1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần ở xã hội Nhật Bản

207 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu Phật giáo Nhật Bản với chủ đề “Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần ở xã hội Nhật Bản” vì lẽ đó, có ý nghĩa thiết thực, không chỉ về mặt thực tiễn mà cả v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THÚY ANH

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN Ở XÃ HỘI NHẬT BẢN

Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS Nguyễn Hữu Vui

TS Hoàng Thị Thơ

Phản biện:

GS.TS Nguyễn Tài Thư PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt

TS Nguyễn Thúy Vân

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp nhà nước chấm luận án tiến sĩ họp tại:

………

Vào hồi giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1 13

KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO NHẬT BẢN 13

1.1 Sự hình thành và phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản 13

1.1.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản 13

1.1.2 Quá trình tiếp biến của Phật giáo tại Nhật Bản 25

1.1.3 Sự phát triển của Phật Giáo tại Nhật Bản 29

1.2 Những đặc trưng chủ yếu của Phật giáo Nhật Bản 41

1.2.1 Nhận diện Phật giáo Nhật Bản 41

1.2.2 Bốn đặc trưng chủ yếu của Phật giáo Nhật Bản 60

CHƯƠNG 2 70

PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN NHẬT BẢN TRƯỚC HIỆN ĐẠI .70

2.1 Khái niệm đời sống tinh thần xã hội 70

2.2 Phật giáo với tư tưởng, đạo đức và lối sống của xã hội Nhật Bản trước hiện đại 78

2.2.1 Phật giáo với tư tưởng của Nhật Bản trước hiện đại 78

2.2.2 Phật giáo với đạo đức và lối sống của xã hội Nhật Bản trước hiện đại 96

2.3 Phật giáo với văn hóa nghệ thuật, phong tục và lễ hội của xã hội Nhật Bản trước hiện đại 107

2.3.1 Phật giáo với văn hóa, nghệ thuật của xã hội Nhật Bản trước hiện đại 107

2.3.2 Phật giáo với phong tục và lễ hội của xã hội Nhật Bản trước hiện đại 125

CHƯƠNG 3 134

PHẬT GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA XÃ HỘI NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI MỘT SỐ SO SÁNH VỚI VIỆT NAM 134

3.1 Phật giáo và xã hội Nhật Bản hiện đại 134

Trang 4

3.1.1.Phật giáo với quá trình hiện đại hóa của Nhật Bản 134

3.1.2 Một số khuynh hướng thế tục hóa Phật giáo ở Nhật Bản 145

3.2 Một số so sánh về ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần xã hội ở Nhật Bản và Việt Nam 157

3.2.1 Một số điểm tương đồng và khác biệt giữa Nhật Bản và Việt Nam 157

3.2.2 Một số bài học cần thiết 176

KẾT LUẬN 185

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 190

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 191

PHỤ LỤC: Phật giáo tại Nhật Bản 199

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phật giáo là một tôn giáo lớn, đồng thời cũng là một học thuyết mang đậm tính triết học sâu sắc, được truyền bá rộng rãi, ở cả Nhật Bản, Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới Ở Nhật Bản cũng như Việt Nam, Phật giáo được coi là một tôn giáo truyền thống có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống tinh thần của

xã hội trên nhiều phương diện Trong lịch sử cũng như hiện tại, tuy Phật giáo

ở mỗi nước có những khác biệt, song với tư cách một biểu tượng văn hóa tương đồng nó đã góp phần kết nối quan hệ hợp tác trên nhiều mặt kinh tế, tôn giáo, văn hóa, chính trị… giữa hai quốc gia Nhật Bản và Việt Nam Trong những năm gần đây, với chủ trương cùng xây dựng quan hệ hợp tác hai nước lên tầm đối tác chiến lược, Nhật Bản và Việt Nam đều dựa vào những nét tương đồng của mỗi quốc gia để tìm nguồn lực tinh thần hợp tác, trong đó Phật giáo đã có một vị trí đóng góp đáng kể

Việc nghiên cứu Phật giáo Nhật Bản với chủ đề “Ảnh hưởng của Phật giáo

đối với đời sống tinh thần ở xã hội Nhật Bản” vì lẽ đó, có ý nghĩa thiết thực,

không chỉ về mặt thực tiễn mà cả về lý luận văn hóa, chính trị và tôn giáo Việc nghiên cứu Phật giáo Nhật Bản, cho đến nay, đã được thực hiện trong nhiều công trình nghiên cứu ở Nhật Bản, thế giới và cả ở Việt Nam Tuy vậy, đây là một vấn đề vẫn cần quan tâm về phương pháp tiếp cận, về những luận điểm liên quan đến đặc điểm, quá trình du nhập, phát triển, các tiền đề lịch sử triết học và văn hóa của Phật giáo, cũng như ảnh hưởng của Phật giáo trong

xã hội nói chung và trong đời sống tinh thần của xã hội nói riêng, hay mối quan hệ giữa Phật giáo với tôn giáo dân tộc, với các tôn giáo khác, nhất là với

các phong trào tôn giáo mới ở Nhật Bản

Trang 6

Với tính cách là một trong những tôn giáo chính của Nhật Bản, Phật giáo

có ảnh hưởng, cả tích cực và tiêu cực, không chỉ đến đời sống tinh thần, mà đến đời sống xã hội nói chung Những tác động tích cực và tiêu cực của Phật giáo nói riêng và các hiện tượng tôn giáo nói chung, luôn đan xen và diễn biến phức tạp trong lịch sử cũng như trong hiện tại Có lẽ do tính phức tạp này, mà các nhận diện và đánh giá về Phật giáo Nhật Bản nói chung thường không thống nhất, và từ góc độ triết học, tôn giáo học cũng có tranh luận Việc nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tinh thần của xã hội Nhật Bản, do đó, sẽ góp phần làm rõ hơn phương pháp tiếp cận và một số luận điểm liên quan đến Phật giáo Nhật Bản

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Nhật Bản cũng như Việt Nam, đều phải dựa vào các nguồn lực tinh thần của xã hội để "ứng vạn biến", trong đó

có nguồn lực Phật giáo Phát huy các giá trị tinh thần của Phật giáo, như một phần không thể thiếu là một hướng khả thi để bảo tồn và phát triển mỗi dân tộc một cách độc lập, tự chủ

Nhật Bản là một quốc gia đã đạt được trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao và lại có nhiều nét tương đồng với Việt Nam về đời sống tinh thần Việt Nam có thể tham chiếu nhiều kinh nghiệm thành công của Nhật Bản trong việc phát huy giá trị tinh thần, trong đó có Phật giáo để góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng “động lực văn hóa”, nhằm khẳng định khả năng hội nhập toàn cầu của Việt Nam và có thể đạt được một số mục tiêu đề ra cho năm 2020 Đề tài này có thể góp phần cung cấp một số luận điểm về vai trò của Phật giáo trong xu hướng phát triển chung của đất nước hiện nay, đồng thời góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa hai nước lên tầm chiến lược

Trang 7

Luận án này còn là sự tiếp nối quá trình tìm hiểu, nghiên cứu Phật giáo Nhật Bản cũng như triển khai tiếp một số kết quả đã đạt được trong luận văn thạc sĩ của tác giả

2 Tình hình nghiên cứu đề tài luËn ¸n:

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu Phật giáo Nhật Bản của các tác giả người Nhật Bản và người nước ngoài Ở Việt Nam đã có một số tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo Nhật Bản và Phật giáo Nhật Bản: Ngay từ giữa những năm 1960, tại Việt Nam, nhất là khu vực phía Nam, đã bắt đầu xuất hiện các công trình nghiên cứu có đề cập đến Phật giáo Nhật Bản Các công trình này có dành một dung lượng khá lớn cho việc phân tích quá trình phát triển, những đặc điểm của Phật giáo Nhật Bản Điển hình phải kể đến tác

phẩm Lịch sử tư tưởng Nhật Bản của Thiền sư Thích Thiên Ân do Nhà xuất

bản Phương Đông xuất bản tại Sài Gòn năm 1965, hay như tác phẩm hai tập

Nhật Bản tư tưởng sử của tác giả Ishida Kazuyoshi do Tủ sách Kim văn Sài

Gòn ấn hành năm 1972… Tuy nhiên, những nội dung về ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của Nhật Bản mới chỉ là những nét chấm phá,

sơ lược và phần lớn dừng lại ở những phân tích dưới góc độ lịch sử tư tưởng Sau khi Việt Nam thống nhất (1975), nhất là từ sau năm 1990, trong bối cảnh quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản phát triển với nhịp độ nhanh dẫn tới nhu cầu tìm hiểu văn hoá Nhật Bản ngày một đòi hỏi cao hơn, tại Việt Nam đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về văn hoá, tư tưởng, tôn giáo Nhật Bản, trong số

đó có rất nhiều chuyên khảo do các học giả Việt Nam thực hiện hoặc được dịch sang tiếng Việt có đề cập nghiên cứu Phật giáo Nhật Bản Trước hết phải kể đến

tác phẩm Những con đường tâm linh phương Đông gồm 2 tập do Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin ấn hành năm 2000, Nghiên cứu Tôn giáo Nhật Bản

của Joseph M Kitagawa do Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm

2002; Đời sống tôn giáo Nhật Bản hiện nay do Phạm Hồng Thái (chủ biên), Nhà

Trang 8

xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2005; và nhiều sách tài liệu về Phật giáo Nhật Bản được dịch sang tiếng Việt… Nhìn chung những công trình này đều tiến sâu hơn một bước trong việc nghiên cứu đời sống tôn giáo Nhật Bản và ảnh hưởng của các tôn giáo, trong đó có Phật giáo đối với đời sống xã hội Nhật Bản:

- Chen Choumei, “Phân tích việc sửa đổi Luật pháp nhân tôn giáo”,

trong Tôn giáo và đời sống hiện đại- tập III, Chủ biên: Võ Kim Quyên, Viện

thông tin khoa học, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Hà Nội, 1998 [8] Chuyên khảo này phân tích, đánh giá tác động của chính sách tôn giáo Nhật Bản, đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, và sơ lược

về Luật pháp nhân tôn giáo và ảnh hưởng của nó Vấn đề đặt ra trong Luật

pháp nhân tôn giáo là chỉ hướng vào các quyền tự do tôn giáo, nhưng lại cấm

giáo dục tôn giáo Một số học giả cho đây là một định chế sai lầm, mà hậu quả là nhân dân không hiểu biết, không quan tâm, dẫn đến đến sự phát triển của các loại tôn giáo, "kỳ hình quái trạng" Chuyên khảo này có nhược điểm

là chưa đặt vấn đề giáo dục một cách đúng đắn cho nhân dân về các tôn giáo truyền thống của Nhật Bản để bồi dưỡng cho họ năng lực đủ đối diện với tình hình tôn giáo thế giới ngày càng phức tạp

- Joseph M Kitagawa, Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản, người dịch:

Hoàng Thị Thơ, Nxb KHXH, HN, 2002 [64] Trong công trình, tác giả dành phần 4 để nghiên cứu truyền thống Phật giáo, với các vấn đề như: tăng đoàn, giáo chủ Phật giáo, sự biến đổi của Phật giáo ở Nhật Bản, việc dịch kinh Phật

ở Nhật Bản… chuyển đổi các mô hình Phật giáo ở Nhật Bản Ngoài ra, ở phần 5, tác giả cũng dành một mục để phân tích về Phật giáo và tư tưởng Nhật Bản hiện đại Trong công trình này, tuy vậy, tác giả cũng chưa trực tiếp đánh giá ảnh hưởng của tôn giáo, trong đó có Phật giáo Nhật Bản, đối với xã hội nói chung, và đời sống tinh thần của xã hội Nhật Bản nói riêng

Trang 9

- R.H.P Mason và J G Caiger, Lịch sử Nhật Bản, người dịch:

Nguyễn Văn Sĩ, Nxb Lao động, HN, 2003 [37] Trong công trình này các tác giả đã nghiên cứu về đạo Phật và Nhà nước đế chế trung ương tập quyền; Phật giáo Chân ngôn (Shingon); Phật giáo và xã hội trong thời kỳ Heian; Phật giáo trong những thời kỳ Kamakura và Muromachi; các giáo phái Phật giáo

và Hoàng gia Vì đây là công trình nghiên cứu chung về lịch sử Nhật Bản, cho nên vấn đề tư tưởng triết học và ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của xã hội Nhật Bản chỉ được đề cập thông qua các vấn đề có liên quan

- Michio Morishima, Tại sao Nhật Bản “thành công”? Công nghệ

phương Tây và tính cách Nhật Bản, người dịch: Đào Anh Tuấn Nxb khoa

học xã hội, HN, 1991 [43] Đây là một công trình viết về Nhật Bản trên lĩnh

vực học thuật rộng lớn: Các cơ cấu kinh tế và các quan hệ kinh tế bị quy định

mạnh bởi tính cách dân tộc và ngược lại như thế nào? Với 5 chương nội

dung, nội dung lời nói đầu; chương I và phần kết luận đã đi vào nghiên cứu

“tính cách dân tộc” đã được hình thành trong suốt nhiều năm trong môi trường văn hoá riêng từ thời cổ đại của Nhật Bản Chủ yếu nêu lên ảnh hưởng của đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật được du nhập vào Nhật Bản đã góp phần tạo nên hệ tư tưởng của Nhật Bản như thế nào? Từ đó tác phẩm phân tích những thông tin về nước Nhật hiện đại từ cách mạng Minh Trị - phân tích sự thành công của Nhật bản khi kết hợp công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản từ chương II đến chương V Đây là một tài liệu giúp luận án phân tích khái niệm Thần Phật hỗn hợp rõ rµng hơn khi nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo Nhật Bản

- Murakami Shigeyashi, Tôn giáo Nhật Bản, người dịch: Trần Văn

Trình, Nxb Lao động, HN, 2005 [60] Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa Thần đạo (tôn giáo bản địa) và Phật giáo trong thời kỳ

Trang 10

cổ đại; Phật giáo trấn quốc; Phật giáo thời trung cổ; sự hiện đại hóa của Phật giáo… Nhìn chung, đây là công trình tiếp cận tôn giáo Nhật Bản nói chung và Phật giáo nói riêng từ góc độ lịch sử, song một số luận điểm về quá trình phát triển của Phật giáo Nhật Bản cũng có giá trị gợi ý tích cực cho đề tài của luận

án này

- Edward Conze, Tinh hoa và sự phát triển của đạo Phật, 1951, người

dịch: Chân Pháp Nguyễn Hữu Hiệu, Nbx, Ban tu thư viện đại học Vạn Hạnh (Sài gòn) [10] Tác phẩm giới thiệu về thông điệp nguyên thuỷ của đức Phật

và chứng minh không có mâu thuẫn trong lịch sử tư tưởng của Phật giáo Đặc biệt, tác phẩm đã đưa ra bốn nét đặc trưng của Phật giáo Thiền tông ở Nhật Bản và một số phân tích về Phật giáo Tịnh Độ tông, Nhật Liên tông, giúp cho tác giả luận án hiểu rõ hơn về các tông phái này khi phân tích các ảnh hưởng của chúng đến đời sống tinh thần của xã hội Nhật Bản Ngoài ra, tuy chỉ chiếm một phần rất ít trong tác phẩm nhưng những mốc lịch sử ra đời, du nhập vào các nước của Phật giáo đã góp phần so sánh và khẳng định mốc lịch

sử của Phật giáo Nhật Bản trong luận án

- Diane Morgan, Triết học tôn giáo phương Đông, người dịch: Lưu

Văn Hy, Nxb Tôn giáo và công ty văn hóa Minh Trí – Nhà sách Văn Lang,

2005 [42] Trong công trình này tác giả có đề cập đến "Thiền và những trường phái khác của Nhật Bản" Trong đó tập trung vào các vấn đề: Thiên Thai tông với tính chất là cửa thiên đường; Chân Ngôn tông những lời thần bí; Tịnh Độ tông là vùng đất trong lành; Nhật Liên tông là sen mặt trời; Thiền tông gồm thiền và công án; nghệ thuật Phật giáo; Phật giáo và những nghi lễ

ở Nhật Bản Những tri thức khái quát về Phật giáo trong cuốn sách này là kiến thức tổng quan giúp cho luận án này tiếp tục tìm hiểu ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tinh thần của xã hội Nhật Bản

Trang 11

- David E Coper, Các trường phái triết học trên thế giới, người dịch:

Lưu Văn Hy và nhóm Trí Tri, Nxb Văn hoá thông tin, 2005 [11] Trong phần

Các phát triển của Triết học Châu Á, tác giả phân tích về tư tưởng triết học

Phật giáo Thiền tông, tuy ngắn gọn nhưng thể hiện rõ nét sự khẳng định ảnh hưởng lớn nhất và lâu dài nhất là tư tưởng Thiền Phật giáo ở Nhật Bản

- Garma C.C Chang, Triết học Phật giáo Hoa Nghiêm tông, người

dịch: Thanh Lương Thích Thiện Sáng, Nxb Tôn giáo, 2006 [7] Tác phẩm chủ yếu giúp cho các nhà nghiên cứu có sự hiểu biết thêm về Triết học, logic học Phật giáo thông qua nghiên cứu khía cạch Triết học của giáo lý Hoa Nghiêm Tông

- Nguyễn Văn Kim, Nhật Bản với Châu Á, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội, 2003 [26] Trong công trình, tác giả tập trung nghiên cứu mối quan hệ lịch sử giữa Việt Nam và Nhật Bản

- Phạm Hồng Thái (chủ biên), Đời sống tôn giáo Nhật Bản hiện nay,

Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2005 [62] Công trình này nghiên cứu Phật giáo như một bộ phận của đời sống tôn giáo Nhật Bản từ khi du nhập, hòa nhập và tiếp biến đến thời kỳ hiện đại Đời sống tôn giáo Nhật Bản được tiếp cận nghiên cứu từ văn hóa học để đánh giá các giá trị đạo đức, giáo dục, nghệ thuật của các tôn giáo biểu hiện qua đời sống thường nhật của người Nhật Bản Từ đó công trình khái quát và làm rõ những vấn đề mới của đời sống tôn giáo ở Nhật Bản trong giai đoạn hiện đại, như sự xuất hiện các tôn giáo mới, các tôn giáo trong quá trình hiện đại hóa, toàn cầu hóa của Nhật Bản, quan hệ giữa tôn giáo và nhà nước, và hệ thống chính sách tôn giáo Nhật Bản từ 1945 đến nay Đây là một phương pháp tiếp cận thích hợp để nghiên cứu đối tượng Phật giáo Nhật Bản mà đề tài luận án này có thể tham khảo và vận dụng

Ngoài ra, còn nhiều công trình khác nghiên cứu về Phật giáo Nhật Bản, và nhiều sách tài liệu về Phật giáo Nhật Bản được dịch sang tiếng Việt Nhìn chung

Trang 12

những công trình này đều tiến sâu hơn một bước trong việc nghiên cứu đời sống tôn giáo Nhật Bản và ảnh hưởng của các tôn giáo, trong đó có Phật giáo đối với đời sống xã hội Nhật Bản Tuy nhiên, nếu nhìn một cách hệ thống thì ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần xã hội Nhật Bản đã diễn

ra như thế nào? Hiện nay, Phật giáo đóng vai trò gì đối với sự phát triển văn hoá và xã hội của xã hội Nhật Bản? Nhất là từ việc xem xét những ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hoá xã hội Nhật Bản có thể rút ra những gợi ý gì cho công cuộc xây dựng nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam? v.v vẫn còn là những vấn đề tiếp tục cần được làm sáng tỏ

Từ góc độ nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần xã hội Nhật Bản, đề tài luận án sẽ tiếp thu những phương pháp tiếp cận cũng như kết quả nghiên cứu của các công trình trên, trên cơ sở vận dụng lý luận về chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử vào nghiên cứu đối tượng tôn giáo, nhằm góp phần liên hệ với vấn đề vai trò của Phật giáo trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của Việt Nam, đặc biệt trong xây dựng đối tác chiến lược với Nhật Bản hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích

Luận án tập trung đánh giá các nhân tố và ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần xã hội Nhật Bản, từ đó so sánh với Phật giáo Việt Nam để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa Phật giáo hai nước và rút ra một số bài học cần thiết cho chúng ta

Nhiệm vụ

Để thực hiện được những nhiệm vụ nêu trên, luận án sẽ tập trung:

- Trình bày khái quát lịch sử hình thành và phát triển, cùng với một số đặc trưng nhận diện của Phật giáo Nhật Bản

Trang 13

- Phân tích và đánh giá ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sồng tinh thần của xã hội Nhật Bản trong hai thời kỳ: trước hiện đại và hiện đại

- Nêu một số điểm tương đồng và khác biệt giữa Phật giáo Nhật Bản và Phật giáo Việt Nam và rút ra một số bài học cần thiết

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án

Luận án tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tinh thần của xã hội Nhật Bản từ góc độ triết học-tôn giáo với hai thời kỳ cơ bản: trước hiện đại (truyền thống), và trong quá trình hiện đại hóa ngày nay

Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống tinh thần

xã hội Nhật Bản trong phạm vi một số phương diện như tinh thần, đạo đức, văn hóa, lối sống

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Đề tài vận dụng lý luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, luật pháp, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo nói chung để nghiên cứu Phật giáo Nhật Bản như một đối tượng của triết học-tôn giáo

Đề tài vận dụng các phương pháp chung của khoa học xã hội như phân tích,

so sánh, hệ thống, khái quát, đồng thời kết hợp với các phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học, văn hóa học, sử học… trên cơ sở tiếp thu các thành tựu

có liên quan và từ những tài liệu sẵn có

6 Đóng góp mới của luận án

Luận án góp phần phân tích một cách có hệ thống ảnh hưởng của Phật giáo đến mét số mặt trong đời sống tinh thần của xã hội của Nhật Bản trước hiện đại và hiện đại

Luận án chỉ ra một số điểm tương đồng và khác biệt cũng như một số bài học cần thiết của Phật giáo Nhật Bản đối với Việt Nam

Trang 14

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án góp phần nghiên cứu về tôn giáo Nhật Bản nói chung và Phật giáo

Nhật Bản nói riêng trong đối sánh với Việt Nam

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy hoặc nghiên cứu

về Phật giáo nói chung và Phật giáo Nhật Bản nói riêng ở trong và ngoài

nước Luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác quản lý

Phật giáo nói riêng và Tôn giáo nói chung ở Việt Nam

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, danh mục các công trình đã công bố của tác giả, danh

mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 15

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO NHẬT BẢN

1.1 Sự hình thành và phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản

1.1.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản

- Điều kiện tự nhiên và xã hội của Nhật Bản

Nhật Bản là quần đảo ở Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương với chiều dài 4000km Quần đảo này gồm hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ với diện tích vào khoảng 322.000km2; Với 4 đảo lớn: Hokkaido, Honshu, Shikoku, Kyushu và nhiều đảo nhỏ

Điểm đặc biệt là, Nhật Bản có rất nhiều núi lửa hoạt động; hàng năm gây nhiều tai họa cho con người và xã hội Điều kiện núi cao, bờ biển gập ghềnh với những vách đá thẳng đứng, đã tạo cho Nhật Bản một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ và đẹp

