Do vậy, nghiên cứu tư tưởng hòa bình của nhân loại nói chung và phương Tây nói riêng, đặc biệt tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại nổi lên như là một nội dung quan
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các trích dẫn trong luận án có xuất xứ rõ ràng Các kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 08 tháng 07 năm 2014
Tác giả luận án
Nguyễn Đắc Lý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm
ơn PGS.TS Trần Văn Phòng, PGS.TS Nguyễn Quang Hưng đã tận tình hướng dẫn, động viên trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận án để tác giả có thể hoàn thành bản luận án này
Xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo thuộc khoa Triết học, phòng Đào tạo sau đại học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; các cán bộ thư viện Quân đội, Học viện Chính trị,
Bộ Quốc phòng, thư viện Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Viện Hàm lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, , đã tận tình giúp đỡ tác giả tìm kiếm các nguồn tài liệu cần thiết trong quá trình viết luận án này
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, cơ quan
và bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện bản luận án
Tác giả: Nguyễn Đắc Lý
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
1.1 Các công trình nghiên cứu về điều kiện và tiền đề ra đời tư
tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại 8 1.2 Các công trình nghiên cứu về nội dung tư tưởng hòa bình
trong triết học phương Tây cận hiện đại ……… 12
1.3 Các công trình nghiên cứu về ý nghĩa hiện thời của tư tưởng
hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại 16
Chương 2 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG HÕA
BÌNH TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CẬN HIỆN ĐẠI … 31
2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và chính trị cho sự ra đời
tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại ……… 31
2.2 Tiền đề lý luận cho sự ra đời của tư tưởng hòa bình trong triết
học phương Tây cận hiện đại ……… 40
Chương 3 TƯ TƯỞNG HÕA BÌNH TRONG TRIẾT HỌC
PHƯƠNG TÂY CẬN HIỆN ĐẠI ………
3.1 Tư tưởng hòa bình trong triết học Khai sáng Anh …………
61
61 3.2 Tư tưởng về hòa bình trong triết học Khai sáng Pháp ……… 76
3.3 Tư tưởng hòa bình trong triết học cổ điển Đức ……… 91
Chương 4 Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA TƯ TƯỞNG HÕA
BÌNH TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CẬN HIỆN ĐẠI … 108
4.1 Những giá trị và hạn chế của tư tưởng hòa bình trong triết
học phương Tây cận hiện đại ……… 108
Trang 64.2 Sự kế thừa tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận
hiện đại của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin …… 119 4.3 Xây dựng “văn hóa hòa bình” - sự kế tiếp và triển khai dự án
“nền hòa bình vĩnh cửu” trong bối cảnh toàn cầu hóa ……… 127
KẾT LUẬN ……… 140 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 145
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, lưỡng đề chiến tranh và hoà bình đã và đang được đặt ra ở vị trí hàng đầu lịch sử và trở thành một trong những vấn đề toàn cầu gay gắt nhất, có ý nghĩa đặc biệt đối với số phận tiếp theo của nhân loại, đối với việc duy trì sự sống trên trái Đất Việc tiếp tục mở rộng về tần suất và quy mô của chiến tranh trong nhiều thế kỷ như một hiện tượng lịch sử
- xã hội đến nay đã đạt tới giới hạn mà tiếp theo đó có thể là cuộc chiến tranh hạt nhân với nguy cơ hủy diệt toàn nhân loại Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ đem lại cho vấn đề chiến tranh và hoà bình những nội dung mới, đòi hỏi phải được làm sáng tỏ về phương diện triết học xã hội Về phần mình, chúng ta phải nghiên cứu chính lịch sử tư tưởng triết học về hòa bình như tiền đề lý luận để giải quyết vấn đề gìn giữ hòa bình và chống chiến tranh trong điều kiện hiện nay
Vốn là một phương tiện giải quyết khá hiệu quả các vấn đề chính trị và nhất là quyền lực trong nhiều thế kỷ, ngày nay chiến tranh đã mất đi “vai trò” lịch sử của nó Đó là do, trong điều kiện kỹ thuật quân sự phát triển, mọi cuộc xung đột diễn ra, sớm hay muộn cũng buộc các bên tham chiến phải sử dụng
vũ khí công nghệ cao có khả năng hủy diệt hàng loạt Trong trường hợp chiến tranh hạt nhân xảy ra, sẽ không có người chiến thắng, tất cả đều chiến bại Chính vì vậy giá trị của hoà bình cũng tăng lên, nó ngày càng trở thành điều kiện cần thiết để duy trì nền văn minh nhân loại Tình hình thế giới ngày nay đang làm thay đổi khá căn bản các cách hiểu vốn đã ăn sâu trong nhiều thế kỷ
về vai trò của chiến tranh trong đời sống xã hội Trong quá khứ, có những nhà
tư tưởng đã đánh giá phiến diện về chiến tranh và hoà bình, đã đem đối lập chúng như cái thiện và cái ác một cách trừu tượng, chẳng hạn như N Machiavelli, F Nietzsche,v.v., đã xem chiến tranh như là động lực của sự
Trang 8phát triển xã hội Ngược lại với quan niệm trên, một số triết gia như J.J Rousseau, I Kant, v.v., đã đánh giá chiến tranh là tập hợp mọi tội ác của nhân loại và kêu gọi hoà bình Sự đối lập của các quan điểm này còn tiếp diễn cả trong điều kiện hiện nay, phản ánh lập trường phản tiến bộ và lập trường tiến
bộ của các lực lượng xã hội khác nhau Do vậy, nghiên cứu tư tưởng hòa bình của nhân loại nói chung và phương Tây nói riêng, đặc biệt tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại nổi lên như là một nội dung quan trọng nhằm vạch trần bản chất phản tiến bộ của các thế lực ủng hộ chiến tranh, bảo vệ bản chất tiến bộ của các lực lượng yêu chuộng hòa bình, từ đó kêu gọi mọi người tích cực tham gia gìn giữ hoà bình như một việc làm vừa
có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách
Dân tộc Việt Nam vốn yêu hòa bình, sống trong điều kiện phải thường xuyên đấu tranh chống lại các thế lực thù địch từ bên ngoài, chúng ta hiểu rõ những hậu quả của chiến tranh cũng như những giá trị quý báu của hòa bình Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, chúng ta luôn có những ứng xử mềm dẻo đối với các nước lớn để tìm kiếm hòa bình, do vậy đã hình thành nên truyền thống yêu chuộng hòa bình của dân tộc Để xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế thì việc nghiên cứu tư tưởng hòa bình được phản ánh trong triết học của thời đại trước để hiểu rõ xu thế phát triển chung toàn nhân loại là việc làm cần thiết
Như vậy, trong thời đại ngày nay, vấn đề chiến tranh và hoà bình đã trở thành một trong những vấn đề căn bản của toàn bộ nền chính trị quốc tế Hoà bình trở thành điều kiện khách quan cần thiết để duy trì và phát triển nền văn minh nhân loại Việc tạo dựng một nền hòa bình vững chắc đòi hỏi phải có nền tảng lý thuyết là toàn bộ lịch sử tư tưởng về hòa bình mà nhân loại đã tích luỹ được Chính vì những lý do nêu trên và trong giới hạn phạm vi một luận
án tiến sĩ triết học, chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Tư tưởng hòa bình
Trang 9trong triết học phương Tây cận hiện đại và ý nghĩa hiện thời của nó” làm
đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở phân tích nội dung tư tưởng hòa bình trong triết
học phương Tây cận hiện đại, luận án chỉ ra ý nghĩa hiện thời của nó, đặc biệt
là đối với việc xây dựng văn hóa hòa bình hiện nay
Nhiệm vụ: Để đạt mục đích đó, luận án cần giải quyết những nhiệm vụ cơ
bản sau đây:
Thứ nhất, phân tích và làm sáng tỏ những điều kiện kinh tế - xã hội, văn
hóa, chính trị và tiền đề của tư tưởng hòa bình trong lịch sử triết học phương Tây cận hiện đại
Thứ hai, khảo cứu những tư tưởng tiêu biểu về hòa bình trong triết học
phương Tây cận hiện đại
Thứ ba, chỉ ra ý nghĩa hiện thời của tư tưởng triết học phương Tây cận
hiện đại về hoà bình, nhất là ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp xây dựng văn hóa hòa bình hiện nay
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin về mối quan
hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa kinh tế và chính trị, quan điểm mác xít về chiến tranh và hoà bình
Phương pháp nghiên cứu: Luận án được thực hiện bằng các phương
pháp như phân tích và tổng hợp, thống nhất lịch sử - lôgíc, so sánh, khái quát hoá, đọc văn bản,
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hòa bình là một hiện tượng văn hóa xã hội được
đề cập tới trên nhiều phương diện khác nhau, nhưng Luận án này chỉ đề cập tới hòa bình trên phương diện triết học Khái niệm triết học về hòa bình biểu
