiên cứu này cũng đã đề xuất mô hình tư vấn nghề cho sinh viên các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận án tiến sỹ “Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ
thông theo tinh thần xã hội hoá” của tác giả Bùi Việt Phú đã làm sáng tỏ các điểm
như: Tổ chức giáo dục hướng nghiệp; xã hội hoá - tinh thần xã hội hoá; Giáo dục
Trang 23hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hóa; Những quan điểm đổi mới tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT; Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá
Ngoài ra còn có rất nhiều đề tài các cấp, luận văn cao học, luận án tiến sĩ, các bài báo, báo cáo khoa học nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp được trình bày trong nhiều hội thảo Khi nghiên cứu vấn đề này, các tác giả thường đặt mục tiêu tìm hiểu về định hướng nghề nghiệp, về những dự định việc làm nghề nghiệp và nói chung, về hiện trạng lao động - việc làm - nghề nghiệp xã hội của giới trẻ
Đề tài của chúng tôi thực hiện trên địa bàn Hà Nội nhằm tìm hiểu thực trạngGDHN, ảnh hưởng của GDHN trong nhà trường tới nhận thức, thái độ và hành
vi lựa chọn ngành nghề của học sinh của 2 trường THPT cụ thể từ đó suy rộng ra các trường cùng khu vực Tìm ra những điểm mới trong nhận thức, xu thế chọn ngành nghề của học sinh THPT trước sự thay đổi của nền kinh tế đất nước cùng với những yếu tố khác như : khoa học kĩ thuật, thông tin đại chúng đã tác động tới nhận thức, tư duy của học sinh như thế nào? Đồng thời, chúng tôi cũng đề xuất những giải pháp cụ thể và hữu hiệu cho nhà trường nhằm thực hiện tốt công tác giáo dục
hướng nghiệp
1.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này tác giả đã lựa chọn hai trường THPT trên địa bàn
Hà Nội : Trường THPT Yên Hoà và Trường THPT Cao Bá Quát Hai trường được tác giả lựa chọn có lịch sử hình thành gần giống nhau và đại diện cho hai khu vực khác nhau là khu vực nông thôn và khu vực thành thị
1.2.1 Trường THPT Yên Hoà - Cầu giấy
Địa chỉ: 251 Nguyễn Khang - Yên Hoà - Cầu Giấy - Hà Nội
Lịch sử và thành tích của nhà trường
Trường phổ thông cấp II – III Yên Hoà được thành lập năm 1960 , năm học đầu tiên trường chỉ có hai lớp 8 đến năm 1961, Trường chính thức mang tên Trường phổ thông cấp III Yên Hoà
Bước vào những năm chống Mỹ cứu nước đầy thử thách cẳng thẳng, giáo
viên và học sinh Yên Hoà đã nỗ lực thi đua “dạy tốt và học tốt” Trong 5 năm liền
Trang 24(1965 -1970), Trường liên tục được công nhận là Trường tiên tiến chống Mỹ cứu nước của Sở giáo dục Hà Nội Ngoài ra, Trường còn được nhận Bằng khen của Bộ Giáo dục, uỷ ban nhân dân (UBND) Thành phố Hà Nội và của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Trong 10 năm (1975 – 1985), Trường liên tiếp 3 lần đạt danh hiệu Trường tiên tiến xuất sắc, 2 lần được nhận Cờ thi đua luân lưu của UBND Thành phố Hà Nội Đến 1990, Trường vinh dự được Hội đồng Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba Năm 1999, Trường được tặng Huân chương Lao động hạng Ba lần thứ hai Từ năm học 1992-1993 đến nay, Trường liên tục giữ vững ngọn cờ tiên tiến xuất sắc
Năm học 2003-2004, cùng với 6 trường trong Thành phố, trường THPT Yên Hoà đã thực hiện thí điểm phân ban lần 2
Năm học 2005-2006, trường THPT Yên Hoà đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì
xếp thứ 25/100 trường THPT có chất lượng đào tạo tốt nhất toàn quốc Năm 2007 trường đứng thứ hạng cao của Hà Nội có điểm thi ĐH cao Năm 2008, Trường đứng thứ 100/200 trường có điểm thi ĐH cao nhất cả nước và đứng trong top 5 trường THPT không chuyên của Hà Nội có điểm thi ĐH cao nhất
Đội ngũ giáo viên và nhân viên của trường
Hiện tại trường có 78 cán bộ trong đó, Ban giám hiệu là 4 và 74 cán bộ phân
ở các bộ môn khác nhau: Tổ toán tin (17 cán bộ); Tổ Văn (9 cán bộ); Tổ Vật lí –KT- TD (11 cán bộ); Tổ Xã hội (11 cán bộ); Tổ Tự nhiên (14 cán bộ); Tổ Ngoại ngữ (6 cán bộ); Tổ Hành chính (6 cán bộ)
1.2.2 Trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm
+ Địa chỉ: Địa chỉ: Số 57 đường Cổ Bi, huyện Gia Lâm, Hà Nội
+ Lịch sử và thành tích của nhà trường
Trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm thành lập năm 1961, trải qua chặng đường 49 năm xây dựng và phát triển, trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm đã từng bước trưởng thành và khẳng định vị thế của mình trong ngành giáo dục và đào
Trang 25tạo Hà Nội: Một ngôi trường có bề dày truyền thống dạy tốt, học tốt và là một địa chỉ đáng tin cậy của con em nhân dân huyện Gia Lâm và thành phố Hà Nội
Từ sự chỉ đạo sát sao, đúng đắn của ban giám hiệu (BGH) nhà trường cùng với
sự phấn đấu không mệt mỏi của tập thể giáo viên, 5 năm trở lại đây tỉ lệ đỗ tốt nghiệp của trường luôn đạt từ 98% đến 100% Học sinh thi đỗ vào các trường ĐH,
CĐ đạt từ 60 đến 80% (riêng học sinh thi đỗ vào trường đại học nguyện vọng 1 năm 2011-2012 đạt 60%)
Từ năm học 2006-2007 đến nay, trường liên tục được xếp vào tốp 200 trường THPT có tỉ lệ thi đỗ đại học cao nhất cả nước Năm học 2010-2011 tỉ lệ tốt nghiệp THPT đạt 100%, có 1 giáo viên đạt giải Nhất thi giáo viên dạy giỏi môn Vật Lý cấp
TP, 25 thầy cô được công nhận là chiến sĩ thi đua Tại kì thi học sinh giỏi, việc học sinh khối lớp 12 đạt 14 giải đã biến năm học 2010 - 2011 là năm có số giải cao nhất
từ trước đến nay
Ngoài bề dày thành tích học tập, Trường THPT Cao Bá Quát còn được biết đến bởi nét đặc trưng về quan điểm xây dựng và thực hiện tốt các phong trao như: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (được Huyện ủy Gia Lâm tặng giấy khen), “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” (được Chủ tịch UBND TP.Hà Nội tặng Bằng khen) “Mỗi thày cô giáo là một tấm gương đạo đức,
tự học và sáng tạo” (được Giám đốc Sở GD & ĐT tặng Giấy khen) Từ đó, chất lượng giáo dục, hoạt động phong trào, ngoài giờ của trường không ngừng được nâng cao và nhận được sự tín nhiệm của đông đảo phụ huynh, học sinh trên địa bàn Sau hơn 50 năm trưởng thành và phát triển, thầy trò trường THPT Cao Bá Quát vô cùng tự hào vì đã đạt được nhiều thành tích đáng trân trọng: Nhiều năm liên tiếp được công nhận là: Tập thể lao động xuất sắc, được UBND thành phố Hà Nội, Bộ GD & ĐT, Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen và đặc biệt trường đã 2 lần vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động (hạng Ba
năm 1976 và hạng Nhì năm 1983)
Đội ngũ học sinh
Tổng số lớp: 38 lớp và tổng số học sinh: 1774
Trang 26Đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên
Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường tính đến thời điểm tháng 01 năm 2010 là 88 người trong đó ban giám hiệu có 03 người; giáo viên có 77 người
và nhân viên có 08 người
Về chất lượng đội ngũ, 100% đạt chuẩn đào tạo, trong đó có 22 thạc sỹ chiếm 27,5 %; giáo viên đang học cao học 04 Trong ban giám hiệu có 02 người có trình độ Thạc sỹ; các bộ phận chức năng, phụ trách công tác đoàn thể đều có trình
độ Thạc sỹ hoặc là giáo viên giỏi cấp thành phố
1.3 Những khái niệm công cụ
1.3.1 Khái niệm vai trò
Theo từ điển xã hội học Oxford (nhóm dịch giả: Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt Phương, Trịnh Huy Hoá) nói đến vai trò tức là nhấn mạnh vào những kì vọng
xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích sự vận hành của những kì vọng ấy Có hai cách tiếp cận khác nhau trong lí thuyết vai trò:
Theo cách tiếp cận thứ nhất là phát triển nhân học xã hội, Ralph Linton giải thích cấu trúc về các vai trò trong hệ thống xã hội Ở đây, vai trò trở thành các nhóm quyền lợi và nghĩa vụ quy chuẩn được thiết chế hoá nghiêm ngặt Nghiên cứu nổi tiếng của Talcott Pasons về vai trò đau ốm là một ví dụ điển hình
Nội dung cách tiếp cận thứ nhất bao gồm:
Cách giải thích cấu trúc về vai trò , xác định một vị thế trong xã hội ví dụ : Vai trò của một giáo viên và sau đó cố gắng mô tả một quyền lợi và trách nhiệm chuẩn mực gắn với một kiểu loại lí tưởng của vị trí này
