1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội hiện nay

119 722 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển nhân cách cho trẻ em là một quá trình lâu dài và phức tạp, nó được hình thành và phát triển dưới sự tác động của nhiều yếu tố như tiền đề sinh học, tư chất di truyền học, thế

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THỊ NGUYỆT

GIA §×NH VíI VIÖC H×NH THµNH Vµ PH¸T TRIÓN

NH¢N C¸CH CHO TRÎ EM ë NGO¹I THµNH Hµ NéI HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THỊ NGUYỆT

GIA §×NH VíI VIÖC H×NH THµNH Vµ PH¸T TRIÓN

NH¢N C¸CH CHO TRÎ EM ë NGO¹I THµNH Hµ NéI HIÖN NAY

Mã số : 60 22 03 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS ĐỖ THỊ THẠCH

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đỗ Thị Thạch

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 10 tháng 02 năm 2014

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Nguyệt

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: NHÂN CÁCH VÀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG

1.1 Nhân cách và các yếu tố hình thành nhân cách 9 1.2 Trẻ em và vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát

Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC

HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO TRẺ EM Ở

2.1 Những yếu tố tác động đến vai trò của gia đình trong việc

hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội 43 2.2 Thực trạng vai trò của gia đình trong việc hình thành và

phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội 49 2.3 Những vấn đề đặt ra đối với vai trò của gia đình ở ngoại

thành Hà Nội trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em 65 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ

CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT

TRIỂN NHÂN CÁCH CHO TRẺ EM Ở NGOẠI THÀNH HÀ

3.1 Những quan điểm cơ bản nhằm phát huy vai trò của gia

đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em ở

3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia

đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ ở ngoại

Trang 5

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Kết quả điều tra nhận thức của cha mẹ trong việc hình

Bảng 2.2 Kết quả điều tra về mức độ quan tâm của cha mẹ đến đời

sống tâm lý và tinh thần của con cái 52 Bảng 2.3 Nhận thức của cha mẹ trong việc hình thành năng lực (tài)

Bảng 2.4 Lối sống của ông bà ảnh hưởng tới con cháu của gia đình

các huyện ngoại thành Hà Nội theo vùng điều tra 59 Bảng 2.5 Bảng điều tra trình độ học vấn của cha mẹ 4 huyện ngoại thành 68 Bảng 2.6 Kết quả điều tra về khó khăn của cha mẹ trong việc hình thành

và phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội 69 Bảng 2.7 Kết quả điều tra nhận thức của cha mẹ về chủ thể giáo dục

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhân cách là toàn bộ năng lực và phẩm chất xã hội - sinh lý - tâm lý tạo thành chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định và

tự điều chỉnh mọi hoạt động của cá nhân Đó cũng là sự tổng hợp của các yếu

tố sinh học, tâm lý, xã hội tạo nên đặc trưng riêng về di truyền, về sinh lý thần kinh, về hoàn cảnh sống của cá nhân theo cách riêng, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người

Có thể nói nhân cách là một trong những yếu tố rất quan trọng đối với

sự tồn tại và phát triển của mỗi con người (nhân cách, tài năng, sức khỏe là ba yếu tố cơ bản nhất để mỗi cá nhân vững bước vào đời), nhất là đối với trẻ em Bởi vì trẻ em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước có vai trò quyết định: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam

có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [54, tr.33]

Đối với mỗi trẻ em, việc hình thành nhân cách với tính cách là phẩm chất và năng lực của bản thân là một vấn đề cần thiết góp phần vào việc hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa Qua sự tiếp thu những giá trị phổ biến của văn hóa xã hội, mỗi cá nhân có sự chọn lọc để hình thành hệ thống các giá trị tốt đẹp trong mỗi con người Gia đình giúp trẻ em có khả năng nhìn nhận, đánh giá, xem xét và giải quyết các mối quan hệ, các vấn đề xã hội theo đúng chuẩn mực của xã hội, đồng thời giúp trẻ phát triển nhân cách toàn diện trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội

Phát triển nhân cách cho trẻ em là một quá trình lâu dài và phức tạp, nó được hình thành và phát triển dưới sự tác động của nhiều yếu tố như tiền đề sinh học, tư chất di truyền học, thế giới quan và tập trung nhất là từ các môi trường giáo dục, trong đó vai trò của gia đình là đặc biệt quan trọng

Trang 8

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người Gia đình với tính cách là một “xã hội thu nhỏ”, một môi trường tác động trực tiếp

và thường xuyên đối với mỗi cá nhân, có vai trò to lớn trong việc hình thành nhân cách ở mỗi con người Điều này đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XI: “Gia đình là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”góp phần chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính Trong ý thức hệ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gia đình bao giờ cũng được coi là tổ ấm, là môi trường đầu tiên làm phát sinh, nuôi dưỡng thể lực, trí lực và những tình cảm trong sáng, tốt đẹp, hình thành nên nhân cách con người Việt Nam [69]

Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, địa bàn ngoại thành Hà Nội đang có những biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc Kinh tế, chính trị, văn hóa phát triển khá mạnh, đời sống nhân dân đã được cải thiện đáng kể Nhưng bên cạnh đó, trong sâu thẳm của đời sống xã hội, địa bàn ngoại thành Hà Nội đang phải đối mặt trước những vấn đề mang tính báo động, đó là sự tha hóa về nhân cách đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ dân cư, nhất là trẻ em Tỷ lệ trẻ em hư ngày càng gia tăng, tỷ lệ bạo lực,

bỏ học, nghiện hút, bất hiếu trong bộ phận trẻ em đang len lỏi phá hoại nếp sống văn minh, đạo lý truyền thống tốt đẹp ngàn đời của Thủ đô nói riêng, dân tộc nói chung “Nỗi đau” này không của riêng ai, song gia đình có trách nhiệm lớn hơn cả Không ít gia đình nhận thức chưa đúng về vai trò của mình trong việc hình thành và phát triển nhân cách, coi đó là nhiệm vụ của nhà trường, xã hội, do vậy đã xem nhẹ trách nhiệm này

Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao vị trí, vai trò của gia đình trong việc giáo dục nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội hiện

nay, tác giả chọn đề tài: “Gia đình với việc hình thành và phát triển nhân

cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ

triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về gia đình và vai trò giáo dục của gia đình, giáo dục nhân cách dưới những góc độ khác nhau, có giá trị rất lớn về mặt lý luận và thực tiễn Cụ thể là:

Nhóm thứ nhất: Những công trình nghiên cứu về gia đình và giáo dục gia đình

Dạy con yêu lao động do Nhà xuất bản Phụ nữ phát hành năm 1980 Theo

tác giả, muốn cho con cái của chúng ta lớn lên được mạnh khỏe, vui tươi, yêu đời và cống hiến được nhiều cho xã hội, thì lúc còn nhỏ phải được giáo dục về lao động (lao động học tập, lao động gia đình và lao động xã hội ), bởi phẩm chất đạo đức hình thành ở trẻ em, trước hết là trong quá trình lao động

Gia đình truyền thống của TS Khuất Thu Hồng (chủ biên) xuất bản năm

1996, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Cuốn sách cung cấp một cách nhìn khoa học về hôn nhân gia đình truyền thống của người Việt Nam thông qua phỏng vấn sâu các cụ ông, cụ bà ở thành thị nông thôn, với mong muốn gìn giữ và phát huy những nét đẹp của nó cũng như thấy được những gì là không thích hợp của

nó với một đời sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Gia đình trong tấm gương xã hội học do Mai Quỳnh Nam (chủ biên)

xuất bản năm 2002 Trong cuốn sách các tác giả đã tập hợp nghiên cứu về gia đình trước những biến đổi xã hội trong bối cảnh của công cuộc đổi mới

và kinh tế thị trường

Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đổi mới do GS Lê Thi (chủ biên)

xuất bản năm 2002 Trong cuốn sách tác giả đã làm rõ những thay đổi về cấu trúc, quy mô về thực hiện các chức năng cũng như quan hệ giữa các thành viên trong gia đình

Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình và những yếu tố ảnh hưởng do

TS Vũ Tuấn Huy (chủ biên) xuất bản năm 2003 Trong cuốn sách tác giả gợi mở cho bạn đọc kiểm soát và giải quyết các xung đột Xem mâu thuẫn

Trang 10

không phải là có ảnh hưởng tiêu cực phá vỡ hệ thống xã hội và sự tương tác của con người, mà đúng hơn mâu thuẫn là vốn có trong tất cả các hệ thống và

sự tương tác, kể cả trong quan hệ hôn nhân và gia đình Nếu các chuẩn mực

và mục tiêu trong hôn nhân và gia đình thường nảy sinh mâu thuẫn, vấn đề là không phải lảng tránh những mâu thuẫn đó mà giải quyết nó Khi mâu thuẫn được giải quyết, nó không còn là yếu tố phá vỡ quan hệ hoặc chỉ mang lại những hậu quả tiêu cực, mà trái lại nó củng cố các quan hệ, tạo ra sự thay đổi

và kết quả là quan hệ trở nên có ý nghĩa

Gia đình học của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý, xuất bản năm

2007, nhà xuất bản Lý luận chính trị Trong cuốn sách các tác giả đề cập nhiều vấn đề về gia đình giúp cho người học tập và nghiên cứu về gia đình nhận thức được những vấn đề cơ bản nhất trong nghiên cứu và học tập về gia đình Trên cơ sở đó nêu lên những định hướng cơ bản cho việc xây dựng mô hình gia đình mới kế thừa được các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc

và kết hợp với việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại Đồng thời các tác giả còn nêu một hệ thống giải pháp giải quyết vấn đề gia đình ở nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế

Ngoài những công trình lớn nêu trên, về chủ đề gia đình còn có nhiều tác giả quan tâm ở mức độ hạn hẹp như:

Trách nhiệm của gia đình và vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ vị thành niên, GS Lê Thi, Tạp chí tâm lý học, số 5

(2002) Trong bài viết tác giả nói lên rằng, ngoài việc gia đình có trách nhiệm trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục vị thành niên, nhà nước cũng phải thể hiện vai trò thông qua việc đưa ra một số luật, chính sách Nhưng trong việc bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ vị thành niên, gia đình vẫn là đơn vị cơ sở có trách nhiệm nặng nề nhất và có khả năng nhất Đồng thời với sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình với nhà nước và cộng đồng sẽ làm tăng sức mạnh của gia đình và tận dụng được hiệu quả tích cực của các tổ chức xã hội

Trang 11

Tác động của toàn cầu hóa với việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, PGS.TS Đỗ Thị Thạch (2010) Đề tài khoa học cấp cơ sở đã

đi sâu phân tích những tác động của toàn cầu hóa đối với bình đẳng giới trong gia đình trong một số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội Từ đó đưa

ra những giải pháp chủ yếu để phát huy sự tác động tích cực, hạn chế sự tác động tiêu cực nhằm thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

Về xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng, PGS TS Đỗ Thị Thạch (2011), Tạp chí cộng sản số 56 Tác giả đã

phân tích và làm sáng tỏ vấn đề nhận thức của Đảng ta về vai trò của gia đình

và xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam trong thới kỳ mới và làm rõ những giải pháp xây dựng gia đình Việt Nam theo tinh thần Đại hội XI của Đảng

Nhóm thứ hai: Những công trình về giáo dục nhân cách

Vai trò của gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam của Trung tâm nghiên cứu về gia đình và phụ nữ, Giáo sư Lê

Thi (chủ biên), do xuất bản Phụ nữ phát hành năm 1997 Tập thể các tác giả cho rằng, những thành tựu to lớn của cách mạng khoa học và công nghệ trong những năm cuối thế kỷ XX, đang đưa lại những khả năng sáng tạo, trí thông minh tuyệt vời cho con người và hứa hẹn đem lại những tiến bộ vượt bậc cho cuộc sống của

cá nhân, gia đình, xã hội cả về vật chất và tinh thần Các tác giả cũng khẳng định

sự phát triển của xã hội không thể tách rời sự phát triển của con người và vai trò của con người trong việc bồi dưỡng, xây dựng nhân cách con người

Xây dựng con người Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường, do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm (2001-2005)

Tác giả đã nghiên cứu về con người với tư cách là mục tiêu và động lực của

sự phát triển kinh tế xã hội, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách, thực hiện giáo dục đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó là mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục

Trang 12

Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ 21, kinh nghiệm của các quốc gia (2002), Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia Hà Nội Đây là tập hợp các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học

có liên quan đến lĩnh vực chiến lược phát triển giáo dục nước ta giai đoạn hiện nay Ngoài ra các tác giả còn đề cập đến việc rèn luyện phương pháp tư duy khoa học, trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan nhân sinh quan, bồi dưỡng

ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh

Vấn đề nhân cách trong tâm lý học ngày nay do Đào Thị Oanh (chủ

biên) (2007) Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Cuốn sách tổng hợp và khái quát lý luận tâm lý học về nhân cách, đề xuất các giải pháp về hình thành, phát triển nhân cách trong công tác giáo dục thế hệ trẻ

Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhân cách, giáo dục nhân cách, vai trò của gia đình, giáo dục đạo đức, nhưng đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách trực tiếp có hệ thống về

“Gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại

thành Hà Nội hiện nay” Vì vậy đề tài luận văn không trùng lặp với các

công trình đã được công bố Những tài liệu trên giúp ích cho tác giả trong việc tham khảo để nghiên cứu đề tài viết luận văn thạc sĩ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ thực trạng vai trò của gia đình trong việc hình thành

và phát triển nhân cách của trẻ em ở ngoại thành Hà Nội, luận văn nêu ra những quan điểm và đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em ở ngoại thành

Hà Nội hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau đây: + Làm rõ vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em

Trang 13

+ Phân tích thực trạng vai trò của gia đình và những vấn đề đặt ra trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em ở ngoại thành Hà Nội hiện nay

+ Đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Luận văn tập trung nghiên cứu về vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em ở ngoại thành Hà Nội hiện nay (chủ yếu nghiên cứu trẻ em đang trong độ tuổi còn ảnh hưởng bởi sự nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục của gia đình, giới hạn dưới 18 tuổi Nghiên cứu vai trò của gia đình ở mọi loại hình công nhân, nông dân, trí thức trên địa bàn nghiên cứu)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu là một số huyện điển hình ở ngoại thành Hà Nội Một số huyện điển hình của ngoại thành Hà Nội như: Phúc Thọ, Từ Liêm, thị xã Sơn Tây Đây là những địa bàn tiêu biểu cho những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau

- Phúc Thọ là một huyện thuần nông, kinh tế chưa phát triển, đời sống nhân dân trong huyện còn khó khăn Trình độ dân trí chưa cao nhưng tệ nạn

xã hội lại đang có xu hướng gia tăng

- Từ Liêm là huyện ven đô, kinh tế những năm qua phát triển rất nhanh

và cùng với nó là những vấn đề xã hội cần báo động, tệ nạn xã hội phát triển nhanh, nhất là tình trạng trẻ em hư gia tăng…

- Thị xã Sơn Tây là khu vực phát triển mạnh về kinh tế - văn hóa giáo dục Đây là khu vực tập trung nhiều các gia đình bộ đội, trí thức, tuy nhiên số trẻ phạm tội trên địa bàn cũng khá cao

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là những quan điểm của Đảng ta

Trang 14

trong thời kỳ đổi mới liên quan đến gia đình, vai trò của gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em, có tham khảo thêm các tài liệu liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương

pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Phương pháp cụ thể: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài

liệu, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh tổng hợp, thống kê xã hội học

6 Những đóng góp của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ hơn tầm quan trọng của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em từ hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em ở ngoại thành Hà Nội

7 Ý nghĩa của luận văn:

Đề tài tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm những luận điểm, các vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình, vai trò của gia đình

Luận văn góp thêm một tiếng nói, một kinh nghiệm để các bậc cha mẹ tham khảo nhằm phát huy vai trò của gia đình, đồng thời cung cấp thêm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy bộ môn Chủ nghĩa xã hội khoa học và môn Giáo dục công dân ở các trường phổ thông

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết

Trang 15

Chương 1 NHÂN CÁCH VÀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO TRẺ EM 1.1 Nhân cách và các yếu tố hình thành nhân cách

1.1.1 Quan niệm về nhân cách và cấu trúc nhân cách

1.1.1.1 Quan niệm về nhân cách

Để hiểu nhân cách là gì, trước tiên chúng ta phải tìm hiểu về con người Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người là một thực thể sinh học - xã hội Những yếu tố, đặc điểm sinh học và xã hội trong con người

có sự thống nhất biện chứng với nhau để tạo nên bản chất người Trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác viết: “Bản chất con người không phải

là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của

nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [44, tr.11] Theo quan điểm này, con người vừa mang bản tính tự nhiên vừa mang bản tính xã hội, trong đó, bản tính xã hội là phương diện cơ bản của con người, là cái để phân biệt con người với các tồn tại khác của tự nhiên Vấn đề này đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong tư duy của nhân loại khi nhận thức và nghiên cứu về con người, bản chất của con người và những vấn đề xung quanh nó

C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích con người xuất phát từ con người thực tiễn và chỉ rõ: thông qua hoạt động thực tiễn con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời cũng là biến đổi chính bản thân mình Điều đó có nghĩa con người tiếp nhận bản chất xã hội của mình thông qua hoạt động thực tiễn

Xét về mặt sinh học “con người là một bộ phận của giới tự nhiên” [49, tr.135] phát sinh trực tiếp từ động vật Cũng như mọi sinh vật khác, con người sống dựa vào

tự nhiên nhưng khác ở chỗ con người không chỉ dựa vào mà còn cải tạo giới tự nhiên, tạo ra “tự nhiên thứ hai” xung quanh mình Ph.Ăgghen chỉ ra bước chuyển

từ vượn thành người là nhờ có lao động Quá trình con người lao động cải tạo giới tự nhiên cũng là quá trình con người tạo ra chính mình Lao động sáng tạo ra con người là theo nghĩa ấy

Trang 16

Chủ nghĩa Mác thừa nhận ý nghĩa quyết định của mặt xã hội đối với việc hình thành bản chất con người nhưng cũng không phải vì vậy mà coi nhẹ mặt tự nhiên, phủ nhận yếu tố sinh vật trong con người Theo Mác, giới

tự nhiên là thân thể của con người Mỗi người sinh ra trước hết là một thực thể tự nhiên, một sản phẩm của tự nhiên, một bộ phận của vũ trụ và chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên phức tạp

Sự khác nhau giữa con người và con vật, theo Mác con vật hoạt động theo bản năng còn con người hoạt động theo ý thức Con người hoạt động không phải theo những bản năng di truyền, có sẵn như những loại động vật thông thường mà chủ yếu theo sự phát triển của văn hóa, của tiến bộ lịch sử -

xã hội Khi xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng có sự thay đổi tương ứng

Sự phát triển của mỗi con người là tiền đề cho sự phát triển của xã hội vì mỗi người đều sống trong một xã hội nhất định, là sản phẩm của lịch sử - xã hội, sản phẩm của nền văn minh nhân loại