Trang 10thị một định hướng giá trị thể hiện ở thái độ chống chiến tranh dựa trên các căn cứ đạo đức bắt nguồn từ bản tính người; Ủng hộ việc tổ chức đời sống cộng đồng theo các nguyên tắc xuất phát từ giá trị thuần túy mang bản chất người; Sử dụng các biện pháp phi bạo lực để giải quyết xung đột như phương tiện cơ bản nhằm đạt tới những mục đích cá nhân và cộng đồng Nói cách khác, hòa bình là giá trị tinh thần đóng vai trò như bộ phận cấu thành nhân tính của con người cộng đồng Thái độ đối với hòa bình của cá nhân biểu thị nhân cách của mình với tư cách một thực thể xã hội Do vậy, triết học xem xét hiện tượng “hòa bình” từ hai kiểu lập trường của con người đối với cách thức giải quyết xung đột Lập trường thụ động thể hiện ở việc phản đối chiến tranh bằng tuyên bố, lời nói về mặt đạo đức, văn hóa tinh thần Lập trường xây dựng tích cực thể hiện ở sự ủng hộ và kiên định hợp tác cộng đồng dựa trên thỏa hiệp, đàm phán Hai chiều cạnh này của thái độ đối với giá trị “hòa bình”
có nghĩa là thừa nhận rằng, hòa bình không đơn giản là vắng mặt chiến tranh
mà còn là điều kiện để tổ chức cuộc sống cộng đồng thông qua sự hợp tác tự nguyện giữa các thành viên cộng đồng, chống lại sự tổ chức đời sống đó theo kiểu bị gán ghép bằng áp lực từ bên ngoài Những nội dung nêu trên của khái niệm tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại là đối tượng nghiên cứu trong luận án
Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng hòa bình được trình bày trong tác phẩm
của các nhà triết học phương Tây tiêu biểu thời cận hiện đại T Hobbes, J Locke, C.I Saint Pierre, Montesquieu, J.J Rousseau và I Kant
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án phân tích làm rõ và khái quát được nội dung quan trọng nhất của
tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại
Trang 11Luận án cũng nêu bật ý nghĩa của nó trong việc kiến tạo văn hoá hoà
bình, tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển bền vững của loài người hiện
nay và trong tương lai
6 Ý nghĩa của luận án
Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần làm rõ những nội dung cơ bản nhất
của tư tưởng triết học thời cận hiện đại về hoà bình, rút ra được những ý nghĩa thời sự của tư tưởng đó đối với cuộc đấu tranh chống chiến tranh, gìn giữ hoà bình trong thời đại ngày nay
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho công tác giảng dạy và nghiên cứu về triết học phương Tây cận hiện đại, cung cấp thêm luận cứ để khẳng định giá trị của hòa bình ở thời hiện đại, tính cấp thiết của việc tạo dựng văn hóa hòa bình hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác
giả, tài liệu tham khảo, Luận án gồm 4 chương, 11 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình nghiên cứu về điều kiện và tiền đề ra đời tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại
Có thể thấy, tư tưởng về hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại được hình thành từ những điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị của thời đại và lấy tiền đề lý luận từ những tác phẩm triết học phương Tây ở các thời đại trước Điều này thể hiện trong các công trình của các triết gia về sau đều đề cập tới tư tưởng hòa bình trong các tác phẩm của các triết gia trước Trong số những tác phẩm của các nhà tư tưởng từ thời kỳ cổ đại Hy Lạp đến thời kỳ Phục hưng phải đề cập đến những tác phẩm của Platon, Aristotle, và các sách Kinh thánh Cựu ước và Tân ước của Kitô giáo
Bàn về điều kiện cho sự ra đời tư tưởng hòa bình trong triết học phương
Tây cận hiện đại, trong tác phẩm “Tình hình nước Đức” [61] F Engels đã chỉ
ra hoàn cảnh nước Đức trong các thế kỷ trước, đặc biệt, nước Đức cuối thế kỷ XVIII như một đống những chán chường, mục nát và tan rã Không ai cảm thấy dễ chịu Thủ công nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp đều rơi vào cảnh điêu tàn và cùng cực Bên cạnh đó, F Engels cũng viết về sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng Pháp đến thời cận hiện đại nói chung và đến nước Đức nói riêng, nó như một luồng gió mới thổi từ bên ngoài vào nước Đức [Xem: 61, tr 754-756] Những điều kiện trên đây có ảnh hưởng lớn đến
tư tưởng về hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại nói chung và tư tưởng về hòa bình trong triết học cổ điển Đức nói riêng
Trong cuốn “Lịch sử triết học”, tập II, (1992), [118], với mục đích chính
là trình bày tư tưởng triết học thời cận đại, các tác giả đã phân tích làm sáng
tỏ những điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến tư tưởng triết học của
Trang 13thời đại Theo đó, khi nhân loại chuẩn bị bước sang thế kỷ XIX, một loạt nước tây Âu theo con đường tư bản chủ nghĩa đã đạt đến trình độ phát triển kinh tế tương đối cao Và sự kiện quan trọng nhất trong đời sống xã hội có ảnh hưởng lớn và làm thay đổi bộ mặt các nước tây Âu là cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh bắt đầu từ năm 1760 Với sức ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp, đã biến nước Anh từ một nước có nền công nghiệp nhỏ bé thành một nước tư bản chủ nghĩa lớn mạnh nhất, có ảnh hưởng lớn về kinh tế
và chính trị đến các nước trên thế giới [Xem: 118, tr 140] Đồng thời, để làm
rõ tính đặc thù trong sự hình thành tư tưởng lý luận của các nhà triết học cổ điển Đức, tác giả còn chỉ rõ, tuy nằm trong khuôn khổ lịch sử cận hiện đại ở tây Âu, song tư tưởng triết học Đức nói chung và tư tưởng về hòa bình nói riêng có những sắc thái nội dung khác biệt được quy định bởi điều kiện lịch
sử đặc thù của nước Đức Có thể nói, trong khi nước Anh và Pháp đang tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa thì nước Đức vẫn là một nước lạc hậu
về kinh tế và chính trị - xã hội [Xem: 118, tr 141]
Bên cạnh những công trình chuyên khảo bàn về điều kiện ra đời tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại, còn có những công trình chuyên khảo bàn về tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng hòa bình trong triết
học phương Tây cận hiện đại Trong công trình “106 nhà thông thái” của tác
giả P.S Taranop (2000), [90] đã trình bày cuộc đời, số phận, học thuyết và tư tưởng của các nhà triết học lớn trên thế giới, trong đó khi trình bày về tư tưởng, học thuyết của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, tác giả đã chú ý tuyển chọn, giới thiệu và bình chú tư tưởng của họ về vai trò của chiến tranh cũng như tác hại của chiến tranh và giá trị của hòa bình Theo đó, hòa bình tốt hơn chiến tranh, hòa giải tốt hơn chinh phạt [Xem: 90, tr 228]
Công trình“Chiến tranh, hòa bình và trật tự thế giới trong lịch sử châu
Âu” (War, peace and world orders in european history) (2001), [128] của
Trang 14Anja V Hartmann and Beatrice Heuser War đã biên tập lại các bài viết bởi các tác giả xuất phát từ lập trường chính trị và quan hệ quốc tế nghiên cứu vấn đề chiến tranh và hòa bình trong lịch sử châu Âu từ thời cổ đại cho đến thời cận đại Qua đó tác giả cũng đã trình bày tư tưởng về hòa bình của các nhà tư tưởng trong lịch sử phương Tây “Khi hòa bình, những người con trai chôn cất bố mình; khi chiến tranh, những người bố phải chôn con trai họ” [128, tr 39]
Trong cuốn “Xã hội mở và kẻ thù của nó”, (2004), [84], K Popper đã xem xét tư tưởng hòa bình thời cổ đại Hy Lạp, đặc biệt là tác phẩm “Cộng
hòa” của Platon K Popper coi nó như cội nguồn lý luận của chế độ toàn trị
Các tác giả khác lại cho rằng, Platon hướng tới một xã hội lý tưởng với một nhà nước lý tưởng là nền cộng hòa, đã tập trung làm sáng tỏ ý nghĩa của thuật
ngữ cộng hòa với nghĩa là công bình Theo N.P White, trong Cộng hòa,
Platon đã chỉ ra con đường đem lại hạnh phúc cho tất cả mọi công dân của nhà nước - thành bang dưới hình thức tổ chức cộng hòa là ở chỗ “cần phải tạo lập hòa bình, cần phải loại bỏ xung đột xã hội, thực hiện chính sách nhân đạo” [134, tr 120] Tác giả J Annas lại nhấn mạnh tư tưởng của Platon về mối liên
hệ mật thiết giữa hòa bình với khế ước xã hội Theo ông, Platon đã coi nhân
tố chủ quan của con người là điều kiện tiên quyết để nhà nước, xã hội thực hiện những luật pháp trong các lĩnh vực tôn giáo, đạo đức, luân lý, v.v Đây chính là biểu hiện tính năng động, tính chủ thể xã hội của con người như cái hạn chế, ngăn chặn sự lộng hành của bản năng, dục vọng, thói vị kỷ của con người tự nhiên và qua đó loại bỏ sự bất công và xung đột, chiến tranh không tránh khỏi trong xã hội [Xem: 121, tr 88-95] Theo R.F Stalley, Platon luôn
đề cao hòa bình hơn chiến tranh, ông ưu tiên các giải pháp chính trị hơn các giải pháp quân sự, đề nghị sử dụng hòa giải chứ không phải vũ lực để giải quyết xung đột xuất hiện giữa các nhà nước [Xem: 133, tr 210-212]
Trang 15Trong phần dẫn nhập “Kinh thánh Cựu ước & Tân ước - Lời Chúa cho
