Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức thành phố Hà Nội gắn liền với chiến lược xây dựng gia đình văn hóa và vì sự tiến bộ của phụ nữ của Thành phố .... Thực hiện bình đẳng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THI ̣ HỒNG LOAN
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TRÍ THỨC
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THI ̣ HỒNG LOAN
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TRÍ THỨC
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hô ̣i khoa ho ̣c
Mã số: 60 22 85
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐỖ THỊ THẠCH
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đỗ Thị Thạch
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Thi ̣ Hồng Loan
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TRÍ THỨC HÀ NỘI - CƠ
SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10 1.1 Quan niê ̣m về bình đẳng giới và bình đẳng giới trong gia đình trí
thức 10 1.1.1 Quan niệm và nội dung của bình đẳng giới 10 1.1.2 Bình đẳng giới trong gia đình trí thức 16 1.2 Tầm quan trọng của việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí
thức hiê ̣n nay 20 1.2.1 Xuất phát từ vị trí quan trọng của gia đình đối với phát triển cá
nhân và xã hội 20 1.2.2 Xuất phát từ vai trò của trí thức đối với phát triển xã hội 25 1.2.3 Xuất phát từ vị trí, vai trò của thành phố Hà Nội trong phát
triển đất nước, thực hiện bình đẳng giới 27
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC
THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TRÍ THỨC Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 34 2.1 Đặc điểm gia đình trí thức Thành phố Hà Nội 34 2.1.1 Gia đình trí thức ở Hà Nội xuất thân từ nhiều nguồn khác nhau 34 2.1.2 Gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội thường là gia đình ít thế
hệ cùng sinh sống 35
2.1.3 Gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội có địa bàn cư trú trải khắp
thành phố nhưng tập trung nhiều ở các quận nội thành 37
2.1.4 Mô hình nhà ở của gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội đa dạng 382.2 Thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở
thành phố Hà Nội hiện nay 39 2.2.1 Trong việc thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình 39 2.2.2 Trong việc tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực và tham gia các
quyết định của gia đình 58 2.3 Một số vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện bình đẳng giới ở gia đình trí
thức thành phố Hà Nội hiện nay 62
Trang 5Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GÓP PHẦN
THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TRÍ THỨC Ở
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 72
3.1 Quan điểm cơ bản góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở Thành phố Hà Nội hiê ̣n nay 72
3.1.1 Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội 72
3.1.2 Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức thành phố Hà Nội gắn liền với chiến lược xây dựng gia đình văn hóa và vì sự tiến bộ của phụ nữ của Thành phố 74
3.1.3 Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội đặc biệt Hội liên hiệp phụ nữ, Ban vì sự tiến bộ phụ nữcác cấp, các ngành, các đơn vị nơi các trí thức làm việc 76
3.2 Những giải pháp chủ yếu góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở Thành phố Hà Nô ̣i hiê ̣n nay 79
3.2.1 Tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của bình đẳng giới trong gia đình trí thức đối với bình đẳng giới trong toàn Thành phố 79
3.2.2 Tăng cường các dịch vụ y tế, giáo dục, gia đình nhằm tạo điều kiện thuận lợi chăm sóc sức khỏe, chia sẻ việc nhà cho nữ trí thức 82
3.2.3 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đồng thời đẩy mạnh sự tham gia của các tổ chức xã hội đặc biệt là Hội liên hiệp phụ nữ các cấp, Hội nữ trí thức trong việc thực hiện bình đẳng giới 84
3.2.4 Tăng cường việc thực hiện pháp luật và chính sách bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội 87
3.2.5 Tạo điều kiện thuận lợi để nữ trí thức học tập, nâng cao trình độ từ đó có bình đẳng trong cống hiến ngoài xã hội tạo điều kiện cho bình đẳng giới trong gia đình 92
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 104
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự tiến bộ của con người được xem là tiêu chuẩn cao nhất của sự phát triển xã hội Sự phát triển của xã hội đòi hỏi phải đem lại công bằng, bình đẳng cho tất cả mọi người (cả nam và nữ) Từ cuối thế kỷ XX, bình đẳng giới là vấn đề thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học cũng như quản lý trên thế giới, nhờ đó bình đẳng giới đã có nhiều tiến bộ quan trọng cả trong nhận thức và trong hành động thưc tiễn trọng phạm vi của quốc gia và quốc tế Ở Việt Nam, tư tưởng về bình đẳng giới đã có ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và được thể hiện trong Văn kiện và Hiến
pháp đầu tiên của Đảng, Nhà nước, trong đó khẳng định: phụ nữ và nam giới được bình đẳng với nhau trên mọi phương diện Từ đó đến nay, tư tưởng về
bình đẳng nam nữ tiếp tục được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chỉ đạo Kể
từ khi Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng chống bạo hành gia đình ra đời và được triển khai trên thực tế thì bình đẳng giới ở nước ta có biến chuyển tích cực theo hướng phụ nữ bình đẳng hơn với nam giới
Tuy nhiên, trên thực tế, bất bình đẳng giới vẫn tồn tại khá rõ nét Đặc biệt trong gia đình, sự bất bình đẳng vẫn diễn ra với nhiều hình thức và mức
độ khác nhau Nam giới vẫn tiếp tục được đề cao, coi trọng hơn phụ nữ
Những năm gần đây, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về bình đẳng giới trong gia đình công nhân, gia đình nông dân, gia đình dân tộc thiểu số nhưng hầu như chưa có nghiên cứu nào bàn về bình đẳng giới trong gia đình trí thức, bởi vì, hầu hết các nhà nghiên cứu cũng như phần lớn người dân đều có chung nhận thức cho rằng ở gia đình công nhân, nông dân, dân tọc thiểu số bất bình đẳng giới còn rất phổ biến và nặng nề do trình độ học vấn, nhận thức của các thành viên còn hạn chế, kinh tế khó khăn, còn trong gia đình trí thức, bất bình đẳng giới có lẽ rất ít xảy ra Gia đình trí thức Việt Nam là bộ
Trang 7phận gia đình có trình độ học vấn cao, đóng góp tích cực trong việc xây dựng đất nước thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hầu hết trong gia đình trí thức sự chia sẻ giữa vợ - chồng, nam - nữ về vai trò, trách nhiệm trong công việc gia đình cũng như công việc xã hội là khá bình đẳng Song, trên thực tế, việc thực hiện bình đẳng giới của phụ nữ trí thức trong gia đình vẫn còn rất nặng nề và mang nhiều sắc thái Phụ nữ vẫn là người phải đảm nhận phần lớn các chức năng cơ bản của gia đình: từ chức năng kinh tế, sinh sản đến chăm sóc các thành viên, giáo dục con cái Tình trạng bạo hành tưởng như chỉ diễn ra trong gia đình có trình độ thấp song ở gia đình trí thức vẫn diễn
ra, thậm chí có tính chất sâu sắc hơn Thực tế, phụ nữ trí thức cũng bị bạo hành dưới tất cả hình thức, nhiều nhất là bạo hành về tinh thần Song do vị trí xã hội,
do tâm lý “xấu chàng, hổ thiếp” phụ nữ trí thức ít bộc lộ hậu quả của bạo hành ra ngoài Chính vì vậy, nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình trí thức
có ý nghĩa hết sức to lớn Nó không chỉ cung cấp thực trạng bình đẳng giới trong gia đình trí thức mà còn chỉ ra rằng, bất bình đẳng giới không chỉ diễn ra trong các gia đình có học vấn thấp mà cả trong gia đình có học vấn cao, từ đó
đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế sự bất bình đẳng, góp phần tạo dựng một thế hệ gia đình trí thức biết đề cao giá trị bình đẳng giới, làm tấm gương để định hướng, cổ vũ, động viên cho các gia đình khác noi theo Hơn thế, con cái sinh sống trong gia đình trí thức do được hưởng thành quả của bình đẳng giới
từ cha mẹ, họ sẽ là những lớp người đi tiên phong trong việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình và ngoài xã hội
Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước Cùng với xu thế hội nhập quốc tế, Hà Nội đang có nhiều chuyển biến Là trung tâm, Hà Nội tập trung nhiều gia đình trí thức sinh sống và làm việc, được tiếp thu sớm nhất những giá trị bình đẳng của thế giới, do có trình độ cao về học vấn, về nhận thức nên hầu hết trong các gia đình trí thức ở Hà Nội, mối quan hệ giới giữa nam - nữ, vợ - chồng khá tiến bộ theo hướng: bình đẳng, tôn trọng, chia sẻ
