Quan sát thực trạng bình đẳng giới cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia, UNDP cũng thấy rằng bất bình đẳng giới thực sự vừa là một trong những nguyên nhân cơ bản của tì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS ĐỖ THỊ THẠCH
HÀ NỘI - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Đỗ Thị Thạch Các trích dẫn tham khảo được chú thích đầy đủ, chi tiết Luận văn
có tham khảo các công trình khoa học khác với tinh thần cầu thị, học hỏi Những kết luận khoa học trong luận văn chưa có
ở các công trình khoa học khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Lệ Thu
Trang 41.1 Quan niệm về giới và bình đẳng giới trong gia đình 12
1.1.4 Tầm quan trọng của bình đẳng giới trong gia đình đối với
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách của
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 30 1.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới 34 1.2.3 Chính sách của Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới 39 1.3 Một số yếu tố tác động đến quan hệ giới trong gia đình dân tộc
Chương 2: BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
VÙNG ĐÔNG BẮC NƯỚC TA - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 54 2.1 Thực trạng và một số vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện bình
đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc nước
2.1.1 Một vài nét về gia đình dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc 54
Trang 52.1.2 Thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong gia đình dân
2.1.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện bình đẳng giới
trong gia đình dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc nước ta
2.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường bình đẳng giới trong gia
2.2.1 Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở vùng dân
tộc thiểu số tạo tiền đề thực hiện tốt bình đẳng giới trong
2.2.2 Nâng cao nhận thức về mục tiêu bình đẳng giới cho các
2.2.3 Tiếp tục nâng cao trình độ học vấn cho đồng bào dân tộc
thiểu số vùng Đông Bắc nhất là cho phụ nữ 94 2.2.4 Xây dựng gia đình văn hóa trên cơ sở bình đẳng giới 96 2.2.5 Phát huy vai trò của hệ thống chính trị 97 2.2.6 Hoàn thiện cơ chế chính sách về bình đẳng giới đối với
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Người làm chính trong công việc nông nghiệp 60
Bảng 2.2: Tình hình lao động của phụ nữ dân tộc Mông và Tày
với những hoạt động kinh tế hộ gia đình 61
Bảng 2.3: Mức độ tham gia của vợ và chồng trong công việc nội trợ
Bảng 2.4: Người quyết định chính trong hoạt động sản xuất, kinh doanh 72
Bảng 2.5: Ai là người quyết định sử dụng vốn (theo nghề nghiệp) 74 Bảng 2.6: Người quyết định các khoản chi lớn của gia đình 75
Bảng 2.7: Người đại diện cho gia đình tham gia hoạt động cộng đồng 77
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của các cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ những sự bất bình đẳng xã hội, trong đó có bất bình đẳng giới Bình đẳng nam nữ một cách toàn diện, đầy đủ là lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi hàng nhiều thế kỷ
Ngày nay khi nói đến phát triển, người ta không chỉ đề cập đến chỉ số phát triển con người HDI mà còn xem xét đến chỉ số phát triển liên quan đến giới GDI (Gender Devevelopment Index) Những nghiên cứu thực tế cho thấy đầu tư cho phụ nữ mang lại hiệu quả, lợi ích cao hơn bất kỳ sự đầu tư nào ở các nước đang phát triển Hay nâng cao khả năng và tạo cơ hội lựa chọn cho phụ nữ không chỉ đem lại lợi ích cho họ mà còn là cách chắc chắn nhất để đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và phát triển chung [68] Những minh chứng đó chứng tỏ bình đẳng giới đã trở thành một trong những vấn đề của phát triển mang tính toàn cầu
Theo báo cáo của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đến cuối thế kỷ XX, các quốc gia đều đạt được những thành tựu quan trọng về phát triển con người, nhưng vẫn còn có sự khác biệt trong các chỉ số phát triển giữa nam và nữ Trong đó, người ta nhận thấy rằng sự phát triển năng lực của phụ nữ ở tất cả các quốc gia còn thấp hơn nam giới, đặc biệt tại các quốc gia chậm phát triển
Quan sát thực trạng bình đẳng giới cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội
ở các quốc gia, UNDP cũng thấy rằng bất bình đẳng giới thực sự vừa là một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đói nghèo, vừa là rào cản lớn đối với sự phát triển bền vững và tác động tiêu cực không chỉ đến phụ nữ mà đến tất
cả các thành viên trong xã hội
Trước thực tế đó, bình đẳng giới đã trở thành một trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG), được Đại hội đồng Liên hợp quốc đề ra vào đầu thiên niên kỷ mới
Trang 8Ở nước ta, sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã được Đảng và Nhà nước quan tâm ngay từ buổi đầu cách mạng Khẩu hiệu “nam nữ bình quyền” được khẳng định từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946) Cho đến nay, Đảng và Nhà nước luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Việc chăm lo phát triển nguồn lực con người là một nhân tố quyết định thành công của công cuộc đổi mới, trong đó các tiêu chí phát triển được hướng vào cả nam và nữ
Vùng Đông Bắc nước ta bao gồm 11 tỉnh, là địa bàn tụ cư của nhiều dân tộc thiểu số Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế cùng với hội nhập kinh
tế thế giới đã tạo cho vùng Đông Bắc có bước khởi sắc mới, đời sống của người dân từng bước được cải thiện, nhưng đây vẫn là một trong những vùng kinh tế - xã hội phát triển chậm so với các vùng khác trong cả nước Hạn chế này có nhiều nguyên nhân trong đó định kiến giới nặng nề là nguyên nhân khá nổi bật Do vậy chưa khai thác, phát huy được tiềm năng của lực lượng lao động nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số Đại bộ phận các gia đình dân tộc thiểu số đang sống ở mức nghèo đói, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, miền núi Trong bộ phận dân cư ấy, phụ nữ lại là nhóm xã hội cực khổ nhất Họ là một lực lượng xã hội quan trọng có ảnh hưởng toàn diện đến sự phát triển của khu vực dân tộc và miền núi Họ vừa phải tham gia lao động sản xuất ngoài xã hội, cộng đồng; vừa trực tiếp chăm lo công việc gia đình nên cường độ lao động và thời gian lao động đối với họ là quá tải trong khi mức thu nhập lại thấp, thậm chí họ lao động vất vả nhưng ít được cộng đồng, xã hội đánh giá khách quan đầy đủ
Xuất phát từ lý do trên, hơn nữa được sinh ra và trưởng thành ở vùng đất
này, tác giả chọn đề tài “Bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc nước ta hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sỹ Triết học chuyên
ngành chủ nghĩa xã hội khoa học, mong muốn góp một phần nhỏ vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ và thực hiện bình đẳng giới khu vực Đông Bắc hiện nay
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đấu tranh cho mục tiêu bình đẳng giới bao gồm các hoạt động nghiên cứu khoa học và thực tiễn mang tính toàn cầu Tuy vậy, nghiên cứu khoa học về giới
và bình đẳng giới được “phổ biến ” vào Việt Nam và chính thức trở thành một chuyên ngành khoa học độc lập chỉ trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây (nhiều nhà khoa học coi sự kiện thành lập trung tâm nghiên cứu phụ nữ, nay là viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, thuộc viện Khoa học xã hội Việt Nam vào năm
1987 như là cột mốc của sự ra đời và phát triển của khoa học này)
Các công trình nghiên cứu của cá nhân hoặc tổ chức đã góp phần luận giải
nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra trong nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội, thực hiện bình đẳng giới trong gia đình
- Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (1996), “Phụ nữ - giới và phát triển”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Tác giả cuốn sách đã tiếp cận vấn đề nghiên
cứu dựa trên mối quan hệ giữa phụ nữ - giới và phát triển Phân tích vị trí, vai trò của phụ nữ trong đổi mới kinh tế - xã hội gắn với vấn đề việc làm, thu nhập, sức khỏe, học vấn chuyên môn; phụ nữ quản lý kinh tế - xã hội; phụ nữ và gia đình; chính sách xã hội đối với phụ nữ và ảnh hưởng của chính sách xã hội đối với phụ nữ và thực hiện bình đẳng giới
- Lê Thi (1998), “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam”,
Nxb Phụ nữ, Hà Nội Công trình khoa học này chính là kết quả bước đầu của