mọi người” (2007), [30], Hội đồng Giám mục Việt Nam đã nêu bật tinh thần
nhân văn nhân ái, tình yêu thương đối với con người, tinh thần hướng thiện như là chuẩn mực để đạt được nền hòa bình Kitô giáo, hòa bình chính là sự
“bình an”, cái mà nhân loại luôn hướng tới [Xem: 06, tr 100-101] Tinh thần
đó của Kitô giáo tiếp tục được đề trong cuốn “Tóm lược Học thuyết Xã hội
của Giáo hội Công giáo” (2007), [29], do Hội đồng Giám mục Việt Nam, ủy
ban Bác ái xã hội biên soạn, bên cạnh việc trình bày hệ thống học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo, cuốn sách còn dành cả một chương (chương 11, trang 337-356) để trình bày tư tưởng về hòa bình Kitô giáo Nó nói nên tinh thần nhân văn Kitô giáo đối với nền hòa bình thế giới cũng như trách nhiệm của mỗi con người đối với mọi thời đại Theo đó, “hòa bình không phải chỉ là không có chiến tranh, cũng không phải hạ thấp xuống tới mức chỉ là giữ cho các bên thù địch nhau cân bằng về quyền lực; mà đúng hơn, hòa bình được xây dựng trên việc hiểu đúng con người và đòi hỏi phải thiết lập một trật tự dựa trên nền tảng công lý và bác ái” [29, tr 340]
Nghiên cứu về tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây, có thể kể
đến công trình “Triết học Tây phương từ khởi thủy đến đương đại” (2010),
[79] Trên cơ sở trình bày tư tưởng của các nhà triết học thời Phục hưng, tác giả của công trình khoa học nay đã trình bày tư tưởng về hòa bình của các triết gia thời Phục hưng chẳng hạn như tư tưởng của Mirandola trong tiểu phẩm “Về phẩm giá con người” (1487), tư tưởng của Erasmus Rotterdamus
trong tác phẩm “Than phiền về hòa bình” (1517), trong đó ông khẳng định,
hòa bình là nguồn gốc của những điều tốt đẹp, những điều thánh thiện còn chiến tranh là nguyên nhân của điều tai họa và những cái ác
Trong công trình “Triết học đại cương” (2013), [34], các tác giả đã đề
cập đến tác phẩm có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng chính trị nói chung và tư
Trang 16tưởng hòa bình thời cổ đại Hy Lạp nói riêng cũng như có sức ảnh hưởng lớn
đến các triết gia sau này, đó là tác phẩm “Chính trị luận” của Aritstotle Theo
các tác giả, Aristotle đã phê phán nhà nước lý tưởng của Platon và nhận định chẳng khi nào con người có thể đạt được nhà nước như vậy, nhưng con người
có thể xây dựng được cho mình một nhà nước tốt nhất có thể được Trong nhà nước mà ông hướng tới con người có thể đạt tới khát vọng tự nhiên của mình
là chung sống hòa bình, công bình và tốt đẹp [Xem: 34, tr 173-176]
Những công trình nghiên cứu trên đây đã cho thấy tư tưởng về hòa bình trong triết học phương Tây từ cổ đại đến phục hưng đã được bàn tới trong những tác phẩm triết học Hòa bình như là sự bình an đối với con người, loài người, nó minh chứng cho giá trị nhân văn của con người Mặc dù, tư tưởng
về hòa bình ở những thời kỳ này còn mang tính ảo tưởng, trừu tượng nhưng
đã là những tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời của tư tưởng về hòa bình trong triết học tây Âu thời cận hiện đại
1.2 Các công trình nghiên cứu về nội dung tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại
Tư tưởng hòa bình trong triết học tây Âu thời cận hiện đại là chủ đề
nghiên cứu của công trình “Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân
đội” do Đ.A Vôncôgônốp viết (1998), [116] Tác giả đã phân tích nguồn gốc
và bản chất của chiến tranh, các kiểu chiến tranh cơ bản và vai trò của chiến tranh trong lịch sử Tác giả còn đặc biệt chú ý trình bày những quan điểm trước Mác về chiến tranh và hòa bình trong lịch sử [Xem: 116, tr 129-137] Qua đó tác giả cũng khẳng định bên cạnh những hạn chế về lập trường tư tưởng khi đưa ra tư tưởng về hòa bình, thì nó cũng có những giá trị nhất định cho việc luận chứng sự cần thiết của hòa bình đối với sự tồn vong của nhân loại Tác giả cuốn sách khẳng định, những quan điểm trước Mác giải quyết vấn đề chiến tranh và hòa bình nói chung đều xuất phát từ lập trường trừu
Trang 17tượng, phi lịch sử Do vậy thực chất và bản chất sâu xa của chiến tranh và hòa bình không được nhận thức một cách đúng đắn, vai trò của chúng trong lịch
sử bị đánh giá một cách hời hợt, phiến diện [Xem: 116, tr 136]
Ở một công trình nghiên cứu khác, cuốn “Lịch sử các học thuyết chính
trị trên thế giới” (2001), [93], trên cơ sở cách tiếp cận nghiên cứu lịch sử
chính trị, các tác giả đã đề cập đến tư tưởng về hòa bình và lên án chiến tranh của nhiều nhà tư tưởng phương Tây từ thời kỳ cổ đại đến thời cận hiện đại, trong đó tư tưởng hòa bình được thể hiện trong tư tưởng chính trị của Montesquieu, J.J Rousseau, I Kant Chẳng hạn như trong học thuyết chính trị của mình Montesquieu (1689 - 1775) đã “hết sức chú trọng các quy luật tự nhiên mà theo ý ông đã tồn tại trước khi xã hội ra đời Đó là bình đẳng, hòa bình, khát khao kiếm thức ăn,… Ra khỏi tình trạng tự nhiên con người đã bị mất đi bình đẳng và giữa họ bắt đầu có chiến tranh Các cuộc chiến tranh đã buộc con người phải thiết lập những đạo luật tối ưu Luật quốc tế được thiết lập nhằm xác định mối quan hệ giữa các dân tộc, luật chính trị để xác định mối quan hệ giữa người cầm quyền và người bị trị, luật dân sự điều hành mối quan hệ giữa các công dân” [93, tr 314]
Đặc biệt, khi đề cập đến học thuyết chính trị của I Kant, cuốn sách đã có những nhận định, đánh giá cao về dự án thiết lập nền “hòa bình vĩnh cửu” của ông Đó là một nền hòa bình lý tưởng mà nhân loại hướng tới, theo đó, “điều
đó có thể đạt được trong tương lai rất xa, khi thành lập được liên bang các quốc gia bình đẳng, độc lập có hình thức cộng hòa Theo Kant, việc thành lập liên bang hùng mạnh đó cuối cùng sẽ đến Tiền đề cho nó là việc khai sáng và giáo dục nhân dân, là lý trí và hảo tâm của các nhà cầm quyền” [93, tr 430]
Tác giả cuốn“Triết học Tây phương từ khởi thủy đến đương đại” (2010),
[79], khi bàn về tư tưởng của T Hobbes, đã nêu ra những mặt trái, tiêu cực của chiến tranh, cũng như khẳng định giá trị và khát vọng về hòa bình cho sự
Trang 18tồn tại và phát triển của con người và xã hội Khi chiến tranh xảy ra, nó
“không có chỗ cho công nghiệp; vì kết quả từ đó là không chắc chắn; và do vậy, không có sự trồng trọt trên trái đất; không có nghề hàng hải, cũng không
có việc sử dụng các hàng hóa được nhập khẩu bằng đường biển; không có tòa nhà rộng rãi; không có phương tiện chuyển động, và di chuyển, chẳng hạn như các điều đòi hỏi nhiều sức mạnh; không có tri thức về diện mạo trái đất; không tính đến thời gian; không có nghệ thuật; không thư từ; không xã hội; trong tất cả, điều tệ hại nhất: nỗi sợ hãi liên tục, mối nguy hiểm về cái chết hung bạo; cuộc sống con người lúc đó chìm trong cô đơn, nghèo khó, ô trọc, tàn bạo và ngắn ngủi” [79, tr 397]
Cũng trong cuốn sách này, tác giả đã nghiên cứu tư tưởng về hòa bình của J Locke Theo tác giả, J Locke, từ sự phân tích hai trạng thái con người sống, đó là trạng thái tự nhiên và trạng thái xã hội công dân, qua đó đã hướng con người tới xã hội công dân thông qua lý luận về khế ước xã hội, coi nó như
là sự đảm bảo cho nền hòa bình xã hội Ở đó, J Locke đề cao tinh thần khoan dung giữa nhà nước thế tục và giáo hội như là điều kiện để đảm bảo hòa bình
xã hội [Xem: 79, tr 556-562]
Bên cạnh các công trình chuyên khảo trên bàn về vấn đề hòa bình, còn có những bài viết của các tác giả được đăng trên các tạp chí khoa học khác nhau
Ở bài viết “Hướng tới nền hòa bình vĩnh cửu - Khát vọng của nhân loại”
(2005) [66], tác giả Nguyễn Thị Phương Mai đã đi sâu trình bày một cách đầy
đủ tư tưởng về nền hòa bình vĩnh cửu của I Kant trong tác phẩm “Hướng tới nền hòa bình vĩnh cửu” của ông được viết năm 1795 Theo I Kant để có một nền hòa bình vĩnh cửu, nhân loại cần áp dụng ba điều khoản cuối cùng: “1 Hiến pháp dân sự của mỗi quốc gia nên hướng tới nền cộng hòa; 2 Luật pháp quốc tế phải dựa trên liên minh của những quốc gia tự do; 3 Quyền công dân thế giới bị giới hạn bởi hoàn cảnh của lòng mến khách chung” [66, tr 53]
Trang 19Qua đó, theo tác giả, trong điều kiện hiện nay, mặc dù còn những điều khó có thể thực hiện được khi trong xã hội vẫn có không ít thế lực nuôi tham vọng thống trị xã hội bằng chiến tranh, bằng sức mạnh của vũ khí hủy diệt Nhưng một nền hòa bình thực sự chỉ có được khi cả nhân loại đoàn kết trong một liên minh rộng lớn và đủ sức chống lại chiến tranh
Trong bài viết “Chủ nghĩa nhân đạo trong đạo đức học của I Kant: ảo
tưởng hay hiện thực? (qua phân tích ý tưởng của I Kant về một nền hòa bình vĩnh cửu)” (2006), [14], tác giả Nguyễn Quang Hưng đã khẳng định ý tưởng