Trang 8Song, bên cạnh đó, gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội do chịu ảnh hưởng sâu sắc của gia đình truyền thống và một bộ phận không nhỏ gia đình trí thức xuất thân từ nông thôn nên vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ tư tưởng phong kiến, nho giáo Chính vì vậy, sự bất bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở Hà Nội vẫn diễn ra với nhiều hình thức và mức độ khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp và không nhỏ tới việc xây dựng gia đình văn hóa Thủ đô, sự tiến bộ của phụ nữ và mục tiêu bình đẳng giới của cả nước hiện nay
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài Bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội làm luận văn tốt nghiệp mong muốn góp phần
đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vấn đề bình đẳng giới cho gia đình trí thức ở Hà Nội hiện nay, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới toàn xã hội
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ngoài một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin nghiên cứu
về gia đình, bình đẳng giới; một số ngành luật của Nhà nước ta như Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, tác giả luận văn còn tập trung nghiên cứu một số công trình của một số tác giả liên quan đế gia đình và bình đẳng giới tiêu biểu như sau:
Lê Thi (1998) “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam”,
Nxb Phụ nữ, Hà Nội, là một công trình nghiên cứu đã chỉ rõ thực trạng đời sống lao động nữ trong giai đoạn đổi mới của đất nước và những vấn đề cần quan tâm giải quyết
Trung tâm Nghiên cứu gia đình và phụ nữ (1998-2000) “Điều tra cơ bản
về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Đề tài chỉ ra sự biến đổi các mối quan hệ cơ bản
trong gia đình như quan hệ cha mẹ, vợ chồng, con cái Qua đó phân tích, làm rõ quan hệ giới trong gia đình cũng có sự chuyển biến theo một cách rõ rệt
Trần Thị Thu (2003) “Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (phân tích tình hình tại Hà Nội), Nxb Lao động xã
Trang 9hội, Hà Nội Cuốn sách đã chỉ ra, đất nước đã và đang tạo cơ hội tìm kiếm việc làm cho lao động nữ trong các khu vực kinh tế với nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú, nhưng cũng đặt ra những khó khăn tìm kiếm việc làm, mà người thiệt thòi là lao động nữ
Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu (2002), “Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kì CNH, HĐH đất nước”, Nxb
KHXH, Hà Nội Các tác giả công trình nghiên cứu này khẳng định vai trò to lớn của người phụ nữ trong gia đình, đóng góp của họ cũng như sự cần thiết phải giải phóng họ khỏi sự bất bình đẳng giới trong gia đình và ngoài xã hội
Mai Huy Bích (2003), “Xã hội học gia đình”, Nxb KHXH, Hà Nội
Tiếp cận gia đình dưới góc nhìn xã hội học, tác giả đã phân tích cơ cấu gia đình, khảo sát sự diễn biến, tiến hóa và thay đổi của gia đình theo thời gian, từ
đó tác giả chỉ ra sự vận động, biến đổi của gia đình trong mối quan hệ với biến đổi kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội
Vũ Tuấn Huy (2003) có cuốn sách “Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình và những yếu tố ảnh hưởng”, Nxb KHXH, Hà Nội, tác giả gợi mở cho
bạn đọc kiểm soát và giải quyết các xung đột Xem mâu thuẫn không phải là
có ảnh hưởng tiêu cực phá vỡ hệ thống xã hội
Mai Quỳnh Nam (2004), (chủ biên): “Gia đình trong tấm gương xã hội học”, Nxb, KHXH, Hà Nội Đây là công trình được tập hợp từ những nghiên
cứu của tác giả trong Viện Xã hội học và các công tác viên của Viện về gia đình Các tác giả trong cuốn sách đã đề cập đến cấu trúc gia đình và vấn đề giới; chức năng kinh tế gia đình; chức năng sinh đẻ của gia đình; gia đình và các ảnh hưởng văn hóa; sự biến đổi và các quan hệ trong gia đình
Dương Thị Minh (2004),“Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ trong gia đình hiện nay”, Nxb CTQG, Hà Nội Tác giả đã đề cập đến những
nhân tố tác động đến gia đình, đặc điểm cơ bản của gia đình và vai trò của
Trang 10người phụ nữ trong gia đình; đồng thời dự báo các xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay
Đỗ Thị Thạch (2005), “Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb CTQG, Hà Nội Từ việc làm
rõ quan niệm về trí thức, trí thức nữ; những cơ sở khẳng định phẩm chất trí tuệ cũng như yếu tố tác động đến sự phát triển trí tuệ của phụ nữ, tác giả đã đi sâu phân tích sự hình thành, đặc điểm của nguồn lực trí thức nữ Việt Nam, những đóng góp của họ đối với sự phát triển của gia đình và đất nước Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Đặng Phương Kiệt (2006), “Gia đình Việt Nam các giá trị truyền thống đến những vấn đề tâm - bệnh lý xã hội”, Nxb Lao động Hà Nội Tác giả đã
đánh giá xác thực các truyền thống quí báu của gia đình Việt Nam; nêu và phân tích bức tranh hiện thực về gia đình Việt Nam và những thách thức cần phải vượt qua Đây cũng chính là lời nhắn gửi tới các nhà hoạch định chính sách cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đến gia đình, trẻ em
Đặng Cảnh Khanh - Lê Thị Quí (2007), “Gia đình học”, Nxb CTQG,
Hà Nội Tác giả đã đề cập đến gia đình Việt Nam trước những thách thức của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa; đồng thời phân tích mối quan hệ giới
- gia đình và công cuộc phát triển; chỉ ra những sai lệch giá trị gia đình hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của gia đình trong xã hội hiện đại
Vũ Ngọc Khánh (2007), “Văn hóa gia đình Việt Nam”, Nxb Thanh
niên, Hà Nội Tác giả đã khẳng định có một văn hóa gia đình trong nền văn hóa Việt Nam, tác giả cũng chỉ ra rằng văn hóa gia đình Việt Nam có được dựa trên cơ sở dân gian và tiếp thu nhiều yếu tố ngoại lai khác, ảnh hưởng của tôn giáo, triết học, văn học nghệ thuật
Trang 11Phan Thanh Khôi - Đỗ Thị Thạch: (đồng chủ biên) “Những vấn đề giới: từ lịch sử đến hiện đại” Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007 Công
trình này đã trang bị những kiến thức cơ bản về giới như: vấn đề giới trong kinh điển Mác xít; vấn đề giới trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam; vấn đề giới trong thông tin đại chúng; vấn đề giới trong sách giáo khoa giáo dục phổ thông
Trịnh Quốc Tuấn - Đỗ Thị Thạch: (đồng chủ biên) “Khoa học giới những vấn đề lý luận và thực tiễn” Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội,
2008 Công trình tập hợp những bài viết của các tác giả bàn về thực trạng vấn
đề giới trong một số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội Đề tài đã cung cấp những vấn đề lý luận thực tiễn về giới cho việc nghiên cứu về bình đẳng giới
ở Việt Nam hiện nay
“Tác động của toàn cầu hóa đối với việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay”, PGS TS Đỗ Thị Thạch (2010) Đề tài khoa ho ̣c cấp cơ
sở đã đi sâu phân tích những tác động của toàn cầu hóa đối với bình đẳng giới trong gia đình trên một số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội Từ đó, đưa ra những giải pháp chủ yếu để phát huy sự tác động tích cực , hạn chế sự tác động tiêu cực nhằm thực hiện bình đẳng giới ở Viê ̣t Nam hiện nay
"Về xây dựng gia đình văn hóa Viê ̣t Nam dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng", PGS TS Đỗ Thị Thạch (2011), Tạp chí Cộng sản số 56 Tác giả đã
phân tích và làm sáng tỏ vấn đề nhận thức của Đảng ta về vai trò của gia đình
và xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới và làm rõ những giải pháp xây dựng gia đình Việt Nam theo tinh thần Đa ̣i hô ̣i XI của Đảng
Ảnh hưởng của một số tín ngưỡng, tôn giáo tới bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, Đỗ Thị Thạch (2012) Đề tài khoa học cấp cơ sở đã đi sâu
phân tích làm rõ tác động tích cực, tiêu cực của một số tín ngưỡng, tôn giáo tới việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam, trong đó chỉ rõ đạo thờ Mẫu ở Việt Nam là một trong những căn cứ thực tiễn có ảnh hưởng rất tích cực đến
Trang 12vị trí, vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam so với nam giới hiện nay Còn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên lại có tác động không mấy tích cực tới vai trò của phụ nữ trong gia đình Đối với đạo Phật vừa có tác động tích cực, vừa có những hạn chế nhất định tới bình đẳng giới
Ngoài ra, còn có hàng trăm bài viết mỗi năm đã được đăng tải trên các sách báo, tạp chí nghiên cứu về gia đình, gia đình truyền thống và xây dựng