Những kì vọng xã hội ấy cấu thành vai trò Bất cứ ai cũng giữ một vị thế (như làm cha mẹ, làm giáo viên) Nó tạo nên một hệ các vị thế, mỗi một vị thế chứa đựng một vai trò riêng của nó
Mỗi một vai trò lại gắn với một nhóm đối tác khác nhau và mỗi nhóm đó lại
có một hệ các kỳ vọng riêng của họ Ví dụ: Một giáo viên có thể có các đối tác vai trò là sinh viên, đồng nghiệp, trưởng khoa, người quản lí và phụ huynh, mỗi người trong số họ sẽ có những kỳ vọng tương đối khác nhau về hành xử của giáo viên
Trang 27Tổng những kỳ vọng của những đối tác này gọi là hệ vai trò
Theo cách tiếp cận thứ hai là tiếp cận tâm lí học xã hội, các tác giả tập trung vào các quy trình chủ động tạo dựng, tiếp nhận và đóng vai trò Đây là một phần của truyền thống tương tác biểu trưng và kịch trường trong đó truyền thống kịch trường phân tích đời sống xã hội thông qua phép ẩn dụ nghệ thuật sân khấu
Nội dung cách tiếp cận thứ hai gồm:
Cách tiếp cận này tập trung nhiều hơn vào những khía cạnh chức năng của vai trò, nó xem xét những tương tác mà từ đó con người đóng các vai trò của mình chứ không phải mô tả vị trí của những vai trò ấy trong cơ cấu xã hội Ở đây nhấn mạnh những cách thức mà một người thực hiện những vai trò của người khác (thực hiện vai trò), xây dựng vai trò của mình (tạo dựng vai trò) dự kiến những phản ứng của những người khác đối với vai trò của mình và cuối cùng là đóng vai trò cụ thể của mình (đóng vai trò)
Trong một số phiên bản của quan điểm này (ví dụ như phiên bản của Erving Goffman) người ta chú ý đến những cách thể hiện vai trò: đôi khi con người thực hiện đầy đủ vai trò của mình (nắm vai trò) và thể hiện vai trò đó một cách hết sức
cụ thể nhưng lúc khác người ta có thể thực hiện vai trò đó một cách thiếu nghiêm túc (cách biệt vai trò) cho thấy rằng họ không hề đơn giản như các vai trò mà họ đóng Hoặc họ có thể đóng vai trò một cách bất chấp đạo lý để chế ngự những hệ quả của tình huống Trong tất cả những giải thích ấy thì người ta quan tâm đến diễn tiến của việc làm việc với các vai trò khi mà vai trò không phải là những kỳ vọng bất biến mà những hệ quả nổi lên
Vận dụng khái niệm vai trò vào đề tài nghiên cứu, có thể thấy vai trò của cấu trúc xã hội (vai trò của nhà trường) trong định hướng lựa chọn ngành nghề cho HS THPT Theo quan điểm thứ nhất, vai trò thể hiện ở sự tương tác giữa HS và nhà trường, ở đó HS có kỳ vọng rất lớn vào nhà trường trong việc thoả mãn những mong muốn của bản thân về sự lựa chọn nghề nghiệp tương lai như: Muốn có được thông tin đầy đủ về nghề, đánh giá đúng năng lực của bản thân, biết được những yêu cầu của nghề đối với người lao động, được tư vấn lựa chọn ngành học, được tư
Trang 28vấn lựa chọn nghề để làm sao có được sự lựa chọn đúng đắn nhất Tuy nhiên, HS có lựa chọn ngành nghề của mình theo hướng nghiệp của nhà trường hay không còn phụ thuộc vào việc nhà trường đã thực hiện tốt vai trò đó hay chưa Đồng thời nhà trường với tư cách là cấu trúc của hệ thống khi thực hiện vai trò của mình cũng mong muốn HS lĩnh hội kiến thức học được từ hoạt động hướng nghiệp để có lựa chọn nghề đúng đắn nhất Quan điểm thứ hai nhấn mạnh đến khía cạnh chức năng của vai trò Ở đây, vai trò thiết chế là GDHN và vai trò bên trong nó (chức năng) là học sinh tiếp nhận vai trò đó như thế nào? Học sinh có hứng thú với hoạt động hướng nghiệp không? Học sinh đánh giá như thế nào về hiệu quả của hoạt động GDHN ? học sinh lựa chọn nghề nghiệp như thế nào có phù hợp với hướng nghiệp không? Mỗi cách tiếp cận có cái nhìn khác nhau về vai trò, tuy nhiên, đều tập trung vào tương tác giữa cá nhân (HS) và cấu trúc xã hội (nhà trường), kỳ vọng của HS vào vai trò nhà trường trong hoạt động hướng nghiệp và những tiếp nhận của HS đối với vai trò đó
1.3.2 Khái niệm định hướng
+ Định hướng là xác định phương hướng, là việc chủ thể hành động đưa ra một hướng đi với hoạt động nào đó trên cơ sở cân nhắc kỹ khả năng, tài chính của từng đối tượng Mục đích cuối cùng của định hướng là có được một hướng đi phù