về một nền hòa bình vĩnh cửu không phải là kết quả của sự tưởng tượng vô căn cứ mà đã được xây dựng trên hai tiền đề là chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn Tây Âu cân đại với những quan niệm về “quyền tự nhiên của con người” và chủ nghĩa tư bản với nền sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường, nhu cầu trao đổi thương mại gắn liền với tinh thần trọng thương Hòa bình theo quan niệm của I Kant là hòa bình dài lâu, hòa bình vĩnh cửu [Xem: 14, tr 515] Mặc dù trong thời đại ngày nay, chúng ta có thể thấy vô số những khó khăn trong việc thực thi một nền hòa bình vĩnh cửu, thậm chí còn có những hoài nghi về tư tưởng hòa bình của I Kant khi cho rằng nó là ảo tưởng, là hình thức Đặc biệt nguy cơ chiến tranh xung đột, chiến tranh thế giới đang treo lơ lửng trên đầu nhân loại từ trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh cho tới nay vẫn chưa được loại bỏ Nhưng theo tác giả của bài viết, chúng ta vẫn có cơ sở để có thể lạc
quan về một nền hòa bình vĩnh cửu trong tương lai [Xem: 14, tr 524-526]
Từ một hướng nghiên cứu khác, trên cơ sở cách tiếp cận thực tiễn quan
hệ chính trị quốc tế ở châu Âu, trong bài viết “Hướng tới một nền hòa bình
vĩnh viễn ở châu Âu” ( 2011), [54], tác giả Nguyễn Đình Luân đã phân tích
tình hình chính trị thế giới, cũng như ở khu vực châu Âu, đặc biệt mối quan
hệ chiến lược Nga và Mỹ để từ đó chỉ ra những cơ hội hóa giải những bất đồng, qua đó tác giả khẳng định xét từ một phương diện nhất định, trong thời
Trang 20đại hiện nay, nhân loại (châu Âu) đang từng bước hiện thực hóa một nền hòa bình vĩnh cửu theo tư tưởng của I Kant với những điều khoản cuối cùng [Xem: 54, tr 171-173] Những diễn biến gần đây trong quan hệ Nga - Ucraina
- Mỹ (G.7) cho thấy phân tích của tác giả có thể là hơi sớm lạc quan Tuy nhiên, nhìn từ góc độ chính trị, quan hệ quốc tế công trình nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra được những hậu quả nặng nề của chiến tranh, nguyên nhân của những cuộc chiến tranh xung đột trên thế giới trong thế kỷ XX, khẳng định được giá trị của hòa bình trong thế kỷ mới cũng như những khả năng hiện thực hóa một nền hòa bình vĩnh cửu trên phạm vi khu vực Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại xem xét hòa bình như là trạng thái không có chiến tranh mà thôi
Có thể thấy, tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại được các tác giả đề cập tới khá sâu sắc, các công trình nghiên cứu đã khẳng định, chiến tranh và hòa bình đều xuất phát từ chính con người, khẳng định sự cần thiết phải xây dựng hòa bình như là điều kiện cho sự tồn tại của con người trên trái đất, còn chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh phi nghĩa là phản tiến bộ,
là việc làm dã man đối với loài người Tuy nhiên, tư tưởng về hòa bình của các triết gia phương Tây, cũng như các công trình nghiên cứu về nó đều cho thấy, hòa bình mới chỉ dừng lại ở việc coi hòa bình là sự vắng bóng của chiến tranh, hòa bình là sự biểu thị quan hệ giữa các nhà nước, các quốc gia Những giá trị tích cực trong những nghiên cứu tư tưởng về hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại sẽ được chúng tôi kế thừa trong triển khai nghiên cứu của mình
1.3 Các công trình nghiên cứu về ý nghĩa hiện thời của tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại
Có thể thấy, đối với các công trình trong nước nghiên cứu về chiến tranh
và hòa bình, cũng như những nhận định về giá trị, ý nghĩa của chiến tranh và
Trang 21hòa bình được nghiên cứu từ những phương diện khác nhau rất phong phú Nhưng, các công trình nghiên cứu về tư tưởng hòa bình từ phương diện triết học thì còn khiêm tốn, mới chỉ dừng lại ở những cuốn sách nhỏ, những bài viết được trình bày trong kỷ yếu hội thảo quốc tế hay được đăng trên các tạp chí mà thôi
1.3.1 Các công trình bàn về chiến tranh và hòa bình trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong sách “Vấn đề chiến tranh và hòa bình và vấn đề chung sống hòa
bình” (1961), [91], tác giả đã đề cập tới giá trị mang tính chất nền tảng của
hòa bình đối với sự tồn tại của nền văn minh nhân loại hiện đại, trong đó khẳng định, với tiềm năng quân sự hiện có, khả năng tồn tại và phát triển tiếp theo của loài người đòi hỏi các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau phải chung sống hòa bình với nhau, loại trừ chiến tranh
Tác giả của công trình “Chiến tranh và hòa bình trong thời đại hiện nay”
(1972), [92], đã đặt vấn đề bảo vệ hòa bình thế giới là nguyện vọng tha thiết
và là một trong những mục đích và nhiệm vụ cấp bách của loài người hiện nay Qua đó ông đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh, phân biệt chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa, ủng hộ chiến tranh chính nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa, cũng như tán thành hòa bình chân chính dựa trên cơ sở các dân tộc phải được độc lập tự do, phản đối “hòa bình” trong nô lệ [Xem: 92, tr 16] Đặc biệt, để xây dựng và bảo vệ nền hòa bình chân chính thì công tác bảo vệ hòa bình thế giới cần phải đặt trong thế tiến công của cách mạng thế giới
Trong bài viết “Chiến tranh và hòa bình trong lịch sử loài người”
(1983), [50], tác giả Phan Ngọc Liên, Nguyễn Đình Lễ khẳng định, chiến tranh là một hiện tượng lịch sử xuất hiện khi xã hội có đối kháng giai cấp Nó trở thành chức năng thường xuyên của nhà nước, trở thành một thủ đoạn để
Trang 22củng cố, mở rộng quyền thống trị của giai cấp bóc lột và cướp bóc nhân dân nước khác Đồng thời, các tác giả đã phân tích, khái quát những cuộc chiến tranh và tư tưởng về chiến tranh trong lịch sử loài người từ cổ đại đến thời hiện đại Qua đó trình bày quan điểm về hòa bình, đường lối yêu chuộng hòa bình trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin và khẳng định cuộc đấu tranh cho hòa bình của nhân loại và tiến bộ xã hội
Hay trong bài viết “Chủ nghĩa Mác - Lênin và vấn đề hòa bình” (1983),
[49] tác giả Nguyễn Thành Lê khẳng định chiến tranh là một sản phẩm xã hội khi lịch sử loài người phát triển đến một trình độ nhất định, nó là sản phẩm của xã hội có sự phân chia thành giai cấp đối kháng, và trong xã hội tư bản thì chiến tranh là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, nó như là một thuộc tính của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc Trong điều kiện hiện nay, theo tác giả cần, “khóa tay bọn đế quốc hiếu chiến, gìn giữ hòa bình, thực hiện hòa dịu trong quan hệ quốc tế trở thành những nhiệm vụ hàng đầu của thời đại” [49,
tr 2] Đồng thời, tác giả cũng khẳng định hòa bình là sản phẩm của lao động,
là sản phẩm của chủ nghĩa xã hội, hòa bình là bản chất của chế độ ta, là khát vọng của dân tộc Việt Nam
Bài viết “Những vấn đề chiến tranh và hòa bình trong thời đại ngày nay”
của tác giả G.V Srendin (1983), [89], đã phân tích, làm sáng tỏ hai vấn đề
Một là, giữ gìn và củng cố hòa bình, làm dịu căng thẳng, ngăn chặn chiến
tranh hạt nhân Hai là, vấn đề đẩy nhanh tiến bộ xã hội và đổi mới cách mạng
đối với thế giới Trong đó, vấn đề chiến tranh và hòa bình là vấn đề đặc biệt quan trọng, đe dọa đến sự tồn vong của nhân loại đòi hỏi loài người phải chung tay chống lại cuộc chạy đua vũ trang và thảm họa hạt nhân cũng như sự nhất quán đường lối yêu chuộng hòa bình của Đảng Cộng sản Liên Xô
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên khẳng định dù là chính nghĩa hay phi nghĩa, chiến tranh là sản phẩm của lịch sử, là chức năng của nhà
Trang 23nước Trong đó, chiến tranh phi nghĩa ngày nay đang đe dọa sự tồn vong của nhân loại đòi hỏi loài người phải chung tay chống lại các cuộc chay đua vũ trang, chống lại thảm họa hạt nhân để duy trì và bảo vệ nền hòa bình trên trái đất Qua đó khẳng định một giá trị phổ biến đã được chủ nghĩa Mác - Lênin bàn tới như một chính sách của đường lối đối ngoại của đất nước từ những thập niên đầu thế kỷ XX, muốn hòa bình phải thực hiện nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình trong các chế độ chính trị khác nhau
1.3.2 Các công trình bàn về chiến tranh và hòa bình ở thời hiện đại
Cuốn “Bàn về chiến tranh” của tác giả Các Phôn Clau Đơ Vít, Tập 1, 2
và 3 (1981, 1988 và 1989), [10, 11, 12] Tác giả đã nghiên cứu chiến tranh trong các mối quan hệ của nó và đi đến kết luận đúng đắn rằng, chiến tranh là
sự tiếp tục chính trị bằng thủ đoạn bạo lực, chính trị làm nảy sinh chiến tranh, còn chiến tranh là chính trị, là sự thay đổi ngòi bút bằng thanh kiếm Theo tác giả, chiến tranh không xuất hiện một cách bất ngờ mà được các chính phủ tương ứng chuẩn bị một cách lâu dài khi đang tiến hành một chính sách xác định Không nên cho rằng quan hệ chính trị sẽ chấm dứt sau khi khởi xướng chiến tranh, vì quan hệ ấy thể hiện như một chỉnh thể, còn chiến tranh là một