gia đình văn hóa trong giai đoạn hiện nay như: "Gia đình Việt Nam hiện nay: truyền thống hay hiện đại?" của TS Nguyễn Thị Thường, Tạp chí Lý luận chính trị số 253/1999; "Văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ hội nhập" của ThS Trần Thị Tuyết Mai, Tạp chí Cộng sản 09/2008;
Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên là những tài liệu tham khảo quý giá cho việc nghiên cứu về bình đẳng giới trong gia đình Song những công trình đó đề cập đến vấn đề giới và bình đẳng giới trong gia đình ở phạm vi rộng, có tính khái quát cao chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới trong gia đình trí thức nói chung, ở Hà Nội nói riêng Trước tình hình đó,
tác giả chọn đề tài “Bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội hiện nay” với mong muốn góp một phần công sức nhỏ của mình vào
công tác giải phóng phụ nữ cả về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội hiện nay, luận văn đề xuất một giải pháp chủ yếu góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội làm tấm gương cổ vũ, định hướng thực hiện
bình đẳng giới cho các gia đình khác hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ cơ sở lý luận cho việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình
trí thức hiện nay
Trang 13- Phân tích thực trạng việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội hiện nay và những vấn đề đặt ra
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ giới trong gia đình, đặc biệt
là mối quan hệ giữa vợ và chồng, con trai/con gái trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội hiện nay (việc thực hiện bình đẳng trong gia đình)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát số liệu và phân tích trong giới hạn gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986) cho đến nay (chủ yếu là gia đình trí thức sống ở các quận nội thành)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới trong gia đình trí thức Đồng thời, luận văn cũng sử dụng một số tư liệu, các công trình đã được tuyên bố liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở phương pháp luận mác xít, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, lôgic, lịch sử, so sánh, điều tra xã hội học
6 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Từ việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội, luận văn chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy bình đẳng giới
Trang 14trong gia đình trong thời gian tới, tạo tiền đề quan trọng xây dựng gia đình thực sự bình đẳng, tiến bộ
* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Với các đóng góp mới về mặt khoa học trên đây, luận văn góp phần làm cơ sở lý luận, căn cứ thực tiễn cho việc hoạch định chính sách về bình đẳng giới, gia đình, phụ nữ ở thành phố Hà Nội
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy
những chuyên đề liên quan đến vấn đề gia đình, bình đẳng giới, phụ nữ trí
thức trong các chuyên ngành có liên quan
7 Kết cấu chính của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương 7 tiết
Chương 1: Bình đẳng giới trong gia đình trí thức Hà Nội - cơ sở lý luận
Trang 15Chương 1 BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TRÍ THỨC HÀ NỘI
- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Quan niê ̣m về bình đẳng giới và bình đẳng giới trong gia đình trí thức
Con người luôn vươn tới khát vọng về một xã hội bình đẳng, trong đó
có bình đẳng giới Muốn có bình đẳng giới ngoài xã hội thì phải bắt đầu thực hiện bình đẳng giới trong gia đình, bởi gia đình là tế bào của xã hội Để có nhận biết về bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội cần tiếp cận từ một số cơ sở lý luận sau đây
1.1.1 Quan niệm và nội dung của bình đẳng giới
1.1.1.1 Quan niệm về giới
Mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới, sự giống và khác nhau giữa họ
đó là vấn đề muôn thủa, có từ xa xưa khi loài người mới xuất hiện Là con người, phụ nữ và nam giới gống nhau nhưng họ lại khác nhau về đặc điểm của cơ thể tự nhiên, đồng thời cũng khác nhau trong cách ứng xử do ảnh hưởng của các mối quan hệ xã hội
Giới là khái niệm khoa học ra đời từ môn nhân chủng học, chỉ sự khác
biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm
và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ Điều 5 của Luật Bình đẳng giới (2006) đã chỉ rõ: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [74, tr.8]
Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn của cải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ trong xã hội Theo quan niệm và thói quen đã có
từ lâu đời ở nhiều nước, nhiều khu vực thì phụ nữ phải làm hầu hết các công việc trong nhà như nấu ăn, chăm sóc con, phục vụ chồng… Còn nam giới có
Trang 16trách nhiệm lao động sản xuất để nuôi gia đình và làm các công việc xã hội Khi sinh ra con người chưa có trong bản thân sự phân biệt giới mà họ dần tiếp thu và chấp nhận từ nền nếp gia đình, quy ước của xã hội và chuẩn mực của nền văn hóa
Khi nói giới tính là nói đặc điểm của con người do tự nhiên quy định
Nó ổn định, thậm chí, hầu như bất biến đối với cả nam và nữ, xét cả về mặt không gian và thời gian Chẳng hạn, phụ nữ trong mọi thời đại, mọi chế độ chính trị, mọi nền văn hóa đều giống nhau ở khả năng mang thai và sinh sản Còn nói đến giới là nói đến địa vị xã hội, thái độ và hành vi ứng xử giữa nam
và nữ do hoàn cảnh, điều kiện, văn hóa, xã hội… tạo nên Địa vị, thái độ và hành vi đó không bất biến mà thay đổi theo sự thay đổi của hoàn cảnh, điều kiện xã hội, văn hóa
Giới và giới tính có quan hệ chặt chẽ với nhau Giới tính là tiền đề sinh
học giới, là dấu hiệu đầu tiên và lâu dài để phân biệt nam, nữ Không nên và không thể xem nhẹ sự khác biệt về giới tính giữa nam, nữ Trái lại, cần tìm hiểu rõ những sự khác biệt này vì điều đó cho phép người ta hiểu được đầy đủ hơn năng lực, sở trường, nhu cầu riêng của nam, nữ để có sự phân công lao động phù hợp nhằm phát huy năng lực và đáp ứng đúng hơn nhu cầu riêng của nam và nữ
Hiểu rõ vai trò của giới và giới tính trong mối quan hệ qua lại là điều cần thiết để tổ chức và triển khai sự phân công lao động hợp lý Tuy thế cần thấy vai trò của từng nhân tố và quan hệ giữa chúng không đơn giản và luôn thay đổi do tác động của hoàn cảnh xã hội, văn hóa, điều đó được biểu hiện rõ
ở thời kỳ đầu của lịch sử loài người, ở thời kỳ này, nhân tố giới tính chi phối mạnh hơn, bởi con người sống theo bản năng tự nhiên, còn quan hệ xã hội thì mới sơ khai Đặc điểm tự nhiên của con người lúc đó tác động mạnh hơn so với tác động của quan hệ xã hội Do vậy, đặc điểm giới tính của nhóm xã hội nào phù hợp với tính chất, trình độ của nền sản xuất thì nhóm đó tự nhiên có
Trang 17được vị trí cao hơn Ví dụ, thời kỳ đầu tiên của lịch sử loài người, đặc điểm giới tính của phụ nữ phù hợp hơn với nền kinh tế hái lượm và trồng trọt và đó chính là cơ sở tự nhiên của chế độ mẫu quyền Khi xã hội chuyển sang nền kinh tế lấy chăn nuôi săn bắn là chính thì đặc điểm giới tính của đàn ông tỏ ra phù hợp và họ đã giành được vị trí thống trị của phụ nữ trước đó và chế độ phụ quyền được xác lập
Từ khi chế độ phụ quyền được xác lập, đàn ông với ưu thế sẵn có đã buộc xã hội chấp nhận quan niệm và cách sắp xếp của họ Điều đó được nâng lên thành hệ tư tưởng và được thể chế hóa thành pháp luật, lâu dần thành thói quen, thành nếp sống, phong tục tập quán… Trong xã hội, người ta thường lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích sự khác biệt về giới Các quan niệm rập khuôn, những thói quen và những điều mà xã hội chấp nhận thường được coi là thước đo hành vi, là chuẩn mực đánh giá phẩm chất của mỗi giới Những tác động này làm duy trì và tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong xã hội
Từ mối quan hệ giữa giới và giới tính cho thấy giữa nam và nữ có những đặc trưng hết sức khác nhau về mặt tự nhiên và mặt xã hội Sự khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ mang tính bẩm sinh, không thể thay đổi được,
đó là sự hài hòa mà tạo hóa đã ban cho loài người, để bảo tồn nòi giống Ngược lại sự khác biệt xã hội giữa nam và nữ do xã hội tạo ra đã đưa tới sự bất bình đẳng giữa nam và nữ Do vậy, bất bình đẳng giới thực chất là sự bất bình đẳng xã hội, xóa bỏ bất bình đẳng giới là rất cần thiết nhằm thay đổi tương quan địa vị xã hội giữa nam và nữ, thực hiện bình đẳng giới
1.1.1.2 Quan niệm về bình đẳng giới và nội dung bình đẳng giới
Bình đẳng giới là khái niệm biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội đối
với nam và nữ; là môi trường trong đó có cả nữ giới và nam giới được hưởng