Từ hình dạng của lãnh thổ như hình trăng lưỡi liềm hay hình con tằm, nên nhiều người tin rằng, Nhật Bản muốn tồn tại phải dựa vào Trung Quốc, vì hình dạng Trung Quốc giống lá dâu Tuy vậy, sự phỏng đoán nặng tính tư biện đó đã không đúng với thực tế lịch sử Sức tự cường của người Nhật đã giữ cho đất nước họ không lâm vào tình trạng phụ thuộc vào nước ngoài Nhật Bản là nước duy nhất ở Đông Bắc Á không rơi vào thảm họa thực dân trong thời kỳ thực dân hóa

Về phương diện nhân chủng học, người Nhật Bản hiện nay là kết qủa của

sự cộng sinh nhiều dòng máu của nhiều tộc người khác nhau Theo kết quả nghiên cứu của các nhà nhân chủng học và khảo cổ học, đất nước Nhật Bản

có vết chân người từ cuối thời đại đồ đá mới (cách đây khoảng 3.000 năm) Xét về mặt địa lý - lãnh thổ, người ta đã phát hiện thấy sự liên kết chặt chẽ giữa lục địa Trung Hoa và quần đảo Nhật Bản Từ đó có suy luận rằng, gốc gác

Trang 16

người Nhật có quan hệ với các tộc người ở đại lục Trung Quốc Các tác giả của

Lịch sử Phật giáo thế giới cho rằng người Nhật gồm ba hệ dân lớn [45, tr.15-98]:

- Tộc người Hà Di (Ainu): Gốc da trắng ở châu Âu, vượt Xibêri đến Nhật Bản

- Tộc người Thông Cổ Tư vốn sống ở Tây Á, trong đó tộc Thiên Tôn lớn nhất Tộc người này lấy đất Đại Hòa làm căn cứ nên còn gọi là dân tộc Đại hòa Đây là nòng cốt của dân tộc Nhật Bản và là người Nhật Bản gốc

- Một số tộc người thiểu số khác

Điều kiện tự nhiên của Nhật Bản khá đa dạng, khí hậu ôn đới, cây cối tốt tươi, rậm rạp… có những ảnh hưởng đến tính cách, tâm lý người Nhật, như rèn luyện tinh thần dũng cảm, tính tiến thủ mà biểu tượng được ví như núi Fuji Ngoài ra, người Nhật cũng khá cởi mở, nặng tính thực dụng với một bản lĩnh thép được hun đúc qua quá trình phát triển của đất nước Đánh giá về tính cách, tâm lý người Nhật, Edwin O Reischauer trong cuốn "Nhật Bản quá khứ

và hiện tại" [53, tr.16] cho rằng, ý thức về tinh thần liên kết trong thị tộc và niềm tin vào tầm quan trọng của các quyền lợi và uy quyền cha truyền con nối, chắc chắn phải là khá mạnh trong dân tộc này Vì những sức mạnh này luôn chiếm ưu thế trong suốt lịch sử của Nhật Bản và vẫn còn rất sống động trong nước Nhật hiện đại Có lẽ hình ảnh người chiến sĩ quý tộc, người đàn ông kỵ mã, lúc bấy giờ đã có một vị trí quan trọng trong xã hội Nhật, bởi vì các hình ảnh mờ ảo này của Nhật Bản thời sơ khai đã vượt qua được trận lũ của nền văn minh vay mượn Trung Hoa, để sau này thông qua truyền thống

"Võ sĩ đạo" trỗi lên như cột xương sống của Nhật Bản thời phong kiến

Tính thống nhất cao về chủng tộc (người Nhật chiếm 99,5% dân số) và điều kiện tự nhiên - lịch sử có tính độc lập của một quần đảo, đã tạo nên sự thống nhất dân tộc cao độ, từ đó là sự thống nhất tôn giáo trên cơ sở tôn giáo bản địa (Thần Đạo); và cũng có thể nói, Phật giáo từ một tôn giáo ngoại nhập,

đã trở thành tôn giáo bản địa trên nhiều phương diện khác nhau

Trang 17

- Tổ chức xã hội Nhật Bản thời kỳ du nhập Phật giáo

Theo nhiều học giả Nhật Bản, mặc dù hai cuốn sách Cổ sự ký (Kojiki) và

Nhật Bản thư ký (Nihonshoki) được biên soạn vào thế kỷ thứ VIII mang

nhiều tính truyền thuyết và thần thoại, nhưng là những tài liệu quan trọng, để nghiên cứu xã hội Nhật Bản cổ đại Qua các truyền thuyết và những câu chuyện dân gian, có thể hình dung xã hội Nhật Bản tồn tại trên những nguyên tắc của một nền quân chủ Giáo lý của Shinto (con đường của thần thánh) không mạnh và làm say lòng người như một tôn giáo thực thụ, nhưng cũng thể hiện rõ ý thức dân tộc của người Nhật Tín ngưỡng Shinto, những ước nguyện về một cuộc sống tốt đẹp được hòa quyện với lòng yêu nước, bởi người Nhật nghĩ rằng, Nhật Bản là đất nước thần thánh Ai được thần thánh tin cẩn sẽ được giao quyền cai trị đất nước Vì lẽ đó, trong đời sống, đạo có vị trí chỉ đạo ý thức cộng đồng Theo đó, cá nhân chỉ tồn tại được khi là thành viên của gia đình Một gia đình chỉ tồn tại được khi là thành viên của quốc gia Hiện tại phải hy sinh cho truyền thống và cho những khát vọng tương lai Thông qua các truyền thuyết, người ta cũng thấy rằng, quyền lực xã hội tập trung ở các Tenno (Thiên hoàng), mặc dù quyền lực đó không phải lúc nào cũng được thực hiện suôn sẻ Chính quyền Trung ương của Thiên hoàng có quyền lực cai quản các tộc người khác, trong đó có những tộc người mạnh Những tộc người đó mặc dù thần phục Thiên hoàng nhưng vẫn có quyền lực độc lập, vẫn có khả năng kiểm soát đất đai và cư dân của mình Thiên hoàng thường đại diện cho một tộc người lớn mạnh nhất và được coi là sứ giả, đại diện cho thần dân trong mối quan hệ với thần thánh Quyền lực đó, vì vậy mang tính tôn giáo nhiều hơn là tính chính trị Nó dựa vào Thần đạo và tìm thấy ở Phật giáo sức mạnh tâm linh, để tập hợp và lãnh đạo Thần dân

Các đại thần, thường là những người đứng đầu các dòng họ quý tộc Nakutomi và Imibe Họ là các chúa đất có quyền lực; quyền lực ấy đươc duy

Trang 18

trì theo kiểu cha truyền con nối về mặt tôn giáo Thường thì những người đứng đầu các dòng họ quý tộc cứ mỗi năm hai lần, làm chủ lễ đọc kinh cầu nguyện trong các dịp lễ tẩy uế, cầu xin thần linh gột bỏ ô uế và tội ác cho dân lành

Tùy theo tương quan lực lượng giữa các dòng họ mà quy định dòng họ nào được đảm nhiệm chức năng gì Vì vậy, trong xã hội Nhật Bản cổ đại và trung đại, cuộc tranh giành giữa các dòng họ cũng hay xảy ra Việc chọn người đứng đầu tộc người có một số tiêu chí nhất định, hoặc họ là người giàu có, hoặc có khả năng sản xuất những đồ quý hiếm hay có tay nghề cao trong một

số ngành thủ công mỹ nghệ

Có thể nói, trong xã hội Nhật Bản cổ đại và trung đại, các tầng lớp quý tộc

và chúa đất ở trung ương và địa phương với vây cánh của họ đã chi phối quyền lực của triều đình Họ có thể buộc triều đình có hành động theo ý muốn của họ, kể cả việc bành trướng lãnh thổ Họ xây dựng thế lực và có thể lôi kéo các thủ lĩnh địa phương đi theo mình Chính sách của họ là tập hợp những người thợ giỏi, cho họ quyền lợi thỏa đáng để lôi kéo họ

Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản trong bối cảnh lịch sử như vậy Lúc đầu, nó được đưa vào Nhật Bản thông qua vai trò của những người Triều Tiên, Trung Hoa vốn là những người buôn bán hoặc tù binh; sau đó, do nhu cầu xã hội

và phù hợp với tâm lý văn hóa của người Nhật, đặc biệt nhờ sự nâng đỡ của chính quyền, Phật giáo chính thức được thừa nhận và phát triển khá nhanh

- Tín ngưỡng bản địa

Phật giáo du nhập vào Nhật Bản trong bối cảnh người Nhật đã có một truyền thống tín ngưỡng khá vững chắc: tín ngưỡng về Thần (Kami) Thần là đối tượng của sự thờ cúng trong Thần đạo đã tồn tại từ thời cổ đại [3, tr.183] Thần có nhiều loại nhưng có một số đặc điểm chung như: không có hình dạng riêng nhưng có thể được mời gọi đến với những hình thức mời thích hợp; tuy

Trang 19

là thực thể trừu tượng nhưng có thể mang phúc hay chuốc họa cho con người, tùy thuộc vào thái độ đối xử của con người đối với Thần; Thần có thế giới riêng nhưng vẫn có thể viếng thăm thế giới loài người; Thần là thế lực có thể ban phát cho con người những lợi ích vật chất mà không đại diện cho một thứ chân lý tối hậu

Từ đó có thể thấy, về thực chất, Thần đạo có những khác biệt căn bản với Phật giáo Điểm căn bản nhất ở chỗ, Thần là trừu tượng trong khi Phật là cụ thể Tôn sùng, thờ cúng Thần sẽ được đền đáp, trong khi Phật chủ trương chính con người tự chịu trách nhiệm về kết quả của hành động bản thân, mà không nên trông chờ bất kỳ một sự ban phát nào, nhất là trong quan niệm của Phật giáo nguyên thủy Thần là thế lực ban phát trong khi Phật đại diện cho chân lý tối hậu Thần đạo không có đủ một hệ thống giá trị đạo đức được xem

là chân lý Vì những lẽ trên, nên từ buổi đầu du nhập, Phật giáo luôn góp phần

bổ sung, bù đắp cho những điều mà Thần đạo không thể có Do đó xuất hiện

xu hướng hỗn dung, vay mượn lẫn nhau giữa Thần và Phật Đây là một thực

tế trong đời sống tín ngưỡng của người Nhật Bản Bách khoa toàn thư Nhật Bản khẳng định: "Đạo Phật đã cung cấp cho người Nhật toàn bộ khái niệm về đạo đức… Đạo Phật đã đưa đến cho văn hóa Nhật Bản những từ về lòng thương xót, anh minh, lòng từ bi, lòng nhân ái…" [3, tr.191]

- Các tôn giáo ngoại nhập muốn bắt rễ vào một khu vực nào đó không thể không dựa vào tôn giáo truyền thống, nhưng ở Nhật Bản vì trong giai đoạn đó, Thần đạo đã là một tôn giáo phổ biến của người dân, lại có nhiều dị biệt với Phật giáo, nên sự du nhập diễn ra khó khăn hơn

Trước hết, muốn bắt rễ, Phật giáo không thể du nhập bằng hệ thống lý luận trừu tượng mà phải bằng hình thức nào đó của quyền năng, bằng những lời hứa sẽ bảo vệ toàn bộ xứ sở, và sự sẵn sàng cứu giúp của các Bồ Tát Do đó, một điều tự nhiên là trong suốt hai thế kỷ đầu tiên khi mới du nhập, tôn giáo

Trang 20

mới này thường được hiểu một cách đơn thuần như một phương tiện có hiệu quả giúp tạo ra những ân huệ trần tục mà chúng sinh luôn luôn tìm kiếm, mong đợi từ những vị thần trong Thần đạo Cũng vì tính chất đó mà cuối cùng triều đình phong kiến đã chấp nhận Phật giáo, vì nó gieo hy vọng sẽ mang lại mùa màng tốt tươi, cuộc sống an bình, và đất nước thịnh vượng

