- Một số công trình và bài báo đề cập tới các biện pháp, cơ chế chính sách nhằm phát huy vai trò của nông dân trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐINH THỊ MAI HƯƠNG
PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN HUYỆN TÂN SƠN - PHÖ THỌ THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐINH THỊ MAI HƯƠNG
PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN HUYỆN TÂN SƠN - PHÖ THỌ THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 VẤN ĐỀ NÔNG DÂN VÀ PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA
NÔNG DÂN TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA 6
1.1 Giai cấp nông dân và vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng và
phát triển đất nước 6 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nông dân 6 1.1.2 Vai trò của nông dân đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội 14 1.2 Vấn đề phát huy vai trò của nông dân trong quá trình công nghiê ̣p hóa ,
hiê ̣n đa ̣i hóa ở nước ta hiện nay 19 1.2.1 Công nghiệp hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa và vấn đề phát huy vai trò của nông
dân nói chung 19 1.2.2 Những yêu cầu đặt ra đối với việc phát huy vai trò của nông dân trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta 26
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN
HUYỆN TÂN SƠN - PHÖ THỌ THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 34
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và đặc điểm của
nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ 34 2.1.1 Khái quát tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội huyện Tân Sơn - Phú
Thọ 34 2.1.2 Đặc điểm của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ 39 2.2 Thực trạng phát huy vai trò của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ
những năm qua 44 2.2.1 Những thành tựu 44 2.2.2 Những hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra 60
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÕ
CỦA NÔNG DÂN HUYỆN TÂN SƠN - PHÖ THỌ THỜI KỲ
Trang 4ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN
NAY 67
3.1 Một số phương hướng cơ bản 67
3.1.1 Phát huy vai trò của nông dân gắn với nâng cao nhận thức về mọi mặt của nông dân 67
3.1.2 Phát huy vai trò của nông dân gắn với quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại 70
3.2 Một số giải pháp chủ yếu 73
3.2.1 Giải pháp về giáo dục đào tạo 73
3.2.2 Giải pháp về giải quyết việc làm cho nông dân 77
3.2.3 Giải pháp về xóa đói giảm nghèo 81
3.2.4 Giải pháp về xây dựng nông thôn mới theo hướng đô thị hóa 85
3.2.5 Giải pháp về nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị 89
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 101
Trang 5BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH: Ban Chấp hành CNH: Công nghiệp hoá CNXH: Chủ nghĩa xã hội CN: Công nghiệp DV: Dịch vụ GTSX: Giá trị sản xuất HĐH: Hiện đại hoá NN: Nông nghiệp Nxb: Nhà xuất bản S: Diện tích QPAN: Quốc phòng an ninh TƯ: Trung ương
TTCN: Tiểu thủ công nghiệp TM: Thương mại
TN: Tự nhiên USD: Đô la Mỹ XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, giai cấp nông dân luôn là lực lượng hùng hậu, chiếm đa số trong dân cư Chính lực lượng to lớn này đã tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, làm cơ sở, nền tảng của sự
ổn định kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước Ý thức được tầm quan trọng
đó, ngay từ khi vừa ra đời, lãnh trách nhiệm gánh vác vai trò lịch sử: lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: công - nông là gốc của cách mạng Từ đó đề ra đường lối chiến lược xuyên suốt là: nông thôn
là địa bàn chiến lược, nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, nông dân là đội quân chủ lực của cách mạng, là người bạn đồng minh tự nhiên của giai cấp công nhân Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề nông dân, phát huy vai trò của người nông dân trong quá trình cách mạng Việt Nam và đã
có những chủ trương, chính sách đúng đắn để đẩy mạnh sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn nhằm phát huy hơn nữa vai trò của người nông dân
Có thể nói, trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, Đảng ta đã thành công rất lớn trong việc phát huy vai trò đội quân chủ lực cách mạng của giai cấp nông dân Dù bất kỳ thời đại nào của cách mạng, giai cấp nông dân luôn phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng vẻ vang, cống hiến to lớn và quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, công cuộc đổi mới từ 1986 đến nay do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo bước đầu đã đạt được những thành tựu quan trọng, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Trong quá trình đó, có công góp sức to lớn của giai cấp nông dân Vì vậy, phát huy vai trò của người nông dân là yêu cầu cần thiết của cấp Trung ương và cơ sở Xuất phát từ chỗ nhận thấy được vai trò và tầm quan trọng của người nông
Trang 7dân, hơn nữa muốn tìm hiểu sâu sắc về con người, về đời sống của người nông dân huyện mình trong thời kỳ đổi mới nên bản thân tôi đã lựa chọn đề
tài: “Phát huy vai trò của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” để làm luận văn tốt nghiệp Đồng thời
qua đó tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc đánh giá
vị trí, vai trò của nông dân, đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người nông dân huyện mình
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề nông dân và phát huy vai trò của nông dân có ý nghĩa chiến lược đảm bảo sự thành công của cách mạng xã hội chủ nghĩa Ở nước ta mục tiêu cụ thể trước mắt là tiến hành thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Do tầm quan trọng của nó đã có nhiều công trình nghiên cứu và giới thiệu về vấn đề này Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu dưới một góc độ khác nhau
- Đi vào nghiên cứu các tác phẩm của chủ nghĩa Mác-Lênin đã có một
số công trình tìm hiểu về nông dân và vấn đề ruộng đất như: “Vấn đề nông dân: trích dịch tác phẩm của Mác - Ăngghen, Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông” (1955) của Nxb Sự thật; “Chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề ruộng đất nông dân” (1981) của X.P Tơ-ra-pe-dơ-ni-cốp
- Những năm gần đây ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu đề cập tới đóng góp, vai trò của nông dân trong các thời kỳ cách mạng như:
“Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại” (2 tập) (1990) của Viện khoa học xã hội Việt Nam; “Nông nghiệp nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển” (2006) của Đặng Kim Sơn
- Một số công trình và bài báo đề cập tới các biện pháp, cơ chế chính sách nhằm phát huy vai trò của nông dân trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn như: “Công tác vận động nông dân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (1999) của Hội Nông
Trang 8dân Việt Nam; “Một số vấn đề về công tác vận động nông dân ở nước ta hiện nay” (2000) của Ban dân vận Trung ương
- Một số công trình lại đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm, tâm lý, ý thức,
xu hướng biến đổi của giai cấp nông dân như: “Tâm lý nông dân đồng bằng Bắc bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hiện nay” (1999) của Lê Hữu Xanh Luận án tiến sĩ triết học “Đặc điểm và xu hướng biến đổi của giai cấp nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay” (2000) của Bùi Thị Thanh Hương
