Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Người đã có những kiến giải sâu sắc về các động lực đối với sự phát triển xã hội Việt Nam mà động lực tinh thần là một bộ phận.. Hồ Chí M
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
NGUYỄN THỊ THÚY THANH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘNG LỰC TINH THẦN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
NGUYỄN THỊ THÚY THANH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘNG LỰC TINH THẦN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS Hồ Trọng Hoài và PGS.TS Đoàn Thị Minh Oanh Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận án là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học Các tài liệu có nguồn gốc xuất
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 32
Chương 1 32
ĐỘNG LỰC TINH THẦN VÀ QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘNG LỰC TINH THẦN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 32
1.1 Động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội 32
1.1.1 Khái niệm phát triển xã hội 32
1.1.2 Khái niệm động lực trong sự phát triển xã hội 37
1.1.3 Khái niệm động lực tinh thần 44
1.2.Vai trò và cơ chế tác động của động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội 48
1.2.1 Vai trò của động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội 48
1.2.2 Cơ chế tác động của động lực tinh thần 55
1.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội 64
1.3.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về phát triển xã hội 64
1.3.2.Quan niệm của Hồ Chí Minh về động lực và động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội 68
Chương 2 77
MỘT SỐ ĐỘNG LỰC TINH THẦN CHỦ YẾU VÀ PHƯƠNG THỨC PHÁT HUY ĐỘNG LỰC TINH THẦN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 77
2 1 Một số động lực tinh thần chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh 77 2.1.1 Yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội 77
2.1.2 Tư tưởng đại đoàn kết 84
2.1.3 Tư tưởng dân chủ 91
2.1.4 Các giá trị đạo đức của người cách mạng 97
2.1.5 Tư tưởng khoan dung 101
Trang 52.2 Phương thức phát huy động lực tinh thần theo tư tưởng Hồ Chí
Minh 108
2.2.1 Phát huy động lực tinh thần thông qua hoạt động của các chủ thể cách mạng 108
2.2.2 Phát huy động lực tinh thần thông qua việc xây dựng và hoàn thiện thể chế xã hội 117
2.2.3 Phát huy động lực tinh thần thông qua việc nêu gương người cán bộ cách mạng và vai trò tiền phong của Đảng 125
2.2.4 Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, danh dự, tính tích cực của công dân 131
2.2.5 Phát huy động lực tinh thần thông qua phương thức tự phê bình và phê bình 135
Chương 3 140
PHÁT HUY ĐỘNG LỰC TINH THẦN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP 140
3.1 Vấn đề phát huy động lực tinh thần ở Việt Nam hiện nay 140
3.1.1 Về chủ nghĩa yêu nước 140
3.1.2 Về vấn đề đại đoàn kết 145
3.1.3 Về vấn đề dân chủ 150
3.1.4 Về vấn đề đạo đức 156
3.1.5 Về vấn đề khoan dung 161
3.2 Giải pháp cơ bản nhằm phát huy động lực tinh thần theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 164
3.2.1.Nâng cao nhận thức cho nhân dân về vai trò của động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội 164
3.2.2 Hoàn thiện thể chế xã hội nhằm phát huy vai trò các động lực tinh thần 167
Trang 63.2.3 Nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng trong việc phát huy động lực tinh thần 180 3.2.4 Nêu gương người tốt, việc tốt 185 3.2.5 Đấu tranh chống âm mưu diễn biến tư tưởng của các thế lực thù địch 186
KẾT LUẬN 192
LUẬN ÁN 195 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 196
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của xã hội luôn được thúc đẩy bởi nhiều hệ động lực Xét đến cùng, một xã hội phát triển hay tụt hậu đều do nguyên nhân sâu xa từ hoạt động của con người Xuất phát từ con người hiện thực, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa của những quan hệ xã hội Chính hoạt động của con người đã tạo nên nguồn lực và sinh lực cho xã hội Những hoạt động đó vừa là nguồn lực, vừa là yếu tố thúc đẩy các hoạt động khác trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo nên những chuyển biến liên tục trong suốt lịch sử tiến hóa của xã hội loài người
Động lực phát triển xã hội là những yếu tố, những nhân tố có khả năng kích thích, thúc đẩy sự vận động và phát triển xã hội Động lực có nhiều loại khác nhau, trong đó bao gồm hai động lực cơ bản: Động lực vật chất và động lực tinh thần Mỗi loại động lực có vai trò khác nhau đối với xã hội Động lực vật chất là toàn bộ những điều kiện vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, tác động đến quá trình sản xuất vật chất, đem lại lợi ích trực tiếp cho con người Động lực tinh thần là những nhân tố, những giá trị tinh thần kích thích
sự hoạt động của các chủ thể xã hội theo hướng tích cực, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội
Thực tiễn phát triển xã hội Việt Nam những năm trước đổi mới cho thấy, với kinh nghiệm thành công của kháng chiến, đã có giai đoạn, chúng ta quá đề cao yếu tố tinh thần mà chưa quan tâm đúng mức đến yếu tố vật chất Việc kích thích tính tích cực của người lao động chỉ bằng sự động viên tinh thần, bằng lời kêu gọi lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Động lực tinh thần luôn giữ vị trí quan trọng trong sự phát triển xã hội Tuy nhiên, động lực tinh thần chỉ phát huy tác dụng trong điều kiện gắn với vật chất Nếu tách khỏi đời sống hiện thực, bản thân tinh thần chưa thể trở thành động lực thúc đẩy xã hội phát triển
Trang 8Ở Việt Nam những năm trước đổi mới, chúng ta đã tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần mà không đặt trong mối quan hệ với vật chất Mặt khác, do tư tưởng nóng vội, chủ quan muốn tiến nhanh đến chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã vận dụng chưa đúng những quy luật phát triển xã hội, điều đó làm cho nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Khi đời sống người lao động chưa được đảm bảo, khi người lao động không còn tha thiết với công việc của mình thì đó là dấu hiệu của sự khủng hoảng Chính thái độ thiếu hăng hái của người lao động là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tình trạng trì trệ, sa sút trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam những năm cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX
Sau gần 30 năm đổi mới, đất nước ta có những biến đổi sâu sắc về nhiều mặt Xã hội đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế và đang có những bước phát triển mạnh mẽ Văn hoá cũng có những tiến bộ đáng kể, đời sống của nhân dân tiếp tục được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, sự phát triển của kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế đã gây nên nhiều tác động tiêu cực đối với đời sống xã hội Nếu như trước thời kỳ đổi mới chúng ta quá chú trọng đến các yếu tố tinh thần thì sau đổi mới lại xuất hiện một xu hướng ngược lại, đó là quá coi trọng những giá trị vật chất, xem nhẹ yếu tố tinh thần Những mặt trái của kinh tế thị trường đã làm bùng phát lối sống thực dụng, chạy theo danh lợi, bất chấp đạo lý Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng; một bộ phận người dân, trong đó có bộ phận thế hệ trẻ, phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, chạy theo lối sống thực dụng, xa rời truyền thống dân tộc Các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu
“diễn biến hoà bình” nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất ổn định chính trị ở Việt Nam Đó chính là những yếu tố phản giá trị tinh thần Nếu như giá trị tinh thần là những nhân tố kích thích, thúc đẩy sự phát triển, thì phản giá trị tinh thần là những yếu tố cản trở, kìm hãm quá trình phát triển xã hội
Trang 9Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Người đã có những kiến giải sâu sắc về các động lực đối với sự phát triển xã hội Việt Nam mà động lực tinh thần là một bộ phận Người xem đó là những động lực quan trọng giúp chúng ta chiến thắng kẻ thù và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, Người đã tận lực phát huy các động lực tinh thần như chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân… để chiến thắng kẻ thù Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người đã xây dựng và khéo léo phát huy dân chủ, tôn trọng tự do, phẩm giá, quan tâm tới đời sống tinh thần của người lao động, v.v Nhờ vậy, tuy là một nước nhỏ nhưng Việt Nam đã chiến thắng được những thế lực ngoại xâm hùng mạnh và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh
Hồ Chí Minh không chỉ đề cập đến các nhân tố tinh thần tác động tới sự phát triển xã hội Việt Nam về phương diện lý luận mà bản thân Người đã hiện thực hóa các quan niệm đó trong toàn bộ hoạt động của mình và trong quá trình lãnh đạo đất nước Việc phát huy động lực tinh thần ở Hồ Chí Minh luôn đặt trong mối quan hệ với động lực vật chất Trong kháng chiến, Người đã tận lực phát huy sức mạnh tinh thần của cả cộng đồng dân tộc như: chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân… đồng thời cũng đem lại lợi ích vật chất như: ruộng đất, cơm áo… cho nhân dân Theo Hồ Chí Minh, để xã hội phát triển cần có sự nhận thức, tính toán, cân đối, bố trí, sử dụng các nguồn lực vốn có của đất nước, của xã hội, của nhân dân một cách hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao nhất, nhằm duy trì sự phát triển liên tục và bền vững của xã hội Việt Nam
Trong điều kiện phát triển xã hội Việt Nam hiện nay, việc nhận thức đúng
và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội là vấn đề quan trọng và cần thiết Việc khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức
Trang 10mạnh đại đoàn kết vào sự nghiệp xây dựng đất nước, nhằm hạn chế những mặt trái của kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế, nhằm chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là vấn đề có ý nghĩa quan
trọng cả về lý luận và thực tiễn cấp thiết Vì lẽ đó, tác giả đã chọn vấn đề: “Tư
tuởng Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội Việt Nam”
làm nội dung nghiên cứu của luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận mác xít về động lực và động lực
tinh thần, luận án làm rõ những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy các động lực đó ở Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất: Nghiên cứu tổng quan lý luận về động lực tinh thần và vai trò
của nó trong sự phát triển xã hội
Thứ hai: Nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về một số động lực
tinh thần cơ bản trong sự phát triển xã hội Việt Nam
Thứ ba: Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm phát huy động lực tinh thần
ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong
sự phát triển xã hội và các phương thức phát huy động lực tinh thần
Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và
sâu sắc về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó động lực tinh thần là một bộ phận Vấn đề động lực tinh thần trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, trong phạm vi luận án này, tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu một số động lực tinh thần cơ bản và phương thức phát huy động lực tinh thần trong tư tưởng Hồ Chí Minh và việc vận dụng những tư tưởng đó ở Việt Nam hiện nay
Trang 114 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương
pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng cũng như kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công
bố về phát triển xã hội và động lực phát triển xã hội
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận mácxít và
các phương pháp cụ thể như: phân tích văn bản, chứng minh, đối chiếu, so sánh, phương pháp kết hợp giữa lịch sử và logic
Ngoài ra, khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả không chỉ dựa trên những quan điểm lý luận, các tác phẩm của Người mà còn có sự kết hợp với thực tiễn chỉ đạo cách mạng của Hồ Chí Minh bởi vì chỉ căn cứ vào các bài viết, bài nói, tác phẩm của Hồ Chí Minh là chưa đầy đủ, đó mới chỉ là một phần nội dung tư tưởng của Người Kết quả hành động thực tiễn cách mạng dưới sự
tổ chức và lãnh đạo của Đảng do Người đứng đầu cũng chính là sự thể hiện và minh chứng rõ ràng giá trị khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh
5 Cái mới của luận án
Luận án đã góp phần khái quát hóa những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về động lực tinh thần và việc phát huy vai trò của động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội Việt Nam; đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy động lực tinh thần ở Việt Nam hiện nay
6 Đóng góp của luận án
Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm rõ lý luận chung về động lực và
động lực tinh thần; phân tích một cách có hệ thống quan niệm của Hồ Chí Minh
về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội Việt Nam
Về thực tiễn: Trên cơ sở thực tế phát huy động lực tinh thần trong xây
dựng đất nước thời gian qua, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy các động lực
đó ở Việt Nam hiện nay
Trang 12Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý xã hội, giáo viên, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu
7 KÕt cÊu cña luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Động lực tinh thần và quan niệm của Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội
Chương 2: Một số động lực tinh thần chủ yếu và phương thức phát huy động lực tinh thần theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Chương 3: Phát huy động lực tinh thần theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay - vấn đề và giải pháp
Trang 13TỔNG QUAN TèNH HèNH NGHIấN CỨU ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, đó cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu về vấn đề động lực đối với sự phỏt triển xó hội núi chung cũng như tư tưởng Hồ Chớ Minh về vấn đề động lực núi riờng
* Những vấn đề lý luận chung về động lực đối với sự phỏt triển xó hội cú một số công trình tiêu biểu sau đây:
Lờ Hữu Tầng (chủ biờn), Về động lực của sự phỏt triển kinh tế - xó hội,
Nxb Khoa học xó hội, 1997
Nguyễn Văn Huyờn (chủ biờn), Triết lý phỏt triển C.Mỏc, Ph.Ăngghen,
V.I.Lờnin, Hồ Chớ Minh, Nxb Khoa học xó hội, Hà Nội, 2000
Hồ Bỏ Thõm, Động lực và tạo động lực phỏt triển xó hội, Nxb Chớnh trị
quốc gia, Hà Nội, 2004
Lờ Thị Kim Chi, Nhu cầu: động lực và định hướng xó hội, Nxb KHXH, 2005 Nguyễn Văn Huyờn (chủ biờn), Văn húa mục tiờu và động lực của sự
phỏt triển xó hội, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội, 2006
Đinh Xuõn Lý (chủ biờn), Đảng lónh đạo phỏt triển xó hội và quản lý
phỏt triển xó hội thời kỳ đổi mới, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội, 2009
Hoàng Chớ Bảo (chủ biờn), Luận cứ và giải phỏp phỏt triển xó hội và quản lý
phỏt triển xó hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, Nxb Chớnh trị quốc gia, 2010
Trong cuốn sỏch Về động lực của sự phỏt triển kinh tế - xó hội do GS Lờ
Hữu Tầng chủ biờn, cỏc tỏc giả đó nờu lờn lý luận về động lực đối với sự phỏt triển xó hội cũng như hệ thống cỏc động lực của sự phỏt triển xó hội Trong cuốn sỏch này, khỏi niệm về động lực đó được tỏc giả Lờ Hữu Tầng phõn tớch
ễng đó phõn biệt sự khỏc nhau giữa khỏi niệm nguồn gốc của sự phỏt triển và khỏi niệm động lực của sự phỏt triển Theo ụng, nguồn gốc là cỏi gõy nờn sự
vận động và phỏt triển, cũn động lực là cỏi thỳc đẩy sự vận động và phỏt triển Khỏi niệm động lực của sự phỏt triển rộng hơn khỏi niệm nguồn gốc của sự
Trang 14phát triển Động lực của sự phát triển bao gồm cả nguồn gốc với tính cách là hạt nhân lẫn các yếu tố khác mà thông qua đó tác dụng nguồn gốc được tăng cường thêm Từ sự phân tích ấy, tác giả đã kết luận và gợi mở cho những ai muốn tìm hiểu về vấn đề động lực, rằng muốn tìm động lực của sự phát triển thì phải tìm được cái thúc đẩy sự vận động và phát triển ấy
Một nội dung quan trọng có liên quan trực tiếp đến luận án đã được thể hiện trong cuốn sách này, đó là các tác giả đã xác định được những động lực tinh thần rất quan trọng như: công bằng xã hội; dân chủ; môi trường tâm lý xã hội; niềm tin; văn hóa Giáo sư Lê Hữu Tầng đã phân tích sự khác nhau giữa khái niệm công bằng xã hội và khái niệm bình đẳng xã hội Theo ông công bằng xã hội là một dạng, một biểu hiện cụ thể của bình đẳng xã hội; thực hiện công bằng xã hội chính là thực hiện một phần của bình đẳng xã hội Thực hiện công bằng xã hội nhằm tạo ra không khí hòa thuận, tin yêu lẫn nhau và làm cho
xã hội ổn định Giáo sư Lê Hữu Tầng cũng phân biệt sự khác nhau giữa công bằng và cào bằng Về động lực dân chủ, Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn phân tích: Dân chủ là điều kiện trực tiếp mang lại sự tự do cho con người Sự phát triển tự do của mỗi cá nhân thực sự sẽ phát huy được khả năng chủ động và sáng tạo của con người Sự tự do cá nhân được dân chủ mang lại là cội nguồn sản sinh ra những sáng kiến, những sáng tạo, cũng có nghĩa là sản sinh ra sự giàu có, làm tăng thêm gấp bội của cải cho xã hội, góp phần thúc đẩy xã hội đi lên Thực hiện dân chủ cũng góp phần tạo ra môi trường tâm lý thuận lợi để khơi dậy tính tích cực của con người Môi trường tâm lý – xã hội cũng chính là một động lực cần được quan tâm Về động lực này, tác giả Phạm Thị ngọc Trầm cho rằng: Môi trường tâm lý – xã hội có vai trò quan trọng trong việc kích thích tính tích cực của người lao động, nó không thua kém bao nhiêu so với các biện pháp kích thích vật chất Theo tác giả, môi trường tâm lý – xã hội tác động đến tính tích cực của con người diễn ra ở hai mức độ: Thứ nhất, môi