Từ con người tự nhiên phát triển thành một nhân cách, con người phải trải qua hàng loạt những tác động, chi phối những yếu tố chủ quan và khách quan, theo cả quy luật tự nhiên và xã hội Sự phát triển của con người là sự trưởng thành cả về thể chất lẫn tinh thần Sự phát triển về thể chất là sự trưởng thành sinh học, cơ bắp, thần kinh và các cơ quan chức năng khác theo quy luật

tự nhiên Sự phát triển về tinh thần là sự trưởng thành về tâm lý, ý thức trên cơ

sở sự vận động và phát triển vốn có của nó, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại theo quy luật tâm lý và quy luật xã hội

Sự phát triển thể chất gắn liền với sự phát triển tinh thần theo quy luật phát triển tâm sinh lý lứa tuổi Đó là sự biến đổi về số lượng, chất lượng và

sự chuyển hóa chúng cho nhau, là bước phát triển nhảy vọt của từng cá nhân

về năng lực và phẩm chất phù hợp với lịch sử xã hội và thời đại Sự phát triển đó tạo nên nhân cách của con người, trong đó có nhân cách của trẻ em

Bản chất của một con người cụ thể là tổng hòa các quan hệ xã hội “vốn có” và quy định những đặc điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của người đó

Trang 17

Còn tất cả những hành vi của người đó bộc lộ ra bên ngoài là những hiện tượng biểu hiện bản chất của họ Sự thể hiện bản chất của con người không phải theo con đường thẳng trực tiếp mà thường là gián tiếp, quanh co theo hàng loạt mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, giữa kinh nghiệm và nhận thức khoa học, giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, giữa bản năng sinh vật và hoạt động có ý thức, giữa di truyền tự nhiên và văn hóa xã hội

Như vậy con người là một thực thể tự nhiên mang tính xã hội, có sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội Sự tác động qua lại giữa hai mặt trong một con người tạo nên bản chất của một con người Bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, nó không phải là cái vốn có trong mỗi cá thể riêng lẻ mà là tổng hòa của toàn bộ quan hệ xã hội Đây

là phát hiện có giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác về bản chất con người Và chính phát hiện đó giúp chúng ta có thể đi sâu tìm hiểu kỹ về bản chất con người Bản chất của con người lại được thể hiện sống động trong mỗi cá nhân

Cá nhân là khái niệm dùng để chỉ mỗi con người cụ thể sống trong

một cộng đồng xã hội nhất định và được phân biệt với những con người khác thông qua tính đơn nhất và tính phổ biến của chúng Mỗi cá nhân là một chỉnh thể thống nhất, vừa mang tính cá biệt vừa mang tính phổ biến, là chủ thể của lao động, của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức nhằm thực hiện chức năng cá nhân và chức năng xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử [8, tr.185-186]

Xã hội là do các cá nhân hợp thành Những cá nhân này sống và hoạt động trong những nhóm cộng đồng, tập đoàn xã hội khác nhau do điều kiện lịch sử quy định Trong mối quan hệ với giống loài, tức là trong mối quan hệ với xã hội, cá nhân biểu hiện ra với tư cách là phương thức tồn tại của giống loài "người" Không có con người nói chung, loài người nói chung tồn tại cảm tính Cá nhân là cá thể người riêng rẽ, là phần tử tạo thành cộng đồng xã hội,

là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách Cá nhân được hình thành và phát triển chỉ trong quan hệ xã hội Nhưng xã hội thay đổi theo tiến trình lịch sử cá

Trang 18

nhân là một hiện tượng có tính lịch sử Mỗi thời kỳ lịch sử có một "kiểu xã hội của cá nhân" mang tính định hướng về thế giới quan, phương pháp luận cho hoạt động của con người trong thời kỳ lịch sử cụ thể đó Cá nhân người là một thành viên của xã hội, là khách thể mang “tổng hòa các quan hệ xã hội”,

Nó không những chịu ảnh hưởng mà còn tạo ra những quan hệ xã hội

Nếu cá nhân là khái niệm phân biệt sự khác nhau giữa cá thể với giống loài, sự khác biệt đó được thể hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhân khác thì nhân cách là khái niệm để chỉ sự khác biệt giữa những yếu tố bên trong riêng biệt của các cá nhân

Khi xem xét con người với tư cách là một thành viên của một xã hội nhất định, là chủ thể các mối quan hệ con người, của hoạt động có ý thức và giao tiếp thì chúng ta nói đến nhân cách của họ Chúng ta chỉ có thể nói đến con người như là một nhân cách bắt đầu từ một thời kỳ nào đó trong quá trình phát triển của nó Nói cách khác, không phải mọi cá thể người, với cá tính của mình đều là nhân cách

Đứng trên quan điểm mác - xít, xuất phát từ nguyên tắc thừa nhận bản chất của con người để nghiên cứu đã có rất nhiều lý thuyết khoa học về nhân cách Quan niệm sinh vật hóa nhân cách, coi bản chất nhân cách nằm trong các đặc điểm hình thể (Krest Chmev), góc mặt (C Lombrozo), thể trạng (Sheldon) bản năng vô thức (S Freud) Còn quan điểm xã hội học hóa nhân cách thì lấy quan hệ xã hội (gia đình, họ hàng, làng xóm ) để thay thế một cách đơn giản, máy móc các thuộc tính của cá nhân đó

Trong những quan niệm trên, có những quan niệm chỉ chú ý đến cái chung

bỏ qua cái riêng trong nhân cách, đồng nhất nhân cách với con người Ngược lại, một số quan niệm chỉ chú ý tính đơn nhất có một không hai của nhân cách

Các nhà tâm lý học cho rằng khái niệm nhân cách là một phạm trù xã hội,

có bản chất xã hội - lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nội dung của những điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội được chuyển vào trong mỗi con người

Trang 19

Theo A G Covaliov: “Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một

vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định” Còn E.V.Sorokhova nhấn mạnh: “Nhân cách con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, quy định hình thức hoạt động

và hành vi có ý nghĩa xã hội” “Nhân cách không phải được sinh ra mà được hình thành” (A.N.Leonchev) Nhà tâm lý học Xô Viết X.L.Rubinstein lại viết:

“Con người là cá tính do nó không có những thuộc tính đặc biệt, không lặp lại, con người là nhân cách do nó xác định được quan hệ của mình với những người xung quanh một cách có ý thức’’ Còn với V.N Miasaev thì chú trọng tới khía cạnh thái độ trong nhân cách, thái độ đối với người khác, với bản thân, với thế giới bên ngoài

Tuy có nhiều cách quan niệm khác nhau về nhân cách nhưng nhìn chung các tác giả đều nhấn mạnh đến tính xã hội của con người, nhân cách là chủ thể trong các hoạt động, trong các mối quan hệ xã hội đa dạng, nhân cách thường được xác định như là một hệ thống các quan hệ của con người với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình Quan hệ của con người với thế giới xung quanh được biểu hiện trong niềm tin của họ, trong thế giới quan, trong thái độ của họ đối với những người khác nhưng điều chủ yếu nhất là trong hoạt động giao tiếp của họ Quan hệ của con người đối với bản thân được biểu hiện trong những biểu tượng của họ và của bản thân mình, trong sự tự đánh giá của họ, trong những lý tưởng của họ, trong cái mà họ muốn nhìn nhận như vậy

Trong các công trình nghiên cứu về con người (1991- 1995) các tác giả

đã nêu: Nhân cách của con người là hệ thống các thái độ của mỗi người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của cộng đồng và xã hội, độ phù hợp càng cao thì mức độ càng lớn [65, tr.138]

Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm: “Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của mỗi

Trang 20

cá nhân, nhân cách là bản chất con người” Chủ nghĩa Mác - Lênin đã tiếp cận nhân cách như một quá trình mở rộng và đi sâu từ con người hiện thực, từ bản chất xã hội, quan hệ sản xuất đến hệ thống các giá trị và chức năng xã hội của con người Theo quan điểm đó, nhân cách chính là tổng hợp các yếu tố phản ánh bản chất xã hội của con người, nhưng được hình thành trên cơ sở, điều kiện, tiền đề sinh học của con người, chứ không đối lập, cũng không tách rời khỏi tiền đề sinh học của nó Nhân cách của một con người không phải

là sản phẩm tự nhiên do bẩm sinh và di truyền, mà được hình thành dần dần trong hoạt động và giao tiếp của con người

Trong quá trình sống, con người đã làm biến đổi các phẩm chất tự nhiên của mình, nhưng những biến đổi đó không tạo ra nhân cách Nhân cách được hình thành và phát triển như những quan hệ xã hội mà trong đó cá nhân đang lớn lên và đang biến đổi, bắt đầu quá trình hoạt động sống của mình Chính trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người, các đặc điểm của họ với tư cách là cá tính được biến đổi và trở thành những đặc điểm mang tính người đích thực, tính xã hội- đạo đức

Đi sâu tìm hiểu về nhân cách ta thấy rằng, nhân cách là nội dung là trạng thái, tính chất, xu hướng bên trong riêng biệt của mỗi cá nhân do sự tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội riêng biệt tạo nên Mỗi cá nhân “dấn thân” vào cuộc sống, tiếp thu và chuyển những giá trị văn hóa của xã hội vào bên trong mình, thực hiện quá trình so sánh lọc bỏ, tự đánh giá, tự tạo nên thế giới riêng của mình Với nhân cách riêng mỗi cá nhân có khả năng ý thức về mình, làm chủ cuộc sống của mình lựa chọn chức năng, niềm vui và trách nhiệm hoạt động cụ thể trong xã hội Đây chính là quá trình kép, xã hội hóa cá nhân và cá nhân hóa xã hội, cá nhân xã hội và cá nhân nhân cách cùng thống nhất với nhau