Ngoài ra còn có nhiều tác phẩm, bài viết giới thiệu kinh nghiệm phát huy vai trò của nông dân, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững Các công trình nghiên cứu dù đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau, góp phần làm sáng tỏ thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của nông dân, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về vai trò của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ Những tài liệu, sách báo viết về vai trò nông dân huyện Tân Sơn cũng rất ít, có chăng cũng chỉ là những bài báo, những báo cáo của Đảng uỷ huyện, của Hội nông dân huyện Tân Sơn Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công bố, lựa chọn những tư liệu quý giá trên để giúp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu đầy đủ về vị trí, vai trò của nông dân huyện Tân Sơn
3 Mục đích, đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò, đóng
góp của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của nông dân trong sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội ở địa phương trong giai đoạn hiện nay
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò, hoạt
động của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tân Sơn
Trang 9* Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt được mục đích trên luận văn cần phải
thực hiện những nhiệm vụ sau:
Một là, nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận có liên quan đến
vấn đề nông dân và phát huy vai trò của nông dân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay
Hai là, trên cơ sở các số liệu đã được khảo sát phân tích một cách hệ
thống thực trạng vấn đề nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay: những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra
Ba là, từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm phát huy
một cách có hiệu quả vai trò của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
* Giới hạn nghiên cứu: Luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu thực
trạng từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả vai trò của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu: Về thời gian, luận văn tập trung nghiên cứu vai
trò của nông dân từ khi đổi mới đến nay, nhưng số liệu chủ yếu dùng để phân tích, đánh giá tập trung vào những năm gần đây Về không gian, luận văn nghiên cứu ở cấp độ toàn huyện Tân Sơn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Về cơ sở lý luận, đề tài dựa trên những quan điểm, lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu những vấn đề lý luận và luận giải những vấn đề thực tiễn có liên quan của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được vận dụng trong luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp, logíc và lịch sử
Trang 10Trong quá trình nghiên cứu luận văn còn sử dụng một số phương pháp như khái quát hoá, so sánh, thống kê để làm rõ những luận điểm của đề tài
6 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Luận văn chỉ ra một cách hệ thống những đặc điểm cơ bản, vai trò của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện, góp phần chứng minh và khẳng định sự đúng đắn của chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá trong việc phát triển kinh tế - xã hội mà chủ thể trên lĩnh vực nông nghiệp là nông dân Qua đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của giai cấp nông dân trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1: Vấn đề nông dân và phát huy vai trò của nông dân trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Chương 2: Thực trạng phát huy vai trò của nông dân huyện Tân Sơn -
Phú Thọ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của nông dân
huyện Tân Sơn - Phú Thọ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
Trang 11Chương 1 VẤN ĐỀ NÔNG DÂN VÀ PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA
1.1 Giai cấp nông dân và vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nông dân
1.1.1.1 Khái niệm nông dân
Có nhiều quan niệm khác nhau về nông dân, theo Đại từ điển tiếng Việt, nông dân là “người sống bằng nghề làm ruộng” [65, tr.1283] Hay một quan niệm khác “Nông dân - một giai cấp chuyên sản xuất những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở tư hữu tư nhân hoặc sở hữu hợp tác xã về tư liệu sản xuất hoặc tham gia sản xuất bằng lao động của chính mình ” [62, tr.227]
“Nông dân được coi là những trang chủ gia đình, những người sản xuất lương thực cho bản thân và cho các nhóm xã hội khác có địa vị cao hơn” [34, tr.30].Một vài định nghĩa như vậy để thấy rằng, nói đến nông dân là nói đến một bộ phận dân cư lao động, gắn liền với sản xuất nông nghiệp, có cuộc sống và thu nhập từ lao động nông nghiệp Tuy nhiên, do quá trình phát triển của các lĩnh vực kinh tế, sự đa dạng của các ngành nghề lao động sản xuất dẫn tới sự xáo trộn dân cư mà trong thực tế ở Việt Nam hiện nay có nhiều người lao động sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp, cũng sống ở nông thôn nhưng họ không phải là nông dân như giáo viên, bác sĩ… Hoặc do chính sách phát triển kinh tế trang trại hiện nay, có một số dân cư đô thị, cán bộ công chức mua đất lập trang trại, tổ chức sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp nhưng
họ không phải là nông dân thuần túy [58, tr.12]
Khái niệm nông dân đã được C.Mác và Ph Ăngghen làm rõ qua nhiều tác phẩm của mình:
Trang 12- Về kinh tế: “Mỗi gia đình nông dân gần như tự túc hoàn toàn, sản xuất ra đại bộ phận những cái mình tiêu dùng và do đó kiếm được tư liệu sinh hoạt cho mình bằng cách trao đổi với tự nhiên nhiều hơn là giao tiếp với xã hội [44, tr.264]” Nghĩa là nông dân là những người trực tiếp sử dụng các tư liệu sản xuất tự nhiên để sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp Họ tự sản xuất ra những thứ mình cần, tự cung, tự cấp những cái mà họ cần Nền sản xuất hoàn toàn mang tính tự nhiên
- Về mặt chính trị - xã hội: Do điều kiện kinh tế như vậy nên nông dân vừa là một giai cấp vừa không phải là một giai cấp Họ là một giai cấp bởi vì
họ có điều kiện sinh hoạt giống nhau, trình độ chính trị - tư tưởng giống nhau,
mà điều này khác với giai cấp khác Tuy nhiên họ không là giai cấp, khi xét trong mối quan hệ họ chỉ có mối liên hệ địa phương chứ không có mối liên hệ toàn quốc và rộng hơn nữa họ chỉ có mối liên hệ làng xã, mối quan hệ họ hàng Mối quan hệ của họ chỉ bó hẹp trong làng xã của mình mà thôi Trình
độ văn hoá của nông dân thấp kém, tư tưởng bảo thủ và họ không có hệ tư tưởng riêng Vì vậy, họ không có khả năng tổ chức ra những tổ chức chính trị của mình, không có khả năng đại biểu cho lợi ích của chính họ mà cần phải có người khác đại biểu cho họ, đại biểu cho lợi ích của họ Người đại biểu của họ đồng thời cũng là người chủ của họ, lực lượng xã hội này được coi như là quyền uy tối cao của xã hội (điều này thể hiện thông qua Nhà nước) [44, tr.265]
Qua đây có thể thấy, nông dân là một bộ phận dân cư đông đảo, sống tập trung ở nông thôn, lao động sản xuất vật chất trong ngành nông nghiệp, trực tiếp sử dụng các tư liệu sản xuất tự nhiên để sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp
Các văn kiện của Đảng ta tuy không nói đến khái niệm nông dân nhưng qua các quan điểm về nông dân gắn với nông nghiệp, nông thôn có thể khái quát quan điểm của Đảng về nông dân như sau: “Nông dân là khái niệm chỉ
Trang 13về thân phận hay nghề nghiệp của một nhóm dân cư trong xã hội, phân biệt với công nhân, trí thức Nông dân theo khái niệm này thường có hai tiêu chí phân biệt: một là, nghề nghiệp chính là trồng trọt và chăn nuôi; hai là, sinh sống ở nông thôn (phân biệt với thành thị)” [5, tr.112]
Gần đây có một số công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm nông dân một cách phù hợp hơn, như: “Nông dân được coi là những người nuôi mình với tư cách là người lao động, trồng trọt trên đất đai và sống trong những làng mạc nhỏ bé” [1, tr.7] Hoặc “Nông dân ở nước ta hiện nay là những người sống lâu đời ở thôn (làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng) làm nguồn sống chính dưới hình thức hộ gia đình” [2, tr.8]