Trang 15trường tâm lý – xã hội là môi trường (tác động gián tiếp) tạo ra động lực hoạt động của con người Ở mức độ thứ hai, môi trường tâm lý – xã hội có thể trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy hoạt động của con người Để tạo lập và duy trì môi trường tâm lý – xã hội lành mạnh, tích cực cho hoạt động của con người, cần tác động vào những điều kiện kinh tế - xã hội mà quan trọng là phải đưa ra những chính sách kinh tế xã hội đúng đắn Bên cạnh đó cần phải biết tác động tích cực và có hiệu quả lên các yếu tố tâm lý – xã hôi như tâm trạng xã hội, tâm thế xã hội, tình cảm xã hôi, dư luận xã hội Trong các yếu tố tạo nên môi trường tâm lý – xã hội thì niềm tin là một động lực quan trọng, nó làm cho hoạt động của con người trở nên năng động hơn, phấn chấn hơn, kiên quyết hơn Với niềm tin sâu sắc, nhận thức của con người sẽ có định hướng rõ rệt hơn, ý chí sẽ kiên định hơn, thế giới quan, lý tưởng sẽ được khẳng định mạnh
mẽ hơn Lúc ấy, niềm tin sẽ trở thành một động lực mạnh mẽ, có tác dụng tích cực hóa hoạt động của con người, thúc đẩy nhanh sự phát triển của đất nước
Có thể nói, cuốn sách này đã phân tích được những vấn đề lý luận cơ bản
về động lực như: khái niệm động lực; nêu lên hệ thống động lực cơ bản, bao gồm cả động lực vật chất và động lực tinh thần Tuy nhiên, cuốn sách chưa đi sâu phân tích khái niệm động lực tinh thần; vai trò của động lực tinh thần trong
sự phát triển xã hội; cơ chế hoạt động của động lực tinh thần Đó cũng chính là những nội dung mà luận án cần làm rõ
Cuốn sách Động lực và tạo động lực phát triển xã hội của TS Hồ Bá
Thâm đã nêu lên những quan niệm chung về động lực cũng như một số động lực trên một số lĩnh vực cơ bản: Dân chủ hoá tạo môi trường và động lực phát triển con nguời và xã hội; động lực và tạo động lực phát triển kinh tế; động lực
và tạo động lực phát triển văn hoá và việc đổi mới hệ thống chính trị để tạo động lực phát triển Đây là những nội dung có liên quan trực tiếp đến đề tài, là nguồn tài liệu quan trọng đã gợi mở cho tác giả về một số động lực phát triển
Trang 16xã hội Tuy nhiên, cuốn sách này chưa đi sâu vào động lực tinh thần trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong cuốn sách, tác giả đã làm rõ khái niệm động lực và động lực của
sự phát triển xã hội Động lực là cái thúc đẩy sự vận động và phát triển nhưng theo các tác giả, động lực còn phải có khả năng duy trì sự vận động sau khi đã chuyển sự vận động cho các sự vật khác Đồng thời sự thúc đẩy không phải một chiều mà là tác động qua lại mang tính nhân quả Động lực phát triển xã hội có đặc điểm là kích thích tính tích cực hoạt động, tính năng động, tạo ra khuynh hướng phát triển, thúc đẩy tiến bộ của những cộng đồng người, sự thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội Các tác giả đã phân tích các động lực tinh thần của xã hội Việt Nam hiện nay đó là động lực đại đoàn kết, động lực dân chủ Đoàn kết chính là phương thức cơ bản tạo ra lực lượng hùng mạnh và cũng
là phương thức tạo ra động lực to lớn và chủ yếu để mọi người, mọi thành phần kinh tế, mọi giai tầng xã hội khai thác tiềm năng, phát huy các nguồn lực nhằm phát triển đất nước Với ý nghĩa đó, đại đoàn kết là động lực mạnh mẽ đảm bảo thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước Cùng với đoàn kết, dân chủ hóa vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế là cơ sở của đoàn kết, không dân chủ không thể đoàn kết được Có dân chủ mới phát huy được mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước Đặc biệt trong cuốn sách này tác giả đã đề cập đến động lực con người, coi đây là động lực quan trọng của sự phát triển xã hội Con người
là nhân tố trung tâm, nhân tố chủ động của sự phát triển Con người là chủ thể của
sự phát triển và là động lực thực sự của sự phát triển Nhu cầu và lợi ích của con người, hoạt động thực tiễn của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích đó thực
sự đã trở thành động lực của sự phát triển của chính con người và của cả xã hội
Bên cạnh việc phân tích sự khác nhau giữa khái niệm động lực và động lực phát triển xã hội; nêu lên những động lực chủ yếu của sự phát triển xã hội hiện nay, tác giả Hồ Bá Thâm còn chỉ ra những lực cản đối với sự phát triển xã
Trang 17hội Việt Nam hiện nay như: Lực cản từ sự chống đối của các thế lực thù địch trong và ngoài nước; lực cản từ nền tiểu sản xuất, phân tán, khép kín đi lên, tư tưởng cục bộ quan liêu, cá nhân chủ nghĩa; lực cản từ trình độ nhận thức, dân trí chưa cao; lực cản từ sự lạc hậu về tâm lý; từ sự sai lệch cấu trúc, thiếu tính đồng bộ trong từng tổ chức, từng bộ phận và cả hệ thống hoặc giữa các hệ thống kinh tế - xã hội với nhau trong cải cách, đổi mới, xây dựng và phát triển
Cuốn sách Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam do Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Lê Du
Phong chủ biên là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nước mã số
KX.01.08 Cuốn sách này bao gồm ba phần chính: Phần một: Những vấn đề lý
luận và thực tiễn về nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị
trường Phần hai: Thực trạng sử dụng các nguồn lực và phát huy các động lực phát triển trong nền kinh tế Việt Nam từ đổi mới đến nay Phần ba: Chính sách
và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các nguồn lực, sử dụng hợp lý các nguồn lực, phát huy đầy đủ các động lực phát triển trong nền kinh tế tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trong phần 1, các tác giả làm rõ lý luận về nguồn lực, động lực và các quan điểm phân bổ, sử dụng và phát huy chúng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Khái niệm và vai trò của động lực phát triển kinh tế được phân tích như sau: Động lực phát triển kinh tế là tổng thể các yếu tố vật chất và tinh thần tạo ra sức mạnh, giúp con người khai thác một cách tốt nhất mọi nguồn lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển với tốc độ cao, phát triển bền vững và hiệu quả Như vậy, động lực phát triển kinh tế cũng
có hai loại: động lực vật chất và động lực tinh thần Cả hai loại đó đều có vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế Cuốn sách này đã đề cập đến khái niệm động lực tinh thần Khái niệm động lực tinh thần được xác định là những sự tác động của những nhân tố tinh thần tới quá trình khai thác mọi nguồn lực hiện thực và tiềm năng cho sự phát triển kinh tế Các tác giả đã đề cập đến một số
Trang 18động lực thúc đẩy phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường, đó là: Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường; phát triển kinh tế nhiều thành phần; kích thích các lợi ích kinh tế và tạo lập cơ chế cạnh tranh lành mạnh
Có thể nói, cuốn sách này bao gồm nhiều nội dung phong phú, có liên quan trực tiếp đến nội dung luận án Mặc dù cuốn sách mới chỉ bàn đến những nguồn lực và động lực trong phát triển kinh tế, chưa phải là sự phát triển xã hội nói chung, nhưng đây vẫn là một tài liệu quan trọng giúp tác giả luận án tham khảo và vận dụng khi nghiên cứu luận án
Trong cuốn sách Nhu cầu: động lực và định hướng xã hội, tác giả Lê Thị
Kim Chi đã bàn cụ thể đến vị trí, vai trò của động lực nhu cầu trong hệ thống động lực phát triển xã hội; việc sử dụng vai trò của động lực nhu cầu trong định hướng hoạt động của con người cũng như chỉ ra một số nhu cầu cấp bách cần tập trung giải quyết và những giải pháp có tính định hướng nhằm phát huy vai trò của động lực nhu cầu ở nước ta
Tác giả Lê Thị Kim Chi đã làm rõ vị trí, vai trò của động lực nhu cầu trong hệ thống động lực phát triển xã hội Trước khi làm rõ vai trò của động lực nhu cầu đối với hoạt động của con người và lịch sử, tác giả đã phân tích khái niệm nhu cầu với những đặc trưng chung của nó trong quan hệ với khái niệm lợi ích với tư cách là khái niệm triết học – xã hội Tác giả đã nêu ra hàng loạt những quan niệm khác nhau về nhu cầu Trên cơ sở ấy, tác giả nêu lên quan điểm của mình về nhu cầu như sau: Nhu cầu là những trạng thái thiếu hụt và những đòi hỏi cần được đáp ứng của chủ thể (con người và xã hội) để tồn tại và phát triển Những đặc trưng cơ bản của khái niệm nhu cầu là: Nhu cầu nảy sinh
và tồn tại một cách khách quan, biểu hiện mối quan hệ của một hệ thống mở giữa con người, xã hội với hoàn cảnh; nhu cầu tồn tại như là một thuộc tính, một cơ cấu, một chức năng của cơ thể sống, những thuộc tính ấy như là một trạng thái căng thẳng bên trong cần được đáp ứng để tồn tại và phát triển; nhu cầu là những đòi hỏi thiết yếu của chủ thể đối với những điều kiện bên ngoài