Như vậy, có thể hiểu nhân cách là tổ hợp thái độ riêng, thuộc tính riêng biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của cá nhân với tư cách là chủ thể của hoạt động giao tiếp Có thể coi nhân cách như là toàn bộ những đặc điểm cùng

Trang 21

với những phẩm chất chất tâm lý cá nhân có tác dụng quy định giá trị và hành vi xã hội của một con người Tất cả những cái đó sẽ góp phần tạo nên được nét đặc trưng của bản sắc và giá trị xã hội trong nhân cách của họ Nhân cách được coi là tổng hoà không phải mọi đặc điểm cá thể của con người mà chỉ những phẩm chất chung nào quy định nó như là một thành viên của xã hội cũng như một công dân, người lao động và một nhà hoạt động xã hội có ý thức

Nhân cách là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội, của hoạt động mà con người thực hiện trong những môi trường và điều kiện xác định của quá trình giáo dục xã hội mà con người tiếp nhận đồng thời chuyển hóa thành tự giáo dục chính bản thân mình

Nhân cách là tổ hợp, là hệ thống các thuộc tính tâm sinh lý chứ không phải là một vài thuộc tính Hệ thống các đặc điểm tâm-sinh lý của một cá nhân được thể hiện qua hành vi của cá nhân khi hoạt động và giao tiếp với người khác Những hành vi đó được xã hội nhận xét, đánh giá so với chuẩn mực giá trị của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử Nhân cách của chủ thể sẽ luôn luôn được sống động hiện thực qua toàn bộ những hành vi, quan hệ xã hội trong suốt tiến trình của cuộc sống của họ Việc tổng hoà tất cả những thuộc tính của thể chất cũng như tài năng, phong cách, ý thức, đạo đức, vai trò

xã hội của chủ thể để tạo thành một hệ thống - cấu trúc xác định với một bản sắc riêng và có cá tính rõ nét sẽ góp phần hình thành được một cấu tạo đặc biệt là nhân cách Ở con người, cái sinh lý cũng như cái xã hội và cái tâm lý

sẽ luôn luôn có sự tác động biện chứng với nhau trong mọi thời gian - không gian sống để tạo ra những nét đặc trưng của nhân cách Tất cả ba yếu tố này đều có sự ảnh hưởng, tác động qua lại và quy định lẫn nhau trong việc hình thành nhân cách Vì vậy, cần thiết phải có cách tiếp cận cụ thể, toàn diện và đặc thù khi phân tích quá trình phát triển nhân cách của trẻ, để từ đó, biết cách xác định được nội dung các tác động giáo dục cho phù hợp, giúp trẻ hình thành những phẩm chất nhân cách tốt

Trang 22

Theo H.J.Eysenck, nhân cách có 3 bình diện: hướng ngoại, nhiễu tâm (ổn định hay không ổn định) và loạn tâm (tư duy thực tiễn hay không thực tiễn) Sự khác biệt nhân cách dựa trên 3 bình diện này là do sự khác biệt về gen sinh học của mỗi người Còn với S.Freud thì tảng băng tâm trí của con người gồm 3 cấp bậc: ý thức, tiền ý thức và vô thức Trong 3 cấp độ ấy, 3 thành phần cơ bản của nhân cách là: cái Ấy (Id), cái Tôi (Ego) và cái Siêu Tôi (Super Ego) tồn tại, đấu tranh và chế ước lẫn nhau Nhân cách của một người tùy thuộc vào yếu tố nào thắng thế trong cuộc đấu tranh giữa 3 yếu tố trên C.G.Jung và E Kretschmer thì quan niệm nhân cách con người có mối liên hệ mật thiết với các đặc điểm sinh học, thể tạng và đặc điểm của hệ thần kinh E Kretschmer cho rằng, các thành phần cấu tạo nên cơ thể có mối quan hệ và

quy định các thành phần tâm lý của nhân cách

Quan điểm của A.G.Covaliov nhân cách bao gồm 4 thuộc tính: Xu hướng, năng lực, tính cách và khí chất Xu hướng thể hiện chiều hướng phát triển của nhân cách, tính cách biểu hiện đạo đức, cốt cách làm người; năng lực thể hiện khả năng của con người và khí chất thể hiện hành vi của con người Quan điểm của A.G.Covaliov về cấu trúc nhân cách được nhiều nhà tâm lý học Việt Nam thừa nhận

Ở Việt Nam thì Đức và Tài là cách nói quen thuộc được sắp xếp thành

2 mặt thống nhất là phẩm chất và năng lực dưới sự chỉ đạo của ý thức "bản ngã " tức là cái tôi

Trang 23

Đức (phẩm chất ) Tài (năng lực )

1 Phẩm chất xã hội (hay đạo đức chính

trị) Bao gồm: Thế giới quan, nhân sinh

quan, lập trường, thái độ chính trị, thái

độ lao động, lý tưởng niềm tin

1 Năng lực xã hội hóa gồm: Khả năng thích ứng, khả năng sáng tạo, khả năng cơ động, linh hoạt, mềm dẻo trong cuộc sống xã hội

2 Phẩm chất cá nhân (hay đạo đức tư

cách) Bao gồm: Các tính nết, thói

quen, ham muốn, hứng thú

2 Năng lực chủ thể hóa Bao gồm: Khả năng biểu hiện tính độc đáo, biểu hiện cái riêng, sáng kiến, bản lĩnh

3 Phẩm chất ý chí gồm: Tính kỷ luật

tự chủ, tính mục đích, quả quyết, tính

phê phán hoài nghi khoa học

3 Năng lực hành động: Khả năng hành động có mục đích, có điều khiển, Chủ động tích cực

4 Cung cách ứng xử gồm: Tác phong,

tính khí, lễ tiết

4 Năng lực giao lưu: Khả năng thiết lập

và duy trì mối quan hệ với người khác

1.1.2 Các yếu tố hình thành nhân cách

Thứ nhất: Yếu tố sinh học

Không thể có nhân cách trừu tượng ở bên ngoài một con người bằng xương bằng thịt mà là nhân cách của một con người cụ thể sống trong một xã hội cụ thể Ngay từ lúc đứa trẻ sinh ra đã có những đặc điểm hình thái sinh lý của con người bao gồm các đặc điểm bẩm sinh và di truyền

Di truyền không quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân Di truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất, là cơ sở sinh học cho sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân Thừa hưởng những đặc tính di truyền tốt từ thế hệ trước là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của một nhân cách Mỗi trẻ em sinh ra đã kế thừa những phẩm chất sinh vật của các thế hệ cha ông mình, mang dấu ấn đặc trưng của nòi giống, đó gọi là hiện tượng di truyền Di truyền học đã chứng minh rằng, các thế hệ con người có thể truyền lại cho nhau những đặc điểm về cấu tạo cơ thể

Trang 24

về các loại thần kinh, về chức năng hoạt động của chúng tạo thành sức sống

tự nhiên của con người Sức sống tự nhiên là những tiền đề vật chất có vai trò quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách Tư chất thông minh, gen di truyền có vai trò là “nhân tố gốc” tạo nên năng lực nhận thức, tư duy của trẻ nhỏ Nhờ yếu tố bẩm sinh, di truyền dưới sự tác động của các môi trường giáo dục gia đình nhà trường, xã hội đã hình thành nên nhân cách, phẩm chất, lối sống tốt trong mỗi cá thể người Vì vậy gia đình cần phải đánh giá đúng vai trò của yếu tố sinh học, thấy được tầm quan trong của nó và không nên tuyệt đối hóa mặt sinh học để tránh những sai lầm trong nhận thức

cũng như trong việc tổ chức giáo dục con cái

Thứ hai: Hoạt động và giao tiếp

Loài người phát triển, tiến hóa và hoàn thiện như ngày nay là kết quả của hoạt động, chính hoạt động là phương thức tồn tại của loài người Vì thế, hoạt động là tính tích cực của nhân cách, là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân, đặc biệt là hoạt động chủ đạo

Vì thế, để hoàn thiện về nhân cách, cá nhân phải tích cực, chủ động tham gia

các hoạt động của nhóm và cộng đồng

Hoạt động của trẻ em bao gồm: học tập, vui chơi, văn nghệ, thể dục, thể thao, lao động và hoạt động tập thể… trẻ em sẽ hình thành được những nét tính cách, phẩm chất năng lực khi tham gia tích cực vào các loại hình hoạt động đa dạng đó, hiểu biết và tiếp thu các giá trị văn hóa của loài người

Thông qua quá trình giao tiếp, con người lĩnh hội nhiều nguồn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng… từ người khác đồng thời điều chỉnh, thay đổi bản thân cho phù hợp với những yêu cầu của mối quan hệ giao tiếp cũng như những chuẩn mực của xã hội Chính vì thế, giao tiếp giúp cá nhân tăng trưởng về lượng để biến đổi về chất trong quá trình phát triển nhân cách Khi cá nhân tiến hành thực hiện những nhiệm vụ của một hoạt động hoặc giao tiếp xác định một

Trang 25

cách có ý thức, có mục đích nhằm nhận thức đối tượng cũng như tác động cải tạo - nắm bắt - biến đổi nó thành ra những giá trị vật chất - tinh thần nào đó và đang tồn tại trong các mối quan hệ xã hội cụ thể sẽ được coi là một chủ thể Phức hợp toàn bộ những nét cá tính quy định bản chất con người với tư cách là một thành viên của xã hội cũng như một công dân, người lao động, một nhà hoạt động xã hội có ý thức sẽ làm thành nhân cách