hợp với mọi điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể [2, tr 24]
+ Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi quan tâm đến việc những học sinh dựa trên cơ sở những điều kiện của bản thân như năng lực của bản thân, sở thích, các mối quan hệ, sự hiểu biết, tài chính đã chọn ra cho mình một ngành nghề phù hợp với bản thân
1.3.3 Khái niệm lựa chọn
Lựa chọn tức là nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện
có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Cách hiểu này lúc đầu mang nặng ý nghĩa kinh tế học vì nhấn mạnh yếu tố lợi ích vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) nhưng sau này các nhà xã hội học mở rộng phạm vi của mục tiêu
Trang 29bao gồm các yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần.[12, tr 354]
Áp dụng vào đề tài nghiên cứu có thể thấy HS THPT khi lựa chọn ngành nghề cho tương lai của mình cũng phải suy nghĩ để lựa chọn ngành nghề phục vụ lợi ích bản thân Mặc dù hướng nghiệp trong nhà trường có ảnh hưởng tới nhận thức của HS khi đánh giá tầm quan trọng của nó Tuy nhiên hành vi lựa chọn của học sinh vẫn cần sự cân nhắc bởi họ tính toán về phần thưởng mà họ có thể đạt được
1.3.4 Khái niệm nghề nghiệp
Nghề hay nghiệp, theo đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hoá thông tin - 1998) định nghĩa “ Nghề: công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội”; còn “Nghề nghiệp là nghề nói chung”[21]
Theo từ điển Tiếng Việt (Văn Tân chủ biên, Nxb Khoa học xã hội-1991) thì định nghĩa “ Nghề là công việc hàng ngày làm để sinh nhai”, “ Nghề nghiệp là nghề làm để mưu sống”, còn từ điển Larousse của Pháp có định nghĩa “ Nghề nghiệp ( profession) là hoạt động thường ngày được thực hiện bởi con người nhằm tự tạo nguồn thu nhập cần thiết để tồn tại”
Theo E.A Klimôp: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnh vật chất
và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có) Nó tạo cho mỗi con người khả năng sử dụng phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển.[11]
Theo GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ: “ Nghề nghiệp như là một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân.[11]
Qua một số quan niệm về nghề nghiệp có thể hiểu ngắn gọn, nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nhất định, có phẩm chất, đạo đức phù hợp với yêu cầu của dạng lao động tương ứng Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo
Trang 30ra sản phẩm thoả mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của cá nhân và xã hội [11]
Như vậy, vận dụng vào đề tài nghiên cứu chúng ta có thể thấy nhà trường có vai trò to lớn không chỉ truyền đạt cho học sinh kiến thức, kĩ năng mà còn giúp học sinh có cái nhìn đúng đắn về nghề nghiệp, biết được năng lực, yêu cầu tâm lí cũng như sức khoẻ phù hợp với ngành nào trong xã hội để từ đó lựa chọn đúng ngành nghề mà mình yêu thích
Đi đôi với khái niệm nghề nghiệp là khái niệm việc làm Trong luật lao động quy định tại điều 13: “ Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được nhận là việc làm” Như vậy, hai khái niệm nghề nghiệp và việc làm rất gần nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không đồng nhất Nghề nghiệp được coi là việc làm nhưng không phải việc làm nào cũng là nghề nghiệp Những việc làm nhất thời, không ổn định do con người bỏ sức lao động
giản đơn và được trả công để sinh sống thì không phải là nghề nghiệp
1.3.5 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa: “Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp cho con người lựa chọn và xác định nghề nghiệp của bản thân trong cuộc sống tương lai trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu xã hội”
Với những người chưa tham gia lao động nghề nghiệp, đang trong giai đoạn lựa chọn nghề thì việc giám định lao động với họ được gọi là hướng nghiệp Nhìn
chung, công tác hướng nghiệp trong nhà trường (tức là hướng nghiệp cho thanh, thiếu niên đang học tập, chưa đi vào một nghề nhất định) là những tác động về tâm