Trang 19được con người nhận thức, có khả năng tự điều chỉnh, kích thích hoạt động của chủ thể một cách tích cực như là động lực nội sinh của sự phát triển; nhu cầu còn thể hiện các quan hệ xã hội tương ứng với trình độ phát triển kinh tế của một xã hội nhất định Như vậy, bản chất của nhu cầu và sự nảy sinh nhu cầu trước hết là do tác động của hoàn cảnh và đối tượng bên ngoài, trong đó quan trọng nhất là do tác động của sản xuất vật chất Nhu cầu được coi như một động lực quan trọng của sự phát triển xã hội Khi con người nhận thức được nhu cầu của mình, con người trở nên ham muốn, có động cơ để hành động Con người hoạt động và thực hiện nhu cầu tức là thực hiện lợi ích Từ đó chúng tạo thành động lực thúc đẩy con người hành động Đó cũng chính là chuyển hóa từ nhu cầu thành lợi ích, lợi ích thành động cơ, động cơ biến thành hành động và ngược lại
Sau khi phân tích khái niệm nhu cầu cũng như vai trò của động lực nhu cầu, tác giả Lê Thị Kim Chi đã nêu lên việc cần phải chủ động định hướng hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức các nhu cầu Nhận thức các nhu cầu là
cơ sở định hướng động cơ con người trong hành động, đồng thời cũng có nghĩa
là định hướng động lực cho sự phát triển Tác giả cũng nêu lên một số công cụ
xã hội để chủ động định hướng hoạt động của con người, đó là: Định hướng bằng đường lối chính sách; định hướng bằng pháp luật, pháp chế; định hướng bằng công tác giáo dục thông tin, tuyên truyền; định hướng bằng đạo đức và dư luận xã hội
Bên cạnh những vấn đề lý luận nêu trên, trong cuốn sách này tác giả đã liên hệ cụ thể tới Việt Nam Đó là việc nêu ra những nhu cầu cấp bách ở nước
ta cần tập trung giải quyết nhằm tạo động lực cho sự phát triển, đó là: Nhu cầu
có việc làm để thoát khỏi đói nghèo, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống; nhu cầu nâng cao trình độ dân trí, tạo nguồn lực có chất lượng, đáp ứng
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, được sống trong môi trường trong lành; nhu cầu thực hiện công bằng và
Trang 20dân chủ Tác giả còn nêu những giải pháp định hướng nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách ở nước ta và tạo động lực trực tiếp cho sự phát triển, đó là: Quán triệt phương châm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội và tạo môi trường sống đảm bảo sự phát triển bền vững; lựa chọn chiến lược, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và nguồn nhân lực đúng đắn, có trọng điểm; đổi mới cơ chế quản lý nhằm tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển khả năng sáng tạo và phát huy cao độ nội lực của toàn dân trong việc giải quyết các nhu cầu cấp bách; các cấp, các ngành cần tập trung chỉ đạo để giải quyết kịp thời các nhu cầu cấp bách
Tập thể tác giả trong cuốn sách Văn hóa mục tiêu và động lực của sự
phát triển xã hội do GS Nguyễn Văn Huyên chủ biên đã phân tích một cách rất
sâu sắc bản chất của văn hóa đề chứng minh văn hóa vừa là mục tiêu phấn đấu vươn lên của nhân loại, vừa là động lực mạnh mẽ trong việc thúc đẩy quá trình phát triển xã hội Các tác giả của cuốn sách cũng đã nêu lên những nội dung cụ thể về khái niệm động lực; động lực xã hội; động lực của văn hóa đối với sự phát triển xã hội Đây là cuốn sách mà các tác giả đi sâu phân tích về động lực văn hóa đối với sự phát triển xã hội
Trên cơ sở khái niệm về động lực, các tác giả cuốn sách đã tập trung phân tích một động lực cụ thể, đó là động lực văn hóa với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Đây là vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội dung của luận án Trước khi phân tích động lực văn hóa, các tác giả cũng
đã nêu lên các khái niệm về động lực, động lực xã hội, động lực của văn hóa đối với phát triển xã hội Theo các tác giả, động lực, theo nghĩa chung nhất là năng lượng làm cho sự vật vận động, trong đó có sự biến đổi bản thân sự vật,
có sự chuyển đổi và thúc đẩy sự vật khác vận động Động lực phát triển xã hội
là cái có khả năng kích thích, thúc đẩy, tăng cường sự vận động của quá trình
xã hội Về nguyên tắc, có thể nói, tất cả những gì có vai trò nhất định đối với sự
Trang 21vận động xã hội theo xu hướng tiến bộ cũng đều được xem là động lực của sự phát triển xã hội Văn hóa được coi là động lực của sự phát triển xã hội Văn hóa là một chỉnh thể toàn vẹn bao gồm cả tinh thần và sức sống, trình độ và sức mạnh, năng lực và bản lĩnh của cả một cộng đồng, một xã hội Văn hóa chính là linh hồn, là sức sống, sức mạnh của một xã hội, nó không chỉ thấm sâu, xuyên suốt trong cơ thể xã hội, mà quan trọng hơn, nó là bản thân sự sống, bản thân sức mạnh hoạt động của xã hội đó Do vậy, văn hóa thực sự là một động lực thúc đẩy xã hội phát triển
Trên đây là một số công trình có nội dung bàn về vấn đề động lực Còn
ba công trình sau đây lại bàn cụ thể đến khái niệm và nội dung của phát triển xã hội Đây cũng là nội dung có liên quan đến luận án, là cơ sở giúp tác giả luận
án hiểu và phân tích sâu hơn về phát triển xã hội
Cuốn sách Triết lý phát triển C.Mác, Ph.Ănghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh
do GS Nguyễn Văn Huyên chủ biên là nhánh đề tài trong hệ thống 7 đề tài thuộc chương trình nghiên cứu khoa học: “Triết lý về sự phát triển ở Việt Nam”, các tác giả đã phân tích triết lý phát triển của C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển
Trong phần 1, các tác giả đã phân tích triết lý phát triển của C Mác, Ph Ăngghen,V.I Lênin từ tầng lý luận chung và tầng thực tiễn thông qua thực tế phát triển của một số nước tư bản và thuộc địa Trên cơ sở triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, công trình làm rõ lý thuyết phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin: phát triển là quy luật vốn có của tự nhiên trong đó có xã hội loài người; con đường đi lên tất yếu của xã hội; các chuẩn mực, các yếu tố, các điều kiện (động lực, nguồn lực, tương tác ) của sự phát triển nói chung và
sự phát triển của xã hội nói riêng Phần này các tác giả đi sâu phân tích 4 nội dung cơ bản: một là, phép biện chứng mácxit – nguyên lý về sự phát triển; hai
là, quan niệm vê phát triển trong xã hội loài người; ba là, sự phát triển qua phân
Trang 22tích thực tế của C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin ở một số nước châu Âu, nước Nga và châu Á; bốn là, các tiêu chuẩn, các yếu tố và điều kiện của sự phát triển Phần hai của cuốn sách làm rõ triết lý cốt lõi của Hồ Chí Minh về một đất nước phát triển, giải pháp có tính nguyên tắc đối với việc thực hiện sự phát triển đất nước
Trong công trình Đảng lãnh đạo phát triển xã hội và quản lý phát triển xã
hội thời kỳ đổi mới do PGS TS Đinh Xuân Lý chủ biên tập trung nghiên cứu
những vấn đề sau: Luận cứ của việc nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong tiến trình đổi mới; các yếu tố có tác động đến năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội; thực trạng năng lực lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thời
kỳ đổi mới - những vấn đề đặt ra; hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội trên một số lĩnh vực
Trong cuốn sách này, các tác giả đã nêu lên quan niệm của Mác – Lênin
về phát triển xã hội; quan điểm của Hồ Chí Minh về quản lý phát triển xã hội cũng như sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội ở Việt Nam Các tác giả đã nêu lên nhiều quan niệm khác nhau về phát triển xã hội Có quan điểm cho rằng, phát triển xã hội đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế và sự phát triển khoa học, công nghệ; có quan điểm cho rằng, phát triển xã hội là sự phát triển của cá nhân và tổ chức xã hội mà cá nhân đó đang sống; có quan điểm lại cho rằng, phát triển xã hội là sự phát triển đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân và cộng đồng Quan điểm về phát triển xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin được các tác giả phân tích trên những khía cạnh: quan điểm về phát triển xã hội theo cấu trúc và theo quá trình vận động của xã hội; đối tượng quản lý phát triển xã hội là “xã hội chính trị” hay “xã hội dân
Trang 23chủ” và “xã hội công dân”; phương thức quản lý phát triển xã hội là nắm bắt và điều tiết các quan hệ xã hội và phải nắm vững khoa học và nghệ thuật quản lý Trong nội dung phân tích về sự lãnh đạo của Đảng ta đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, các tác giả đã phân tích các yếu tố tác động đến năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng như: điều kiện địa lý - tự nhiên, hình thái lãnh thổ và lịch sử - văn hóa Việt Nam; của nhân tố kinh tế; nhân tố xã hội; nhân tố quốc tế Các tác giả cũng đã nêu ra thực trạng năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
Còn công trình Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới do GS,TS Hoàng Chí Bảo chủ biên tập
trung vào bốn vấn đề chủ yếu sau: Một là, những vấn đề phương pháp luận và
