1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công bằng xã hội và những yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

118 1,2K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội thảo khoa học quốc tế “Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội” của Viện Khoa học xã hội Việt Nam 10/2007, trong đó vấn đề CBXH được trình bày từ những vấn đề lý luận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHAN THỊ HOÀNG MAI

CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN CÔNG BẰNG

XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHAN THỊ HOÀNG MAI

CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN CÔNG BẰNG

XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

MÃ SỐ: 60.22.85

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Tuấn

HÀ NỘI - 2008

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về công bằng xã hội và những yếu

tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội 7

1.1 Một số vấn đề lý luận về công bằng xã hội 7 1.2 Vai trò của công bằng xã hội trong sự nghiệp xây dựng chủ

1.3 Những yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội 37

Chương 2 Những yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội ở

Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp 51

2.1 Thực trạng tác động của những yếu tố cơ bản đến thực hiện

2.2 Một số giải pháp điều tiết các yếu tố tác động đến thực

hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay 90

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNTB: Chủ nghĩa tư bản

CNXH: Chủ nghĩa xã hội KTTT: Kinh tế thị trường

Tr.CN: Trước công nguyên XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công bằng xã hội là khát vọng, mục tiêu phấn đấu vươn lên của nhân loại từ

xa xưa đến nay Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học công nghệ

và nhu cầu nhân quyền, tiến bộ xã hội…, CBXH đã trở thành một động lực mạnh

mẽ, một nhân tố bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế và của toàn xã hội Với ý nghĩa đó, hiện nay, tất cả các nước đều quan tâm thực hiện CBXH Tuy nhiên, mỗi nước lại giải quyết vấn đề này một cách khác nhau, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của quốc gia, dân tộc mình

Ở Việt Nam, CBXH vừa là mục tiêu vừa là động lực, một nhân tố của sự phát triển và ổn định xã hội Hồ Chí Minh đã xác định: "Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng" Nước ta là một nước chậm phát triển, đi lên chủ nghĩa xã hội với một quyết tâm hướng tới mục tiêu xây dựng “một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh" [8,17-18] Mục tiêu ấy là khát vọng bao đời nay của nhân dân ta, đồng thời cũng là lý tưởng cao đẹp của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và toàn dân tộc Mục tiêu đó được khẳng định rõ tại Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam: "Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục… giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người" [8,77]

Việt Nam tiến hành đổi mới trong điều kiện, tình hình trong nước và trên thế giới có nhiều biến chuyển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều yếu tố mới tác động tích cực

và cả tiêu cực đến việc thực hiện CBXH Quán triệt quan điểm của Đảng về sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển đất nước, nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện CBXH, củng cố được lòng tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới Những thành tựu quan trọng đạt được đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định xã hội

Trang 6

Tuy vậy, trong quá trình đổi mới đất nước, chúng ta đã vấp phải nhiều khó khăn mới nảy sinh: khoảng cách chênh lệch giàu nghèo gia tăng nhanh, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, các tệ nạn xã hội… vẫn tiếp tục gây nên bức xúc về mặt CBXH, vi phạm mục tiêu cần đạt tới của xã hội ta Thực trạng trên khiến cho không ít người tỏ ra băn khoăn, lo ngại Một số người cho rằng, để giữ vững định hướng XHCN cần hy sinh tăng trưởng kinh tế để đảm bảo CBXH, hoặc kiến nghị Nhà nước phải coi xây dựng chính sách an sinh xã hội là nội dung quan trọng nhất của CBXH,… Các ý kiến khác nhau trên đây tuy đều cho rằng cần thực hiện CBXH nhưng bản thân nội hàm của khái niệm CBXH lại chưa thật thống nhất, sự phân biệt giữa CBXH và bình đẳng xã hội chưa rõ ràng CBXH có vai trò gì đối với sự nghiệp xây dựng CNXH? Thêm nữa, CBXH và tăng trưởng kinh tế có phải

là những mục tiêu không tương dung nhau hay không? Thực hiện CBXH chịu tác động của những yếu tố nào? Những câu hỏi trên cho thấy vấn đề công bằng xã hội, trong đó có việc tìm hiểu những yếu tố cơ bản tác động đến thực hiện CBXH

ở nước ta vẫn đang là những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách cần được làm sáng tỏ để có cơ sở định ra chính sách, giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn CBXH ở nước ta hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề "Công bằng xã hội và những

yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài

luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn

Nghiên cứu về vấn đề CBXH và các vấn đề liên quan đến việc thực hiện CBXH là một chủ đề lớn, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học

- Các đề tài, hội thảo nghiên cứu khoa học:

Đề tài khoa học cấp Bộ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2001):

“Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và CBXH trong tiến trình CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” do GS.TS Trịnh Quốc Tuấn làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đã trình bày mối quan hệ

Trang 7

giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam, trong

đó có mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH; mối quan hệ và những tác động, thách thức của tiến bộ, CBXH đến tăng trưởng kinh tế Từ đó, đề tài khẳng định, Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững thì điểm mấu chốt phải giải quyết được vấn đề kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, CBXH

Hội thảo khoa học "Vấn đề phân phối và phân hoá giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta" của Bộ Lao động – Thương binh xã hội (2004) đã làm rõ khái niệm, cấu trúc và những điều kiện thực hiện CBXH, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thực hiện CBXH ở Việt Nam hiện nay

Hội thảo khoa học quốc tế “Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết

xã hội” của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (10/2007), trong đó vấn đề CBXH được trình bày từ những vấn đề lý luận chung đến thực hiện CBXH ở Việt Nam hiện nay; mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH; những vấn đề cụ thể trong thực hiện CBXH như: chính sách lao động, tiền lương, CBXH về giáo dục, công tác xóa đói giảm nghèo, bình đẳng về giới,…

- Các luận án, luận văn có liên quan:

Luận án Tiến sĩ Triết học "Công bằng xã hội và tiến bộ xã hội" của Nguyễn Minh Hoàn (2006) (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) đề cập tới vai trò, vị trí của CBXH vừa với tính cách là động lực vừa là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội Luận án cũng đã khái quát các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong việc thực hiện CBXH thời kỳ từ đổi mới đến nay

Luận án Tiến sĩ Triết học “Nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng xã hội của nhà nước trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Đăng Thông (2000) (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) đã tập trung trình bày vai trò của nhà nước đối với sự phát triển xã hội thông qua thực hiện chức năng xã hội của mình trên tất cả các lĩnh vực, trong đó cơ bản là thực hiện định hướng XHCN đối với quá trình tăng tưởng kinh tế

Trang 8

- Các sách tham khảo và bài viết đăng trên tạp chí:

Sách tham khảo “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội – một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung” (2001) do Phân viện Đà Nẵng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh Đà Nẵng,…, chủ biên, tập trung làm rõ mối quan hệ và đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế và CBXH ở miền Trung

Sách tham khảo “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới: vấn đề và giải pháp” (2007) do TS Nguyễn Thị Nga, chủ biên, nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với CBXH ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, qua đó đề ra những giải pháp góp phần hạn chế sự bất bình đẳng trong xã hội, thực hiện CBXH

Ngoài ra, còn có các bài tạp chí, bài báo bàn xung quanh vấn đề CBXH như bài "Từ tư tưởng của C.Mác về công bằng và bình đẳng trong chủ nghĩa xã hội" của GS.TS Lê Hữu Tầng (Tạp chí Triết học số 2/1993), "Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay" của tác giả Lương Việt Hải (Tạp chí Triết học số 4/2004), “Về vai trò của nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong tiến trình hiện đại hóa” của tác giả Nguyễn Đình Hòa (Tạp chí Triết học số12/2002)…

Qua tìm hiểu có thể thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề CBXH dưới các góc độ khác nhau Các công trình này là những tài liệu tham khảo quan trọng của luận văn Tuy vậy, phần lớn các công trình trên tập trung vào khai thác mối quan hệ giữa CBXH và tăng trưởng kinh tế, chưa có tài liệu nào nghiên cứu trực tiếp những yếu tố tác động đến thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay Do vậy, luận văn tập trung nghiên cứu chủ đề này để góp phần làm rõ cách thức và quá trình thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay

Trang 9

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở làm rõ quan niệm, vai trò của việc thực hiện CBXH, những yếu tố

cơ bản tác động đến thực hiện CBXH, luận văn tập trung đánh giá thực trạng và

đề xuất một số giải pháp điều tiết những yếu tố tác động đến thực hiện CBXH ở Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ quan niệm về CBXH, vai trò của CBXH và những yếu tố cơ bản tác động đến quá trình thực hiện CBXH;

- Phân tích, đánh giá thực trạng tác động của những yếu tố cơ bản đến thực hiện CBXH ở Việt Nam hiện nay;

- Đề xuất một số giải pháp để phát huy những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực đến CBXH, nhằm thực hiện tốt hơn CBXH ở Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề CBXH Ngoài ra, luận văn cũng tham khảo, tiếp thu một số kết quả của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề này trong những năm gần đây Đặc biệt, luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thực hiện CBXH ở nước ta trong thời kỳ đổi mới

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp cụ thể của xã hội học như thống kê, so sánh,…

Trang 10

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những yếu tố cơ bản tác động đến thực hiện CBXH với ba yếu tố: kinh tế, chính trị, toàn cầu hóa; Thực trạng tác động của những yếu tố này đến thực hiện CBXH ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (từ 1986

đến nay)

6 Đóng góp của luận văn

- Khái quát những yếu tố cơ bản tác động đến thực hiện CBXH và thực trạng tác động của những yếu tố này đến thực hiện CBXH ở Việt Nam hiện nay;

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tác động của những yếu tố tích cực, hạn chế tác động của những yếu tố tiêu cực trong thực hiện CBXH ở

nước ta

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu chung về vấn đề

CBXH, đặc biệt là quá trình thực hiện CBXH

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc

nghiên cứu và giảng dạy những chuyên đề có liên quan đến CBXH, thực hiện CBXH ở Việt Nam hiện nay

8 Kết cấu của luận văn: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu

tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn bao gồm hai chương với năm tiết

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ NHỮNG

YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1.1 Quan niệm về công bằng xã hội

