Tiếp cận lối sống trên phương diện phương thức hoạt động và tổng thể những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của những cá nhân trong một hình thái kinh tế - xã hội, nhà xã hội
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
Chương 1 LỐI SỐNG VÀ LỐI SỐNG TRUYỀN THỐNG 7
CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM 7
1.1 Khái niệm và cấu trúc của lối sống 7
1.2 Lối sống truyền thống của nông dân Việt Nam 34
Chương 2 YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ BIẾN ĐỔI CƠ BẢN TRONG LỐI SỐNG CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 53
2.1 Yếu tố tác động đến lối sống của nông dân Việt Nam hiện nay 53
2.2 Biến đổi cơ bản trong lối sống của nông dân Việt Nam hiện nay 64
2.3 Một số khuyến nghị nhằm khắc phục những hạn chế trong lối sống của nông dân Việt Nam hiện nay 86
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 108
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang ở vào thời kỳ phát triển bước ngoặt, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để chuyển từ trình độ lạc hậu, chậm phát triển của xã hội nông nghiệp cổ truyền sang trình độ phát triển hiện đại, văn minh của xã hội công nghiệp Đây là một thời kỳ phát triển lâu dài mà từ nay đến hai, ba thập niên đầu của thế kỷ XXI mới chỉ là giai đoạn đầu, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp trở thành một nước công nghiệp
Một trong những nhiệm vụ và nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là thực hiện hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đem công nghiệp cải tạo nông nghiệp, thay đổi căn bản nền nông nghiệp thuần nông Trên cơ sở đó làm thay đổi bộ mặt xã hội nông thôn, chất lượng cuộc sống và trình độ phát triển của nông dân, từ con người lao động đến giai cấp nông dân
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta bao hàm một cách tất yếu chiến lược phát triển toàn diện nông thôn, nông nghiệp và nông dân Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trọng điểm, một mục tiêu lịch sử của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để từng bước xây dựng và phát triển nông thôn theo hình ảnh của xã hội công nghiệp Nó liên hệ mật thiết với hàng loạt các quá trình phát triển nông thôn theo hướng kinh tế hàng hóa - thị trường để phát triển sức sản xuất ở nông thôn, giải thể nền nông nghiệp tự cung, tự cấp, tiến tới nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa Cùng với đó, nông nghiệp và nông thôn
sẽ từng bước phát triển theo hướng đô thị hóa, tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và khu vực nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch trong phát triển giữa nông thôn và thành thị
Trang 3Những quá trình kinh tế - xã hội này nhằm tạo ra cơ sở kinh tế - xã hội, những xung lực vật chất và tinh thần để đảm bảo sự ổn định tích cực về chính
trị, sự lành mạnh về quan hệ xã hội cũng như văn hóa, lối sống ở nông thôn
Với sự phát triển của đất nước, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung
và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nói riêng sẽ đem lại cho con người Việt Nam cũng như nông dân Việt Nam một nhịp sống mới, lối sống mới Dưới tác động của quá trình này, lối sống của nông dân đang có sự vận động, biến đổi sâu s c Trong sự biến đổi này, những yếu tố tích cực trong lối sống truyền thống của nông dân, vốn được đ c kết từ lịch sử lâu dài của dân tộc trở thành những giá trị bền vững Ch ng không mất đi, mà được bảo t n và phát triển trong lối sống hiện nay của nông dân Cùng với sự duy trì những yếu tố tích cực, một số yếu tố tiêu cực cũng v n c n t n tại, bởi bản thân thức xã hội vốn có sức ỳ và thường lạc hậu hơn so với t n tại xã hội; hơn nữa, quá trình công nghiệp hoá mới đang di n ra, chưa đủ sức để cải biến, xóa b hoàn toàn những tiêu cực trong lối sống cũ Do đó, lối sống của nông dân Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hiện nay vừa bao hàm yếu tố truyền thống và hiện đại, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực Tất cả những yếu tố đó đang tiếp tục vận động, biến đổi nhanh chóng trong quá trình phát triển của cơ chế thị trường, đô thị hóa nông thôn, toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập quốc tế
Trước sự biến đổi lối sống của nông dân Việt Nam trong bối cảnh mới, Đảng ta đã nhận thức được việc cần thiết phải bảo t n và phát huy những giá trị trong lối sống truyền thống, đ ng thời những khuyến nghị để kh c phục những yếu tố tiêu cực trong biến đổi lối sống của nông dân cũng cần được đặt
ra Do vậy, tôi đã chọn vấn đề “Tìm hiểu những biến đổi trong lối sống của
nông dân Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 42 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về lối sống, sự biến đổi lối sống của người Việt Nam trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung và lối sống của nông dân Việt Nam nói riêng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã có nhiều công trình khoa học và nhiều bài viết đã nghiên cứu vấn đề này Tuy nhiên, mỗi công trình, mỗi bài viết đã nghiên cứu những khía cạnh dưới các góc độ khác nhau
- Nhóm công trình nghiên cứu, tìm hiểu về biến đổi giá trị văn hoá truyền thống của người Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hay trước những thách thức của toàn cầu hoá như:
“Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” (1994) của
tác giả Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Công trình KHCN cấp Nhà nước, KX.07
“Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá
- hiện đại hoá” (2002), của nhóm tác giả Nguy n Trọng Chuẩn, Phạm Văn
Đức và H Sỹ Qu chủ biên, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội
“Giá trị truyền thống trước thách thức của toàn cầu hoá” (2002) của tác
giả Đỗ Huy, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội
“Hội nhập quốc tế: Cơ hội và thách thức đối với giá trị truyền thống
trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay” (2004), của Nguy n Trọng Chuẩn,
Tạp chí Triết học, số 8, tr.5
- Nhóm công trình, bài viết nghiên cứu về lối sống và sự biến đổi lối sống của người Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hoá như:
“Lối sống xã hội chủ nghĩa và xu thế toàn cầu hoá” (2001), do Thanh Lê
chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
“Một số vấn đề lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị” (2001), của Huỳnh
Khái Vinh, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội
Trang 5“Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại” (2003), của Lê Như Hoa,
Viện Văn hoá và Nxb.Văn hoá - Thông tin, Hà Nội
- Nhóm công trình và bài viết nghiên cứu về giải pháp xây dựng lối sống, môi trường văn hoá trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay như:
“Kế thừa giá trị truyền thống văn hoá dân tộc trong việc xây dựng nền văn hoá nghệ thuật Việt Nam hiện nay” (1995), của tác giả Cù Huy Chử,
LA.PTS.KH.TH, Học viện CTQG H Chí Minh
“Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” (2000), của Nguy n
Văn L , LA.TS.TH, Học viện CTQG H Chí Minh
“Xây dựng môi trường văn hoá ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học”
(2001), của Đỗ Huy, Viện Văn hoá và Nxb.Văn hoá - Thông tin, Hà Nội
“Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước” (2001), do Nguy n Viết
Chức chủ biên, Viện Văn hoá và Nxb.Văn hoá - Thông tin, Hà Nội
“Xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay từ góc độ văn hóa truyền thống dân tộc”, (2006), của tác giả Võ Văn Th ng, Viện Văn hóa và Nxb Văn hoá -
Thông tin, Hà Nội…
Các công trình và bài viết trên đã nghiên cứu về những giá trị văn hoá truyền thống, lối sống, sự biến đổi lối sống của người Việt Nam và xây dựng lối sống, môi trường văn hoá trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về những biến đổi trong lối sống của nông dân Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích: Luận văn trình bày đặc điểm lối sống truyền thống của nông
dân Việt Nam, biến đổi cơ bản trong lối sống của nông dân Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất những khuyến nghị nhằm hạn chế tiêu cực trong lối sống của nông dân Việt Nam hiện nay
Trang 6- Nhiệm vụ: Để thực hiện được những mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: + Phân tích khái niệm và cấu tr c của lối sống
+ Trình bày đặc điểm lối sống truyền thống của nông dân Việt Nam + Chỉ ra một số yếu tố tác động đến lối sống của nông dân Việt Nam hiện nay + Phân tích những biến đổi cơ bản trong lối sống của nông dân Việt Nam hiện nay
+ Đề xuất một số khuyến nghị nhằm hạn chế những tiêu cực trong lối sống của nông dân Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lối sống
của nông dân Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tìm hiểu những biến đổi về lối
sống của nông dân ở một số khu vực hiện đang có sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
5 Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Cơ sở lý luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
H Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
Cộng sản Việt Nam về nông dân
- Cơ sở thực tiễn: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn, quá trình đô thị hóa, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, khu vực và những tài liệu phản ánh lối sống của người nông dân Việt Nam hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, c n sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử, so sánh, thống kê
Trang 77 Đóng góp của luận văn
Góp phần nghiên cứu về khái niệm lối sống, các yếu tố cấu thành lối sống và lối sống truyền thống của nông dân Việt Nam
Chỉ ra những yếu tố tác động đến lối sống của nông dân Qua đó, luận văn phân tích một số biến đổi trong lối sống của nông dân Việt Nam hiện nay
8 Ý nghĩa của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ hơn về lối sống của nông