cơ sở lý luận của phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong tiến trình đổi mới; hai là, lý thuyết và mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước trên thế giới - Những tham khảo cho Việt Nam trong quá trình đổi mới; ba là, biến đổi xã hội và quản lý phát triển xã hội trên một số lĩnh vực chủ yếu của nước ta hiện nay - Thực trạng và vấn đề đặt ra; bốn là, những nhân tố tác động, quan điểm định hướng và hệ giải pháp phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
Trong phần 1: Những vấn đề lý luận và phương pháp luận của phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội, các tác giả đã nêu lên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quan điểm của Đảng ta về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Theo Giáo sư Hoàng Chí Bảo, xuất phát từ quan niệm xã hội theo nghĩa hẹp là mặt xã hội của phát triển, một quan niệm về phát triển xã hội cần phải thể hiện được các khía cạnh: Chủ thể của phát triển: phát triển cá nhân và cộng đồng; nội dung của phát triển: giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong phát triển; các nguồn lực, các điều kiện phát triển xét trên cả hai mặt số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu tổ chức
Trang 24đời sống xã hội của dân cư, của cá nhân và cộng đồng Dựa trên hướng tiếp cận
đó, Giáo sư Hoàng Chí Bảo đã nêu ra định nghĩa về phát triển xã hội với tư cách một khái niệm công cụ để nghiên cứu:
- Thứ nhất, phát triển xã hội là phát triển của cá nhân và cộng đồng về mặt
xã hội, về mức sống và chất lượng sống, nhờ giải quyết hợp lý các vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng kinh tế, văn hoá và chính trị, nhờ đó thúc đẩy phát triển và tiến bộ xã hội vì con người
- Thứ hai, phát triển xã hội là sự giải quyết kịp thời, đúng đắn, hợp lý các vấn đề xã hội nảy sinh trong đời sống của cộng đồng dân cư, đảm bảo cho con người có cuộc sống ổn định và chất lượng cuộc sống được nâng cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và văn hoá, ổn định chính trị, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh theo mục tiêu công bằng, dân chủ, nhân đạo và văn minh
- Thứ ba, phát triển xã hội là phát triển về số lượng và chất lượng các nguồn lực, các điều kiện nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, đáp ứng một cách hợp lý các nhu cầu tồn tại và phát triển của cá nhân và cộng đồng trong đời sống hiện thực, góp phần vào sự ổn định, phát triển và tiến bộ của xã hội theo mục tiêu đã vạch ra
Trong phần hai, các tác giả đã nêu lên lý thuyết và mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước trên thế giới như kinh nghiệm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Liên bang Xôviết, của Cộng hòa liên bang Đức, của Nhật Bản, của Thụy Điển và của Ngân hàng thế giới Đó thực sự là những bài học quý báu cho Việt Nam Phần ba của cuốn sách, các tác giả nêu lên nội dung biến đổi xã hội và quản lý phát triển xã hội trên một số lĩnh vực chủ yếu ở nước ta hiện nay Phần thứ tư, các tác giả nêu lên những nhân tố tác động, quan điểm định hướng và hệ giải pháp phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020 Giáo sư Phạm Xuân Nam đã nêu lên hệ giải pháp chủ yếu như sau:
Thứ nhất, phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, nâng cao chất lượng, bảo
Trang 25đảm hài hòa lợi ích của các bộ phận hợp thành cơ cấu xã hội tổng thể, trước hết
là cơ cấu xã hôi – giai tầng Thứ hai, tạo cơ hội công bằng cho các tầng lớp nhân dân, nhất là các nhóm yếu thế, được tiếp cận các dịch vụ cơ bản có chất lượng ngày càng cao Thứ ba, nâng cao bản lĩnh và năng lực của chủ thể quản lý phát triển xa hội là Nhà nước, đồng thời thu hút sự tham gia ngày càng rộng rãi của nhân dân vào việc thực hiện nhiệm vụ quản lý phát triển xã hội
Trên đây là những cuốn sách đã đề cập một cách có hệ thống các vấn đề
về động lực nói chung và động lực phát triển kinh tế - xã hội nói riêng; các vấn
đề về phát triển xã hội Các tác giả đã phân tích khái niệm về động lực cũng như phân tích một số động lực chủ yếu, đặc biệt là các động lực tinh thần như động lực văn hóa, động lực dân chủ, niềm tin Đó là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội dung của luận án, có ý nghĩa rất lớn về mặt phương pháp luận giúp tác giả vận dụng trong quá trình nghiên cứu luận án
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề động lực của sự phát triển xã hội
Chủ đề này đã được đề cập đến trong một số công trình sau đây:
Trước hết phải kể đến Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh của Hội đồng
Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2003 Trong chương II của cuốn sách - Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc, các tác giả đã phân tích luận điểm: “Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực lớn của đất nước” Các tác giả đã đề cập đến động lực tinh thần trong tư tưởng Hồ Chí Minh Theo Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa yêu nước là một động lực lớn của đất nước” Sau khi trích dẫn luận điểm đó của Hồ Chí Minh, các tác giả khẳng định: Chủ nghĩa yêu nước bản xứ mà Nguyễn Ái Quốc nói ở đây là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính của nhân dân Việt Nam đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, vốn là động lực tinh thần vô giá trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc
Trang 26Các tác giả cũng nêu lên nguyên nhân dẫn đến Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, coi đó là một động lực lớn của đất nước là bởi vì Người đã nhìn thấy sự phân hoá giai cấp ở các nước Đông Dương chưa triệt để, cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra khác với ở phương Tây Điều đó đã làm cho mâu thuẫn giai cấp ở đây không gay gắt như ở phương Tây, giữa họ vẫn có một
sự tương đồng lớn: dù là địa chủ hay nông dân, họ đều là những người nô lệ mất nước Từ sự phân tích đó, các tác giả muốn làm rõ rằng, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến chủ nghĩa yêu nước và coi đó là sức mạnh to lớn của cách mạng giải phóng dân tộc và của dân tộc Việt Nam
Trong mục 3, phần I của chương III, các tác giả cũng đã nêu lên động lực của chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh Họ khẳng định, hệ thống động lực của chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú, nhưng các tác giả nhấn mạnh đến động lực con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi lẽ các động lực muốn phát huy tác dụng đều phải thông qua hoạt động của con người Động lực con người được thể hiện trên hai bình diện: cộng đồng và cá nhân Sức mạnh của động lực cộng đồng được thể hiện ở sức mạnh đại đoàn kết dân tộc - đây chính là động lực chủ yếu để phát triển đất nước Con người trên bình diện cộng đồng bao gồm tất cả các tầng lớp nhân dân: công nhân, nông dân, trí thức, các tổ chức và đoàn thể, các dân tộc và tôn giáo, đồng bào ở trong nước và kiều bào ở nước ngoài… Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải ra sức phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, bởi xây dựng chủ nghĩa xã hội không chỉ là vấn đề giai cấp mà còn là vấn đề dân tộc, không phải là sự nghiệp riêng của công nông mà là sự nghiệp chung của toàn thể dân tộc, có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mới tăng cường được sức mạnh dân tộc, mới giữ vững được độc lập dân tộc
Trong cuốn Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Dành cho sinh viên đại
học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh)
Trang 27Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, cũng trong phần nói về động lực của chủ nghĩa xã hội, các tác giả nhấn mạnh thêm: cùng với động lực con người,
Hồ Chí Minh rất coi trọng động lực kinh tế, phát triển kinh tế, sản xuất kinh doanh, làm cho mọi người, mọi nhà trở nên giàu có, ích quốc, lợi dân Hồ Chí Minh cũng quan tâm tới văn hoá, khoa học, giáo dục, coi đó là những động lực tinh thần không thể thiếu của chủ nghĩa xã hội Cũng trong cuốn sách này, các tác giả còn phân tích: ngoài các động lực bên trong, theo Hồ Chí Minh, phải kết hợp được với sức mạnh của thời đại, tăng cường đoàn kết quốc tế… Giữa nội lực và ngoại lực, Hồ Chí Minh xác định rất rõ nội lực là quyết định nhất, ngoại lực là rất quan trọng Các tác giả cũng chỉ ra tư duy biện chứng trong tư tưởng
Hồ Chí Minh đó là: cùng với việc chỉ ra nguồn động lực phát triển chủ nghĩa xã hội, Người còn lưu ý, cảnh báo và ngăn ngừa các yếu tố kìm hãm, cản trở sự phát triển của chủ nghĩa xã hội
Có thể nói, hai cuốn giáo trình trên là những cuốn giáo trình tóm lược một cách cơ bản nhất tư tưởng chủ đạo của Hồ Chí Minh, nhằm đem đến cho người đọc cũng như học giả nào muốn tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh hiểu một cách khái quát, cơ bản những nội dung cốt yếu nhất trong hệ thống tư tưởng của Người Do vậy, vấn đề động lực tinh thần trong tư tưởng Hồ Chí Minh được trình bày trong hai giáo trình trên mới chỉ mang tính giới thiệu, gợi mở và định hướng cho những ai muốn nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này tiếp tục nghiên cứu và làm rõ