Hoạt động và giao tiếp là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống con người Tính đa dạng của hoạt động tạo nên tính đa dạng của giao tiếp Phương thức mục đích của giao tiếp giúp cá nhân chiếm lĩnh được những giá trị đích thực của cuộc sống Qua giao tiếp trẻ sẽ tìm ra được những lẽ phải, chân lý, rút

ra được kinh nghiệm sống, hình thành nên những nét tính cách điển hình

Thứ ba: Yếu tố giáo dục

Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân Thông qua hoạt động giáo dục, cá nhân được tác động

có mục đích, có phương pháp và có kế hoạch để thay đổi theo những chuẩn mực, giá trị xã hội quy định Ba lực lượng giáo dục ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ là gia đình, nhà trường và xã hội

Ba lực lượng trên phải phối hợp chặt chẽ trong việc giáo dục nhân cách lành mạnh cho trẻ Tuy nhiên, trong thời đại công nghiệp hóa và hiện đại hóa như hiện nay thì giáo dục gia đình lại ngày càng có xu hướng bị xem nhẹ Hầu hết các bậc cha mẹ thường khoán trắng cho nhà trường trong việc giáo dục trẻ trong khi giáo dục gia đình là lực lượng quan trọng Ngoài ra, tự giáo dục cũng là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về nhân cách của cá nhân

Giáo dục là điều kiện quan trọng để tạo ra sự biến đổi về chất của cá nhân Giáo dục trang bị cho con người những điều căn bản nhất, giúp con người phát huy hết tiềm năng của bản thân mà di truyền, giao tiếp… không thể có được Tuy nhiên, giáo dục không phải là chiếc chìa khóa vạn năng có thể mở mọi cánh cửa đã bị khóa chặt

Trang 26

Thứ tư: Yếu tố môi trường

Con người sống không thể tách rời môi trường Môi trường ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân Môi trường là những

gì tồn tại xung quanh chúng ta, đó có thể là vật thể hay phi vật thể mà chủ yếu

là môi trường vật chất Xung quanh mỗi con người đều có một môi trường nhất định và không ai giống ai Môi trường này có thể thay đổi khi con người lớn lên và nó ảnh hưởng trực tiếp tới con người sống trong môi trường đó Chúng ta có thể chia môi trường thành hai loại như sau

Môi trường tự nhiên là những gì tồn tại xung quanh mà không phải do

con người tạo ra, là những thứ có sẵn Ví dụ như không khí, nước, gió, nắng mưa, cây cối…, nó ảnh hưởng tới đời sống hằng ngày của con người và chúng con người rất cần nó để có thể tồn tại được Ví dụ như là con người luôn cần

có nước để uống và khí để thở thì mới có thể sống được Môi trường tự nhiên không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển nhân cách của con người bằng một môi trường khác có vai trò quan trọng hơn, đó là môi trường xã hội

Môi trường xã hội là môi trường không phải tự nhiên có, mà chủ yếu do

con người của tạo ra Môi trường xã hội phong phú hơn và ảnh hưởng tới con người nhiều hơn, bao gồm nhiều lĩnh vực như: văn hóa, gia đình, nhóm,… Môi trường xã hội có ảnh hưởng tới con người từ khi sinh ra cho đến khi mất, và ảnh hưởng khác nhau tới mỗi người, bởi mỗi người sống trong một môi trường

xã hội không giống nhau Trong đó, gia đình là môi trường chủ yếu và quan trọng nhất có ảnh hưởng nhiều nhất tới sự phát triển nhân cách của mỗi con người Gia đình là một tế bào của xã hội, muốn cho toàn bộ xã hội phát triển tốt thì từng tế bào này phải phát triển vững mạnh Gia đình là nơi hình thành và phát triển nhân cách của con người, trong đó vai trò quyết định tới sự hình thành nhân cách của con người là cha mẹ, bởi họ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ từ khi còn trong bụng mẹ cho đến mãi sau này Trẻ hình thành nhân cách từ gia đình

Trang 27

Nhóm - tập thể cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành nhân cách của trẻ Khi mà trẻ em chơi với nhóm bạn tốt thì sẽ phát triển nhân cách theo hướng tốt và ngược lại nếu giao lưu với bạn bè và nhóm không lành mạnh

dĩ nhiên nhân cách của trẻ cũng sẽ bị ảnh hưởng theo Để giúp trẻ có một nhân cách lành mạnh cha mẹ nên chọn cho con mình những người bạn tốt

Mỗi quốc gia đều có một nền văn hóa riêng Là người dân trong quốc gia nào đó đều có lòng tự hào về truyền thống văn hóa của quốc gia mình Khi trẻ được tiếp xúc với nền văn hóa của nhân loại và của dân tộc mình sẽ có được những cảm xúc tích cực và dần dần tạo nên lòng yêu nước và sẵn sàng hi sinh cho đất nước Văn hóa giúp cho con người tìm về nguồn cội và biết ơn cha ông Ngoài ra văn hóa còn làm cho con người cảm thấy thương yêu, gắn bó đồng bào của mình hơn Văn hóa giúp con người có những xu hướng phát triển mới mang nét đặc thù Ví dụ Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa lúa nước đã thúc đẩy con người có xu hướng gắn bó với ruộng đồng, cây lúa và với nghề nông Hay tà áo dài là hình ảnh đặc trưng của người phụ nữ Việt Nam và phụ nữ Việt Nam có xu hướng chọn áo dài trong ngày lễ hội, ngày cưới hỏi

Như vậy, nhân cách được thể hiện trong mọi hoạt động thực tiễn và quan hệ ứng xử của mỗi người, được hình thành trong mọi giai đoạn phát triển sinh học của con người Ở mỗi giai đoạn, tùy theo đặc điểm tâm sinh

lý và mối quan hệ xã hội mà sự hình thành và hoàn thiện nhân cách có sự khác nhau Đối với trẻ em, việc giáo dục hình thành nhân cách cho trẻ là đặc biệt quan trọng và gia đình được xem là nhân tố quan trọng nhất trong sự phát triển nhân cách đó của trẻ

1.2 Trẻ em và vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em

1.2.1 Quan niệm về gia đình và trẻ em

1.2.1.1 Quan niệm về gia đình

Gia đình là tổ chức cơ sở đầu tiên đối với đời sống của mỗi cá nhân, là tế bào hợp thành đời sống xã hội Không có gia đình để tái sản xuất ra bản thân

Trang 28

con người, ra sức lao động thì xã hội không thể tồn tại và phát triển Đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về gia đình Đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình và các quan điểm cơ bản về gia đình nhưng dường như chưa có một quan niệm thống nhất, thậm chí trái ngược nhau:

Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1845), C.Mác và Ph.Ăng ghen đã

cho rằng: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở- đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là Gia đình” [44] Với quan niệm này khái niệm về gia

đình được nhìn nhận với ba nội dung sau: Một là gia đình ra đời và tồn tại

cùng với sự ra đời và tồn tại của xã hội loài người, con người cùng với quá

trình tái tạo ra chính bản thân mình thì đồng thời cũng tái tạo ra gia đình Hai

là, chức năng chính của gia đình là tái tạo, sinh sôi nảy nở con người Ba là,

gia đình được tạo bởi hai mối quan hệ chủ yếu: quan hệ hôn nhân (chồng vợ), quan hệ huyết thống (cha mẹ - con cái)

-Tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc đã quyết định lấy năm 1994 là năm quốc tế gia đình và thống nhất khẳng định: “Gia đình là một yếu tố tự nhiên cơ bản, một đơn vị kinh tế xã hội Gia đình được coi như một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại cần được giữ gìn và phát huy” trên tinh thần đó UNESCO đã đưa ra định nghĩa “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng nhau chung sống và có ngân sách chung với các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau bởi trách nhiệm và quyền lợi về mọi mặt được pháp luật thừa nhận” [22, tr.10] Quan hệ họ hàng, trước hết là nói đến mối quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống Ngoài những thành viên tạo nên quan hệ họ hàng, gia đình còn bao hàm một số thành viên khác cùng chung sống Các thành viên gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi về mọi mặt

Ở Việt Nam gia đình được hình thành và phát triển trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước nên các thành viên trong gia đình

có tính cộng đồng cao Biểu hiện là giữa các thành viên có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, mong muốn của mỗi cá nhân phụ thuộc vào mong muốn và

Trang 29

lợi ích của gia đình Tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá một cá nhân có phẩm chất, nhân cách tốt là hành vi, cư xử có tôn ti, trật tự (trên - dưới, cha - con, anh - em), có nề nếp, gia phong của gia đình và được các thành viên trong gia đình đồng tình, ủng hộ Chính vì vậy, các thành viên trong gia đình được giáo dục phải đặt lợi ích gia đình lên trước lợi ích cá nhân, không vì lợi ích cá nhân mà tổn hại đến gia đình Khi thực hiện chức năng giáo dục trẻ

em, gia đình dạy trẻ những giá trị đạo đức, lẽ sống phù hợp với những chuẩn mực đạo đức của gia đình và cộng đồng

Trong từ điển Văn hóa gia đình một số tác giả cho rằng: “Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở sự kết hợp của những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân để thực hiện được các chức năng sinh học (sinh đẻ), kinh tế, văn hóa,

xã hội… khi gia đình đã có con, các thành viên được liên kết với nhau vừa bằng quan hệ hôn nhân, vừa bằng quan hệ huyết thống Gia đình là một phạm trù lịch

sử, thay đổi cùng với sự thay đổi của xã hội” [14, tr.27-28]