lý, giáo dục và y học đối với một người cụ thể, nhằm giúp họ có cơ sở lý giải trong việc lựa chọn cho mình một nghề nào đó Nói cách khác, đó là công việc giúp đỡ
con người chọn nghề một cách hợp lý
Công tác hướng nghiệp gồm ba bộ phận cấu thành, được nhà tâm lý học Xô viết K.K Platonov khái quát bằng “Tam giác hướng nghiệp” Dưới đây là hình tam giác
Trang 31Tam giác hướng nghiệp
Hình tam giác ABC trên đây biểu thị một khối lượng tri thức cần cho công tác hướng nghiệp
- Cạnh AB biểu thị những tri thức về thế giới nghề nghiệp và những yêu cầu của nghề đặt ra đối với người lao động
- Cạnh AC là những tri thức về thị trường lao động (những lĩnh vực lao động đang cần nhân lực bổ sung và yêu cầu về từng nguồn nhân lực v.v…)
- Cạnh BC là lĩnh vực hiểu biết về đặc điểm nhân cách của người cụ thể (đặc điểm của quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ; đặc điểm của tính cách
Trang 32hướng cần thiết trong việc chọn nghề tương lai: Lĩnh vực lao động nào đang cần tuyển chọn người; đi vào nghề của lĩnh vực đó thì con người phải đáp ứng những yêu cầu nào của lĩnh vực lao động nghề nghiệp đó đặt ra v.v…Công việc này gọi là
định hướng nghề
Căn cứ vào sự phát triển của thị trường lao động, vào những năng lực thể chất cũng như năng lực tinh thần của từng con người, người ta quyết định nhận người này
vào nghề này, những người khác vào nghề kia Đó là khâu tuyển chọn nghề
Căn cứ vào năng lực cụ thể, dựa trên nghiên cứu, đo đạc những phẩm chất nhân cách của con người và vào những yêu cầu của từng nghề, người ta đưa ra
những lời khuyên chọn nghề Công việc đó gọi là tư vấn nghề
Qua sơ đồ “Tam giác hướng nghiệp” nhà trường làm công tác triển khai hoạt động tư vấn, định hướng nghề giúp học sinh hiểu rõ các nghề tương ứng với sở thích và năng lực của bản thân giúp học sinh có thể lựa chọn ngành nghề phù hợp đáp ứng nhu cầu bản thân cũng như lợi ích của xã hội
1.4 Cơ sở lý luận
1.4.1 Thuyết lựa chọn duy lý
Thuyết lựa chọn duy lý hay còn được gọi là lý thuyết lựa chọn hợp lý (Rational choice Theory) dựa vào tiên đề cho rằng, con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Định đề cơ bản của thuyết duy lý được Homans diễn đạt theo kiểu định lý toán học như sau: “Khi lựa chọn trong số các hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách mà họ cho là tích (C) của xác xuất thành công của hành động đó (ký hiệu là P) với giá trị mà phần thưởng của hành động đó (V) là lớn nhất C = (P x V) = Maximum” [12] Còn theo John Elster: “Khi đối diện với một số cách hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất”[12,354-355] Thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu ra của từng lựa chọn cùng các đặc điểm khác
Trang 33Vận dụng vào đề tài nghiên cứu có thể thấy hoạt động hướng nghiệp có ảnh hưởng nhiều hay ít đến việc quyết định lựa chọn ngành nghề cho tương lai của học sinh còn phụ thuộc vào mong đợi của học sinh với việc hướng nghiệp, xem vai trò của nhà trường đã thực hiện tốt công tác hướng nghiệp chưa, đã đáp ứng nhu cầu được cung cấp thông tin về các nghề hiện có trong xã hội, yêu cầu nghề, sự phù hợp nghề, xem nghề đó có phù hợp với sở thích, năng lực của bản thân học sinh chưa
Để từ đó học sinh có thể đưa ra quyết định lựa chọn ngành nghề cho mình Sự lựa chọn hướng học và hướng nghiệp ở đây sẽ được nghiên cứu xem bị ảnh hưởng bởi môi trường, cơ hội nghề nghiệp, năng lực và đặc điểm cá nhân như thế nào
1.4.2 Lý thuyết hành động xã hội
Lý thuyết về hành động xã hội bắt nguồn từ V Pareto, M Weber, F Znaniecki, G Mead… Các tác giả này đều cho rằng, hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người và xã hội, là cơ sở của đời sống xã hội của con người Theo M Weber, “hành động xã hội là một hành vi mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định “Động cơ” bên trong của chủ thể như là nguyên nhân của hành động” [3, tr 130] Như vậy, bất kỳ hành động xã hội nào cũng có sự tham gia của yếu