CBXH là vấn đề được đặt ra từ lâu trong lịch sử xã hội loài người, ngay từ khi con người ý thức được những bất công trong xã hội loài người Do đó, nó là một trong những vấn đề quan trọng được con người, trong mọi thời đại, quan tâm và đưa ra những cách giải quyết khác nhau CBXH là một nội dung tất yếu của tiến

bộ xã hội, trở thành một trong những mục tiêu mà con người hướng đến thông qua cuộc đấu tranh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội Thực tiễn lịch sử xã hội loài người cũng luôn chứng tỏ rằng, sự phát triển của xã hội luôn vận động theo hướng đạt đến sự công bằng và bình đẳng ngày càng nhiều hơn Tuy nhiên, ở mỗi một thời kỳ lịch sử khác nhau, nội dung của CBXH lại được hiểu khác nhau

a Một số quan niệm về công bằng xã hội trong lịch sử

- Quan niệm về CBXH trong các xã hội tiền TBCN:

Vào giai đoạn cuối của chế độ công xã nguyên thủy ở phương Tây, cùng với

sự phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ tư hữu xuất hiện dẫn đến sự phân chia

xã hội thành các giai cấp, tầng lớp khác nhau Các nhà nước cổ đại dần dần xuất hiện, mà ban đầu dưới hình thức những thành bang, vốn là những thành trì do các

bộ lạc xây dựng nên với mục đích phòng thủ, sau này nó phát triển lên thành trung tâm của nhà nước chiếm hữu nô lệ Mỗi một thành bang đều có các tổ chức chính trị và hành chính riêng, có sinh hoạt kinh tế, xã hội, phong tục tập quán riêng, có thần bảo hộ và các nghi thức tôn giáo riêng Việc sử dụng các công cụ bằng sắt trong sản xuất thủ công nghiệp đã khiến cho thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, sản xuất hàng hóa phát triển đã kích thích thương nghiệp và mậu dịch hàng hải phát triển Các khoa học tự nhiên như thiên văn học, khí tượng, vật lý, toán học cũng do vậy mà phát sinh và phát triển Giao lưu văn hóa với các nước

Trang 12

vùng Cận Đông đã biến các thành phố ở các quốc gia cổ đại, đặc biệt là Hy Lạp,

La Mã cổ đại, trở thành các trung tâm văn minh lớn của Châu Âu thời bấy giờ

Sự phát triển về kinh tế - xã hội như vậy làm biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp

và phá hủy công xã nông thôn Trong xã hội, một lực lượng đông đảo những người nô lệ được hình thành, là lực lượng lao động chủ yếu trong xã hội, nhưng

họ chỉ được coi là “công cụ biết nói”, không được hưởng một chút quyền lợi gì Nhà nước lúc bấy giờ là nền chuyên chính tàn bạo của giai cấp chủ nô, giai cấp thống trị trong xã hội Bởi vậy xã hội chiếm hữu nô lệ càng phát triển thì đấu tranh giai cấp giữa chủ nô và nô lệ, giữa người giàu và người nghèo càng ngày càng gay gắt

Việc sử dụng rộng rãi sức lao động của nô lệ là một trong những nguyên nhân làm cho lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay Nền kinh tế chiếm hữu nô lệ

đã sinh ra một đội ngũ trí thức đông đảo chuyên nghiên cứu triết học, khoa học Tuy vậy, đội ngũ trí thức này đều xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội, do vậy các

tư tưởng của họ chủ yếu nhằm phục vụ và bảo vệ cho giai cấp chủ nô Trong quan niệm của hầu hết các nhà tư tưởng thời kỳ cổ đại ở phương Tây, công bằng và bình đẳng xã hội bị giới hạn bởi lập trường giai cấp Theo họ, trong xã hội cần phải duy trì các hạng người khác nhau và do đó không thể có bình đẳng hoàn toàn giữa mọi người Theo đó, công bằng là công bằng giữa những người trong cùng một đẳng cấp chứ không phải giữa những người ở các đẳng cấp khác nhau

Platon (428 – 348 Tr.CN), một trong những nhà tư tưởng kiệt xuất thời cổ đại

đã có những quan điểm cụ thể về công bằng và bình đẳng xã hội Trong hai tác phẩm “Nhà nước” và “Luật lệ”, Platon đã khẳng định không có sự bình đẳng giữa các tầng lớp người khác nhau trong xã hội Từ đó, ông cho rằng, cần phải duy trì các hạng người khác nhau, thực hiện các dạng phân công lao động khác nhau nhằm thỏa mãn các nhu cầu xã hội Như vậy, theo Platon, trong xã hội đương thời hoàn toàn không có sự bình đẳng và điều đó là tất yếu Tuy nhiên, trong quan niệm của Platon, mặc dù xã hội không có sự bình đẳng nhưng vẫn có công bằng, bởi lẽ công

Trang 13

bằng là ở chỗ mỗi hạng người dù ở địa vị xã hội nào cũng phải làm hết trách nhiệm của mình, sống đúng tầng lớp của mình và biết được thân phận của mình

Aritstot (384 – 322 Tr.CN), nhà triết học vĩ đại của nền văn minh Hy Lạp cổ

đại, cho rằng, công bằng là phạm trù gắn với nhà nước, bởi luật pháp – tiêu chuẩn của sự công bằng – là quy phạm điều chỉnh mọi sự giao tiếp chính trị - xã hội Trên cơ sở pháp luật, tùy thuộc vào sự cống hiến của mỗi người mà họ được hưởng thụ một cách tương xứng Với quan niệm này, Aritstot đã hướng CBXH tới lĩnh vực phân phối trên cơ sở pháp luật Tuy vậy, cũng như Platon, do chưa thoát khỏi lập trường giai cấp của mình, Aritsot quan niệm công bằng là sự bình đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội, theo đó mỗi người phải sống đúng với địa

vị xã hội của mình Bản thân sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp trong xã hội cũng là công bằng

Trong xã hội phong kiến châu Âu, dưới sự thống trị của giáo hội và nhà thờ, các nhà tư tưởng thời kỳ này hầu như không đưa ra được một quan niệm đáng chú

ý nào về CBXH và tiến bộ xã hội Sự vận động của xã hội và bản thân con người sống trong xã hội đó đều được quan niệm là bị điều khiển và an bài bởi Thượng

đế, con người không có vai trò gì trong quá trình vận động của xã hội Khát vọng

về CBXH trong thời kỳ này được thể hiện chủ yếu thông qua các cuộc đấu tranh, khởi nghĩa đơn lẻ

- Quan niệm về CBXH trong xã hội TBCN:

Bước sang giai đoạn Phục Hưng ở Châu Âu (khoảng từ cuối thế kỷ XIV – XVIII), quan hệ sản xuất TBCN dần dần xác lập được địa vị của mình, xã hội cũng dần thoát khỏi sự thống trị của chế độ phong kiến và những quan điểm thần học trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thực nghiệm, nền sản xuất công nghiệp cũng có những bước phát triển mới Các công trường thủ công, hình thức sản xuất mang tính chất TBCN đầu tiên

ra đời, thay thế phường hội, tập trung dần năng lực sản xuất Bên cạnh đó, công cụ sản xuất nông nghiệp cũng được cải tiến, đất đai canh tác được mở rộng; sản xuất,

Trang 14

trao đổi hàng hóa có những bước tiến dài, phá vỡ khuôn khổ tự cung tự cấp Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa, mức độ trao đổi hàng hóa ngày càng

mở rộng hơn và ở trình độ cao hơn

Sự xuất hiện và ngày càng phát triển của phương thức sản xuất TBCN như một xu thế của lịch sử đã làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản cùng hệ tư tưởng

tư sản với giai cấp địa chủ phong kiến và hệ tư tưởng Cơ đốc giáo ngày càng sâu sắc Chính mâu thuẫn đó đã thúc đẩy hàng loạt các cuộc cách mạng tư sản nổ ra trên khắp lãnh thổ Châu Âu

Những cơ sở kinh tế - xã hội này đã khiến cho nội dung của những tư tưởng về CBXH không còn bị bó hẹp trong phạm vi của những đòi hỏi về quyền bình đẳng ở địa vị xã hội, mà đã ngày càng dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá của nền sản xuất hàng hóa, sử dụng nó như là thước đo của CBXH Tuy nhiên, trong nền sản xuất hàng hóa TBCN, mặc dù quan hệ trao đổi ngang giá được coi là thước đo của CBXH, nhưng quan hệ phân phối lại lệ thuộc vào quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Cho nên thước đo ấy của CBXH chỉ là công bằng đối với những người sở hữu tư liệu sản xuất, ngược lại là sự bất công và bất bình đẳng đối với những người chỉ sống dựa vào sức lao động của mình Giải pháp để giải quyết vấn

đề xã hội nhằm phát triển kinh tế cũng chỉ mang tính chất nửa vời, và chỉ được chính phủ tư sản xem là phương tiện để duy trì sự tồn tại của chế độ TBCN Vì thế, trong CNTB, CBXH chỉ là phương tiện chứ không phải là mục đích

Quan niệm về bình đẳng và tự do trong thời kỳ này không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc tiếp thu và khôi phục lại các tư tưởng truyền thống, mà còn phát triển với những màu sắc riêng của thời đại lịch sử Đa số các nhà tư tưởng tiến bộ trong thời kỳ này, trong khi đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế với nền tảng tư tưởng của nó là thần học, cũng như phê phán tính trạng bất công nảy sinh trong xã hội TBCN, họ đều đưa ra những mô hình xã hội mới xây dựng trên mô hình của

tự nhiên Đồng thời, các nhà tư tưởng luôn đề cao con người và các quyền của con người trong xã hội Tình hình đó thúc đẩy hình thành những quan niệm mới về

Trang 15

CBXH, tiến bộ xã hội, khi nhiều nhà tư tưởng coi công bằng và bình đẳng là tiêu chuẩn để đánh giá một xã hội tiến bộ

Tiếp thu tư tưởng của các đại biểu thời kỳ Phục hưng, các nhà XHCN không tưởng mà tiêu biểu là ba nhà XHCN không tưởng – phê phán nửa đầu thế kỷ XIX ở