Để đi vào cõi tâm linh của con người thuộc mọi đối tượng, Phật giáo ở

Nhật Bản luôn chủ trương hai khuynh hướng: Khuynh hướng thứ nhất, đối

với dân chúng chiếm số đông, nó thường xuyên cung cấp những dịch vụ tín ngưỡng thiết thân như kết duyên nam nữ, chữa bệnh, hoặc chăm sóc người chết, vỗ về người sống bằng các nghi lễ cầu hồn, bảo vệ người sống trước nỗi

sợ bị quấy rối bởi linh hồn người chết Khuynh hướng thứ hai, phục vụ những

người coi thế giới này là ảo và đầy đau khổ, Phật giáo cung cấp cho họ kỹ thuật tu luyện thiền định để làm thay đổi cảm nhận Có thể nói, do ảnh hưởng của tập tục thờ thần bản địa, Phật giáo Nhật Bản thời kỳ đầu đặc biệt coi trọng việc cầu mong công đức Các sử gia gọi đó là hình thức “Phật giáo cầu mong” theo đó các tín đồ không tha thiết tìm hiểu kinh Phật mà chỉ nhờ cầu nguyện

để mong kéo dài tuổi thọ, trừ tai, chữa bệnh, cầu mưa, giữ nước Họ lễ Phật nhưng với tâm lý cầu thần, cầu cho đời sống hiện thực được bình yên như ý Phật giáo vào Nhật Bản trong điều kiện xã hội đang ở giai đoạn Xã hội thị tộc Bởi vậy, việc thờ cúng của Thần đạo của các thị tộc hết sức đa dạng Họ chủ yếu thờ các lực lượng tự nhiên như cây cối, núi non, mặt trời, nhưng cũng bắt đầu thờ những vị thần phụ trách một số nghề thủ công chuyên ban phát năng lực cho ngư dân hay thợ săn… và cũng thờ cả những vị thần sống (do tu luyện công phu mà thành) như đấng chỉ dạy về tôn giáo Họ còn thờ những vị thần bảo hộ cho cá nhân, gia đình, dòng tộc và cả những Thần sáng tạo ra các hòn đảo hay thần bảo hộ Hoàng Gia trong quan niệm của người Nhật Bản,

Trang 21

nhờ thờ cúng có khả năng thay đổi tính chất của các vị thần, từ thần phá phách trở thành thần có ích sẵn sàng giúp đỡ dân tình

Rõ ràng, sự đa dạng của các thần là quan niệm tín ngưỡng khá phổ biến của người Nhật Bản Niềm tin đa dạng và hỗn tạp với đối tượng thờ cúng cũng đa dạng, hỗn tạp Thực trạng này phản ánh thực tế tín ngưỡng đa dạng giữa các thị tộc trên quần đảo Nhật Bản Điều này như một yếu tố tinh thần cản trở sự thống nhất của quốc gia Nhật Bản Trong bối cảnh đó, Phật giáo du nhập và nhanh chóng được cả Hoàng gia và người dân chấp nhận và trở thành một trong những cơ sở cho sự thống nhất về đức tin của người Nhật Bản, và tạo điều kiện cho tinh thần thống nhất quốc gia Đây là một trong những lý do

mà các Thiên Hoàng của Nhật Bản không chỉ là lãnh tụ về chính trị mà còn là lãnh tụ về tôn giáo, là đại diện của thần linh Nhật Bản Chỉ sau năm 1945 khi nước Nhật bại trận thì Thiên Hoàng mới trở lại tư cách như con người bình thường

Ở Nhật Bản, Phật giáo được tiếp nhận để phục vụ cho lợi ích thực dụng của Hoàng gia, thế lực cầm quyền và cả người dân Ở Nhật Bản, Phật giáo được tiếp nhận trên nền tảng Thần đạo, trong đó yếu tố trội là Thần Buổi đầu, Phật giáo với tính cách là một tôn giáo ngoại lai, để tồn tại và phát triển, đã phải thỏa mãn các điều kiện như: thích ứng với cơ chế tâm lý văn hóa của người Nhật Bản, phải đáp ứng được một số nhu cầu xã hội lúc đó, và phải được giai cấp thống trị hỗ trợ Trong lịch sử dân tộc Nhật Bản, cách thức tổ chức tín ngưỡng - tôn giáo trong xã hội còn là nhân tố tác động trực tiếp trở lại quá trình giao lưu, du nhập và tiếp biến của Phật giáo

- Văn hóa bản địa và giao lưu văn hóa buổi đầu

Cho đến nay, cuộc tranh luận về những động cơ dẫn đến sự du nhập, phát

triển của Phật giáo ở Nhật Bản thiên về hai loại quan điểm chính: loại thứ

nhất cho rằng, sự du nhập Phật giáo vào Nhật Bản là do những động cơ từ

Trang 22

phía Trung Hoa hay chỉ là sự bành trướng về tư tưởng, văn hóa của Trung

Hoa; loại thứ hai cho rằng, đó là sự tiếp nhận diễn ra trên cơ sở nhu cầu nội

tại của người Nhật Bản và người Nhật đã chủ động tiếp nhận Phật giáo

Theo chúng tôi, sự phát triển của văn hóa nói chung và văn hóa Nhật Bản nói riêng, đều liên tục diễn ra những cuộc tiếp xúc văn hóa một cách tự giác hay tự phát Trường hợp đặc biệt của Nhật Bản, trước khi tiếp xúc với Triều Tiên, Trung Hoa, là do những yếu tố địa lý tự nhiên quy định, bởi vì Nhật Bản là các hòn đảo gần như biệt lập so với thế giới bên ngoài, nhất là khi kỹ nghệ hàng hải chưa phát triển Nhật Bản tương đối biệt lập và thiếu những mối giao lưu văn hóa, so với Triều Tiên, Trung Hoa thì lúc đó trình độ văn minh của Nhật Bản rất thấp Về mặt xã hội, lúc đó Nhật Bản còn tồn tại chế

độ thị tộc và trình độ lực lượng sản xuất rất thấp kém Những thấp kém trong lĩnh vực kinh tế thường được phản ánh trong lĩnh vực tư tưởng Cho đến đầu thế kỷ VI Nhật Bản chưa hình thành các tư tưởng có tính hệ thống trong nghệ thuật, tôn giáo, triết học… Những quan hệ đầu tiên của Nhật Bản với lân bang chủ yếu qua buôn bán và chiến tranh Từ đó người Nhật mới nhận ra rằng, bên cạnh họ còn có những quốc gia có trình độ phát triển cao hơn Edwin O Reischauer, một học giả Mỹ chuyên nghiên cứu về Nhật Bản đã từng khẳng định:

Không có gì đáng ngạc nhiên nếu người Nhật nguyên thủy sống trên một đất nước gồm những hòn đảo biệt lập cảm nhận được những phản quang của đế quốc Trung Hoa mới và bừng tỉnh với một nhận thức mới về cái đất nước lớn lao ở bên kia bờ biển [53, tr 23]

Tuy vậy, trong buổi đầu giao tiếp với Trung Hoa, những vay mượn diễn ra rất chậm chạp và không tự giác Mãi cho đến gần cuối thế kỷ VII mới có sự gia tăng đột ngột sự du nhập các yếu tố của văn hóa Trung Hoa vào Nhật Bản

Sự gia tăng này chỉ có thể giải thích bởi hai lý do: thứ nhất, có thể dân tộc

Trang 23

Nhật lúc ấy mới đạt tới trình độ văn hóa cho phép họ nhận thức ra và có đủ khả năng để tiếp nhận các nhân tố ngoại lai một cánh nhanh chóng và có ý

thức, thứ hai: mọi giá trị văn hóa (của Trung Hoa), tự nó có nhu cầu và khả

năng lan tỏa và bành trướng, nhất là khi chúng đã đạt trình độ cao Lúc đó, ở Trung Hoa, nhà Đường đã đạt tới một chế độ phong kiến cực thịnh, vì vậy khả năng lan tỏa của nó ra các nước xung quanh dễ dàng hơn

Những tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa Nhật Bản và Trung Hoa lúc đầu thông qua trao đổi thương mại hay trao đổi chiến lợi phẩm sau chiến tranh, dần dần những cách tiếp xúc này được thay bằng giao lưu tín ngưỡng, tôn giáo Đáng chú ý là, Phật giáo ở Trung Hoa lúc đó đã phát triển cực thịnh và trở thành biểu tượng văn hóa quan trọng được chuyển tải từ Đại Lục sang Nhật Bản

Lúc đầu bằng con đường dân gian Phật giáo du nhập vào Nhật Bản, song ảnh hưởng của Phật giáo lớn dần, lan tới cả tầng lớp thống trị và tạo nên hai

xu hướng đối xử với Phật giáo trong thị tộc Yamato, một bên ủng hộ Phật giáo và một bên phản đối Sự thắng lợi của nhóm ủng hộ Phật giáo diễn ra vào khoảng năm 587 đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp nhận nhanh hơn các tư tưởng của Trung Hoa nói chung và Phật giáo nói riêng Nhờ sự bảo trợ của triều đình, nhiều phái đoàn được cử sang Đại Lục nhà Đường học hỏi tri thức, còn ở trong nước Phật giáo dần trở thành tôn giáo có vị thế thậm chí lấn

át cả Thần đạo

Có thể nói rằng, sự du nhập của Phật giáo Trung Quốc vào Nhật Bản không thuần túy chỉ là sự bành trướng văn hóa của người Trung Hoa Bởi vì, nếu thiếu sự nhiệt tình tiếp nhận từ phía Nhật Bản thì khả năng bén rễ, tồn tại, phát triển của Phật giáo sẽ khó khăn hơn nhiều Mặt khác, nếu theo lý này thì khi nhà Đường có dấu hiệu suy vi, hẳn người Nhật cũng bắt đầu suy nghĩ lại

và lạnh nhạt với Phật giáo để khẳng định tinh thần độc lập văn hóa, hoặc

Trang 24

người Nhật sẽ không còn sùng bái đối với mọi yếu tố của văn minh Trung Hoa Mặt khác, lịch sử nước Nhật cho thấy, ngoài các yếu tố du nhập từ Trung Quốc, dân tộc này tiếp nhận nhiều yếu tố ngoại lai khác, và cùng lúc họ vẫn luôn tìm cách giữ gìn, phát triển các nhân tố bản địa Bằng chứng là, khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa Thần và Phật Cuộc đấu tranh đó diễn ra tiếp tục trong các thời kỳ lịch sử sau đó Cuối cùng Phật giáo bản địa hóa trở thành Phật giáo Nhật Bản, và có thời kỳ, Phật giáo trở thành trụ cột, chi phối mạnh mẽ các lĩnh vực của đời sống xã hội

Theo quy luật của tiếp biến văn hóa, khi muốn bắt rễ vào một khu vực nào

đó, các hiện tượng văn hóa ngoại lai phải biến đổi cho phù hợp với những yêu cầu bản địa Quá trình du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Phật giáo đã có nhiều biến đổi đến mức làm cho một

số yếu tố của Phật giáo Nhật Bản có những khác biệt khá căn bản với Phật giáo Ấn Độ hay Phật giáo Trung Hoa Những biến đổi đó lúc đầu được tạo nên bởi nền tảng kinh tế - xã hội cũng như những yêu cầu văn hóa-xã hội của

cư dân Nhật Bản Nhưng đến lượt chúng, những biến đổi này nhiều khi lại trở thành những định hướng cho sự phát triển của văn hóa Nhật Bản về sau Vì lẽ

ấy, mặc dù ngày nay trong những điều kiện của một xã hội hiện đại nhưng văn hóa Nhật Bản vẫn giữ được những yếu tố đối lập nhau giữa các tôn giáo: như nhân ái, khoan hòa của đạo Phật, hoặc cứng nhắc đến tàn nhẫn của võ sĩ đạo, hoặc thực dụng như Khổng giáo và mộng mơ siêu thoát của Thiền tông Từ