vị trí ngang nhau, họ có các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển quốc gia và được hưởng lợi từ các
Trang 18kết quả đó [85] Luật Bình đẳng giới (2006) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới
là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [74, tr.2] Điều quan
trọng nhất, bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được hưởng các thành quả một cách bình đẳng
Nếu như cả phụ nữ và nam giới cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng
để tham gia, đóng góp và hưởng thụ từ các nguồn lực của xã hội là quá trình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội, thì xã hội đó đã đạt được bình đẳng giới Nếu những tiêu chí này không được xác lập có nghĩa là trong
xã hội đang tồn tại bất bình đẳng giới
Tuy nhiên, việc đối xử như nhau, cơ hội như nhau không đem lại kết quả như nhau đối với giới nữ và giới nam Vì vậy, bình đẳng giới cần được hiểu là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ có xét đến những đặc điểm giống nhau và khác nhau của mỗi giới, và được điều chỉnh bởi các chính sách đối với từng giới một cách hợp lý Mặt khác, không nên hiểu bình đẳng giới theo cách đơn giản là nam giới và nữ giới tham gia như nhau trong tất cả
các hoạt động, cũng không phải phương châm phụ nữ “vùng lên” đòi hỏi
quyền lợi ngang bằng nam giới, bất chấp sự khác biệt về đặc tính sinh học giữa nam và nữ Hơn nữa, việc không phân định rõ ràng sự khác biệt mang tính chất giới và giới tính lại chỉ thấy có một phía là không bình đẳng nghiêng
về nữ, chắc chắn sẽ dẫn đến hệ quả ngược lại với mong muốn ban đầu mang tính nhân văn sâu sắc của nhận thức giới và cách giải quyết sẽ chỉ là: hoặc hoán vị vai trò giới một cách máy móc những gì phụ nữ có và phải làm thì đem chuyển cho nam giới và ngược lại, hoặc đi đến chủ nghĩa bình quân giữa nam và nữ để chỉ chia nhau cơ hội, lợi ích, trách nhiệm…
Trang 19Bình đẳng giới theo yêu cầu của xã hội hiện nay còn cần phải gắn với quan điểm phát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Nó đòi hỏi một sự chuyển biến đồng bộ của tất cả mọi thành phần, mọi lứa tuổi, nhưng trước hết đối với nam giới trong hàng loạt vấn đề: từ nhận thức đến thái độ ứng xử xã hội và hành vi cụ thể trong mối quan hệ với phái nữ Để có thể đáp
ứng được yêu cầu trên, cần đảm bảo hai yếu tố: Thứ nhất Đó là sự tôn trọng
giá trị nhân phẩm (quyền con người toàn diện) cũng như giá trị lao động của lao động nam cũng như lao động nữ trong những đóng góp của họ đối với xã
hội và gia đình Thứ hai Là cả lao động nữ lẫn lao động nam đều có trách
nhiệm, chia sẻ với nhau trong thực hiện công việc gia đình và công việc chung của xã hội
Sự phát triển bền vững của xã hội là lấy con người là mục tiêu và là động lực Quá trình phát triển sẽ diễn ra chậm chạp nếu như một nửa của nhân loại là phụ nữ vẫn bị hạn chế hoặc loại trừ khỏi quá trình phát triển Chính vì nhận thức được điều này mà vấn đề bình đẳng giới đang là vấn đề có tính quốc tế, là mối quan tâm của toàn nhân loại Năm 1979 Liên hợp quốc đã
thông qua công ước quốc tế về “Xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ” còn gọi
là công ước CEDAW Lần đầu tiên các quyền con người của phụ nữ được đề cập một cách toàn diện nhất trong công pháp quốc tế
Theo tinh thần của CEDAW, nội dung bình đẳng giới bao gồm các lĩnh
vực:
1- Bình đẳng về chính trị;
2- Bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế việc làm;
3- Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục;
4- Bình đẳng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe;
5- Bình đẳng trong vấn đề hôn nhân và gia đình
Tùy theo đặc điểm của mỗi quốc gia mà có các thứ tự ưu tiên khác nhau Để đảm bảo thực hiện đầy đủ, đúng đắn nội dung bình đẳng giữa hai
Trang 20giới nam và nữ vốn chưa có bình đẳng, cần thực hiện các yêu cầu và nguyên tắc cơ bản sau:
1- Bình đẳng về cơ hội và điều kiện;
2- Bình đẳng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ;
3- Bình đẳng về kiểm soát và ra quyết định
Việt Nam là quốc gia thứ 6 ký công ước CEDAW, cho đến nay Việt Nam là một trong các quốc gia tích cực thực hiện các cam kết của mình nhằm thúc đẩy sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ Với quan điểm thừa nhận sự khác biệt về giới và giới tính giữa nam và nữ, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện tốt công ước CEDAW, đặc biệt là điều 4 của Công ước, thực hiện các đối xử đặc biệt giành cho phụ nữ Quan điểm thực hiện đối
xử đặc biệt với phụ nữ trên mỗi lĩnh vực đã được cụ thể hóa trong các chính sách, các chương trình, dự án phát triển ở Việt Nam, nhất là trong Luật Bình đẳng giới và trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Nhà nước Việt Nam cũng cho rằng, những đối xử đặc biệt với phụ nữ sẽ chấm dứt khi đạt tới bình đẳng giới thực sự
Trên cơ sở cam kết thực hiện công ước CEDAW nội dung bình đẳng giới được cụ thể hóa trong luật Bình đẳng giới của Việt Nam gồm các điểm sau:
1- Bình đẳng về chính trị;
2- Bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế;
3- Bình đẳng trong lĩnh vực lao động;
4- Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo;
5- Bình đẳng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ;
6- Bình đẳng trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao;
7- Bình đẳng trong lĩnh vực y tế;
8- Bình đẳng trong vấn đề hôn nhân và gia đình
Trang 21Như vậy, bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa đối với phụ nữ mà còn đem lại ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển của xã hội
- Đối với phụ nữ, bình đẳng giới làm thay đổi vị thế của họ, tạo ra cơ hội để họ thoát khỏi những cản trở, đem hết khả năng của mình cống hiến cho sự phát triển của gia đình và xã hội
- Đối với xã hội, bình đẳng giới góp phần tạo điều kiện cho sự phát triển hài hòa của gia đình vì lợi ích, tiến bộ của xã hội trong đó có cả nam giới, bởi con người (cả nam và nữ) thực sự được xem là mục tiêu và động lực của sự phát triển
Muốn đạt được bình đẳng giới thì một trong những điều kiện quan trọng là nam và nữ được bình đẳng với nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống mà biểu hiện rõ rệt nhất là bình đẳng giới trong gia đình
1.1.2 Bình đẳng giới trong gia đình trí thức
1.1.2.1 Quan niện về gia đình trí thức
Gia đình là một khái niệm rộng, không ngừng biến đổi dưới sự tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội Chính vì vậy, gia đình là một thiết chế xã hội
có tính lịch sử và toàn cầu, là “phạm trù xuất hiện sớm nhất trong lịch sử loài người” [56, tr.35]
Quan niệm chính thống, mang tính pháp lý ở Việt Nam được ghi trong luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000 (Điều 8) xác định: “Gia đình
là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định” [72]
Không có một định nghĩa duy nhất về gia đình cho mọi nền văn hoá, song với những căn cứ như trên và phân tích dưới góc độ chính trị - xã hội,
theo chúng tôi: Gia đình là một cộng đồng người đặc biệt được hình thành, phát triển và củng cố bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ
Trang 22nuôi dưỡng được pháp luật và xã hội thừa nhận mà các thành viên trong gia đình đều hướng tới mục tiêu thực hiện tốt các chức năng của gia đình
Gia đình có vị trí rất quan trọng trong xã hội Gia đình là tế bào của xã hội; là cầu nối giữa cá nhân với xã hội và là tổ ấm thân yêu đem lại hạnh phúc cho mỗi con người
Trong thực tế, vị trí quan trọng của gia đình chỉ được xác lập khi gia đình thực hiện các chức năng của gia đình Thông qua việc thực hiện các chức năng cơ bản (duy trì nòi giống, giáo dục, phát triển kinh tế…) mà gia đình tồn tại và phát triển, đồng thời có tác động đến tiến bộ chung của xã hội Mọi thành viên đều có trách nhiệm vun đắp cho tổ ấm gia đình, đều phải tham gia vào thực hiện các chức năng của gia đình với những mức độ khác nhau, tuỳ theo cương vị, khả năng và thoả thuận cụ thể của mỗi gia đình, trong đó gia đình
trí thức thường được coi là loại hình gia đình có tính bình đẳng giới khá cao
Thuật ngữ “trí thức” có nguồn gốc từ tiếng Latinh: Intellidentina, nghĩa
là sự thông minh, có trí tuệ, hiểu biết Khái niệm này trở nên thông dụng từ nửa sau thế kỷ XIX nhằm chỉ những người có học vấn cao, chuyên lao động trí óc Do vậy, trong một số ngôn ngữ trên thế giới (tiếng Anh, Pháp, Nga…)
và trong tiếng Việt, người trí thức thường được hiểu là những người có trình
độ cao về trí tuệ, người thông minh, hiểu biết nhiều