Trong cuốn Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng lỗi lạc của giáo sư Song Thành,
Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tác giả có những luận giải về động lực của chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh Ở mục II của chương 5, từ trang 169 đến trang 191 (22 trang), tác giả đã xem xét hệ thống động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dưới hai góc độ Thứ nhất, theo tác giả, ở góc độ cộng đồng người, đoàn kết dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước
Trang 28Thứ hai, ở góc độ cá nhân con người, tác giả cũng đã chỉ ra một số động lực như động lực chính trị, lợi ích kinh tế và những trở lực kìm hãm chủ nghĩa xã hội Tóm lại đây là công trình có nội dung phong phú, với những nghiên cứu rất công phu của tác giả, lý giải một cách sâu sắc và khá thuyết phục Tuy nhiên,
về động lực tinh thần đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội chưa được tác giả bàn tới một cách có hệ thống, tác giả mới đưa ra những phác hoạ mang tính gợi mở
Cuốn sách Triết lý phát triển Hồ Chí Minh (PGS.TS Phạm Ngọc Anh
chủ biên) phân tích những nội dung chủ yếu nhất của triết lý phát triển Hồ Chí Minh như:
- Triết lý về con đường phát triển cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội
- Triết lý về mô hình phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa
- Triết lý về sự phát triển hài hòa, toàn diện mối quan hệ xã hội và xã hội với tự nhiên
Một nội dung đặc biệt, có liên quan đến luận án đó là triết lý về động lực phát triển xã hội Trong chương 2 của cuốn sách, các tác giả đã phân tích động lực và các nguồn lực phát triển theo triết lý phát triển Hồ Chí Minh Trong phần này, các tác giả nhấn mạnh đến vai trò động lực của chủ nghĩa yêu nước trong lịch sử Việt Nam và những cách tiếp cận khác nhau của Hồ Chí Minh về chủ
nghĩa yêu nước như là một động lực phát triển của dân tộc Thứ nhất, Hồ Chí
Minh khẳng định lòng yêu nước, chủ nghĩa yêu nước tự bản thân nó là một động lực mạnh mẽ, to lớn Hồ Chí Minh nhấn mạnh tư tưởng quan trọng của mình: Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần yêu nước lại sôi nổi, kết thành một làm sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn,
nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước Thứ hai, chủ nghĩa yêu nước
được kết hợp với những truyền thống tốt đẹp, nhân tố khác tạo nên sức mạnh
vô địch của dân tộc Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, các giá trị truyền thống tốt
Trang 29đẹp của dân tộc đều có sức mạnh riêng, đều là động lực to lớn của dân tộc, nhưng nó không đứng riêng rẽ, độc lập với nhau mà thường có mối quan hệ gắn kết, quan hệ với nhau Chính sự liên kết ấy đã nhân lên sức mạnh của dân tộc
Việt Nam trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước Thứ ba, lòng yêu nước
kết hợp với phong trào thi đua Một trong những điểm đặc sắc của Hồ Chí Minh về thi đua, Người đã khéo léo gắn kết phong trào ấy với lòng yêu nước
thành phong trào “thi đua yêu nước” Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết
hợp chặt chẽ truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam với việc kế thừa và phát triển sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại
Các tác giả đã phân tích nhân tố con người trong triết lý phát triển Hồ Chí Minh Trong sự phát triển xã hội, con người luôn đóng vai trò quyết định nhất Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Hồ Chí Minh
đã yêu cầu cần phát huy tốt vai trò động lực của con người Người đã nêu ra một số nội dung và biện pháp nhằm thúc đẩy tính tích cực hoạt động của con người, thúc đẩy xã hội phát triển Trong triết lý phát triển Hồ Chí Minh, con người là nhân tố quan trọng nhất; vấn đề xây dựng con người, “chiến lược trồng người” phải luôn được đặt lên hàng đầu
Cuốn sách Triết lý Hồ Chí Minh về phát triển Việt Nam của PGS.TS Bùi
Đình Phong, Nxb Thanh niên, 2010, là cuốn sách tập hợp hơn 20 bài viết của tác giả tham gia các đề tài, hội thảo khoa học, đăng trên tạp chí chuyên ngành với mức độ dài ngắn khác nhau, nhiều cách tiếp cận khác nhau, giúp người đọc
có những kiến giải về sự phát triển xã hội Việt Nam Nhưng tư tưởng xuyên suốt của cuốn sách vẫn là làm rõ và khẳng định triết lý Hồ Chí Minh về phát triển Việt Nam là độc lập – tự do – hạnh phúc Đó cũng là quy luật của cách mạng Việt Nam Tác giả phân tích: Độc lập, tự do theo con đường cách mạng
vô sản là tiền đề của hạnh phúc, tự do; hạnh phúc, tự do là giá trị của độc lập dân tộc; độc lập, tự do, hạnh phúc: giá trị chung của nhân loại hôm nay
Trang 30Trong cuốn Hồ Chí Minh vĩ đại một con người của giáo sư Trần Văn
Giàu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, ở phần III của chương 5, tác giả
đã bàn đến việc xác định động lực cho cách mạng Việt Nam Tác giả khẳng định theo tư tưởng Hồ Chí Minh, động lực chính của cách mạng đó là hai giai cấp chính công nhân và nông dân, công nông liên minh vẫn là nòng cốt của mọi
sự đoàn kết rộng lớn của dân tộc Tác giả cũng phân tích những quan điểm của
Hồ Chí Minh về phát huy chủ nghĩa yêu nước Cuối cùng, tác giả khẳng định: Động lực của cách mạng giải phóng dân tộc là toàn thể nhân dân, toàn thể đồng bào mà nòng cốt của sự đoàn kết là công nông Mặc dù đã nêu lên động lực của cách mạng Việt Nam nhưng tác giả mới chỉ dành 2 trang rất khiêm tốn khi nói
về vấn đề này Quả thực, đây cũng mới chỉ là những gợi mở về động lực nói chung của cách mạng, còn cụ thể về động lực tinh thần trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng cũng như đối với sự phát triển xã hội Việt Nam thì chưa được tác giả bàn tới
Trên đây là một số cuốn sách có nội dung bàn về vấn đề động lực đối với
sự phát triển xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh Những cuốn sách này là nguồn tư liệu quý giá giúp tác giả luận án hiểu một cách tổng quát về động lực trong tư tưởng Hồ Chí Minh Về động lực tinh thần trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được thể hiện dưới những khía cạnh khác nhau trong một số cuốn sách sau đây:
Cuốn sách Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh GS.TS Hoàng Chí Bảo Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2007 bao gồm những bài nói, bài viết của giáo
sư về văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh – một kiểu mẫu văn hóa đạo đức, nhận thức cách mạng, sự nghiệp tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh Tư tưởng về văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh thực sự trở thành một tài sản vô cùng quý giá đối với Đảng và dân tộc Việt Nam Những bài viết của Giáo sư Hoàng Chí Bảo
Trang 31có ý nghĩa quan trọng đối với tác giả trong việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội
Trong cuốn Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh của Phạm Văn Bính
(chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, các tác giả phân tích lý luận
về phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh; cơ sở hình thành phương pháp dân chủ
Hồ Chí Minh; hệ thống phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh Trên cơ sở những nội dung chủ yếu này, đề xuất các hướng áp dụng phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh trong hoàn thiện phương pháp lãnh đạo của Đảng ta hiện nay Tuy nhiên công trình trên mới dừng lại ở việc nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ chứ chưa đi vào khía cạnh dân chủ với tư cách là một động lực tinh thần đối với sự phát triển xã hội trong trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Cuốn sách Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất của GS Song Thành
(tái bản, năm 2010), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, đã nêu lên những nội dung chủ yếu của Hồ Chí Minh về văn hóa Hồ Chí Minh – tượng trưng cao đẹp của văn hóa truyền thống và bản sắc văn hóa Việt Nam Hồ Chí Minh là
sự kết tinh của những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam như: lòng yêu nước, yêu quê hương, gia đình, hàng xóm, tình cảm cộng đồng Người còn là điển hình mẫu mực của tinh thần khoan dung Việt Nam Văn hóa Hồ Chí Minh còn là văn hóa của phương Đông với sự tiếp thu những mặt tích cực của Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo Không chỉ vậy, Hồ Chí Minh còn là nhân vật kiệt xuất nhất trong việc tiếp thu văn hóa phương Tây mà điển hình là văn hóa Pháp với khẩu hiệu: Tự do, bình đẳng, bác ái, là sự hấp thụ tư tưởng dân chủ và phong cách làm việc dân chủ của phương Tây Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin từ truyền thống văn hóa dân tộc và nhu cầu giải phóng đất nước Người đến với Luận cương của Lênin và tìm thấy con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam: con đường cách mạng vô sản