Pháp và Anh là Xanh-Xi-mông (1760 – 1825), S.Phuriê (1772 – 1837), R.Ô-oen

(1771 – 1858) đều cho rằng trong xã hội TBCN không thể có CBXH Theo các ông, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chính là nguyên nhân làm nảy sinh và làm trầm trọng thêm sự bất công trong xã hội Sự giàu có ngày càng tập trung về phía giai cấp tư sản, giai cấp có quyền sở hữu của cải của xã hội; còn sự bần cùng, nghèo khổ ngày càng tập trung về phía giai cấp vô sản, giai cấp những người không có quyền sở hữu của cải xã hội Để xóa bỏ tình trạng này, theo các ông, phải xây dựng một xã hội mới khác về căn bản so với xã hội TBCN Mô hình xã hội lý tưởng mà các ông đưa ra hoạt động theo nguyên tắc tối cao: mọi người đều bình đẳng, đều phải lao động và thậm chí lao động trở một thành nhu cầu không thể thiếu của mỗi người; mọi người đều được hưởng thụ như nhau và xóa bỏ mọi đặc quyền, đặc lợi trong xã hội Đây là một tư tưởng rất tiến bộ về CBXH Nó nói lên một đòi hỏi tất yếu để thực hiện CBXH là phải xóa bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ hình thức sở hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất, xác lập một chế độ xã hội mới dựa trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất Nhưng khi giải quyết câu hỏi: làm thế nào để xóa bỏ xã hội TBCN và xây dựng xã hội mới thì các nhà XHCN không tưởng đều chưa tìm thấy đuợc những biện pháp, cách thức đúng đắn Đó là do các ông chưa nhận thức được bản chất của xã hội TBCN và quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, cũng như chưa đánh giá đúng vị trí, vai trò của giai cấp vô sản trong lịch sử xã hội Chính

vì vậy, lý thuyết của các ông vẫn rơi vào không tưởng

Những quan niệm về CBXH và bình đẳng xã hội đã được tiếp tục kế thừa và

phát triển trong các thế kỷ XIX – XX, một mặt, bởi C.Mác, Ph Ăngghen, V.I.Lênin và các nhà tư tưởng tiêu biểu của CNXH khoa học; mặc khác, bởi một số nhà triết học phương Tây, trong đó, đáng kể nhất là quan điểm của John

Trang 16

Rawls (1921 – 2002) , nhà triết học chính trị Mỹ, người đã đưa ra lý thuyết về

CBXH, với mong muốn khắc phục được hạn chế của nhiều quan điểm trước đó về công lý, và về công bằng J.Rawls coi lý thuyết của mình là sự tiếp nối và phát triển những tư tưởng truyền thống về CBXH trong lịch sử, mà đặc biệt là tư tưởng “Khế ước xã hội” của J Rútxô và những tư tưởng về đạo đức học của I Kant Trong tác phẩm “Lý thuyết về công lý” (A theory of justice) (1971), vấn đề công bằng và bình đẳng đã được J.Rawls nghiên cứu một cách hệ thống mang tính lý thuyết thuần túy,

mà đối tượng của công bằng được ông xác định là thể chế xã hội nói chung Theo J.Rawls, công bằng chỉ có được khi con người tự nguyện cùng tham dự vào hợp tác

xã hội để làm sao mỗi cá nhân giành được lợi ích nhiều hơn so với khi họ sống đơn

lẻ Trong quan niệm của J.Rawls, sự công bằng hay không công bằng trong một thể chế xã hội không phải là sự khác nhau về xuất phát điểm của mỗi cá nhân, mà chỉ chủ yếu ở chỗ: khi tham gia vào hợp tác xã hội, cho dù có sự bất bình đẳng vì có những khác biệt bẩm sinh và địa vị xã hội giữa người với người, nhưng nếu đó là sự chấp nhận mang tính tự nguyện trong cơ chế hoạt động hợp tác xã hội chung đó thì vẫn được coi là công bằng Vì thế, một thể chế xã hội là không công bằng, nếu thể chế đó bị những người ở một giai cấp này lợi dụng những nhân tố ngẫu nhiên để biến thành đặc quyền, đặc lợi cho riêng mình, và biến nó thành sự bất lợi cho những người ở giai cấp khác - những người không biết được rằng đang có sự chi phối của những yếu tố ngẫu nhiên đó Ông đã đưa ra nguyên tắc “tối đa hóa cái tối thiểu” cho những người bị thiệt thòi, yếu thế trong xã hội, xem đó như là lý tưởng xã hội công bằng và con đường tiến lên xã hội đó bằng đạo đức Nói tóm lại, mặc dù rất cố gắng và hy vọng đưa ra được một quan niệm mới về CBXH, song lý thuyết của ông vẫn chứa đựng không ít hạn chế rất khó khắc phục, thậm chí cả những bất hợp lý và còn dừng ở mức chung chung [38]

Như vậy, vấn đề CBXH đã được đề cập trong suốt tiến trình phát triển lâu dài của lịch sử loài người, nó phản ánh sâu sắc quá trình đấu tranh của các giai cấp về quyền sở hữu, tổ chức, quản lý sản xuất và phân phối, trao đổi sản phẩm lao động

Trang 17

Các nhà tư tưởng đã trình bày những quan niệm và đưa ra những giải pháp khác nhau để thực hiện CBXH Mặc dù chưa thật đầy đủ và hệ thống, nhưng những tư tưởng đó là những tiền đề lý luận quan trọng làm cơ sở cho việc nhận thức và giải quyết vấn đề CBXH trong thực tiễn

b Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định CBXH là sản phẩm của đời sống xã hội,

là quan hệ giữa con người với con người hình thành trong quá trình con người hoạt động sinh sống Về thực chất, CBXH là mối quan hệ giữa con người trong xã hội về mặt lợi ích, trong đó lợi ích kinh tế là cơ bản nhất, có ý nghĩa quyết định

Do vậy, thực hiện CBXH, trước hết, phải giải quyết vấn đề CBXH trên lĩnh vực kinh tế và phải thực hiện từng bước, xuất phát từ những điều kiện thực tế của sự phát triển sản xuất

Nghiên cứu nền sản xuất TBCN, các nhà sáng lập chủ nghĩa C.Mác vạch rõ cơ

sở khách quan của tình trạng bất công trên lĩnh vực kinh tế trong CNTB là do chế

độ tư hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động Để xóa bỏ sự bất công đó cần xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân TBCN và thiết lập chế độ sở hữu mới, sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất Điều đó chỉ có thể được thực hiện thông qua lực lượng vật chất thực tế của xã hội, đó chính là giai cấp công nhân được tổ chức một cách khoa học, đồng thời lôi cuốn và đoàn kết đông đảo nhân dân tiến hành một cuộc đấu tranh cách mạng, thay thế xã hội TBCN bằng xã hội XHCN, xã hội cộng sản chủ nghĩa CBXH, qua đó, được giải quyết từng bước cùng với việc xóa bỏ quan hệ sản xuất TBCN và xây dựng, phát triển quan hệ sản xuất XHCN Đứng trên lập trường bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã xây dựng quan điểm về CBXH mà nội dung chủ yếu của

nó chính là nguyên tắc phân phối theo lao động, được trình bày tập trung trong tác

phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta” (1875) Theo C.Mác, trong nền sản xuất TBCN, quan hệ trao đổi ngang giá khi mua và bán sức lao động được nhà tư bản coi là quan

hệ công bằng Nhưng trên thực tế, hàng hóa sức lao động lại có đặc điểm là khi đưa vào sử dụng còn tạo ra một số lượng giá trị lớn hơn nó trước khi được đưa vào sử

Trang 18

dụng, cho nên việc người công nhân chỉ được nhận lại “tiền công của lao động”, còn phần giá trị gia tăng do sức lao động tạo ra không được trả công và chuyển thành lợi nhuận của nhà tư bản đã làm cho quan hệ trao đổi ngang giá đó không thể được coi là công bằng Đó chính là bản chất bất công của chế độ phân phối TBCN Vì vậy, theo các ông, muốn có CBXH phải thực hiện được nguyên tắc phân phối theo lao động, nhưng phải phân phối đúng với giá trị của sức lao động

Sở dĩ trong chế độ sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất, mong muốn thực hiện được nguyên tắc phân phối (theo lao động) của những người XHCN trên đây không thể trở thành hiện thực, bởi vì theo quan điểm của C.Mác và Ph Ăngghen, bao giờ “sự công bằng hình như đòi hỏi cả hai bên ngay từ đầu đã phải được đặt vào những điều kiện như nhau”[23,367], thế nhưng trong nền sản xuất TBCN sự thật lại không phải như vậy Trong cuộc chạy đua với nhà tư bản, người lao động luôn ở vào thế bất lợi “Nếu nhà tư bản không đồng ý với công nhân, thì y có điều kiện để chờ đợi và sống bằng tư bản của y Người công nhân không thể làm như thế được…Cái đói đặt anh ta vào một hoàn cảnh hết sức bất lợi Thế mà, theo khoa học kinh tế chính trị của giai cấp các nhà tư bản, đó là đỉnh cao của sự công bằng” [23,367] Để xây dựng được một xã hội công bằng thực sự thì phải xóa bỏ bất bình đẳng về những điều kiện ban đầu ấy Muốn thế, phải làm cho mọi người được bình đẳng trong quan hệ sở hữu, tức là làm cho mọi người phải ngang nhau

về địa vị trong quan hệ với tư liệu sản xuất Đó mới chính là xuất phát điểm bình đẳng làm cơ sở để thực hiện được công bằng thực sự trong xã hội Và điều này chỉ

có được trong CNXH

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ nguyên tắc công bằng dưới chủ nghĩa nghĩa xã hội là: sau khi khấu trừ đi những khoản cần thiết để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như để duy trì đời sống của cộng đồng, toàn bộ sản phẩm xã hội còn lại sẽ được phân phối theo cách thức: mỗi người sản xuất sẽ được nhận lại từ xã hội một

số lượng sản phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội C.Mác nhấn mạnh rằng, phân phối theo lao động cũng chỉ là

Trang 19

công bằng trong điều kiện giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng đồng (cộng sản), chứ chưa phải là công bằng hoàn toàn Bởi vì “với một công việc ngang nhau và do

đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia” [24,479] Nguyên nhân là “một cá nhân này, về thể chất và tinh thần lại hơn một cá nhân khác và do đó, trong cùng một thời gian như thế, người ấy cung cấp được nhiều lao động, hoặc có thể được lao động lâu hơn” [24,480] C.Mác cho rằng, những thiếu sót đó của công bằng là “không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng đồng chủ nghĩa”