sự vận dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước, cũng như quan điểm tiếp cận giới vào việc xem xét các vấn đề có liên quan đến bình đẳng giới, kết hợp với các hình thức thu thập thông tin qua các cuộc khảo sát đời sống phụ nữ công nhân, nông dân, trí thức trong quá trình đổi mới đất nước Từ đó đã nêu lên những vấn đề đáng quan tâm và đề xuất ý kiến về một số chính sách xã hội cần thiết, nhằm xây dựng sự bình đẳng giới trong tình hình mới
- Chu Thị Thoa - Luận án tiến sĩ Triết học (2002), “Bình đẳng giới trong gia đình ở nông dân đồng bằng sông Hồng hiện nay” Tác giả đã phân
Trang 10tích thực trạng bình đẳng giới trong gia đình ở vùng đồng bằng sông Hồng trong công cuộc đổi mới và đề xuất những giải pháp nhằm từng bước xóa bỏ bất bình đẳng giới trong gia đình nông dân đồng bằng sông Hồng
- Nguyễn Linh Khiếu (2003), “Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình”,
Nxb KHXH, Hà Nội Tác giả đã phân tích làm sáng rõ vai trò của phụ nữ cũng như quan hệ giới trong gia đình thể hiện trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, tiếp cận nguồn lực, giáo dục và chăm sóc sức khỏe Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh hơn đối với phụ nữ nông thôn miền núi, vị thế của họ trong gia đình cũng như những rào cản văn hóa đang cản trở quá trình phát triển của
họ Những kết luận mà tác giả khái quát cũng chính là những vấn đề đặt ra cho những nhà khoa học cũng như những nhà hoạch định chính sách đối với vấn đề phụ nữ - giới và gia đình
- Phan Thanh Khôi - Đỗ Thị Thạch (Đồng chủ biên) (2007), “Những vấn đề giới - từ lịch sử đến hiện đại” Đây là công trình của tập thể các nhà
khoa học của Viện CNXHKH - Học viện CTQG Hồ Chí Minh Các tác giả của công trình đã nghiên cứu các vấn đề về giới từ tiếp cận trong các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đến vấn
đề giới trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam; vấn đề giới trong một số phương tiện thông tin đại chúng và trong sách giáo khoa Có thể nói, đây là một công trình đã đề cập đến tương đối đầy đủ những vấn đề về giới Đó cũng chính là căn cứ lý luận và thực tiễn về thực trạng quan hệ giới ở nước ta hiện nay
- Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên), (2008),“Bình đẳng giới ở Việt Nam”, (Phân tích số liệu điều tra) Nxb KHXH, Hà Nội
Với mục tiêu chính là điều tra cơ bản về bình đẳng giới, xác định thực trạng bình đẳng giới về cơ hội và khả năng nắm bắt cơ hội của phụ nữ và nam giới
và tương quan giữa hai giới trên lĩnh vực lao động - việc làm, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe và địa vị trong gia đình, cộng đồng và xã hội
Trang 11- Trịnh Quốc Tuấn - Đỗ Thị Thạch (Đồng chủ biên) (2008), “Khoa học giới - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” Các tác giả của công trình này đã
cung cấp một bức tranh về lịch sử phát triển của khoa học giới; đồng thời nghiên cứu vấn đề giới dựa trên cách tiếp cận các lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội: Vấn đề giới trong lĩnh vực kinh tế - lao động; giới trong chiến lược giảm nghèo; giới trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý; giới trong hoạch định và thực thi chính sách; giới trong lĩnh vực văn hóa; giới trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo; giới trong gia đình và chiến lược dân số; lồng ghép giới trong các chương trình phát triển
- Đỗ Thị Thạch (2010): “Tác động của toàn cầu hóa đối với thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” (đề tài khoa học cấp cơ sở của viện Chủ
nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) Trên cơ sở phân tích làm rõ sự tác động của toàn cầu hóa đến việc thực hiện bình đẳng giới trong các mặt đời sống xã hội và gia đình, đề tài đề xuất một số giải pháp để phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của toàn cầu hóa tới thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
Đối với gia đình dân tộc thiểu số và vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu số trong gia đình và xã hội, chúng ta có thể kể đến một số công trình sau:
- Đỗ Thị Bình (2001), “Mấy vấn đề về vai trò giới trong gia đình nông thôn hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp các xã miền núi phía Bắc), Khoa
học về phụ nữ, số 3, tr 20-33 Từ phân tích vai trò giới trong gia đình dân tộc Thái, Mông, Dao, tác giả đã chỉ ra sự biến đổi vai trò giới trong gia đình ở đây theo cả hai xu hướng tích cực và tiêu cực
- Đặng Thị Hoa (2001), “Vị thế của người phụ nữ H’Mông trong gia đình và xã hội”, (Nghiên cứu ở bản Hang Kia, xã Hang Kia, huyện Mai
Châu, Hòa Bình), Khoa học về phụ nữ, số 1, tr 33-36 Tác giả phân tích vai trò, vị thế của phụ nữ H’mông trong gia đình trước đây cũng như hiện nay
và kết luận: Người phụ nữ H’mông là người phụ thuộc trong gia đình lại
Trang 12càng trở nên bị cách biệt trong xã hội khi họ không có trình độ học vấn, ngôn ngữ phổ thông, không thể hòa nhập vào cộng đồng và càng không thể chủ động tham gia công tác xã hội Những ràng buộc về phong tục tập quán, thói quen trong suy nghĩ, cách làm của họ bị khép kín trong cộng đồng và chưa thể hòa nhập với nhịp độ phát triển của xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
- Nguyễn Linh Khiếu (2002), “Khía cạnh quan hệ giới trong gia đình nông thôn miền núi” (Nghiên cứu trường hợp xã Cát Thịnh, Văn Chấn, Yên
Bái), Khoa học về phụ nữ, số 1, trang 25- 29 Trong khuôn khổ một cuộc khảo sát tiền dự án tại một xã nghèo miền núi phía Bắc, tác giả đã chỉ ra những thành tựu đã đạt được, những hạn chế cần phải khắc phục, cũng như những xu hướng vận động và phát triển trong tương lai của nông thôn miền núi phía Bắc Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay
- Đặng Thị Ánh Tuyết (2005) “Thực hiện bình đẳng giới các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Xã hội học Trên cơ sở
phân tích thực trạng thực hiện bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống
xã hội và gia đình (Qua khảo sát ở Yên Bái và Hà Giang), tác giả đã đề xuất phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện bình đẳng giới ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
Những công trình trên bước đầu đặt cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phụ
nữ - gia đình theo phương pháp tiếp cận giới - một phương pháp nghiên cứu mới nhưng rất hiệu quả, đã phác họa bức tranh đa dạng, nhiều vẻ về địa vị người phụ
nữ trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay Qua đó tác động đến suy nghĩ, quan niệm, thái độ và hành vi của mọi người đối với gia đình và bình đẳng giới ở Việt Nam thời gian qua, do vậy đây là những tư liệu hết sức quý cho việc triển khai đi sâu nghiên cứu của tác giả
Tuy nhiên hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc nước ta
Trang 13Đề tài “Bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc nước ta hiện nay” trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành quả nghiên cứu
trước đây về gia đình, vai trò phụ nữ nói chung, góp phần đưa ra cái nhìn đầy đủ hơn về thực trạng bình đẳng giới trong môi trường sinh hoạt gia đình dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Trên cơ sở làm rõ thực trạng, những vấn đề đặt ra đối với vấn đề bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc nước ta, luận văn đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm khắc phục sự bất bình đẳng về giới, nâng cao
vị thế người phụ nữ trong gia đình, góp phần xây dựng gia đình văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu bình đẳng giới (mối quan hệ
giới) trong gia đình dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc nước ta hiện nay
Phạm vi: Dưới góc độ lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học, luận văn tập
trung nghiên cứu làm rõ thực trạng việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số chủ yếu ở một số tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng với các dân tộc thiểu số là Mông, Tày trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới, gia đình và vị thế, vai trò của phụ nữ
Trang 14- Trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu là: phân tích, tổng hợp, khái quát, điều tra xã hội học, so sánh, thống kê, đối chiếu…
6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thực trạng bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số ở Đông Bắc, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra
- Bước đầu luận văn nêu lên một số giải pháp nhằm hạn chế bất bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc, góp phần thực hiện công cuộc giải phóng phụ nữ, xây dựng gia đình văn hóa ở miền núi