Đứng trên góc độ triết học, Giáo sư Lê Thi quan niệm: “Gia đình là khái niệm chỉ một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội, ngoại), gia đình có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống, các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ có những ràng buộc về pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật Hôn nhân và Gia đình ở nước ta) Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên” [71, tr.90-91] Quan niệm này phản ánh khá đầy đủ những thuộc tính vốn có của gia đình, cả về khoa học

và đạo lý Việt Nam, song vẫn chưa khái quát được loại gia đình cũ tồn tại ở Việt Nam, gia đình không có trách nhiệm pháp lý

Khi nêu khái niệm gia đình, các nhà nghiên cứu đã cố gắng đưa ra một khái niệm bao quát nhằm phản ánh đầy đủ nhất nội hàm của phạm trù tương

Trang 30

đối rộng này Các định nghĩa trên đây đều nhấn mạnh đến sự gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên - đặc trưng quan trọng nhất của gia đình Song chưa khái quát được tất cả những đặc trưng cơ bản nhất của gia đình

Căn cứ vào tình hình chung của hôn nhân gia đình Việt Nam, kế thừa những cách tiếp cận hợp lý khác trên đây, chúng tôi quan niệm: gia đình là phạm trù dùng để chỉ một cộng đồng người được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục, quan hệ quần tụ trong một không gian sinh tồn… mà ở đó các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau bởi trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi

về kinh tế, văn hoá, tình cảm và theo những chuẩn giá trị nhất định, được xã hội ủng hộ, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ

Quan niệm này có thể hiểu:

Một là, gia đình là một thiết chế xã hội được hình thành trước hết trên

cơ sở của quan hệ hôn nhân Quan hệ hôn nhân là sự liên kết lại các cá nhân (Nam- nữ) theo quy định của pháp luật hay nhà thờ, nhằm để chung sống với nhau và xây dựng gia đình hạnh phúc Quan hệ hôn nhân được biểu hiện là một loại quan hệ xã hội gắn liền với thân nhân đó là quan hệ vợ chồng kết hợp với nhau để sinh sản và cùng nuôi dạy con cái

Trong các xã hội có giai cấp, quan hệ hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp Mỗi hình thái kinh tế xã hội có các kiểu hôn nhân đặc trưng và các giai cấp thống trị dùng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp mình

Hai là, quan hệ huyết thống là quan hệ giữa cha mẹ và con cái Quan hệ

huyết thống là sự tiếp tục và là hệ quả tất yếu của quan hệ hôn nhân, nó chỉ phát triển tốt đẹp dựa trên cơ sở tình yêu và hôn nhân chính đáng, hợp pháp

Ba là, quan hệ nuôi dưỡng là loại quan hệ hình thành giữa chủ thể và

đối tượng được nuôi dưỡng, họ gắn bó với nhau vì trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ, được họ hàng ủng hộ và được pháp luật thừa nhận, bảo vệ

Trang 31

Như vậy không thể có một định nghĩa duy nhất về gia đình cho mọi nền văn hóa, song với quan niệm như trên chúng ta có thể thống nhất về cơ bản: Gia đình là một cộng đồng người được xây dựng trên cơ sở hai mối quan hệ

cơ bản là hôn nhân và huyết thống được xã hội thừa nhận

Gia đình là nhân tố quan trọng của sự phát triển xã hội, trong đó với chức năng giáo dục đã đưa gia đình trở thành mắt khâu quan trọng của hệ thống giáo dục xã hội, đã trở thành một nhân tố chủ yếu trong việc giáo dục hình thành nhân cách cho trẻ em - những chủ nhân tương lai của đất nước

1.2.1.2 Quan niệm trẻ em

Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người Đó là những người chưa trưởng thành, thể chất và trí tuệ chưa phát triển, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với tư cách là chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đình và xã hội quan tâm hình thành và phát triển về mặt nhân cách

Theo Luật Quốc tế, “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [13]

Theo Luật bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em ở nước ta (15/6/2004) xác định trẻ em là “Công dân Việt nam dưới 16 tuổi” [47]

Từ những quan niệm đã nêu, về phương diện pháp lý, có thể đi đến thống nhất khái niệm trẻ em theo pháp luật Việt Nam là: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”; là người chưa phát triển về thể chất cũng như về mặt tâm lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm cuộc sống của trẻ còn hạn chế, thiếu những điều kiện và bản lĩnh tự lập khả năng kiềm chế chưa cao, dễ bị lôi kéo vào hoạt động phiêu lưu mạo hiểm

Trang 32

Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi quan niệm rằng: trẻ em là lớp người ở độ tuổi vị thành niên đang chủ yếu chịu sự nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục của gia đình, lứa tuổi chưa được pháp luật quy định trách nhiệm nghĩa vụ công dân, nghĩa là lứa tuổi dưới 18 tuổi

Lứa tuổi này có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất: Trẻ em là thế hệ phát triển chưa đầy đủ về thể chất, trí tuệ và

nhân cách Sự phát triển của trẻ em đươc hiểu là “một quá trình biến bổi tổng thể, cải biến toàn vẹn tổng thể sức mạnh thể chất, tinh thần và xã hội, cũng như các năng lực của trẻ em có tính đến các lứa tuổi” [61] Sự phát triển về thể chất biểu hiện sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, cơ bắp, sự hoàn thiện các giác quan, sự phối hợp các hoạt động, sự phát triển về tâm lý biểu hiện ở những biến đổi cơ bản trong quá trình nhận thức, cảm xúc, ý chí, ở sự hình thành các thuộc tính tâm lý mới của nhân cách Sự phát triển về mặt xã hội biểu hiện ở những biến đổi trong cách cư xử đối với những người xung quanh, trong việc tích cực tham gia vào đời sống xã hội Nói đến sự phát triển trẻ em cũng là nói đến sự phát triển toàn diện, hài hòa nhân cách của trẻ em

Đó là sự phát triển giữa yếu tố phẩm chất và năng lực

Thứ hai: Trẻ em là lớp người chưa thể tự lập được trong cuộc sống, cũng

như chưa có khả năng tự bảo vệ mình trước những tác động xấu từ môi trường, trước những nguy cơ bị xâm hại Do đó trong những hành vi, cách ứng xử thường có những biểu hiện hạn chế và lệch lạc Các em thường dễ có xu hướng cường điệu hóa trong khi tự đánh giá, hoặc là đánh giá thấp cái tích cực, tập trung phê phán cái tiêu cực Có em đánh giá cao nhân cách của mình, tỏ ra tự kiêu tự đại, coi thường người khác Nhiều khi các em có thể sai lầm khi tự đánh giá Tuy nhiên, khả năng biết tự phân tích là dấu hiệu của một nhân cách đang trưởng thành và là tiền đề của sự tự giáo dục có mục đích Do vậy, để hình thành nhân cách cho trẻ em, cha mẹ cần phải chia sẻ, gần giũ, lắng nghe và có sự chia

sẻ với trẻ giúp trẻ có cách nhìn nhận vấn đề một cách đúng đắn và khoa học

Trang 33

Thứ ba: Trẻ em là lứa tuổi có tính hiếu động và phản xạ nhanh, ưa chuộng

những điều mới lạ Các em đang trong quá trình vận động từ nhóm nhỏ sang nhóm lớn Nhân cách của trẻ em bị giằng co giữa những xu hướng trái ngược nhau, khi hăng hái, lúc chán nản bi quan Cuộc sống đậm màu sắc tình cảm, không dấu được tình cảm vui buồn, yêu ghét, dễ xúc động, kích động, hành vi không ổ định, rất dễ hành động theo cảm tính mà bản thân không kìm chế nổi

Hoạt động cơ bản của trẻ em là vui chơi và học tập, thông qua học tập

và vui chơi trẻ em lĩnh hội được các giá trị văn hóa của loài người để biến thành những thuộc tính, nhân cách của bản thân, nắm được những tri thức, kỹ năng, hình thành thái độ và phát triển được những năng lực cần thiết để tham gia các loại lao động xã hội, đặc biệt là lao động sản xuất

Thứ tư: Trẻ em là lứa tuổi còn chịu sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

của gia đình Được giáo dục bởi sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội

Trẻ em bắt đầu bằng các quan hệ với cha mẹ, sau dần giao tiếp với các thành viên khác trong gia đình bạn bè, hàng xóm, thầy cô Trẻ tiếp thu nếp sống hàng ngày, thói quen tập tục của gia đình, làng xóm, địa phương biến thành vốn sống, kỹ năng, kỹ sảo, ý chí, tình cảm, động cơ, thái độ Khi còn nhỏ mối quan hệ xã hội chủ yếu của trẻ chủ yếu là gia đình, lớn lên trẻ mở rộng mối quan hệ ra bên ngoài Trong giai đoạn này trẻ rất háo hức và sẵn sàng học nhiều điều mới, hay bắt chước những người lớn tuổi mà chúng kính phục Để thực hiện quyền trẻ em, các thành viên trong gia đình, nhà trường và xã hội cần tạo điều kiện và khuyến khích khả năng sáng tạo của các em, khuyến khích các

em có suy nghĩ độc lập phù hợp với những chuẩn mực, giá trị đạo đức

Trẻ em là thế hệ kế cận, là lực lượng lao động nòng cốt và sẽ làm chủ thế giới trong tương lai Từ những đặc điểm trên cha mẹ và gia đình phải xác định được những nội dung giáo dục hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ một cách phù hợp