Tóm lại, theo tác giả luận văn, nông dân ở nước ta hiểu theo nghĩa hẹp
là những người lao động sống bằng nghề làm ruộng, sống ở nông thôn, thu nhập chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi, sản phẩm của họ là lương thực, thực phẩm và tư liệu sản xuất chủ yếu của họ là ruộng đất Theo nghĩa rộng, giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động sản xuất nhỏ trong nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp), nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp, nguồn sống chủ yếu dựa vào thu nhập từ các sản phẩm nông nghiệp, trực tiếp canh tác để tạo ra nông sản bằng việc sử dụng tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù gắn bó với thiên nhiên là đất, rừng, biển để sản xuất ra sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp
1.1.1.2 Đặc điểm của nông dân
Giai cấp nông dân là một giai cấp xã hội đặc biệt hình thành trong quá trình tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ Sự tồn tại của giai cấp nông dân gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích những đặc điểm quan trọng của giai cấp nông dân và khẳng định giai cấp công nhân muốn thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình thì tất yếu phải liên minh chặt chẽ với nông dân Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng nông dân có những đặc điểm cơ bản sau:
Trang 14Thứ nhất, nông dân là những người sản xuất nhỏ, phân tán manh mún, không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến nào Vì vậy giữa họ không có một sự đoàn kết chặt chẽ
Nông dân là những người sản xuất nhỏ, họ là người chủ sở hữu tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún như đất đai, nông cụ và do đó không thể có được nền kinh tế độc lập Người nông dân “chỉ sống với những lợi ích riêng nhỏ nhặt của họ, vì cái khung cửi, vì mảnh vườn cỏn con của họ và không biết gì đến phong trào mạnh mẽ đang lay động loài người ở bên ngoài xóm làng của họ” [42, tr.488] Tuy nhiên, chính phương thức sản xuất manh mún đã trói buộc tư duy của người nông dân trong giới hạn chật hẹp, phường hội, tạo nên tâm lý, cách sống bảo thủ, cục bộ, phân tán biệt lập C.Mác viết: “một mảnh đất cỏn con của người nông dân và gia đình anh ta, cạnh đó là một mảnh đất cỏn con khác của một người nông dân khác và một gia đình khác, một nhúm những đơn
Như vậy, những người nông dân này sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, từng người sản xuất nhỏ trên những mảnh đất nhỏ bé của mình Nền sản xuất của họ vẫn là sản xuất tự nhiên, tự cung, tự cấp, tự túc, họ sản xuất phân tán, giữa họ không có mối liên hệ nào ràng buộc ngoài mối liên hệ địa phương
Vì vậy, họ sống tản mạn, manh mún, phân tán và giữa họ không có sự đoàn kết chặt chẽ nào cả, họ chỉ có mối liên hệ làng xã, bó hẹp trong làng xã
Trang 15Thứ hai, nông dân có bản chất hai mặt, một mặt họ là những người lao động - đây là mặt cơ bản, mặt tích cực, mặt khác họ cũng là những người tư hữu - đây là mặt hạn chế, tiêu cực
Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức” khi phân tích vị trí của tiểu nông, Ăngghen đã đi sâu vào phân tích bản chất hai mặt của tiểu nông Mặt lao động của tiểu nông, với tư cách là người lao động thì tiểu nông
bị bóc lột nặng nề, họ cũng có nhu cầu được giải phóng, do đó mà họ sẵn sàng ngả theo công nhân để xoá bỏ chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa Song mặt khác, người nông dân là người tư hữu nhỏ Vì vậy, người nông dân sợ chuyển giao ruộng đất vào tay toàn thể xã hội, do đó họ không có tính cách mạng mà thường có thái độ lừng chừng Khi đã được giải phóng họ thường thoả mãn với những cái đã có, họ không muốn đi lên chủ nghĩa xã hội Đây là mặt hạn chế của nông dân
C.Mác cũng đã chỉ ra nông dân vừa là người tư hữu vừa là người lao động bị áp bức, bóc lột nặng nề Trong xã hội phong kiến, họ phải chịu các khoản lao dịch, địa tô, thuế thân, tiền bảo hộ và mọi khoản thuế khác đều đè nặng lên vai người nông dân Trong xã hội tư bản chủ nghĩa giai cấp nông dân thậm chí còn chịu bóc lột nặng nề hơn C.Mác viết: “bọn cho vay nặng lãi ở thành thị đã thế chân bọn phong kiến… chế độ tư sản đã lại trở thành con quỷ hút máu và não của mảnh đất con đó và đem trút máu và não ấy vào các bình
cổ cong luyện vàng của tư bản” [45, tr.250]
Lênin cũng đã phân tích một cách khoa học đặc điểm nổi bật nhất, cơ bản nhất của nông dân Mặc dù khác nhau về trình độ, địa vị kinh tế và lợi ích nhưng cũng có một điểm chung giữa các tầng lớp thuộc nông dân, đó là họ đều sinh sống bằng cách làm thuê cho giai cấp bóc lột ở nông thôn hoặc là họ tồn tại bằng chính lao động của bản thân mình trên những điều kiện sẵn có của mình về tư liệu sản xuất chứ không tham gia sống bằng việc bóc lột sức lao động của người khác Lao động đó có thể đủ đáp ứng nuôi sống gia đình
Trang 16và nhu cầu sản xuất của họ, thậm chí với trung nông thì lao động đó có thể tạo
ra sản phẩm dư thừa để họ có thể tích luỹ “Giai cấp đó một mặt là những người tư hữu, mặt khác lại là người lao động Nó không bóc lột những người lao động khác” [39, tr.237]
V.I.Lênin còn chỉ rõ mặt tư hữu của người nông dân không đồng nhất với bản chất tư hữu của các giai cấp bóc lột Bởi vì giai cấp nông dân không dùng tư hữu tư liệu sản xuất của mình để bóc lột lao động làm thuê Cũng cần thấy rằng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý và định hướng của Nhà nước, mặt tư hữu của người nông dân vẫn đang là một trong những động lực góp phần bảo đảm sản xuất nông nghiệp, bảo đảm đời sống của nông dân, góp phần ổn định và từng bước phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Thứ ba, nông dân là giai cấp không có hệ tư tưởng độc lập, tư tưởng của nông dân phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội đương thời
Nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, tiên tiến, do đó luôn ngả nghiêng, dao động Tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội đương thời Chịu sự tác động rất lớn của những điều kiện kinh
tế - xã hội, hơn ai hết, nông dân có tư tưởng hết sức dao động, ngả nghiêng, mập mờ và đầy thực tế Họ chỉ sẵn sàng tin và đi theo giai cấp nào mang lại lợi ích cho họ nhưng lợi ích mà họ nhìn thấy là lợi ích trước mắt họ nhìn thấy thông qua đầu óc thực tế
Mác - Ăngghen cũng lưu ý, chính nền sản xuất nhỏ và tư tưởng tư hữu
đã hạn chế nhiều đến ý thức và kết quả đấu tranh của giai cấp nông dân Sự dao động ngả nghiêng ảnh hưởng không ít tới vai trò chính trị của họ nhưng ở
họ vẫn chứa đựng một khả năng cách mạng to lớn Bởi vậy họ cần có một giai cấp tiến bộ hơn lãnh đạo
Nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, sự dao động, sự tính toán mang đầy tính thực tế có thể được xem là một đặc điểm quan trọng của nông
Trang 17dân trong bất kỳ giai đoạn nào Người nông dân không thể rời xã hội cũ để đi vào xã hội mới một cách hoàn toàn giản đơn, dễ dàng, ngay tức khắc được Nông dân biết rằng xã hội cũ bảo đảm “trật tự” cho anh ta bằng cách làm cho những người lao động phá sản, biến họ thành nô lệ Nông dân không biết giai cấp vô sản có thể đem lại trật tự cho anh ta được không Lênin viết: “đối với người nông dân khốn cùng, dốt nát, tản mạn, ta không thể yêu cầu cao hơn được nông dân sẽ không tin bất cứ một lời nói nào, bất cứ một cương lĩnh nào Và anh ta có lý khi anh ta không tin vào lời nói, vì nếu không thì không
có cách nào khỏi bị lừa bịp Nông dân chỉ tin vào hành động, kinh nghiệm thực tiễn” [39, tr.443]