đó lại có sự đan xen giữa tư tưởng trọng lợi ích vật chất và tha thiết cái đẹp siêu thoát, giữa một tư duy khoan hòa nhưng lại chứa đầy tính duy lý v.v…

- Một số tông phái Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản sau đó:

Thời Akura (538-710) Phật giáo bắt đầu được truyền vào Nhật Bản dưới

triều đại Kế Thể Thiên Hoàng (507-531), nhưng mãi đến thời Thái tử Shotoku (cuối thế kỷ VI) Phật giáo mới được công khai thừa nhận nên có thể lấy mốc

Trang 25

Phật giáo sơ kỳ bắt đầu từ thời kỳ này Nhiều học giả thống nhất năm Phật giáo truyền vào Nhật Bản là 538 [10, tr.2] Hai tông phái truyền vào Nhật thời

kỳ này là Tam luận tông và Pháp Tướng tông

-Tam luận tông (Sanron shù) là tông phái do Huệ Quan - sa môn Triều

Tiên truyền vào Nhật Bản năm 33 đời Suy Cổ Thiên Hoàng (Suiko Tenno) Huệ Quan trụ trì ở chùa Nguyên Hương và để lại nhiều đệ tử tài giỏi như Phúc Long, Trí Tạng, Đạo Tử… Giáo lý chủ yếu của Tam luận tông nằm trong ba bộ luận của Bồ tát Long Thọ do đệ tử của ngài là Đề Bà viết Đó là

các bộ Trung quán luận, Thập nhị môn luận và Bách luận, trong đó nổi tiếng nhất là Trung quán luận Tư tưởng của Tam luận cho rằng mọi hiện tượng

(vạn pháp) là hư huyễn và không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối "tương quan", "tương duyên" với nhau

- Pháp Tướng tông (Hosso shù) được truyền vào Nhật Bản do công của

Đạo Chiêu (Dosho) vào khoảng năm 650 Theo cuốn Lịch sử Phật giáo thế

giới, có đến 3.000 đệ tử, 70 hiền sĩ theo Pháp tướng tông Ngoài việc đạo, tín

đồ tông phái này còn làm việc thiện là giúp dân đào giếng, đóng thuyền, bắc

cầu… Giáo lý chủ yếu của Pháp Tướng tông là Thành duy thức luận của ngài

Hộ Pháp Đó là bản chú thích quyển Duy Thức Tam Thập Tụng của Bồ Tát

Thế Thân Pháp Tướng tông chủ trương khi tâm thức tịnh tĩnh, vắng lặng thì đồng nghĩa với chân lý

Thời Nại Lương (Nara, 710 - 794), sau những cuộc đấu tranh quyết liệt

giữa Thần đạo và Phật giáo, rồi được sự hậu thuẫn của dòng tộc Tô Ngã Đạo Mục (Soganoiname), tiếp đó là Thái tử Thánh Đức (Shotoku Taishi), Phật giáo bắt đầu thắng thế (hai thế kỷ, từ 523 – 710) Trong thời kỳ Nại Lương Phật giáo phát triển mạnh mẽ và khá đa dạng Lúc này các tông phái Phật giáo

Nhật Bản chủ yếu là: Tam luận tông, Pháp tướng tông, Thành thực tông

Trang 26

(Jojisu shù), Câu xá tông (Kusha shù), Hoa Nghiêm tông (Kegon shù), Luật

tông (Ritsu shù)

- Tam luận tông là tông phái đã tồn tại từ trước, có phần suy yếu, nhất

vào cuối thời Nại Lương Sự suy yếu này có lẽ là do những luận lý trừu tượng, khó hiểu của nó không thích ứng được với tâm lý ưa thực dụng của người Nhật; hoặc do lý luận của nó khác biệt với tín ngưỡng bản địa vốn rất coi trọng những điều thực tế

- Pháp tướng tông là tông phái thịnh trị nhất trong thời Nại Lương Nó

không chỉ góp phần tạo ra đông đảo những học giả hiền tài, mà còn có ảnh hưởng mạnh mẽ về giáo nghĩa đối với Phật giáo ở Nhật Bản

- Thành thực tông không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào Sanron tông

và có số lượng tín đồ rất ít Giáo lý của Thành thực tông cho rằng, bản ngã và vạn pháp là hư vô Đời sống của con người là những chuỗi liên tiếp các hiện tượng luân chuyển nhanh chóng đầy tính giả tạm Khi nhận ra tính giả tạm và

hư vô thì sẽ dứt bỏ được phiền não và đạt đến sự tịch tĩnh

- Câu xá tông không rõ thời điểm du nhập vào Nhật Bản Câu xá tông lấy bộ luận Câu xá nổi tiếng làm tôn chỉ, chủ trương rằng Pháp hữu, mặc dù

những sự vật cá thể là ảo ảnh (vô)

- Hoa Nghiêm tông được truyền vào Nhật Bản vào năm 736 đời Thánh

Vũ Thiên Hoàng nhờ công của đại sư Đạo Duệ (Dozen) Giáo lý Hoa Nghiêm

tông là bộ kinh Hoa nghiêm cho rằng tư tưởng của Đức Phật rọi chiếu vạn vật

Vạn vật ở thế gian đều liên hệ và tiếp ứng cho nhau, đồng soi sáng cho nhau Phật quyết đưa về cõi Giác tất cả chúng sinh Bao giờ còn một chúng sinh chưa được giải thoát thì lòng Phật chưa yên Bậc sáng suốt là người thấu hiểu rằng, cõi đời chẳng thật, song cái thật và không thật cùng bản tính như nhau, cho nên đắc được cảnh tự nhiên ắt sẽ đắc đạo

Trang 27

- Luật tông do nhà sư Trung Quốc, đời Đường truyền vào Nhật Bản

Luật tông thừa nhận rằng muốn giải thoát không cần thuộc vài quyển kinh, mà chỉ giữ tròn giới luật Nhờ giữ giới, "trì luật" nên sinh "định" Nhờ có Định mà phát Tuệ Mặc dù có những dị biệt, song các tông phái đó đều phản ánh sự khao khát hướng tìm bản chất của vũ trụ Để nhận thức được bản chất đó thì phải giải phóng tư duy khỏi mê chướng bởi ảo ảnh của giác quan và từ đó hướng con người tới những hoàn thiện mà trước hết là đạo lý làm người

Qua nghiên cứu về thời điểm và con đường du nhập Phật giáo vào Nhật Bản có thể thấy rằng, trên con đường truyền bá Phật giáo đã từng bị khúc xạ qua nhiều nước trung gian, vì vậy nó không còn nguyên vẹn như Phật giáo chính gốc ở Ấn Độ Điều căn bản hơn là Phật giáo khi du nhập vào Nhật Bản

bị chi phối mạnh bởi các yếu tố tín ngưỡng bản địa lâu đời Qua quá trình giao lưu, Phật giáo tiếp biến thành bộ phận của văn hóa Nhật Bản phải trải qua hai giai đoạn: tiếp nhận cái mới và kết hợp với bản sắc văn hóa truyền thống, tức là hòa nhập với tín ngưỡng bản địa là đạo Shinto, với văn hóa nghệ thuật, và với đời sống tâm linh, tâm hồn, tình cảm người Nhật nói chung

1.1.2 Quá trình tiếp biến của Phật giáo tại Nhật Bản

- Phật giáo thời kỳ Bình An (Heian, 794 - 1185)

Vào cuối thời kỳ Nại Lương, Nhật Bản diễn ra tình trạng rối loạn, tranh giành quyền lực chính trị trong tầng lớp cầm quyền nên xã hội bất ổn, đạo đức đồi bại Trong bối cảnh đó, nội bộ Phật giáo cũng có sa sút, thói hư tật xấu trong tăng ni cũng tràn lan Lý do cụ thể là, sau thời một kỳ phát triển mạnh nhờ sự nâng đỡ của chính quyền, nhiều tăng ni đã biến chất trở thành những

kẻ mượn cửa chùa để làm việc phàm tục và hưởng lạc Nhiều kẻ phạm dã tâm ngoài đời cũng mượn cửa chùa để ẩn náu, hay có kẻ chỉ vì chuộng sự nhàn tản

và sung sướng nên cũng khoác áo sa môn Trước tình hình đó, vào năm thứ

13 niên hiệu Diên Lịch (794) Hoàn Vũ Thiên Hoàng đã quyết định dời đô tới

Trang 28

Heian (Kyoto ngày nay) với mục đích chấn chỉnh kỷ cương, thống nhất dân tâm, đổi mới phong khí dân tộc Ngoài những lý do trên, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, sở dĩ Thiên Hoàng thiên di kinh đô tới Bình An còn vì để tránh bớt áp lực của các dòng họ quý tộc giàu có và quyền thế, cũng như áp lực ngày càng gia tăng của giới tăng lữ Phật giáo Vì lẽ ấy, theo chỉ dụ của Thiên Hoàng, toàn bộ chùa, tu viện vẫn ở chỗ cũ, không như các lần thiên di kinh đô trước đây, tất cả chùa, tu viện Phật giáo cũng dời đi theo; mà chỉ vài chùa, tu viện được xây dựng mới nhằm tạo bộ mặt cho kinh đô mới Trong

tình hình đó, Phật giáo xuất hiện thêm hai tông phái, Thiên Thai tông (Tendai

shù), Chân ngôn tông (Shingon shù) và Tịnh độ tông (Jodo shù)

- Thiên Thai tông được thành lập ở Trung Hoa bởi Trí Khải đại sư tại

núi Thiên thai vào thế kỷ thứ VI Ở Nhật Bản nó gắn liền với tên tuổi của Đại

sư Tối Trừng (Saicho) Ông là người đã từng tu ở chùa Todaiji-Heian, nhưng

vì bất mãn với hiện trạng Phật giáo chỉ chạy theo hư danh nên đã phát tâm thề nguyền không thoái không hoại, lên núi Hiyei (Tỳ Duệ), vào rừng ở ẩn để tịnh tâm, dứt tuyệt thị dục Năm thứ 23 niên hiệu Diên Lịch (804), Đại sư Tối Trừng phụng chiếu Thiên Hoàng sang Trung Quốc học đạo Tháng 5, niên hiệu Diên Lịch thứ 24 (805) Đại sưvề Nhật Năm sau ông xin lập Thiên Thai tông Thiên Thai tông ra đời, lập tức chịu sự phản bác mạnh mẽ của sáu tông phái đã tồn tại từ thời Nại Lương

Theo Đại sư Tối Trừng, Phật giáo thời đó chủ yếu là Phật giáo đô thị, sa vào lợi danh, vì thế Thiên Thai tông lại chủ trương xây dựng Phật giáo núi rừng, coi nhẹ lợi danh Ông từng nói: "Trong cơm áo không có đạo tâm, trong

đạo tâm có cơm áo" Giáo lý cơ bản của Thiên Thai tông là Diệu pháp liên

hoa kinh với chủ trương vạn vật đều có Phật tính, đều có thể thành Phật

Đại sư Tối Trừng học đạo ở Trung hoa, và đã tiếp nhận tư tưởng căn bản trên của Thiên Thai tông Ngoài ra, ông còn lĩnh hội nhiều tư tưởng khác của