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Bằng những đóng góp mới về mặt khoa học nêu trên, luận văn góp phần làm cơ sở lý luận cho hoạch định các chủ trương, chính sách của địa phương nhằm tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ phát triển, xây dựng gia đình văn hóa
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ Hội Phụ
nữ nói chung và Hội Phụ nữ Hà Giang, Cao Bằng nói riêng, làm tài liệu giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học, các chuyên đề về gia đình và giới
8 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu và phụ lục, luận văn gồm
2 chương, 5 tiết
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG GIA ĐÌNH
1.1 Quan niệm về giới và bình đẳng giới trong gia đình
1.1.1 Quan niệm về giới
Giới là khái niệm mới xuất hiện trong khoa học về giới ở các nước nói tiếng Anh vào cuối những năm 60 và ở nước ta vào những năm 80 của thế kỉ
XX Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giới
Tác giả Trần Thị Quế trong công trình “Những khái niệm cơ bản về giới và vấn đề giới ở Việt Nam” đã đưa ra định nghĩa “ Giới là các quan niệm,
hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể Nói cách khác, nói đến giới là nói đến
sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ xã hội”[54]
Trong tác phẩm “Tóm tắt tình hình giới” của Liên hiệp quốc ở Việt
Nam cũng đã đưa ra một định nghĩa về giới: Giới là sự tập hợp các hành vi học được từ xã hội và những kỳ vọng về các đặc điểm và năng lực được cân nhắc nhằm xác định thế nào là một nam giới hay một phụ nữ (hoặc một cô bé hay một cậu bé) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định Giới cũng phản ánh các mối quan hệ giữa nam và nữ, ai cần làm gì và ai là người kiểm soát việc ra quyết định, tiếp cận các nguồn lực và hưởng lợi [67]
Theo Luật Bình đẳng giới Việt Nam năm 2006, giới là khái niệm chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội [57]
Tóm lại, khi nói về giới có thể hiểu là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn của cải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam
và nữ trong xã hội Trong phần lớn các xã hội, là một người đàn ông hay là một người phụ nữ không chỉ có các đặc điểm sinh học khác nhau mà còn
Trang 16phải đối diện với những mong đợi khác nhau của xã hội về mặt ngoại hình, cách cư xử, tính cách và những công việc được cho là thích hợp đối với giới tính của người đó Ví dụ theo quan niệm và thói quen đã có từ lâu đời ở nhiều nước, nhiều khu vực thì phụ nữ phải làm hầu hết các công việc trong nhà như nấu ăn, chăm sóc con, phục vụ chồng… Còn nam giới thì có trách nhiệm lao động sản xuất để nuôi gia đình và làm các công việc xã hội
Khi bàn về khái niệm giới, các nhà khoa học còn dựa vào các đặc trưng sau đây:
Thứ nhất: Do học mà có, khác với giới tính, những đặc trưng về giới là
do dạy và học mà có Khi sinh ra, con người chưa có trong bản thân sự phân biệt giới mà họ dần dần tiếp thu và chấp nhận từ nền nếp của gia đình, quy ước của xã hội và chuẩn mực của nền văn hóa Đứa trẻ phải học để làm con trai hoặc con gái Bắt đầu từ khi sinh ra nó đã được đối xử và dạy dỗ tùy theo việc nó là trẻ trai hay gái Đó là sự khác biệt về quần áo, đồ chơi, cách nói năng, thái độ và có thể cả thức ăn và tình cảm của cha mẹ, anh chị
Đứa trẻ cũng được dạy dỗ để trở thành phụ nữ hay nam giới theo quan niệm, khuôn mẫu của xã hội Ví dụ con trai không được khóc, phải tỏ ra mạnh
mẽ, dũng cảm, không được chơi búp bê, còn con gái không được cáu kỉnh, không được nói to, phải dịu dàng, giúp mẹ cơm nước, nội trợ
Các quan niệm vốn có này và các dự định, mong đợi của cha mẹ, anh
em, họ hàng, bạn bè và xã hội đối với trẻ trai và gái trở thành khuôn mẫu đối với trẻ trai và gái, trở thành khuôn mẫu cụ thể đối với mỗi giới, khiến nó luôn phải điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp Bởi vậy sở dĩ phụ nữ hay làm việc nội trợ hay đi cấy thì không phải vì họ là phụ nữ mà vì họ đã được dạy để làm những việc đó từ khi còn là đứa trẻ
Tiếp đó nhà trường và quan niệm về tập quán xã hội tiếp tục củng cố các khuôn mẫu cụ thể về từng giới Ví dụ nam sinh học thêm môn kỹ thuật, xây dựng; nữ sinh học môn nữ công Các thể chế như chính sách, luật pháp…
Trang 17cũng có ý nghĩa làm tăng hoặc giảm sự khác biệt giữa hai giới Chẳng hạn: ưu tiên nhận phụ nữ vào các nghề thư ký, đánh máy, lễ tân…
Thứ hai: Đa dạng, giới thể hiện các đặc trưng của những quan hệ xã hội
giữa phụ nữ và nam giới cho nên rất đa dạng Địa vị của người phụ nữ xã hội Việt Nam khác xa so với địa vị của phụ nữ ở các nước Hồi giáo Ngay ở Việt Nam, địa vị xã hội của phụ nữ nông thôn cũng không hoàn toàn giống phụ nữ thành thị
Thứ ba: Luôn biến động, quan hệ giới luôn luôn biến đổi cùng với xã
hội và các yếu tố xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, các phong tục tập quán… Chẳng hạn quan niệm của đạo Khổng về việc con gái không cần cho
đi học đã thay đổi căn bản dưới chế độ xã hội chủ nghĩa; gia đình truyền thống thường thích con trai hơn con gái nhưng điều đó đang có những thay đổi ở những gia đình trẻ
Thứ tư: Có thể thay đổi, các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội là
hoàn toàn có thể thay đổi được Quan niệm các công việc “bếp núc” là “thiên chức” của người phụ nữ đang được xem xét lại khi có rất nhiều đầu bếp giỏi
là nam giới Trong nhiều gia đình hạt nhân, khi cả vợ và chồng cùng phải tham gia một cách tích cực vào quá trình sản xuất nhằm tăng thu nhập thì nam giới đang tham gia một cách tích cực vào các công việc nội trợ như nấu ăn, chăm sóc con cái… Thậm chí trong một số gia đình, khi người vợ tham gia vào các công việc quản lý, điều hành xã hội, tham gia công việc sản xuất nhiều hơn chồng, người chồng đã thay vai trò của người vợ đảm đương các công việc gia đình, người vợ có điều kiện tham gia những công việc sản xuất hay làm các công tác lãnh đạo, các công việc quản lý xã hội nhiều hơn
Có thể thấy rằng, sự khác biệt xã hội giữa nam và nữ do xã hội tạo ra,
sự khác biệt đó đã đưa tới sự bất bình đẳng giữa nam và nữ Bất bình đẳng giới thực chất là sự bất bình đẳng xã hội, là sự bất công phổ biến, lâu dài và nặng nề về mặt xã hội Xóa bỏ sự bất bình đẳng giới vì thế rất cần thiết nhằm thay đổi tương quan địa vị xã hội giữa nam và nữ
Trang 181.1.2 Quan niệm về bình đẳng giới
Khái niệm bình đẳng giới
Bình đẳng giới là một khái niệm hàm chứa ý nghĩa xã hội to lớn Sự
ra đời của khái niệm bình đẳng giới là kết quả của phong trào phụ nữ và chủ nghĩa nữ quyền Lịch sử nhân loại ở các nền văn hóa khác nhau, trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội và nhiều thời đại, đã cung cấp nhiều bằng chứng về sự bất bình đẳng đối với phụ nữ, về thân phận khốn cùng của người phụ nữ Do đó, ngay từ khi ra đời, phong trào phụ nữ đã là phong trào đòi quyền bình đẳng, đòi giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào nam giới và cho ra đời phong trào nữ quyền và chủ nghĩa nữ quyền (feminism) Bình đẳng giới là nguyên tắc chỉ đạo của phong trào nữ quyền trong suốt mấy chục năm qua Mặc dù vậy, không phải lúc nào, ở đâu cũng có cách hiểu thống nhất về vấn đề này Có rất nhiều quan điểm khác nhau về bình đẳng giới:
Bình đẳng giới là phụ nữ và nam giới cùng có những điều kiện như nhau để phát huy hết năng lực tiềm tàng của mình, cùng có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng thụ bình đẳng các kết quả phát triển của quốc gia trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Điều quan trọng nhất là bình đẳng giới đem lại kết quả ngang nhau cho cả phụ nữ và nam giới [67]
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới Nam giới và phụ nữ cũng có vị thế bình đẳng và được tôn trọng như nhau Phụ nữ và nam giới cùng: có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện mong muốn của mình,
có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và hưởng thụ từ các nguồn lực của
xã hội và quá trình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong tiếng nói [76]
Bình đẳng giới là sự bình đẳng về luật pháp, về cơ hội, bao gồm sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong thù lao cho công việc và bình đẳng trong tiếng nói [2]
Trang 19Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [57]
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới, là tình hình lý tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, có các cơ hội bình đẳng để phát hiện đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển chung