Theo Lênin, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, khi chưa được giác ngộ thì lập trường tư tưởng của nông dân ngả nghiêng, dễ dao động Nhưng tính không kiên định của nông dân và tính không kiên định của giai cấp tư sản thì căn bản khác nhau vì hiện tại nông dân ít quan tâm đến việc tuyệt đối duy trì chế độ tư hữu hơn là đến việc tước đoạt ruộng đất địa chủ, một trong những hình thức chính của chế độ tư hữu ấy Nông dân bị ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng phong kiến, bản thân họ mang nặng tâm lý của người sản xuất nhỏ, mang nặng những nếp nghĩ của người sản xuất nhỏ với những lề thói gia trưởng, cục bộ, tuỳ tiện, bảo thủ Phải trải qua quá trình giác ngộ và đấu tranh cách mạng lâu dài, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản nông dân mới từng bước khắc phục được những mặt hạn chế đó Người nông dân tuy thiếu một nền tảng tư duy lý luận nhưng họ lại thừa hưởng lối tư duy kinh nghiệm do nền sản xuất nhỏ tạo ra với lối tư duy kinh nghiệm và đầu óc thực
tế Vì thế, trong quá trình tham gia cách mạng nông dân luôn suy nghĩ thiệt hơn và tính tích cực được thông qua lợi ích hàng ngày của họ
Thứ tư, nông dân là một giai cấp có cơ cấu không thuần nhất với nhiều thành phần khác nhau (tiểu nông, trung nông, phú nông) khác nhau về tài sản, lợi ích và do đó có vai trò khác nhau
Trang 18Sự khác biệt đó chủ yếu là do trình độ, địa vị kinh tế, do đó về lợi ích kinh tế có sự khác nhau Họ vốn có sơ cấu không thuần nhất, không có sự liên kết chặt chẽ cả về kinh tế, cả về tư tưởng và tổ chức Sự phân tầng đó thể hiện rất rõ ở xã hội phong kiến và xã hội tư bản chủ nghĩa Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo đã và sẽ từng bước khắc phục sự phân tầng ấy Trong một nước nông nghiệp thì họ là lực lượng chính trị - xã hội đông đảo nhất và khi được giác ngộ họ trở thành lực lượng cách mạng to lớn nhất trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Ở nhiều nước nông dân vẫn còn chiếm số đông trong dân cư và vẫn là lực lượng đông đảo nhất của xã hội Người nông dân bên cạnh tính chất tư hữu nhỏ thì họ trước hết là người lao động cùng với giai cấp công nhân tạo ra những sản phẩm cần thiết để đảm bảo sự tồn tại của một chế độ xã hội Với tư cách là một người lao động họ rất gần giai cấp công nhân, dễ đi với giai cấp công nhân trong sự nghiệp đấu tranh vì lợi ích của chính mình
V.I.Lênin đã phân tích cơ cấu không thuần nhất của nông dân Nga trong điều kiện phát triển của chủ nghĩa tư bản Nga đầu thế kỷ XX và chỉ rõ,
xã hội nông thôn nước Nga có nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau cùng tồn tại, trong đó có những kẻ chuyên bóc lột bên cạnh những người lao động và bị bóc lột Những kẻ bóc lột bao gồm đại nông, địa chủ, chúa đất, cu lắc và tư bản Những người lao động và bị bóc lột bao gồm: giai cấp vô sản nông nghiệp, những người nửa vô sản hay những nông dân có ít ruộng, tầng lớp tiểu nông và trung nông Những tầng lớp lao động ấy ở nông thôn được Lênin gọi là lực lượng đứng giữa tư sản và vô sản Ở nước Nga cũng như trong tất
cả các nước tư bản thì các tầng lớp này, đặc biệt là giai cấp vô sản nông nghiệp, nửa vô sản và tiểu nông gộp lại với nhau cấu thành đại đa số dân cư nông thôn và đó là những tầng lớp khác nhau của nông dân
Như vậy, theo Lênin thì nông dân là giai cấp được hình thành từ rất lâu trong lịch sử Họ là những người sinh sống và lao động ở nông thôn gắn với
Trang 19các tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, phân tán mà mình sở hữu Trong các xã hội có áp bức bóc lột, giai cấp nông dân bị chèn ép do vậy con đường giải phóngcủa nông dân là chỉ có thể đi theo giai cấp vô sản tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
1.1.2 Vai trò của nông dân đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Từ thời xa xưa các triều đại phong kiến đã nhìn thấy vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân Họ là những người đầu tiên khai phá đất đai, mở mang bờ cõi, lập nên non sông nước Việt Nam hôm nay Mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước đều gắn với vai trò to lớn của nông dân:
- Vai trò của nông dân trong cách mạng Xã hội chủ nghĩa:
Nông dân nước ta là giai cấp cơ bản trong một nước nông nghiệp Trong lịch sử, nông dân Việt Nam đã từng theo đội quân chủ lực chống đế quốc và phong kiến Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp nông dân từng bước được giải phóng khỏi chế độ áp bức, bóc lột phong kiến, thực dân, tư sản, trở thành người làm chủ xã hội, đã đóng góp to lớn vào sự thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa
Đánh giá vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 3 Đảng ta đã khẳng định: “Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về thực chất là cuộc cách mạng của nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo” [17, tr.13] Có thể nói, thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là thắng lợi của giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Bên cạnh đó, nông dân còn là lực lượng quan trọng bảo vệ Đảng, bảo
vệ chính quyền cách mạng Sự năng động, sáng tạo của nông dân ở nhiều nơi
đã góp phần hình thành đường lối đổi mới của Đảng, làm thay đổi tư duy quản lý kinh tế - xã hội ở nước ta Nông dân còn tích cực tham gia đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, làm cho đội ngũ cán bộ, Đảng viên của Đảng
Trang 20ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn Nông dân cũng đã góp ý kiến thay đổi phong cách lãnh đạo, quản lý của tổ chức Đảng, chính quyền, tham gia lựa chọn, giới thiệu cho Đảng, chính quyền những đại biểu ưu tú đưa vào cương
vị lãnh đạo Thông qua các phong trào nông dân mà hàng vạn cán bộ, Đảng viên của Đảng được rèn luyện và trưởng thành không ít người xuất thân từ nông dân nhưng đã giữ cương vị chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Trong đội ngũ đảng viên của Đảng hiện nay, tuyệt đại đa số đảng viên cũng xuất thân từ nông dân Họ đã đóng góp tích cực cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc
Mặc dù tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, các thế lực trong và ngoài nước tìm mọi cách chống phá cách mạng nước ta thì người nông dân vẫn một lòng tin
và theo Đảng, vẫn là chỗ dựa tin cậy của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Đó là nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự ổn định chính trị của đất nước, tạo tiền đề cho đất nước đi lên trong thời kỳ đổi mới
- Vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội:
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nông dân nước ta có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng Từ những năm 1958 - 1960 đến nay, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, cải tiến, quản lý kinh tế nông nghiệp, thâm canh tăng vụ, xây dựng các công trình thủy lợi, giao thông, trường học… được nông dân hưởng ứng sôi nổi đã tạo ra cơ sở vật chất ban đầu của chủ nghĩa xã hội Những thành công, thất bại trong công cuộc CNH, hợp tác hóa, chính sách đất đai, chính sách quản lý kinh tế nông nghiệp, nông thôn v.v đã để lại những bài học hay, những kinh nghiệm quý cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội những năm sau này Những thành tựu trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và những đóng góp to lớn của giai cấp nông dân những năm đổi mới đã đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế -
xã hội, giữ vững sự ổn định chính trị và phát triển của đất nước Nghị quyết
Trang 21Đại hội đại biểu Hội nông dân Việt Nam lần thứ III khẳng định: “Chính sự khởi sắc của kinh tế nông thôn trong những năm qua đóng vai trò to lớn, đảm bảo sự ổn định và phát triển của đất nước trong điều kiện khó khăn gay gắt do thiên tai và khủng hoảng kinh tế khu vực gây ra” [31, tr.15].