Trang 32Trong cuốn sách, GS Song Thành cũng đã phân tích những khía cạnh khác nhau của văn hóa Hồ Chí Minh như: văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa ứng xử, văn hóa ngoại giao Đặc biệt, nét nội dung đặc sắc trong văn hóa Hồ Chí Minh, được coi như động lực tinh thần quan trọng đó là văn hóa khoan dung đã được tác giả phân tích rất kỹ
Bên cạnh những cuốn sách chuyên khảo tác giả vừa phân tích ở trên, tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực trong sự phát triển xã hội còn được thể hiện rất phong phú trong những bài viết trên tạp chí Có thể kể đến một số bài tiêu biểu sau đây:
Hồ Trọng Hoài, Hồ Chí Minh về sự khoan dung tôn giáo, Tạp chí Nghiên
cứu tôn giáo, số 1/2003
Hồ Trọng Hoài, Khoan dung – một giá trị đạo đức trong nhân cách văn
hóa Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản , số 17/2005
Hồ Trọng Hoài, Phát huy dân chủ trong việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 23/2006
Hoàng Chí Bảo, Văn hóa Hồ Chí Minh – Giá trị và ý nghĩa, Tạp chí
Cộng sản, số 823 (5/2011)
Phạm Ngọc Anh, Quan niệm Hồ Chí Minh về vị trí và vai trò của luật
pháp trong quản lý xã hội, Tạp chí Lý luận chính trị , số 5/2011
Phạm Ngọc Anh, Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng
sản trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, Tạp chí Lý luận chính
trị, số 2/2012
Trần Nhâm, Triết học Hồ Chí Minh là triết học giải phóng và phát triển,
Tạp chí Lý luận chính trị , số 5/2011
Đoàn Thị Minh Oanh, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư ban chấp hành
Trung ương khóa XI với việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, Tạp chí Triết học, số 3/2012
Trang 33Đoàn Thị Minh Oanh, Tính tích cực của người nông dân với việc thực
hiện dân chủ ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay, Tạp chí
Khoa học xã hội Việt Nam, số 4/2012
Đoàn Thị Minh Oanh, Vấn đề kiểm soát quyền lực Nhà nước, đảm bảo
dân chủ ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 12/2012
Bùi Đình Phong, Hồ Chí Minh - nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam, Tạp chí
Lý luận chính trị, số 2/2013
Lê Văn Tích, Phát huy chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh trong hội nhập
và phát triển bền vững, Tạp chí Lý luận chính trị, số 2/2013
Những bài viết trên đây đã đề cập tới nhiều khía cạnh của động lực tinh
thần trong tư tưởng Hồ Chí Minh Trong bài Hồ Chí Minh về sự khoan dung
tôn giáo của PGS.TS Hồ Trọng Hoài đã phân tích những nội dung cụ thể của
tư tưởng Hồ Chí Minh về sự khoan dung trong tôn giáo Tác giả nhấn mạnh: khoan dung tôn giáo là một trong những trụ cột tư tưởng để định vị lối ứng xử đối với tôn giáo ở Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh quan niệm, tất cả mọi người dân Việt Nam đều là con Lạc cháu Hồng Vì vậy, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp chung, thành quả của cách mạng thì mọi người đều phải được hưởng Đức khoan dung tôn giáo ở Hồ Chí Minh đã xuyên suốt mọi tư tưởng và lối ứng xử của Người mà biểu hiện của nó là sự tôn trọng triệt để quyền tự do tín ngưỡng của đồng bào có đạo Nhờ đức khoan dung tôn giáo mà Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn ngàn thử thách, tập trung lực lượng kháng chiến, kiến quốc thành công
Bài viết Khoan dung – một giá trị đạo đức trong nhân cách văn hóa Hồ
Chí Minh đăng trên Tạp chí Cộng sản , số 17/2005, tác giả Hồ Trọng Hoài phân
tích ý nghĩa của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh - nó được coi là một giá trị,
có vai trò như một quy phạm đạo đức, luân lý, góp phần hình thành một lối ứng
xử giữa người và người trong cuộc sống Theo tác giả, khoan dung theo nghĩa
Trang 34thông thường đó là sự tha thứ Không dừng lại ở đó, khoan dung còn là sự thừa nhận, sự tôn trọng lẫn nhau mà ở mức độ cao nhất, khoan dung còn là sự tiếp nhận, bởi chỉ có sự tiếp nhận thì tha thứ mới làm cho nhân loại tốt đẹp hơn, mới làm cho những cái hay, cái đẹp được bảo tồn, phát huy và nhờ đó mà chủ thể của sự khoan dung cũng hoàn thiện mình hơn
Trong bài viết Văn hóa Hồ Chí Minh – Giá trị và ý nghĩa, Tạp chí Cộng
sản, số 823 (5/2011), GS.TS Hoàng Chí Bảo khẳng định: Văn hóa Hồ Chí Minh cũng đồng thời là toàn bộ di sản tinh thần vô giá mà Người để lại cho dân tộc ta, cho mọi thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, mãi mãi kế tục sự nghiệp của Người Văn hóa Hồ Chí Minh và di sản tinh thần Hồ Chí Minh cũng đồng thời là đóng góp đầy tự hào của dân tộc Việt Nam vào kho tàng văn hóa của nhân loại Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong của thời đại, có mặt một cách xứng đáng trong thế giới nhân loại
Nói tới văn hóa Hồ Chí Minh, chúng ta nói tới văn hóa chính trị, văn hóa
đạo đức và văn hóa ứng xử như những loại hình văn hóa tiêu biểu Hồ Chí Minh còn rất nổi bật ở nhiều loại hình văn hóa khác: Văn hóa tư duy và tư
tưởng, văn hóa thẩm mỹ (tức là sự sáng tạo cái đẹp của Hồ Chí Minh qua hoạt
động sáng tác văn học nghệ thuật của Người, đặc biệt là thơ và văn); Hồ Chí
Minh còn là một nhà giáo dục và văn hóa giáo dục Hồ Chí Minh cũng lấp lánh
nhiều tư tưởng quý giá, mới mẻ và hiện đại mãi tới ngày nay Người cũng được nhắc tới như một nhà thiết kế tư tưởng, lý luận về dân chủ và người thực hành
tiên phong, mẫu mực về dân chủ và xây dựng thể chế dân chủ Văn hoá dân
chủ của Hồ Chí Minh chứa đựng những kiến giải và sự trải nghiệm sâu sắc và
phong phú của Người Đó vẫn còn là một đề tài lớn cần huy động nhiều tài năng và công phu nghiên cứu để ứng dụng vào thực tiễn xây dựng và phát triển dân chủ ở Việt Nam
Trang 35Trong bài: Triết học Hồ Chí Minh là triết học giải phóng và phát triển,
(Tạp chí Lý luận chính trị , số 5/2011), tác giả Trần Nhâm phân tích: Nói đến triết học Hồ Chí Minh là nói đến triết học hành động, vì triết học đó lấy Việt Nam làm điểm xuất phát, lấy cải tạo, biến đổi xã hội Việt Nam làm mục tiêu cho hành động cách mạng của cả cuộc đời mình
Hồ Chí Minh lựa chọn con đường cứu nước khác các bậc tiền bối Hoàn cảnh lịch sử khiến Hồ Chí Minh phải suy nghĩ và hành động Tư duy triết học
Hồ Chí Minh là tư duy triết học thực tiễn Tư duy triết học đã dẫn Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin là điều tất yếu Người đã tìm thấy con đường biện chứng: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Triết lý giải phóng và phát triển của Hồ Chí Minh là triết lý xuyên suốt tư tưởng cách mạng không ngừng: Từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tác giả Phạm Ngọc Anh trong bài viết Quan điểm của Hồ Chí Minh về
vai trò của Đảng Cộng sản trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
nhấn mạnh đến vai trò của Đảng trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Tác giả đã chỉ ra những điều kiện đảm bảo cho Đảng phát huy vai trò trong quản lý phát triển xã hội: Khả năng của Đảng trong việc xác định, nắm bắt các vấn đề xã hội; tạo lập được các thiết chế đủ mạnh tổ chức, vận động toàn dân trong việc giải quyết các vấn đề xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước đủ đức và tài để đảm bảo cho việc lãnh đạo phát triển xã hội và quản
lý phát triển xã hội
Tác giả Đoàn Thị Minh Oanh trong bài viết Nghị quyết Hội nghị lần thứ
tư ban chấp hành Trung ương khóa XI với việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, Tạp chí Triết học, số 3/2012 đã phân tích vấn đề nâng
cao đạo đức cho cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ
tư ban chấp hành Trung ương khóa XI Theo đó, có bốn nhóm giải pháp cơ bản
để thực hiện nhiệm vụ then chốt hiện nay Trong đó có hai nhóm cần được
Trang 36quán triệt một cách sâu sắc, có liên quan trực tiếp đến vấn đề xây dựng, nâng cao đạo đức cho người cán bộ, đảng viên Thứ nhất là nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên Thứ hai là nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng Nội dung cơ bản của nhóm này là tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vừa là nhiệm vụ, vừa là giải pháp quan trọng thường xuyên, lâu dài của cán bộ,
đảng viên và tổ chức đảng Trong bài Vấn đề kiểm soát quyền lực Nhà nước,
đảm bảo dân chủ ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số
12/2012, tác giả Đoàn Thị Minh Oanh lại nhấn mạnh đến yêu cầu khách quan
về kiểm soát quyền lực nhà nước Thứ nhất, kiểm soát nhà nước bắt nguồn từ nguồn gốc và bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Thứ hai, nó
bắt nguồn từ vấn đề đạo đức, khả năng của người thực thi quyền lực trong bộ
máy nhà nước Thứ ba, nó còn bắt nguồn từ đặc trưng Nhà nước Việt Nam do
một Đảng duy nhất – Đảng Cộng sản lãnh đạo Tác giả đưa ra hai phương thức
chủ chốt kiểm soát quyền lực nhà nước: Thứ nhất, kiểm soát bằng sức mạnh của nhân dân Thứ hai, xây dựng thiết chế, cơ chế hoạt động của nhà nước một