Từ trước đến nay đã có nhiều tranh luận về thuật ngữ trí thức và có những cách lý giải khác nhau Sự khác nhau này, một mặt, phụ thuộc vào quan điểm, phương pháp tiếp cận, góc độ nghiên cứu của các nhà khoa học; mặt khác, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, trình độ phát triển văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc
V.I.Lênin ghi chú: “Tôi dùng chữ trí thức, giới trí thức để dịch những danh từ của tiếng Đức Literat, Literatentum là những danh từ có nghĩa bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả những người có học thức, các đại biểu của các nghề tự do nói chung, các đại biểu
Trang 23của lao động trí óc (tức là những người mà người Anh gọi là Brain Worker) khác với những đại biểu của lao động chân tay”
Ở Việt Nam, khái niệm trí thức cũng được nhiều người quan tâm, nhất
là các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu Đã có những cách tiếp cận và lý giải khác nhau về trí thức nhưng tựu chung lại có thể quy về một số loại ý kiến sau đây:Trí thức là khái niệm dùng để chỉ tất cả những người lao động trí óc
Trí thức là những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên
Trí thức phải là những người lao động trí óc sáng tạo đã có nhiều cống hiến cho xã hội bằng những công trình, những trước tác
Trí thức là những người có học vấn cao, hiểu biết rộng, có lương tri, đức độ biểu hiện ở sự tận tụy, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc
Các quan niệm trên đây có điểm chung khi xác định những dấu hiệu đặc trưng của người trí thức, đó là trình độ học vấn, lao động trí óc, khả năng sáng tạo, phẩm chất đạo đức cá nhân
Trên cơ sở quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như quan niệm của một số nhà nghiên cứu ở nước ta về trí thức cũng như cách phân tích nêu trên, chúng tôi nhất trí với quan niệm chung về trí thức như sau:
Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt, có trình độ học vấn cao; trình
độ chuyên môn sâu; có phẩm chất, lương tri; lao động trí óc phức tạp; sáng tạo khoa học; phổ biến và nghiên cứu ứng dụng tri thức khoa học trong hoạt động thực tiễn; góp phần quan trọng trong sự thúc đẩy phát triển mọi mặt của đời sống xã hội [78, tr.15]
Cho đến nay, khái niệm gia đình trí thức chưa được đề cập đến trong bất kỳ nghiên cứu nào Với mục tiêu của luận văn và sự nghiên cứu thực tiễn
Trang 24của tác giả về khái niệm gia đình và khái niệm trí thức, chúng tôi cho rằng, gia đình trí thức được hiểu như sau:
Gia đình trí thức là một cộng đồng người (ít nhất là cả vợ và chồng) đều
có trình độ học vấn từ đại học trở lên có quan hệ hôn nhân, huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng được pháp luật và xã hội thừa nhận, các thành viên trong gia đình đều hướng tới mục tiêu thực hiện tốt các chức năng của gia đình
1.1.2.2 Nội dung bình đẳng giới trong gia đình trí thức
Mặc dù chỉ là một cấp độ của bình đẳng giới nhưng bình đẳng trong gia đình lại thể hiện các khía cạnh rất phong phú thông qua quan hệ giữa nam và
nữ trên nhiều vấn đề:
- Thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình
- Việc tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực của gia đình
- Việc tham gia quyết định các công việc của gia đình…
Các khía cạnh trên được giải quyết trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng nhau giữa các thành viên trong gia đình Luật Bình đẳng giới nêu rõ nội dung bình đẳng giới trong gia đình như sau: vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình; vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc quyết định lựa chọn và
sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình phù hợp, sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo qui định của pháp luật; con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển; các thành viên nam nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẽ công việc gia đình [74, tr.17-18]
Từ những căn cứ phân tích nêu trên (góc độ bình đẳng giới, góc độ gia đình, góc độ trí thức), luận văn sẽ tiếp cận nội dung bình đẳng giới trong gia đình trí thức gồm những nội dung chủ yếu sau:
Trang 25- Phân công lao động theo giới trong công việc sản xuất và công việc trong gia đình Phân công lao động giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ là hình
thức biểu hiện rõ nhất về vị trí và vai trò của nam và nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội
- Sự tham gia của phụ nữ và nam giới vào việc ra quyết định, tiếp cận
và kiểm soát các nguồn lực Chủ yếu khai thác các quyết định trong sinh hoạt
hàng ngày Việc tham gia vào các quyết định trong gia đình phản ánh mối tương quan quyền lực giữa nam và nữ
Các nội dung trên sẽ giúp chúng ta nhận diện sự bình đẳng giới trong gia đình nói chung và gia đình trí thức nói riêng, đồng thời tìm ra các nguyên nhân căn bản của tình trạng đó, từ đó giúp chúng ta đưa ra các giải pháp tác động làm giảm dần, tiến tới xóa bỏ sự bất bình đẳng giới trong gia đình
1.2 Tầm quan tro ̣ng của viê ̣c thƣ̣c hiê ̣n bình đẳng giới trong gia đình thƣ́c hiê ̣n nay
Gia đình là tế bào của xã hội Gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống mỗi con người Là cái nôi nuôi dưỡng con người Gia đình là một hình ảnh vô cùng thân thương, gắn bó và ấm áp nghĩa tình, là nơi trú ngụ bình yên nhất, vững chắc nhất của mỗi người
Trí thức là một bộ phận trong các tầng lớp nhân dân - lực lượng quan trọng góp phần quan trọng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hiện nay, việc hạn chế tình trạng bất bình đẳng giới trong gia đình trí thức sẽ góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển phồn vinh của đất nước, góp phần phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước; là cơ sở, động lực để xây dựng gia đình văn hóa; góp phần thực hiện tốt chiến lược bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ
1.2.1 Xuất phát từ vị trí quan trọng của gia đình đối với phát triển cá nhân và xã hội
Gia đình không tồn tại một cách cô lập mà luôn có mối quan hệ với xã hội, gia đình tốt thì xã hội tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn Trong mối
Trang 26quan hệ với xã hội, gia đình là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng trọng đại như: tái sản xuất ra con người, là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của xã hội, nơi trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; gia đình còn là nơi bảo lưu truyền thụ nền văn hóa của dân tộc Mặt khác sự phát triển của xã hội cũng tác động trực tiếp đến phát triển của gia đình cả về kết cấu, chức năng, đời sống vật chất và đời sống tinh thần… đặc biệt là quan hệ giới
Quan hệ giữa gia đình với xã hội là quan hệ giữa cái bộ phận và cái toàn thể Dù ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào thì gia đình vẫn giữ một vị trí quan trọng đối với cá nhân và xã hội
Đối với cá nhân, gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người từ thuở lọt
lòng cho tới lúc về già Gia đình là tổ ấm mang lại hạnh phúc cho con người Trong gia đình, con người được đảm bảo về vật chất, giáo dục, tình cảm… trẻ
em có điều kiện an toàn để khôn lớn, người già có nơi nương tựa, an ủi, người lao động được quan tâm chăm sóc sức khỏe và thoải mái về tinh thần Có rất nhiều vấn đề ngoài môi trường gia đình không tổ chức nào có thể đáp ứng và giải quyết có hiệu quả, do đó khi sống trong một gia đình đầm ấm cá nhân mới có điều kiện để phát huy hết những khả năng của mình góp phần phát triển xã hội Có thể nói một trong những bất hạnh lớn nhất của con người là lâm vào tình cảnh “vô gia cư”, gia đình bất hòa, đổ vỡ, ly tán
Đối với xã hội, thực tiễn đời sống đã chứng minh gia đình là một thiết
chế xã hội đặc biệt mà khó có thể thiết chế nào thay thế được Gia đình là đơn
vị cơ sở của xã hội Trong quá trình vận động, gia đình vừa tuân thủ những quy luật và cơ chế chung của xã hội vừa theo những qui định và tổ chức riêng của mình Gia đình còn là cầu nối mọi thành viên trong gia đình với xã hội
Xã hội tác động đến con người thông qua gia đình Ngược lại, xã hội (Nhà nước, cơ quan, bạn bè) cũng có thể nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về một con người khi nhận rõ hoàn cảnh gia đình của người ấy Nhiều nội dung quản
Trang 27lý xã hội không chỉ thông qua hoạt động của các thiết chế xã hội mà còn thông qua hoạt động của gia đình để tác động đến con người, nghĩa vụ và quyền lợi của con người được thực hiện dưới sự hợp tác chung của các thành viên trong gia đình, qua đó ý thức công dân của cá nhân được nâng cao và sự gắn bó giữa gia đình và xã hội có nội dung xác thực Và bởi thế, gia đình giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội nói chung Gia đình là tế bào của xã hội