Điều đó có nghĩa là trong khi thực hiện CBXH chúng ta vẫn chưa thực hiện được bình đẳng xã hội, nhất là trong điều kiện KTTT, thu nhập được phân bổ theo mức độ tham gia của những yếu tố (vốn, kỹ thuật, tài nguyên…) vào quá trình sản xuất; và do đó có thể đảm bảo công bằng về các phương diện kinh tế nhưng có thể không có được những bình đẳng trong những hoạt động chính trị, xã hội, vì trong

xã hội vẫn tồn tại những tầng lớp xã hội khác nhau Như vậy, CBXH chỉ thực sự

có được khi xã hội bước vào giai đoạn phát triển cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa, khi con người không còn phụ thuộc vào sự phân công lao động; khi lao động không đơn thuần là phương tiện sinh sống mà trở thành nhu cầu hoạt động

và phát triển; đó là xã hội mà không ai lợi dụng ưu thế của mình để lấn át hay áp bức người khác, sự bất bình đẳng được xóa bỏ hoàn toàn, mọi thành viên trong xã hội được sống theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” Nói cách khác, CBXH chính là một giá trị định hướng, và nó sẽ được thực hiện dần từng bước trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội để tiến tới sự công bằng và bình đẳng hoàn toàn trong xã hội

c Quan niệm của Hồ Chí Minh về công bằng xã hội

Tiếp thu quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội, Hồ Chí Minh đã bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo những quan niệm đó vào công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam Hồ Chí Minh khẳng định: trong chế độ xã hội

Trang 20

thực dân, phong kiến hoàn toàn không có CBXH Trong xã hội đó, những người lao động - lực lượng chủ yếu sáng tạo nên của cải vật chất cho xã hội, thì suốt đời nghèo khổ, trong khi một số ít người không lao động thì lại “ngồi mát ăn bát vàng” Giải thích căn nguyên dẫn tới “nỗi chẳng công bằng” này, Hồ Chí Minh cho rằng,

đó là vì: “một số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội” [28,203] Từ những nhận định này, Hồ Chí Minh kết luận rằng, công bằng chỉ thực

sự có được trong chế độ xã hội mới - chế độ dân chủ cộng hòa, nơi “nhân dân có

nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi” [28,219] Hơn nữa, sự công bằng của chế độ

XHCN còn được đảm bảo bằng những cơ sở vững chắc Điều này thể hiện ở chỗ:

“Nhà nước này là của tất cả những người lao động… Nhân dân lao động là những người chủ tập thể của tất cả những của cải vật chất và văn hóa, đều bình đẳng về

nghĩa vụ” [31,310]

Tư tưởng về CBXH được Hồ Chí Minh thể hiện một cách sinh động, linh hoạt trong những hoàn cảnh và tình huống cụ thể khác nhau của quá trình xây dựng đất nước Khi nói đến CBXH, Hồ Chí Minh thường gắn nó với quan niệm về bình đẳng xã hội, thông qua mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ

và quyền lợi, của mỗi thành viên trong xã hội Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã coi

CBXH chính là bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi Với quan niệm như vậy,

Người đòi hỏi tất cả những người lao động ngày nay đều phải nhận rõ mình là người chủ nước nhà; và đã có quyền hạn làm chủ thì phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ - đó là cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng CNXH, nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động Người khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng” [30,175] Quan điểm này cũng được thể hiện rất rõ trong Di chúc của Người; trong đó, Người căn dặn toàn Đảng, Chính phủ và toàn dân khi cuộc kháng chiến chống Mỹ toàn thắng, một trong những việc phải làm đầu tiên là thực hiện CBXH: “Đối với những người dũng cảm hy sinh một phần xương máu của

Trang 21

mình… Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm cách lo cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn… Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ) mà thiếu sức lao động

và túng thiếu, thì chính quyền địa phương phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ đói rét” [32,503]

Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, việc thực hiện CBXH là một yêu cầu bức thiết, và yêu cầu đó lại càng bức thiết khi cuộc sống gặp nhiều khó khăn Ngay trong thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ đi vào giai đoạn quyết liệt, nhân dân miền Bắc phải chịu nhiều thiếu thốn, dồn tài lực, vật lực cho tiền tuyến lớn miền Nam, Hồ Chí Minh đã phát biểu trước Hội đồng Chính phủ:

“Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng

Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên” [32,185]

Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, thực hiện CBXH với nguyên tắc ngang bằng nhau giữa người với người trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ… trong hoàn cảnh nước nhà còn nhiều khó khăn về kinh tế cũng không có nghĩa là có thể làm cho đời sống của nhân dân

có ngay được sự no đủ Do đó, không được coi việc thực hiện CBXH như một sự cào bằng trong nghèo khổ Người khẳng định: “Không phải chúng ta ham chuộng

khổ hạnh và bần cùng Trái lại, chúng ta phấn đấu hy sinh, vì chúng ta muốn xây dựng một xã hội ai cũng ấm no, sung sướng” [29,226]

Qua đó cho thấy, Hồ Chí Minh quan niệm về CBXH có tính thực tiễn sâu sắc,

do đó rất khoa học và toàn diện Người không chỉ khẳng định vai trò của CBXH là

để “yên dân” mà còn khẳng định CBXH vừa là chính sách xã hội, chính sách kinh

tế, vừa mang tính đạo lý, nhân văn Tư tưởng Hồ Chí Minh về CBXH chính là sự

bổ sung và tiếp tục phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguyên tắc phân phối theo lao động - một nguyên tắc đảm bảo CBXH trong quá trình phát triển theo định hướng XHCN

Trang 22

d Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội

CBXH là mục tiêu được xác định ngay từ những ngày đầu bước vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta Quan điểm của Đảng về CBXH và nội dung của việc thực hiện CBXH có sự thay đổi qua hai giai đoạn phát triển lớn: thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ sau đổi mới đến nay

Trước đổi mới, từ quan điểm cho rằng chế độ tư hữu là nguồn gốc của sự bóc lột, của tình trạng bất công và bất bình đẳng xã hội nên trong thực tiễn, việc xóa

bỏ chế độ tư hữu đã trở thành nội dung chủ yếu trong hoạt động của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện CBXH ở thời kỳ này Cùng với việc củng cố và hoàn thiện quan hệ sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, Đảng ta đã nhấn mạnh đến việc phải tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động – một nguyên tắc quyết định cho việc thực hiện CBXH trong thời kỳ quá độ lên CNXH Tuy vậy, do thực hiện nguyên tắc này trong khuôn khổ của cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp nên

đã làm cho nó bị biến dạng, trở thành vật cản đổi với sự phát triển của lực lượng sản xuất Kết quả là phân phối theo lao động thực tế bị biến dạng thành phân phối mang tính chất cào bằng, bình quân, không tính đến hiệu quả kinh tế thực sự và chính nguyên tắc này đã làm triệt tiêu động lực tăng trưởng kinh tế

Khắc phục những sai lầm của tư tưởng chủ quan, nóng vội, giản đơn về CNXH, Đại hội VI (năm 1986) đã quyết định chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản

lý của nhà nước theo định hướng XHCN Đồng thời, Đại hội VI đã đưa ra quan niệm mới về CBXH khi xác định rằng không thể thực hiện CBXH sớm bằng cách xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN Đại hội xác định, CBXH chỉ có thể đạt được từng bước tương ứng với sự phát triển của CNXH, trên nền tảng của

sự phát triển kinh tế nhất định Đại hội cũng nêu một số quan điểm quan trọng chỉ đạo việc thực hiện CBXH Văn kiện Đại hội khẳng định: “Tôn trọng lợi ích chính đáng của những hoạt động kinh doanh hợp pháp, có ích cho xã hội Ngăn chặn và

Trang 23

xử lý nghiêm khắc các nguồn thu nhập bất chính… Nghiêm trị những kẻ phạm pháp bất kỳ ở cương vị nào… Bảo đảm sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi công dân, chống đặc quyền, đặc lợi”[9,423]

Đại hội VI tiếp tục nhấn mạnh tới nguyên tắc phân phối theo lao động, tuy nhiên không tuyệt đối hóa nguyên tắc này, coi nó là nguyên tắc phân phối duy nhất đúng trong thời kỳ quá độ lên CNXH: “Giải quyết một phần quan trọng việc làm cho người lao động và bảo đảm về cơ bản phân phối theo lao động Thực hiện công bằng xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta”[9,378]

Đại hội VII (năm 1991) diễn ra trong điều kiện nước ta đang trong quá trình tìm tòi, từng bước thể nghiệm những bước đi đầu tiên của sự nghiệp đổi mới, mạnh dạn phát triển kinh tế thị trường dước sự quản lý của nhà nước XHCN Bên cạnh hình thức phân phối cơ bản theo lao động, Đại hội VII thừa nhận các hình thức phân phối khác: “Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu”[3,10] Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) thể hiện rõ hơn quan điểm của Đảng về CBXH dưới góc độ phân phối này: “phân phối theo lao động là chủ yếu, khuyến khích và đãi ngộ xứng đáng các tài năng; đồng thời phân phối theo nguồn vốn đóng góp vào sản xuất kinh doanh”[4,47] Đây là quan niệm mới về phân phối của Đảng nhằm tiến tới CBXH một cách thực tế, điều này phù hợp với hoàn cảnh của nước ta trong giai đoạn thúc đẩy nền kinh tế, phát huy mọi nguồn lực, nâng cao đời sống nhân dân Ngoài ra, đến Văn kiện Đại hội VIII (năm 1996), Đảng ta đề cập thêm hình thức phân phối thông qua phúc lợi xã hội, hình thức phân phối này ngoài việc có ý nghĩa mở rộng CBXH còn thể hiện bản chất ưu việt của chế độ XHCN Đồng thời, quan niệm về CBXH không chỉ dừng ở phân phối hợp lý tư liệu sản xuất, kết quả lao động mà còn thể hiện ở công bằng về cơ hội; “Công bằng xã hội thể hiện cả ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất, lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng”[4,47]

Trang 24

Tới Đại hội IX (năm 2001), nguyên tắc phân phối được Đại hội thông qua đã thể hiện được một nội dung đầy đủ, rõ ràng và cụ thể hơn so với các nguyên tắc phân phối được nêu ra trong các Văn kiện trước: “Kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội”[6,88] Bên cạnh hình thức đóng góp về lao động, vốn thì Đảng ta vẫn tiếp tục khuyến khích các hình thức đóng góp khác cùng với phúc lợi xã hội

Ngoài việc tiếp tục nhấn mạnh quan điểm về CBXH đã được thể hiện từ các Đại hội trước, Đại hội X đã khẳng định thực hiện CBXH phải thể hiện trong việc xây dựng và tiến hành mọi chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế -

xã hội: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội”[8,26]