bộ phận của chỉnh thể đó Chiến tranh có những đặc điểm mà chính trị có Chính chính trị tạo ra chiến tranh, chứ không phải ngược lại Sau khi tuyên bố chiến tranh, trước khi có những hoạt động quân sự, chính phủ tiến hành một chính sách xác định nhằm thực hiện lợi ích của mình, và khi nó không đem lại kết quả mong muốn thì chính phủ chuyển sang hình thức chính trị khác là chiến tranh Mục đích của chiến tranh là phá hủy chính sách của đối phương bằng những phương tiện quân sự
Được biết tới từ thế kỷ trước, cuốn “Thế giới như tôi thấy” mới đây đã
được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt (2005), [21] Tác giả A Einstein đã tập hợp những bài viết, bài nói chuyện và các tiểu luận khoa học của Einstein bàn
Trang 24về khoa học, tư tưởng, tôn giáo và hòa bình quốc tế Đặc biệt phần chính trị
và chủ nghĩa hòa bình, tác giả trình bày nhiều tư tưởng về chống chiến tranh,
về giải trừ quân bị, về yêu chuộng hòa bình và cùng tồn tại hòa bình Theo Einstein chiến tranh thật đê tiện và đáng khinh làm sao Như trong bài
“Hướng đến việc loại bỏ nguy cơ chiến tranh” theo tác giả thì chiến tranh có nghĩa là sự hủy diệt tất cả
Từ cuốn “Chiến tranh và chống chiến tranh” (1995), [96], tác giả Alvin
và Heidi Toffler đã phân chia lịch sử loài người thành ba làn sóng (ba nền văn minh), và tương ứng với nó là ba hình thái chiến tranh Đồng thời, hai tác giả cũng chỉ ra ba hình thái chống chiến tranh, ba hình thái hòa bình tương ứng được tạo ra từ ba làn sóng Đặc biệt ngày nay nhân loại đang bước vào nền văn minh thứ ba, làn sóng thứ ba với hình thái chiến tranh mới nhất thiết cần
có hình thái chống chiến tranh mới, hình thái hòa bì nh trong thế kỷ XXI với vai trò đặc biệt quan trọng của Liên Hợp Quốc
Trong chương hai “Vấn đề chiến tranh và hòa bình” của cuốn sách
“Những vấn đề toàn cầu ngày nay” (1999), [85] của mình, tác giả Nguyễn
Trần Quế khẳng định vấn đề chiến tranh và hòa bình là một vấn đề then chốt nhất trong những vấn đề toàn cầu ngày nay, nó “quyết định đến sự tồn tại hay không tồn tại, sự phát triển hay không phát triển của xã hội loài người” [85, tr 30] Trên cơ sở trình bày khái quát những cuộc chiến tranh trong lịch sử loài người đặc biệt là hai cuộc thế chiến của thế kỷ XX, những loại vũ khí chiến tranh trong hiện tại và tương lai, cũng như thế giới sau chiến tranh lạnh với những mâu thuẫn gay gắt và xu thế mới trong quan hệ quốc tế hiện nay, tác giả đi đến khẳng định vai trò của Liên hợp quốc trong việc gìn giữ hòa bình, kiểm soát và giảm trừ quân bị, dự báo hai xu hướng chiến tranh và hòa bình trong tương lai Đó là xu hướng chủ nghĩa dân tộc, chủ nghịa vị kỷ, chủ nghĩa địa phương ngóc đầu dậy ở nội bộ phần nhiều quốc gia và sự tăng cường thế
Trang 25lực hồi giáo kết hợp lại thành một trào lưu ngược khổng lồ tạo ra thách thức đối với nền hòa bình thế giới Khả năng chiến tranh lớn sẽ dễ dàng xảy ra khi thế giới chuyển thành đa cực Xu hướng thứ hai sau chiến tranh lạnh kết thúc, đám cháy dần dần sẽ lắng dịu đi và đi vào trật tự Thế giới sẽ được hòa bình Cuối cùng, để thế giới đi vào hòa bình và ổn định theo tác giả cần phải có tư duy mới về an ninh toàn cầu Đó là nền an ninh toàn cầu bao gồm 5 lĩnh vực (quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường - sinh thái); Qúa trình mở cửa hội nhập của các quốc gia vào nền kinh tế thế giới là một xu hướng toàn cầu không thể đảo ngược; “Sự tồn tại của trái đất, hòa bình của nhân loại và chủ nghĩa thống nhất thế giới đang trở thành 3 giá trị phổ quát của nhân loại… Toàn thể loài người đã tìm thấy kẻ thù chung của mình: nguy cơ chiến tranh hủy diệt toàn cầu, chủ nghĩa ly khai và khủng bố, nạn ô nhiễm môi trường sinh thái đang đe dọa sự tồn tại của nhân loại Ba kẻ thù chung đó đang thách thức loài người, thách thức sự tồn tại của trái đất và nền văn minh nhân loại” [85, tr 65] Hơn bao giờ hết, thời đại ngày nay đòi hỏi phải khắc phục chiến tranh, củng cố hòa bình để phát triển Đó là yêu cầu tiên quyết để đạt tới sự thịnh vượng về kinh tế và tiến bộ xã hội [Xem: 85, tr 66]
Trong sách “Vài suy ngẫm về thế giới trong thế kỷ XX và thế kỷ XXI”
(2000), [117], tác giả Hồ Vũ đã tập trung phân tích khái quát những cuộc chiến tranh, xung đột trong thế kỷ XX, với những hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại và nguyên nhân của nó không nằm ngoài mưu đồ thống trị và bá chủ thế giới của các nước đế quốc, đặc biệt là Mỹ Đồng thời, tác giả cũng chỉ
ra rằng, trong thế kỷ XX, không chỉ có chiến tranh mà còn có hòa bình, mặc
dù nó chỉ là tương đối và mong manh [Xem: 117, tr 56], cũng như đã gần 2 phần 3 thế kỷ nay, thế giới chưa bị rơi vào cuộc chiến tranh thế giới lần thứ
ba, mặc dù đã không ít lần bị đẩy đến bên “miệng hố chiến tranh” [117, tr 57] Qua đó, tác giả tổng kết, thế kỷ thứ XX, xu thế hòa bình đấu tranh quyết
Trang 26liệt chống lại các ý đồ gây chiến, khát vọng của nhân dân thế giới về hòa bình, hợp tác để phát triển ngày một gia tăng Cuối cùng tác giả cho rằng, nhân loại bước sang thế kỷ XXI vẫn có căn cứ để hy vọng, sẽ tránh được khả năng nổ ra chiến tranh thế giới Nhưng, các cuộc xung đột quân sự ở các mức độ và phạm vi khác nhau sẽ còn tiếp diễn, đặc biệt an ninh trên biển sẽ nổi cộm do
sự cạn kiệt dần tài nguyên trên đất liền [Xem: 117, tr 62-63] Song, tác giả khẳng định, hòa bình, văn hóa hòa bình là giá trị tối cao của loài người, là kết quả đấu tranh và phản tư về cơ sở tồn tại của nền văn minh nhân loại trong suốt hàng nghìn năm phát triển của mình
Trong công trình “Những cuộc chiến tranh trong tương lai” (2002), [07],
tác giả Pascal Boniface đã đưa ra những dự báo về nguy cơ có thể xảy ra những cuộc chiến tranh trong tương lai, đó có thể là cuộc chiến tranh giữa các nền văn minh, cuộc chiến tranh hạt nhân, hóa học, sinh học, môi trường, tôn giáo, sắc tộc, thông tin, vũ trụ, Qua đó giúp người đọc hình dung được nguồn gốc của các cuộc chiến tranh ngày mai để mỗi người có những cách ngăn ngừa chúng Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra nguồn gốc của chiến tranh và cũng là cơ sở để hình thành giải pháp về hòa bình Tác giả viết: “chừng nào còn tồn tại các quốc gia - và như vậy là còn có những lợi ích phải bảo vệ, những cuộc tranh chấp phải được khắc phục - thì chiến tranh sẽ không hoàn toàn rời xa” [07, tr 13]
Công trình “Khủng bố và chống khủng bố qua lăng kính báo chí” (2006),
[94], trên cơ sở đưa ra quan niệm về khủng bố, chủ nghĩa khủng bố, những nguyên nhân gây ra khủng bố, cũng như những hình thức và phương tiện khủng bố, tác giả đã khẳng định, ngày nay nguy cơ là ở chỗ, các hành động khủng bố đã phát triển thành một tội ác chống lại nền văn minh của loài người, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản và nền hòa bình của nhân loại Do vậy, có thể thấy, khủng bố đang là nguy cơ lớn nhất đe dọa đến nền
Trang 27hòa bình thế giới và nhân loại cần chung tay góp sức trong công cuộc chống chủ nghĩa khủng bố
Trong bài viết:“Quan điểm tâm sinh học về chiến tranh và hòa bình
trong ý thức hệ phương Tây hiện đại” (1999), [52], tác giả Trần Đức Long
giới thiệu một cách khái quát, có phân tích và đánh giá riêng của mình về một quan điểm phổ biến của triết học phương Tây hiện đại về chiến tranh và hòa bình - đó là quan điểm tâm sinh học Qua đó cho thấy, cách tiếp cận này của các nhà tư tưởng phương Tây hiện đại đã tuyệt đối hóa và viện dẫn đến tính bẩm sinh đối với chiến tranh và hòa bình và đi đến nhận thức ngụy biện, sai lầm với tư tưởng tiến bộ của nhân loại, đối lập hoàn toàn với quan điểm mácxít trong cách tiếp cận về lich sử xã hội Theo đó, “sự thèm khát bạo lực,
sự khao khát xâm lược được tuyên bố là bản năng bẩm sinh, là sự “lai tạo” không thể trừ bỏ được của bản chất con người” [52, tr 43] Các nhà tư tưởng phương Tây chứng minh rằng “dường như con người tiến hành chiến tranh,
sử dụng vũ trang và bạo lực hoàn toàn là do “xung đột hiếu chiến bẩm sinh” [52, tr 43] Theo đó, “mọi ý định ngăn chặn chiến tranh hay là hạn chế các biểu hiện của tính hiếu chiến trong quan hệ giữa người với người sẽ bị thất bại ngay từ đầu” “họ tuyên bố cuộc đấu tranh cách mạng, nhằm cải tổ xã hội dựa trên các cơ sở xã hội mới, phong trào bảo vệ hòa bình, ngăn chặn cuộc chạy đua vũ trang và các hoạt động chống chiến tranh khác chỉ là một việc làm vô bổ và không thể thực hiện được” [52, tr 44]