dân Việt Nam hiện nay
- Ý nghĩa thực ti n: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các chuyên
đề nghiên cứu về lối sống, đặc biệt là lối sống nông dân Việt Nam hiện nay
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được thể hiện trong 2 chương và 5 tiết
Trang 8NỘI DUNG Chương 1 LỐI SỐNG VÀ LỐI SỐNG TRUYỀN THỐNG
CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM 1.1 Khái niệm và cấu trúc của lối sống
1.1.1 Khái niệm lối sống
“Lối sống” là khái niệm được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau như: triết học, xã hội học, tâm l học, văn hóa học… nghiên cứu Ở mỗi lĩnh vực đó, “lối sống” được tiếp cận từ một góc độ khác nhau Vậy nên, việc luận giải lối sống là gì, các yếu tố cấu thành nó ra sao, cũng không hoàn toàn giống nhau
Tiếp cận lối sống trên phương diện phương thức hoạt động và tổng thể những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của những cá nhân trong một hình thái kinh tế - xã hội, nhà xã hội học M.N.Rut-kê-vich cho rằng: “Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [D n theo 81, tr.31]
Định nghĩa lối sống qua khái niệm hoạt động, G.Glezerman cho rằng:
“Lối sống là tổng h a những nét cơ bản, nói lên những đặc điểm của các hoạt động sống của xã hội, của cá nhân trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [D n theo 89, tr.18]
Xem xét lối sống g n với hoạt động sống của con người trong một hình thái kinh tế - xã hội, V.I.Tonxtukho cho rằng: “Lối sống là những hình thức cố định, điển hình của hoạt động sống cá nhân và tập đoàn của con người, những hình thức ấy nói lên đặc điểm và sự giao tiếp, hành vi và nếp nghĩ của họ trong các lĩnh vực lao động, hoạt động xã hội - chính trị, sinh hoạt và giải trí”[D n theo 89, tr.18] Trong định nghĩa này, lối sống là một phạm trù rất rộng, vừa có khía cạnh kinh tế bao hàm khái niệm “mức sống”, vừa có khía cạnh xã hội - tâm l liên quan tới những đặc điểm về giao tiếp, hành vi, nếp nghĩ của con
Trang 9người nằm trong khái niệm “phong cách sống” ở các lĩnh vực Định nghĩa này
có thể phản ánh được đầy đủ “cái xã hội” của lối sống, nhưng lối sống là cái xã hội trong cái cá nhân nên tính chủ thể của lối sống chưa được phản ánh rõ nét
Ở góc độ khác, M.N.Rut-kê-vich c n khẳng định lối sống chịu sự quyết định của phương thức sản xuất: “Lối sống là một trong những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nó liên quan chặt chẽ với một khái niệm có nghĩa mấu chốt đối với nó là phương thức sản xuất của cải vật chất” [D n theo 89, tr.12] Mối liện hệ chặt chẽ đó thể hiện ở chỗ, phương thức sản xuất
có nghĩa quyết định đến lối sống G n với mỗi phương thức sản xuất trong lịch sử sẽ có một lối sống nhất định
Theo hướng này, Z.Dunop khẳng định: “Lối sống trước hết là những điều kiện trong đó con người tự tái sản xuất về mặt sinh học cũng như về mặt
xã hội Đó là toàn bộ những hình thức hành vi hàng ngày, ổn định và điển hình của con người” [D n theo 89, tr.19] Định nghĩa này cho thấy, lối sống chịu sự quy định của điều kiện vật chất, mà nó chính là nền tảng th a mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người và xã hội Song tính chất của hình thức th a mãn ấy như thế nào thì định nghĩa này giải đáp chưa được tường minh Do đó, ch ng không thể hiện rõ được tính chất xã hội, dân tộc, văn hóa cũng như vai tr tích cực của chủ thể trong phạm trù lối sống
Trong ngôn ngữ của người Việt, “lối sống” là một danh từ ghép “Lối” là
lề lối, thể thức, kiểu cách, phương thức “Sống” là sinh hoạt, là quá trình hoạt động sinh vật của con người và xã hội loài người, là quá trình con người t n tại, khẳng định mình Như vậy, lối sống chính là cách thức hay phương thức
t n tại của con người Trong đó, con người thực hiện mối quan hệ với tự nhiên và xã hội theo những cách thức nhất định và thể hiện ở những trình độ khác nhau, phản ánh khả năng, năng lực của con người
Thuật ngữ “lối sống” được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh với những s c thái ngữ nghĩa khác nhau, nhưng hiếm khi được định nghĩa rõ ràng về nội
Trang 10hàm hay s c thái với tính cách là một phạm trù khoa học Thông thường thuật ngữ “lối sống” được sử dụng để mô tả và kèm theo đó là sự đánh giá về một hay một loại hoạt động sống, lối sống nào đó Ví dụ: “lối sống giản dị”, “lối sống xa hoa”, “lối sống lành mạnh”, “lối sống sa đọa”, “lối sống giả tạo”, “lối sống hiện đại”, “lối sống thành thị”, “lối sống nông thôn”, … Bên cạnh đó, còn có một số thuật ngữ gần gũi, đôi khi được dùng để chỉ lối sống, như “lẽ sống”, “cách sống”, “phong cách sống”, “phương thức sống”, “nếp sống”… Gần đây, một số công trình nghiên cứu công phu về lối sống ở Việt Nam
đã xuất hiện, đánh dấu việc nghiên cứu về lối sống đang “thoát thai” kh i những nghiên cứu chung về văn hóa hoặc xã hội học, tuy rằng văn hóa và xã hội học v n là hai trong số cách tiếp cận chủ đạo trong nghiên cứu về lối sống Trong nghiên cứu của mình, một số nhà khoa học Việt Nam đã có những định nghĩa khác nhau về lối sống
Tập thể các nhà khoa học của đề tài cấp Nhà nước, mã số KX.06-13 (1991-1995) đã nêu định nghĩa về lối sống như sau: “Lối sống, trong một chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những người cụ thể trước những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của môi trường sống Môi trường là cái khách quan quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, của các nhóm xã hội và cộng đ ng dân cư” [D n theo
89, tr.22] Định nghĩa này tiếp cận lối sống như một phương thức hoạt động thực tế của con người trong một môi trường nhất định Và lối sống tuy chịu sự quy định khách quan của môi trường sống nhưng khi trở thành văn hóa lối sống thì cùng với truyền thống văn hóa có thể biến cải môi trường tự nhiên sao cho thích hợp với hệ thống các nhu cầu sống của con người Ưu điểm của định nghĩa này là ở chỗ, trong khi làm sáng t được mối quan hệ biện chứng giữa lối sống và môi trường, đã chỉ ra được vai tr tích cực của văn hóa lối sống và văn hóa nói chung
Trang 11Tác giả Thanh Lê đưa ra một định nghĩa có thể xếp vào cùng khuynh hướng trên: “Nói một cách đơn giản, lối sống nói rõ con người sống như thế nào, để làm gì, họ làm những gì, cuộc sống của họ chứa đựng những hành vi nào Vì thế, về thực chất, lối sống không chỉ bao quát những điều kiện sống
mà là toàn bộ những hình thức hoạt động sống của con người trong quá trình sản xuất của cải vật chất và tinh thần, cũng như trong lĩnh vực chính trị - xã hội, gia đình - sinh hoạt” [51, tr.45] Cách tiếp cận này đã xem xét lối sống như một dạng hoạt động thực tế của con người trong một xã hội nhất định và cần phải phân biệt nó với những điều kiện của hoạt động sống ấy Lối sống được xem như một hình thức hành động hoặc một hệ thống các hoạt động sống của con người và các điều kiện sống chỉ là môi trường bên ngoài của lối sống Quan điểm này không thấy rõ được mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, do đó làm giảm vai tr quan trọng vốn có của nền tảng xã hội đối với thức và hành động, lẽ sống và mức sống của con người
Xét lối sống g n liền với hoạt động của con người và một hình thái kinh
tế - xã hội, Thanh Lê cũng định nghĩa: “Lối sống là một hệ thống những nét căn bản nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các tập đoàn xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [54, tr.24]
Giáo sư Vũ Khiêu trong cuốn “Văn hóa Việt Nam, xã hội và con người”
đã quan niệm lối sống theo nghĩa rộng: “Lối sống là phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan
hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” [47, tr.514]
Ở góc độ xem xét tổng h a các mặt cơ bản, những đặc điểm cá nhân, tập thể và cộng đ ng, tác giả Nguy n Văn Huyên cho rằng: “Lối sống là tổ hợp toàn bộ các mô hình, cách thức và phong thái sống của con người thể hiện
Trang 12trong mọi phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ, hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con người với con người, giữa chủ thể với đối tượng, giữa điều kiện với phương tiện và mục đích sống” [39, tr.29]
Những định nghĩa trên, dù hoàn toàn chưa đủ tính đại diện cao cho hàng trăm định nghĩa về lối sống từng được nêu ra, nhưng cũng phần nào phản ánh được tính chất phức tạp của phạm trù “lối sống” Mỗi định nghĩa về "lối sống” dường như đã chỉ ra được một hoặc một số đặc điểm nào đó của cái cần được định nghĩa Một số nhà khoa học nhấn mạnh vào bình diện cá nhân của lối sống Một số khác lại đề cao bình diện cộng đ ng, thậm chí, có người muốn nêu ra định nghĩa chung cho lối sống toàn nhân loại (kiểu như “lối sống công nghiệp”, “lối sống toàn cầu hóa”) Điểm giống nhau cơ bản của các nhà khoa học khi định nghĩa về lối sống là ở chỗ, họ đều cho rằng, lối sống bao
g m tất cả các lĩnh vực của hoạt động sống cơ bản của con người, từ lao động, sinh hoạt, hoạt động xã hội - chính trị và giải trí Và sự khác biệt cơ bản giữa các định nghĩa là ở chỗ, trong khi một số người nhấn mạnh các chiều cạnh chủ quan của văn hóa thì một số người khác lại nhấn mạnh các chiều cạnh khách quan của văn hóa, thậm chí nhấn mạnh nghĩa và vai tr của toàn
bộ các điều kiện sống, hoặc của toàn thể các hình thái kinh tế - xã hội
Trong luận văn này, vấn đề lối sống được tiếp cận chủ yếu từ l luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, hình thái kinh tế - xã hội Về con người,
trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã viết: “Bản chất con người
không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng h a những quan hệ xã hội” [62, tr.11] Theo quan điểm này, con người luôn t n tại trong tự nhiên và xã hội Con người khác con vật về bản chất ở cả ba mặt: quan hệ với thiên nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Những quan hệ
ấy thể hiện trong toàn bộ hoạt động cụ thể của con người Không có con