tố ý thức với các mức độ khác nhau Đây là cái mà M Weber gọi là ý nghĩa chủ quan
và sự định hướng mục đích, còn G Mead gọi là tâm thế xã hội của các cá nhân
Hành động xã hội luôn gắn với tính chủ động của cá nhân và tính chủ động này bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như: nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị của chủ thể hành động
Hành động xã hội được cấu trúc nên bởi nhiều thành tố khác nhau, giữa các thành tố này có mối liên quan hữu cơ với nhau theo sơ đồ sau:
Khởi đầu của hành động xã hội bao giờ cũng là nhu cầu, lợi ích của cá nhân,
Hoàn cảnh
phương tiện Mục đích
Trang 34đây là động cơ thúc đẩy hành động Động cơ tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động Bất kỳ hành động nào cũng cần có chủ thể Chủ thể hành động có thể là cá nhân, nhóm, cộng đồng hay toàn thể xã hội Ngoài ra, để tạo nên hành động cũng cần có môi trường Đó chính là điều kiện mà ở trong đó hành động được diễn ra Tùy theo từng hoàn cảnh khác nhau mà các chủ thể sẽ tạo ra hành động phù hợp nhất với hoàn cảnh đó Theo lí thuyết hành động xã hội, có thể thấy rằng việc lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau như: hướng nghiệp của nhà trường, tư vấn của cha mẹ, lời khuyên từ bạn bè, thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng song một yếu tố quan trọng không thể không nói đến đó là nhu cầu
sở thích của bản thân cá nhân khiến cá nhân quyết định chọn ngành nghề này mà không chọn ngành nghề khác
1.4.3 Lý thuyết xã hội hóa
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về xã hội hóa Nhà xã hội học người Mỹ Neil Smelser cho rằng: “Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình” [3]
Fichter, một nhà xã hội học người Mỹ khác cho rằng: “Xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động, và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó”[3] Nếu như định nghĩa của Smelser cho rằng, vai trò của các cá nhân trong quá trình xã hội hóa chỉ là tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực mà không đề cập đến khả năng các cá nhân này có thể tạo ra những kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực để các cá nhân khác học theo Trong khi Fichter chỉ mới chú ý hơn đến tính tích cực của cá nhân trong quá trình xã hội hóa thì nhà khoa học người Nga là G Andreeva đã nêu được hai mặt của quá trình xã hội hóa: “Xã hội hóa là quá trình hai mặt Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội” [3, tr 258 - 259]
Trang 35Có rất nhiều môi trường xã hội hóa khác nhau, một trong số đó là gia đình, trường học và các tổ chức trước tuổi đi học, các nhóm thành viên và truyền thông đại chúng
Gia đình là môi trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất của mỗi cá nhân Mỗi gia đình là một tiểu văn hóa với những truyền thống riêng, lối sống riêng… Mỗi cá nhân sẽ tiếp nhận những giá trị, cách cư xử từ chính ông bà, cha mẹ, anh chị của mình Đến khi
cá nhân lập gia đình, họ lại tham gia vào một quá trình xã hội hóa mới
Trường học và các tổ chức trước tuổi đi học là nơi học sinh được cung cấp những kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội, văn hóa làm nền tảng cho cuộc sống sau này Thời kỳ này cũng giúp cho cá nhân hình thành được nhiều những tương tác và các mối quan hệ xã hội
Các nhóm thành viên như lớp sinh viên, tập thể lao động, nhóm bạn cùng sở thích… là nhóm xã hội hóa quan trọng thứ hai sau gia đình Các nhóm này giúp cho các cá nhân thu nhập các kinh nghiệm xã hội theo cả con đường chính thống và phi chính thống
Thông tin đại chúng là phương tiện cung cấp thông tin chủ yếu cho các cá nhân, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay Những thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng sẽ giúp cho các cá nhân có những định hướng và quan điểm đối với các sự kiện xảy ra trong cuộc sống hàng ngày
Quá trình xã hội hóa đóng góp một vai trò quan trọng giúp học sinh hình thành nhân cách, học tập kỹ năng kĩ xảo, được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, có thông tin và hiểu biết về các nghề mà xã hội đang cần ứng với trình độ, năng lực cũng như