CBXH đã được Đảng quan niệm phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhất định, do vậy mà CBXH không chỉ là mục tiêu mà đã thực sự trở thành động lực cho sự tăng trưởng kinh tế Ở đây, CBXH được hiểu theo hai góc độ: CBXH theo chiều ngang và CBXH theo chiều dọc CBXH theo chiều ngang nghĩa là đối xử ngang nhau với những người có đóng góp như nhau và CBXH theo chiều dọc nghĩa là đối xử khác nhau đối với những người có những khác biệt bẩm sinh hoặc

có điều kiện xã hội khác nhau

Trang 25

Tóm lại, từ những quan điểm trên đây, có thể hiểu công bằng xã hội theo

nghĩa chung nhất là sự ngang bằng nhau trong mối quan hệ giữa người và

người dựa trên nguyên tắc thống nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ, phù hợp với khả năng hiện thực của những điều kiện kinh

tế - xã hội nhất định

CBXH được coi như một giá trị định hướng để con người sinh sống và phát triển trong các quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng về cả vật chất và tinh thần CBXH thường được xem xét ở nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức,… trong đó phương diện kinh tế, tức là sự phù hợp, tương xứng giữa lao động, đóng góp (của cá nhân, nhóm xã hội) vào quá trình sản xuất với sự hưởng thụ những kết quả của sản xuất là phương diện cơ bản nhất Khía cạnh chính trị, pháp luật của CBXH là sự tương xứng, chẳng hạn, giữa công lao của những người đã chiến đấu, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với sự đánh giá, ghi công, đền đáp của xã hội, hoặc giữa sự thiệt hại mà cá nhân gây ra cho xã hội với những hình phạt của xã hội đối với họ Về mặt xã hội, CBXH là một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của con người và phát triển xã hội Do vậy, trong mỗi bước phát triển kinh tế cần thực hiện đồng thời CBXH để có được sự phát triển bền vững Thực hiện CBXH là hoạt động có tính tích cực, chủ động của các chủ thể (đảng, nhà nước, tổ chức xã hội các cấp và tất cả người dân) để xác lập sự ngang bằng nhau giữa người với người (cá nhân, nhóm xã hội) trên nguyên tắc phù hợp giữa sự đóng góp với sự thụ hưởng của cá nhân và nhóm xã hội trong mỗi bước tăng trưởng kinh tế, nhằm đạt được sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, khi tư liệu sản xuất chưa thể công hữu hóa hoàn toàn, trong xã hội còn tồn tại nhiều loại hình sở hữu khác nhau, thì quan niệm về cống hiến không chỉ là cống hiến sức lao động, mà sự đóng góp các nguồn lực khác cho phát triển xã hội cũng được thừa nhận và được hưởng thụ tương xứng Mặc dù nguyên tắc cống hiến như thế nào, hưởng thụ như thế ấy

Trang 26

được coi là công bằng, thì từ nguyên tắc này có thể vẫn nảy sinh những bất công,

do cơ hội để cống hiến như cơ sở kinh tế, điều kiện sức khỏe, nơi sinh sống, làm việc… không giống nhau dẫn đến hưởng thụ khác nhau Cho nên, việc thực hiện CBXH phải đảm bảo được cả hai mặt: một mặt thực hiện cống hiến như thế nào thì hưởng thụ như thế ấy, mặt khác phải tạo sự công bằng về cơ hội cho mọi thành viên xã hội Ở đây, các khái niệm cống hiến và hưởng thụ được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả những cống hiến, hưởng thụ tích cực (như công trạng và sự tôn vinh) và tiêu cực (như tội ác và sự trừng phạt) Nói đến “công bằng về cơ hội” không phải là “tạo cơ hội ngang nhau cho mọi người”, mà là tạo cơ hội phù hợp cho mỗi người Từng thành viên gắn bó với cộng đồng xã hội thông qua khả năng cống hiến trí tuệ, sức lực của họ cho sự phát triển xã hội và được xã hội chăm sóc,

bù đắp trở lại một cách tương xứng; không có sự tương xứng ấy là bất công Việc thực hiện CBXH, do đó về thực chất, là sự ứng xử một cách hợp lý nhằm điều tiết mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân, các nhóm xã hội, các vùng, miền… trong quá trình tìm kiếm lợi ích

Với quan niệm như trên, CBXH có những đặc điểm cơ bản như sau:

- CBXH có tính khách quan, bởi vì, CBXH xuất phát từ nhu cầu khách quan

của sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội; có CBXH thì mới khuyến khích người lao động hăng hái tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất và tinh thần cho

xã hội CBXH không chỉ phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội, vào mối tương quan giữa lao động phức tạp và lao động giản đơn, vào tính chất của quan hệ sản xuất; mà còn phụ thuộc vào trình độ văn hóa, văn minh của xã hội

- CBXH là một khái niệm mang tính lịch sử, có sự phát triển từ thấp đến cao

Mỗi xã hội có một thước đo riêng về CBXH do hoàn cảnh lịch sử từng xã hội đó quy định Ph.Ăngghen từng nhận xét: công bằng của người Hy Lạp và người La

Mã là công bằng của chế độ nô lệ; còn công bằng của giai cấp tư sản năm 1789 là những đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ phong kiến mà nó coi là bất công Nhận thức

Trang 27

của con người về bất công ở mức độ nào đó sẽ hướng con người vươn tới sự công bằng ở mức độ tương ứng CBXH, do vậy, trong từng giai đoạn lịch sử, với những thể chế chính trị khác nhau thì có những tiêu chí khác nhau; không thể có một quan niệm công bằng chung cho mọi thời đại, mọi quốc gia như một chuẩn mực

“bất di bất dịch”

- Trong xã hội có giai cấp, CBXH là khái niệm vừa có tính giai cấp vừa có tính xã hội Mỗi một giai cấp, nhóm xã hội khác nhau sẽ có những quan niệm

khác nhau về các chuẩn mực CBXH, cũng như cách thức thực hiện nó Việc đặt ra

và giải quyết vấn đề này không chỉ phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể

mà còn phụ thuộc vào trình độ nhận thức, đặc biệt là sự chi phối lợi ích của các giai cấp, các nhóm chủ thể xã hội Bởi lẽ suy cho cùng, địa vị của từng giai cấp, nhóm xã hội trong sản xuất, phân phối và trao đổi sẽ là nhân tố quyết định nhu cầu và lợi ích của họ và từ đó, chi phối quan niệm về công bằng của chính họ Tuy nhiên, quan niệm về công bằng của giai cấp thống trị sẽ chi phối quan niệm về công bằng chung của toàn xã hội Mặt khác, cũng không thể có CBXH chỉ có lợi cho một giai cấp duy nhất mà lại được toàn thể xã hội chấp nhận Vì rằng, tính giai cấp của CBXH chỉ có thể tồn tại trong tổng thể và dung hòa với ý chí, lợi ích chung của toàn xã hội Do vậy, CBXH còn có tính xã hội, tức là trở thành chuẩn mực công bằng chung, phổ biến của toàn xã hội Đó là nền tảng, môi trường để tính giai cấp của khái niệm này tồn tại và phát triển

- CBXH là giá trị định hướng, là khát vọng lớn lao của con người nhằm thỏa

mãn những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần, do vậy CBXH vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong sự phát triển lịch sử

Để đánh giá sự công bằng, đòi hỏi phải so sánh phần hưởng thụ của các cá nhân, nhóm xã hội với phần đóng góp, cống hiến của họ Ở đây, phần hưởng thụ

về cơ bản có thể lượng hóa được dễ dàng hơn, còn phần đóng góp, cống hiến, nhất

là sự đóng góp, cống hiến về tài năng và trí tuệ thì rất khó có thể lượng hóa một cách chính xác được Thêm vào đó, sự đóng góp của cá nhân không những cần

Trang 28

được xem xét trong hiện tại mà còn cần phải tính đến cả những đóng góp trong quá khứ và tương lai Chính sự đa dạng trong hình thức đóng góp và thụ hưởng như vậy khiến cho sự CBXH thường không được bộc lộ rõ ràng Do vậy, sự đánh giá đơn giản, hời hợt về vấn đề này có thể dẫn đến việc ngộ nhận công bằng thành bất công hoặc ngược lại Xác định thế nào là công bằng, thế nào là bất công, không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề thực tế

Để xác định mức độ CBXH, người ta đã sử dụng nhiều loại thước đo khá phức tạp, nhưng cũng chỉ mới đạt được kết quả có tính tương đối, và cũng mới chỉ xác định được sự bất công bằng trong phân phối thu nhập, như:

- Phương pháp phổ biến nhất là tính tỷ lệ giữa 20% số người giàu nhất và 20% số người nghèo nhất

- Đường cong Loren: được biểu thị trong một hình vuông, cạnh đáy là % số người được nhận thu nhập, cạnh bên là số % tổng thu nhập được phân phối, đường chéo là đường bình đẳng tuyệt đối trong phân phối thu nhập, vì mọi điểm nằm trên đường chéo phản ánh mức phân bổ đồng đều nhau giữa % dân số và % thu nhập Đường cong Loren càng gần đường bình đẳng tuyệt đối thì phân phối càng công bằng và ngược lại

- Hệ số Gini: tính bằng tỷ lệ diện tích giữa hình được tạo bởi đường chéo của hình vuông và đường cong Loren, với hình tam giác vuông được tạo bởi cạnh đáy hình vuông với cạnh bên phải Hệ số này bằng 0 tức là hoàn toàn công bằng trong phân phối thu nhập Dựa vào những số liệu thu được, Ngân hàng thế giới nhận xét

hệ số Gini tốt nhất thường xoay quanh 0,3

Người ta còn đưa ra nhiều tiêu chí khác để đo mức độ CBXH một cách toàn diện hơn, trong đó có:

- Mức độ nghèo khổ: xác định ranh giới của sự nghèo khổ, chẳng hạn Liên hợp quốc xác định những người có mức sống dưới 1USD/ngày ở các nước đang phát triển thì được gọi là nghèo khổ, còn ở các nước phát triển con số này là

Trang 29

14USD/ ngày Hoặc người ta quy định những chuẩn nghèo quốc gia để xác định

số người nghèo trong từng nước

- Mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, như xác định mức độ tối thiểu về dinh dưỡng, sức khỏe, mặc, ở và các khả năng bảo đảm sự phát triển

cá nhân Những nhu cầu ở mỗi nước thực hiện khác nhau Tuy nhiên một xã hội không thể được coi là công bằng khi đại bộ phận dân cư không bảo đảm được những nhu cầu tối thiểu