Trong mối quan hệ với xã hội gia đình là yếu tố hạt nhân, vì vậy xã hội muốn đạt tới bình đẳng giới phải chú ý giải quyết tốt mối quan hệ về giới ngay từ trong gia đình Ngày nay, việc xây dựng gia đình “ít con, no ấm, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” là nhằm góp phần làm cho “tế bào” xã hội lành
mạnh Gia đình tiến bộ trên cơ sở tiến bộ của mọi thành viên và không tách rời sự tiến bộ của xã hội Sự tiến bộ của các thành viên trong gia đình được thể hiện bởi trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ nhận thức các vấn đề văn hóa, chính trị - xã hội ngày càng được nâng cao Đó vừa
là kết quả của sự tiến bộ xã hội, đồng thời cũng là điều kiện thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Nhận thức được tầm quan trọng của gia đình với cá nhân và xã hội như vậy để thấy rõ hơn tầm quan trọng của việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức
Con người được sản sinh và bắt đầu quá trình xã hội hoá thành con người xã hội bắt đầu từ một cơ cấu nền tảng - gia đình Mỗi cá nhân dù có cá tính riêng nhưng vẫn mang trong mình những dấu ấn của điều kiện, truyền thống, sự giáo dục của gia đình Bởi vậy, trong gia đình trí thức, khi trình độ học vấn, sự hiểu biết của cha mẹ cao thì các chức năng của gia đình sẽ có điều kiện thực hiện tốt
Với chức năng sinh sản Trong gia đình trí thức, khi vợ và chồng có
trình độ học vấn, nhận thức cao thì việc quyết định biện phá tránh thai, số
Trang 28con, thời điểm sinh con, chăm sóc mẹ khi mang thai và sinh con sẽ có tính hiệu quả và hợp lý cao hơn Phần lớn nữ trí thức phải dành một khoảng thời gian để học tập nên thời điểm sinh con, làm mẹ sẽ không quá sớm, thường là
từ 22 tuổi trở lên Ở độ tuổi này, về mặt sinh học phụ nữ đã phát triển một cách đầy đủ cho chức năng sinh sản góp phần đảm bảo an toàn cho mẹ và con Khi mang thai và sinh con, do có điều kiện tiếp xúc với khoa học nên kiến thức về sinh sản của gia đình trí thức được trang bị đầy đủ hơn,vợ và chồng sẽ biết chăm sóc con tốt hơn Trong thời gian này, ở các gia đình trí thức sự chia sẻ của người chồng, người cha về công việc gia đình với người
vợ, người phụ nữ càng được đề cao nhằm tạo cho vợ có điều kiện nghỉ ngơi,
ăn uống đủ chất với mục đích cao nhất sinh ra những đứa con khỏe mạnh cả
về thể chất lẫn tinh thần
Với chức năng giáo dục Có thể thấy sự khác biệt rất lớn giữa gia đình
trí thức và gia đình nói chung trong việc giáo dục con cái Trong gia đình trí thức, cả vợ và chồng thấy rõ tầm quan trọng của giáo dục đối với con nên quan tâm sát sao hơn, họ phải tự hoàn thiện về nội dung và phương pháp giáo dục trên cơ sở nắm bắt được tâm sinh lý của con trong từng giai đoạn phát triển, nhờ đó, con cái của đa số các gia đình trí thức đều phát triển tốt về nhân cách, trí tuệ và thể chất, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của quốc gia Đồng thời, trong nội dung giáo dục, gia đình trí thức thường nêu cao tính dân chủ, bình đẳng giữa vợ - chồng, con trai - con gái Sự phân biệt, trọng nam, khinh nữ trong gia đình trí thức thường ít xảy ra và nếu có cũng ít nặng nề so với các loại hình gia đình khác Đây là môi trường, là tiền đề để các thế hệ con cháu trong gia đình trí thức luôn có ý thức về bình đẳng giới trong cuộc sống cũng như trong công việc của mình
Với chức năng kinh tế Khi có tri thức, có học vấn cơ hội kiếm việc làm
của họ sẽ cao hơn, khả năng thất nghiệp thấp hơn nhiều so với lao động phổ thông Hơn nữa, tính ổn định trong công việc cũng tốt hơn Chính bởi những
Trang 29đặc thù của lao động trí tuệ nên mức thu nhập thường cao và ổn định hơn Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc chi tiêu trong gia đình, thực hiện tốt chức năng kinh tế từ đó tạo cơ sở, điều kiện cho các chức năng khác có cơ hội thực hiện tốt Hơn nữa, khi cả vợ và chồng cùng đóng góp thu nhập cho gia đình thì sự phụ thuộc kinh tế của vợ vào chồng (hoặc chồng phụ thuộc vợ) sẽ không còn Từ đó, tiếng nói, sự quyết định các vấn đề trong gia đình trí thức
sẽ có sự bàn bạc nhiều hơn của cả vợ và chồng vì vậy bình đẳng giới được thực hiện
Với chức năng cân bằng, đáp ứng nhu cầu tâm - sinh lý của các thành
viên trong gia đình Khi vợ và chồng có tri thức thì sự hiểu biết tâm sinh lý của từng thành viên trong gia đình sẽ tốt hơn Do có sự khác nhau về tâm sinh
lý, nhu cầu đáp ứng giữa các thành viên, các thế hệ, nên nếu hiểu biết nhu cầu của từng thành viên sẽ giúp các thành viên khác có thể đáp ứng những nhu cầu đó một cách tốt nhất có thể nhằm tạo sự thoải mái về tâm sinh lý Từ đó
có sự tin tưởng, chia sẻ giữa các thành viên trong gia đình tạo sự gần gũi, gắn kết, yêu thương
Bình đẳng giới trong gia đình trí thức sẽ là tấm gương, môi trường tốt
về bình đẳng giới cho các thế hệ mai sau Bầu không khí bình đẳng giới đem lại những giá trị lớn hơn cho mỗi cá nhân, thành viên trong gia đình về tinh thần và vật chất Người chồng/cha được tôn vinh, phát triển vì có “hậu phương” hòa thuận, ấm cúng; người vợ/mẹ được chia sẻ, động viên sẽ làm tốt vai trò của mình cho gia đình và sự nghiệp Nhất là những đứa con trong gia đình trí thức sẽ nhận được sự chăm sóc đầy đủ của cả cha và mẹ sẽ phát triển tốt, làm tấm gương bình đẳng để con cái soi vào Khi được sống trong gia đình trí thức hưởng thụ thành quả của bình đẳng giới con cái sẽ đặt tiêu chí bình đẳng cho gia đình mình trong tương lai Từ đó tạo tiền đề để bình đẳng giới trong gia đình tương lai của những đứa con Và xét trên tổng thể, cả thế
hệ con cháu tương lai, vấn đề bình đẳng giới sẽ được quan tâm và thực hiện
Trang 30Một gia đình trí thức thực hiện tốt bình đẳng giới có thể coi là hạt nhân thu hút và làm gương cho các gia đình xung quanh Khi các gia đình xung quanh cùng thực hiện bình đẳng giới thì sẽ có sự lan tỏa ra toàn xã hội, nhờ
đó, xã hội sẽ tốt đẹp lên
1.2.2 Xuất phát từ vai trò của trí thức đối với phát triển xã hội
Bình đẳng giới hiện nay đang là một trong những tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia Đây là một trong những mục tiêu của thiên niên kỷ và đang được cả thế giới quan tâm Bởi một quốc gia được đánh giá là phát triển chỉ khi mọi người được sống bình đẳng Bình đẳng không chỉ đem lại cho con người cơ hội cống hiến như nhau mà còn tạo điều kiện công bằng cho sự hưởng thụ những thành quả cống hiến đó
Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển
Trí thức Việt Nam xuất thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội, nhất là
từ công nhân và nông dân; phần lớn trưởng thành trong xã hội mới, được hình thành từ nhiều nguồn đào tạo ở trong và ngoài nước, với nhiều thế hệ nối tiếp nhau, trong đó có bộ phận trí thức người Việt Nam ở nước ngoài Ðội ngũ trí thức nước ta có tinh thần yêu nước, có lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc, luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Ðảng lãnh đạo vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Bằng hoạt động sáng tạo, trí thức nước ta đã có đóng góp to lớn trên tất cả các lĩnh vực xây dựng, bảo
vệ Tổ quốc
Trong việc thực hiện bình đẳng giới, trí thức luôn là lực lượng đi đầu
và có cống hiến không nhỏ Phần lớn trí thức nhận thức được tầm quan trọng của bình đẳng giới nên luôn cố gắng áp dụng vào cuộc sống hàng ngày ở cơ
Trang 31quan cũng như trong gia đình Điều này được thể hiện rõ ở thực tế cho thấy, trong gia đình trí thức, bình đẳng giới được nhìn nhận rõ nét hơn về cả chiều rộng và chiều sâu Họ là những nhà giáo, là nhà khoa học, là cán bộ lãnh đạo, quản lý… với những cương vị của mình, hoạt động của mình, bình đẳng giới trong gia đình trí thức có độ lan tỏa rất cao đối với cộng đồng xã hội
Là những nhà khoa học, trí thức có chức năng nghiên cứu lý luận khoa học từ đó đưa ra được những biện pháp thực hiện bình đẳng giới một cách tốt nhất; với môi trường giáo dục, những bài giảng của họ, cách ứng xử của họ…
có trách nhiệm giới sẽ tác động tới nhiều thế hệ người học; đối với đơn vị, cơ quan hành chính, sự nghiệp tinh thần bình đẳng giới của họ tác động tới người dân, công nhân, viên chức cấp dưới; với vai trò là các nhà lãnh đạo, quản lý, mỗi chủ trương, chính sách được xây dựng và thực hiện trên cơ sở bình đẳng giới, họ có đóng góp rất to lớn và thiết thực về bình đẳng giới của toàn xã hội…; với cộng đồng, trí thức luôn là người đi đầu trong công tác tuyên truyền pháp luật và chính sách của nhà nước về bình đẳng giới Cách cư xử giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái, sự chia sẻ việc nhà giữa vợ và chồng, không có sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái, sự thỏa thuận bàn bạc của vợ và chồng trong các vấn đề lớn… đều là tấm gương sáng cho các gia đình khác thực hiện theo Bởi họ sẽ nhận thấy, hạnh phúc của gia đình trí thức