cách khoa học
Trong bài Phát huy chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh trong hội nhập và
phát triển bền vững, Tạp chí Lý luận chính trị, số 2/2013 của tác giả Lê Văn
Tích đã chỉ rõ chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân văn, khoan dung với tinh hoa văn hóa thế giới Do đó, chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh đã phát triển lên một trình độ cao, nội dung được mở rộng Tác giả đã phân tích những vấn đề cấp bách đặt ra cần phải giải quyết nhằm phát huy chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh trong tình hình mới:
Một là, cần đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, giáo dục lòng yêu
nước cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên Hai là, nâng cao
Trang 37nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nội dung chủ nghĩa yêu nước hiện nay, khẳng định sự gắn kết giữa độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội Ba là, nâng cao chủ nghĩa yêu nước nhằm chống lại sự chống phá của các thế lực thù địch Bốn là, xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc mà nòng cốt là liên minh công – nông – trí thức
Có thể nói, những công trình kể trên là nguồn tư liệu quý giúp tác giả tham khảo, định hướng cho đề tài nghiên cứu của mình Các tác giả đã nêu lên những nội dung liên quan đến các khía cạnh khác nhau của động lực tinh thần trong tư tuởng Hồ Chí Minh như động lực dân chủ, động lực đại đoàn kết dân tộc, những giá trị truyền thống dân tộc Tuy nhiên, những công trình này, các tác giả mới dừng lại ở việc phân tích những nội dung cụ thể của tư tưởng Hồ Chí Minh mà chưa đi sâu phân tích những nội dung đó dưới góc độ động lực tinh thần Đặc biệt, chưa có tác phẩm lý luận nào nói về động lực tinh thần một cách có hệ thống Vì vậy, nghiên cứu việc phát huy động lực tinh thần một cách hệ thống theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết Đó cũng là nội dung mới của luận án này Trong luận án, tác giả cần làm rõ những vấn đề sau:
Thứ nhất, động lực tinh thần và vai trò của động lực tinh thần trong sự phát
triển xã hội
Thứ hai, làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực và động lực tinh thần Cụ
thể: Làm rõ khái niệm động lực và động lực tinh thần trong tư tưởng Hồ Chí Minh; phân tích một số động lực tinh thần chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh; các phương thức phát huy động lực tinh thần theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ ba, phân tích những vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp nhằm phát huy
động lực tinh thần ở nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 38NỘI DUNG
Chương 1 ĐỘNG LỰC TINH THẦN VÀ QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘNG LỰC TINH THẦN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
1.1 Động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội
1.1.1 Khái niệm phát triển xã hội
Phát triển xã hội là vấn đề được đặt ra từ rất sớm trong lịch sử nhân loại Phát triển là bản chất của sự vận động theo hướng đi lên của bản thân sự vật, trong giới
tự nhiên, xã hội và con người Nắm được nguyên lý, quy luật phát triển của xã hội chính là nắm được cơ sở khoa học của sự phát triển, cho phép con người chủ động, tích cực hoạt động, thúc đẩy xã hội phát triển theo mục đích loài người đặt ra
Để làm rõ khái niệm phát triển xã hội, trước hết cần làm rõ khái niệm xã hội
Xã hội là một phạm trù với hàm nghĩa rất rộng Cho đến nay, mặc dù đã
có nhiều định nghĩa về khái niệm này, song vẫn còn tồn tại sự khác biệt
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, nội hàm của khái niệm xã hội rất phong phú Trước hết, Theo C Mác, xã hội chỉ là mối liên hệ giữa người và người, giữa người này và người khác một cách đồng thời, giữa người trước họ và người sau họ về mặt lịch sử Mối liên hệ có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Những mối liên hệ ấy là mối liên hệ hiện thực và được xác lập trước hết trong lao động, thông qua lao động mà suy rộng ra là thông qua hoạt động sống của con người
C Mác đã nói: "Tính chất xã hội là cái vốn có của toàn bộ sự vận động; bản thân
xã hội sản xuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng
sản xuất ra xã hội như thế Hoạt động và sự hưởng dụng những thành quả của
hoạt động, xét theo nội dung của nó cũng như xét theo phương thức tồn tại, đều mang tính chất xã hội; hoạt động xã hội và hưởng dụng xã hội”[84, tr.169-170]
Một quan niệm khác về xã hội được nêu trong sách giáo khoa Sociology
(xã hội học), xuất bản năm 1997, nhà xã hội học nổi tiếng của phương Tây
Trang 39A.giddens định nghĩa: "Một xã hội là một nhóm người chung sống trên cùng một lãnh thổ nhất định, họ là chủ thể của một quyền lực chính trị, họ có ý thức rõ về bản sắc của nhóm mình trong sự phân biệt với các nhóm người khác”[34, tr.585]
Trong sách giáo khoa Xã hội học, nhà xã hội học Mỹ I.Robertson cũng cho rằng:
xã hội là tập hợp dân cư chung sống trên cùng một lãnh thổ, trong cùng một hệ thống chính trị và chia sẻ một nền văn hoá chung
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu trong nước: Từ điển xã hội học
xuất bản năm 1994 viết: "Khi nói tới khái niệm xã hội, người ta nói tới "một đơn
vị xã hội độc lập” với tư cách một hệ thống tương đối chặt chẽ, bao gồm những quan hệ kinh tế (từ sản xuất đến phân phối tiêu dùng), những quan hệ chính trị và pháp luật, những quan hệ văn hoá và ứng xử, v.v với tác động qua lại rất mật thiết của chúng, trong một không gian và thời gian nhất định”[102, tr.324] GS
xã hội học Tô Duy Hợp cho rằng: "Xã hội là một hệ thống bao gồm những con người là các yếu tố (thành viên), các quan hệ và hoạt động của họ trên cùng một lãnh thổ nhất định, trong cùng một thể chế chính trị, một nền kinh tế và văn hoá nhất định”[43, tr.4]
Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo trong cuốn sách Luận cứ và giải pháp phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới phân
tích, xã hội theo hai nghĩa: Thứ nhất, theo nghĩa rộng, xã hội dùng để chỉ một chế độ xã hội với tất cả các yếu tố cấu thành chỉnh thể của nó Với định nghĩa này, xã hội được tiếp cận theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về hình thái kinh tế xã - hội Theo đó, xã hội được hiểu là một cấu trúc hệ thống - chỉnh thể, trong đó nghĩa rộng nhất, có tầm khái quát lớn nhất là xã hội loài người, là lịch sử thế giới nhân loại Xã hội xét theo nghĩa rộng, trong đó có nghĩa rộng nhất, là sự kết hợp của hai cấp độ: xã hội - thế giới nhân loại và xã hội - quốc gia, dân tộc Xã hội theo nghĩa rộng bao gồm: đời sống xã hội với bốn mặt: kinh
tế, chính trị, văn hoá và xã hội; tổ chức thiết chế quản lý mà trụ cột là nhà nước;
Trang 40chế độ xã hội với vai trò của ý thức hệ và lực lượng lãnh đạo xã hội (Đảng chính trị cầm quyền) Đây chính là những yếu tố cấu thành xã hội, gắn bó mật thiết và không tách rời nhau, hợp thành một chỉnh thể toàn vẹn
Theo nghĩa hẹp, "xã hội” là phương diện xã hội của đời sống xã hội, của
hoạt động sống của con người trong một nước, một chế độ xã hội nhất định Nó
là mặt xã hội của đời sống, có tầm quan trọng và vị trí ngang bằng với các mặt, các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, văn hoá
Trên đây là một số quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau về xã hội Xã hội được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Trong nội dung luận án
này, tác giả tiếp cận xã hội theo nghĩa rộng, đó là khái niệm xã hội với tư cách
một hệ thống cấu trúc - chỉnh thể với tất cả các yếu tố cấu thành của nó
Khái niệm phát triển xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, khái niệm phát triển xã hội
có nội dung cơ bản về sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội Đó là logic của toàn bộ lịch sử phát triển xã hội, trong đó bao hàm sự phủ định, khẳng định,
kế thừa giữa các hình thái kinh tế - xã hội Khi nghiên cứu nguồn gốc thúc đẩy
sự phát triển xã hội loài người, C.Mác đã bắt đầu từ việc nghiên cứu chính những quan hệ kinh tế của xã hội Ông phát hiện ra rằng, trong sự sản xuất ra đời sống
xã hội của mình, con người ta có những quan hệ nhất định không phụ thuộc vào
ý muốn của mình, đó chính là những quan hệ sản xuất Các lực lượng sản xuất cùng với quan hệ sản xuất tương ứng hợp thành phương thức sản xuất nhất định Việc dựa vào các phương thức sản xuất đặc trưng của xã hội người ta có thể phân biệt được sự khác nhau của các thời đại kinh tế khác nhau C.Mác viết:
"Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà
là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với những tư liệu lao động nào”[83, tr.269] Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất là nhân tố quyết định sự thay đổi của quan hệ sản xuất và do đó, tạo nên sự phát triển của xã hội Đúng như