Nước ta trong thời bao cấp, nông dân là những người tiên phong “phá rào” do chính quyền tạo ra để tự cứu lấy mình và chính họ đã khởi xướng ra
sự nghiệp đổi mới Và từ chỗ thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới trong suốt hơn chục năm qua Ngày nay, không chỉ có gạo mà vị thế thương mại của nhiều loại nông sản Việt Nam trên thế giới có thứ hạng cao, kim ngạch xuất khẩu nông sản liên tục tăng ở mức cao trong các năm gần đây
- Vai trò của nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH:
Theo Hồ Chí Minh: giai cấp nông dân là cộng đồng những người lao động sản xuất nhỏ trong nông nghiệp và ngư nghiệp Vì vậy, vai trò của nông dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội thể hiện ở tiềm năng và thế mạnh của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Hiện nay, Việt Nam về cơ bản vẫn là nước nông nghiệp xét trên tất cả các tiêu chí kinh tế - xã hội Trong những năm vừa qua, kinh tế nông nghiệp nông thôn đang có những đóng góp
to lớn cho nền kinh tế đất nước Kim ngạch xuất khẩu hàng nông nghiệp chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu, góp phần giải quyết vấn đề vốn cho CNH, HĐH đất nước Đồng thời nông nghiệp, nông thôn, nông dân còn là thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và ứng dụng khoa học công nghệ Giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức vẫn phải dựa vào nông dân, cần đến nông dân Giai cấp nông dân vẫn là chủ lực quân xung kích trên mặt trận kinh tế, tiến công vào khoa học, kỹ thuật, vào đói nghèo và lạc hậu
Nông nghiệp tạo ra 21,99% GDP của cả nước, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 3,8%/năm và duy trì tương đối ổn định, ngay cả trong thời kỳ khủng
Trang 22hoảng tài chính Châu Á năm 1977 và khủng hoảng tài chính thế giới năm
2008 Tuy cả nền kinh tế khó khăn nhưng riêng năm 2008 nông nghiệp vẫn sản xuất khoảng 43,2 triệu tấn lương thực Nông nghiệp không chỉ đảm bảo
an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, an sinh xã hội, giảm đói nghèo mà còn cung cấp nhiều nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 2008 đạt trên 16 tỷ USD [12, tr.29]
Khẳng định vai trò to lớn của nông nghiệp cũng đồng thời là khẳng định vai trò to lớn của nông dân - lực lượng xã hội đông đảo, trực tiếp thực hiện vai trò quan trọng của nông nghiệp Khu vực nông thôn chiếm 72% dân
số cả nước, 54% lao động xã hội và cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu cho nền kinh tế quốc dân Trong cuộc suy giảm kinh tế năm 2008, bên cạnh việc tạo công ăn, việc làm cho hơn 34 triệu lao động tại chỗ thuộc các hộ sản xuất, các trang trại, các làng nghề nông nghiệp góp phần lớn tạo sự ổn định xã hội để duy trì tăng trưởng kinh tế Có thể nói, lao động nông thôn không chỉ là nguồn nhân lực chủ yếu và quyết định trong phát triển sản xuất và kinh tế nông thôn mà còn có đóng góp quan trọng trong các hoạt động kinh tế - xã hội khác của cả nước, nhất là trong việc cung cấp nguồn lao động cho công nghiệp hóa, đô thị hóa [12, tr.29-30]
Bên cạnh việc cung cấp nguồn nhân lực, thị trường nông thôn nước ta
có nhiều tiềm năng, đặc biệt là lợi thế dân số đông Hiện nay, so với khu vực thành thị, mức tiêu thụ sản phẩm tiêu dùng và tư liệu sản xuất ở khu vực này lại thấp hơn nhiều vì nông dân còn nghèo Do vậy tiềm năng sức mua của nông dân còn rất lớn, cả hàng hóa tiêu dùng và tư liệu sản xuất, nhất là máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp
Trong thời gian gần đây, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cùng với khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra trên 70% việc làm trong xã hội và đóng góp trên 80% GDP cho đất nước Hai trụ cột kinh tế quan trọng này phát triển nhanh dựa vào nguồn lao động từ nông thôn với mặt bằng lương thấp
Trang 23nhờ mức giá lương thực, thực phẩm thấp [53, tr.34] Bên cạnh đó, thu nhập ổn định ở nông thôn và tiến bộ rõ rệt về xóa đói giảm nghèo tạo ra môi trường chính trị - xã hội ổn định Đây là kết quả trực tiếp của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn do người nông dân đóng vai trò chính Nghị quyết Trung ương 7, khóa X đánh giá nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam “có vị trí chiến lược là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị ” [29, tr.123-124]
Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, nông dân tích cực đóng góp vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn và làm công tác từ thiện Đã có rất nhiều nông dân tự nguyện hiến đất, hiến tiền để xây dựng trường học, trạm
xá, trạm điện, cầu cống, đường giao thông cho địa phương; sẵn sàng hỗ trợ giống, vốn, vật tư, kinh nghiệm cho những hộ nông dân khó khăn để nhanh chóng thoát nghèo, vươn lên làm giàu
Trải qua cuộc sống lao động hàng nghìn năm, nông dân Việt Nam đã xây dựng nhiều công trình lịch sử - văn hoá có giá trị Họ đã góp phần quan trọng sáng tạo nên những giá trị vật chất, tinh thần và truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam Nông dân cũng là lực lượng đấu tranh mạnh mẽ chống
sự đồng hoá của các thế lực ngoại bang tạo nên những giá trị và bản sắc văn hoá Việt Nam Những giá trị văn hoá dân tộc còn được lưu giữ đến hôm nay
có sự đóng góp to lớn của nông dân Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước ta, nông dân là những người góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Đánh giá tổng quát tình hình nông nghiệp, nông thôn, nông dân sau hơn
20 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản VN khởi xướng và lãnh đạo, nhất là từ sau Đại hội IX, Đại hội X của Đảng đến nay, Hội nghị lần thứ 7 BCH TƯ khoá X, tháng 7 năm 2008 đã khẳng định những thành tựu khá toàn diện và to lớn: “Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; bảo đảm vững
Trang 24chắc an ninh lương thực quốc gia, một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới” [29, tr.121] Hội nghị cũng chỉ rõ những kết quả tuy mới là bước đầu nhưng rất quan trọng: “Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; bộ mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư
ở hầu hết vùng nông thôn được cải thiện” [29, tr.121-122] Hội nghị cũng khẳng định: “Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển ” [29, tr.124]
Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử hơn 20 năm đổi mới vừa qua một lần nữa cho thấy những đóng góp và những cống hiến xuất sắc của nông dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trong sáng tạo văn hóa và xây dựng đời sống tinh thần, trong việc tạo lập và giữ vững ổn định chính trị, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trong hội nhập quốc tế
1.2 Vấn đề phát huy vai trò của nông dân trong quá trình công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa ở nước ta hiện nay
1.2.1 Công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đại hóa và vấn đề phát huy vai trò của nông dân nói chung
Hiện nay nước ta đang tiến hành CNH, HĐH đất nước Đây là bước đi tất yếu trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc nhằm vươn tới văn minh, hiện đại Vì vậy, ngay từ những năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối CNH XHCN và coi CNH là nhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt cả thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta Từ đó đến nay đã trải qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đều không ngừng phát triển, nâng cao nhận thức và cụ thể hoá đường lối CNH, HĐH
Đối với đất nước ta, CNH, HĐH là một quá trình biến đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ
Trang 25sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng xuất lao động cao Đặc điểm chung nhất và quyết định nhất của CNH, HĐH là sự thay thế kỹ thuật thủ công bằng máy móc trên quy mô toàn bộ nền kinh tế quốc dân: đẩy mạnh sự phân công xã hội và sản xuất hàng hoá, tạo ra bước ngoặt trong việc nâng cao năng xuất lao động xã hội, biến đổi một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp tiên tiến
Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII
CNH, HĐH là quá trình lâu dài, phải tạo ra những điều kiện cần thiết
về vật chất và kỹ thuật, về con người và khoa học - công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, không ngừng tăng năng suất lao động xã hội, làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
Trong tiếng Việt, thuật ngữ “phát huy” được hiểu là “làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn” [65, tr.1321] Như vậy, trong thực tế có rất nhiều đối tượng có khả năng phát huy (trong tất