Trang 29

Thiền tông, Luật tông và Mật tông Ở Nhật Bản, dường như tín ngưỡng Phật giáo ít nhiều được cộng sinh bởi các yếu tố Mật tông Có thể giải thích hiện

tượng này bởi hai lý do, một là do sự chi phối của tín ngưỡng Thần đạo, một thứ tín ngưỡng bản địa chủ trương thờ Thần để được ban phúc, tránh họa; hai

là do tâm lý người Nhật ưa chuộng thực chất, ít quan tâm đến lễ nghi siêu

hình Vì lẽ ấy, các tôn giáo muốn được người ta tin theo phải tạo ra những công dụng thực tế Do vậy, ngoài việc tham gia các hoạt động từ thiện như nuôi dạy trẻ mồ côi, mở cơ sở sửa chữa bệnh… Phật giáo còn giúp con người tránh ma tà và hơn nữa là tin rằng có thể chi phối được sức mạnh siêu hình để phục vụ dân sinh, nhất là trong điều kiện dân trí còn thấp, khoa học kỹ thuật chưa phát triển Hơn nữa, các thế lực cầm quyền cũng rất muốn lợi dụng các yếu tố của Mật giáo, nhằm làm tăng tính thiêng liêng của quyền lực Chẳng hạn Thiên Hoàng có thể cùng sư tăng lập lễ cầu đảo để gọi mưa chống hạn, hay tiêu trừ bệnh tật…

- Chân ngôn tông: gắn liền với tên tuổi đại sư Không Hải (Kukai) Không

Hải sinh vào năm thứ 5 niên hiệu Bảo Quy (774) Lúc nhỏ ông theo học đạo Khổng nhưng không thỏa mãn, sau đó phát tâm nguyện Bồ Đề, quy y Tam Bảo Sau khi học đạo Phật ở Trung Hoa trở về vào năm thứ 13 niên hiệu Hoàng Nhân (822) ông lập Viện Shingon ở chùa Todaiji Ông đã từng giảng kinh, làm lễ cầu an cho thánh thể Thiên Hoàng và quốc gia đại thịnh Vào năm 823 ông được ban cho trụ trì chùa Todaiji và làm đạo trưởng của Chân

ngôn tông Kukai đã viết nhiều sách, nổi tiếng là sách Tam giáo chỉ quy bàn

về lẽ hay dở của tam đạo (Nho, Phật, Lão); sách Thập tục tâm luận bàn về sở

đắc của Chân ngôn tông Chân Ngôn tông ở Trung Quốc được sáng lập vào

năm 719 bởi Kim Cang Trí, một nhà sư Ấn Độ với kinh điển chủ yếu là Đại

nhật kinh, Kim cang đỉnh kinh…, thừa nhận có những bí mật, huyền diệu

trong vũ trụ “Chân ngôn” có nghĩa là những lời nói linh diệu (thần chú,

Trang 30

những hành vi huyền diệu, những nghi lễ, bùa chú…) có tác động huyền diệu tới con người và tự nhiên

Thời Bình An, Chân Ngôn tông phát triển mạnh và được chia thành hai bộ:

Giác tướng và Sự tướng Giác tướng thuộc về giáo lý, Sự tướng là cách thực

hiện (hành pháp) Mặc dù trong thời gian này Thiên Thai tông cũng tồn tại, nhưng Chân Ngôn tông có ưu thế hơn Thiên Thai tông và Chân Ngôn tông đều chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố Mật tông, chú trọng đến lễ nghi thần

bí của các câu thần chú

- Tịnh độ tông: có từ giữa thời kỳ Bình An, khi xã hội rối loạn, nên dân

gian xuất hiện nhu cầu muốn hướng tới một thế giới đẹp đẽ Do đó, tín ngưỡng A Di Đà của Tịnh Độ tông dần được coi trọng và được phổ cập trong nhân dân Tịnh Độ tông cho rằng cái Tâm là căn bản, sự học chỉ là phương tiện Phải tin vào đức A Di Đà, vì khi đã tin vào Ngài sẽ được “an cư lạc nghiệp” và khi chết sẽ được “vãng sanh ở chốn Tây phương cực lạc” Người

tu theo Jodo, bất phân sang hèn, bất phân trình độ, dòng dõi đều bình đẳng trước Phật A Di Đà Họ chỉ cần dốc tâm niệm Phật, tâm niệm nơi tịch thổ thì khi chết không phải lặn ngụp trong cõi Ta Bà khổ não Tư tưởng Tịnh độ của Phật giáo được người Nhật chấp nhận để thay cho tư tưởng “huyệt mộ” truyền thống Đối với người Nhật Bản, Tịnh độ tức là sự thăng hoa của thế giới

“huyệt mộ” vốn thịnh hành từ thế kỷ III đến thứ VII, do đó người ta chuyển sang cầu minh phúc bằng cách xây chùa Phật thay cho xây mộ

Có thể nói, trong thời Bình An, Phật giáo ở Nhật Bản có sự phát triển mạnh mẽ và bắt đầu có sự xung đột giữa các phái, các chùa, tu viện Phật giáo Ngoài 6 tông phái đã có từ thời Nại Lương, nay xuất hiện thêm nhiều tông phái khác và bắt đầu có sự phân hóa giữa Phật giáo quý tộc và Phật giáo bình dân Sự phát triển của Phật giáo, một mặt có sự nâng đỡ, bảo trợ từ phía các tập đoàn cầm quyền, do nó đã đáp ứng lợi ích cá nhân của những quý tộc

Trang 31

muốn tiến thân; mặt khác, nó đã tạo dựng được chỗ tựa về tinh thần cho các Thiên Hoàng Cũng thông qua Phật giáo, văn minh Trung Hoa được du nhập,

dù càng về cuối thời kỳ này quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Hoa càng lạnh nhạt, khác với thời kỳ Nại Lương

1.1.3 Sự phát triển của Phật Giáo tại Nhật Bản

- Phật giáo thời kỳ Khiếm Thương (Kamakura, 1185 - 1333)

Trong thời kỳ này, Phật giáo phát triển hai khuynh hướng mới: một hướng, quay trở lại các tông phái của thời Nại Lương; hướng khác là sự xuất hiện các tông phái mới trong Thiền tông Do nhiều nguyên nhân tác động như chiến tranh, sự sa đọa của tăng lữ, quan hệ Nhật - Trung bắt đầu được thiết lập lại… đồng thời, cũng do nội chiến, tâm trạng con người bất an…tín ngưỡng Phật giáo được phục hồi cùng với sự phục hưng của các tông phái thời Nại Lương, và các tông phái mới của Thiền tông xuất hiện

- Hoa Nghiêm tông: Trong thời Bình An, Hoa Nghiêm tông có phần sa sút

Năm 997, Thiền sư Trí Quang xây dựng Tôn Thắng viện ở chùa Tôđai để cầu mong phục hưng tông phái này nhưng không thành công Sang thời Khiếm Thương, các đệ tử của Hoa Nghiêm tông như Cao Biện (1172 -1232), Ngưng Nhiên (1239 - 1321) mới thực sự chấn hưng được tông phái này Điểm lưu ý

là trong giai đoạn phục hưng Hoa Nghiêm tông, các sư tăng không chỉ chịu ảnh hưởng của Hoa Nghiêm tông mà còn sùng tín nhiều tông khác, nhất là Chân ngôn tông Chẳng hạn Cao Biện chủ trương Hoa Nghiêm tông và Mật tông nhất trí, hay Ngưng Nhiên là người tinh thông cả các sách thanh minh,

âm luật, quốc sử và cả thần thư

- Pháp tướng tông: được hình thành từ thời Nại Lương, đến thời Bình An

thì suy vi nhưng đến cuối thời Bình An lại sa sút nghiêm trọng với sự suy đồi phẩm hạnh của tăng ni cũng như sự lấn át của các tông phái khác Đến cuối thời kỳ Bình An, các cao tăng như Tạng Tuấn, Giác Hiếu, Trịch Khánh chủ

Trang 32

tâm trung hưng lại tông phái này Tông phái này cũng chịu ảnh hưởng của Tịnh độ tông và Luật tông, một số cao tăng của phái này cũng cầu được vãng sanh nơi cực lạc hay coi trọng Luật tông

- Luật tông: do Đại sư Thực Phạm có công phục hồi Năm 1122 ông đưa ra

quy định tổ chức thọ giới ở giới đàn viện thuộc Đông Đại tự Quy định đó được gọi là “Đông Đại tự giới đàn viện thọ giới thức” Tiếp theo, Thực Phạm

là Tạng Tuấn, Giác Hiếu, Trịnh Khánh, Giới Như… cũng rất nỗ lực truyền bá Luật tông

- Tịnh Độ tông và Nhật Liên tông (Nichiren shu) là những tông phái Phật

giáo đã có từ thời Bình An, tuy vậy nó chỉ là tông phái yếu về thế lực và phụ thuộc vào các tông khác Sang thời Khiếm Thương, dưới sự nỗ lực của Đại sư Nguyên Không (Genko) mà nó trở thành một tông phái độc lập Nguyên Không còn gọi là Pháp Nhiêu Thượng (Hozen) (1133 - 1212) là người vốn

theo học Thiên Thai tông Sau đó ông nghiên cứu cả Vãng sanh yếu tập của Nguyên Tín dòng Tịnh Độ và Quá vô lượng thọ kinh và quyết tâm theo Tịnh

Độ tông (1175) Tịnh Độ tông là đạo cứu rỗi cho tất cả mọi người, cả những

kẻ nghèo hèn không có tiền tài dựng đền đắp tượng, hoặc những người không được học hành tu luyện, cho nên từ tầng lớp quý tộc cho đến loại đầu trộm đuôi cướp đều có thể tham gia Cũng vì vậy, Tịnh Độ tông đã bị các tông phái khác kịch liệt phản đối, vì cho rằng sư Nguyên Không đã nhạo báng các tông khác, coi nhẹ pháp giới và họ đã dâng biểu tấu trình lên triều đình để phản đối Vào năm 1207 niên hiệu Kiến Vĩnh thứ hai, triều đình ra lệnh bắt giữ và ghép thầy trò Nguyên Không vào trọng tội 4 bị án người tử hình, 8 người bị

án lưu đày, trong đó có Nguyên Không Năm 1211 ông được ân xá và tịch vào năm 1212 Dù bị bức hại nhưng Tịnh Độ tông vẫn phát triển Vào các năm

1244, 1688, 1712 Nguyên Không liên tục được các Thiên Hoàng truy phong

Trang 33

tên hiệu Về sau các đệ tử của Nguyên Không đã sáng lập ra Chân Ngôn tông

và một số tông phái khác

Pháp sư Thân Loan (Shinran) (1173-1262) chuyên tu pháp môn niệm Phật, cùng bị tù đầy với Nguyên Không Ông đã lấy vợ trong thời gian bị đày, sau được tha và tiếp tục hoằng môn niệm Phật suốt hai mươi năm còn lại Tác

phẩm tiêu biểu của ông là Tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại, gồm

6 quyển Tư tưởng tôn giáo của ông hết sức bình dị về mặt thực hành, song là quá trình đi từ tìm hiểu đến thao tác Ông đã vượt qua việc quá nhấn mạnh lòng tin tuyệt đối vào quyền lực cứu vớt của A Di Đà, coi đó là nguyên nhân dẫn đến gạt bỏ hoàn toàn lòng tin vào bất cứ cái gì khác trên thế giới, kể cả bản thân Ông bác bỏ tổ chức tu viện truyền thống, tán thành việc môn đồ có thể lấy vợ và có cuộc sống bình thường Từ đó, việc tăng lữ được kết hôn lan dần sang các tông phái khác, và trở thành một hiện tượng khá phổ biến ở Phật giáo Nhật Bản

Tiếp sau sự ra đời của pháp môn Tịnh Độ tông của Nguyên Không khoảng

80 năm thì ở Nhật xuất hiện thêm dòng Nhật Liên tông, lấy tín ngưỡng “Pháp

hoa” làm căn bản Theo Đoàn Trung Còn trong cuốn Các tông phái đạo Phật

thì Nhật Liên (1222 – 1282) [9, tr.121] đã từng thọ giáo Chân Ngôn tông, rồi Thiên Thai tông và tin vào kinh Diệu pháp liên hoa Nhật Liên tin rằng, các tông phái khác sai lầm khi chia thành Tam Thừa mà không thấy rằng chính Nhất Thừa mới là niềm tin của Phật tổ Vì thế, ngài kịch liệt phản đối Tịnh Độ tông, Luật tông… và cho rằng chia phái là tà đạo Thái độ của Nhật Liên đã xúc phạm đến các tông phái khác, kể cả niềm tin của giới cầm quyền ở Mạc