Trang 13người trừu tượng mà chỉ có những con người sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất định, nghĩa là những con người cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển thức Chỉ trong toàn bộ những quan hệ xã hội cụ thể
đó, con người mới bộc lộ và thực hiện được bản chất thật sự của mình Theo C.Mác: “Cuộc sống là thế nào nếu như nó không phải là sự hoạt động?” [64, tr.91] Trong các mối quan hệ đó, con người thực hiện các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật… Và cũng chỉ thông qua các hoạt động đó, con người bộc lộ đầy đủ bản chất NGƯỜI Con người sống - tức là con người hoạt động, con người tham gia các quan hệ với tự nhiên và xã hội Các mối quan hệ này rất phong ph , song có thể quy về hai phương diện chính: đời sống sinh vật và đời sống văn hóa Để có thể tổng h a được hai phương diện này thường xuyên vận động và phát triển, con người phải hoạt động, giao tiếp
và ứng xử với tự nhiên, với cộng đ ng người và chính bản thân con người trong quá trình bảo t n và phát triển đời sống của cá nhân và cộng đ ng
Sản xuất là hoạt động đặc trưng riêng có của con người và của xã hội loài người Đó là quá trình hoạt động có mục đích và không ngừng sáng tạo của con người Theo Ph.Ăngghen: “Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ: loài vật may m n l m chỉ hái lượm, trong khi đó con người sản xuất” [65, tr.241] Sự sản xuất xã hội bao g m sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Ba quá trình này không tách biệt nhau, trong đó, sản xuất vật chất giữ vai tr là cơ sở của
sự t n tại và phát triển xã hội, và xét đến cùng quyết định toàn bộ sự vận động của đời sống xã hội
Trải qua lịch sử lâu dài chinh phục giới tự nhiên, cùng với việc cải biến thế giới xung quanh, con người cũng đ ng thời cải biến bản thân mình và các quan hệ giữa con người với nhau nhằm làm cho việc chinh phục giới tự nhiên đạt hiệu quả cao hơn Con người và xã hội loài người được hình thành và phát
Trang 14triển trong quá trình hoạt động sản xuất vật chất Chính nhờ sự sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự t n tại của mình, con người đ ng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội với tất cả sự phong ph và phức tạp của nó C.Mác cho rằng: “Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp… tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta” [63, tr.500] Thực ti n lịch sử của xã hội loài người c n cho thấy rằng, mọi quan hệ phức tạp của đời sống xã hội dù thể hiện trong bất kỳ lĩnh vực nào: chính trị hay pháp quyền, nghệ thuật hay tôn giáo… hết thảy đều hình thành và biến đổi trên cơ sở sự vận động của đời sống sản xuất vật chất
Bất cứ một quá trình sản xuất vật chất nào cũng được tiến hành theo những cách thức nhất định Cách thức tiến hành đó chính là phương thức sản xuất - là cách thức con người sử dụng công cụ để tiến hành quá trình sản xuất của xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định Phương thức sản xuất là cái
mà nhờ nó người ta có thể phân biệt được sự khác nhau của những thời đại kinh tế khác nhau Dựa vào phương thức sản xuất đặc trưng của mỗi thời đại lịch sử, người ta hiểu thời đại lịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế - xã hội nào C.Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ ch ng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ ch ng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” [58, tr.269]
Như vậy, sản xuất chính là yếu tố quyết định sự t n tại của cá nhân và phương thức sản xuất là hình thức hoạt động cơ bản của lối sống Nghiên cứu lối sống phải cơ bản dựa vào phương thức sản xuất của một xã hội nhất định Lối sống được quy định bởi những mối liên hệ nội tại của một hình thái kinh
tế - xã hội nhất định, trong đó tính chất của quan hệ sản xuất là quan trọng nhất Phương thức sản xuất quyết định cách thức hoạt động sản xuất của con người và chính cách thức hoạt động sản xuất này quyết định lối sống của họ
Trang 15Lối sống được hình thành bởi sự tổng hợp toàn bộ các mối quan hệ xã hội có liên quan đến cơ cấu của hình thái kinh tế - xã hội Mỗi lối sống nhất định phù hợp với một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Lối sống của con người c n là kết quả hoạt động và tổ chức của con người trong quá trình biến đổi và thích nghi với hoàn cảnh sống, trong đó con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể Tác động của phương thức sản xuất đối với lối sống bao giờ cũng phải thông qua các hoạt động của chủ thể và mang dấu ấn của các chủ thể Lối sống phản ánh mối liên hệ biện chứng giữa cái phổ biến với cái đặc thù và cái đơn nhất Cho nên, lối sống có phạm vi rộng Có lối sống của cá nhân, lối sống của cộng đ ng (làng xã), lối sống xã hội (quốc gia, dân tộc)
Vì vậy, để xác định đ ng đ n đặc trưng cơ bản của lối sống cần coi trọng các hoạt động lao động nhằm sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần
“Mỗi lối sống đều có mặt vật chất của nó như: quan hệ lao động, trình độ và thời gian lao động, các phương thức th a mãn nhu cầu vật chất, các cách thức quản l ph c lợi vật chất Lĩnh vực tinh thần của lối sống dựa trên các hoạt động sản xuất vật chất của cá nhân và nhóm xã hội Ch ng bao g m: các kiểu lịch sử nhất định của hoạt động sáng tạo, lưu thông, trao đổi, giữ gìn các giá trị tinh thần như: các định hướng và thước đo giá trị, các quan hệ và đạo đức thẩm mỹ Bình diện tinh thần của lối sống là những tiềm năng tinh thần của
xã hội quy định các hoạt động sống của con người trong các điều kiện và môi trường xã hội cụ thể” [D n theo 89, tr.22]
Lối sống là phạm trù mang tính nhân loại, song ở mỗi quốc gia, dân tộc, lối sống có những đặc trưng riêng Hình thái kinh tế - xã hội g n liền với hoạt động mọi mặt của con người nhưng nó là một hiện thực khách quan độc lập với thức và tình cảm con người C n lối sống phản ánh hoạt động của chủ thể và bao g m nhận thức, tình cảm, động cơ, hành động xã hội, khuôn
m u ứng xử…theo một bảng giá trị nhất định
Trang 16Những nét đặc thù trong lối sống phản ánh các điều kiện và môi trường vật chất, địa - văn hóa, truyền thống dân tộc, dân cư, các hệ giá trị chính trị, đạo đức, tinh thần - văn hóa… Có lối sống của một hình thái kinh tế
- xã hội nhất định và nhiều lối sống trong một hình thái kinh tế - xã hội cụ thể Lối sống của giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản khác với lối sống của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân Do quy định của điều kiện và môi trường nên có lối sống du mục và lối sống tr ng l a nước Do quy định của điều kiện
và môi trường kinh tế - xã hội mà có lối sống thị trường và lối sống công xã truyền thống… Sự tương tác giữa các quan hệ giai cấp và quan hệ địa - văn hóa (môi trường sinh thái, dân cư, lãnh thổ, dân tộc…) đã tạo nên biểu tượng
và giá trị văn hóa riêng biệt như là bản s c văn hóa ổn định của lối sống Chính vì vậy, lối sống này khác với lối sống kia ở đặc điểm và phương pháp hoạt động đời sống
Như vậy, có thể hiểu, lối sống là lề lối, cách thức hoặc phương thức
hoạt động của con người, qua đó con người thực hiện mối quan hệ với tự nhiên và xã hội Thông qua các mối quan hệ này, con người vừa tự hoàn thiện mình, vừa cải tạo giới tự nhiên và xã hội
Khái niệm lối sống đã bao quát các lớp đối tượng về quan hệ tích cực của con người với tự nhiên và xã hội, các hoạt động sống của con người trong các điều kiện lịch sử dưới một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Lối sống của một xã hội phải thống nhất trong nó: nếp sống, lẽ sống, phong cách sống, mức sống, chất lượng sống, môi trường sống, tiêu chuẩn sống, khuôn m u ứng xử… Do vậy, để hiểu rõ hơn về khái niệm lối sống, ch ng ta cần phân biệt lối sống với một số khái niệm gần gũi liên quan với nó như: nếp sống, lẽ sống, mức sống, phong cách sống…
“Nếp sống” là một thuật ngữ được dùng rộng rãi ở Việt Nam Giữa “lối sống” và “nếp sống” có nhiều điểm tương đ ng và khác biệt Nếp sống là một
bộ phận của lối sống Lối sống g m nhiều hệ thống hành vi ứng xử của con
Trang 17người trong cuộc sống Nếp sống là những hành vi ứng xử của con người đã được lặp đi lặp lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen, thành phong tục đã được xã hội công nhận Nếp sống là mặt ổn định của lối sống, nói lên tính định hình, định lượng của lối sống C n lối sống mang tính định hướng cho hành động của con người và có tính biến đổi từ xã hội này sang xã hội khác Nếp sống có phạm vi hẹp hơn lối sống Nếp sống lâu đời có thể trở thành phong tục, tập quán Tác giả LV Kokan cho rằng: “Nếp sống của con người được coi như là sự phản ánh của cá nhân vào xã hội C n lối sống của con người được coi như sự phản ánh của xã hội đến cá nhân” [D n theo29, tr.23] Trong khi đó, A.P.Bu-chen-ko lại cho rằng: “Nếp sống không phải là một phần mà là một trong những hình thức biểu hiện của lối sống” [D n theo 29, tr.23]
Giáo sư Vũ Khiêu có l khi định nghĩa: “Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp trong sản xuất, chiến đấu, trong mọi quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi con người Những thói quen ấy c n gọi là tập quán” [46, tr.135]
“Lẽ sống” là thuật ngữ triết học, đạo đức, tâm l để chỉ mặt thức của lối sống Lẽ sống có vai tr d n d t, định hướng và định tính nhằm làm cho lối sống ổn định Lẽ sống dựa vào l tưởng và các giá trị xã hội phản ánh tính chủ thể của lối sống Lối sống nào cũng do một lẽ sống chỉ đạo Một người không có lẽ sống giống như một con tàu không có người lái, lênh đênh, bơ vơ giữa biển cả Có người không hiểu mình sống để làm gì và vì cái gì, đó chỉ là
t n tại Nhưng người khác lại biết làm cho cuộc sống của mình rực sáng vì những lẽ sống cao cả, có ích cho xã hội Như vậy, lẽ sống đề cập đến mục đích l tưởng của cuộc sống, là chí, khát vọng của con người Lẽ sống trả lời câu h i: Sống để làm gì? Sống cho ai? Sống như thế nào?