- Chỉ số phát triển xã hội tổng hợp do Viện nghiên cứu phát triển xã hội của Liên hợp quốc đưa ra với 73 chỉ tiêu về kinh tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, văn hóa, giáo dục…

- Gần đây Liên hiệp quốc đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI) và được sử dụng khá phổ biến, với 3 tiêu chí: GDP bình quân đầu người; trình độ giáo dục thể hiện qua tỷ lệ phần trăm biết chữ của người lớn; tuổi thọ bình quân, phản ánh sự tiến bộ xã hội xã hội về y tế Chỉ số này được xếp theo dãy giá trị từ 0 (mức độ phát triển thấp nhất) đến 1 (mức độ phát triển con người cao nhất)

1.1.2 Mối quan hệ giữa công bằng xã hội và bình đẳng xã hội

Khái niệm CBXH không tách rời khái niệm bình đẳng xã hội, do đó cần phải nghiên cứu hai khái niệm này trong mối quan hệ với nhau Trên thực tế, bình đẳng

và công bằng là những khái niệm chỉ được dùng trong mối quan hệ giữa người với người về mặt xã hội Do đó, khi nói đến bình đẳng và công bằng thì cũng có nghĩa

Trang 30

Trong thời gian gần đây, các nhà xã hội học thường nói đến hai loại bình đẳng:

bình đẳng về cơ hội và bình đẳng về hưởng thụ Bình đẳng về cơ hội thể hiện

quyền của các cá nhân, nhóm xã hội được tiếp cận ngang nhau với những điều kiện do xã hội tạo ra (như bình đẳng về những điều kiện tham dự vào quá trình giáo dục, đào tạo để có được một trình độ văn hóa, nghề nghiệp nhất định, bình đẳng trong quan hệ với tư liệu sản xuất…) để mọi người có thể tham gia một cách tốt nhất vào lao động sản xuất, thực hiện nghĩa vụ xã hội và vào các hoạt động

phong phú khác của xã hội Bình đẳng về hưởng thụ là sự ngang bằng nhau giữa

các cá nhân hay nhóm xã hội trong việc hưởng thụ những của cải vật chất và tinh

thần đã được xã hội tạo ra Bình đẳng về cơ hội là điều kiện để có bình đẳng về hưởng thụ

Trong khi đó, nói tới công bằng xã hội là nói tới sự ngang bằng nhau giữa

người với người không phải về một phương diện bất kỳ, mà về một phương diện hoàn toàn xác định: giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến (thực hiện nghĩa vụ) ngang nhau thì hưởng thụ (được hưởng quyền lợi) ngang nhau [45, 27–28] Điều đáng lưu ý ở đây là không được hiểu CBXH theo nghĩa rằng nếu anh đóng góp một lượng A nào đó thì anh sẽ nhận lại cũng lượng A đó dưới hình thức khác Công bằng không phải là sự ngang bằng nhau về lượng hay chất giữa cái bỏ ra và cái thu về Vấn đề cốt yếu ở đây là sự so sánh tỷ lệ Công bằng là đạt được sự tương đương giữa phần mà cá nhân hay nhóm

xã hội nào đó đóng góp và phần mà họ nhận được với tỷ lệ ấy ở những cá nhân hay nhóm xã hội khác Không công bằng là các tỷ lệ đó không có sự tương đương Như vậy, bình đẳng có thể hiểu là công bằng chung; còn công bằng là bình đẳng được nhận thức, được đáp ứng, được thỏa mãn một cách thực tế trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Thực hiện công bằng chính là thực hiện một phần của bình đẳng xã hội Bình đẳng nhằm thực hiện nhu cầu; còn công bằng nhằm thực hiện lợi ích; công bằng chính là cái thỏa mãn bình đẳng trong một phương diện lịch sử

cụ thể Trong thực tế, cùng một sự vật, một hiện tượng, đối với chủ thể này có ý

Trang 31

nghĩa công bằng, nhưng đối với chủ thể khác lại không phải là công bằng Nhưng bình đẳng lại có giá trị phổ biến đối với các chủ thể Công bằng là khâu quyết định chuyển hóa các điều kiện khách quan thành động cơ tư tưởng bên trong, trực tiếp thúc đẩy con người hoạt động, để thực hiện hàng loạt các quan hệ xã hội với tính cách là khâu trung gian tất yếu trong quá trình thỏa mãn nhu cầu bình đẳng

Do công bằng vừa là biểu hiện lịch sử cụ thể vừa là “phương tiện” để thực hiện bình đẳng, nên không chỉ có công bằng trong phân phối, mà công bằng còn hiện diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Bình đẳng chỉ được khẳng định bằng tư tưởng, bằng pháp luật; còn việc thực hiện nó trong thực tế phải thông qua công bằng, qua các quan hệ lợi ích cụ thể của các chủ thể CBXH là khái niệm

có tính định lượng, hoặc ít nhất nó gần với sự định lượng Nó thường được “cân đong” qua hưởng thụ, “tiêu dùng” của cá nhân ở mỗi một thể chế (từng dân tộc, quốc gia) và tương quan giữa các quốc gia, khu vực và nền văn hóa Còn bình đẳng xã hội lại nghiêng về định tính (nghiêng về đánh giá, nhận định…) Vì vậy, người ta có thể nhận thấy các tiêu chí của CBXH, từ đó mà nhận thức về bình đẳng xã hội.Trong quá trình phát triển của CNXH từng bước một, CBXH có thể

và phải đóng vai trò điều hòa được các quan hệ thị trường, điều hòa được các lợi ích cá nhân, cộng đồng và xã hội để tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho sự phát triển tự do của mỗi người và của mọi người Nghĩa là cùng với sự phát triển

của CNXH, CBXH từng bước tiếp cận với bình đẳng xã hội

1.2 VAI TRÒ CỦA CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

1.2.1 Công bằng xã hội là một mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Lịch sử CNH, HĐH cho thấy, nhiều nước đã coi tăng trưởng kinh tế là cái đích trước nhất, chủ yếu nhất, thậm chí là duy nhất của tiến trình CNH, HĐH Và

để đạt được mục đích đó, người ta sẵn sàng đánh đổi bằng mọi giá, kể cả bằng việc hy sinh những lợi ích thiết thân nhất của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là của nhân dân lao động Chính sự sai lệch ấy đã đưa đến những hậu quả nặng nề không

Trang 32

chỉ ở những nước đang phát triển mà cả ở những nước có trình độ công nghiệp phát triển cao Trước tình hình đó, nhiều nhà khoa học trên thế giới có đầu óc khách quan đã dự báo rằng, loài người đang phải đối mặt với những mô hình

“phát triển xấu” mà thực chất là “nghịch lý” của sự phát triển Trong đó, đáng chú

ý là 5 mô hình sau:

- Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế nhưng không có tiến bộ và CBXH

- Thứ hai, tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa nhưng lại dẫn đến sự tàn lụi của nông nghiệp và nông thôn

- Thứ ba, tăng trưởng kinh tế nhưng quần chúng lao động không có quyền làm chủ

- Thứ tư, tăng trưởng kinh tế nhưng đạo đức, văn hóa suy đồi

- Thứ năm, tăng trưởng kinh tế nhưng môi trường suy thoái, sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ [34]

Dĩ nhiên, khi nói tới những loại mô hình “phát triển xấu” kể trên, không ai lại phủ nhận tầm quan trọng sống còn của tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia Song, tăng trưởng kinh tế không có mục đích tự thân mà phải nhằm phục vụ cho sự phát triển xã hội, phát triển con người, với tư cách cá nhân và cả cộng đồng; trong đó mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, con người với tự nhiên được thiết lập một cách hài hòa, lành mạnh và bền vững Còn nếu chỉ chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần vì quyền lợi ích kỷ của một thiểu số, thì sự tăng trưởng

ấy đối với đại đa số nhân dân lao động rốt cuộc là vô nghĩa, có hại và thực chất là phản phát triển Chính từ “nghịch lý” của sự phát triển ấy, ngày càng có nhiều nhà khoa học tiến bộ và không ít những nhà hoạch định chính sách quốc gia sáng suốt trên thế giới, đã bắt đầu nhận thức được sự cần thiết cần phải thay đổi cả lý thuyết lẫn hành động thực tiễn đối với quá trình phát triển của mỗi nước Phải tiến hành sao cho tất cả các chiều cạnh của sự phát triển không mâu thuẫn và triệt tiêu nhau

mà trở thành tiền đề và điều kiện cho nhau cùng vận động theo hướng tiến bộ

Trang 33

Khác với các chế độ xã hội khác, quá trình xây dựng CNXH không chỉ nhằm phấn đấu có được sự tăng trưởng kinh tế cao, liên tục, mà ngay trong từng bước

và trong suốt quá trình phát triển, còn kết hợp tăng trưởng với giá trị nhân văn cao

cả - đó là sự công bằng, dân chủ, văn minh trong quan hệ dân giàu, nước mạnh CBXH được xác định như một trong những mục tiêu cơ bản của sự nghiệp xây dựng CNXH là do:

Thứ nhất, lý tưởng, mục đích của CNXH là xây dựng một xã hội công bằng,

bình đẳng, không còn áp bức, bóc lột, không còn khác biệt về giai cấp trên cơ sở phát triển cao của lực lượng sản xuất Trong xã hội đó, con người được đặt vào vị trí trung tâm, mọi sự phát triển đều vì con người, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của tất thảy quần chúng nhân dân Sự phát triển của xã hội trên mọi lĩnh vực kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội đều hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình Đó là CBXH lớn nhất, triệt để nhất mà sự nghiệp xây dựng CNXH luôn phấn đấu

Thứ hai, mô hình phát triển nghiêng về ưu tiên cho sự tăng trưởng kinh tế đã

không tạo được sự phát triển bền vững, công bằng và tiến bộ xã hội rộng khắp Thực tiễn của quá trình phát triển ở nhiều nước cho thấy, một mặt, sự tăng trưởng kinh tế không tự nó dẫn đến CBXH, mặc dù nó là điều kiện tiên quyết, nền tảng để thực hiện CBXH Việc xem nhẹ, thậm chí bỏ qua các mục tiêu xã hội trong quá trình phát triển dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, dẫn tới sự bất ổn định, thậm chí khủng hoảng trong đời sống xã hội Mặt khác, hiện nay trên thế giới đã và đang xuất hiện một quan niệm mới về sự phát triển xã hội với những tiêu chí mới Theo