Trang 34

1.2.2 Những nội dung hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ

có ý thức, có tổ chức kỷ luật, hướng tới năng suất chất lượng, hiệu quả là cực

kỳ quan trọng Điều này đòi hỏi mỗi người chúng ta phải gắn lương tâm trách nhiệm của mình với công việc, với nhiệm vụ, với sản phẩm của mình làm ra Đặc biệt là phải quan tâm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, vì sự phát triển và phồn vinh của nước nhà

Trên cơ sở đó trẻ biết lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội, biết bảo vệ cái đúng, cái tốt, đấu tranh phê phán đối với các hành vi, hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống Hình thành cho trẻ tinh thần thái độ đối với lao động, về các mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, xã

Trang 35

hội Bồi dưỡng ở trẻ những phẩm chất xã hội cần thiết của một người Việt Nam chân chính, từ đó giúp các em trở thành một chủ thể của sự phát triển nhân cách có hoài bão và mục đích sống cao đẹp

Thứ hai: Phẩm chất cá nhân

Kính trọng, hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ từ xưa đến nay vẫn được coi là yếu tố đạo đức quan trọng nhất đối với trẻ ở trong bất cứ gia đình nào Ngoài những phẩm chất chung đó, gia đình cần hình thành cho trẻ các phẩm chất sau: cần cù, giản dị, khiêm tốn, tinh thần trách nhiệm Bên cạnh đó trẻ biết thông cảm sâu sắc với điều kiện, hoàn cảnh, đời sống của gia đình, biết sống “tùy gia phong kiệm”, biết thương yêu cha mẹ vất vả nhọc nhằn, biết giúp đỡ cha mẹ khi khó khăn, tạo nên một không khí hòa thuận, ấm cúng trong đời sống gia đình Giáo dục trẻ biết vâng lời và biết hoàn thiện công việc một cách vui vẻ khi bố mẹ sai bảo Cha mẹ hình thành cho trẻ ý thức trách nhiệm đùm bọc, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa anh chị em ruột thịt Những hành vi, cư xử lễ phép, kính trên, nhường dưới, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ là cơ sở giúp trẻ hình thành những phẩm chất đạo đức tốt như: lòng nhân ái, vị tha, tinh thần lạc quan yêu đời, tính chân thực trong quan hệ đối nhân xử thế với mọi người ngoài xã hội

Bên cạnh đó, gia đình cũng còn hình thành cho trẻ em thói quen văn minh giao tiếp với những người xung quanh, ứng xử có văn hóa, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Có hiểu biết về truyền thống yêu nước của dân tộc, luôn có ý thức học tập và rèn luyện góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ quê hương đất nước… Qua đó tăng thêm tính tự giác trong hành vi đạo đức của mình, phát triển lý tưởng sống cao đẹp, những phẩm chất cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH

Thứ ba: Phẩm chất ý chí

Phẩm chất ý chí là khả năng làm chủ bản thân, duy trì được sự kiểm soát các hành vi của bản thân, làm chủ được cảm xúc, khắc phục được những trạng

Trang 36

thái tâm lí buồn chán, hoang mang Để trẻ có thể hình thành phẩm chất này, gia đình cần tạo dựng cho trẻ có một lối sống lành mạnh, văn minh, cần kiệm trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái” Điều đó được thể hiện ở những hành vi giao tiếp, đó là việc xử sự giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng trong lời ăn, tiếng nói, cử chỉ, hành động, biểu thị thái độ Vì vậy, mỗi trẻ em tự tu dưỡng rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi của mình, đồng thời biết lắng nghe ý kiến góp ý của người khác để sửa chữa và hoàn thiện mình, đó là nét đẹp của con người văn hóa Trong quá trình xây dựng lối sống và nếp sống tốt đẹp phải hướng tới thực hiện đầy đủ các chuẩn mực đạo đức mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng, là: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Phẩm chất ý chí được biểu hiện trong hành động, thông qua những phẩm chất cơ bản là tính mục đích, tính độc lập, tính quyết đoán, tính kiên trì, tính dũng cảm và tính tự chủ Phẩm chất ý chí sẽ giúp những đứa trẻ chống lại những đam mê, những đòi hỏi của bản thân và những khó khăn, cám dỗ của thế giới bên ngoài Ý chí giúp con người vượt qua mọi khó khăn, dấn thân vào cuộc sống, công việc để đi đến thành công

Hiện nay việc hình thành cho trẻ tính tự lập, tính chủ động sáng tạo trong học tập, trong rèn luyện, trong vấn đề lập thân, lập nghiệp là việc làm thường xuyên có chủ đích của các gia đình Con cái không chỉ là thành viên trong gia đình mà còn là thành viên của xã hội, không phải chỉ có trách nhiệm với gia đình mà cần phải có nghĩa vụ với đất nước, với xã hội Hình thành cho trẻ tính tự lập, ý thức rèn luyện phấn đấu, tinh thần chủ động sáng tạo trong hoạt động chính là sự chuẩn bị hành trang cho trẻ bước vào đời một cách tự tin có nghị lực và có khả năng thích ứng với mọi đổi thay

Thứ tư: Phẩm chất ứng xử

Trong gia đình truyền thống, đạo đức được đề cập tới đó là cách ứng xử với những người xung quanh tức là cách sống, cách ăn ở, đi đứng, nói năng,

Trang 37

thái độ hành vi của cá nhân trước cộng đồng gia đình, họ mạc, làng xã Đạo đức truyền thống dạy con người ăn ở có tình, có nghĩa, có nhân, có đức, có thủy, có chung “trước sau như một”, giữ lòng trung thành với nước, hiếu với cha mẹ đẻ, với anh em, giữ nghĩa xóm làng “bà con xa, láng giềng gần”; biết tôn kính, noi gương những bậc anh hùng nghĩa sĩ dân tộc, những người có công với dân, với nước [67]

Đạo đức trong gia đình trước hết là giáo dục đạo Hiếu Chữ hiếu đứng đầu trăm nết của con người Con cháu phải hiếu thảo với cha mẹ ông bà, phải tuân theo nề nếp, gia phong “trên bảo dưới nghe”, “trên kính dưới nhường”, một lòng phụng dưỡng cha mẹ, nhất là khi cha mẹ ốm đau bệnh tật Có trách nhiệm làm cho cha mẹ đẹp lòng, đem lại vinh quang cho cha mẹ Đó là cốt lõi của luân lý gia đình, là gốc của đạo đức Sự phục tùng của con cái đối với cha

mẹ trong gia đình Việt Nam truyền thống là một nguyên tắc nhưng không phải là tuyệt đối và vô điều kiện như yêu cầu của Nho giáo, chỉ biết nghe theo, làm theo không có một chút sáng kiến nào Điều đó làm cho gia đình Việt Nam thoát khỏi sự lệ thuộc mù quáng và khuyến khích khả năng sáng tạo của con cái Mong con cái giỏi giang hơn cha mẹ, tổ tiên, vì “con hơn cha là nhà có phúc” Ngoài ra gia đình Việt Nam giáo dục cho con ý thức trách nhiệm đùm bọc tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa anh em ruột thịt

Trong gia đình Việt Nam hiện nay, trước sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế thi trường, mở của hội nhập quốc tế, cuộc sống có nhiều biến đổi đã ảnh hưởng không nhỏ tới từng gia đình và các thành viên, nhất là đối với trẻ em Việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta bên cạnh mặt tích cực là khơi dậy những tiềm năng cho sự phát triển, nó còn tiềm chứa không ít những yếu tố tiêu cực như: Lối sống thực dụng, đua đòi, chạy theo đồng tiền, chà đạp lên đạo

lý, đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của các gia đình nói chung và sự hình thành nhân cách của trẻ em trong gia đình nói riêng Ngày nay, không chỉ

ở nước ta mà trên thế giới, thái độ và hành vi đúng, tốt đẹp đối với người lớn tuổi, người già cả là tiêu chí của văn hóa văn minh Phụng dưỡng, chăm sóc và

Trang 38

kính trọng ông bà cha mẹ là tiêu chuẩn của đạo đức con người Vì vậy cung cách ứng xử là một phẩm chất không thể thiếu đối với trẻ em hiện nay

1.2.2.2 Nội dung hình thành và phát triển năng lực (tài) cho trẻ em Thứ nhất: Năng lực xã hội hóa

Là khả năng trẻ đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau, trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Đây là kỹ năng vô cùng cần thiết Thế giới và cuộc sống luôn có sự thay đổi Học cách chấp nhận thay đổi, đối phó với thay đổi, điều chỉnh mình theo dòng chảy của sự thay đổi sẽ là điểm mạnh giúp trẻ cạnh tranh được trong cuộc sống Đôi khi quá cứng nhắc lại không có lợi trong hoàn cảnh cuộc sống luôn linh hoạt và biến động Cha mẹ nên làm gương cho con về kỹ năng này, tận dụng mọi cơ hội quan trọng để chỉ cho trẻ thấy thay đổi là chấp nhận được, và giải thích cho trẻ, trẻ có thể thích nghi và nắm bắt được những cơ hội mới tốt hơn nếu thay đổi

Với năng lực này, trẻ em có thể hiểu người khác và ý thức được hành động của chúng sẽ tác động đến người khác như thế nào, qua đó trẻ có thể học cách thông cảm Điều này sẽ khuyến khích trẻ đối xử với người khác tốt hơn

và nhờ đó trẻ sẽ cảm thấy dễ chịu trong tư tưởng Trẻ em cũng được dạy rằng đối xử tốt với người khác sẽ là có ích và đem lại những ảnh hưởng tốt Trẻ sẽ

tỏ ra lễ phép hơn với cha mẹ, thầy cô cũng như là những bạn cùng lứa - những người mà sau này sẽ trở thành những người trưởng thành trong cộng đồng Ngoài ra khi đó trẻ cũng có xu hướng cố gắng giao tiếp khi đang buồn hay thất vọng, vì vậy trẻ sẽ tìm ra những cách giải quyết mọi tình huống theo hướng tích cực Bên cạnh đó, trẻ sẽ học cách giới hạn, kìm nén cảm xúc của mình, học cách cư xử với những người xung quanh Đó là một kỹ năng rất cần thiết trong cuộc sống