Trang 18“Mức sống” là một trong những yếu tố trực tiếp tác động đến sự hình thành và phát triển của lối sống Mức sống được xác định bằng hệ thống chỉ báo của sinh hoạt vật chất, phản ánh trình độ con người đạt được về mặt sản xuất Mức sống được nâng cao là điều kiện vật chất cần thiết và là điều kiện khách quan để cải thiện đời sống
“Chất lượng sống” là thuật ngữ triết học, xã hội để chỉ mức độ th a mãn nhu cầu vật chất và tinh thần nhưng không thể đo lường trực tiếp về số lượng
Ví dụ: chất lượng của lao động và nghỉ ngơi, chất lượng của điều kiện ăn, ở… Nhìn chung, đó là sự tổng hợp cả về lượng và chất, mức độ th a mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần theo một cách nhìn, một thước đo nào đó Theo cách hiểu rộng rãi thì chất lượng sống là thước đo thiên về việc thể hiện mức độ tự
do về mặt xã hội cũng như điều kiện phát triển của cá nhân Như thế, nếu mức sống đánh giá các tiêu chí số lượng của lối sống thì chất lượng sống cho biết lối sống đạt đến trình độ nào, tính chất và phạm vi nào
“Phong cách sống” là thuật ngữ tâm l , xã hội để đánh giá và nhận định thái độ và hành vi ứng xử hàng ngày của cá nhân và các nhóm xã hội Nó chính là hình thức biểu hiện của lối sống trong hoạt động xã hội và sinh hoạt của cá nhân và các nhóm xã hội
Ngoài ra, ch ng ta c n có khái niệm “môi trường sống” cũng có quan hệ chặt chẽ với “lối sống” Môi trường sống g m môi trường thiên nhiên, môi trường vật thể văn minh (môi trường thứ hai, do con người tạo ra như: kiến
tr c và cảnh quan đô thị, nhà ở, trường học, chùa tháp,…) và môi trường xã hội Môi trường sống là nơi di n ra các hoạt động sống của con người liên quan mật thiết đến sự sống của con người
Ngoài các khái niệm đã trình bày, khi nghiên cứu lối sống, người ta c n
đề cập đến các khái niệm như: nhịp sống, tiêu chuẩn sống, khuôn m u ứng xử,… Như vậy, ch ng ta có thể coi tất cả các khái niệm, thuật ngữ trên là những hàm nghĩa của phạm trù lối sống Các khái niệm này có quan hệ biện chứng với nhau và đều trực tiếp hay gián tiếp tác động đến lối sống và, ở một mức độ nhất định, đều phản ánh lối sống
Trang 191.1.2 Cấu trúc của lối sống
Lối sống là tổng thể các hình thức hoạt động của con người do phương thức sản xuất quyết định Lối sống thống nhất trong nó mặt vật chất và các yếu tố tinh thần, tổng h a các tính chất cơ bản nhất của mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội và môi trường Lối sống được cấu thành từ các yếu tố cơ bản như: cách thức hay phương thức lao động; cách thức tiêu dùng; quan hệ ứng
xử giữa người với người và xã hội; cách thức tư duy của con người và các phong tục, tập quán, tín ngưỡng… Các yếu tố này có mối quan hệ qua lại, chi phối l n nhau, tạo nên tính ổn định và biến đổi của lối sống Tính ổn định của lối sống làm nên sự khác biệt giữa lối sống của các khu vực, các dân tộc, các cộng đ ng người trong mỗi dân tộc Tính biến đổi của lối sống cho thấy lối sống của các khu vực, dân tộc, cộng đ ng, ngoài sự khác biệt c n có những điểm chung nhất định
Thứ nhất, phương thức hay cách thức lao động của con người
Con người là sản phẩm đ ng thời là chủ thể của lịch sử Muốn làm ra lịch sử, trước hết, họ phải sống, muốn sống được họ phải có cái ăn, mặc và chỗ ở… Khi tự nhiên không thể th a mãn nhu cầu sống của con người, họ phải lao động sản xuất để tái tạo ra tự nhiên thứ hai, làm ra của cải vật chất
để th a mãn nhu cầu của mình và xã hội Do đó, lao động sản xuất vật chất là yêu cầu khách quan, cơ sở của sự t n tại, vận động và phát triển của xã hội Ph.Ăngghen viết: “…Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người: cái sự thật giản đơn đã bị những tầng tầng, lớp lớp tư tưởng phủ kín cho đến ngày nay là: con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc, r i mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…” [60, tr.499-500]
Lao động là quá trình mà con người sử dụng công cụ để tác động vào giới tự nhiên, nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người Lao động cũng chính là yếu tố quyết định sự t n tại của cá nhân, để con người tạo ra sản phẩm th a mãn nhu cầu ăn, mặc, ở… Và, phương thức
Trang 20hay cách thức lao động chính là hình thức hoạt động cơ bản của lối sống Cách thức lao động của con người ở mỗi quốc gia, khu vực hay của một nhóm người phụ thuộc trước hết, vào điều kiện tự nhiên, vị trí địa l , khí hậu… Cách thức lao động của con người cũng chính là sự phản ánh điều kiện tự nhiên, vị trí địa l , khí hậu của mỗi vùng Chẳng hạn, khi nói đến cách thức lao động truyền thống ở các quốc gia phương Tây thì phải nói đến kinh tế du mục, chăn nuôi là chủ yếu Cách thức lao động đó, tạo nên lối sống du mục, không ổn định, động, hướng ngoại của người phương Tây Khi nói đến cách thức lao động truyền thống ở Phương Đông, thì không thể không nói đến lao động sản xuất nông nghiệp Bởi vì, ở đây các lưu vực sông đã tạo thành những đ ng bằng rộng lớn và phì nhiêu, khí hậu ấm áp, đất đai màu mỡ, phù hợp với phát triển nông nghiệp Cư dân khu vực này g n bó với việc tr ng l a nước, chăn nuôi và một số nghề thủ công khác có tính chất bổ trợ cho sản xuất nông nghiệp để t n tại Sản xuất nông nghiệp của cư dân ở phương Đông cũng không hoàn toàn giống nhau ở các khu vực như Đông B c Á, Đông Nam
Á, Nam Á, Trung Á, B c Á… Khu vực Trung Á, cách thức lao động thể hiện
ở kinh tế du mục, chăn nuôi gia s c như cừu, ngựa, lạc đà… C n ở khu vực Đông Nam Á thì việc tr ng l a nước, một số cây công nghiệp và đánh b t cá lại là cách thức lao động và sống chủ yếu của con người
Lối sống chính là phương thức, là dạng hoạt động của con người, chịu sự quyết định của phương thức sản xuất Tuy chịu sự quyết định của phương thức sản xuất, nhưng lối sống không phải là sản phẩm thụ động của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và những điều kiện khác Ngoài những hoạt động vật chất, con người c n có những hoạt động khác như: hoạt động chính trị -
xã hội, hoạt động khoa học, tôn giáo, nghệ thuật… Lối sống c n phản ánh những hoạt động của chủ thể, bao g m: nhận thức, tình cảm, động cơ, hành
vi, ứng xử… và cả mối liên hệ giữa ch ng Có thể nói: “Lối sống là sự kh c
xạ hình thái kinh tế - xã hội trong nhận thức, tình cảm, thái độ và hoạt động
xã hội, tổ chức đời sống và sinh hoạt cá nhân của con người” [89, tr.28]
Trang 21Như vậy, từ lĩnh vực kinh tế, lối sống cũng thể hiện trong lĩnh vực chính trị Ý thức chính trị, tình cảm chính trị đã thấm sâu vào đời sống kinh tế - xã hội, thể hiện thái độ, tình cảm, hành vi ở bất kỳ lĩnh vực nào (trình độ quản
l , công tác đối nội, đối ngoại…) Hoạt động chính trị - xã hội đóng vai tr quan trọng trong việc phát triển về tinh thần của con người, hình thành nên quan điểm, lối sống tích cực cho con người
Cách thức, kiểu sống của con người chính là kết quả tác động của họ vào điều kiện sống, môi trường tự nhiên và xã hội, đ ng thời con người cũng chịu
sự quy định khách quan của những điều kiện và môi trường ấy Nhà nghiên cứu Huỳnh Khái Vinh đã nhận xét: “Hoạt động sống của họ như thế nào thì
họ là như thế ấy Do đó, họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của
họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách họ sản xuất Do đó, những cá nhân là như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ” [89, tr.30]
Lối sản xuất - tiêu dùng đ ng thời kéo theo lối sinh hoạt tương ứng Cụ thể là trong nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp, sản phẩm hàng hóa làm ra không nhiều, mức tiêu dùng của con người bị hạn chế, tác phong lao động chậm chạp, tâm l bình quân cào bằng, nhu cầu đ i h i của con người không cao, nhu cầu giải trí cũng thấp… Ngược lại, trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại, lối sinh hoạt có nhịp điệu gấp gáp, sôi động do hoạt động của cơ chế thị trường, nhịp điệu công nghiệp và hội nhập quốc tế Với tác phong công nghiệp trong lao động, con người bị cuốn vào công việc Vì vậy, nhu cầu giải trí của họ cũng cao hơn
Như vậy, sản xuất ra của cải vật chất là để đáp ứng yêu cầu của sinh hoạt - tiêu dùng Nếu sản xuất phát triển, đời sống của con người sẽ có cơ hội được nâng cao cả về vật chất và tinh thần Lối tiêu dùng của con người sẽ thay đổi theo tầm cao mới của thị hiếu xã hội Từ đó ta thấy được mức sống của con người
Trang 22Thứ hai, cách thức tiêu dùng của con người
Cách thức lao động là cơ sở tạo nên cách thức tiêu dùng của con người Tiêu dùng như thế nào không tách rời cách thức lao động của con người ở mỗi khu vực, quốc gia Cách thức tiêu dùng tức là cách thức ăn, mặc, ở… của con người Qua đó, con người tiêu dùng những sản phẩm có sẵn của tự nhiên hoặc do chính con người tạo ra trong quá trình lao động Nhờ đó, con người
t n tại và hơn nữa hoàn thiện mình Cách thức tiêu dùng của con người trong mỗi giai đoạn của lịch sử đã tạo nên văn hóa ăn, mặc, ở… hay văn hóa tiêu dùng Sự khác nhau giữa các giai đoạn của lịch sử hay các quốc gia, dân tộc cũng biểu hiện ở văn hóa tiêu dùng
- Về cách thức ăn hay văn hóa ăn của con người
Ăn là nhu cầu tự nhiên, quan trọng đầu tiên của mọi sinh vật, trong đó có con người Ở con người, nhu cầu này bị quy định bởi nhiều yếu tố: trình độ phát triển, mức sống, chất lượng sống, tập quán, thói quen, văn hóa, xã hội và cả những đặc điểm trong tính cách dân tộc nữa Do vậy, vấn đề ăn của mỗi một cộng đ ng đều mang một bản s c văn hóa riêng biệt, không giống với các dân tộc khác Sự khác biệt đó do những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội quy định Quan niệm về ăn uống, cách thức ăn uống mang những đặc trưng riêng của mỗi vùng miền, quốc gia, dân tộc, đó chính là văn hóa ẩm thực Người phương Tây coi ăn là chuyện tầm thường, không đáng nói, thể hiện ở triết l :