đó, để đánh giá trình độ phát triển của các quốc gia, người ta có xu hướng nghiêng

về hệ thống các chỉ số xã hội và con người để đánh giá chất lượng cuộc sống như việc làm, tình trạng sức khỏe, mức thu nhập, tuổi thọ và giáo dục, môi trường sống… chứ không thuần túy dựa vào những thông số kinh tế có tính định lượng như tốc độ tăng trưởng hay tổng thu nhập quốc dân theo đầu người Quan niệm đó phản ánh nhận thức mới: con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát

Trang 34

triển xã hội Như vậy, việc phát triển xã hội theo nguyên tắc gắn với CBXH, dân chủ, văn minh thể hiện một đòi hỏi tất yếu của chính quá trình phát triển xã hội

Thứ ba, tăng trưởng kinh tế là điều kiện quan trọng để phát triển, song đó

không phải là mục tiêu duy nhất của sự phát triển Bởi vì, ngày nay người ta xem phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân Phát triển kinh tế bao gồm cả việc nâng cao tiêu chuẩn sống, cải tiến giáo dục, sức khỏe và bình đẳng về cơ hội cho người dân Phát triển xã hội bao giờ cũng được thực hiện trên cơ sở nguồn lực con người, được coi là yếu tố nội sinh quan trọng nhất của phát triển bền vững Theo

đó, phát triển nguồn nhân lực, trước hết là lực lượng lao động xã hội và tạo nên sự đồng thuận xã hội là một trong những điều kiện tiên quyết cho thắng lợi của công cuộc đổi mới Những yếu tố đó lại chính là kết quả trực tiếp của việc phân phối đồng đều các điều kiện, cơ hội cho sự phát triển con người

Với những ý nghĩa đó, có thể nói thực hiện CBXH không chỉ là mục tiêu tất yếu của sự nghiệp xây dựng CNXH, mà còn là một yêu cầu tự thân, bên trong của chính quá trình đó Phát triển đất nước theo định hướng XHCN đòi hỏi phải đặt mục tiêu công bằng, tiến bộ xã hội lên trên hết, coi đó là mục tiêu của mọi chính sách kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế cũng vì mục tiêu bảo đảm CBXH, vì hạnh phúc cho con người Hạnh phúc cho con người chính là mục tiêu của sự phát triển, hay nói cách khác ở đâu con người cảm thấy có hạnh phúc thì ở đấy có sự phát triển

Tuy nhiên, việc xem xét CBXH với tính cách là mục tiêu tất yếu của sự nghiệp xây dựng CNXH cũng như phát triển xã hội nói chung đòi hỏi phải đặt nó trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, trước hết cần khẳng định rằng không thể đạt được CBXH tuyệt đối, lý tưởng, chừng nào chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu của con người và khả năng đáp ứng của xã hội Ngay

cả khi đã trực tiếp xây dựng CNXH - một xã hội mới, cao hơn xã hội TBCN về mọi phương diện của đời sống xã hội, cũng chưa cho phép thực hiện CBXH tuyệt đối Tại trình độ phát triển đó, việc thưc hiện CBXH trong lĩnh vực phân phối, theo C.Mác,

Trang 35

cũng vẫn còn phải tuân theo nguyên tắc: “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”

mà chưa thể phân phối theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” Công bằng tuyệt đối, hoàn hảo chỉ có thể là kết quả của một quá trình lâu dài, được thực hiện dần dần, từng bước trên cơ sở phù hợp với trình độ phát triển của xã hội, trước hết là sự phát triển trong lĩnh vực kinh tế Do vậy, không thể nôn nóng, duy ý chí khi xác định phương hướng và đưa ra các giải pháp với hy vọng có thể thiết lập trong xã hội một sự công bằng lý tưởng, hoàn hảo nhất

Cần phải khẳng định rằng, phấn đấu để thực hiện CBXH, tiến tới thực hiện bình đẳng hoàn toàn luôn là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và lâu dài trong quá trình xây dựng CNXH Cũng có nghĩa là, trên con đường đạt tới sự CBXH hoàn toàn, buộc phải chấp nhận một số sự không công bằng nhất định Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta phải thụ động chờ đợi đến khi nền kinh tế đạt mức độ tăng trưởng cao, đất nước đã giàu có mới thực hiện CBXH Trái lại, như trên đã nói, do CBXH được xác định trước hết và chủ yếu là sự ngang bằng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, nên trong điều kiện nền kinh tế còn khó khăn, chúng ta vẫn có thể thiết lập CBXH phù hợp với trình độ phát triển hiện tại

CBXH trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển KTTT tất nhiên không chỉ đơn thuần là đảm bảo phúc lợi xã hội, điều tiết phân phối thu nhập, điều hòa lợi ích cá nhân, nhóm xã hội mà hơn thế còn phải xác lập từng bước sự bình đẳng xã hội Mục đích của công bằng không phải là “bao cấp”, phân phối lại, mà

hỗ trợ để con người có khả năng phát triển bình đẳng trong xã hội Nói cách khác, CBXH theo định hướng XHCN, một mặt, là sự đáp ứng và bảo đảm của xã hội sự thụ hưởng của từng cá nhân, nhóm xã hội tương ứng với sự đóng góp, cống hiến của họ; mặt khác, đáp ứng và bảo đảm các quyền và nghĩa vụ bình đẳng xã hội, trong đó có quyền dân chủ và tự do Có thể hiểu phương diện thứ nhất là nội dung hẹp của khái niệm CBXH, và mặt thứ hai là nội dung rộng của khái niệm này Hai mặt này có mối quan hệ nội tại và đều được thể chế hóa bằng pháp luật, chính

Trang 36

sách của Đảng và nhà nước, bằng các quy chế, quy ước của các tổ chức xã hội, để mỗi người và mọi người, có quyền và nghĩa vụ, điều kiện và môi trường xã hội ngang nhau trong phát triển

Để đảm bảo thực hiện từng bước mục tiêu CBXH trong quá trình xây dựng CNXH, đòi hỏi phải có sự phân biệt, nhận diện rõ ràng những bất công đang tồn tại,

để trên cơ sở đó, định hướng khả năng và phương thức giải quyết chúng một cách

có hiệu quả, tích cực Các bất công đang tồn tại trong xã hội ta hiện nay được phân chia thành ba loại, gồm: bất công tự nhiên, bất công tạm thời và bất công phi lý

- Bất công tự nhiên: nảy sinh do khả năng, năng lực khác nhau về sức khỏe,

trí tuệ của mỗi người cũng như do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển không giống nhau của các vùng, miền Điều đó cho thấy, loại bất công tự nhiên tồn tại khách quan trong mọi xã hội Hướng lâu dài là thu hẹp dần sự bất công tự nhiên trên cơ sở phát triển ngày càng cao của xã hội, mà trước mắt cần cố gắng bù đắp nhiều nhất những thiệt thòi do sự bất công này gây ra, không để chúng trở thành những vấn đề “nóng” và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung

- Bất công tạm thời: là loại bất công khó tránh khỏi và phải chấp nhận trong

quá trình phát triển Các bất công này, một phần do những khiếm khuyết của cơ chế tổ chức và quản lý cũ để lại, phần khác do chúng ta chưa có đủ điều kiện để khắc phục, loại trừ Chẳng hạn, trong quá trình thực hiện cơ chế thị trường, chấp nhận những quy luật giá trị, chấp nhận cạnh tranh, phân loại trong nền KTTT theo nguyên tắc “giỏi thắng, kém thua” dẫn đến phân hóa giàu nghèo càng tăng Vấn

đề đặt ra là phải có những chính sách đúng đắn tác động vào sự phân tầng xã hội, nhằm giúp cho tầng lớp trung lưu có khả năng không ngừng phát triển; đồng thời, giúp đỡ tích cực cho người nghèo vươn lên bằng sự nỗ lực của bản thân họ, làm cho sự cách biệt giàu – nghèo ngày càng giảm

- Bất công phi lý: bao gồm những bất công đi ngược lại với lợi ích chung của

xã hội và cộng đồng, do những kẻ tham nhũng, buôn lậu, lợi dụng chức quyền, lợi dụng những sơ hở trong quá trình quản lý để làm giàu phi pháp, gây mất ổn định

Trang 37

xã hội, tác động xấu tới sự phát triển của đất nước Đối với loại bất công này, nhà nước cần phải xóa bỏ nhanh chóng và triệt để, nhằm bảo đảm cho xã hội phát triển lành mạnh, công bằng

CBXH là một trong những mục tiêu trọng yếu, thấm đượm tinh thần nhân văn của sự nghiệp xây dựng CNXH Mục tiêu đó phải được nhận thức thống nhất, phải được thực hiện thường xuyên, ngay từ đầu và trong suốt tiến trình cách mạng XHCN, thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong mỗi giai đoạn cụ thể, CBXH có những sắc thái riêng, phù hợp với trình độ phát triển kinh

tế - xã hội Đồng thời, cần phải thấy rằng, tính hiện thực và mức độ tăng lên của CBXH còn là kết quả từ sự nỗ lực với tinh thần đầy trách nhiệm của hệ thống chính trị, của toàn xã hội, cộng đồng và mỗi cá nhân

1.2.2 Công bằng xã hội là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Động lực phát triển xã hội rất phong phú, đa dạng, phải được xem xét từ nhiều bình diện khác nhau: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, chế độ chính trị, văn hóa, khoa học, đạo đức…Tuy nhiên, dù xem xét từ bình diện nào thì động lực phát triển xã hội không thể nằm ngoài con người, mà ngược lại, yếu tố con người luôn luôn có mặt trong tất cả các động lực, nhờ có yếu tố con người mà những yếu

tố khác có thể phát huy sức mạnh của mình trong quá trình phát triển xã hội Trong khi đó, xã hội chỉ công bằng khi lợi ích riêng của mỗi cá nhân luôn được bảo vệ và được đảm bảo trong mối quan hệ hài hòa với lợi ích chung của xã hội; đó

là điều kiện quan trọng để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội Đến lượt mình, xã hội có công bằng sẽ động viên, kích thích được nhiều hơn sự cống hiến của mỗi cá nhân, nghĩa là huy động được nhiều hơn nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực… cho sự phát triển kinh tế - xã hội Do vậy, CBXH – là một trong những lợi ích quan trọng của cá nhân cũng như của xã hội, trở thành một động lực quan trọng của sự nghiệp xây dựng CNXH, biểu hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, CBXH mang lại sự ổn định chính trị cho xã hội Ổn định xã hội là

người dân hài lòng với đảng cầm quyền, với chính phủ đang điều hành đất nước

Trang 38

Khi người dân hài lòng với hiện tại, họ cũng không bị kích động bởi kẻ xấu, không chống lại chế độ, vui vẻ với khách nước ngoài…Đó chính là biểu hiện của ổn định