là do có bình đẳng giới đem lại
Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức không chỉ góp phần làm cho các thành viên được hưởng thành quả từ đó có cống hiến hơn cho bình đẳng giới ngoài xã hội Bên cạnh đó, ảnh hưởng của bình đẳng giới trong gia đình trí thức sẽ có tác dụng thúc đẩy, lôi cuốn làm đầu tàu cho các gia đình khác thực hiện theo góp phần thực hiện bình đẳng giới trong gia đình và ngoài xã hội
Gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội là lực lượng đi đầu trong nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, dân số kế hoạch hóa gia đình Là những gia đình năng
Trang 32động và có nhiều khát vọng, nhanh nhạy nắm bắt những cái mới Tích cực tham gia xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đi đầu trong việc xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Do vậy, thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố sẽ là động lực, tấm gương tác động, lôi kéo, thu hút các gia đình khác thực hiện bình đẳng giới
1.2.3 Xuất phát từ vị trí, vai trò của thành phố Hà Nội trong phát triển đất nước, thực hiện bình đẳng giới
Thành phố Hà Nội và nhân dân thành phố Hà Nội có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững; giữ vững ổn định
chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng của cả nước
Thứ nhất: Đặc điểm tự nhiên
Hà Nội - Thủ đô của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Vịêt Nam nằm ở
vị trí trung tâm đồng bằng sông Hồng Sau đợt mở rộng hành chính vào tháng 08/2008, Hà Nội hiện có diện tích 3.324,92km2, gồm 1 thị xã, 10 quận và 18 huyện ngoại thành Dân số toàn thành phố đến tháng 12 năm 2012 là 6924,7 nghìn người, trong đó dân số thành thị là 2943,5 ngàn người chiếm 42,5% tổng số dân; dân số nông thôn là 3981,2 nghìn người [91]
Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước và quốc tế về đường bộ, đường sắt, đường sông và đường hàng không Từ đầu mối giao thông quan trọng đó đã gắn kết chặt chẽ Hà Nội với các trung tâm cả nước cũng như thế giới, tạo điều kiện để Hà Nội tiếp cận nhanh với các thành tựu khoa học, công nghệ kỹ thuật hiện đại, được bổ sung nguồn nhân lực từ địa phương khác và hình thành các khu công nghiệp và khu đô thị vệ tinh xung quanh Hà Nội
Thứ hai: Đặc điểm kinh tế
Hà Nội là trung tâm tâm kinh tế có sức hút và sức lan toả rộng lớn của cả nước Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp từ đầu thập niên 1990, kinh tế
Trang 33Hà Nội bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ Năm 2012: tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 8,1%; vốn đầu tư phát triển đạt 232.658,5 tỷ đồng, tăng 13,2% so với năm 2011 (đối với các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: ước đạt khoảng 41.348,4 tỷ đồng, tăng 10,8% so với năm 2011); cấp phép mới và bổ sung tăng vốn đầu tư cho 283 dự án đầu tư nước ngoài với vốn đầu tư đăng ký 985 triệu USD (so với năm 2011 bằng 80,6% về số dự án và bằng 51,6% về số vốn đầu tư đăng ký), trong đó: cấp mới 222 dự án với vốn đầu tư đăng ký 775 triệu USD; bổ sung tăng vốn 61 dự án với 210 triệu USD vốn đầu tư đăng ký; số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong năm 2012 là
15 nghìn doanh nghiệp, với số vốn đăng ký là 83 nghìn tỷ đồng; tổng thu ngân sách cả năm đạt 138.893 tỷ đồng ; tổng nguồn vốn huy động đến hết tháng Mười hai năm 2012 là 897.646 tỷ đồng, tăng 9,3% so với năm trước [91]
Hà Nội là nơi được Đảng, Nhà nước quan tâm tạo mọi điều kiện để phát triển kinh tế như: cải thiện cơ sở hạ tầng, thu hút mọi nguồn lực, các tổ chức quốc tế, quốc gia hỗ trợ nhiều mặt nhằm phát triển công nghiệp, dịch vụ… Với điều kiện tự nhiên, kinh tế như vậy vừa tạo ra những cơ hội, vừa đặt
ra những thách thức đối với sự phát triển của gia đình nói chung và quan hệ giới trong gia đình trí thức ở thành phố nói riêng Những thuận lợi như: cơ hội
có việc làm phù hợp với chuyên môn và trình độ của bản thân từ đó có thu nhập ổn định; tiếp xúc sớm và thường xuyên với sự chính sách của Nhà nước, đặc biệt là về vấn đề bình đẳng giới; sự tiếp cận với khoa học kỹ thuật nhanh nhất; do tham gia vào công việc ngoài xã hội nên phụ nữ trí thức có thu nhập tương đối ổn định, đóng góp vào kinh tế chung của gia đình… Đây là những thuận lợi vô cùng lớn để thực hiện bình đẳng giới cho tầng lớp trí thức sinh sống và làm việc ở đây
Tuy nhiên, các gia đình trí thức ở Hà Nội cũng gặp phải những thách thức không nhỏ trong việc xây dựng bình đẳng giới Có thể kể đến một số khó khăn như: mức sống đắt đỏ làm cho cuộc sống kinh tế của các trí thức bị eo
Trang 34hẹp Với mức lương cho trí thức ở Hà Nội hiện nay thì phần lớn trí thức thấy chưa thoả đáng so với lao động trí tuệ mà họ bỏ ra (lương của trí thức ở Hà Nội vẫn xếp ở hệ công chức hành chính) Tỉ lệ tăng lương không bù đắp kịp phần tăng của giá cả hàng hóa ở Thủ đô Do đó, thu vén gia đình, tính toán hợp lý để đảm bảo sinh hoạt, học hành, sức khỏe, giải trí cho tất cả các thành viên vẫn là nỗi trăn trở nặng nề của khá nhiều gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội Một mặt, họ phải làm tốt công việc ở cơ quan, mặt khác phải tìm cách làm thêm, (kể cả công việc ngoài chuyên môn) nhằm có thu nhập cao hơn Điều này có tác động tới chức năng kinh tế, ảnh hưởng tới quyền quyết định các vấn đề trong gia đình, ảnh hưởng tới và việc chăm sóc tâm lý tới các thành viên khác trong gia đình, nhất là đối với con cái trong việc giáo dục Từ
đó có ảnh hưởng lớn tới việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội
Thứ ba: Đặc điểm văn hóa - xã hội
Hà Nội là trung tâm văn hóa lớn của cả nước là nơi hội tụ những luồng văn minh, trí thức của cả dân tộc, Thăng Long - Hà Nội luôn xứng đáng là
mảnh đất ngàn năm văn hiến và thủ đô anh hùng
Trong hàng ngàn năm, kinh đô Hà Nội khiến thành phố này trở thành nơi hội tụ và tỏa sáng,những nhân vật ưu tú những thương nhân, nghệ nhân, những thợ thủ công lành nghề Họ tới đây lập nghiệp, mang theo những phong tục, tập quán địa phương và Hà Nội trở thành mảnh đất tiêu biểu cho nền văn hóa Việt Nam Cùng với thời gian những phong tục tập quán cũng biến đổi tạo nên nét văn hóa riêng của Hà Nội, với đặc trưng văn hóa đó đã tạo cho Hà Nội và con người Hà Nội nét hào hoa thanh lịch rất đáng trân trọng
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hà Nội cũng đã tăng cường xây dựng, kiện toàn các thiết chế văn hóa như nhà văn hóa, thư
Trang 35viện trung tâm văn hóa, cụm dân cư… đầu tư bảo tồn, tôn tạo một số di tích lịch sử văn hóa cách mạng Từ năm 2001 đến nay, cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đang lôi cuốn sự tham gia của các ngành, đoàn thể, các hộ gia đình vào thực hiện “Bốn xây, ba xóa” phong trào xây dựng các mô hình văn hóa như làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa, ký túc xá văn hóa và phong trào xây dựng nếp sống văn minh, thanh lịch đang góp phần tích cực vào việc hình thành môi trường văn hóa thủ đô lành mạnh, khôi phục các di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội
Trong năm 2012, Thành phố đã triển khai xây mới 22 trường công lập, trong đó có 11 trường mầm non, 6 trường tiểu học, 4 trường trung học cơ sở,
1 trường trung học phổ thông Chất lượng giáo dục đào tạo tiếp tục được nâng cao Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 98,5%, tăng 0,4% so với năm
2011 (năm 2011 là 98,1%); tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 99,1%; có 570 xã/phường đạt chuẩn quốc gia về y tế, đạt tỷ lệ 98,8%; tỷ lệ thất nghiệp là 4,8%, trong đó, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 7,8%, số lao động được giải quyết việc làm toàn Thành phố là 133 nghìn người, bằng 95% kế hoạch; thành phố đã vận động quĩ đền ơn đáp nghĩa được 46,95 tỷ đồng; tặng 9850
sổ tiết kiệm cho người có công; hỗ trợ cho 23 nghìn hộ thoát nghèo [91]