Phủ Do vậy ông bị truy bức, bị lưu đày Ông đã để lại bộ Lập Chinh An Quốc

luận bàn về việc bảo vệ quốc gia và bộ Khai Mục sao bày tỏ thái độ phản đối

các tông khác và ủng hộ Pháp hoa Ý chí của Nhật Liên là nhằm thúc đẩy bản

Trang 34

địa hóa Phật giáo, song cũng do tinh thần đó nên sự ngăn cách giữa các tông phái Phật giáo ở Nhật Bản càng không hàn gắn được

- Thiền tông (Zen shu) có các vị tổ của tông phái ít nhiều đều học Thiền

như Đạo Chiêu, Đạo Duệ, Tối Trừng Đến đời Đường, có nhà sư Trung Hoa hiệu là Nghĩa Không đến truyền bá giáo phái này ở Nhật Bản Năm 1168 đại

sư Vĩnh Tây (Eisai) (1141- 1215) sang Trung Quốc học phái Lâm Tế (Rinzai)

và truyền vào Nhật Bản Vĩnh Tây đã viết Hưng thiền hộ quốc luận, gồm 3

quyển, phân tích nguồn gốc Thiền và chứng minh một quốc gia không thể thiếu Thiền Ông không chỉ truyền bá, mà còn thúc đẩy Thiền phát triển và thịnh vượng Ông chú ý phát triển phương pháp dưỡng sinh bằng trà và phát triển thành "Trà đạo" ở Nhật

- Tào Động tông (Soto shù) do đại sư Đạo nguyên (Dôgen) (1200- 1253)

sang Trung Quốc năm 1223 học và trở thành tổ thứ nhất Tào Động tông ở Nhật Ông giữ giới luật nghiêm túc, và theo lời giáo huấn: "không thân cận quốc vương và đại thần" [28, tr.577] Ông khác với Vĩnh Tây của phái Lâm

Tế là từ chối sự hậu đãi và không dung nạp giới quyền quý Tác phẩm của

ông có Chính pháp nhãn tạng gồm 95 quyển, Vĩnh bình quảng lục, 10 quyển,

Vĩnh bình thanh quy 2 quyển, Điếm họa giáo huấn (học đạo dụng) 1 quyển

[44, tr.577]

Như vậy, vào thời kỳ Khiếm Thương, bên cạnh Tịnh Độ tông và Nhật Liên tông, còn có thêm Thiền tông cũng phát triển rất mạnh Ngoài 10 giáo phái Phật giáo được du nhập từ Trung Quốc còn có một giáo phái Phật giáo của Nhật Bản là Nhật Liên tông Sự phát triển của Thiền tông trong giai đoạn này

đã đưa đến một sự dung hợp mới giữa Nho, Phật và tư tưởng của tầng lớp võ

sĩ đạo Trong thời kỳ Khiếm Thương, Tịnh Độ tông, Nhật Liên tông và Thiền tông là ba dòng Phật giáo mới và đặc sắc của Nhật Bản Đến thời kỳ Khiếm Thương, có thể nói đã hình thành "Phật giáo Nhật Bản" bản xứ Các vị đại sư

Trang 35

thời kỳ này bắt đầu viết các tư tưởng của mình bằng tiếng Nhật Trước tác bằng tiếng Nhật, nhưng các đại sư như Đạo Duệ, Chân Ngôn v.v… đều có thể đọc kinh Phật bằng tiếng Hán và họ đã chủ ý “giải thích sai" hoặc “giải thích chệch hướng" nghĩa gốc tiếng Hán nhằm dân tộc hóa giáo lý Phật giáo [27, tr.535-536]

- Phật giáo thời Nam-Bắc Triều (Muromachi, 1333- 1568) và Mạc Phủ (Azuchi Momoyama, 1568 - 1600)

Thời đại Nam-Bắc triều có cùng lúc hai Thiên Hoàng, hai triều đình, một ở phía Nam và một ở phía Bắc nên được gọi là Nam-Bắc triều Đây chính là thời kỳ duy nhất có sự tranh giành và chia thành hai ngôi Thiên Hoàng cùng tồn tại ở Nhật Bản Tình hình đó kéo dài mãi cho tới Nghĩa Mãn (1568- 1594) mới khôi phục chế độ Mạc Phủ và được gọi là thời kỳ Mạc Phủ Phật giáo thời kỳ này có sự phát triển mạnh mẽ của Thiền tông, Nhật Liên tông và Tịnh

Độ tông nhờ có nhiều quan lại triều đình và người trong Hoàng gia quy y mà trở nên thịnh vượng Các chi phái Thiền như Tào Động (Soto), Lâm Tế (Rinzai) cũng khởi sắc Thời đó một số cao tăng như Mộng Long (1276-1352) hiệu là Sơ Thạch và quốc sư Đại Đăng (1282-1337) hiệu là Diệu Sao đã thúc đẩy Thiền Lâm Tế phát triển và trở thành nhân vật nổi tiếng Các sư tăng này rất được triều đình trọng vọng, họ được phép ra vào cung cấm thuyết pháp và trực tiếp làm lễ thọ giới cho nhiều người thân thích của Hoàng gia Triều đình

đã phong Mộng Long tước hiệu Đại Đăng Quốc sư

Thời kỳ này, Thiên Hoàng thực hiện chế độ đội ngũ sơn Thập Sát theo

kiểu Trung Hoa Họ chọn hai chùa nổi tiếng nhất tại hai trung tâm là kinh đô

và Khiếm Thương, để hợp thành Thập Sát, và tôn làm hệ thống chùa quốc gia, trong đó chùa Nam Thiên ở kinh đô có vị trí cao nhất trong Thập Sát

Thiền Lâm Tế phổ biến ở cung đình còn dòng Thiền Tào Động lại phát triển mạnh trong giới quan viên địa phương và dân thường Pháp hệ của họ

Trang 36

đều xuất xứ từ Trung Quốc, lúc đầu truyền bá ở vùng Bắc Lục sau phát triển đến Cửu Châu và thâm nhập vào tầng lớp dưới của xã hội nên nhanh chóng phát triển rộng khắp Nhật Bản Dòng Thiền Tào Động lấy Bắc Lục làm trung tâm phát triển sau đó ở Áo Châu, Cửu Châu, còn Lâm Tế chủ yếu phát triển ở Khiếm Thương và kinh đô

Nhật Liên tông và Tịnh Độ tông hình thành từ thời Khiếm Thương và đã

có những phát triển nhất định, song Nhật Liên tông chỉ phát triển mạnh mẽ vào thời Nam Bắc Triều và Mạc Phủ Thời kỳ này đã xuất hiện nhiều chi phái của hai tông này với các vị cao tăng đắc đạo, trong đó có "Lăng môn cửu phượng" (chín con phượng dưới cửa Nhật Lăng) Dòng Nhật Liên tông phát triển và phân thành hai chi phái: Thắng luật và Nhất trí Sự khác nhau giữa hai phái là ở chỗ phái Thắng luật cho rằng, giáo nghĩa môn phái mình và môn phái xưa có chỗ cao thấp khác nhau Phái Nhất trí thì khẳng định giáo nghĩa của môn phái mình và môn phái xưa là nhất trí Trong phái Thắng Luật lại chia thành 5 phân phái nhỏ còn phái Nhất Trí chia thành 3 phân phái nhỏ Vào cuối thời Mạc Phủ nhân tài xuất hiện nhiều, nên thế lực dòng Nhật Liên tông lớn mạnh Chỉ riêng ở kinh đô đã có 21 chùa, nhưng vì thái độ phê phán gay gắt các tông phái khác nên Nhật Liên tông cũng chịu sự phản ứng lại không kém phần gay gắt Năm đầu niên hiệu Thiên Văn (1532) chùa Bản Nguyên của Nhật Liên tông bị đốt; năm năm sau (1537) toàn bộ 21 chùa của Nhật Liên tông ở kinh đô bị thiêu hủy, và sử gọi đây là thời kỳ loạn Pháp hoa đời Thiên Văn Sáu năm sau sự kiện đó (năm 1543) Nhật Liên tông khôi phục trở lại được 15 chùa và từ đó về sau đệ tử của Nhật Liên tông không còn dám công kích, phỉ báng các tông phái khác nữa

Tịnh Độ tông trong thời kỳ này cũng có sự phát triển vượt bậc và phân hóa thành nhiều hệ phái, chi phái lớn nhỏ… Nét nổi bật ở cuối thời Mạc Phủ là, giữa các tông phái Phật giáo liên tục có sự hiềm khích, các chùa thường sát

Trang 37

phạt lẫn nhau để tranh giành thế lực, bành trướng về mặt chính trị Những xung đột đó kéo dài cho đến năm thứ 11 niên hiệu Thiên Chính (1583) mới cơ bản kết thúc

Có thể nói, trong thời kỳ Nam-Bắc Triều và Mạc Phủ cả ba tông phái Thiền, Tịnh Độ, Nhật Liên đều phát triển, cả ba tông phái đều có quan hệ mật thiết với đời sống xã hội, trở thành nguồn lực tinh thần - tôn giáo và cả kinh tế của xã hội Nhật Bản Nhà chùa đã tiến hành hàng loạt hoạt động kinh tế, như

tổ chức các ngân hàng địa phương, kinh doanh dược liệu, quán trọ, phòng tắm… vì vậy thế lực kinh tế của các chùa, tu viện rất hùng hậu Ngoài ra chùa, tu viện còn trở thành các trung tâm học thuật Nhà chùa kèm luôn chức năng của nhà trường Trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, dấu ấn của Phật giáo thời kỳ này rất lớn

- Phật giáo thời kỳ Giang Hộ (Edo, 1600 - 1868)

Mặc dù trong thời kỳ Nam-Bắc Triều và Mạc Phủ, Phật giáo tiếp tục có những bước phát triển mới, nhưng do mâu thuẫn nội bộ và xung đột bạo lực giữa các tông phái gia tăng cũng như sự lạm dụng Phật giáo để tăng cường quyền lực thế tục nên vào cuối thời kỳ này Phật giáo bắt đầu sa sút Sự sa sút

đó một phần còn do sự lớn mạnh trở lại của tư tưởng Nho giáo, Thần đạo và

sự cạnh tranh của Cơ Đốc giáo (được du nhập vào Nhật năm 1549) Thêm vào

đó, do chính sách mới của giới lãnh chúa phong kiến nên Phật giáo trở nên xơ cứng, thiếu sinh động và rơi vào trạng thái trì trệ Tình hình này đã gây bất lợi cho Phật giáo, nhất là khi quốc gia bị chia cắt biệt lập bởi sự cạnh tranh giữa các tướng quân

Trong bối cảnh đó, nhiều hào kiệt khắp các vùng trong nước đã có tâm nguyện thống nhất quốc gia Nhật Bản Những người khởi xướng phong trào

là Chức Điều Tín Trường và Phong Thần Tú Cát Để thống nhất lại quốc gia

bị chia cắt, cả Chức Điều Tín Trường, Tú Cát và Đức Xuyên đều tìm cách

Trang 38

thâu tóm thế lực từ tay Phật giáo Tú Cát sử dụng chính sách tịch thu bất động sản của chùa rồi bố thí một phần trở lại, để nắm mạch máu kinh tế của nhà chùa, và lợi dụng thế lực một số chùa để kiềm chế những chùa khác Sau đó Phong Thần Tú Cát bị Mạc Phủ Đức Xuyên diệt (năm 1600) phần nào làm phong trào bị xẹp xuống Đức Xuyên thì dùng chính sách bảo hộ và can dự nhằm đưa Phật giáo dần dần phụ thuộc vào hệ thống chính quyền phong kiến Đức Xuyên đã dùng các Pháp độ để quy định các quan hệ mọi mặt của chùa,

tu viện Năm 1608, ông ban Pháp độ 7 điều, quy định tư cách các chùa, cấp bậc tăng tài, y phục và danh hiệu cho sư tăng, trong đó thừa nhận chùa nhánh

bé phải chấp hành mệnh lệnh của chùa gốc Những chính sách này đã có tác dụng tích cực, làm hạn chế xung đột giữa các chùa, và cũng góp phần đặt các chùa vào sự quản lý của Mạc Phủ Ngoài ra còn có Pháp độ năm 1615 với những quy định tước bỏ bớt quyền can thiệp của tục pháp vào các chùa