“Người ta ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn” Người Việt Nam,
với tính thiết thực thì trái lại, coi ăn uống là công việc quan trọng: “Có thực
mới vực được đạo”, “Trời đánh tránh bữa ăn”… Mọi hành động của người
Việt đều lấy ăn làm đầu: ăn uống, ăn ở, ăn mặc, ăn nói, ăn học, ăn ngủ… Tính thời gian cũng lấy ăn uống và cây tr ng làm đơn vị, nhanh thì gọi là “giập bã trầu”, lâu hơn một ch t là “chín n i cơm”, c n kéo dài hàng năm thì là “hai mùa l a”, mọi giá trị (lương, thuế, học phí…) đều quy ra thóc gạo…
Trang 23Văn hóa ăn của người Việt phản ánh rõ khả năng tận dụng những yếu tố thuộc môi trường tự nhiên: thức ăn, thức uống đều được chế biến từ tự nhiên Cho nên, sẽ không có gì ngạc nhiên khi cư dân của các nền văn hóa gốc du mục (như ở phương Tây hoặc B c Trung Hoa) thiên về ăn thịt, người Nhật Bản thiên về ăn cá và hải sản, người Hàn Quốc chủ yếu ăn cơm với cá và rau dưa (kim chi) C n trong cơ cấu bữa ăn của người Việt Nam lại bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống văn hóa nông nghiệp l a nước Bữa ăn truyền thống của người Việt thường có ba thành phần chủ yếu chính là cơm, rau, cá, trong
đó chất bột (cơm) là chủ yếu, chiếm 70-80% Vì Việt Nam vốn có nền văn hóa nông nghiệp l a nước lâu đời Bởi vậy, người ta gọi bữa ăn là bữa cơm Tương ứng với lương thực, thực phẩm chủ yếu trong bữa ăn nên người phương Tây thường dùng dao, thìa, dĩa, (mô ph ng động tác con th xé m i)
C n người phương Đông thường dùng đôi đũa để g p thức ăn (mô ph ng động tác con chim nhặt hạt cây)
Ăn uống không phải chỉ để đáp ứng nhu cầu cho no bụng, đủ chất dinh dưỡng mà c n đáp ứng nhu cầu về tinh thần, giao tiếp và ứng xử xã hội Thông qua ăn uống, con người thiết lập và củng cố quan hệ xã hội ở phạm vi gia đình, d ng họ, cộng đ ng làng xã và các quan hệ xã hội khác Câu nói
“Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, “Học ăn, học nói, học gói, học mở”… là
sự phản ánh nguyên t c ứng xử của người Việt Nam trong gia đình và xã hội
Cách ăn cũng được xem là nét văn hóa đậm đà bản s c dân tộc Chính vì vậy, mỗi bữa cơm gia đình là để mọi thành viên hiểu nhau hơn, là sợi dây g n kết tình thân của các thành viên trong gia đình
- Về cách thức mặc hay văn hóa mặc của con người
Mặc với loại trang phục nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khí hậu, cách thức lao động, phong tục truyền thống, địa vị xã hội, tôn giáo và chất liệu Khu vực Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới, gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, người dân thường mặc thoáng, mát Chất liệu được dùng nhiều là tơ tằm, tơ
Trang 24đay, tơ gai và bông Trang phục đặc trưng truyền thống của nữ giới là váy,
c n nam giới là khố (phù hợp với khí hậu nóng bức và công việc tr ng l a, làm r y) Khu vực Tây Á - B c Phi, nơi có khí hậu kh c nghiệt và quy định của đạo H i, người dân (nhất là phụ nữ) thường mặc kín, trùm đầu và mặt Các nước Arập chịu ảnh hưởng của sa mạc, khô nóng ban ngày và lạnh ban đêm, cư dân ở đó thường ưa chuộng những kiểu áo dài, buông chùng, vừa để tránh n ng vừa làm mát cơ thể Ngoài ra, các kiểu khăn khác nhau cũng không thể thiếu đối với người Arập để che n ng ban ngày và giữ ấm ban đêm…Tuy nhiên, đó là những trang phục truyền thống của mỗi dân tộc, khu vực Trong quá trình phát triển của xã hội, các kiểu trang phục đó có nhiều thay đổi, đa dạng và nhiều vẻ hơn
Cách mặc của cư dân Việt cổ truyền ở vùng văn hóa châu thổ B c Bộ - một vùng văn hóa gốc và là cái nôi sinh thành dân tộc Việt Nam cũng có rất nhiều nét đặc s c Cách mặc của cư dân tr ng l a nước ở đây là một ứng xử văn hóa trong việc thích ứng với thiên nhiên
Ở Việt Nam có cả bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Tuy nhiên, hai mùa nổi bật nhất ở B c Bộ v n là mùa đông (giá rét) và mùa hạ (nóng bức) Vì vậy, cả đàn ông và đàn bà đều ưa màu s m, nhất là màu nâu đất với các loại biến tấu,
từ nâu non đến nâu già… Thời xưa, đàn ông Việt thì “cởi trần đóng khố”, c n đàn bà Việt thì “váy vận yếm nang” Sau này, cả nam và nữ đều mặc quần áo (ở châu thổ sông H ng gọi là áo cánh, ở châu thổ sông Cửu Long kêu là áo bà ba) phù hợp với loại hình lao động trên các ruộng cạn, đ ng sâu, ruộng khô, ruộng nước Cũng là ở Việt Nam, nhưng mặc ở mỗi vùng miền, mỗi cộng
đ ng dân tộc lại có các kiểu trang phục khác nhau, tạo nên băn s c văn hóa riêng Qua quá trình lao động, cùng với sự biến hóa theo lịch sử, văn hóa mặc của người Việt đã được định hình rõ nét Đó cũng thể hiện sự ứng phó linh hoạt của người Việt với môi trường tự nhiên
Trang 25- Về cách thức ở của con người
Ăn, mặc, ở là những nhu cầu không thể thiếu được của mỗi người Con người dù ở thời đại nào cũng không thể t n tại nếu như thiếu các yếu tố đó
Từ khi mới hình thành xã hội loài người, con người đã biết dành một phần sức lao động đáng kể để tạo dựng cho mình một phương tiện che mưa, che
n ng, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi cách biệt với thiên nhiên hoang dã, mà ngày nay người ta gọi các phương tiện đó là nhà ở Con người cần nhà để nghỉ ngơi, cũng như cần cơm để ăn, cần nước để uống, cần áo để mặc hàng ngày Như vậy, nhà ở là một nhu cầu thiết yếu cho sự t n tại và tái tạo sức sản xuất của mỗi thành viên trong xã hội
Từ bao đời nay, ở mỗi vùng, miền khác nhau đều mang những nét riêng
về tập quán sống và lao động sản xuất Kiến tr c nhà ở thường tuân theo nhu cầu sinh hoạt, lao động sản xuất, đặc điểm khí hậu, quan niệm thẩm mỹ của người dân… Người Ấn Độ, kiến tr c nhà ở rất đa dạng, do sự đa dạng về khí hậu ở đất nước này Miền B c Ấn Độ mùa hè nóng nực, mùa đông lạnh buốt, nhà ở được xây với những bức tường dày để gi p con người tránh n ng, nóng
và giá lạnh kh c nghiệt Hình dáng của ngôi nhà truyền thống và cả hiện đại ở
Ấn Độ bao giờ cũng nở hậu, tức là phía sau sẽ rộng hơn phía trước để có sự may m n Đối với người Nhật, ngôi nhà truyền thống cũng có những nét bản
s c rất riêng, phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu và phong tục tập quán Nhà truyền thống thường làm bằng chất liệu gỗ (đó là ngu n nguyên liệu khá
d i dào, phong ph của Nhật), với bộ khung bằng s c gỗ thô tựa trên nhiều hàng cột nâng, tạo sự vững ch c, để chống lại nguy cơ động đất Bố cục của ngôi nhà truyền thống thể hiện tính mở (trước nhà có khoảng sân hay hiên để hàng xóm gặp gỡ, tr chuyện với nhau, ph ng có thể trải nhiều đệm cho nhiều người ngủ…) Khác với Ấn Độ, Nhật Bản, nhà truyền thống đặc trưng của khu vực Đông Nam Á là nhà sàn, phù hợp với khí hậu nóng, ẩm Nhà sàn tạo
sự thoáng mát và an toàn cho con người (ngăn cản th dữ, côn trùng ở vùng
Trang 26n i cao, đối phó với nạn lụt ở vùng sông nước) Bất cứ địa hình nào, từ vùng sình lầy, sườn đ i hay n i cao đều có thể xây dựng được nhà sàn Nhà sàn Đông Nam Á được làm từ gỗ, tre, nứa, lá (ngu n nguyên liệu khá d i dào ở đây) Mỗi ngôi nhà sàn đều có hiên nhà và thường là rất rộng để phù hợp với những hoạt động mang tính tập thể toàn gia đình như ăn uống, tr chuyện… Một số ít khu vực dân cư theo loại hình kinh tế du mục, lều di động lại được
sử dụng như nhà ở để đáp ứng nhu cầu di chuyển thường xuyên
Nhà truyền thống đặc trưng của người Việt Nam là nhà đất Nhà đất có
bộ khung làm bằng gỗ hoặc tre nứa, có tường đất bao bọc xung quanh Tường
có thể dày hoặc m ng khác nhau, tùy từng vùng Vùng ít có bão, gió lơn, lụt lội thì tường đất thường m ng, đơn giản Vùng hay bão gió, tường nhà thường dày, vững ch c Kết cấu chính của nhà đất là hệ thống cột, xà và kèo liên kết với nhau bởi các mộng, có thể tháo, l p d dàng Nhà đất của người Việt đơn
sơ và đẹp đẽ, gọn gàng, đảm bảo ấm c ng về mùa đông và thoáng mát về mùa
hè Ngôi nhà truyền thống của người Việt thường được bố trí theo hướng Đông Nam với hai bộ phận: nhà chính và nhà phụ Nhà chính là nơi trang trọng nhất, bàn thờ tổ tiên được đặt ở đây Những sinh hoạt chung được thực hiện ở chính giữa ngôi nhà chính Nhà phụ có bếp, chỗ để dụng cụ lao động… Quá trình xây dựng nhà ở của cư dân Việt Nam là sự tích lũy vốn sống hàng ngàn đời của người dân Nhà cửa luôn phải phù hợp với môi trường thiên nhiên, nương nhờ vào thiên nhiên tạo nên một hệ sinh thái bền vững Hình ảnh những nếp nhà tranh tre nứa lá, nhà ngói cây mít ẩn hiện sau lũy tre xanh và chiếc cổng làng đã trở thành dấu ấn quen thuộc từ bao đời nay Đây
là những nét tiêu biểu tạo nên không gian văn hóa kiến tr c g n kết giữa nhà - làng và nước
Như vậy, ẩm thực, trang phục, nhà ở là những yếu tố cơ bản tạo nên cách thức tiêu dùng của con người Cách thức tiêu dùng là bộ phận cấu thành quan trọng trong lối sống, g n liền và bị chi phối bởi cách thức lao động, điều kiện
Trang 27kinh tế - xã hội Đ ng thời, cách thức tiêu dùng của con người cũng thể hiện cách ứng xử, quan hệ của con người với tự nhiên và quan hệ ứng xử giữa người và người trong xã hội Ngày nay, cùng với sự biến đổi và phát triển không ngừng của xã hội, cách thức tiêu dùng ở mọi dân tộc, khu vực đều có nhiều thay đổi ở tất cả các phương diện: ăn, mặc, ở Trong sự thay đổi đó, có
sự ảnh hưởng, tác động l n nhau giữa lối tiêu dùng của người phương Đông
và phương Tây cũng như giữa các dân tộc Phù hợp với thời đại văn minh công nghiệp, thay thế cho kiến tr c nhà truyền thống (nhà sàn, nhà đất…) là kiến tr c hiện đại với những khu chung cư cao tầng, biệt thự lớn Âu phục ngày càng trở thành trang phục phổ biến và là trang phục hàng ngày thay thế cho trang phục truyền thống Tất nhiên, trong sự thay đổi ấy, đều có sự pha trộn những ưu điểm, tích cực của cái hiện đại và truyền thống để tạo nên bản