sở thích của bản thân để có thể lựa chọn được nghề phù hợp với bản thân, gia đình
và xã hội Để sau khi hoàn thành khoá học có thể vận dụng kiến thức có được trong nhà trường vào công việc góp phần nâng cao năng suất lao động
1.4.4 Lý thuyết vai trò
Lý thuyết này do Ralph Linton sáng lập Ông cho rằng vị thế là vị trí trong cấu trúc xã hội với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng và vai trò là kiểu hành vi tương ứng với sự mong đợi của những người khác xung quanh Linton cho rằng,
Trang 36mỗi một vị thế có một vai trò tương ứng Sau đó, R.K Merton đã mở rộng khái niệm của Linton khi cho rằng một vị thế có nhiều vai trò mà ông gọi là “hệ vai trò” Theo Merton, “hệ vai trò” để chỉ một cấu trúc gồm các vai trò và các quan hệ của chúng mà cá nhân thực hiện khi nắm giữ một vị thế xã hội nhất định[12, tr 247-248] Tác giả này đặc biệt quan tâm đến hệ vai trò vì khái niệm này liên quan trực tiếp đến chức năng Vai trò chính là chức năng mà hành vi cá nhân hay thiết chế xã hội thực hiện đảm nhận thực hiện
Như vậy, nhà trường là một thiết chế xã hội thực hiện chức năng giáo dục trong đó GDHN là một phận cấu thành nên hoạt động giáo dục Hiện nay, hoạt động hướng nghiệp trong trường phổ thông đang gặp nhiều bất cập, công tác hướng nghiệp chưa thực sự hiệu quả đòi hỏi các cơ quan chức năng phải hỗ trợ giúp các trường có thể thực hiện tốt chức năng GDHN của mình nhằm giúp HS có phương hướng đúng đắn trong lựa chọn ngành nghề
1.4.5 Lý thuyết mạng xã hội
Mỗi cá nhân trong xã hội không sống đơn độc mà thuộc về nhiều nhóm khác nhau, phần lớn cuộc đời chúng ta sống trong các nhóm đó Mỗi chúng ta, trong cuộc sống của mình, duy trì một mạng lưới xã hội, đó là phức thể các mối quan hệ xã hội
do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống thực của họ với tư cách là thành viên của xã hội
Các mạng lưới xã hội bao gồm các quan hệ đan chéo chằng chịt như quan hệ gia đình, thân tộc, bạn bè, đảng phái, nghề nghiệp… là một phần quan trọng của cơ cấu xã hội Thông qua mạng lưới xã hội, các cá nhân và các nhóm xã hội có sự trao đổi về thông tin, kiến thức…
Trong quá trình học sinh lựa chọn ngành nghề mạng xã hội đóng góp một vai trò quan trọng Các yếu tố như gia đình, bạn bè, nhà trường, truyền thông là những yếu tố quan trọng cung cấp thông tin giúp cho học sinh hình thành nên các định hướng của mình
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 2.1 Một số vấn đề phổ biến công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông
Hiện nay, công tác GDHN trong trường THPT tại Hà Nội đang được phổ biến rộng rãi Biểu hiện thông qua một số yếu tố khác nhau như: Thời điểm học sinh được GDHN; thời gian dành cho hoạt động GDHN; mục đích của GDHN; nội dung; hình thức của GDHN và thái độ, hành vi của HS khi tham gia vào hoạt động GDHN
2.1.1 Thời điểm học sinh được giáo dục hướng nghiệp
Qua kết quả khảo sát 350 HS tại Trường THPT Yên Hoà và Trường Cao Bá Quát Hà Nội chúng tôi thấy 100% học sinh đã được GDHN Điều này phản ánh sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển toàn diện cho học sinh, công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông dần được triển khai theo tinh thần văn kiện đại hội IX của Đảng đồng thời cho thấy ý thức về việc hướng nghiệp cho học sinh ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, do đặc điểm khu vực khác nhau nên thời điểm hướng nghiệp đối với học sinh cũng khác nhau Điều này thể hiện rõ qua biểu
đồ dưới đây:
Biểu đồ 2.1: Thời điểm học sinh được GDHN trong nhà trường (đơn vị %)
58.9 28.9
7.4 4.9
Trước khi vào cấp 3 Lớp 10
Lớp 11 Lớp 12
Trang 38Nhìn vào biểu đồ, chúng ta thấy phần lớn học sinh đánh giá đã được GDHN từ trước khi vào cấp THPT và vào lớp 10 Tỷ lệ này chiếm tới 87.8% trong đó được GDHN trước khi vào cấp THPT chiếm 58.9%, được GDHN từ lớp 10 chiếm 28.9% Điều này có thể lí giải, hiện nay GDHN gắn liền với học nghề ở cuối cấp THCS nên HS được hướng nghiệp sớm Việc học nghề gắn liền với lợi ích sát sườn là