Là trung tâm tiếp thu tinh hoa văn hóa của cả nước, của khu vực và cả quốc tế, Hà Nội là môi trường khá tốt để thực hiện bình đẳng giới Lối sống thanh lịch, tao nhã của người Tràng An, truyền thống hiếu học, khéo léo trong ứng xử tạo tiền đề vững chắc cho mỗi thành viên gia đình phát triển Mặt khác, do Hà Nội là nơi tập trung nhiều trường đại học nên là nơi có điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao trình độ cho mọi người nhất là với phụ nữ Khi trình độ của phụ nữ ngày càng được nâng cao sẽ đáp ứng yêu cầu của công việc nên hình thành kỹ năng chăm sóc gia đình một cách chủ động hơn Việc phát triển các dịch vụ chăm sóc gia đình cũng là một thuận lợi lớn làm giảm bớt gánh nặng công việc nội trợ cho phụ nữ nhất là nữ trí thức sinh sống ở
Trang 36đây… Tất cả những thuận lợi đó đều đem lại hiệu quả tốt trong việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình trí thức ở Hà Nội
Tuy nhiên, ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa - xã hội của Hà Nội trong việc xây dựng bình đẳng giới ở gia đình trí thức cũng còn tồn tại Nề nếp truyền thống trong gia đình đôi khi cản trở cho việc thực hiện bình đẳng giới, nhất là trong tư tưởng gia trưởng của một bộ phận không nhỏ người Hà Nội; mâu thuẫn giữa các thế hệ cùng sinh sống trong một mái nhà; nhà ở chật hẹp; trường học và nhà trẻ còn thiếu; tỉ lệ ly hôn gia tăng; tệ nạn xã hội, trẻ em hư gia tăng… là những thách thức cho việc xây dựng bình đẳng giới trong gia đình nơi đây
Thứ ba: Quá trình công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế
Cùng với sự phát triển công nghiệp hóa và quá trình hội nhập quốc tế sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ đang tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội Ở Hà Nội, quá trình hội nhập đang diễn ra từng ngày và biểu hiện khá rõ rệt Sự phát triển của khoa học công nghệ, chính sách kinh tế thị trường, mở cửa liên doanh, liên kết với nước ngoài tạo
ra khả năng cho kinh tế tăng trưởng và đời sống nhân dân Thủ đô được ổn định Sự vận động phát triển của gia đình, vai trò của các thành viên trong việc thực hiện bình đẳng giới không thể không chịu ảnh hưởng sâu sắc của quá trình ấy
Việc mở rộng giao lưu với quốc tế đã tạo cơ hội cho người phụ nữ và nam giới trí thức nâng cao được trình độ chuyên môn, kiến thức về sức khoẻ sinh sản, vấn đề tình dục, nhu cầu làm đẹp cho bản thân, từ đó sống tự tin và hạnh phúc hơn Hơn nữa, quá trình hội nhập ở thủ đô giúp nữ và nam trí thức
có nhiều cơ hội kiếm việc làm thêm phù hợp với trình độ, khả năng và sở thích của bản thân từ đó tăng thêm thu nhập cho gia đình, góp phần có điều kiện sử dụng các dịch vụ gia đình đem lại sự thuận tiện, dễ chịu và giải phóng
Trang 37một phần nữ trí thức trong công việc nặng nhọc của gia đình, tạo điều kiện cho bình đẳng giới được củng cố
Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem lại những tác động tiêu cực cho gia đình ở thành phố Hà Nội cũng như gia đình trí thức ở đây Cường độ làm việc căng thẳng dẫn tới các trí thức có ít thời gian dành cho gia đình hơn, đặc biệt là nam trí thức Khi dành nhiều thời gian cho nghiên cứu khoa học, cho làm thêm thì sự quan tâm tới công việc gia đình hay chia sẻ tâm lý, chăm sóc nhau giữa các thành viên sẽ hạn chế hơn Hơn nữa, lao động trí óc, năng lực sáng tạo đang gặp phải sự sàng lọc khắt khe của xã hội trong giai đoạn hội nhập đòi hỏi tầng lớp trí thức ở Hà Nội không ngừng vươn lên về mọi mặt như trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp… nếu không muốn bị tụt hậu, bị đào thải Để có những phẩm chất mới phù hợp với thực tiễn hiện nay, trí thức ở Hà Nội cần phải có kiến thức chiều sâu, chiều rộng, kiến thức chuyên ngành, liên ngành, trình độ ngoại ngữ, sự nhạy cảm và hiểu biết sâu thực tế, phải đi nhiều, học nhiều Trong khi đó, công việc gia đình các trí thức vẫn phải đảm nhận đầy đủ Điều này sẽ dẫn tới sự hạn chế lớn trong việc thực hiện một số chức năng của gia đình, nhất là với nữ trí thức và tạo điều kiện cho bất bình đẳng giới xảy ra
Một số chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2015 của thành phố Hà Nội: tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2011-2015: 12-13%/năm; trong đó: dịch vụ: 12,2-13,5%/năm; công nghiệp; xây dựng: 13,0-13,7%/năm; nông nghiệp: 1,5-2%/năm; tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ THPT và tương đương: 90%; tỷ lệ trường (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) đạt chuẩn quốc gia: 50-55%; tỷ lệ lao động qua đào tạo: 55%; tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế: 100%; số lao động được giải quyết việc làm mới hàng năm: 140-145 nghìn người; giảm tỷ lệ sinh bình quân 0,02%/năm; số giường bệnh/vạn dân: 20; số bác sỹ/vạn dân: 12,5 [27]
Trang 38Để đạt được những mục tiêu trên thì vai trò của gia đình ở thành phố Hà Nội là rất quan trọng Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay là việc làm cần thiết, nhằm tạo
cơ hội, điều kiện cho cả nam và nữ tham gia cống hiến vào quá trình phát triển đất nước Vì thế thực hiện bình đẳng giới trong gia đình ở Hà Nội sẽ
là động lực, cơ sở để thực hiện bình đẳng giới trong toàn quốc
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TRÍ THỨC
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
2.1 Đặc điểm gia đình trí thức Thành phố Hà Nội
Do có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và chịu ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế nên Hà Nội là nơi thu hút, tập trung nhiều gia đình trí thức sinh sống và làm việc Gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội có một số đặc điểm sau:
2.1.1 Gia đình trí thức ở Hà Nội xuất thân từ nhiều nguồn khác nhau
Một bộ phận gia đình trí thức ở Hà Nội ngày nay xuất thân từ gia đình trí thức truyền thống lâu đời tại Hà Nội Những gia đình trí thức này thường
sống tập trung nhiều ở quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng Sống trong gia đình trí thức Hà Nội lâu đời, các trí thức trẻ sẽ được thừa kế truyền thống lao động trí óc, lao động khoa học của gia đình từ đó nhận được sự cảm thông, chia sẻ về nghề nghiệp và công việc gia đình Xuất phát này ảnh hưởng khá tốt cho việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình Bởi người Hà Nội nói chung, trí thức Hà Nội nói riêng vốn nổi tiếng là thanh lịch, năng động do
đó thường khá tiến bộ trong nhận thức Tuy nhiên, do sống trong môi trường
nề nếp, gia phong nên tính chất vươn lên ở các trí thức này thường không cao, điều đó ảnh hưởng tới vị trí công tác xã hội và ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình
Một bộ phận không nhỏ gia đình trí thức Hà Nội hiện nay xuất phát từ việc kết hôn giữa các trí thức từ nhiều vùng khác trong cả nước lên học tập và làm việc tại Hà Nội Gia đình trí thức thuộc nhóm này có cả những gia đình
đã sống và làm việc lâu ở Hà Nội (từ 15 đến 30 năm) nhưng phần đông là gia đình trí thức trẻ sống ở Hà Nội dưới 15 năm Nhóm gia đình trí thức này
Trang 40thường sống tập trung ở các quận như Long Biên, Cầu Giấy, Hoàng Mai… Một mặt những trí thức này có cách suy nghĩ tiến bộ về vấn đề bình đẳng giới, tính vươn lên trong cuộc sống khá cao, tiếp cận thông tin nhanh và năng động; song, mặt khác, do phần lớn trong số họ xuất thân từ gia đình nông thôn, ít nhiều vẫn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng phong kiến gia trưởng nên cách nghĩ, cách làm việc vẫn mang đậm dấu ấn của người nông dân từ đó sự cảm thông về sự thành công của các thành viên, nhất là đối với nữ trí thức vẫn còn hạn chế Mặt khác, với điều kiện thu nhập của gia đình trí thức trẻ quá thấp, trong khi nhà ở ở Hà Nội đang có giá rất cao, nên phần lớn các gia đình trí thức ở loại hình này đều thuê nhà với diện tích chật hẹp Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống, sự cống hiến và việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình
2.1.2 Gia đình trí thức ở thành phố Hà Nội thường là gia đình ít thế
hệ cùng sinh sống
Xu hướng phát triển của gia đình ở thành phố ngày nay là gia đình nhỏ với 2 thế hệ sinh sống chiếm tỉ lệ khá cao Theo nghiên cứu cấu trúc, chức năng
và vai tró của gia đình Hà Nội của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cho thấy
có tới 82,9% gia đình 2 thế hệ Gia đình sống 3 thế hệ chiếm 17,1% [90]
Theo điều tra của chúng tôi, xu hướng phát triển cơ bản của gia đình trí thức thành phố Hà Nội hiện nay cũng nằm trong xu hướng chung của gia đình thành phố Hà Nội nhưng có sự chênh lệch giữa các quận Gia đình nhỏ với 2 thế hệ chiếm tỉ lệ khá cao như quận Long Biên có 71%, quận Ba Đình chiếm 57%, quận Hoàn Kiếm chiếm 24,5%; gia đình 3 thế hệ có tỉ lệ lần lượt là: 23%; 37%; 58%