cả các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy) Cho dù đối tượng nào thì chủ thể phát huy vẫn là con người Vì vậy, phát huy vai trò của nông dân là một trong những nội dung của phát huy nguồn lực con người Dưới góc độ Triết
Trang 26học, phát huy nguồn lực con người được hiểu là quá trình đào tạo, bồi dưỡng
và làm tăng nguồn lực con người về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức; là quá trình khai thác có hiệu quả những yếu tố đó trong lao động, chiến đấu và bảo
vệ tổ quốc Vai trò, theo tiếng Việt là “chức năng, tác dụng của cái gì hoặc của ai trong sự vận động, phát triển của nhóm, tập thể nói chung” [65, tr.1788] Trên những cơ sở đó, phát huy vai trò của nông dân là quá trình khai thác những tiềm năng, thế mạnh của nông dân một cách hiệu quả phục vụ cho
sự nhiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nói riêng, cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung
Để phát huy vai trò của nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước cần đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, hiện đại; gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọi nguồn lực và lợi thế của nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế nhằm nâng cao năng xuất lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn; xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn mới giàu có, công bằng, dân chủ, văn minh và xã hội chủ nghĩa
Đối với nông nghiệp (được hiểu bao gồm nông - lâm - thủy sản - diêm nghiệp), CNH, HĐH là sự chuyển đổi nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, hiệu quả thấp sang nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hoá và hiệu quả cao Nền tảng cho sự chuyển đổi này là phát triển cơ sở
hạ tầng cho nông nghiệp, gồm thuỷ lợi hoá, điện khí hoá và phát triển công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp, trong đó công nghệ sinh học, cơ giới hoá (bao gồm tự động hóa) và công nghệ chế biến là những công nghệ chủ yếu Sự phát triển của cơ sở hạ tầng và công nghệ mới trước hết phục vụ cho
sự hình thành những vùng sản xuất hàng hoá để tạo ra những khối lượng sản
Trang 27phẩm lớn và có chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Đối với nông thôn, CNH, HĐH là sự chuyển đổi nền kinh tế nông thôn
từ nền kinh tế thuần nông, giá trị thấp, nhiều lao động, năng xuất lao động thấp sang nề kinh tế có cơ cấu tiến bộ theo hướng tăng tỉ trọng về giá trị và lao động trong công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, đồng thời với giảm tỉ trọng về giá trị (nhưng vẫn tăng số tuyệt đối) và lao động trong nông nghiệp
Cơ sở cho sự chuyển đổi này là hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, ưu tiên các cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn và dân sinh Thực hiện đô thị hoá nông thôn, đồng thời với sự tôn tạo và gìn giữ bản sắc văn hoá của nông thôn Việt Nam
Đối với nông dân, CNH, HĐH là đưa nông dân vào vị trí trung tâm của
sự phát triển, là chủ thể của sự phát triển Cái đích của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân và thu hẹp khoảng cách của mức sống giữa nông dân với cư dân ở thành thị Cơ
sở để đạt được yêu cầu này là nâng cao dân trí và kĩ năng sản xuất cho nông dân Cách thức chủ yếu là đào tạo nông dân trở thành người sản xuất chuyên nghiệp, có trình độ ứng dụng khoa học công nghệ, đồng thời đào tạo các nông dân trẻ có kỹ năng cao, có đầu óc kinh doanh để có thể là chủ thể thật sự của quá trình CNH, HĐH Song song một số lượng lớn nông dân được đào tạo về các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ có thể tìm kiếm việc làm sau khi rời khu vực nông nghiệp
Xem xét vai trò của nông dân thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước chính là xem xét vai trò của nông dân trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và phải gắn với việc xác định vai trò và tầm quan trọng của vấn đề nông nghiệp, nông thôn nước ta
Đối với Việt Nam, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Chỉ khi nào nền kinh tế được CNH, HĐH mới
Trang 28có thể đảm bảo cho những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được thực hiện Nhưng để thực hiện quá trình CNH, HĐH phù hợp thì trước hết phải phát triển nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm cơ sở, làm nền tảng và điều kiện cho quá trình CNH, HĐH
Tuy nhiên ngày nay, vấn đề nông nghiệp cần được hiểu theo nghĩa rộng, không phải “thuần nông”, càng không phải là nông nghiệp lạc hậu Đó phải là nền nông nghiệp phát triển toàn diện và phát triển theo hướng CNH, HĐH
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6 năm 1991) đã chỉ rõ: “Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội” [26, tr.45] Văn kiện Đại hội VII cũng đưa ra khái niệm: công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương khoá VII ra nghị quyết số 05-NQ/HNTW về “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn” [27, tr.695] Coi đó là nhiệm vụ hết sức cấp bách Nhưng không thể thực hiện được nhiệm vụ đó, nếu không đẩy tới một bước quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Và chính để tiếp tục đẩy mạnh nông nghiệp mà Báo cáo của Bộ Chính trị trình Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa VII ngày 14 tháng 7 năm 1994 đã chỉ rõ: “Từ nay đến cuối thập kỷ phải quan tâm đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn” [28, tr.449] Đây là một điểm mới trong chủ trương về công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng ta
Xuất phát từ thực tế của đất nước trong những năm trước mắt, khả năng vốn còn hạn chế, nhu cầu việc làm rất bức bách, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, Hội nghị Trung ương 7 (Khoá VII) đã khẳng định: “Cần tập trung
Trang 29nỗ lực công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn” [28, tr.416] Đến Đại hội VIII tiếp tục khẳng định phải đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn Đại hội IX đặt vấn đề là phải công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Sở dĩ phải đặt vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn lên hàng đầu bởi vì hiện nay ở nước ta, nông nghiệp vẫn còn chiếm bộ phận lớn trong kinh tế mà sản xuất nhỏ lại chiếm bộ phận lớn trong nông nghiệp Vì nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là một nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là một thị trường tiêu thụ lớn nhất hiện nay, cho nên cần phải cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới
có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác, phải có một nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới có thể phát triển mạnh
Trên cơ sở đánh giá tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân hiện nay cũng như trong những năm tới, Đại hội X đã nêu bật chủ trương “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn” Đây là một trong những quan điểm tư tưởng quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta về công nghiệp hoá, hiện đại hoá Và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI (từ năm 2001 đến năm 2010)
Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn trước hết phải chú ý quan tâm đến nông dân Nông dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng Nói một cách khác, họ vừa là mục tiêu, vừa là động lực chính của quá trình phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Do đó, không thể tách việc phát triển nông thôn ra khỏi việc giải quyết vấn đề nông dân Có thể khẳng định: nguồn gốc sâu xa, nguyên nhân cơ bản nhất tạo nên sự phát triển nông nghiệp là huy động được sức mạnh, lòng nhiệt tình, tinh thần lao động
Trang 30cần cù, sáng tạo của nông dân và mỗi bước của quá trình phát triển nông nghiệp phải là mỗi bước nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống mọi mặt của nông dân
Nông thôn là môi trường xã hội sinh sống chủ yếu nông dân Nông thôn còn là khu vực kinh tế - kinh tế nông thôn Ngoài nông nghiệp là ngành sản xuất chính và chủ yếu, trong cơ cấu kinh tế nông thôn còn có các hoạt động “phi nông nghiệp”, tức là hoạt động của công nghiệp và các dịch vụ ở nông thôn Phát triển nông nghiệp ở nước ta không thể tách rời việc tiếp tục giải quyết vấn đề nông dân với việc xây dựng nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá nông thôn