khuyến khích cộng điểm khi thi vào cấp THPT nên HS quan tâm theo đuổi GDHN
Thời điểm HS được GDHN trong nhà trường cũng có sự khác biệt giữa hai khu vực nông thôn và thành thị
Bảng 2.1: Thời điểm học sinh được GDHN phân theo địa bàn cư trú
( đơn vị %)
Thời điểm học sinh
được GDHN
Địa bàn cư trú Thành thị Nông thôn
để tổ chức các hoạt động GDHN nên cơ hội được hướng nghiệp từ sớm nhiều hơn
Trong khi đó ở có tới 18.9% học sinh ở khu vực nông thôn cho rằng đến lớp
11, 12 mới được GDHN Qua tìm hiểu chúng tôi được biết cả hai trường đều đã thực hiện giảng dạy nội dung hướng nghiệp ngay từ lớp 10 và có những kế hoạch giảng dạy đều đặn phân chia thành các chủ đề khác nhau vào các tháng (mỗi tháng 1 tiết) ở tất cả các khối lớp Có lẽ một số học sinh chưa để ý nên đã không biết mình được GDHN từ khi nào hoặc do các bài học quá mờ nhạt khiến học sinh không nhớ rõ
Trang 392.1.2 Thời gian dành cho GDHN trong nhà trường
Thời lượng dành cho GDHN ở mỗi trường khác nhau với nội dung và hình thức khác nhau Tuy nhiên, đa số HS cho rằng thời gian dành cho hoạt động hướng nghiệp chưa nhiều Điều này phản ánh qua biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 2.2: Thời gian dành cho giáo dục hướng nghiệp ở trường
trong một tuần (đơn vị %)
Qua khảo sát 350 học sinh có tới 174 HS (49.7%) cho rằng, hoạt động GDHN được tiến hành dưới 1 giờ/tuần, tiếp đến 142 HS (40.6%) nhận xét tổng thời gian dành cho GDHN trong một tuần ở trường từ 1- 2giờ Còn lại 9.7% số HS trả lời thời gian nhà trường GDHN cho HS từ 3-4 giờ hoặc trên 4 giờ /tuần Như vậy, có thể thấy thời gian dành cho các môn học cơ bản chiếm thời lượng nhiều trong khi môn GDHN là môn học quan trọng, qua đó HS có thể lĩnh hội những kiến thức về nghề nghiệp cho tương lai, có được thông tin về nghề, được tư vấn nghề và dạy nghề chiếm rất ít thời gian Với thời lượng từ 1-2 giờ/tuần giáo viên không thể truyền tải hết lượng thông tin cần thiết giúp các em có định hướng ngành nghề phù hợp Điều
đó đồng nghĩa với việc HS không nắm được hết thông tin về ngành nghề mình định chọn Chính vì vậy, khi được hỏi về tính hợp lí của thời gian GDHN, 75.7% HS cho rằng thời gian dành cho hoạt động GDHN trong nhà trường chưa hợp lí, chỉ có 24.3% thấy thời gian GDHN như vậy là hợp lí Đa số học sinh có mong muốn tăng
Trang 40thời gian cho GDHN để các em có thể lĩnh hội đầy đủ những thông điệp về nghề, có thể trực tiếp trao đổi hỏi ý kiến thầy cô về nghề mình dự định cho tương lai để thầy
cô cho lời khuyên phù hợp
“Em thấy thời gian hướng nghiệp hiện nay ít Nhiều khi muốn trao đổi với thầy
cô về ngành nghề mình định chọn cũng rất khó Vì thế học gần hết lớp 12 rồi em vẫn chưa có lời khuyên phù hợp về chọn nghề.”
(Nữ , lớp 12, Trường THPT Yên Hoà, học lực khá)
2.2 Mục đích của hoạt động GDHN trong trường THPT
Do thực hiện Luật giáo dục cũng như áp dụng Chỉ thị số 33/2003/CT - BGD
& ĐT về chương trình giáo dục phổ thông nên các trường đã tiến hành việc tăng cường GDHN Hoạt động đó nhằm cung cấp thông tin về các nghề hiện có trong xã hội; dạy một số nghề cơ bản chuẩn bị kỹ năng lao động cần thiết giúp HS chuẩn bị bước vào cuộc sống và lao động; giúp HS chuẩn bị ngành nghề và thi vào các trường CĐ, ĐH, THCN đặc biệt giúp HS chọn đúng ngành nghề trên cơ sở của sự phù hợp giữa năng lực, hứng thú, sở thích của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội
Biểu đồ 2.3: Mục đích của hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường trung
1 Giúp HS chọn ngành nghề trên cơ
sở của sự phù hợp giữa năng lực,
sở thích, hứng thú của cá nhân với nhu cầu của xã hội
2 Cung cấp thông tin về nghề có
trong xã hội
3 Dạy HS một số nghề nhất định
giúp họ bước vào cuộc sống và lao động
4 Cung cấp thông tin về tình hình
phát triển kinh tế địa phương và đất nước
5 Giúp HS chuẩn bị chọn ngành
nghề và thi vào các trường ĐH,
CĐ, THCN