Thứ hai, CBXH mang lại sự tăng trưởng Sự vận động và phát triển của xã hội

chính là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những chủ thể có nhu cầu, lợi ích và mục đích riêng của mình, cho nên lợi ích của mỗi cá nhân luôn chịu sự quy định bởi nguyên tắc phân phối lợi ích giữa người và người trong hoạt động chung của xã hội

Nó là thước đo để phân chia lợi ích CBXH là cái đảm bảo cho mức hưởng thụ (cũng có nghĩa là mức độ thỏa mãn nhu cầu) của người lao động, không những tương xứng với lao động cống hiến của họ, mà còn ngày càng được nâng cao cùng với sự nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc của họ Đó là điều mà mọi người lao động đều mong muốn Hơn nữa, nguyên tắc phân phối lợi ích công bằng được thực hiện dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện của mọi cá nhân cùng tham gia vào một quan hệ lợi ích Vì thế, nguyên tắc phân phối công bằng không tác động mang tính cưỡng bức, mà tác động tích cực tới hoạt động của con người Điều đó càng kích thích, thu hút được nhiều hơn sự cống hiến tự nguyện của mỗi cá nhân vào hoạt động chung của xã hội vì lợi ích của mình và vì lợi ích của cả cộng đồng

Theo nghĩa đó, CBXH là một động lực tích cực của sự vận động và phát triển

xã hội Một nguyên tắc phân phối lợi ích không thể là công bằng nếu không căn

cứ vào thực tế rằng sự cống hiến giữa các cá nhân bao giờ cũng có sự khác nhau,

do bẩm sinh và do điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Do vậy, sự phân phối không công bằng tất yếu sẽ làm suy giảm lòng nhiệt tình cống hiến ở những người có nhiều cống hiến mà bị thiệt thòi do chỉ được “hưởng thụ” như những người có cống hiến ít Sự phân phối không công bằng cũng làm tăng sự lười biếng và lối sống dựa dẫm vào xã hội của những “kẻ không lao động”, nhưng được hưởng thụ như những người có nhiều cống hiến Sự bất công xã hội ấy tất yếu sẽ làm suy giảm động lực phát triển kinh tế - xã hội

CBXH đảm bảo quan hệ hợp lý giữa các vùng miền, giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp trong quá trình phát triển Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, chúng ta

Trang 39

chưa thể giải quyết triệt để vấn đề CBXH ngay trong một thời gian ngắn, mà phải chấp nhận ở mức độ nào đó sự phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội giữa các giai tầng trong xã hội, giữa các vùng, miền… Nhưng chúng ta không phó mặc cho KTTT mà phải chủ động điều tiết để chống tình trạng phân hóa quá mức, làm cho mức độ giàu nghèo, bất bình đẳng giảm xuống theo đà tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, từ đó tạo nên sự phát triển hợp lý giữa các vùng, miền, dân tộc, tầng lớp trong xã hội

CBXH là đảm bảo sự thống nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến

và hưởng thụ của các thành viên trong xã hội Không thể để tình trạng những người lao động cùng trình độ, cùng công việc, công tác như nhau, song mức thu nhập lại chênh lệch nhau nhiều lần, do làm việc ở những ngành khác nhau Cũng không thể để tình trạng những người có trách nhiệm, cống hiến khác nhau lại hưởng thụ như nhau Do vậy, việc thực hiện phân phối theo lao động là phương thức phân phối căn bản nhất đảm bảo CBXH Bên cạnh đó, CBXH còn đòi hỏi phương thức phân phối phù hợp theo sự đóng góp cho xã hội của các cá nhân, nhóm xã hội Đóng góp ở đây không chỉ là lao động, mà còn là vốn, trí tuệ, là mồ hôi, xương máu trong chiến tranh giải phóng dân tộc, là những cống hiến khác cho đất nước (cả trong quá khứ lẫn hiện tại) Nếu không tính đến những điều đó, trong xã hội sẽ có một bộ phận nhân dân vốn có nhiều đóng góp cho đất nước, dân tộc, phải chịu nhiều hy sinh trước đây, nay phải tiếp tục sống trong cảnh nghèo khó, bất công Ngoài ra, CBXH không chỉ gắn với nội dung phát triển kinh tế, mà còn phải gắn với nội dung phát triển xã hội

Phân phối lợi ích một cách công bằng là yếu tố kích thích trực tiếp các chủ thể tích cực tham gia vào những hoạt động cống hiến, đóng góp để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Nói cách khác, CBXH góp phần rất quan trọng vào việc huy động mọi nguồn lực cho quá trình phát triển, không chỉ cho phát triển kinh tế, mà còn cho cả sự phát triển xã hội, nếu tiêu chí của CBXH phù hợp với lợi ích chung của xã hội

Trang 40

Thứ ba, CBXH tạo ra bầu không khí thân thiện, đồng thuận trong cộng đồng,

một trong những tiêu chí hàng đầu của văn hóa, lối sống và văn minh xã hội Tính cộng đồng tạo ra mối gắn kết bắt nguồn từ sự cộng hưởng sự “hài lòng xã hội” do CBXH, bình đẳng xã hội mang lại; tạo ra sức mạnh xã hội đáng kể trong sản xuất

và kinh doanh, đồng thời góp phần triệt tiêu những nhược điểm trong các hoạt động đó (như xa lánh, hoài nghi, khép kín, rời rạc, manh mún…)

CBXH không những là mục tiêu mà còn là động lực của sự nghiệp xây dựng CNXH CBXH là một trong những yêu cầu của sự phát triển xã hội, vì CBXH là cái đảm bảo cho mức hưởng thụ của người lao động không những tương xứng với cống hiến của họ, mà ngày càng được nâng cao cùng với sự nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc của họ Đó là điều mà mọi người lao động mong muốn, như vậy, CBXH phù hợp với nhu cầu bên trong của người lao động, cho nên nó kích thích tính năng động, sáng tạo, thúc đẩy người lao động đem hết nhiệt tình, sức lực và trí tuệ để tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, nhờ đó mà xã hội và bản thân người lao động đều có lợi

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, công bằng và bình đẳng là một mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới, nhằm trước hết nâng cao mức sống của nhân dân theo nguyên tắc:

“Làm cho người nghèo thì đủ ăn Người đủ ăn thì khá giàu

Người khá giàu thì giàu thêm” [27,65]

Hơn nữa, từ quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh, CBXH ngoài ý nghĩa là

mục tiêu của sự nghiệp xây dựng CNXH, còn mang ý nghĩa là động lực thúc đẩy

sự phát triển của đất nước Việc thực hiện CBXH kích thích mọi người, tùy theo khả năng của mình, tham gia vào xây dựng một cuộc sống mới, từng bước vươn tới xã hội cộng sản chủ nghĩa - một xã hội trong đó “Mọi người làm hết tài năng;

ai cần dùng gì có nấy” [28,245]

Ngày đăng: 20/03/2015, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2004), Kỷ yếu Hội thảo “Vấn đề phân phối và phân hóa giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta”, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo “Vấn đề phân phối và phân hóa giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta”
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2004
2. Nguyễn Trọng Chuẩn (CB)(2000), Tiến bộ xã hội: một số vấn đề lý luận cấp bách, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến bộ xã hội: một số vấn đề lý luận cấp bách
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn (CB)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1994
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 6, khóa IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 6, khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng toàn tập (năm 1986), Tập 47, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập (năm 1986)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Nguyễn Ngọc Hà (8/2002), “Nguyên tắc phân phối vì mục tiêu công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (135) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc phân phối vì mục tiêu công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Triết học
11. Lương Việt Hải (8/2002), “Sự phân hóa giàu nghèo trong kinh tế thị trường và các giá trị đạo đức ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (135) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phân hóa giàu nghèo trong kinh tế thị trường và các giá trị đạo đức ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Triết học
12. Đào Viết Hiền (2005), Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Đào Viết Hiền
Năm: 2005
13. Nguyễn Đình Hòa (12/2002), “Vai trò của nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong tiến trình hiện đại hóa”, Tạp chí Triết học, (139) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong tiến trình hiện đại hóa”, "Tạp chí Triết học
14. Nguyễn Minh Hoàn (2006), Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội, Luận án tiến sĩ triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội
Tác giả: Nguyễn Minh Hoàn
Năm: 2006
15. Nguyễn Minh Hoàn (2008), “Công bằng xã hội trong quan niệm của một số nhà triết học chính trị Mỹ”, Thông tin Khoa học xã hội, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bằng xã hội trong quan niệm của một số nhà triết học chính trị Mỹ”, "Thông tin Khoa học xã hội
Tác giả: Nguyễn Minh Hoàn
Năm: 2008
16. Lê Huy Hoàng (12/2001), “Xây dựng chính sách xã hội tạo sự công bằng, bình đẳng cho việc phát huy năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, (127) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chính sách xã hội tạo sự công bằng, bình đẳng cho việc phát huy năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí Triết học
17. Nguyễn Tấn Hùng (2000), Phương pháp phân tích mâu thuẫn và sự vận dụng nó trong nghiên cứu quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta, Luận án tiến sĩ triết học, Trường ĐH KHXH & NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phân tích mâu thuẫn và sự vận dụng nó trong nghiên cứu quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Tấn Hùng
Năm: 2000
18. Nguyễn Văn Huyên (7/2002), “Xây dựng nền kinh tế thị trường vì một xã hội nhân văn”, Tạp chí Triết học, (134) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nền kinh tế thị trường vì một xã hội nhân văn”, "Tạp chí Triết học
19. Trương Giang Long (12/2004), “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong xu thế hội nhập hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong xu thế hội nhập hiện nay”, "Tạp chí Cộng sản
20. Đỗ Hoàng Long (2008), Tác động của toàn cầu hóa đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tác động của toàn cầu hóa đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hoàng Long
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w