s c riêng trong lối sống của con người ở mỗi khu vực, dân tộc
Thứ ba, quan hệ ứng xử của con người
Hoạt động giao tiếp cũng như hoạt động chính trị - xã hội khác có vai tr
to lớn trong việc hình thành lối sống Không có sự giao tiếp của con người trong hoạt động sản xuất, chính trị, sinh hoạt văn hóa tinh thần thì không có khả năng hiện thực hóa bản chất các quan hệ xã hội Hơn nữa, không có hoạt động giao tiếp tích cực thì không có khả năng phát triển toàn diện con người C.Mác và Ph.Ăngghen đã quan niệm: “Sự phát triển giao tiếp của cá nhân con người không chỉ là số lượng các quan hệ của một người với người khác, mà trước hết là sự phát triển về chất của cơ sở giao tiếp của con người, sự kh c phục các hình thức giao tiếp có tính chất lãnh thổ, dân tộc nh hẹp, việc thực hiện mối quan hệ thực tế của mỗi người đối với các thành tựu phát triển về vật chất và tinh thần của các dân tộc khác” [20, tr.56-57]
Nói đến quan hệ ứng xử của con người, phải nói đến quan hệ ứng xử của con người với thiên nhiên và với chính bản thân con người Về quan hệ ứng
xứ với thiên nhiên, người phương Tây nghiêng về chinh phục tự nhiên, cải tạo
Trang 28thế giới Bởi lối sống của người phương Tây có ngu n gốc từ văn hóa du mục, nghề chăn nuôi buộc người dân phải đưa gia s c đi tìm c , sống du cư, ít phụ thuộc vào tự nhiên, d n đ n coi thường tự nhiên và tham vọng chinh phục
tự nhiên C.Mác đã viết: “vấn đề là cải tạo thế giới” C n người phương Đông lại thiên về h a đ ng với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên, sống định cư Cách ứng xử với thiên nhiên của người phương Đông hay phương Tây có ngu n gốc từ cơ sơ sở kinh tế - xã hội, hệ thống triết học và tổ chức xã hội nhất định
Ở phương Đông, nền sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, sản xuất chỉ có thể đạt hiệu quả khi thuận theo tự nhiên Vì vậy, tổ chức sản xuất nông nghiệp phải theo thời vụ, nếu không sẽ phải trả giá bằng đói, khổ
và tính mạng Do vậy, người Nhật Bản phải “sống chung với động đất”, quần đảo Philippines phải “sống chung với bão”, đ ng bằng sông Cửu Long phải
“sống chung với lũ” Đó cũng là một lẽ tự nhiên trong lối sống của người phương Đông Mặc dù vậy, trong cách ứng xử với tự nhiên, không có sự đối lập tuyệt đối trong lối sống của người phương Đông và phương Tây
Về quan hệ ứng xử giữa người và người, lối sống phương Đông nặng về tính cộng đ ng và cách ứng xử tình cảm, mềm dẻo Lối sống phương Tây thiên về tính cá thể, trọng l , con người cá nhân được đề cao Sự khác biệt này cũng phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm của phương thức lao động… Trong sản xuất nông nghiệp của người phương Đông, các gia đình nông dân cùng canh tác trên một cánh đ ng, nên họ phải liên kết với nhau để chống thiên tai như lũ lụt, sâu bệnh, chuột bọ Do vậy, tính cộng đ ng hình thành Mỗi cá nhân, khi hành động đều phải nghĩ đến cộng đ ng, tập thể Nghĩa vụ, trách nhiệm thường được đề cao trong mỗi con người Tính cộng
đ ng là cơ sở để hình thành nên lối cư xử tình cảm giữa người với người Mọi xung đột nảy sinh đều được giải quyết chủ yếu bằng tình nghĩa họ hàng, bà con, láng giềng một cách mềm dẻo (trọng tình) Lối sống trọng tình cảm tất yếu nảy sinh thái độ trọng đức, trọng văn, trọng sự h a hiếu Tính cộng đ ng
Trang 29là cơ sở để phát triển thành chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc phương Đông Khác với lối sống phương Đông, trong lối sống phương Tây, con người
cá nhân, quyền lợi được đề cao Lối ứng xử trọng l gi p cho con người sống tuân thủ pháp luật một cách có thức - điều này, người phương Đông phải phấn đấu rất gian khổ mới có được
Việt Nam là một quốc gia phương Đông, lối ứng xử với thiên nhiên và với con người cũng mang đầy đủ đặc trưng của lối sống phương Đông Thái
độ h a đ ng, thuận theo tự nhiên của người Việt Nam được nâng lên thành sự sùng bái tự nhiên Vì vậy trong tín ngưỡng của người Việt, có tín ngưỡng sùng bái tự nhiên: thờ m u, thờ các vị thần tượng trưng cho sức mạnh của tự nhiên như mây, mưa, sấm, chớp (Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Vũ, Pháp Điện)
và thờ động vật, thực vật Trong quan hệ xã hội, quan hệ giữa người và người, thức cộng đ ng g n kết cá nhân - gia đình - làng - nước là một giá trị cốt lõi trong các giá trị văn hóa truyền thống của người Việt Nam Có thể nói, tính cộng đ ng, tinh thần đoàn kết trở thành sức mạnh nội sinh của dân tộc ta, góp phần đáng kể vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước trong lịch sử Ngày nay, không ai có thể phủ nhận vai tr của giá trị này trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hơn nữa, mối quan hệ nước - làng - nhà trong đời sống kinh tế, chính trị,
xã hội của nước ta đã vun đ p cho tinh thần đoàn kết và thức cộng đ ng ngày càng chặt chẽ Tinh thần đoàn kết, thức cộng đ ng dân tộc xuất phát từ quan niệm hết sức nhân văn và lối sống tình nghĩa giữa người với người Quan niệm này được thể hiện trong các câu có tính triết l của nhân dân ta
như: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một
giàn”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”, “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba”… Với thức cùng chung một ông Tổ, cùng một d ng máu, cùng một vận
mệnh lịch sử, mọi người dân Việt Nam coi nhau như trong một đại gia đình
Trang 30Lòng nhân ái, khoan dung cũng là một giá trị nổi bật trong quan hệ ứng
xử xã hội của con người và cũng là giá trị nổi bật của văn hóa Việt Nam Qua những thời kỳ lịch sử khác nhau, l ng nhân ái, khoan dung có những nội dung mới, song về cơ bản, nó v n giữ được nét đặc s c riêng Nếu so sánh với giá trị văn hóa của một số nước trên thế giới thì l ng nhân ái, khoan dung là một giá trị văn hóa rất đáng tự hào của dân tộc Việt Nam Truyền thống thương người, cởi mở, khoan dung thấm nhuần tinh thần lạc quan, tin tưởng vào sự chiến th ng của cái chính nghĩa, cái đẹp trước cái phi nghĩa, cái xấu, sẵn sàng cưu mang những ai gặp hoạn nạn khó khăn, bất hạnh đã được các tầng lớp nhân dân phát huy trong mọi thời đại L ng nhân ái, khoan dung của dân tộc
Việt Nam là: sống h a thuận, đoàn kết; yêu thương đ ng bào, đ ng loại “Lá
lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”…; gi p đỡ l n
nhau, sống có tình làng nghĩa nước; sống thủy chung; biết ơn, tôn kính, noi gương những anh hùng có công với dân với nước… L ng nhân ái, khoan dung chính là một nét đặc trưng cho lối sống của người Việt
Thứ tư, cách thức tư duy của con người
Từ cách thức hay phương thức lao động, cũng như cách thức tiêu dùng
và quan hệ ứng xử của con người, thì cách thức tư duy cũng là yếu tố quan trọng góp phần cấu thành và phản ánh đặc trưng của lối sống
Tư duy là những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của con người để sửa đổi, cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người
ta có nhận thức đ ng đ n về sự vật và ứng xử tích cực với nó Tư duy được hình thành trong quá trình lao động Nhờ lao động, mà bộ óc người - dạng vật chất có tổ chức đặc biệt mới hoàn thiện, chuyển hóa từ vượn có dạng người thành người Chỉ ở dạng vật chất đặc biệt đó mới thực hiện được hoạt động tư duy Nhờ vậy, con người từ chỗ là một loài động vật thích ứng với tự nhiên bằng bản năng tự nhiên, con người đã phát triển sự thích ứng đó bằng bản năng thứ hai là tư duy với khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa ngày càng cao, đến mức nhận thức được bản chất sự vật hiện tượng, quy luật của tự nhiên và bản thân mình
Trang 31Trong quá trình sống con người giao tiếp với nhau, do đó, tư duy của từng người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của của bản thân vừa chịu
sự tác động biến đổi từ tư duy của đ ng loại thông qua hoạt động có tính vật chất Do đó, tư duy không chỉ g n với bộ não của từng cá thể người mà c n
g n với sự tiến hóa của xã hội, trở thành sản phẩm có tính xã hội trong khi
v n duy trì được tính cá thể của mỗi người
Tư duy mang tính xã hội, do vậy, trình độ của tư duy, phương thức tư duy, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là bộ óc người r i đến lao động và ngôn ngữ - phương tiện thể hiện của tư duy Từ những yếu tố đó, phương thức
tư duy của con người cũng có sự khác nhau trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử và trong các khu vực khác nhau trên thế giới
Người phương Tây trong lịch sử, phương thức tư duy nghiêng về sự phân tích và đi sâu vào các chi tiết Tư tưởng triết học phương Tây thiên về chủ biệt Đó là l do khiến cho khoa học - kỹ thuật phương Tây rất phát triển Trái lại, người phương Đông ch trọng tới tính toàn diện, toàn thể, toàn cục Tư tưởng triết học phương Đông thiên về tính chủ toàn Khi xem xét một sự vật, người phương Đông xem nó như một hệ thống - cấu tr c hoàn chỉnh, trong đó, các yếu tố có quan hệ, ràng buộc và quy định l n nhau tạo nên chỉnh thể, mối quan hệ giữa các yếu tố được ch nhiều hơn (người phương tây lại ch hơn đến việc phân tích từng yếu tố) Cách chữa bệnh của Đông y và Tây y là một ví
dụ khá điển hình về lối tư duy giữa người phương Đông và phương Tây