và hưởng lợi bình đẳng từ các kết quả đó [28, tr 37]
Như vậy, bình đẳng giới trước hết được hiểu là sự đối xử như nhau giữa nam giới và phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội Nguyên tắc đối xử như nhau là điều hết sức cần thiết, song có lẽ nó chưa đủ
để phụ nữ được bình đẳng thực sự Vì việc đối xử như nhau, cơ hội như nhau không đem lại kết quả như nhau đối với giới nữ và giới nam, vì cũng là con người như nam giới nhưng phụ nữ lại có những đặc tính hết sức riêng biệt (do đặc trưng sinh học và đặc trưng xã hội quy định hay chi phối), cho nên, nếu chỉ thực hiện sự đối xử như nhau căn cứ vào cái chung và không chú ý đến cái riêng để có các đối xử đặc thù thì sẽ không có bình đẳng thực sự Những đối
xử đặc thù tác động đến sự khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ, hạn chế những thiệt thòi của phụ nữ, tác động làm thay đổi vị thế của phụ nữ do lịch sử để lại được duy trì chừng nào đạt được sự bình đẳng hoàn toàn Đối xử đặc thù không chỉ căn cứ vào sự khác biệt giữa nam và nữ, quá trình bình đẳng giới còn phải chú ý sự khác biệt ngay trong giới nữ, thể hiện qua các nhóm phụ nữ khác nhau: giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân và nông dân, trí thức, giữa phụ nữ giàu và phụ nữ nghèo… Như vậy, đối xử như nhau giữa các bộ phận xã hội không giống nhau sẽ không thể đạt tới bình đẳng, điều kiện để đạt tới bình đẳng chính là sự đối xử đặc thù dành cho các nhóm xã hội yếu thế Đối xử đặc thù sẽ chấm dứt ngay sau khi bình đẳng giới được thực hiện, vì kéo dài quá mức các biện pháp đặc biệt khó tránh khỏi hậu quả làm tái hiện
Trang 20tình trạng bất bình đẳng Luật Bình đẳng giới (2007) của Việt Nam gọi đó là biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, trong đó chỉ rõ: đây là biện pháp nhằm đảm bảo bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển
mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được
Ngoài ra khi đề cập tới bình đẳng giới, không nên hiểu bình đẳng giới theo cách đơn giản là nam giới và nữ giới tham gia như nhau trong tất cả các hoạt động, cũng không phải là phương châm phụ nữ “vùng lên” đòi hỏi quyền lợi ngang bằng với nam giới, bất chấp sự khác biệt về đặc tính sinh học giữa nam và nữ Việc không phân định rõ ràng sự khác biệt mang tính chất giới và giới tính lại chỉ thấy có một phía là không bình đẳng nghiêng về phía nữ, chắc chắn sẽ dẫn đến hệ quả ngược lại với mong muốn ban đầu mang tính nhân văn sâu sắc của nhận thức giới và cách giải quyết sẽ chỉ là: hoặc hoán vị vai trò giới một cách máy móc những gì phụ nữ có và phải làm thì đem chuyển cho nam giới và ngược lại, hoặc đi đến chủ nghĩa bình quân giữa nam và nữ
để chi chia nhau cơ hội, lợi ích, trách nhiệm…
Qua sự phân tích trên có thể hiểu bình đẳng giới là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ có xét đến những đặc điểm giống nhau và khác nhau của mỗi giới, thậm chí sự cả sự khác biệt trong giới nữ, và được điều chỉnh bởi các chính sách đối với từng giới một cách hợp lí Những chính sách
về bình đẳng giới phải thể hiện những đặc điểm sau: tính ngang bằng của nữ giới với nam giới trong mọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế - xã hội và gia đình; tính ưu đãi: Do đặc điểm sinh học và quan hệ xã hội mang tính truyền thống của phụ nữ là thiệt thòi hơn so với nam giới nên để đạt được sự bình đẳng giới cần có sự đối xử ưu đãi, khuyến khích đặc biệt và hợp lý đối với
Trang 21phụ nữ; tính linh hoạt: Sự đối xử ưu đãi với phụ nữ cần mềm dẻo, được điều chỉnh linh hoạt trong từng hoàn cảnh cụ thể, không mang tính bất biến
Bình đẳng giới theo yêu cầu của xã hội hiện nay cần phải gắn với quan điểm phát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Nó đòi hỏi một
sự chuyển biến đồng bộ của tất cả mọi thành phần, mọi lứa tuổi, nhưng trước hết đối với nam giới trong hàng loạt vấn đề: từ nhận thức đến thái độ ứng xử
xã hội và hành vi cụ thể trong mối quan hệ với phái nữ Vậy thực chất nội dung của bình đẳng giới là gì, đó là vấn đề mà chúng ta cần quan tâm, phải đề cập tới
Nội dung của bình đẳng giới
Lịch sử phát triển của xã hội cho thấy rằng tiến bộ xã hội sẽ chậm lại nếu trong xã hội có một bộ phận đông đảo người bị hạn chế hoặc loại trừ Tác động tiêu cực đối với bộ phận bị hạn chế hoặc loại trừ sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến toàn xã hội Tác động tiêu cực của sự đối xử không bình đẳng đối với phụ nữ không chỉ làm giảm thiểu sự đóng góp của phụ nữ - chiếm phần nửa dân số thế giới và của các quốc gia - cho nền sản xuất của xã hội, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống gia đình và việc chăm sóc, nuôi dưỡng thế
hệ mai sau
Chính vì nhận thức được điều này mà ngày nay vấn đề bình đẳng giới đang là vấn đề có tính quốc tế, là mối quan tâm của toàn nhân loại Sự
nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm hướng tới bình đẳng nam - nữ thể hiện
rõ nhất tại Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (viết tắt theo tiếng anh là CEDAW) Công ước này được Đại hội đồng Liên Hợp quốc phê chuẩn ngày 18-2-1979 và sau khi nước thứ 20 thông qua ngày 3/9/1981, Công ước này bắt đầu có hiệu lực như một Hiệp ước quốc tế Đến nay đã có trên 185 quốc gia cam kết thực hiện các điều khoản của Công ước này và là Văn kiện quốc tế có số thành viên tham gia đông thứ hai trên thế giới sau Công ước về quyền trẻ em Lần đầu tiên các
Trang 22quyền con người của phụ nữ được đề cập một cách toàn diện nhất trong công pháp quốc tế
Theo tinh thần của công ước CEDAW, nội dung bình đẳng giới bao gồm các lĩnh vực:
+ Bình đẳng về chính trị
+ Bình đẳng trong kinh tế, việc làm
+ Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục
+ Bình đẳng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe
+ Bình đẳng trong vấn đề hôn nhân và gia đình
Bình đẳng giới được đề cập một cách toàn diện, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tùy điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia mà lĩnh vực cụ thể nào đó của bình đẳng giới có thể được nhấn mạnh hơn, nhưng không được tách rời và xem nhẹ các lĩnh vực khác
Việt Nam là quốc gia thứ 6 ký công ước CEDAW Cho đến nay, Việt Nam là một trong các quốc gia tích cực thực hiện các cam kết của mình nhằm thúc đẩy sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ Với quan điểm thừa nhận những sự khác biệt về giới và giới tính giữa nam và nữ, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện tốt công ước CEDAW Quan điểm thực hiện đối
xử đặc biệt với phụ nữ trên mọi lĩnh vực đã được cụ thể hóa trong các chính sách, các chương trình, dự án phát triển ở Việt Nam, trong Kế hoạch Hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, đặc biệt đã ban hành Luật Bình đẳng giới (2007) thể hiện rõ sự quyết tâm của Việt Nam trong việc thực hiện bình đẳng giới
Theo Luật Bình đẳng giới (2007) của nước ta, nội dung của bình đẳng giới gồm có:
Trang 23+ Bình đẳng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
+ Bình đẳng trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục thể thao
+ Bình đẳng trong lĩnh vực y tế
+ Bình đẳng trong gia đình
Như vậy, bình đẳng giới trong gia đình là một trong tám lĩnh vực thực hiện bình đẳng giới được luật hóa ở nước ta hiện nay
1.1.3 Bình đẳng giới trong gia đình
Quan niệm về gia đình
Gia đình là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân Từ khi lọt lòng đến suốt cuộc đời, mỗi cá nhân tìm thấy ở gia đình sự đùm bọc về vật chất và tinh thần, tiếp thu sự giáo dưỡng về mọi mặt, hưởng thụ những niềm vui của cuộc sống, được động viên chia sẻ khi gặp khó khăn, bệnh tật, rủi ro Gia đình
là nơi đảm bảo những điều kiện an toàn cho trẻ thơ phát triển, người già có nơi nương tựa, không bị hiu quạnh cô đơn, người lao động được phục hồi sức khỏe, lấy lại sự cân bằng tâm lý sau giờ lao động mệt mỏi
Từ lâu chủ đề gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, những chủ đề nghiên cứu về gia đình luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học không chỉ ở Việt Nam
mà trên cả thế giới Thực tiễn đời sống đã chứng minh gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt mà khó có thiết chế nào có thể thay thế được Vậy gia đình
là gì? Có khá nhiều định nghĩa về gia đình, trong phạm vi luận văn, gia đình được hiểu: “ Là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ
và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định” [55]
Quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng làm cho mỗi thành viên trong gia đình có thể sẵn sàng hi sinh, nhường nhịn các quyền lợi cho nhau không so tính thiệt hơn, thậm chí người phụ nữ xem sự hy sinh cho chồng con như trách nhiệm, niềm hạnh phúc của mình, đây là một giá trị cao quý riêng
Trang 24có của gia đình Nhưng nếu các thành viên, đặc biệt là người chủ gia đình không chú ý giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa họ với nhau thì các yếu
tố bất công đối với người này hay người khác, đặc biệt với phụ nữ sẽ nảy sinh
và phát triển, đe dọa tới sự ổn định bền vững của gia đình
Trong mối quan hệ với từng thành viên của mình, gia đình được xem như “cái toàn thể”, nhưng trong mối quan hệ với xã hội nó lại là “cái bộ phận” Chính vì lẽ đó, sự tồn tại của gia đình luôn luôn phải giải quyết tốt các mối liên hệ bên trong (giữa các thành viên) cũng như mối liên hệ bên ngoài (giữa gia đình với cộng đồng, xã hội) Sự tồn tại của gia đình không chỉ đem lại ý nghĩa lớn lao đối với mỗi cá nhân mà có ý nghĩa lớn đối với xã hội Vì vậy, việc xây dựng gia đình mới là một trong những vấn đề quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa Việc xã hội tạo điều kiện và cá nhân phấn đấu cho một gia đình hạnh phúc là trách nhiệm cao cả mang ý nghĩa nhân văn thiết thực và là một biểu hiện của tiến bộ xã hội
Từ truyền thống đến hiện đại, hơn ai hết, phụ nữ rất coi trọng gia đình, điều này có nguyên nhân tự nhiên và truyền thống văn hóa Với chức năng tự nhiên, phụ nữ mang thai, sinh con, gắn kết của phụ nữ với con cái dường như lớn hơn nam giới, bởi đây là sự gắn kết từ trong bào thai đứa trẻ, rồi sinh ra, nuôi nấng và dõi theo suốt cuộc đời đứa con Theo truyền thống văn hóa, phụ
nữ là người đảm nhiệm chính công việc trong gia đình, dù ngọt bùi hay đắng cay, nhưng bao giờ ý thức trách nhiệm với gia đình cũng thường trực trong
họ Ngày nay, phụ nữ đang tham gia vào mọi mặt hoạt động của xã hội, nhưng không vì thế mà tình cảm, trách nhiệm của họ đối với gia đình giảm đi Trong các mối quan hệ giữa các thành viên của gia đình thì quan hệ giữa vợ
và chồng được xem là mối quan hệ nền tảng, từ đó hình thành và chi phối các mối quan hệ khác Vì vậy, bình đẳng giữa vợ và chồng trong cuộc sống gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng, nhưng điều làm chúng ta không khỏi băn khoăn là sự bất bình đẳng về giới vẫn đang tồn tại phổ biến trong gia đình,
Trang 25đây thực sự là sự thiệt thòi cho xã hội, cho mỗi cá nhân và đặc biệt đối với phụ nữ Cần phải hiểu rõ thực chất bình đẳng giới trong gia đình bao gồm những nội dung gì để có thể hạn chế sự bất bình đẳng giới trong gia đình
Bình đẳng giới trong gia đình
Quan hệ giữa gia đình với xã hội là quan hệ giữa cái bộ phận với cái toàn thể Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Trong mối quan hệ với xã hội, gia đình là yếu tố hạt nhân, vì vậy xã hội muốn đạt tới bình đẳng về giới phải chú ý giải quyết tốt mối quan hệ về giới ngay từ trong gia đình Về mặt khái niệm, các nghiên cứu thường dừng lại ở khái niệm bình đẳng giới mà ít đề cập tới khái niệm bình đẳng giới trong gia đình Mặc dù chỉ là một cấp độ của bình đẳng giới nhưng bình đẳng giới trong gia đình lại thể hiện các khía cạnh rất phong phú thông qua quan hệ giữa nam và nữ trên một loạt vấn đề
Điều 18, Luật Bình đẳng giới (2007) nêu rõ nội dung bình đẳng giới trong gia đình qua các khía cạnh sau:
+ Lĩnh vực pháp luật: Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự
và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình
+Lĩnh vực về quyền quyết định: Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau
trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình
+ Lĩnh vực tái sinh sản: Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn
bạc quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình phù hợp,
sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật
+ Lĩnh vực giáo dục con cái: Con trai, con gái được gia đình chăm sóc,
giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển
+ Lĩnh vực sản xuất: Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách
nhiệm chia sẻ công việc gia đình
Trang 26Theo Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, có thể dựa vào 4 công cụ để đánh giá bình đẳng giới hay bất bình đẳng giới trong gia đình: Phân công công việc theo giới; tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực; ra quyết định trong gia đình và các nhu cầu giới
- Phân công lao động theo giới: Bao gồm các loại hoạt động công việc
khác nhau
+ Công việc gia đình (việc nhà): bao gồm việc chăm lo và duy trì các nhu cầu con người cơ bản của hộ gia đình và các thành viên trong gia đình (các nhu cầu thực tế như thức ăn, chỗ ở, giáo dục, sức khỏe) Việc nhà là việc cực kỳ quan trọng cho sự tồn tại của con người nhưng hiếm khi được coi là công việc thực sự Đó là công việc lao động có cường độ mạnh và tốn thời gian và phần nhiều do phụ nữ thực hiện
+ Công việc sản xuất là công việc tạo thu nhập Tuy nhiên, công việc sản xuất của người phụ nữ thường ít được nhìn nhận, ít giá trị hơn và có vị trí thấp hơn công việc của nam giới Bởi vì phụ nữ thường phải tham gia hết vào các công việc nội trợ và công việc sản xuất, trong khi nam giới thường không tham gia vào việc nhà, người ta thường nói phụ nữ có “ngày làm việc gấp đôi” là vì vậy
+ Công việc cộng đồng: là các hoạt động thực hiện cho lợi ích tập thể của cộng đồng đa phần do phụ nữ đảm nhận Bên cạnh công việc nội trợ của họ, để đảm bảo cho việc cung cấp và duy trì các nguồn khan hiếm cho tiêu dùng tập thể như nước, chăm sóc sức khỏe và giáo dục Công việc này
là tự nguyện
- Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
Mọi loại công việc đều đòi hỏi phải sử dụng các nguồn và mang lại các lợi ích cho người thực hiện, hoặc cho người khác Nam giới và phụ nữ thường
có các cấp độ khác nhau về: Tiếp cận là nói đến khả năng sử dụng các nguồn; kiểm soát là nói đến quyền được quyết định và quản lý việc sử dụng các nguồn
Trang 27Các nguồn đó có thể là đất đai, máy móc, công nghệ, lao động, vốn, giáo dục và đào tạo, trợ giúp kỹ thuật, các cơ hội ra quyết định, thông tin, lợi ích, thu nhập… Ví dụ như một phụ nữ có thể tiếp cận nguồn vốn, nhưng người chồng của họ có thể quản lý và quyết định sử dụng sử dụng số tiền vay như thế nào
- Ra quyết định
Đó là việc quyết định cho tất cả quyết định lớn nhỏ (có liên quan đến
hộ gia đình, công việc, chính trị) trong gia đình do người chồng hay người vợ quyết định, quyết định ở mức độ nào (tư vấn, quyết định ban đầu và quyết định cuối cùng) Ai sẽ chịu tác động của những quyết định này
- Các nhu cầu giới
+ Các nhu cầu thực tế: những nhu cầu này là một chức năng của sự phân công lao động theo giới và mô hình ra quyết định, và có thể được đáp ứng bởi các hoạt động hỗ trợ phụ nữ/nam giới thực hiện các vai trò giới hiện tại một cách dễ dàng hơn Trên cơ sở sự phân công lao động theo giới, nhu cầu giới thực tế không làm thay đổi những bất bình đẳng và các mối quan hệ giới Các nhu cầu giới thực tế ví dụ như: cải thiện điều kiện vật chất, chức năng của phân công lao động theo giới và quá trình ra quyết định, chẳng hạn như cải thiện cái bếp nấu hay tập huấn về kỹ năng làm thư ký thể hiện nhu cầu giới thực tế cho phụ nữ
+ Các nhu cầu giới chiến lược: Thể hiện những mục tiêu dài hạn của phụ nữ nhằm cải thiện vị trí kinh tế xã hội của họ, ví dụ như giúp phụ nữ có khả năng tham gia vào các cấp lãnh đạo cao hơn hoặc tham gia vào các lĩnh vực làm việc “phi truyền thống” như công nghệ hoặc quản lý [18]
Bình đẳng giới trong gia đình bao gồm nhiều lĩnh vực tuy nhiên trong phạm vi của mình, luận văn chỉ tiếp cận nghiên cứu bình đẳng giới trong gia
đình ở những khía cạnh sau: Phân công lao động theo giới, tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, sự tham gia của phụ nữ vào việc ra quyết định trong gia
Trang 28đình, bình đẳng giới trong việc tham gia hoạt động cộng đồng và hoạt động dân số, kế hoạch hóa gia đình
Việc làm rõ sự bình đẳng giới trên các lĩnh vực trên sẽ góp phần giúp chúng ta nhận diện thực trạng của bình đẳng giới trong gia đình, đồng thời chỉ
ra các vấn đề cần quan tâm, từ đó tìm ra những giải pháp tác động để giảm dần khoảng cách bất bình đẳng giới trong gia đình hiện nay, đặc biệt đối với các gia đình dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc
1.1.4 Tầm quan trọng của bình đẳng giới trong gia đình đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Thứ nhất: Bình đẳng giới trong gia đình tạo điều kiện cho người phụ