Trẻ em là lứa tuổi rất coi trọng việc sinh hoạt với bạn bè cùng lứa tuổi

để khẳng định vị trí của mình trong nhóm Trong việc phát triển nhu cầu sở

Trang 39

thích, các em hướng vào bạn bè nhiều hơn vào cha mẹ Sự mở rộng phạm vi giao tiếp là do số lượng nhóm mà các em tham gia Chính vì vậy cần chú ý đến ảnh hưởng của nhóm, hội ở trường và ngoài trường Gia đình phối hợp chặt chẽ với nhà trường tổ chức phong phú các hoạt động tập thể đặc biệt là tổ chức đoàn, nhằm phát huy tính tích cực của các em Gia đình tạo cơ hội cho các em được chia sẻ bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân về những vấn đề liên quan đến bạn bè, trường lớp giúp trẻ có một đời sống tâm hồn phong phú và thu lượm được nhiều kinh nghiệm xã hội Và vì vậy trẻ sẽ có biện pháp, cách thức ứng xử đúng đắn đối với các vấn đề trong cuộc sống thực tiễn

Thứ hai: Năng lực chủ thể hóa

Hình thành năng lực chủ thể hóa cho trẻ em là hình thành khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của trẻ, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển của trẻ Năng lực chủ thể hóa giúp trẻ chủ động trong mọi hoàn cảnh Đó là trẻ luôn tìm cách học hỏi và phát huy những sáng kiến cá nhân Tính tích cực chủ động phát huy cao độ trong tư duy, trong công việc

Đối với các gia đình hiện đại, việc trang bị cho con em mình năng lực như năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực sáng tạo, ý chí vươn lên trong cuộc sống là hết sức cần thiết Những phẩm chất này được hình thành trên nền tảng của tri thức, của sự nắm bắt được những quy luật khách quan của cuộc sống Nếu trẻ năng động, sáng tạo, có ý chí vươn lên trong cuộc sống tức là trẻ đã có thể làm chủ bản thân, làm chủ hoàn cảnh Sự chủ động này giúp cho các em khắc phục được những hạn chế, phát huy được năng lực của mình, trẻ có thể tự tin hòa nhập với xã hội và có thể phát huy khả năng của mình trong xã hội

Trong gia đình, cha mẹ là người hình thành cho trẻ những năng lực như năng lực học tập, năng lực sáng tạo, bồi dưỡng hứng thú và nhu cầu học tập, khuyến khích các em say mê tìm tòi sáng tạo Trang bị cho trẻ những tri thức văn hoá, khoa học - kỹ thuật, mở rộng sự hiểu biết, rèn luyện năng lực tư duy

Trang 40

khoa học, óc phân tích và kỹ năng vận dụng những tri thức vào cuộc sống Trong điều kiện khoa học và công nghệ phát triển, từng ngày, từng giờ thì việc phát triển năng lực học tập cho trẻ là việc làm đặc biệt cần thiết Chỉ khi được trang bị một cách toàn diện, đầy đủ những tri thức văn hoá của nhân loại, thì trẻ em mới có điều kiện làm chủ tri thức, biết vận dụng những tri thức khoa học, văn hoá vào cuộc sống Hồ Chí Minh đã từng khẳng định, một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, Bác đã kêu gọi nhân dân ta nhất là thế hệ trẻ Việt Nam phải ra sức học tập Người cũng đã chỉ ra ba thứ giặc, trong đó có giặc dốt là giặc không kém phần nguy hiểm cho vận mệnh dân tộc

Trong việc hình thành năng lực cho trẻ em, các bậc cha mẹ giúp cho trẻ xác định đúng mục đích, động cơ thái độ học tập Đồng thời tìm hiểu và biết

về những khả năng riêng biệt của con để có những phương pháp thích hợp bồi dưỡng nâng cao năng lực học tập và năng lực sáng tạo cho trẻ

Hình thành và phát triển năng lực học tập cho trẻ là quá trình lâu dài, có ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con người trong suốt cuộc đời Vì vậy, các bậc cha mẹ phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng giáo dục để tránh trường hợp cha mẹ cảm thấy lúng túng, đôi khi cảm thấy bất

lực trong việc giáo dục con cái

Thứ ba: Năng lực hành động

Năng lực hành động là khả năng hành động có mục đích, có điều khiển chủ động tích cực Trẻ cần có năng lực này vì hiện nay trong xã hội hiện đại, nếu trẻ em chỉ có các đức tính cần cù chịu khó, thật thà thì chưa đủ để giải quyết những mâu thuẫn đặt ra.Do đó, trẻ em hiện nay cần phải chủ động, tích cực, có cách suy nghĩ, giải quyết những vấn đề một cách khoa học Tính độc lập, sáng tạo của mỗi cá nhân, sự đổi mới trong tư duy, chủ động trong công việc hết sức cần thiết đối với mỗi trẻ em hôm nay

Để vượt qua khó khăn, để khẳng định vị thế của mình, không có sự lựa chọn nào khác, trẻ phải biết lên kế hoạch học tập, làm việc Khái niệm học tập

Ngày đăng: 20/03/2015, 14:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX (2005), “về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 21/02/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX
Năm: 2005
2. Ban nghiên cứu, HLHPN Việt Nam (1998), Một số vấn đề về sự tác động của nền kinh tế thị trường đối với chức năng gia đình Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về sự tác động của nền kinh tế thị trường đối với chức năng gia đình Việt Nam
Tác giả: Ban nghiên cứu, HLHPN Việt Nam
Năm: 1998
3. Báo pháp luật và xã hội 22/4/2011, “Tư liệu pháp luật và xã hội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu pháp luật và xã hội
4. Đỗ Tuyết Bảo (2001), Giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, NXB Chính trị, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đỗ Tuyết Bảo
Nhà XB: NXB Chính trị
Năm: 2001
5. Nguyễn Ngọc Bích (2001), Tâm lí học nhân cách, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học nhân cách
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
6. Mai Huy Bích (1993), Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng, NXB văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin
Năm: 1993
7. Đỗ Thị Bình (2002), Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
8. Bộ giáo dục và đào tạo (2009), Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
9. Bộ văn hóa - thông tin (1997), Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Bộ văn hóa - thông tin
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
10. Bộ văn hóa - thông tin (1999), Hỏi đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống
Tác giả: Bộ văn hóa - thông tin
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1999
11. Nguyễn Gia Cầu (18/7/1994), “Trẻ em lang thang đường phố nhìn từ góc độ giáo dục gia đình”, Báo phụ nữ Việt Nam, (số 29) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ em lang thang đường phố nhìn từ góc độ giáo dục gia đình”, "Báo phụ nữ Việt Nam
12. Phạm Khắc Chương (1993), Giải pháp tình huống trong giáo dục gia đình, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tình huống trong giáo dục gia đình
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1993
14. Phạm Thị Dung, Nguyễn Thu Hà, Phạm Thị Hảo, Từ Thu Hằng, Phạm Minh Thảo (1999), Từ điển Văn hoá gia đình, NXB Văn hoá thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn hoá gia đình
Tác giả: Phạm Thị Dung, Nguyễn Thu Hà, Phạm Thị Hảo, Từ Thu Hằng, Phạm Minh Thảo
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin Hà Nội
Năm: 1999
15. Ngô Minh Duy (2009), Tâm lý học đại cương, Học viện Phật giáo Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Ngô Minh Duy
Năm: 2009
16. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Cương Lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương Lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
17. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị Trung ương lần thứ 2, khoá VIII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị Trung ương lần thứ 2, khoá VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 1997
18. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện hội nghị lần thứ V Ban chấp hành trung ương khoá 8, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ V Ban chấp hành trung ương khoá 8
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
19. Đảng cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện hội nghị Trung ương lần thứ 8, khoá VIII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị Trung ương lần thứ 8, khoá VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 1999
87.www.xaluan.com/modules.php?name= ews&file=article&sid=313567 Link
88. www.vi.wikipedia.org/wiki/Hà_Nội. 89.www.hoinguoicaotuoi.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.2.  Kết  quả  điều  tra  về  mức  độ  quan  tâm  của  cha  mẹ  đến  đời  sống tâm lý và tinh thần của con cái - Gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội hiện nay
ng 2.2. Kết quả điều tra về mức độ quan tâm của cha mẹ đến đời sống tâm lý và tinh thần của con cái (Trang 58)
2.2.1.2. Hình thành và phát triển năng lực (tài) cho trẻ em - Gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội hiện nay
2.2.1.2. Hình thành và phát triển năng lực (tài) cho trẻ em (Trang 60)
Bảng 2.5. Bảng điều tra trình độ học vấn của cha mẹ 4 huyện ngoại thành - Gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội hiện nay
Bảng 2.5. Bảng điều tra trình độ học vấn của cha mẹ 4 huyện ngoại thành (Trang 74)
Bảng 2.7. Kết quả điều tra nhận thức của cha mẹ về chủ thể giáo dục  trẻ em ở ngoại thành Hà Nội - Gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội hiện nay
Bảng 2.7. Kết quả điều tra nhận thức của cha mẹ về chủ thể giáo dục trẻ em ở ngoại thành Hà Nội (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w