Đối với người Việt Nam truyền thống, tư duy kinh nghiệm có sự ưu trội, yếu kém về tư duy l luận Về mặt phương pháp luận, tư duy truyền thống Việt Nam mang đậm dấu ấn của tư duy biện chứng phương Đông Tính biện chứng này mang đặc trưng trực quan, trực giác Lối tư duy đó có độ mềm dẻo cao song lại thiếu tính chặt chẽ, chính xác, ch nhiều đến định tính hơn định lượng Hơn nữa, người Việt sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên họ đã tích lũy được những kinh nghiệm trong quá trình sản xuất Đó là hệ thống tri thức thu được bằng con đường kinh nghiệm chủ quan, cảm tính
Trang 32Đặc trưng của tư duy truyền thống Việt Nam thiên về tình hơn l Người Việt thường lấy đạo đức làm cơ sở trong quan hệ ứng xử giữa người với người, tình làng nghĩa xóm sâu nặng đã che mờ quan hệ pháp l - vốn được coi trọng trong các xã hội phát triển Với cách ứng xử như vậy, các quan hệ pháp l trở nên trì trệ và tư duy pháp l của Người Việt trở nên yếu kém Đây
là một nhược điểm cần được kh c phục khi nước ta tham gia vào quá trình hội nhập và giao lưu quốc tế
Trong d ng chảy của lịch sử Việt Nam, có thời kỳ, tư duy và lối sống của người Việt c n chịu ảnh hưởng nặng nề của lối sống bao cấp Tư duy và lối sống bao cấp có những mặt tích cực là góp phần làm nên sự ổn định xã hội, tạo điều kiện và cơ hội cho những người yếu thế, d bị tổn thương Tuy nhiên,
nó c n có những hạn chế thể hiện ở tính độc quyền, xin cho, ỷ lại, ngại thay đổi, đùn đẩy và trốn tránh trách nhiệm cá nhân Khi nước ta phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những nhược điểm đó sẽ
là trở lực phải kh c phục để mỗi người có cơ hội bình đẳng, phát huy hết sức sáng tạo của mình, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển đất nước Việc hoàn thiện quan hệ sản xuất, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa sẽ góp phần thay đổi tư duy và lối sống của người Việt, khơi dậy sức sáng tạo của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng đất nước
Thứ năm, tín ngưỡng, lễ hội, phong tục
Ngoài cách thức lao động, cách thức tiêu dùng, quan hệ ứng xử, cách thức tư duy của con người, tín ngưỡng, phong tục tập quán, l hội cũng là những yếu tố tạo nên lối sống và chủ yếu phản ánh mặt tinh thần của lối sống Tín ngưỡng, phong tục, l hội c n làm nên b c s c văn hóa độc đáo của mỗi quốc gia dân tộc và khu vực
Đặc trưng kinh tế truyền thống của phương Đông là sản xuất nông nghiệp,
mà tr ng trọt là chính, nên lối sống luôn hướng tới sự ổn định, hướng nội và khép kín Khác với văn hóa gốc du mục, thiên về chăn nuôi ở phương Tây,
Trang 33văn hóa phương Đông là văn hóa gốc nông nghiệp Tín ngưỡng, phong tục, l hội ở đây khá đa dạng, nhưng đều mang đậm tính chất nông nghiệp, nông thôn Trong sự đa dạng của tín ngưỡng phương Đông, thì tín ngưỡng sùng bái
tự nhiên, tín ngưỡng ph n thực, tín ngưỡng sùng bái người đã mất là phổ biến nhất, đặc biệt khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển Cư dân thường thờ các vị thần liên quan trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp như Thần Mặt trời, Thần Đất, Thần Nước, Thần L a, Thần gió… thờ sinh thực khí và hành vi giao phối
để hy vọng sự sinh sôi, nảy nở và phát triển trong cuộc sống
Tín ngưỡng là cội ngu n của l hội và các sinh hoạt văn hóa dân gian Tín ngưỡng và l hội là những nhân tố văn hóa đặc s c của tất cả các dân tộc phương Đông và phương Tây Từ tín ngưỡng sùng bái tự nhiên ở phương Đông hình thành các l hội nông nghiệp Trong các l hội nông nghiệp, l hội quan trọng nhất liên quan đến cây l a và v ng đời của cây l a: l xuống đ ng (Việt Nam), l ban phát giống thiêng (Cămpuchia), l mở đường cày đầu tiên (Thái Lan), l hội cầu mưa, cầu n ng, hội đua thuyền, hội té nước… Cùng với
l hội, các sinh hoạt văn hóa dân gian như m a, hát, biểu di n âm nhạc…cũng mang nhiều nhịp điệu của lao động nông nghiệp, mô tả các động tác cày cấy, gặt hái, chèo thuyền Nhạc cụ phổ biến ở phương Đông (sáo, kèn, chiêng, trống…) được tạo ra từ sản phẩm nông nghiệp Ở nhiều l hội, l vật chủ yếu cũng là sản phẩm nông nghiệp: bánh, b n, xôi, hương, hoa…Cùng với các l hội nông nghiệp, c n các kiểu l hội khác là l hội tôn giáo: l Noen (Thiên
ch a giáo), l Phật đản (Phật giáo)…
Khác với tín ngưỡng, l hội phương Đông, tín ngưỡng phương Tây cũng thể hiện sự coi trọng tự nhiên, nhưng lại thiên vào thờ các con vật, như tín ngưỡng thờ vật tổ hoặc thờ những con vật có sức mạnh, có nguy cơ làm hại con người như hổ, báo…
G n liền với tín ngưỡng, l hội trong lối sống của con người, c n phải kể đến các phong tục tập quán Phong tục tập quán là khái niệm rộng, ngoài vấn
Trang 34đề l hội, trang phục, nhà cửa, ăn uống (đã trình bày ở những phần trên), hôn nhân, tang l , các tr chơi cũng là những điều không thể thiếu khi đề cập đến phong tục tập quán trong lối sống của con người Hôn nhân, tang l , các tr chơi dân gian của các dân tộc trên thế giới rất đa dạng Tuy nhiên, đối với mỗi khu vực, trong sự đa dạng đó cũng có một số yếu tố chung
Đối với người Việt, phong tục, tập quán, tín ngưỡng và l hội dân gian cũng rất đa dạng, vừa mang những yếu chung của khu vực Đông Nam Á, vừa
có những nét riêng của dân tộc Việt Ý thức hướng về cội ngu n gia đình,
d ng họ, làng xóm qua việc thờ c ng tổ tiên, thờ c ng Thành Hoàng làng, thổ thần hay những vị thần bảo trợ cho nông nghiệp… Ngoài ra, tâm thức “vạn vật hữu linh” cũng góp phần làm phong ph thêm cho các tín ngưỡng cư dân nơi đây Người Việt ở châu thổ B c Bộ thờ thần mây, mưa, sấm, chớp, các loại thần cây, thần đá, thần sông, n i… Bên cạnh những tín ngưỡng dân gian bản địa ấy, các hình thức tôn giáo cũng đóng vai tr rất quan trọng trong đời sống tâm linh của cư dân vùng này, tiêu biểu là Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo Có thể thấy rằng, những loại hình tín ngưỡng của người dân Việt luôn hướng về đời sống hiện thực của con người trong lao động, sản xuất, trong đời sống gia tộc, làng xã, đảm bảo một niềm tin làm chỗ dựa tinh thần cho con người Đời sống sản xuất, sinh hoạt vật chất, các quan hệ với
tự nhiên, xã hội của cư dân vùng châu thổ B c Bộ, thể hiện một đời sống tinh thần phong ph
Trong gia đình người Việt thường thờ nhiều thần như Thổ Công (trông nom việc bếp), Thổ Địa (trông nom việc nhà), Thổ Kỳ (trông nom việc chợ
b a, sinh sản), Thần Tài… Tổ tiên cũng được người Việt “thần hóa” xem như
“vị thần bản mệnh” trong gia đình, được coi trọng nhất Do đó, trong mỗi gia đình đều lập bàn thờ tổ tiên Bàn thờ tổ tiên là không gian thiêng liêng để các thành viên gia đình thể hiện, gửi g m l ng tưởng nhớ, biết ơn tiên tổ Bàn thờ
tổ tiên thường được lập cố định, ở chỗ trang trọng nhất, gian chính giữa của nhà trên Việc thờ c ng tổ tiên tại gia đình tiến hành quanh năm, xuất phát từ
Trang 35quan niệm về đạo Hiếu của con cháu đối với tổ tiên Vào thời điểm trong gia đình có chuyện vui bu n như: sinh con, ốm đau, cưới vợ, gả ch ng, làm nhà mới…là dịp để con cháu khói hương, thành kính dâng mời, cầu c ng gia tiên, giữ bền phong tục, giữ trọn nghĩa vụ thiêng liêng với tổ tiên, cầu mong sự phù
gi p của tổ tiên Thờ c ng tổ tiên không chỉ là cách ứng xử của người sống đối với người đã khuất mà c n là cách ứng xử giữa những người đang sống Đây là nét độc đáo thể hiện thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam
Tín ngưỡng, phong tục, l hội của các dân tộc, trong lịch sử cho đến ngày nay đều có nhiều thay đổi Trong lối sống của mỗi dân tộc, cộng đ ng đều có
sự ảnh hưởng, du nhập những tín ngưỡng, phong tục, l hội của cộng đ ng, dân tộc khác Những thay đổi ấy là sự biểu hiện tính lịch sử - xã hội của khái niệm lối sống
Như vậy, cách thức lao động, tiêu dùng, tư duy, quan hệ ứng xử, tín ngưỡng là những yếu tố cơ bản cấu thành nên lối sống của con người Ngoài những yếu trên, lối sống c n bao hàm cả kho tàng văn hóa dân gian, nghệ thuật, ngôn ngữ… Những yếu tố này tạo nên mặt vật chất và tinh thần trong lối sống Cách thức lao động, tiêu dùng tạo nên mặt vật chất, cách thức tư duy, phong tục, tập quán, tín ngưỡng l hội tạo nên yếu tố tinh thần của lối sống Tất nhiên sự phân chia mặt vật chất và tinh thần trong lối sống chỉ mang tính chất tương đối Những yếu tố có sự tác động qua lại, ảnh hưởng chi phối
l n nhau tạo nên tính chỉnh thể, thống nhất của lối sống Mỗi yếu tố có vị trí nhất định trong sự hình thành và phát triển của lối sống Nếu tuyệt đối hóa hoặc phủ nhận một yếu tố nào đó đều d n đến sự phiến diện trong nhận thức
về lối sống
1.2 Lối sống truyền thống của nông dân Việt Nam
1.2.1 Cơ sở hình thành lối sống truyền thống của nông dân Việt Nam
Lịch sử hình thành, phát triển của dân tộc Việt Nam cũng là lịch sử hình thành, phát triển lối sống của người Việt Nam nói chung và nông dân Việt Nam nói riêng Nó được vun đ p, được làm phong ph và đậm đà hơn thông qua hoạt động lao động sản xuất, chiến đấu, học tập và giao tiếp xã hội trong
Trang 36nội bộ quốc gia và sự giao lưu văn hóa với các dân tộc khác Lối sống cũng như một d ng sông chảy mãi không ngừng về phía trước Đó là quá trình tiến hóa của lối sống, loại b những mặt thấp kém, lạc hậu, cải tạo cái cũ, đ ng thời phát huy những mặt tốt đẹp, bổ sung những mặt mới, tiên tiến và phát triển lối sống theo hướng văn minh, hiện đại