Liên quan đến nội dung về chiến tranh và hòa bình ở thời hiện đại, các công trình nghiên cứu nước ngoài cũng như trong nước đã cho thấy trong thời hiện đại chiến tranh đã thay đổi nội dung, tích chất, mục đích, và phương pháp, nguy cơ về những cuộc chiến tranh xung đột trên thế giới vẫn đang rình dập, đe dọa nền hòa bình, ổn định và phát triển của nhân loại Trong thế giới hiện nay, chiến tranh ngày càng bộc lộ những biểu hiện tiêu cực và do vậy,
Trang 28giá trị của hòa bình cũng được nâng lên tương ứng, nó có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của nhân loại, hòa bình như là cơ sở cho sự phát triển của nhân loại trong thế kỷ mới
1.3.3 Các công trình bàn về “văn hóa hòa bình”
Luận án sẽ dành riêng một phần nội dung đề cập tới văn hóa hòa bình vì quá trình tạo dựng nó cho thấy sự tiếp nối tư tưởng triết học quá khứ về hòa bình trong điều kiện lịch sử đã hình thành ở cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI Lịch sử tư tưởng nói chung và tư tưởng triết học về hòa bình nói riêng ở phương Tây là một tiến trình liên tục, do vậy dấu ấn của tư tưởng triết học về hòa bình tìm thấy âm hưởng và sự kế thừa lịch sử của mình chính trong tư tưởng, ý thức về văn hóa hòa bình cùng với những nỗ lực của nhân loại tiến
bộ nhằm đưa nó vào cuộc sống
Tuy nhiên, có thể nói, với nhóm đề tài nghiên cứu về “văn hóa hòa bình”, đây là một nội hoàn toàn mới đối với các nhà nghiên cứu trong nước, có thể thấy cho đến nay, chưa có một bài viết nào đề cập đến “văn hóa hòa bình”, và
nó mới chỉ được giới thiệu từ các bài viết, các bài nói của những người hữu quan trong tổ chức Unesco được thông tin qua tạp chí “Người đưa tin Unesco” ở Việt Nam mà thôi
Trong “Lời nói đầu công ước thành lập Unesco” năm 1946 [104] được
công bố lại năm 1995 đã chỉ rõ nguồn gốc nảy sinh chiến tranh trong xã hội loài người “Chiến tranh nảy sinh trong đầu óc con người, vì vậy trong đầu óc của con người cần phải dựng lên các phòng tuyến hòa bình”; “Trong lịch sử,
sự không hiểu biết lẫn nhau, giữa các dân tộc luôn luôn là nguồn gốc của sự ngờ vực và không tin cậy giữa các quốc gia từ đó những bất hòa của họ thường dẫn tới chiến tranh” Lời nói đầu cũng chỉ rõ, “Một nền hòa bình chỉ được xây dựng trên các hiệp định kinh tế và chính trị giữa các chính phủ không thể nào lôi cuốn sự tham gia, sự nhất trí lâu dài và chân thành của các
Trang 29dân tộc Vì vậy, nền hòa bình ấy phải được thiết lập trên cơ sở đoàn kết trí tuệ
và tinh thần của nhân loại”
Trong bài viết “Ngày mai, một nền hòa bình khác” (1991), [68], tác giả
Federico Mayor đã trình bày ý kiến của mình về những phương cách đạt tới một nền hòa bình thế giới, đó là một nền an ninh toàn cầu xây dựng trên sự hợp tác liên chính phủ, sự phát triển rộng khắp và đối thoại giữa các nền văn hóa Rằng hòa bình sẽ là kết quả của sự xuất hiện một ý thức công dân thế giới hữu trách - ý thức được xây dựng trong đầu óc con người bằng cách học khoan dung, học cách tôn trọng nhân phẩm cũng như những dị biệt giữa các
cá nhân Đồng thời tác giả cũng cho rằng, trong xã hội, những lý tưởng đạo
lý, triết học và tôn giáo cần được tự do lưu chuyển, khía cạnh tinh thần của phát triển cần được chú trọng không kém gì tính chất bền lâu của sự phát triển
ấy Nếu ưu tiên chú trọng đến những khía cạnh ấy, thì một ngày kia chiến tranh sẽ bị xóa bỏ trong đầu óc con người Cuối cùng, tác giả cũng khẳng định, chiến tranh và hòa bình là những thứ thuộc về con người, quá thuộc về con người Muốn đẩy lùi cái này và khuyến khích cái kia, trước hết phải phục hồi một cách bền bỉ và kiên quyết những gì tốt đẹp nhất ở con người, những điều làm nên tính người ở chúng ta
Trong bài viết khác, “Cái giá của hòa bình” (1994), [70], tác giả cũng
khẳng định sự cần thiết hơn bao giờ hết phải xây dựng một nền văn hóa hòa bình và làm cho Unesco đóng một vai trò then chốt trong bối cảnh này là một phương tiện hữu hiệu để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh trong xã hội hiện đại
Hay như ở bài viết “Xây dựng một nền văn hóa hòa bình” [74], tác giả còn
chỉ rõ tương lai của thế giới đang đối mặt với hai mối nguy hại và đòi hỏi phải
có sự cảnh giác cao của Unessco, đó là sự chia rẽ giữa phương Bắc và phương Nam không ngừng bị khoét rộng hơn và mối đe dọa làm nguy hại đến sự chung sống hòa bình giữa các nền văn hóa và các nhóm sắc tộc Vì lẽ đó, cần
Trang 30ưu tiên phát triển “một nền văn hóa hòa bình”, với những dấu hiệu đặc trưng của nó là một nền văn hóa thế giới phi bạo lực và công bằng, đặc biệt thông qua sự tôn trọng và khoan dung đối với nhau, tăng cường các xã hội đa dạng
và cởi mở có khả năng phồn vinh trong một bầu không khí dân chủ và tôn trọng nhân quyền
Từ bài viết “Hòa bình hành động của Unessco” (1995), [87], Ahmed
Saleh Sayyad đã trình bày cách hiểu về ý tưởng hòa bình, văn hóa hòa bình qua các tác giả như nhà thơ Mỹ Archibald Macleish coi hòa bình là một quá trình và một điều kiện, nó là một điều kiện tin cậy lẫn nhau, hài hòa về mục đích và phối hợp hoạt động, trong đó những con người tự do nam cũng như
nữ, có thể sống một cuộc sống thỏa đáng, trong đó chiến tranh được ngăn ngừa một cách tích cực bằng việc tạo ra một cách năng động và chủ động một trật tự nhân sinh và xã hội giữa các dân tộc trên thế giới Hay Tổng thống En Xanvado, Alfredo Cristiani coi “văn hóa hòa bình đơn giản là “văn hóa của cuộc sống” Tổng giám đốc Unessco, Federico Mayor coi văn hóa hòa bình là
“một cách sống hàng ngày” Đặc biệt tác giả bài viết còn trình bày định nghĩa văn hóa hòa bình của Đại hội đồng Unessco, theo đó văn hóa hòa bình là
“mọi giá trị, thái độ và hình thức ứng xử, mọi lối sống và hành động thể hiện,
và xuất phát từ thái độ tôn trọng cuộc sống, tôn trọng con người, nhân phẩm
và các quyền của con người, phủ nhận bạo lực và gắn bó với những nguyên lý
tự do, công lý, đoàn kết, khoan dung và hiểu biết giữa các dân tộc, cũng như các nhóm người và các cá nhân”
Bài viết “Cấu trúc của hòa bình” (2000), [120] của tác giả Rene Zapata
chỉ rõ, ngày nay chiến tranh đã thay đổi tính chất: thường khi chiến tranh mang hình thức những cuộc xung đột không còn là giữa các quốc gia mà là ở bên trong đường biên giới, của mỗi quốc gia, bạo lực phổ biến toàn xã hội, tần suất những cuộc xung đột diễn ra ngày càng nhiều Tác giả cũng chỉ rõ, văn
Trang 31hóa hòa bình không ở đâu xa lạ mà ngay trong đời sống hàng ngày, trong những giá trị, cách ứng xử, và thái độ của chúng ta Tác giả kêu gọi, chúng ta phải xây dựng văn hóa hòa bình ngay trong đời sống hàng ngày
Ở trong nước, hầu như chưa có những công trình triết học nghiên cứu về hòa bình, văn hóa hòa bình hay phương thức để loài người đạt được hòa bình Đây là lỗ hổng trong nghiên cứu tư tưởng triết học về hòa bình Trong bài viết
“Đối thoại giữa các nền văn minh theo tinh thần khoan dung - nhân tố quyết
định sự sống còn và thịnh vượng của nhân loại” (2011), [32], tác giả Đỗ Minh
Hợp khẳng định, ngày nay nhân loại đang phải đối mặt với vô số những vấn
đề đe dọa đến sự tồn vong của mình Do vậy, có nhiều giải pháp đã được đưa
ra, trong đó tư tưởng đối thoại giữa các nền văn minh theo tinh thần khoan dung ngày càng được khẳng định không những là con đường giải quyết hữu hiệu những vấn đề toàn cầu phức tạp mà còn là phương tiện duy trì và quyết định số phận tương lai của nhân loại Nó góp phần tạo ra một thế giới thống nhất trong đa dạng, một thế giới được cấu thành từ nhiều nền văn minh độc đáo, đa dạng tương tác lẫn nhau Chúng ta phải chung tay, góp sức xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác, hữu nghị và thịnh vượng
Bên cạnh các bài viết bàn về văn hóa hòa bình được công bố trên các tạp chí, trong thời gian gần đây còn xuất hiện những công trình luận án bàn tới những vấn đề liên quan đến văn hóa hòa bình, văn hóa khoan dung Trong
Luận án Tiến sĩ triết học “Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời của nó”
(2012), [67], tác giả Nguyễn Thị Phương Mai trình bày một cách có hệ thống
tư tưởng khoan dung trong lịch sử tư tưởng của nhân loại từ phương Đông sang phương Tây, qua đó đã chỉ ra giá trị của tư tưởng khoan dung trong xã hội hiện đại Đặc biệt, theo tác giả luận án thì thực hiện tinh thần khoan dung
là cơ sở để xây dựng vững chắc cho nền hòa bình của nhân loại Tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải thực hiện khoan dung cũng như những nội dung của