Khi Cơ Đốc giáo du nhập, Chức Điều Tín Trường lại bảo hộ cho các nhà thờ Cơ Đốc giáo để kiềm chế Phật giáo Ngược lại, Tư Cát lấy cớ Cơ Đốc giáo khinh miệt Thần đạo và Phật giáo, lại có dã tâm dòm ngó lãnh thổ nên năm 1578 đã ra lệnh cấm Cơ Đốc giáo hoạt động Đến thời Đức Xuyên, lúc đầu Cơ Đốc giáo được phép phát triển tự do, nhưng vì hành vi của một số tín

đồ trái với chuẩn mực phong kiến truyền thống nên cuối cùng đã bị cấm Năm

1637, một số tín đồ Cơ Đốc giáo gây bạo loạn và Mạc Phủ bắt đầu thi hành chính sách bế quan tỏa cảng Để tiêu diệt tận gốc Cơ Đốc giáo, Mạc Phủ dựa vào Phật giáo ban hành chế độ "Tự dân" Tự dân thực chất là bắt người dân phải đăng ký vào một ngôi chùa nào đó và phải đóng góp để nuôi sống nhà chùa Giai đoạn này tăng lữ Phật giáo có đặc quyền chứng nhận hộ tịch, hộ khẩu Vì lẽ ấy, mặc dù nhà chùa có cuộc sống ổn định nhưng sự phát triển cũng bắt đầu trở nên xơ cứng

Trang 39

Trong thời kỳ này, ngoài hai phái Thiền tông đã có từ thời Nam Bắc triều, Tào Động và Lâm Tế, còn xuất hiện thêm phái Thiền thứ ba do Ẩn Nguyên (Ingen), một cao tăng Trung Hoa thuộc dòng Lâm Tế truyền vào năm 1653

Ẩn Nguyên chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Thiền Tịnh hợp nhất Đây là chỗ khác biệt với dòng Lâm Tế truyền thống Năm 1658 ông được tướng quân Gia Cương ban cho đất của Sơn Thành Trị Vũ để xây chùa Năm 1661 chùa xây xong lấy tên là Vạn phúc tại núi Hoàng Bá nên dòng Thiền này thường được gọi là Hoàng Bá

Từ năm 1600, Gia Khang Đức Xuyên lập Mạc Phủ Giang Hộ và đã từng ban phát những khoản tiền dưới danh nghĩa khuyến học cho các chùa Từ đó các chùa thi nhau lập ra các hình thức giáo dục trong chùa gọi là Đàn Lâm, Học Hiệu, Học Lâm… Nhờ việc khuyến học nên trong các giáo phái cũng xuất hiện nhiều học giả có uy tín, việc nghiên cứu kinh điển, giáo lý Phật giáo

có những tiến triển, song ở thời kỳ này, do tư tưởng bị các Mạc Phủ khống chế nên tính chất giáo điều của Phật giáo gia tăng, thâm chí một số người gọi Phật giáo thời này là “Phật giáo đọc kinh”

Cuối thời kỳ Giang Hộ, tình trạng đói kém lại thêm những hiểm họa từ quan hệ với các nước phương Tây như Nga, Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,

Hà Lan… lại thêm áp lực ngày càng tăng của giới Nho học trong nước, chính quyền Tướng quân Takagawa đã không kiềm chế được các mâu thuẫn xã hội Hậu quả là năm 1836 đã xảy ra cuộc bạo động lớn với sự tham gia của hàng vạn người Trước tình hình ấy, trong xã hội xuất hiện chủ nghĩa "Tôn vương nhương di" Dưới áp lực của tư tưởng này, chính quyền quân sự Takagawa phải đem chính quyền trả lại cho Thiên Hoàng, và từ năm 1843, năm thứ 14 niên hiệu Thiên Bảo (Thủy Hộ), bắt đầu xuất hiện chủ trương phế Phật Từ đây xu hướng bãi Phật lan nhanh, truyền thống Thần - Phật hợp nhất dần dần

Trang 40

bị mai một, nhường chỗ cho sự khôi phục vị thế quốc đạo của Thần đạo vào thời kỳ Minh Trị

- Phật giáo từ thời Minh Trị (Meiji, 1868 -1912 )

Thời kỳ Minh Trị (1868- 1912) là kỷ nguyên của những thay đổi lớn ở Nhật Động cơ của những thay đổi là do nhu cầu bảo vệ đất nước, ổn định chính trị khi nước Nhật buộc phải đương đầu với các thế lực Âu - Mỹ và châu

Á - Thái Bình Dương Các nhà lãnh đạo Minh Trị tin tưởng rằng, chỉ có khả năng quân sự mạnh mới bảo vệ được đất nước, do vậy đòi hỏi một nền tảng công nghiệp mạnh và kinh tế vững chắc với khẩu hiệu là "Nước giàu - Quân mạnh" Nhờ những cải cách về chính trị, mà nền tảng là Hiến pháp năm 1885, Minh Trị Thiên Hoàng đã thâu tóm được những quyền lực to lớn và trở thành biểu tượng thiêng liêng của dân tộc Để củng cố thế lực, quyền hạn, chính quyền Minh Trị đã dựa vào tinh thần Thần đạo để thiết lập một cơ cấu chính trị ổn định lấy Thiên Hoàng làm tối thượng

Trong những năm đầu thời kỳ Minh Trị, các tổ chức tôn giáo có sức mạnh đáng kể trong chính phủ Tuy vậy đối với phái thế tục, ưu thế của tôn giáo trong chính phủ chỉ mang tính hình thức, chứ không phải thực chất trong Hiến pháp 1889 Tuy kiểu tổ chức tôn giáo không có vị trí chính thức như vậy trong chính quyền nhưng đối với Thiên Hoàng, uy thế tôn giáo đó vẫn là một thứ vũ khí đầy quyền lực Những nghi thức cổ xưa liên quan tới Thiên Hoàng

đã được chính thức hóa trong Thần đạo Những sắc chỉ và những chỉ dụ của Thiên Hoàng do đó vẫn có ý nghĩa thiêng liêng [3, tr.95]

Trong bối cảnh như vậy, Phật giáo lâm vào một giai đoạn cực kỳ khó khăn Đầu tiên, vào năm 1867, triều đình tuyên bố “vương chính phục cổ”, sau đó đến tháng 3 năm 1868, tuyên bố “Thần-Phật phân ly” Ngoài ra còn quy định y phục, cách ăn uống của tăng ni cũng phải trở về như người phàm tục, các tên hiệu thần linh theo Phật ngữ cũng bị đổi lại, tăng ni bị cưỡng ép

Ngày đăng: 20/03/2015, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Eiichi Aoki (chủ biên, 2006), Nhật Bản đất nước và con người, người dịch: Tiến sĩ Nguyễn Kiên Trường, Nxb Văn học và công ty văn hóa Minh Trí - Nhà sách Văn Lang, TP. Hồ Chí MinhAoki Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản đất nước và con người
Tác giả: Eiichi Aoki
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
2. Roberto Assgioli (1997), Sự phát triển siêu cá nhân, Nxb khoa học xã hội Hà Nội.Assgioli Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Sự phát triển siêu cá nhân
Tác giả: Roberto Assgioli
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội Hà Nội. Assgioli
Năm: 1997
3. Bách Khoa thư Nhật Bản (1995), Nxb Văn hóa, Hà Nội. Bách 4. Ban thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2002),“Giáo hội Phật giáo Việt Nam 20 năm thành lập và phát triển”, Nghiên Cứu Tôn giáo, số 1/2002, tr. 21- 32.Ban th Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo hội Phật giáo Việt Nam 20 năm thành lập và phát triển
Tác giả: Ban thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: Nghiên Cứu Tôn giáo
Năm: 2002
5. Ban tư tưởng văn hóa trung ương (2000), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.Ban tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa trung ương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
6. Lã Đại Cát (1998), “Tôn giáo là gì”, người dịch: Trần Nghĩa Phương, Tôn giáo thế giới, số 2/1998, tr.1- 20.Cát Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tôn giáo là gì”," người dịch: Trần Nghĩa Phương, "Tôn giáo thế giới
Tác giả: Lã Đại Cát
Năm: 1998
7. Garma C. C. Chang (2006), Triết học Phật giáo Hoa Nghiêm Tông, người dịch: Thanh Lương Thích Thiện Sáng, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.Chang Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Triết học Phật giáo Hoa Nghiêm Tông
Tác giả: Garma C. C. Chang
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2006
8. Chen Choumei, “Phân tích việc sửa đổi Luật pháp nhân tôn giáo”, trong Tôn giáo và đời sống hiện đại- tập III, Chủ biên: Võ Kim Quyên, Viện thông tin khoa học, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Hà Nội, 1998Choumei Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích việc sửa đổi "Luật pháp nhân tôn giáo”, "trong "Tôn giáo và đời sống hiện đại- tập III, Chủ biên
9. Đoàn Trung Còn (1995), Các tông phái đạo Phật, Nxb Thuận Hóa. Còn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tông phái đạo Phật
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1995
10. Edward Conze (1951), Tinh hoa và sự phát triển của đạo Phật, người dịch: Chân Pháp Nguyễn Hữu Hiệu, Nxb Ban tu thư viện đại học Vạn Hạnh (Sài gòn).Conze Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa và sự phát triển của đạo Phật
Tác giả: Edward Conze
Nhà XB: Nxb Ban tu thư viện đại học Vạn Hạnh (Sài gòn). Conze
Năm: 1951
11. David E. Coper (2005), Các trường phái triết học trên thế giới, người dịch: Lưu Văn Hy và nhóm Trí Tri, Nxb Văn hoá thông tin.Coper Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trường phái triết học trên thế giới
Tác giả: David E. Coper
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin. Coper
Năm: 2005
12. Daisaku-keda (1996), Phật giáo một ngàn năm đầu, Hà Nội. Daisaku- keda 13. Nguyễn Đăng Dung (1999), Phật giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Giáodục, Hà Nội.Đỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1999
14. Cao Huy Đỉnh (2004), “Tâm lý học Phật giáo”, Nghiên Cứu Phật học, tr.8-10.Dung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Phật giáo
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nghiên Cứu Phật học
Năm: 2004
15. Mai Thanh Hải (1998), Tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.Hải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo thế giới và Việt Nam
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1998
16. Hasebe Heikichi (1997), Văn hóa Nhật Bản - đặc điểm chung và sự tiếp nhận ở góc độ cá nhân, luận án Tiến sĩ văn học, Hà Nội.Heikichi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Nhật Bản - đặc điểm chung và sự tiếp nhận ở góc độ cá nhân
Tác giả: Hasebe Heikichi
Năm: 1997
17. Thích Nguyên Hiền, Các loại hình nghệ thuật trong nền văn hóa Phật giáo, viet/vh/012, ngày 21.6.2006. (http://daophatngaynay.com, http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/van-hoa-giac-duc/63-van-hoa-va-giao-duc/510-cac-loi-hinh-ngh-thut-trong-nn-vn-hoa-pht-giao.html)Hiền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại hình nghệ thuật trong nền văn hóa Phật giáo
Tác giả: Thích Nguyên Hiền
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w