Lối sống truyền thống của dân tộc cũng như của người nông dân được hình thành dựa trên nền văn minh nông nghiệp tr ng l a nước và cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ gìn độc lập dân tộc Bên cạnh những mặt không c n phù hợp là những mặt tiến bộ mang tính nhân văn sâu s c hướng tới thời đại mới của lối sống - lối sống khoa học - dân chủ - nhân đạo Văn hóa đạo đức, tập quán thường thể hiện rõ trong hoạt động lao động sản xuất của con người, tức là thể hiện trong lối sống của họ Nhìn vào lối sống sẽ thấy được truyền thống của một dân tộc Trong xã hội có giai cấp, lối sống mang tính giai cấp Chẳng hạn như trong xã hội phong kiến, lối sống của giai cấp nông dân khác với lối sống của giai cấp địa chủ Người nông dân cần cù lao động, chịu thương chịu khó, sống thanh đạm và rất tình nghĩa C n giai cấp địa chủ, do không phải trực tiếp lao động sản xuất, lại có uy quyền nên chỉ biết sống hưởng thụ Những tập quán phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị thì được duy trì, khuyến khích phát triển, c n những tập quán nào có hại cho quyền uy của nó thì nhất định bị ngăn cấm, xóa b Chính vì thế, cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội cũ không những di n ra trên các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, quân sự mà c n bộc lộ thường xuyên trong lĩnh vực lối sống Phải nói rằng, trước đây, để thống trị nước ta, đế quốc xâm lược phương B c và phương Tây đã dùng những chính sách đ ng hóa nhằm mục đích phá hủy lối sống cổ truyền của dân tộc, từ đó, xóa b l ng yêu nước, làm nhụt chí tự lực tự cường của nhân dân và mục đích cuối cùng của ch ng là thiết lập sự thống trị trên đất nước ta Cho nên, về mặt lẽ sống, ch ng đã đầu độc nhân dân ta bằng một hệ thống giáo l tạo nên một tâm l khiếp nhược,
Trang 37phục tùng C n về mặt nếp sống, ch ng b t nhân dân ta phải theo phong tục của ch ng Suốt mấy nghìn năm đấu tranh, nhân dân ta đã kiên cường, bất khuất bảo vệ lẽ sống, lối sống và phong tục lâu đời của mình Trong hoàn cảnh đất nước lâu ngày nằm dưới ách thống trị của các giai cấp bóc lột, nhân dân ta đã thấm thía những đau khổ, tủi nhục của một cuộc sống nô lệ Lấy l tưởng “độc lập, tự do” làm lẽ sống, nhân dân ta đã liên tục chiến đấu nhằm đánh đuổi giặc ngoại xâm, lật đổ ách áp bức, xây dựng nếp sống và lối sống xứng đáng với vinh dự và phẩm chất của người Việt Nam nói chung và người nông dân Việt Nam nói riêng
Thế kỷ XX đối với xã hội Việt Nam được đánh dấu bằng những sự kiện lịch sử hết sức to lớn, thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945
và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng h a, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Tiếp đó là cuộc chiến tranh giữ nước kéo dài hơn 30 năm, lần lượt đánh th ng hai đế quốc Pháp và Mỹ, thống nhất đất nước, đi theo theo định hướng xã hội chủ nghĩa Với cuộc Cách mạng Tháng Tám, vị thế người nông dân từ chỗ người dân của một nước nô lệ, bị hai tr ng
áp bức thực dân và phong kiến trở thành người dân của một nước độc lập, tự
do Với th ng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, từ chỗ là một quốc gia rất ít được biết tới, Việt Nam trở thành một địa chỉ nổi tiếng, nơi hợp lưu của những lu ng tư tưởng tiến bộ, các giá trị nhân văn của loài người Trong bối cảnh lịch sử đó, các giá trị về quốc gia, nhân phẩm, quyền sống…trong người nông dân cũng thay đổi, từ đó lối sống của họ cũng có những biến đổi sâu s c Người nông dân thoát kh i áp bức, bóc lột sống tự tin hơn, phấn khởi, tin tưởng vào tương lai hơn Từ chỗ vua ch a là chủ nhân của đất nước đ ng thời cũng là chủ nhân của chính họ, nay họ được làm chủ bản thân mình, được quyết định cuộc sống của mình Từ chỗ đời sống vật chất của
họ phụ thuộc vào ruộng đất của địa chủ, nay cuộc cải cách ruộng đất đã trả ruộng đất về cho dân cày Từ chỗ tầm m t bị giới hạn bởi lũy tre làng, trong
Trang 38cuộc cách mạng và hai cuộc kháng chiến đã có trên ba triệu người đi bộ đội, nhiều người trở thành cán bộ thoát ly kh i quê hương và rất nhiều cuộc di dân
đã phá vỡ rất nhiều phong tục, tập quán, thói quen trong cộng đ ng làng xã; thay đổi triệt để nhiều quan niệm về đất nước, quê hương, d ng họ, gia đình
và chính bản thân mỗi người Lối sống khép kín theo kiểu “ta về ta tắm ao ta”
bị phá vỡ từng mảng lớn
Lịch sử các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thay đổi các giá trị trong người nông dân, thay đổi lối sống của người nông dân theo hướng mở, đặt cái ta lên trên cái tôi, đặt lợi ích dân tộc, đất nước lên trên lợi ích riêng, đặt niềm tin vào Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước dân chủ nhân dân thay thế cho niềm tin vào nhà nước phong kiến
và hệ thống thần quyền Những thay đổi về lối sống này nhìn chung theo xu hướng tiến bộ, tích cực nhưng không tránh kh i xu hướng cực đoan, hư vô, phủ định sạch trơn quá khứ, đối lập siêu hình truyền thống và hiện tại hoặc ảnh hưởng các xu hướng xã hội, tư tưởng bên ngoài giáo điều, thiếu chọn lọc, sáng tạo
Nói đến lối sống truyền thống của nông dân Việt Nam là nói đến nếp sống, nếp nghĩ, lối ứng xử có tính ổn định tương đối xuyên suốt lịch sử của cộng đ ng dân cư nông dân ở nông thôn Việt Nam Nó phản ánh điều kiện sống, sinh hoạt, truyền thống lịch sử, văn hóa… của người nông dân qua các thời kỳ lịch sử Nó được kế thừa, vun đ p từ đời này qua đời khác Do đó, truyền thống bao giờ cũng mang ba đặc trưng cơ bản: tính cộng đ ng, tính ổn định và tính lưu truyền Tất nhiên, những đặc trưng đó chỉ có nghĩa tương đối vì bản thân lối sống truyền thống cũng có quá trình hình thành, phát triển
và biến đổi Mỗi khi hoàn cảnh lịch sử, cơ sở kinh tế - xã hội và hệ tư tưởng thay đổi thì lối sống truyền thống cũng có nhiều biến đổi, vừa có mặt kế thừa
và phát huy, vừa có mặt đào thải và loại b , và vừa có sự hình thành những truyền thống mới Trong những điều kiện tự nhiên, cùng với vị trí địa l , môi
Trang 39trường sinh thái, trải qua hàng chục vạn năm lịch sử kể từ khi con người xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam và hàng nghìn năm xây dựng, bảo vệ đất nước trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của dân tộc, cộng đ ng các dân tộc Việt Nam
đã tạo lập cho mình một di sản truyền thống tinh thần phong ph , đa dạng trên phương diện lối sống, lối ứng xử… Trong di sản đó, nổi bật lên những giá trị bền vững và trường t n tiêu biểu cho bản lĩnh, bản s c, sức sống và phẩm giá của dân tộc
Như vậy, điều kiện sống và hoàn cảnh lịch sử cụ thể đều có tác động sâu
s c đến sự hình thành và phát triển của lối sống Do vậy, nghiên cứu lối sống truyền thống của nông dân Việt Nam, trước hết ch ng ta phải xem xét từ những khía cạnh này
Nằm trong khu vực Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa, n ng l m mưa nhiều, Việt Nam là một quốc gia có hệ thống sông ng i, kênh rạch dày đặc, đất đai và hệ động - thực vật phong ph Cư dân nông nghiệp sống tập trung ở hai vùng đ ng bằng lớn là đ ng bằng sông H ng và đ ng bằng sông Cửu Long, đất đai phì nhiêu, màu mỡ, phù hợp với phát triển kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là tr ng l a nước Song khí hậu nước ta luôn biến đổi, lượng mưa lớn nhưng phân bố lại không đều theo mùa, vùng lãnh thổ Vì vậy, từ bao đời nay, việc trị thủy luôn là công việc quan trọng của nhà nông và của cả quốc gia Trong dân gian, “giặc thủy” luôn được xếp là nạn lớn số một, truyện Sơn Tinh Thủy Tinh chính là kết quả của sự hình tượng hóa công việc trị thủy
vô cùng kh c nghiệt, một mất một c n của con người Việt Nam và nông dân Việt Nam
Thực tế nói trên đặt ra cho cuộc sống nông dân ta nỗi vất vả (hạn hán, lũ lụt…) được truyền từ đời này qua đời khác Thậm chí nó đi vào ca dao, tục ngữ, kh c vào nỗi nhớ của mỗi người nông dân Việt Nam Do điều kiện tự nhiên kh c nghiệt, thêm vào đó đất chật người đông, đất đai cũng kém màu
mỡ hơn… Chính vì vậy, người nông dân có thói quen lao động cần cù, chịu khó “một n ng hai sương”, căn cơ, tiết kiệm ph ng l c “tháng ba ngày tám”
Trang 40Hơn nữa, Việt Nam là một quốc gia có vị trí nằm ở khu vực ngã ba Đông Nam Á, từ đây có thể mở rộng giao lưu với nhiều nơi trong khu vực và quốc
tế Đó là một thuận lợi để phát triển Tuy nhiên, đặc điểm đó cũng đặt ra cho người Việt Nam nhiều vấn đề phức tạp trong quan hệ láng giềng, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền dân tộc Trong quá trình t n tại và phát triển, Việt Nam đã phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, bành trướng của phong kiến tàn bạo thời cổ đại, trung đại và những cường quốc đế quốc chủ nghĩa thời cận đại, hiện đại Như vậy, nói đến lịch sử Việt Nam là nói đến lịch sử chống giặc ngoại xâm Rõ ràng, quá trình dựng nước, trị thủy luôn được tiến hành song song với quá trình giữ và bảo vệ đất nước Đây chính là những yếu tố quan trọng tạo dựng nên truyền thống yêu nước, tính cố kết cộng đ ng của người Việt Nam Đặc điểm ấy cũng là những nhân
tố quan trọng hình thành và củng cố phong cách tư duy, lối ứng xử cũng như lối sống, tính cách người nông dân Việt Nam
Nếu như các yếu tố thiên tai, địch họa tác động đến việc hình thành các đặc điểm của lối sống truyền thống của nông dân Việt Nam thì nền kinh tế cũng là nhân tố ảnh hưởng đặc biệt rõ nét đến lối sống người nông dân qua các thời kỳ lịch sử
Đặc trưng của nền kinh tế trong xã hội Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu v n là nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nh , manh m n Ở đó, người nông dân trực tiếp thâm canh trên mảnh ruộng của mình Hầu hết họ là những người lao động nghèo khổ, có ít đất đai để canh tác, sản phẩm làm ra không nhiều, chỉ vừa đủ cho cuộc sống tằn tiện, “ăn bữa nay, lo bữa mai” Về căn bản, họ chưa phải là người nông dân sản xuất hàng hóa
Trong lịch sử, người nông dân Việt Nam hầu hết là chăm chỉ làm ăn, lo toan, chịu khó, ít quan tâm đến chính trị Vấn đề chi phối họ, cuốn h t họ là làm thế nào có đủ ruộng đất, mưa thuận gió h a để sản xuất được mùa, có được cuộc sống ấm no ngay trên mảnh ruộng của chính họ Như vậy, nền kinh
tế tiểu nông độc lập, manh m n, lạc hậu đã tác động rất lớn đến lối sống của