Trang 32việc thực hiện khoan dung trong bối cảnh hiện nay để chung sống hòa bình Tác giả luận án khẳng định, ngày nay, những mâu thuẫn và xung đột xã hội giữa các nền văn minh nổi lên hàng đầu và có thể sẽ chiếm ưu thế ở thế kỷ XXI Do vậy, muốn thực hiện khoan dung để tạo dựng văn hóa hòa bình để khắc phục tệ sùng bái cá nhân, để ngăn chặn và tuyên truyền cổ vũ cho chiến tranh, để chống lại sự gieo rắc lòng hận thù thì chưa đủ Do đó, cần phải nghiên cứu một cách toàn diện những nguyên nhân chủ quan và khách quan
để tìm ra biện pháp thích hợp và hiệu quả nhằm ngăn chặn chiến tranh và tạo dựng một nền văn hóa khoan dung và chung sống hòa bình
Nhìn từ góc độ nghiên cứu lịch sử tư tưởng, văn hóa đạo đức, hay quan
hệ quốc tế về vấn đề hòa bình, có thể thấy những công trình nghiên cứu, những bài viết trong nước còn khá ít ỏi, nhưng đã khẳng định được chiến tranh và hòa bình là một hiện tượng lịch sử, và đã đặt ra vấn đề cần phải có những biện pháp mang tính thời đại trong việc chống lại chiến tranh, duy trì
và bảo vệ hòa bình, chỉ ra được những nhân tố đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của đất nước cũng như của toàn nhân loại, đã nghiên cứu những tư tưởng hòa bình trong lịch sử nhân loại Các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ
ra được nhân tố hợp lý, như là giải pháp của hòa bình phù hợp với xu hướng tiến bộ của nhân loại, đó là đối thoại, đối thoại trên tinh thần khoan dung, bao dung, vị tha Tuy đã có những công trình nghiên cứu như vậy, nhưng việc chỉ
ra được tính tất yếu, sự cần thiết cho cho việc xây dựng một thế giới hòa bình trên tinh thần đối thoại khoan dung còn khá ít
Có thể thấy, tiếp nối truyền thống tư tưởng yêu chuộng hòa bình, đề cao hòa bình như một giá trị nền tảng của tòa nhà văn hóa phương Tây, trong bối cảnh lịch sử phải đối mặt với nguy cơ tự hủy diệt do sự lộng hành của cái ác, của sức mạnh hiếu chiến tiềm ẩn trong con người, nhiều tác giả của các công trình nghiên cứu nước ngoài đã chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng nền “văn hóa
Trang 33hòa bình” trong thế kỷ mới Nó không phải là công việc của một người, một nhóm người hay một tổ chức xã hội, mà nó là công việc của tất cả mọi người, của toàn xã hội, ở mọi lúc, mọi nơi, từ gia đình, đến nhà giáo dục trong các trường học, từ những công dân đến những người đứng đầu đất nước Để loại
bỏ nguy cơ chiến tranh ngay trong đầu óc con người phải xây dựng phòng tuyến hòa bình ở trong chính đầu óc con người Qua đó, các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả đã phần nào làm rõ nội hàm khái niệm “văn hóa hòa bình” mà nhân loại hướng tới - là nội dung có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện đề tài nghiên cứu của luận án
Tiểu kết chương 1
Nhìn chung, những công trình trên đã nghiên cứu về hòa bình, tư tưởng hòa bình từ những cách tiếp cận khác nhau Việc nghiên cứu tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây thời cận hiện đại ở trong nước chỉ mới dừng lại ở việc xem xét một cách gián tiếp chứ chưa giải quyết một cách trực tiếp
từ góc độ triết học, chưa thấy được lôgíc phát triển của tư tưởng hòa bình trong dòng chảy triết học phương Tây Do vậy có thể đánh giá ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, các công trình của các nhà nghiên cứu phương Tây, ở phương
diện này hay phương diện khác đã đề cập đến tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại Nhưng chưa thấy có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu đầy đủ và có hệ thống về tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây nói chung và trong triết học phương Tây cận hiện đại nói riêng
Thứ hai, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận thấy được giá trị của hòa bình đối
với sự tồn tại của xã hội và con người, nhưng các công trình mới chỉ rõ, hòa bình chỉ là trạng thái mà ở đó không xuất hiện chiến tranh, hòa bình chỉ là hòa bình giữa các quốc gia dân tộc
Trang 34Thứ ba, mặc dù khẳng định giá trị của hòa bình, nhưng các công trình
nghiên cứu cũng không phủ nhận vai trò tích cực của chiến tranh ở những hoàn cảnh cụ thể của nó Trong chiến tranh, có chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa, chỉ có chiến tranh phi nghĩa mới đáng bị lên án do nó chống lại con người
Thứ tư, các công trình nghiên cứu cũng đã khẳng định, chiến tranh trong
thời đại ngày nay đã là một trong những vấn đề toàn cầu đe dọa sự tồn vong của loài người trên trái đất Đặc biệt, trước thảm họa của chiến tranh, thực trạng của hòa bình trong thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, các công trình nghiên cứu cũng hướng tới đề xuất giải pháp kiến tạo một nền hòa bình của nhân loại, và giải pháp mà loài người tiến bộ hướng tới đó chính là xây dựng “văn hóa hòa bình”
Dù hiện tượng hòa bình được đề cập ở những cách tiếp cận trên nhưng trong khuôn khổ cũng như tính chất của một luận án triết học, chúng tôi chỉ nghiên cứu tư tưởng hòa bình đã được phản ánh trong triết học phương Tây cận hiện đại Nói cách khác, hòa bình được chúng tôi nghiên cứu không hẳn,
và không chỉ là trạng thái không có chiến tranh, hòa bình không phải chỉ là hòa bình giữa các quốc gia dân tộc, mà phải là một giá trị đảm bảo cho sự sống, đảm bảo cho hạnh phúc, đảm bảo cho công lý, chống lại tất cả những hành động xâm phạm đến sự sống của con người trên trái đất như đã được làm rõ trong mục đối tượng nghiên cứu của luận án Đây chính là những điểm
mà chúng tôi sẽ cố gắng bổ sung, làm sáng tỏ trong khuôn khổ của một luận
án tiến sĩ triết học
Trang 35Chương 2 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG HÕA BÌNH TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CẬN HIỆN ĐẠI 2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và chính trị cho sự ra đời tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Quá trình hình thành các quốc gia lớn ở châu Âu như các nhà nước dân tộc đã kết thúc ở thế kỷ XVII Chế độ chuyên chế thể hiện như là tác nhân của
xu hướng tập quyền, nó biểu hiện trong con mắt của những người tiến bộ ở thời đại này là bản nguyên hợp lý, có nhiệm vụ chấm dứt các xung đột trong nước và đảm bảo sự ổn định chính trị bên ngoài Do vậy, những người đương thời nhìn nhận chiến tranh đi liền với quá trình ấy nếu không phải với một thái độ tán thành, thì cũng như một cái tất yếu, như cái ác không tránh khỏi nhằm trừng phạt con người do tội lỗi của họ Lý thuyết về tính có chu kỳ của chiến tranh và hòa bình được phổ biến rộng rãi, sự thay thế giữa trạng thái chiến tranh và hòa bình được quan niệm là tất yếu như sự thay thế của các
mùa trong một năm
Triết học phương Tây cận hiện đại “sử dụng tư tưởng để biểu thị” một thời đại lịch sử có quy mô lớn, có ý nghĩa văn minh hóa Đó là sự khởi xướng, phát triển khoa học - kỹ thuật dựa trên cơ sở kỹ thuật cơ khí; là tiếp tục hiện đại hóa các phương diện hoạt động sống khác nhau của con người; là giải phóng dần dần cá nhân khỏi lệ thuộc của nông nô, các đặc quyền đặc lợi của đẳng cấp; là bảo vệ và ghi nhận các quyền tự do của con người về mặt lập pháp; là bảo vệ phẩm giá của cá nhân; phát triển văn hóa theo các nguyên tắc khai sáng; là cải cách Kitô giáo và các tín ngưỡng khác Các học thuyết và các
tư tưởng triết học xã hội, triết học pháp quyền và chính trị xã hội của các nhà triết học phương Tây cận hiện đại là câu trả lời cho những nhu cầu và những
Trang 36đòi hỏi của thời đại Tư tưởng triết học về hòa bình ở giai đoạn lịch sử này là một trong những câu trả lời cho nhu cầu về môi trường xã hội thuận lợi và
phù hợp cho sự phát triển hòa bình và tiến bộ của xã hội công nghiệp
Trong bối cảnh của thời đại, có hai sự kiện lịch sử có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến tất cả các nước phương Tây trên mọi mặt đời sống xã hội ở thời cận hiện đại Đó là cuộc cách mạng công nghiệp Anh và cuộc cách mạng tư sản Pháp Vào nửa cuối của thế kỷ XVIII, một loạt nước tây Âu đã đạt đến một trình độ phát triển kinh tế tương đối cao theo con đường tư bản chủ nghĩa Sự kiện quan trọng nhất trong đời sống kinh tế của xã hội tư bản lúc bấy giờ là cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh bắt đầu từ năm 1760, nó không chỉ bao gồm ngành dệt mà còn lan rộng ra khắp các ngành sản xuất khác và làm thay đổi bộ mặt của nước Anh Nó biến nước Anh từ một nước có nền công nghiệp nhỏ bé thành một nước tư bản chủ nghĩa lớn mạnh nhất, có ảnh hưởng lớn về kinh tế và chính trị đến các nước trên thế giới [Xem: 118, tr 140]
Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh có tác động tới sự phân chia giai cấp trong xã hội, sự xung đột xã hội bắt đầu tăng lên Kết quả trực tiếp nhất của cuộc cách mạng công nghiệp là sự hình thành các trung tâm công nghiệp lớn Toàn bộ nước Anh được liên kết với nhau nhờ mạng lưới đường sắt và qua đó máy móc, hàng hoá và nguyên liệu được vận chuyển đi một cách nhanh chóng Những ngành công nghiệp mới hình thành đòi hỏi phải có một số lượng lớn công nhân có sẵn để đáp ứng nhu cầu của nó Nhờ cuộc cách mạng công nghiệp mà giai cấp tư sản trở thành giai cấp đại diện cho lý tính đã có được địa vị của tầng lớp quý tộc trước kia Từ đây, giai cấp tư sản sẽ cai trị xã hội nhân danh lý tính, khoa học Chính sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp tất yếu làm nảy sinh nhu cầu về một nền hòa bình bền vững tạo điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 37Ở Pháp, trong những năm 1789 - 1794 đã nổ ra cuộc cách mạng tư sản,
“như một sự kiện lịch sử trọng đại đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến thối nát và thiết lập chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa” [118, tr 117] nó mở rộng đường cho lực lượng sản xuất của xã hội tư bản phát triển Đây là một sự kiện gây tiếng vang lớn và có ý nghĩa vạch thời đại Bởi vì nó đã làm cho những quan hệ phong kiến cũ bị phá vỡ, chế độ chính trị quân chủ sụp đổ Các nhà
tư tưởng tiến bộ đương thời đã hào hứng chào đón sự kiện này Khẩu hiệu
“Tự do, bình đẳng, bác ái” được viết trên lá cờ của cách mạng tư sản Pháp đã
có ảnh hưởng mạnh mẽ và là nguồn cảm hứng cho những suy ngẫm trong lĩnh vực triết học xã hội, trước hết là vấn đề về hòa bình như một môi trường thuận lợi nhất cho sự phát triển như vũ bão của xã hội công nghiệp mới xuất hiện Chính vì vậy mà “tự do, bình đẳng và bác ái” trở thành những mục đích quan trọng nhất để các triết gia thời kỳ này tiếp cận luận chứng cho tư tưởng
về nền hòa bình xã hội vĩnh cửu
2.1.2 Điều kiện văn hóa
Trong triết học phương Tây cận hiện đại, một trong những đặc điểm văn hóa nổi bật có ảnh hưởng tới cách tiếp cận triết học về hòa bình ở thời đại này chính là chủ nghĩa duy lý Tất cả mọi vấn đề, trong đó có vấn đề về hòa bình, đều sẽ được xem xét và giải quyết dưới ánh sáng của lý tính như vị quan tòa tối cao Chủ nghĩa duy lý theo nghĩa rộng nhất của từ này là đề cao, tuyệt đối hóa vai trò của lý tính (ratio) Về thực chất, đây là một sự sùng bái đặc biệt đối với lý tính, trước hết là lý tính khoa học - niềm tin vào những khả năng vô hạn của khoa học, của trí tuệ con người Cơ sở cho quan niệm như vậy là niềm tin vào tính hợp lý của mọi cái thực tồn, của toàn bộ vũ trụ và của mỗi
bộ phận riêng biệt trong vũ trụ Cơ sở của vũ trụ là những nguyên tắc hợp lý Chúng được coi là những nguyên tắc chung cho cả giới tự nhiên và nhận thức của con người về giới tự nhiên, là những nguyên tắc bất biến Biểu hiện của
Trang 38chủ nghĩa duy lý trong cách tiếp cận với vấn đề hòa bình là việc xem xét chiến tranh như các hình thức bộc lộ và chiếm ưu thế của những cái nằm ngoài lý tính của con người Do vậy, điều kiện cần thiết để tạo dựng hòa bình
là tổ chức cuộc sống của con người và của cộng đồng người một cách phù hợp với lý tính
Triển khai cụ thể nguyên tắc duy lý trong học thuyết về con người, triết học phương Tây cận hiện đại xem xét thể xác con người như một trong những thực thể tự nhiên trên các phương diện vật lí học và sinh học (sinh lí học, nhân chủng học) Do vậy, con người thể hiện ở đây là một bộ phận của tự nhiên, phục tùng các quy luật của tự nhiên Mặt khác, triết học phương Tây cận hiện đại xây dựng học thuyết đặc thù về bản chất người, hay bản tính người (B Spinoza, T Hobbes, J Locke, các nhà triết học Khai sáng Pháp): sức mạnh của tự nhiên được hiểu là sức mạnh của tất cả mọi cá thể cộng lại; khẳng định quyền “tự nhiên” của con người riêng biệt (cá thể) về tự vệ và đáp ứng những nhu cầu cần thiết cơ bản; khẳng định sự bình đẳng bẩm sinh của con người, “quyền tự do bẩm sinh của con người”, quyền tư hữu, “bản chất xã hội của con người” như những giá trị (Hume) Khi đó, bình đẳng được hiểu không phải là bình đẳng về của cải hay về đẳng cấp, không phải là bình đẳng
về năng lực, mà là quyền bình đẳng của cá nhân về bảo vệ cuộc sống, về sở hữu, về chống lại bạo lực và đàn áp Dấu hiệu quan trọng hàng đầu của bản chất người được coi là lý tính theo nghĩa rộng (từ giác tính như năng lực phán đoán, chứng minh, luận chứng cho tới lý tính như tư duy, trí tuệ, nhận thức khoa học) Con người không những có cảm tính và lý tính mà còn có dục vọng, cảm xúc, từ đó nảy sinh vấn đề đối đầu giữa lý tính với dục vọng và khả năng loại bỏ dục vọng nhờ lý tính như là điều kiện tối hậu để đem lại sự bình
an cho con người và cho xã hội loài người
Trang 39Các nhà tư tưởng của thời đại như T Hobbes, B Spinoza, J Locke đã thể hiện thái độ đối với chiến tranh không những chỉ như tai họa đổ xuống đầu các dân tộc từ bên ngoài, mà còn như phương tiện đấu tranh chính trị Song lý thuyết của các ông lại dần dần thủ tiêu thái độ biện hộ đối với chiến tranh và sự minh biện cho nó về mặt lý thuyết, chuẩn bị cơ sở cho sự khải hoàn của tư tưởng hòa bình
Thành tựu hiển nhiên của thời đại này là sự ra đời của khế ước giữa các quốc gia về nền hòa bình vĩnh cửu Lần đầu tiên người ta đã cố tìm ra con đường để giải quyết thành công vấn đề chiến tranh và hòa bình Vốn được hình thành trong “Kinh nghiệm” của F Bacon, nguyên tắc “lợi ích quốc gia” như là nguyên tắc của chế độ chuyên chế đã trở thành xuất phát điểm cho dự
án về nền hòa bình vĩnh cửu Tất cả mọi quốc gia đều quan tâm đến sự phát triển thịnh vượng có tiền đề trực tiếp là hòa bình Chúng có thể thực hiện lợi ích phát triển thịnh vượng của mình theo con đường khế ước Khác với “nền cộng hòa trung cổ” có sứ mệnh tiến hành chiến tranh chống lại “dị giáo”, phần lớn dự án về nền hòa bình chung ở thời cận hiện đại đều được xây dựng dựa trên một cơ sở thế giới quan quảng đại và bác ái, đánh dấu việc khước từ chiến tranh tôn giáo và không khoan dung chính trị Điều này cho thấy đây cũng là việc khắc phục lối tư duy định mệnh luận và kinh viện nhờ những thành tựu của triết học duy lý và tri thức kinh nghiệm Tư tưởng về nền hòa bình chung cho thấy khát vọng nhìn nhận hiện thực xã hội từ lập trường triết học và khoa học tiên tiến cận hiện đại
Tất cả những điều nói trên thể hiện đặc biệt rõ ở thời kỳ Khai sáng Tư tưởng triết học ở thời kỳ này đi vào chiều rộng Sự phát triển của khoa học và
kỹ thuật tạo ra các lực lượng sản xuất mới cho một sự nhảy vọt về chất của phát triển xã hội Sự phát triển của những thành tố quan hệ xã hội mới kích thích quá trình đó Sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng triết học Khai sáng
Trang 40bộc lộ ra cả trong tư tưởng về nền hòa bình chung Tư tưởng khế ước về nền hòa bình vĩnh cửu đã được đưa ra trước đó Nhiệm vụ của tư tưởng triết học Khai sáng là luận chứng cho nó và đưa nó vào thực tiễn nhằm đáp ứng các nhu cầu cấp bách của phát triển xã hội công nghiệp
2.1.3 Điều kiện chính trị
Như đã giới thiệu ở tiểu tiết trên, sự xuất hiện của nhà nước dân tộc đã làm nảy sinh mâu thuẫn, xung đột và chiến tranh giữa các nhà nước với nhau cũng như bên trong các nhà nước dân tộc, và để chấm dứt chiến tranh, hòa bình giữa các nhà nước dân tộc, hòa bình ngay trong bản thân mỗi nhà nước dân tộc thì tất yếu nảy sinh nhu cầu cần có khế ước xã hội để giải quyết vấn
đề chiến tranh xung đột, đem lại hòa bình đang đặt ra ở thời cận hiện đại Tuy nằm trong khuôn khổ lịch sử cận hiện đại ở tây Âu, song tư tưởng về hòa bình trong triết học cổ điển Đức có những sắc thái nội dung khác biệt do điều kiện lịch sử đặc thù của nước Đức Có thể nói, trong khi Anh và Pháp tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa thì nước Đức vẫn là một nước lạc hậu về kinh tế và chính trị [Xem: 118, tr 141] Nền kinh tế bị ràng buộc bởi quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu Sự tập trung ruộng đất trong tay địa chủ, những tàn dư của chế độ nông nô, chế độ phường hội trong thành thị đã làm năng suất lao động thấp, đời sống của đại đa số quần chúng nhân dân trở nên nghèo nàn cùng cực Hơn nữa, sự phân chia lãnh địa của hàng trăm cát cứ phong kiến và cùng với đó là sự phân chia về kinh tế và chính trị đã cản trở nước Đức phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa
Mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn đã bao trùm cả nước Không có giáo dục, không có phương tiện ảnh hưởng đến ý thức quần chúng, không tự
do báo chí, không có dư luận xã hội, thậm chí không có buôn bán tương đối lớn với các nước khác - không có gì cả ngoài sự đê tiện và tự tư tự lợi; lề thói con buôn hèn mạt, xun xoe, nịnh hót thảm hại, đã thâm nhập toàn dân Mọi