nữ hoàn thành tốt vai trò làm vợ, làm mẹ, tạo nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng cao
Người ta thường nói: nhìn vào trẻ em để biết tương lai cho một dân tộc, nhưng liền theo đó người ta cũng thấy rằng: nhìn vào sức khỏe, học vấn, văn hóa của phụ nữ ta có thể biết cả quá khứ, hiện tại và tương lai của một quốc gia Tác động tiêu cực của sự đối xử không bình đẳng đối với phụ nữ không chỉ làm giảm thiểu sự đóng góp của phụ nữ - chiếm phần nửa dân số của thế giới và của các quốc gia - cho nền sản xuất của xã hội, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống gia đình và việc chăm sóc, nuôi dưỡng thế hệ mai sau Bởi vậy bình đẳng giới trong gia đình tạo điều kiện cho người phụ nữ có cơ hội phát triển đem lại ý nghĩa lớn lao cho sự phát triển của xã hội Bình đẳng giới
và nâng cao quyền năng cho phụ nữ là một trong tám Mục tiêu Thiên niên kỷ
Sự thấp kém của phụ nữ trong mọi lĩnh vực không chỉ đẩy giới nữ vào
vị trí của người chịu thiệt thòi, của người phải còng lưng cúi mặt, sống một cuộc đời không có ánh sáng của văn hóa, của niềm vui, của niềm hãnh diện làm Người, của tâm hồn dám cất cánh đến những ước mơ cao đẹp Mà điều nguy hại số một không thể một ai không quan tâm, chính là vì khi người phụ
nữ bị thấp kém về mọi mặt, phụ nữ không hoàn thành tốt chức năng thiên bẩm
Trang 29của mình, truyền thụ cho thế hệ con mình những tầm nghĩ rộng mở, những tính cách sáng tạo, những rung động cao cả Trong khi con người ở thế hệ hôm nay và mai sau tất yếu phải là những con người của trí tuệ, những con người luôn luôn khám phá những cái mới tràn đầy tính nhân bản
Trẻ em - tương lai của loài người - phải chịu nhiều thiệt thòi từ việc mẹ chúng thất học, không hiểu biết, không có nguồn lực vì người mẹ có vai trò quyết định trong những năm đầu của trẻ, trình độ học vấn và thu nhập của người mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của con trẻ trên nhiều mặt Trình
độ học vấn của người mẹ ảnh hưởng rất lớn tới việc cải thiện chế độ dinh dưỡng trực tiếp thông qua chất lượng chăm sóc mà người mẹ dành cho con và khả năng của người mẹ làm giảm thiểu những cú sốc bất lợi cho con
Việc phụ nữ có thu nhập thấp có hại cho cuộc sống của trẻ em Theo một số nghiên cứu chỉ rõ thu nhập do phụ nữ nắm giữ tác động tới sự sống của trẻ em lớn hơn khoảng 20 lần so với thu nhập do nam giới giữ bởi vì nó làm tăng thêm phần ngân sách gia đình chi cho giáo dục, y tế và các chi phí
có liên quan đến dinh dưỡng, làm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải quan tâm đến nguồn nhân lực Chăm lo phát triển nguồn nhân lực không chỉ là quan tâm đến nguồn nhân lực hiện tại mà còn phải đầu tư đúng mức cho nguồn nhân lực tương lai Liệu nguồn nhân lực tương lai sẽ ra sao nếu trẻ em hôm nay là những đứa bé không được khoẻ mạnh về thể chất, không thông minh về trí tuệ và phẩm chất đạo đức không hoàn chỉnh Cái cốt vật chất ban đầu, cái gốc nhân cách của trẻ em được tạo tác từ gia đình, từ người mẹ là chủ yếu Là người sinh ra và chịu trách nhiệm chính trong việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái, phụ nữ là người trực tiếp quyết định chất lượng ban đầu của nguồn nhân lực tương lai Trước đây và hiện nay
xã hội ghi nhận công lao giáo dưỡng to lớn của người mẹ "cha sinh không tày
mẹ dưỡng", nhưng xã hội cũng đang lo ngại trước tình trạng trẻ em suy dinh
Trang 30dưỡng, thất học, trẻ em mắc vào các tệ nạn xã hội ngày càng tăng Điều này
có một phần trách nhiệm to lớn thuộc về mỗi gia đình, trong đó người mẹ vừa
là người bị xã hội quy trách nhiệm chính, vừa là người chịu thiệt thòi nhiều nhất khi con mình rơi vào các tệ nạn xã hội Xã hội phải tạo điều kiện để phụ
nữ cùng với nam giới thực hiện tốt các chức năng của gia đình, để họ tích cực học tập, lao động sáng tạo, góp phần nuôi con khỏe, dạy con ngoan, xây dựng gia đình hạnh phúc
Bản thân phụ nữ cũng là người lao động, là một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực Không thể có nguồn nhân lực với chất lượng cao nếu người phụ nữ không có điều kiện, cơ hội học tập, lĩnh hội tri thức mới
Có thể khẳng định bình đẳng giới sẽ tạo ra “lợi ích kép” cho cả phụ nữ
và trẻ em - tương lai của một dân tộc - nó giữ vai trò then chốt đối với sức khỏe và sự phát triển của gia đình, cộng đồng và quốc gia Việc loại bỏ sự phân biệt đối xử về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ sẽ tạo điều kiện cho người phụ nữ hoàn thành tốt vai trò làm vợ, làm mẹ và tạo nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng cao
Thứ hai: Bình đẳng giới trong gia đình góp phần tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo
Bình đẳng giới trong gia đình có ảnh hưởng gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế qua các ảnh hưởng về dân số Các mô hình kinh tế liên quan đến tỷ lệ sinh cho rằng, khi phụ nữ có trình độ hơn, chi phí cơ hội thời gian của họ sẽ tăng lên, đồng thời họ cũng có khả năng thương thuyết trong gia đình hơn Hai yếu tố này đều góp phần làm giảm tỷ lệ sinh Tỷ lệ sinh giảm tác động đến tăng trưởng kinh tế Tỷ lệ sinh thấp hơn làm giảm gánh nặng nuôi con và tăng tỷ lệ tiết kiệm, và chính tỷ lệ tiết kiệm cao hơn sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tỷ lệ sinh thấp hơn đồng nghĩa với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng lên Và nếu tất cả các lao động gia tăng thêm đều có việc làm thì thu nhập tính trên đầu người tăng lên, cho dù năng suất lao động và lương không
Trang 31tăng Điều đó có thể đạt được là do số người ăn theo đã giảm Tác động này
đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Đông Nam Á trong nhiều năm
Bất bình đẳng giới vừa là một trong những căn nguyên gây ra nghèo đói, là yếu tố cản trở đối với sự phát triển kinh tế Ngoài những bất công mà phụ nữ phải chịu do sự bất bình đẳng thì còn cả những tác động bất lợi đối với gia đình Do ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng, giáo dục và đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình cộng với việc thường được trả công thấp hơn nam giới ở cùng một loại việc, tình trạng bất bình đẳng giới sẽ dẫn đến tỷ lệ
tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn, sức khỏe gia đình bị ảnh hưởng và trẻ
em ít được đi học hơn, đặc biệt là trẻ em gái
Như vậy, chúng ta thấy rằng, những cái giá phải trả cho sự bất bình đẳng giới là khá lớn Nó không chỉ gây ra những thiệt hại cho sức khỏe và phúc lợi của nam giới, phụ nữ và trẻ em mà còn làm giảm năng suất lao động,
do đó hạn chế tiềm năng xóa đói, giảm nghèo và duy trì những tiến bộ trong kinh tế Cả phụ nữ và nam giới đều phải trả giá cho sự bất bình đẳng giới trong gia đình Sự kỳ vọng truyền thống rằng người đàn ông phải là trụ cột chính nuôi sống gia đình và là người quyết định trong gia đình có thể tạo cho đàn ông nhiều nỗi lo âu và ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của họ Bất bình đẳng giới dẫn đến nạn bạo lực trong gia đình, nạn này đã gây ra sự đau đớn và tổn thương cho những nạn nhân và gia đình của họ, có thể dẫn đến sự tàn tật suốt đời, suy nhược thể xác, nghiện rượu và ma túy, làm mất tự trọng và gây
ra những thiệt hại rất lớn về vật chất cho xã hội
Đối với phụ nữ, bình đẳng giới trong gia đình làm thay đổi vị thế của
họ, tạo ra những cơ hội để họ thoát khỏi những cản trở, đem hết khả năng của mình cống hiến cho sự phát triển gia đình, vì lợi ích, tiến bộ của xã hội trong
đó có nam giới Phụ nữ với tư cách là một công dân, họ tham gia các hoạt
Trang 32động lao động sản xuất ra của cải vật chất, góp phần quan trọng vào bảo đảm các nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần của gia đình, đồng thời góp phần quan trọng vào sự phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội, việc đối xử không công bằng với phụ nữ sẽ dẫn đến chi phí cơ hội lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Thứ ba: Bình đẳng giới trong gia đình là nền tảng thúc đẩy bình đẳng
và tiến bộ xã hội
Bình đẳng giới trong gia đình không chỉ có ý nghĩa với phụ nữ mà còn đem lại ý nghĩa lớn lao đối với phát triển xã hội Gia đình là nền tảng của xã hội, là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, thực hiện giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới trong gia đình là nền tảng cho việc bình đẳng giới trong xã hội Nên không phải ngẫu nhiên mà vấn đề bình đẳng nam - nữ lại thu hút được sự quan tâm sâu sắc của các quốc gia và của cộng đồng quốc tế
Các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ được xây dựng trên cơ sở Tuyên
bố Thiên niên kỷ - một văn kiện mang tính toàn cầu thể hiện sự đồng thuận chưa từng có được 189 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc thông qua năm
2000 Bản tuyên bố đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải thúc đẩy nhân quyền với tất cả mọi người nhằm đạt tầm nhìn đã vạch ra Đặc biệt là thúc đầy quyền của phụ nữ để đạt được bình đẳng giới được coi là hết sức cần thiết đối với sự tiến bộ xã hội Tuyên bố cũng thừa nhận tầm quan trọng của việc thúc đẩy bình đẳng giới và tăng cường quyền năng của phụ nữ như một biện pháp hiệu quả để xóa bỏ nghèo đói, dịch bệnh và thúc đẩy phát triển bền vững thực sự
Hiện nay bình đẳng giới là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của một xã hội, một đất nước, tự nó là mục tiêu của sự phát triển và là yếu tố hỗ trợ, nâng cao khả năng tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội của quốc gia Sự phát triển của từng giới đặc biệt là của giới nữ, phải theo kịp bước phát triển của nhân loại văn minh hiện đại và bước tiến của xã hội
họ đang sống Nó dẫn tới sự giải phóng cá nhân của người phụ nữ, việc nâng
Trang 33cao chất lượng sống của họ, sự phát triển nhân cách và tài năng sáng tạo của từng người, phù hợp với những đòi hỏi của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ của thế kỉ XXI Vì vậy việc giải quyết vấn đề giới, thực hiện bình đẳng giới trong gia đình liên quan đến sự tiến bộ, đi lên của một quốc gia dân tộc
về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội theo kịp trình độ văn minh của thời đại
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới
Là học trò xuất sắc của các nhà kinh điển mácxít, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và cụ thể hóa các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội
Hồ Chí Minh là người đã sớm nhận thấy khả năng to lớn của phụ nữ Việt Nam, sự tham gia của phụ nữ là nhân tố quyết định thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh của dân tộc Người viết: "Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc" [45, tr.148] Điều đó lại một lần nữa được Người khẳng định trong tác phẩm Đường Cách mệnh (1927), "Việt Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công [40,tr.289] Khi đất nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh nêu rõ: "Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội mới một nửa" [43, tr.523] Đánh giá những giá trị và công lao to lớn của phụ nữ Việt Nam qua hàng nghìn năm xây dựng và phát triển đất nước Người khái quát "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ" [41, tr.432]
Trang 34Khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ trong công cuộc cách mạng của dân tộc, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ và trong cuộc đấu tranh để giải phóng phụ nữ, Người đặc biệt coi trọng mục tiêu bình đẳng nam nữ, Người thường nói: Chúng ta làm cách mạng để giành lấy
tự do, dân chủ, bình đẳng, trai gái đều ngang quyền nhau, không thể để phụ
nữ bị áp bức, cũng như coi thường phụ nữ, đó là mục tiêu nhất quán của cách mạng Việt Nam, là chiến lược quốc gia trọng đại của chính phủ Việt Nam Việc phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng là điều quan trọng và cấp thiết vì
đó không chỉ vì lợi ích riêng họ, mà chính vì lợi ích chung của cách mạng, bởi
lẽ họ là lực lượng đông đảo và quan trọng, là động lực của cách mạng
Trong cuộc đấu tranh để giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam
nữ, Người chỉ ra rằng phụ nữ phải nhận thức nguồn gốc của đau thương, tìm
ra kẻ thù của "số phận", phải đánh đổ bọn thực dân phong kiến, kẻ thù của dân tộc, của giai cấp, phải xóa bỏ những tư tưởng thiên kiến và lạc hậu đối với phụ nữ
Để giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ trong gia đình, Hồ Chí Minh cho rằng đây là một việc không đơn giản, không phải đánh đổ được thực dân phong kiến, giành độc lập dân tộc là nam nữ bình đẳng, càng không phải là chia đều công việc giữa nam và nữ, Người viết: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ chỉ hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau
em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng, bình quyền Lầm to! Đó là cuộc cách mạng to và khó, vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại vì nó ăn sâu vào trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội, vì không thể dùng vũ lực mà đấu tranh được”[46, tr.31]
Cuộc đấu tranh giành bình quyền, bình đẳng cho phụ nữ trước hết là cuộc đấu tranh về nhận thức, đấu tranh chống lại các thói quen lâu đời và cuộc đấu tranh này diễn ra ở mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng "vũ lực" của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị,
Trang 35văn hóa, kinh tế, pháp luật Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân, có nghĩa là giải phóng phụ nữ phải đặt trong công cuộc phát triển toàn diện của xã hội, vì chỉ có tiến bộ xã hội về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật mới tạo được tiền đề căn bản cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ trở thành hiện thực Theo Người, phụ nữ là một lực lượng lao động rất lớn của xã hội và gia đình Muốn xây dựng gia đình bình đẳng tiến bộ, hạnh phúc phải bắt đầu từ ban hành luật hôn nhân gia đình mới, bởi theo Người, luật này quan
hệ đến tương lai của mỗi gia đình, của xã hội, của giống nòi Trong hội nghị thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Luật lấy vợ, lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phân nửa xã hội, giải phóng người đàn bà, đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông" [46, tr.34] Luật Hôn nhân và Gia đình phải được tuyên truyền, giáo dục lâu dài, phải được cả nam
và nữ giác ngộ làm theo Trong mỗi gia đình, phụ nữ phải được tôn trọng, Bác nói "Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy bình quyền, bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau" [40, tr.195] Thế nhưng trong gia đình phụ nữ vẫn bị đối xử bất bình đẳng, vẫn bị đánh chửi tàn nhẫn và Bác đã nghiêm khắc phê bình những hành động đó Tư tưởng của Người đã đặt nền móng cơ bản để chúng ta xây dựng gia đình "ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, vững bền"
Để đảm bảo được quyền bình đẳng cho phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần đưa phụ nữ vào các hoạt động chính trị, xã hội, vì đó là môi trường thuận lợi để phụ nữ có thể khẳng định, phát huy hết khả năng vốn có của mình Muốn làm được như vậy trước hết phải tôn trọng, quan tâm đến phụ nữ, chú ý đến tính đặc thù của phụ nữ Đồng thời phải thực hiện sự phân công sắp xếp lại lao động xã hội, tổ chức đời sống mới để phụ nữ có thời gian học tập và tham gia công tác xã hội Tất cả những biện pháp đó phải được thể chế hóa bằng pháp luật
Trang 36Người cho rằng, sự nghiệp giải phóng phụ nữ không chỉ dừng lại ở lý luận, tư tưởng mà quan trọng hơn là phải bằng những giải pháp, chính sách cụ thể tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội đem lại quyền lợi vật chất, tinh thần cho phụ nữ Như vậy, nâng cao trình độ cho phụ
nữ, đấu tranh chống lại những tư tưởng bảo thủ, coi thường phụ nữ, chăm lo xây dựng gia đình mới là phương thức tích cực để giải phóng phụ nữ khỏi những công việc gia đình nặng nhọc, tạo điều kiện cho chị em tích cực tham gia phong trào cách mạng, hoàn thành tốt chức năng của người công dân Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cấp, phải hết lòng giúp đỡ phụ nữ để chị em tiến bộ về mọi mặt Việc phát triển phong trào phụ nữ gắn liền với việc cất nhắc cán bộ nữ vào các cơ quan cấp cao, nhất là ngành thích hợp với phụ nữ Hồ Chí Minh nhấn mạnh "Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng cân nhắc và giúp đỡ sao cho ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo" [46, tr.33]
Để giải phóng tự bản thân mình, người phụ nữ không chỉ trông chờ sự giúp đỡ của người khác, mà chính bản thân họ phải tự vươn lên Quan điểm của
Hồ Chí Minh là phụ nữ tự giải phóng, đứng lên đấu tranh cho quyền lợi của mình trong sự gắn bó với quyền lợi của dân tộc, của giai cấp Hồ Chí Minh khuyên phụ nữ hãy xóa bỏ tư tưởng tự ti, mặc cảm, phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông Theo người bản thân phụ nữ phải "Gắng học tập chính trị, học tập văn hoá, kĩ thuật, nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ
xã hội chủ nghĩa, hăng hái thi đua thực hiện cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình" [44, tr.189] Có trình độ học vấn, phụ nữ sẽ vươn lên trong công tác, người ta sẽ thấy phụ nữ có năng lực thật sự, lúc đó "cán bộ không cất nhắc, anh chị em công nhân sẽ cử mình lên" [42, tr.336]
Tư tưởng cơ bản của Bác Hồ về con đường đưa phụ nữ Việt Nam đi tới
tự do, bình đẳng và phát triển là hết sức đúng đắn Bởi lẽ duy nhất là Người
Trang 37đã nắm bắt được sự ra đời của thời đại mới, thời đại mà quyền con người, quyền của phụ nữ - lớp người hèn mọn, bị khinh rẻ trong xã hội cũ phải được tôn trọng Họ sẽ đứng lên phá tan những xiềng xích trói buộc đời mình, đòi thực hiện các quyền lợi chính đáng
Hiểu rõ những giá trị chân chính của người phụ nữ, vai trò và sự đóng góp to lớn của họ đối với xã hội, gia đình, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ trong một đất nước thuộc địa nửa phong kiến và giải quyết vấn đề đó một cách linh hoạt, uyển chuyển trong từng giai đoạn lịch sử
1.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới
Ngay từ 1930, với quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nói đến phụ
nữ là nói phần nửa xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội có một nửa” [40, tr.53], Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cao tư tưởng “nam
nữ bình quyền” và coi việc thực hiện tư tưởng đó là một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam Tư tưởng nam nữ bình quyền lần đầu tiên đã được Đảng ta đưa vào Luận cương chính trị năm 1930, đây có thể coi là bản tuyên ngôn đầu tiên về quyền bình đẳng giới đối với phụ nữ Việt Nam, trong
đó nam nữ được công nhận ngang nhau về mặt chính trị Thuật ngữ “nam nữ bình quyền” không phải là cách sử dụng ngẫu nhiên của Đảng nhằm đưa nữ giới lên ngang tầm với nam giới, mà là sự lựa chọn có chủ ý, vừa khoa học vừa
có tính cách mạng trong nhận thức và hành động của Đảng, thể hiện nhận thức tiến bộ vượt bậc, khác về chất so với quan niệm phong kiến Nho giáo
Đảng ta luôn đề cao vai trò, vị trí của người phụ nữ trong đấu tranh cách mạng, coi phụ nữ là một lực lượng quan trọng Xuất phát từ nhận thức sâu sắc đó, Đảng ta đã đấu tranh đòi quyền lợi cho phụ nữ, chủ trương lôi cuốn phụ nữ vào các hoạt động xã hội, và từ rất sớm đã thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ - Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Với quan điểm thành lập
Trang 38một tổ chức riêng cho nữ giới, thể hiện sự đánh giá cao của Đảng về vị trí, vai trò đặc biệt của giới nữ trong cách mạng của giai cấp công - nông cũng như
sự quan tâm vượt bậc đối với giới nữ của Đảng ta Nhờ đó, vị trí trong gia đình, ngoài xã hội, trong quan hệ với nam giới của giới nữ Việt Nam được cải thiện căn bản kể từ khi có Đảng, có tổ chức Hội liên hiệp phụ nữ các cấp Chỉ thị 44-CT/TW ngày 7.6.1984 của Ban Bí thư Trung Đảng đã khẳng định vai trò và những đóng góp to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, trong đó sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ nữ đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc thực hiện nam nữ bình đẳng Trên cơ sở đó, Đảng ta đã đề ra một số chủ trương lớn để thực hiện bình đẳng nam nữ: tiếp tục thực hiện nam
nữ bình đẳng, nâng cao vai trò cán bộ nữ trong quản lý kinh tế, quản lý nhà nước là một nội dung quan trọng để thực hiện phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động… Đây là chủ trương lớn thể hiện sự quan tâm tạo điều kiện rất lớn của Đảng ta đối với phong trào phụ nữ nói chung và đối với cán
bộ nữ nói riêng nhằm xóa bỏ tàn dư tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, những biểu hiện lệch lạc, coi thường phụ nữ và vai trò của họ
Đất nước bước vào thời kì đổi mới, vận hội, thời cơ, thử thách cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bình đẳng, dân chủ đan xen và tác động lẫn nhau, trong đó có công tác bình đẳng giới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng mở đầu cho công cuộc đổi mới của đất nước Văn kiện Đại hội nhấn mạnh vai trò to lớn của giới nữ so với nam giới trong sự nghiệp cách mạng và chỉ rõ: vấn đề giải phóng phụ nữ, phát huy vai trò phụ nữ là nhiệm
vụ của toàn Đảng, của Nhà nước và các cấp, các ngành: “Để phát huy vai trò
to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hóa thành chính sách, pháp luật Các cơ quan nhà nước, với sự phối hợp của các đoàn thể, cần có những biện pháp thiết thực tạo việc làm, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, thực hiện đúng Luật Hôn nhân và gia đình” [19, tr.116]
Trang 39Từ năm 1991, đất nước bước vào thực hiện kinh tế thị trường Cơ chế thị trường tác động mạnh mẽ đến gia đình nói chung và giới nữ nói riêng Đại hội VII đưa ra yêu cầu: “Thực hiện bình đẳng nam nữ về mọi mặt” nhằm mục tiêu
là nâng cao hạnh phúc cho nhân dân ta, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện tình hình giáo dục, sức khỏe và sự bình đẳng xã hội, và trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội nêu rõ: “chú trọng cải thiện điều kiện sống, lao động và học tập của người mẹ” [20, tr.14]
Nghị quyết số 04/NQ- TW ngày 12-4-1993 của Bộ Chính trị về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” được coi là một trong những văn bản thể hiện rõ khía cạnh giới Văn bản ghi nhận phụ nữ Việt Nam vừa có tiềm năng to lớn, là động lực quan trọng của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, và đề xuất nhiệm vụ mang tính chiến lược
là xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ phấn đấu, trưởng thành, tăng tỷ lệ nữ trong các cấp lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các lĩnh vực quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội
Ngày 16 - 5- 1994, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 37- CT/TW về một số vấn
đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới và đây được coi là một trong những dấu hiệu cao nhất của công tác bình đẳng giới, trong đó nhấn mạnh: việc tăng cường đội ngũ cán bộ nữ tham gia vào các cương vị lãnh đạo, quản lý và ra quyết định là đòi hỏi khách của sự phát triển xã hội, xuất phát từ vai trò, khả năng của phụ nữ Chỉ thị khẳng định: Việc nâng cao tỉ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là một yêu cầu quan trọng để thật
sự thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của người phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của người phụ nữ
Có thể thấy Chỉ thị 37 đã triển khai Nghị quyết 04 và phát triển trong điều kiện cụ thể, Chỉ thị nhấn mạnh hơn nữa và chú ý tới khía cạnh giới trong bồi dưỡng đào tạo cán bộ đặc biệt là chú ý đến trí thức nữ Đây chính là bước phát triển về quan điểm giới trong nhận thức của Đảng
Trang 40Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện Chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm
2000 “Đặc biệt coi trọng việc đào tào nghề nghiệp, giúp đỡ chị em có việc làm phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe phụ nữ và trẻ
em Quan tâm phát triển Đảng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, tăng tỷ lệ cán
bộ nữ trong các cơ quan lãnh đạo Nhà nước ở các cấp, các ngành” [22, tr.125]
Đây là giai đoạn Đảng và Chính phủ ta đã cam kết với cộng đồng quốc
tế về việc thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh với 11 mục tiêu cụ thể nhằm phát huy vai trò của nữ giới và thực hiện bình đẳng giới Đảng đã chỉ đạo Chính phủ xây dựng Chiến lược và kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ
nữ Việt Nam đến năm 2000 Lần đầu tiên nữ giới Việt Nam có một Chiến lược
và Kế hoạch hành động phát triển của riêng mình nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của
nữ giới và thực hiện bình đẳng giới như đã cam kết với quốc tế Ngoài Chiến lược và Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam, Đảng đã nhấn mạnh phải có định hướng phát triển cho nữ giới, tạo việc làm, phát triển nghề nghiệp cho họ trong Chiến lược tổng thể phát triển đất nước… Đây chính là cơ
sở, nền tảng để Nhà nước và Chính phủ lồng ghép giới trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
Đại hội IX của Đảng một lần nữa nhấn mạnh: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn, có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” [24, tr.126] Tại Đại hội này, Đảng đã thảo luận và chính thức ghi vào văn kiện những tư tưởng, chủ trương, đường lối về bình đẳng giới nhằm tiếp tục sự nghiệp giải phóng nữ giới và cụ thể hóa, chính xác hóa tư tưởng bình đẳng nam nữ từ trước tới nay Đại hội khẳng định: Đối với phụ nữ, thực hiện tốt pháp luật và chính sách bình đẳng giới