Vai trò của nông dân còn được thể hiện đặc trưng ở vai trò kinh tế hộ gia đình Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, tự quyết nên đã khuyến khích và khai thác được tiềm năng, tiềm lực, trí sáng tạo, năng động của người nông dân trong phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nói chung ở nông thôn, trở thành một chủ thể phát triển kinh tế trong cơ chế thị trường, tạo nên những thành tựu to lớn trong nông nghiệp Nếu được đầu tư, hỗ trợ phát triển từ phía nhà nước, của chính bản thân khu vực kinh tế nhà nước thì kinh tế hộ cùng với kinh tế trang trại ở nông thôn sẽ tiếp tục phát huy vai trò trong việc sáng tạo ra những sản phẩm hàng hoá đa dạng có chất lượng, giá trị ngày càng cao, tăng thu nhập cho hộ gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho đô thị, công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngay từ kinh tế hộ
Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ:
Đối với giai cấp nông dân phát huy vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đưa công nghiệp tiến vào nông nghiệp, nông thôn Thực hiện tốt chính sách về ruộng đất Tạo điều kiện thuận lợi để
Trang 31giúp nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ Khuyến khích nông dân hợp tác với các doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ trang trại để phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, tăng hiệu quả sử dụng đất, tiêu thụ nông sản, hàng hoá Hỗ trợ và khuyến khích nông dân học nghề, tiếp nhận và áp dụng thành tựu khoa học công nghệ [25, tr.118-119]
1.2.2 Những yêu cầu đặt ra đối với việc phát huy vai trò của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Trong gần 30 năm qua, ngành nông nghiệp nước ta luôn đi trước mở đường trong quá trình đổi mới,
đã có bước phát triển vượt bậc, giá trị và giá trị sản lượng nông nghiệp liên tục tăng Đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận nông dân được cải thiện, công bằng hơn trong tiếp cận các cơ hội phát triển Bộ mặt nông thôn
có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, hệ thống kết cấu hạ tầng cũng như mạng lưới các tổ chức kinh tế hoạt động ở nông thôn ngày càng phát triển
Song, cũng như các nước thực hiện quá trình công nghiệp hóa, ở nước
ta, quá trình này thường đi kèm với những thay đổi không nhỏ về các mặt kinh tế - xã hội; và nông nghiêp, nông dân, nông thôn thường bị thiệt thòi, chịu nhiều hy sinh Đây vốn là khu vực chậm phát triển nhất trong nền kinh
tế Sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính của một nền sản xuất nhỏ, manh mún, sử dụng không hiệu quả dẫn đến gây lãng phí các nguồn lực quí giá cho phát triển nông nghiệp Thu nhập của người dân tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn có khoảng cách khá xa so với khu vực thành thị, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Có một thực tế là, nông dân là lực lượng
cơ bản trong cơ cấu xã hội, có đóng góp quan trọng trong cải cách và đổi mới nhưng được hưởng lợi ích chưa tương xứng và quan trọng hơn là cơ hội cho họ phát triển trong cải cách, hội nhập và đổi mới chưa được xác lập rõ ràng Vì
Trang 32vậy, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như hiện nay để phát huy có hiệu quả vai trò của nông dân cần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Những yêu cầu đặt ra là:
Thứ nhất, cần nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò và tầm quan trọng của vân đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
Hội nghị Trung ương 7 khoá X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thảo luận và ra nghị quyết quan trọng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Nghị quyết xác định:
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước… [29, tr.124]
Ở Việt Nam, nông nghiệp là ngành kinh tế có tầm quan trọng sống còn,
có vị trí trọng yếu trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, đảm nhiệm an ninh lương thực cho quốc gia, cung cấp cho xã hội nguồn lương thực, thực phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, cung cấp nguyên, vật liệu cho xây dựng công nghiệp, đồng thời là thị trường tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp và dịch vụ
Hiện nay và trong tương lai, nông thôn vẫn là nơi cư trú và nông nghiệp vẫn là nguồn tạo việc làm và thu nhập chính của đa số cư dân Việt Nam Hơn
nữa hiện nay đang có 90% người nghèo sinh sống ở nông thôn
Thực tế ở nước ta và nhiều nước trong khu vực đã chứng minh rằng, việc chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn được coi là cơ sở đảm bảo
sự ổn định tình hình kinh tế - xã hội và là điều kiện quan trọng để quá trình phát triển đất nước diễn ra toàn diện, nhanh chóng và bền vững hơn
Trang 33Hoàn cảnh công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay khác căn bản so với các nước công nghiệp hóa đi trước, kể cả ở nước ta trong giai đoạn trước đây Bởi vậy không thể tạm thời hy sinh nông nghiệp, nông thôn, môi trường để đưa công nghiệp, đô thị đi trước một bước như một số nước đã tiến hành trước đây Muốn phát triển bền vững phải xóa đói, giảm nghèo, phải ngăn chặn tình hình chênh lệch quá lớn về thu nhập và mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các nhóm dân cư, dân tộc
Một khi đa số dân cư còn sống ở nông thôn thì phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông thôn theo hướng
đô thị hóa là cách tốt nhất để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, không thể có nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định nếu nông nghiệp và nông thôn trì trệ Nông nghiệp, nông thôn vẫn là chỗ dựa an toàn cả
về kinh tế, an ninh, quốc phòng cho đất nước trong mọi tình huống Phát triển nông thôn còn là giải pháp căn bản để giữ gìn và phát huy tận gốc bản sắc văn hóa dân tộc Rõ ràng, phát triển nông nghiệp, nông thôn phải tiếp tục được coi
là cơ sở trong tương lai
Như vậy, nông nghiệp, nông dân, nông thôn là bộ phận quan trọng của nền kinh tế, ổn định chính trị, bảo đảm sự phát triển của đất nước trong suốt thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH theo hướng XHCN ở Việt Nam Nhưng tạo cơ sở đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia, nông thôn thu nhập cao là thị trường lớn cho kinh tế cả nước, kinh tế nông thôn phát triển tạo ra việc làm
và thu nhập cho phần lớn dân cư, là nguồn thu ngoại tệ quan trọng để phát triển kinh tế, nông dân có việc làm và thu nhập cao là nền tảng để đảm bảo xoá đói, giảm nghèo, công bằng và ổn định xã hội Nông thôn cũng là nơi duy trì và phát triển môi trường sống, bảo tồn và phát triển môi trường văn hoá lành mạnh, trong sạch cho đất nước
Thứ hai, coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
Trang 34đại hóa ở nước ta và là nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn hiện nay
Nông nghiệp Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển trên nghìn năm nhưng vẫn là một nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp Cho đến những thập niên cuối thế kỷ XX, sau khi đất nước thống nhất, nông nghiệp Việt Nam bước vào một thời kỳ mới, bứt phá tiến lên sản xuất hàng hóa và được thế giới biết đến khi lần đầu tiên, năm 1989, ba năm sau khi đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới (1986), đã xuất khẩu 1 triệu tấn gạo sau nhiều năm thiếu lương thực, phải nhập khẩu gạo với số lượng lớn Đây là một trong nhiều khởi sắc của nông nghiệp Việt Nam trong buổi bình minh của thời
kỳ đổi mới, mở đường cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Từ những năm đầu thế kỷ XXI đến nay, với những thành tựu to lớn và phát triển toàn diện nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, đặc biệt về an ninh lương thực, sản xuất hàng hóa, xuất khẩu, xóa đói giảm nghèo, con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam
đã có bước tiến căn bản
Cần nhận thức và nắm vững mục tiêu, nhiệm vụ giải quyết một cách đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở nước ta trong những năm tới nhằm thực hiện tốt công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
ở nước ta đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH
TƯ Đảng khoá X, bao gồm những vấn đề chủ yếu sau:
+ Về mục tiêu tổng quát:
- Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
Trang 35- Xây dựng nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng xuất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài
- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại;
cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý ; xây dựng giai cấp nông dân củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [29, tr.125-126]
+ Hội nghị 7 đã đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp:
- Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển các đô thị
- Nâng cao đời sống vậtt chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là vùng khó khăn
- Đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở nông thôn
- Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá nông thôn
- Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là Hội nông dân [29, tr.129-142]
Trang 36Thứ ba, Đảng và Nhà nước cần có một hệ thống chính sách nhất quán, đồng bộ và phù hợp với nền sản xuất hàng hóa quy mô lớn và đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là chính sách về đất đai, khoa học công nghệ, tín dụng và thị trường Đặc biệt, cần có sự đầu tư thích đáng cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn
+ Đối với nông nghiệp:
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta hiện nay, để phát huy vai trò của nông dân cần có những chính sách tăng tỉ lệ đầu tư cho nông nghiệp Xây dựng cơ chế đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng rộng rãi để tiếp nhận tiến bộ khoa học công nghệ từ nước ngoài, kết hợp tăng cường đầu tư, nghiên cứu khoa học công nghệ trong nước, bảo vệ quỹ đất lúa để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia lâu dài, bảo đảm quỹ đất phục vụ các nhu cầu về môi trường và quốc phòng Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
và đời sống ở nông thôn, trước hết là phát triển giao thông, thuỷ lợi, thông tin liên lạc…
+ Đối với nông dân:
Các chính sách phải tập trung hỗ trợ cho nông dân tích tụ đất đai, hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ tiếp thu khoa học công nghệ, bảo vệ sản xuất, xây dựng cơ sở
hạ tầng phục vụ sản xuất Hỗ trợ về thị trường đầu ra, đặc biệt là vấn đề xuất khẩu các loại hàng hoá nông sản Nhà nước phải tập trung hỗ trợ để các tổ chức hợp tác của nông dân đủ sức cạnh tranh và có vị thế ngang bằng trên thị trường và trên lĩnh vực chính trị so với các tổ chức của doanh nhân, của dân
cư đô thị ở trong nước
Sự nghiệp cải thiện điều kiện sống của dân cư nông thôn, cải thiện tập quán sản xuất để vừa xây dựng một cuộc sống hiện đại, văn minh ở nông thôn, vừa hình thành những cộng đồng nông thôn hợp tác, chủ động, sáng tạo,
có kỷ luật, có ý thức làm chủ là một quá trình khó khăn và lâu dài, đòi hỏi
Trang 37phải có một hệ thống chính sách đồng bộ, đủ mạnh, huy động được sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi đối tượng xã hội
+ Đối với nông thôn:
Hoàn tất việc xây dựng, quy hoạch nông thôn (khu dân cư và sản xuất)
có kết cấu hạ tầng và dịch vụ phục vụ đời sống với chất lượng đảm bảo (đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, trường học, bệnh viện…) Xây dựng các thị trấn, thị tứ, gắn đô thị với quy hoạch nông thôn, quy hoạch công nghiệp với nông nghiệp nhằm định hướng bố trí hợp lý ở các địa điểm khác nhau, các nhà máy công nghiệp, các thành phố vệ tinh về nông thôn Nhà nước đầu tư hỗ trợ, giao quyền và khuyến khích cộng đồng nông dân đóng góp và làm chủ quá trình xây dựng, quản lý, sử dụng các công trình phúc lợi nông thôn và các công trình dân sinh
Nền nông nghiệp ở nước ta hiện nay cũng như trong tương lai là một nền sản xuất hàng hóa xuất khẩu cạnh tranh trực diện với thị trường thế giới với mức bảo vệ là rất thấp Nông thôn Việt Nam tiếp tục phải tạo ra việc làm
và nguồn thu nhập chính cho phần lớn cư dân cả nước, công nghiệp và đô thị phát triển nhưng rút cư dân và lao động ra rất chậm Khả năng cạnh tranh của hàng hóa rất thấp, dịch vụ chưa phát triển
Như vậy, nếu không đầu tư thích đáng cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn sẽ khó duy trì mức tăng trưởng cho nông nghiệp, không những không hình thành thị trường cho công nghiệp phát triển, mà còn dẫn đến khủng hoảng xã hội, môi trường khi dân cư trong nông thôn thiếu việc làm, thu nhập thấp
Hiện nay, địa bàn nông thôn có khoảng 5 - 6 triệu người không có việc làm và thường xuyên thiếu việc làm Cần có chính sách và biện pháp phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống và dịch vụ
để không những khai thác và sử dụng nguồn lao động dư thừa và nhàn rỗi mà
Trang 38còn góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tăng sản phẩm cho xã hội
Tóm lại, trong bất kỳ thời đại nào nông dân cũng là lực lượng to lớn đưa đất nước qua những cuộc binh đao, nhiều lần cứu dân tộc thoát vòng nô
lệ, đưa nền kinh tế - xã hội đất nước đi lên Hàng ngàn năm nay, nông dân Việt Nam luôn âm thầm gánh vác những nhiệm vụ hàng đầu Nhưng vị thế của người nông dân ở đâu trong đời sống kinh tế - xã hội? Sự quan tâm đến nông dân hiện đã thỏa đáng? Đó là câu hỏi cấp thiết đặt ra hiện nay Đối với nước ta, chăm lo cho nông dân, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
để phát huy có hiệu quả vai trò của nông dân phải là mối quan tâm hàng đầu, không chỉ có vai trò quyết định đối với việc ổn định tình hình kinh tế - xã hội,
mà còn cung cấp nguyên liệu và nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp, kinh tế xuất khẩu của đất nước, đồng thời đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia Phát huy vai trò của nông dân phải gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN
HUYỆN TÂN SƠN - PHÖ THỌ THỜI KỲ ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và đặc điểm của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ
2.1.1 Khái quát tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội huyện Tân Sơn - Phú Thọ
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Về vị trí địa lý:
Tân Sơn là một huyện miền núi mới được thành lập theo Nghị định số 61/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thanh Sơn để thành lập huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Huyện Tân Sơn có 17 xã, trong đó có 14 xã đặc biệt khó khăn và 1 xã an toàn khu
Huyện Tân Sơn nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, trên vùng giáp danh giữa ba tỉnh Yên Bái, Hoà Bình, Sơn La Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Yên Lập, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Thanh Sơn, phía Nam giáp huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình, phía Tây Bắc giáp huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái và phía Tây giáp huyện Phù Yên tỉnh Sơn La Trung tâm huyện lỵ Tân Sơn đặt tại xã Tân Phú có trục đường quốc lộ 32A chạy qua, cách Thành phố Việt Trì 75km, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 117km Vị trí địa lý như vậy tạo cho Tân Sơn những khó khăn về giao thông và thông thương hàng hoá trong nội bộ huyện Tuy nhiên, với vị trí nằm trên vùng giáp ranh giữa 3 tỉnh Yên Bái, Hoà Bình và Sơn La, Tân Sơn có thế mạnh và tiềm năng phát triển trao đổi hàng hoá với các huyện trong tỉnh cũng như các huyện thuộc các tỉnh giáp ranh
Trang 40- Khí hậu, thuỷ văn và sông ngòi:
Tân Sơn là huyện vùng núi cao, có địa hình rất phức tạp, đa dạng, chia cắt, dốc kéo dài, phần lớn là rừng núi đất, cấu tạo theo chiều bát úp nằm trong vùng địa hình đồi núi cao và trung bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc dãy Hoàng Liên Sơn nên tạo ra các tiểu vùng khí hậu khác nhau
Xét tổng thể Tân Sơn nằm trong vùng khí hậu Trung du Bắc Bộ, mang những nét điển hình của khí hậu nhiệt đới, gió mùa như: mùa hè nóng, ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh, cuối đông ẩm ướt và mưa phùn
Theo số liệu khí tượng thuỷ văn tại trạm Minh Đài, nhiệt độ không khí trung bình qua các năm là 23,30C (nhiệt độ cao tuyệt đối là 42,30C và nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3,10C), số giờ nắng trung bình qua các năm là 1.453 giờ, lượng mưa trung bình qua các năm là 1.808,8mm, độ ẩm không khí trung bình qua các năm là 86,8%, tốc độ gió trung bình 1,8m/s, hướng gió chính: Đông, Đông Nam và Tây Nam Mùa khô hạn kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Tân Sơn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng vào các tháng 4, 5, 6, 7 Nhiệt độ trong các tháng này nhiều khi lên tới 39 -
400C; gió mùa Đông bắc nhiệt độ xuống dưới 50C, sương muối, giá rét Trên địa bàn huyện vào các tháng 4, 5 có lốc xoáy, mưa đá, tháng 7, 9 có lũ quét ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống dân cư
Nước cho sản xuất nông nghiệp được lấy từ hai nguồn: nước mưa và nước từ hệ thống sông, suối trên địa bàn huyện Nguồn nước mặt của Tân Sơn
có suối Tròn chảy qua phía Bắc và sông Bứa chảy qua phía Nam Tổng số công trình thủy lợi năm 2009 là 92 công trình
Hệ thống sông Bứa và các chi lưu của nó toả rộng ra khắp vùng, các chi lưu lớn phân bố đều là sông Chôm (Văn Luông), sông Giày (Minh Đài), sông Gôm (Thu Ngạc) rất thuận lợi cho công tác tưới tiêu phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp