1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận dạng rào cản ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

110 375 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi các nông hộ muốn ƯDCN vào sản xuất thì đa số lại thiếu vốn để đầu tư canh tác theo mô hình được hướng dẫn như: giống mới có chất lượng cao, máy móc thiết bị, chế phẩm sinh học… Ngoài

Trang 1

Sóc Trăng, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Ngọc Ca

Sóc Trăng, 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

LỜI CẢM ƠN 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ 7

1 Lý do nghiên cứu 8

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

3 Mục tiêu nghiên cứu 12

4 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Mẫu khảo sát 12

6 Câu hỏi nghiên cứu 12

7 Giả thuyết nghiên cứu 12

8 Phương pháp nghiên cứu 13

9 Kết cấu của Luận văn 13

PHẦN NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG SẢN XUẤT LÚA 14

1.1 Các khái niệm cơ bản 14

1.1.1 Khái niệm về rào cản 14

1.1.2 Khái niệm về công nghệ, ứng dụng công nghệ 14

1.1.3 Khái niệm về chuyển giao công nghệ 15

1.1.4 Khái niệm về vai trò của công nghệ 16

1.1.5 Khái niệm về nguồn lực 16

1.1.6 Khái niệm về nhân lực, nguồn nhân lực 17

1.1.7 Khái niệm về vật lực 19

1.2 Vai trò của công nghệ trong sản xuất lúa tại Việt Nam 20

1.2.1 Tăng năng suất, chất lượng lúa 20

1.2.2 Tăng lợi nhuận và tiết kiệm lao động 20

1.3 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ vào sản xuất lúa tại Việt Nam 23

1.3.1 Nguồn lực của ngành nông nghiệp 23

1.3.2 Nguồn lực của nông hộ 24

1.3.3 Ngôn ngữ của nông hộ và người hướng dẫn 25

1.3.4 Hình thức khuyến nông và phương pháp khuyến nông 25

1.3.5 Tài liệu hướng dẫn 25

1.3.6 Các chính sách hỗ trợ nông hộ sản xuất lúa 25

1.3.7 Tác động của kinh tế xã hội 25

1.3 Các rào cản 25

1.3.1 Lý luận về rào cản 25

1.3.2 Rào cản ứng dụng công nghệ 25

Kết luận chương 1 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SÓC TRĂNG 28

2.1 Tình hình chung tại Việt Nam cho việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất lúa 28

2.1.1 Nguồn lực của ngành nông nghiệp Việt Nam 28

2.1.2 Nguồn lực của nông hộ Việt Nam 32

2.1.3 Ngôn ngữ của nông hộ và người hướng dẫn tại Việt Nam 36

2.1.4 Hình thức khuyến nông và phương pháp khuyến nông 36

2.1.5 Tài liệu hướng dẫn 37

2.1.6 Các chính sách hỗ trợ nông hộ sản xuất lúa tại Việt Nam 37

Trang 4

2.1.7 Tác động của kinh tế xã hội đến việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất lúa

tại Việt Nam 39

2.2 Chủ trương, định hướng của tỉnh Sóc Trăng về việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa 40

2.3 Tình hình chung về việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa tại tỉnh Sóc Trăng 42

2.3.1 Khái quát tình hình ứng dụng công nghệ tại tỉnh Sóc Trăng 42

2.3.2 Nguồn lực của nông hộ tỉnh Sóc Trăng 45

2.3.3 Sự hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn, các Viện/Trường 47

2.3.4 Khái quát tình hình chuyển giao công nghệ tại tỉnh Sóc Trăng 49

2.4 Đánh giá khái quát thực trạng ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa tại tỉnh Sóc Trăng 51

Kết luận chương 2 58

CHƯƠNG 3 RÀO CẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VÀO SẢN XUẤT LÚA TẠI TỈNH SÓC TRĂNG 60

3.1 Rào cản từ nguồn lực của nông hộ sản xuất lúa tại tỉnh Sóc Trăng 60

3.1.1 Rào cản từ nhân lực của nông hộ 60

3.1.2 Rào cản từ tài lực của nông hộ 63

3.1.3 Rào cản từ vật lực của nông hộ 65

3.1.4 Rào cản từ tâm lý nông dân 67

3.1.5 Rào cản từ ngôn ngữ của nông hộ 68

3.2 Rào cản từ nguồn lực của ngành nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng 69

3.2.1 Rào cản từ nhân lực ngành nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng 69

3.2.2 Rào cản từ tài lực của ngành nông nghiệp 71

3.2.3 Rào cản từ vật lực của ngành nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng 72

3.3 Rào cản từ các chính sách liên quan 74

3.3.1 Rào cản từ nhóm chính sách về đất đai 74

3.3.2 Rào cản từ nhóm chính sách về tài chính 76

3.3.3 Rào cản từ nhóm chính sách về liên kết 79

3.4 Một số giải pháp hạn chế rào cản ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng 84

3.4.1 Giải pháp về tăng cường số lượng và chất lượng nhân lực KH&CN nông nghiệp 84

3.4.2 Giải pháp về tăng cường cơ giới hóa vào sản xuất lúa 85

3.4.3 Giải pháp về tăng cường liên kết 4 nhà 86

3.4.4 Giải pháp hỗ trợ về tài chính cho nông hộ để đầu tư ứng dụng công nghệ vào sản xuất lúa 86

Kết luận Chương 3 87

KẾT LUẬN 89

KHUYẾN NGHỊ 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 97

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trường Đại học Khoa học &

Xã hội nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội, Phòng Sau Đại học Trường Đại

học Khoa học & Xã hội nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội

Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Ngọc Ca đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi về nhiều mặt để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình

Cảm ơn tất cả Quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong quá trình tôi tham gia lớp Cao học Quản lý Khoa học và Công nghệ 2011 – 2013

Cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ Ban Quản lý Dự án Bảo vệ

và Phát triển những vùng đất ngập nước ven biển tỉnh Sóc Trăng, Ban Quản lý

Dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững tỉnh Sóc Trăng đã giúp đỡ

và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin được bày tỏ niềm xúc động và xin gởi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tất cả mọi người đã giúp đỡ và chia sẽ khó khăn để tôi hoàn hành luận văn này Trong quá trình viết luận văn không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong được sự góp ý của Quý thầy cô, toàn thể các bạn và những ai quan tâm

Tác giả

THIỀU THỊ NHƯ LOAN

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long

BVTV Bảo vệ thực vật

IPM Integrated Pest Management

Quản lý dịch hại tổng hợp KN-KN Khuyến nông – Khuyến ngƣ

KH&CN Khoa học và Công nghệ

KH-KT Khoa học - Kỹ thuật

ƢDCN Ứng dụng công nghệ

Trang 7

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đã đạt đƣợc của dân số từ

15 tuổi trở lên theo giới tính và thành thị/nông thôn qua đợt Tổng điều tra dân

số và nhà ở năm 2009 trang 33 Biều đồ 3.1: Những kênh thông tin mà nông dân tiếp nhận để ứng dụng vào sản xuất lúa trang 62 Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ hộ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp phân theo quy mô diện tích tại tỉnh Sóc Trăng năm 2011 trang 66

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Sóc Trăng là tỉnh ven biển nằm ở Đông Nam của khu vực ĐBSCL, có tổng diện tích đất tự nhiên là 331.176,29 ha Đất đai màu mỡ cao, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày Hiện đất nông nghiệp là 276.677 ha, chiếm 82,89%; trong đó, đất sản xuất nông nghiệp là 205.748 ha (chiếm 62,13%), đất lâm nghiệp có rừng 11.356 ha (chiếm 3,43%), đất nuôi trồng thuỷ sản 54.373 ha (chiếm 16,42%), đất làm muối và đất nông nghiệp khác chiếm 0,97% Mặc dù còn một số hạn chế về điều kiện tự nhiên như thiếu nước ngọt và bị xâm nhập mặn trong mùa khô, một số khu vực bị nhiễm phèn, nhưng việc sử dụng đất ở Sóc Trăng lại có nhiều thuận lợi cơ bản

để phát triển nông, ngư nghiệp đa dạng

Việc ƯDCN vào sản xuất là xu thế của các nhà sản xuất trong quá trình hội nhập kinh tế Kết quả của việc ứng dụng là năng suất sản xuất được nâng cao, chất lượng sản phẩm được cải tiến Tại Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng

sự đóng góp của công nghệ vào tốc độ tăng trưởng nông nghiệp khoảng 30%

Sản xuất lúa là ngành truyền thống và gắn bó lâu đời với người nông dân Sóc Trăng, cũng là nguồn thu nhập chính của phần lớn nông dân Thời gian qua rất nhiều chương trình, dự án được đầu tư cho người trồng lúa tại tỉnh Sóc Trăng, trong đó gồm chuyển giao công nghệ cho người trồng lúa Tuy nhiên, nông dân chiếm phần đông là người dân tộc Khmer, đa số vẫn giữ tập quán canh tác cũ, chưa ƯDCN nhiều vào sản xuất dẫn đến việc mất mùa, hiệu quả trồng lúa chưa cao, năng suất và chất lượng không được cải thiện Theo Báo cáo kết quả công tác dân tộc năm 2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng, tính đến năm cuối năm 2012, tỷ lệ đói nghèo toàn tỉnh còn cao, chiếm 20,1%, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc chiếm 31,3%, và số hộ chưa đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu còn khá nhiều

Theo ông Hồ Quang Cua, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Sóc Trăng, trong ít năm trở lại đây, Bộ Nông nghiệp ban hành hàng loạt chính sách hỗ trợ,

Trang 9

khuyến khích trong sản xuất lúa gạo Tuy nhiên, phần đông trong số đó chỉ khả thi “trên giấy” vì địa phương không thực hiện được, ví dụ như chính sách hỗ trợ sau thu hoạch Để hỗ trợ nông dân mua máy gặt đập liên hợp, vốn rất được

ưa chuộng, tỉnh Sóc Trăng phải trích từ ngân sách tỉnh Chi phí để nghiên cứu, ứng dụng mô hình cánh đồng mẫu lớn tỉnh cũng phải bỏ tiền ra.1

Cho nên, việc ƯDCN vào sản xuất lúa lại là một bước quá xa, đặc biệt đối với nông hộ ít vốn đầu tư tại tỉnh Sóc Trăng Khi các nông hộ muốn ƯDCN vào sản xuất thì đa số lại thiếu vốn để đầu tư canh tác theo mô hình được hướng dẫn như: giống mới có chất lượng cao, máy móc thiết bị, chế phẩm sinh học… Ngoài ra, trình độ hiểu biết của nông dân về kỹ thuật trồng lúa còn thấp, chưa được trang bị các kiến thức căn bản về đất đai, sâu bệnh và thường làm theo phong trào… trong khi số lượng nhân lực ngành nông nghiệp còn quá thiếu không đủ sức hỗ trợ cho nông dân Cho nên, ngoài sự hỗ trợ hướng dẫn ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất của ngành nông nghiệp

và các viện, trường, nông dân còn tự học tập, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, hoặc tiếp nhận thông tin từ nhân viên các công ty thuốc bảo vệ thực vật…

Do đó, với nghiên cứu “Nhận dạng rào cản ƯDCN trong sản xuất lúa

trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng” hy vọng giúp ngành nông nghiệp của tỉnh thấy

rõ những rào cản trong việc ƯDCN vào sản xuất lúa, để có những giải pháp khắc phục, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở vùng nông thôn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Nghiên cứu của tác giả Trần Thanh Sơn về Khảo sát ứng dụng khoa học và kỹ thuật phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh An Giang cho

thấy những trở ngại trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ là: (i) Do đặc điểm, địa hình canh tác không áp dụng thực hiện được tiến

bộ khoa học; (ii) Điều kiện nông hộ thiếu vốn thiết kế đồng ruộng bằng phẳng; (iii) Điều kiện thiếu lao động thâm canh sản xuất, thu hoạch2

Trang 10

- Một nghiên cứu khác của tác giả Trần Thanh Sơn về Ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông dân ở tỉnh An Giang, ghi nhận những khó

khăn sau: (i) việc quản lý nguồn nước tưới chưa đáp ứng với nhu cầu bón phân cho cây lúa; (ii) có nhiều chủng loại phân bón trên thị trường với nhiều công thức khác nhau gây khó khăn cho nông dân trong việc tính toán liều lượng phân bón một cách chính xác theo khuyến cáo của ngành nông nghiệp3

- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quốc Nghi về Các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ ờ tỉnh Đồng Tháp (năm 2009 - 2010) cho thấy: các biến trình độ học vấn,

tham gia các tổ chức xã hội, tổng diện tích đất sản xuất, vay vốn sản xuất,

cơ sở hạ tầng nông nghiệp tương quan với quyết định ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa của nông hộ Mức độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh Đồng Tháp chịu tác động bởi ba nhân tố: nguồn lực sản xuất của nông hộ, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.4

- Nghiên cứu của TS Hồ Cao Việt về “Động thái kinh tế - xã hội hộ nông dân trồng lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời kỳ đổi mới”

có những kết luận khái quát sau: Nguồn nhân lực đông, trình độ thấp, ít được đào tạo, giàu kinh nghiệm canh tác, rất thiếu kỹ năng thị trường và quản trị nông nghiệp Nền kinh tế lúa có những động thái về cơ giới hóa từ những năm đầu thập niên 90 chủ yếu ở nhóm hộ khá - giàu, hộ có quy mô đất lúa tương đối khá Rào cản do mức hạn điền và quy mô đất nhỏ tác động đến hiệu quả sử dụng máy móc Tự đầu tư máy móc công suất lớn có

xu hướng giảm, xuất hiện các hình thái sản xuất mới bước đầu

chuyên môn hóa một số công đoạn.5

Trang 11

dan-trong-lua-vung-dong bang-song-Cuu-Long-trong-thoi-ky-doi-moi-(TS.-Ho-Cao-Viet, Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu An về “Phân tích hiệu quả sản xuất của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa của nông hộ xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng” kết luận sơ bộ: nông dân thường

lấy thông tin về kỹ thuật từ nhiều nguồn và chủ yếu là các công ty bảo vệ thực vật, đa số hộ chọn giống mới là làm theo phong trào, thu nhập ròng thấp khi không ứng dụng triệt để các mô hình khoa học kỹ thuật.6

- Nghiên cứu của nhóm tác giả Phan Hòa, Hồ Nhật Phong, Nguyễn

Thị Thúy Hằng về Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả cơ giới hóa khâu làm đất trồng lúa nước ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy: do chưa có quy hoạch

phát triển cụ thể, dẫn đến việc phân bố máy không đều; một số loại máy chưa phù hợp với đặc điểm của địa bàn; nhiều người dân mua máy nhưng chưa làm chủ được kỹ thuật sử dụng nên làm giảm hiệu quả và tuổi thọ của máy Mặt khác, do đất canh tác của các hộ còn manh mún, hệ thống thủy lợi và giao thông nội đồng còn nhiều bất cập.7

- Theo đề tài Điều tra tình hình sản xuất và kỹ thuật trồng lúa tại hai

xã Duy Nam và Hàm Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình của tác

giả Lê Quốc Việt thì nông dân canh tác theo kinh nghiệm, khả năng tiếp nhận và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật còn rất hạn chế Nông dân chưa áp dụng các biện pháp mới như sạ hàng, bón phân theo bảng so màu lá, IPM.8

Tuy nhiên, với các nghiên cứu trên các tác giả chỉ đưa ra những trở ngại trong việc ứng dụng kỹ thuật tiến bộ của nông hộ nhưng không đề cập

6Theo Nguyễn Thị Thu An, Phân tích hiệu quả sản xuất của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa của nông hộ xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, https://www.google.com.vn/url?sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=1&cad=rja&ved

san-xuat-cua-viec-ung-dung-hoa-hoc-ky-thuat-vao-san-xuat-lua-cua-nong-ho-xa-phu-tam- huyen, ngày cập nhật 02.10.2013

=0CCkQFjAA&url=http%3A%2F%2doc.edu.vn%2Ftai-lieu%2Fluan-van-phan-tich-hieu-qua-7 Theo Phan Hòa và cộng sự (2012), Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả cơ giới hóa khâu làm đất trồng lúa nước ở huyện Phú Vang,

tỉnh Thừa Thiên Huế, Tạp chí Khoa học - Đại học Huế, Tập 71, Số 2, tr 145-152

8

Theo Lê Quốc Việt, Điều tra tình hình sản xuất và kỹ thuật trồng lúa tại hai xã Duy Nam và Hàm Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, http://fa.hcmuaf.edu.vn/data, ngày cập nhật 29.11.2011

Trang 12

đến bên chuyển giao, hướng dẫn ƯDCN là ngành NN&PTNT, sự hỗ trợ của các Viện, trường Bên cạnh đó, rào cản ƯDCN còn có thể xuất phát từ các yếu tố khách quan khác như chính sách, kinh tế xã hội,… Với đặc thù tỉnh Sóc Trăng có đông đồng bào Khmer là nông hộ, điều kiện tự nhiên và

vị trí địa lý khác với các tỉnh khác, và đến nay chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào nhận diện các rào cản ƯDCN trong sản xuất lúa tại tỉnh Sóc Trăng

3 Mục tiêu nghiên cứu

Qua đề tài này tác giả muốn chỉ ra những rào cản ứng dụng công

nghệ trong sản xuất lúa đối với các nông hộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các trở ngại trong việc ƯDCN vào sản xuất lúa tại tỉnh Sóc Trăng

- Phạm vi không gian: Tại các huyện/thị có diện tích canh tác lớn là

Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Kế Sách, Trần Đề, và Mỹ Tú thuộc tỉnh Sóc Trăng

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2010 đến 2012

5 Mẫu khảo sát

- Mẫu khảo sát: 150 hộ sản xuất lúa tại 05 huyện/thị có diện tích canh tác lớn thuộc tỉnh Sóc Trăng (30 hộ/huyện, thị)

- Hình thức khảo sát: Phỏng vấn sâu các nhà quản lý, nhà khoa học

đã và đang thực hiện công tác chuyển giao công nghệ thuộc ngành Nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng và các hộ sản xuất lúa thông qua phiếu hỏi

6 Câu hỏi nghiên cứu

Yếu tố nào là rào cản ảnh hưởng đến việc ƯDCN trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Các rào cản làm ảnh hưởng đến việc ƯDCN trong việc sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng xuất phát từ:

- Nguồn lực nông hộ: trình độ và khả năng tiếp thu chuyển giao công nghệ còn thấp, ngôn ngữ giao tiếp, đất đai có diện tích nhỏ, rải rác, vốn đầu tư ít,…

Trang 13

- Nguồn lực ngành nông nghiệp: nhân lực KHCN thiếu về số lượng

và hạn chế về chất lượng, kinh phí hoạt động và đầu tư hạn chế,…

- Các chính sách: về tài chính, đất đai còn nhiều bất cập, cơ chế thu mua và xuất khẩu lúa gạo không ổn định,…

8 Phương pháp nghiên cứu

- Các hướng tiếp cận chủ yếu:

+ Tiếp cận lý thuyết: xã hội học

+ Tiếp cận phân tích và tổng hợp kết hợp thống kê bằng phần mềm SPSS, excel

- Phương pháp thu thập thông tin:

+ Nghiên cứu số liệu sơ cấp từ ngành nông nghiệp, tham khảo các nghiên cứu có liên quan

+ Phỏng vấn nông hộ về các tiêu chí như: ƯDCN, trình độ, số lao động trong hộ,

+ Phỏng vấn các nhà quản lý, nhà khoa học đã và đang thực hiện công tác chuyển giao công nghệ thuộc ngành Nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng, nông hộ

9 Kết cấu của Luận văn

Luận văn gồm: Phần mở đầu, phần nội dung, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục

Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về rào cản ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa

Chương II: Thực trạng ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

Chương III: Rào cản ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN ỨNG DỤNG CÔNG

NGHỆ TRONG SẢN XUẤT LÚA

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về rào cản

Theo http://tratu.soha.vn, “rào cản” đồng nghĩa với rào chắn, dùng để ví

sự trở ngại lớn khiến ngăn cách, cản trở

Theo http://en.wikipedia.org, rào cản (obstacle) còn gọi là rào chắn (barrier) hay một chướng ngại vật (stumbling block) là một đồ vật, một thứ gì

đó, một hành động hay tình huống gây trở ngại Do vậy, có những kiểu rào cản khác nhau, có thể là rào cản vật thể, kinh tế, tâm sinh lý, văn hoá, chính trị, kỹ thuật hay thậm chí là quân sự Tóm lại, có thể hiểu là việc ngăn, không cho vượt qua, là sự trở ngại, ngăn cách, đòi hỏi nhiều nỗ lực để vượt qua

Trong thực tiễn với bất kỳ một hoạt động nào của con người đều có thể gặp phải những rào cản làm cho hoạt động hay quá trình đó đi lệch hướng với mục tiêu đã đặt ra, không thể tiếp tục hoạt động hoặc hoạt động không đạt hiệu quả như mong muốn Những rào cản đó được tạo nên một hay nhiều yếu tố mang sắc thái tiêu cực gây nên

Hiện nay thuật ngữ “rào cản” được dùng khá phổ biến, tuy nhiên nó lại không phải là một thuật ngữ chính thống Chúng ta có thể hiểu một cách chung

về rào cản trong ƯDCN vào sản xuất lúa là những trở ngại, những yếu tố tiêu cực trong việc ƯDCN vào sản xuất

1.1.2 Khái niệm về công nghệ, ứng dụng công nghệ

Công nghệ

Theo PGS TS Trần Ngọc Ca, “Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép…) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác

Trang 15

(tổ chức, pháp chế, dịch vụ…) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ” [10; 2]

Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2000), “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” [28; điều 2]

Theo Luật Chuyển giao Công nghệ (2006), “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng

đề biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” [29; điều 3]

Ứng dụng công nghệ

Theo http://v2.vdict.com, “Ứng dụng là đưa lí thuyết áp dụng vào thực tiễn: ứng dụng các thành tựu khoa học, ứng dụng kĩ thuật vào sản xuất”

Như vậy, “Ứng dụng công nghệ” có thể hiểu là áp dụng vào thực tiễn

giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm

1.1.3 Khái niệm về chuyển giao công nghệ

Trước khi bàn về “chuyển giao công nghệ” cần phải phân tích thêm về thuật ngữ “chuyển giao” Cùng với thuật ngữ này, hiện nay tồn tại hai cách hiểu chính Cách thứ nhất có thể hiểu rằng “chuyển giao là phương thức mà một cá nhân/tổ chức/quốc gia có được công nghệ từ một cá nhân/tổ chức/quốc gia khác” Và như vậy, nó bao gồm bất kỳ hình thái, dạng thức nào truyền công nghệ từ nơi này sang nơi khác, trong đó bên giao sẽ mất đi cái được chuyển sang cho bên nhận Cách hiểu thứ hai cho rằng mọi hình thức truyền công nghệ như vậy không thể coi là “chuyển giao” và chỉ có thể coi là “chuyển giao” những gì mất tiền Trong trường hợp này, “chuyển giao” phải xảy ra trong khung cảnh tồn tại người mua và người bán công nghệ Vì thế khi xảy ra

cả trường hợp mất tiền và không mất tiền để có được công nghệ, có chuyên gia

đã đề nghị gọi là “truyền bá” hoặc “phổ biến” thay vì gọi là “chuyển giao”9

Trang 16

Với phạm vi nghiên cứu của luận văn này, thì “chuyển giao” ở đây mang tính “truyền bá”, “phổ biến” và “hỗ trợ” và có thể không mất tiền như

“chuyển giao” trong trường hợp thứ hai (phải mất tiền)

Theo Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD)

(2001), “chuyển giao công nghệ là việc chuyển giao kiến thức có hệ thống để sản xuất ra sản phẩm, áp dụng một quy trình hoặc thực hiện một dịch vụ”10

Theo Luật Chuyển giao Công nghệ (2006), “chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ” [29;

điều 3]

1.1.4 Khái niệm về vai trò của công nghệ

Theo http://tratu.vietgle.vn, “Vai trò là tác dụng, chức năng trong sự ảnh hưởng của cái gì đó, là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó”

Như vậy có thể hiểu, “vai trò của công nghệ” là tác dụng, chức năng của

tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm

1.1.5 Khái niệm về nguồn lực

“Nguồn lực” là tổng thể vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên,

hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường… ở cả trong và ngoài nước, có thể được khai thác nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế một lãnh thổ nhất định

Theo tác giả Lê Du Phong (2006), Nguồn lực và động lực phát triển

trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam), “nguồn lực là tổng hợp các yếu tố vật thể và phi vật thể tạo nên nền kinh tế của một đất nước

Trang 17

nguyên thiên nhiên, tài sản vốn bằng tiền Theo nghĩa rộng, nguồn lực được hiểu gồm tất cả những lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nhất định nào đó Tùy vào phạm vi phân tích, khái

niệm nguồn lực được sử dụng rộng rãi ở các cấp độ khác nhau: quốc gia, vùng lãnh thổ, phạm vi doanh nghiệp hoặc từng chủ thể là cá nhân tham gia vào quá trình phát triển kinh tế 11

1.1.6 Khái niệm về nhân lực, nguồn nhân lực

Theo Tự điển Wikipedia Tiếng Việt (http://vi.wikipedia.org), “nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội

Theo Nguyễn Kim Thản (2005), Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hoá Sài

Gòn, TPHCM, “Nhân lực là sức người, về mặt dùng trong lao động sản xuất”

Thuâ ̣t ngữ “nguồn nhân lực” (hurman resourses) xuất hiê ̣n vào thâ ̣p niên

80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý , sử dụng con người trong kinh tế lao động Nếu như trước đây phư ơng thức quản trị nhân viên (personnel management) với các đă ̣c trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành , phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao đô ̣ng của ho ̣ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực (hurman resourses management ) với tính chất mềm dẻo hơn , linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng , vốn có của ho ̣ thông qua tích lũ y tự nhiên trong quá tŕnh lao động phát triển Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ "nguồn nhân lực" là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong viê ̣c sử du ̣ng nguồn lực con người

"Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển

11

Theo Nguyễn Viết Khoa và cộng sự (2006) - Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Chương trình hỗ trợ

Trang 18

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau ) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế – xã hô ̣i của quốc gia, khu vực, thế giới 12

Như vậy, nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố

vâ ̣t chất, tinh thần ta ̣o nên năng lực , sức ma ̣nh phu ̣c vu ̣ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức

Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác đô ̣ng của toà n cầu hoá đối với nguồn nhân lực đã đưa ra đi ̣nh nghĩa nguồn nhân lực là trình

đô ̣ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn ta ̣i dưới da ̣ng tiềm năng của con người

Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá

Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội

Khái niệm "nguồn nhân lực" (Human Resoures) được hiểu như khái niệm "nguồn lực con người" Khi được sử dụng như một công cụ điều hành, thực thi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên

có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động

Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là

12 Tạ Ngọc Hải (2008) Một số nội dung về nguồn nhân lực và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực, Tạp chí

Tổ chức nhà nước số 1+2/2008, tr 64-70

Trang 19

nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả

số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà

là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội

Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến

bộ xã hội

“Nguồn nhân lực” bao gồm cả số lượng và chất lượng của dân số và

người lao động được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, sẵn sàng được huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Theo đó, nguồn nhân lực có 2 cách tiếp cận: (a) Cách tiếp cận rộng, coi nguồn nhân lực là toàn bộ nguồn lực

về con người bao gồm cả những người chưa đến tuổi lao động và những người trong độ tuổi lao động, (b) Cách tiếp cận hẹp, nguồn nhân lực được giới hạn trong số người ở tuổi lao động, thực chất là nguồn lao động sẵn sàng cung cấp

cho hoạt động kinh tế…

Ở Việt Nam, hiện nay thống nhất cách tiếp cận coi nguồn lực lao động bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người đang độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng chưa làm việc do đang trong tình trạng thất nghiệp, đang đi học, đang đảm đương nội trợ trong gia đình13…

Bộ Luật Lao động hiện hành của Việt Nam quy định "tuổi lao động" bao gồm các độ tuổi từ 15 đến hết 59 tuổi đối với nam và từ 15 đến hết 54 tuổi đối với nữ (theo khái niệm "tuổi tròn") Số còn lại là "ngoài tuổi lao động"

1.1.7 Khái niệm về vật lực

13Theo Nguyễn Viết Khoa và cộng sự (2006) - Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Chương trình hỗ trợ

Trang 20

Theo Nguyễn Kim Thản (2005), Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hoá Sài Gòn, TPHCM, “Vật lực là những phương tiện dùng vào công cuộc nào đó, là nguồn lực từ tiền bạc, vật chất…”

1.2 Vai trò của công nghệ trong sản xuất lúa tại Việt Nam

1.2.1 Tăng năng suất, chất lượng lúa

Cây lúa là cây lương thực chiếm vị trí quan trọng cho các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam Cho đến nay, hiện trạng sản xuất lúa gạo của nước ta đã đổi thay rất nhiều Mặc dù lúa vẫn là cây trồng chủ yếu, có

vị trí hết sức quan trọng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đóng góp khá lớn vào kim ngạch xuất khẩu nông sản nhưng diện tích trồng lúa lại đang thu hẹp dần do quá trình công nghiệp hóa

Tuy nhiên, nhờ các tiến bộ khoa học được áp dụng, khả năng thâm canh của nông dân được nâng cao, cho nên năng suất, sản lượng lúa vẫn tăng Theo ước tính của Bộ NN&PTNT, tổng diện tích lúa cả năm 2012 đạt gần 7,75 triệu ha, tăng 1,2% so với năm 2011; năng suất bình quân ước đạt

56 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha; sản lượng ước đạt 43,4 triệu tấn, tăng hơn 1 triệu tấn (+2,6%) so với năm trước

Có đựơc những kết quả trên, không chỉ nhờ những kinh nghiệm của

bà con nông dân trong viêc trồng lúa lâu năm, mà còn nhờ việc chúng ta đã biết áp dụng những công nghệ, khoa hoc kĩ thuật vào sản xuât, điều đó giúp cho năng suất đã tăng lên rõ rệt và chất lượng cũng tốt hơn Điều đó phản ánh qua một số công nghệ tiêu biểu sau:

- Công nghệ sinh học trong phòng trừ sâu bệnh hại lúa;

- Công nghệ lai tạo giống lúa,…

1.2.2 Tăng lợi nhuận và tiết kiệm lao động

Việc áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp sẽ: a) Nâng cao hiệu quả kỹ thuật; b) Nâng cao hiệu quả kinh tế; c) Giải phóng bớt lực lượng lao động trong nông nghiệp; d) Giảm cường độ lao động nặng nhọc cho nông dân

Cụ thể là: Tăng được hiệu quả sử dụng đất đai và lao động; Mở rộng được diện tích canh tác, đáp ứng yêu cầu sản xuất lớn; Tiết kiệm các nguồn:

Trang 21

giống, phân bón, nước, năng lượng, lao động, Cải thiện được chất lượng nông sản, sản phẩm; Bảo vệ môi trường; Tăng cường khả năng bền vững của sản xuất nông nghiệp; Giảm bớt cường độ lao động nặng nhọc và vất vả cho người lao động; Tăng lợi tức trong sản xuất nông nghiệp; Đáp ứng kịp thời vụ, tăng mùa vụ, hạn chế ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu…

Trước đây, trong quá trình cày cấy, thu hoạch, bà con nông dân phải dùng các công cụ thô sơ Ngày nay, máy móc đã được đưa vào sản xuất như: Máy trục bùn tự hành, công cụ gieo lúa theo hàng, máy gieo lúa theo hàng liên kết với máy kéo 4 bánh GLH 2800, máy gặt đập liên hợp, máy sấy lúa, máy cấy lúa MC8-20,…

Hình 1.1 Máy gặt đập liên hợp Yanmar

(Nguồn: PGS TS Mai Thành Phụng - KS Vũ Tiết Sơn - Trung tâm

Khuyến nông Quốc gia)

Hình 1.2 Máy cấy Kubota (Nhật Bản)

(Nguồn: PGS TS Mai Thành Phụng - KS Vũ Tiết Sơn - Trung tâm

Khuyến nông Quốc gia)

Trang 22

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT (Cổng thông tin Bộ NN&PTNT), hiện nay trên cả nước có khoảng 500 ngàn máy kéo các loại

sử dụng trong nông nghiệp, 19,2 ngàn máy thu hoạch lúa Trong sản xuất lúa còn sử dụng các loại máy như: máy sạ hàng kéo tay, sạ hàng có động

cơ, làm mạ khay, máy cấy, máy phun thuốc, máy bón phân dạng bột, dạng viên, dạng lỏng có động cơ và máy phun thuốc BVTV có động cơ và người ngồi điều khiển Sau thu hoạch có các loại máy sấy, máy làm sạch, máy phân loại hạt và máy chế biến gạo

Cơ giới hóa sản xuất lúa đóng vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp hiện đại, giúp giảm công lao động, giảm giá thành do tiết kiệm giống, vật tư nông nghiệp, giảm thất thoát, tăng lợi nhuận do tăng năng suất sản lượng Việt Nam là nước áp dụng cơ giới hóa sản xuất lúa thuộc loại cao trong khu vực, chủ yếu tập trung ở ba khâu: làm đất, thu hoạch và phơi sấy Ngoài ra các khâu canh tác và chế biến như gieo sạ, tưới tiêu, bón phân, phun thuốc cũng được áp dụng cơ giới hóa từ 30-90% tùy điều kiện của từng địa phương

Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi có tỷ lệ áp dụng cơ giới hóa khâu làm đất cao nhất (khoảng 90%) Nhiều tỉnh đã thực hiện cơ giới hóa làm đất 100% như Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ,… Hiện nay, khoảng 400 ha trong vùng đã sử dụng máy san phẳng đồng ruộng điều khiển bằng la-de (laser) do Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) chuyển giao cho hiệu quả cao vì có thể san phẳng đồng ruộng có độ cao chênh nhau trên 30cm xuống chỉ còn 3cm, rất thuận tiện cho các khâu gieo cấy, chăm bón, tưới tiêu và thu hoạch bằng máy

Từ trước tới nay tập quán của sản xuất lúa các tỉnh phía Nam là gieo vãi, các tỉnh phía Bắc là gieo mạ và cấy Các khâu này làm bằng tay tốn công và rất hao tốn giống Công cụ sạ hàng kéo tay ngày càng được cải tiến giúp cho diện tích gieo sạ thẳng hàng ngày càng nâng cao và phổ biến

ở ĐBSCL hàng chục năm nay và hiện đang triển khai rộng tại các tỉnh phía

Trang 23

Bắc như Thanh Hóa, Hà Nội,… Việc áp dụng máy cấy đã thay thế hàng trăm công lao động trên 1 ha mà còn đảm bảo yếu tố đồng đều, kịp thời vụ Muốn cấy bằng máy cần phải làm mạ khay theo phương pháp công nghiệp

Ngoài ra, các loại máy bón phân dạng hạt, dạng lỏng có động cơ, có thể dùng phun thuốc bảo vệ thực vật công suất lớn và giảm độc hại cho người sử dụng Máy phun thuốc công suất lớn tự vận hành có động cơ cũng được giới thiệu đáp ứng nhu cầu chăm sóc lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn14

Ngoài những công nghệ và máy móc nêu trên, rất nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong lĩnh vực nông nghiệp như: quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), kỹ thuật “ba giảm, ba tăng”, “một phải, năm giảm”, công nghệ sinh thái, các chế phẩm sinh học… trong sản xuất lúa giúp giảm chi phí về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giảm áp lực sâu bệnh, nâng cao chất lượng và giá trị của hạt lúa, tăng hiệu quả kinh tế

1.3 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ vào sản xuất lúa tại Việt Nam

Ngoài khí hậu và thời tiết, các nhân tố sau đây ảnh hưởng rất nhiều đến việc ƯDCN vào sản xuất lúa:

1.3.1 Nguồn lực của ngành nông nghiệp

- Nhân lực ngành nông nghiệp

Với vai trò cầu nối đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với nông dân, nhân lực ngành nông nghiệp giúp người nông dân tiếp cận với những phương thức sản xuất mới, hiện đại, từng bước ƯDCN cao trong lĩnh vực nông nghiệp, chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật,… từ khâu chuẩn bị đất sản xuất đến bảo quản và chế biến nông sản

Trang 24

Do đó, nhân lực ngành nông nghiệp sẽ tác động đến việc tiếp thu, ứng dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng phương án, triển khai trong sản xuất cho nông dân

- Tài lực cho nông nghiệp

Tài chính cho ngành nông nghiệp tác động rất lớn đến việc ƯDCN vào sản xuất lúa vì tài chính liên quan đến tất cả mặt về con người (quản lý và thực hiện); về nguyên vật liệu sản xuất, cơ giới phân bón, giống,… (vật lực); thông tin về các phương pháp, công nghệ sản xuất mới,… (tin lực) để ứng dụng vào sản xuất lúa

- Vật lực cho nông nghiệp:

Đất đai, nếu nông dân được sở hữu quyền sử dụng đất, địa hình và diện

tích đất bằng phẳng và ít manh mún thì họ cũng mạnh dạn hơn trong việc tăng vốn đầu tư và áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất lúa

Cơ sở hạ tầng, là điều kiện cho việc ƯDCN vào sản xuất nông nghiệp

nói chung và sản xuất lúa nói riêng

Máy móc, thiết bị, việc thay thế lao động thủ công bằng máy móc, giảm

chi phí sản xuất, giảm tổn thất, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, đáp ứng các yêu cầu về sản phẩm hàng hoá và tăng thu nhập cho nông dân

1.3.2 Nguồn lực của nông hộ

- Trình độ và khả năng tiếp thu công nghệ của nông hộ

Trình độ của nông dân trồng lúa sẽ là những rào cản trong việc tiếp

thu và ƯDCN vào sản xuất

- Tài lực và vật lực của nông hộ

Sự yếu kém về tài lực và vật lực sẽ là trở ngại cho nông dân trong ƯDCN vào sản xuất lúa vì thiếu vốn đầu tư cho tái sản xuất

- Tâm lý nông dân

Việc thờ ơ trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào trong sản xuất, bảo thủ canh tác theo tập quán cổ truyền, làm theo thói quen,…

Trang 25

1.3.3 Ngôn ngữ của nông hộ và người hướng dẫn

Sự bất đồng ngôn ngữ giữa người hướng dẫn và người được hướng dẫn

sẽ là rào cản trong việc ƯDCN vào sản xuất

1.3.4 Hình thức khuyến nông và phương pháp khuyến nông

Hình thức khuyến nông và phương pháp khuyến nông sẽ góp phần nâng cao trình độ dân trí, trình độ kỹ thuật đế ứng dụng vào sản xuất

1.3.5 Tài liệu hướng dẫn

Tài liệu tập huấn, hướng dẫn khuyến nông là công cụ quan trọng

giúp nông dân nắm được thông tin để dễ dàng ứng dụng vào sản xuất 1.3.6 Các chính sách hỗ trợ nông hộ sản xuất lúa

Nếu các chính sách này hiệu quả sẽ tăng thêm tài lực để nông dân có thể đầu tư, ƯDCN vào sản xuất

1.3.7 Tác động của kinh tế xã hội

- Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá

Quá trình đô thị hoá tăng, diện tích đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp cho nên nhiều vùng sản xuất lúa được nông dân sở hữu rất manh mún, khó cơ giới hóa trong sản xuất

- Thị trường thương mại thế giới

Để đáp ứng tiêu chuẩn về chất lượng nông sản cho thị trường này việc ƯDCN vào sản xuất lúa cũng được đẩy mạnh để đáp ứng các yêu cầu cam kết gia nhập

1.3.2 Rào cản ứng dụng công nghệ

Trang 26

Ngày nay với sự tiến bộ vượt bậc về khoa học và công nghệ thì việc ƯDCN vào sản xuất là một tất yếu nhằm tạo ra sản lượng và chất lượng cao hơn, đáp ứng với nhu cầu xã hội và thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu Việc sử dụng cơ giới hoá, ứng dụng các tiến bộ KH-KT và công nghệ vào sản xuất như dùng các biện pháp sinh học, phân bón, cây hoặc con giống tốt trong sản xuất để đạt năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng bệnh, và thích nghi điều kiện tiểu vùng sinh thái và biến đổi khí hậu, nâng cao giá trị sản phẩm, giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận cho nông dân, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Tuy nhiên, việc nông dân ƯDCN vào sản xuất gặp rất nhiều “rào cản” trong điều kiện thay đổi về môi trường tự nhiên và xã hội hiện nay, đó là các trở ngại về nhân lực, vật lực, tài lực, và thậm chí là tin lực (của cả nông dân và bên hướng dẫn, chuyển giao như ngành nông nghiệp, ngành KH&CN, các viện, trường…), và các chính sách thể chế hỗ trợ từ nhà nước, tác động từ kinh

tế - xã hội… để tạo ra sản phẩm phục vụ đời sống

Như vậy, xét theo nghĩa chung nhất thì “rào cản ứng dụng công nghệ” là

những thứ gì gây trở ngại, khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ

Kết luận chương 1

Tóm lại, các nhân tố chính như nguồn lực của nông hộ, của ngành nông nghiệp, hình thức và phương pháp khuyến nông, các chính sách hỗ trợ, tác động của kinh tế xã hội… đều có những yếu tố ảnh hưởng tích cực

và tiêu cực đến việc ƯDCN vào sản xuất lúa

Tuy các “rào cản” và những “yếu tố ảnh hưởng tiêu cực” của việc ƯDCN vào sản xuất lúa (sau đây gọi là “rào cản” và những “yếu tố hưởng tiêu cực”) cùng có tác động ngăn cản việc ƯDCN Nhưng có sự khác nhau giữa “rào cản” và những “yếu tố ảnh hưởng tiêu cực” trong việc ƯDCN vào sản xuất lúa, và không phải lúc nào những “yếu tố ảnh hưởng tiêu cực” đều là những rào cản do:

Trang 27

- Những “yếu tố ảnh hưởng tiêu cực” phát sinh từ những việc lạm dụng công nghệ như: lạm dụng phân bón, thuốc trừ sâu làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người bón phân, phun thuốc, gây ô nhiễm môi trường và an toàn thực phẩm; lạm dụng quá nhiều số lượng giống cần thiết gây lãng phí về tài chính và thấp kém về năng suất;… từ đó dẫn đến sản xuất lúa không hiệu quả, thiệt hại về tài chính và sức khoẻ con người,…gây thiếu hụt, khó khăn về tài chính, nhân lực, vật lực…Từ đây tạo ra tâm lý nghi ngại trong ƯDCN

- Còn các “rào cản” là những khó khăn, trở ngại về nhân lực, vật lực, tài lực, và các chính sách thể chế hỗ trợ từ nhà nước có liên quan, tác động từ kinh tế - xã hội… trong quá trình sản xuất lúa

Cho nên, có thể kết luận thêm: chính những “yếu tố ảnh hưởng tiêu cực” trong việc ƯDCN vào sản xuất lúa cũng là một trong những nguyên nhân tạo ra các “rào cản” này

Tất cả các luận điểm trên sẽ là cơ sở cho việc nhận dạng rào cản ƯDCN vào sản xuất lúa của địa phương tỉnh Sóc Trăng, để từ đó đề ra những khuyến nghị chung nhằm hạn chế các rào cản này

Trang 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG SẢN

XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SÓC TRĂNG

2.1 Tình hình chung tại Việt Nam cho việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất lúa

2.1.1 Nguồn lực của ngành nông nghiệp Việt Nam

- Nhân lực ngành nông nghiệpViệt Nam

Tại Hội thảo về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực lãnh đạo, quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn diễn ra tại Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội ngày 10/4/2010, TS Nguyễn Thắng, hiệu trưởng Trường Cán bộ quản

lý nông nghiệp và phát triển nông thôn 2 cho biết với số lượng 60,7 triệu nông dân, chỉ có 4.847 người làm công tác khuyến nông chuyên trách hưởng lương từ ngân sách nhà nước;10.543 người làm công tác khuyến nông không chuyên trách và 15.744 cộng tác viên thôn bản

Theo GS.TS Đỗ Kim Chung (Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) dẫn

ra kết quả điều tra về năng lực người làm công tác lãnh đạo và quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn, có đến 61% nhân lực là lãnh đạo, quản lý nông nghiệp trưởng thành từ các người làm công tác kỹ thuật, chưa được đào tạo bài bản về quản lý; hơn 70% đều tốt nghiệp ở các trường đại học và quản lý hơn

14 năm trở lên, chưa được trang bị các kiến thức mới; khoảng 75% chưa được đào tạo cơ bản về kiến thức và kỹ năng quản lý nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới Trình độ, ngoại ngữ, tin học của đội ngũ này cũng rất hạn chế, đặc biệt ở các huyện nghèo, cùng sâu vùng xa.15

Ngoài ra, nguồn nhân lực hệ thống khuyến nông còn thiếu và hạn chế về năng lực: Hệ thống tổ chức khuyến nông nhà nước tuy được coi trọng nhưng còn thiếu nguồn lực, bề dày kinh nghiệm trong việc hoạch định chiến lược và triển khai các hoạt động khuyến nông Cấp cơ sở mới có 4.847 người làm công tác khuyến nông chuyên trách hưởng lương từ nguồn ngân sách nhà nước Tỷ

15

Theo Hiếu Nguyễn, Lối đi nào cho nhân lực cán bộ ngành NN&PTNN, ttp://gdtd.vn/chan

nao-cho-nhan-luc-can-bo-nganh-nnampptnn-1925096/, ngày cập nhật 10.4.2010

Trang 29

nel/2741/201004/hoi-thao-dao-tao-boi-duong-can-bo-lanh-dao-quan-ly-nnampptnt-loi-di-lệ người làm công tác khuyến nông được đào tạo về nghiệp vụ thấp (khoảng 15%) nên khả năng truyền đạt kiến thức cho bà con nông dân còn hạn chế, nhất là đối với nông dân nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số

Tại ĐBSCL, tính đến năm 2010, đội ngũ nhân lực ngành nông nghiệp tại các cấp xã, phường thị trấn có trình độ cao đẳng, đại học chỉ đạt khoảng 15%; trình độ của một số nhân lực quản lý tại các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu chuyên gia đầu ngành

- Tài lực cho nông nghiệp Việt Nam

Nông nghiệp Việt Nam đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, vốn tỷ trọng đầu tư cho nông nghiệp ngày càng giảm Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2005 giảm xuống 3,7%, năm 2011 ước đạt từ 2,4% - 2,6% Một trong những nguyên nhân của điều này là do đầu tư cho nông nghiệp ngày càng giảm dần, không tương xứng với sự đóng góp của nông nghiệp cho nền kinh tế

Số vốn đầu tư vào ngành nông nghiệp của Nhà nước bị giảm mạnh Năm 2000, tỷ trọng đầu tư vào ngành nông nghiệp chiếm 13,85% tổng đầu tư của xã hội, năm 2005 chỉ còn 7,5%, năm 2008 - 6,45%, năm 2009 - 6,26%, và hiện đầu tư vào nông nghiệp chỉ chiếm chưa đến 3% tổng sản phẩm quốc nội

Với gần 70% dân số sống ở khu vực nông thôn nhưng kinh phí đầu tư cho khuyến nông của Việt Nam rất khiêm tốn Năm 2012, tổng kinh phí đạt

550 tỷ đồng, bình quân mỗi hộ nông dân được đầu tư khoảng 2,5USD, trong khi một số quốc gia nông nghiệp trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Philipin, Indonesia… mức đầu tư bình quân từ 50 – 80 USD/hộ nông dân

Hàm lượng khoa học công nghệ đầu tư cho nông nghiệp so với các nước trong khu vực thì Việt Nam có mức đầu tư thấp nhất Hàn Quốc chỉ

có 2,7 triệu ha đất nông nghiệp, nhưng hàm lượng đầu tư khoa học công nghệ tới 660 USD/ha, trong khi đó Việt Nam có đến 9,4 triệu ha nhưng hàm lượng đầu tư khoa học công nghệ chỉ khoảng 6 USD/ha

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quốc Nghi về Các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ ở

Trang 30

tỉnh Đồng Tháp (năm 2009 - 2010), trong số 15 nhân tố ảnh hưởng đến

ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thì nhân tố khả năng tài chính đứng thứ ba sau diện tích đất sản xuất và nguồn lao động

- Vật lực cho nông nghiệp Việt Nam

Về đất đai, Luật Đất đai năm 2003 được hoàn thiện và sửa đổi, quyền

của người sử dụng đất được mở rộng hơn, được chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho tặng hoặc dùng góp vốn để hình thành pháp nhân mới Với việc nông dân được giao quyền sử dụng đất, tăng vốn đầu tư và áp dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp, do đó từ năm 1988 đến năm 2012, sản lượng lúa liên tục tăng 5%/năm và năm 2011, đã đạt 42,32 triệu tấn, gấp 2,4 lần con số

17 triệu tấn của năm 1988, lượng gạo xuất năm 2011 đạt trên 7 triệu tấn

Bảng 2.1 Dân số nông thôn và bình quân đất nông nghiệp

trên đầu người của Việt Nam 16

DÂN SỐ NÔNG THÔN VÀ BÌNH QUÂN ĐẤT NÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐẦU NGƯỜI CỦA VIỆT NAM

(triệu người)

Tỷ lệ dân số nông thôn (%)

Cả nước hiện có 4,09 triệu ha đất lúa Từ năm 2000 - 2009 đất lúa giảm 378,7 ngàn ha, tốc độ giảm bình quân 1,1%/năm do chuyển sang đất phi nông nghiệp 29% (168 ngàn ha), chuyển trong nội bộ ngành nông nghiệp 71% (415

16

http://www.tapchitaichinh.vn/Trao-doi-Binh-luan/Chinh-sach-dat-dai-phat-trien-tam-nong-Nhung-van-de-dat-ra/14637.tctc, Chính sách đất đai phát triển "tam nông": Những vấn đề đặt ra, 03.10.2012

Trang 31

ngàn ha); trong giai đoạn này đất lúa được bổ sung 205 ngàn ha, do khai thác đất chưa sử dụng, chuyển đổi từ đất nông nghiệp và các loại đất khác

Vùng có đất lúa giảm nhiều nhất là ĐBSCL, giảm 288,1 ngàn ha (chiếm 49,4% đất lúa bị giảm cả nước); Một số tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm quốc gia, có tốc độ phát triển công nghiệp và đô thị nhanh, nên tốc độ giảm đất lúa cũng khá cao17

Về cơ sở hạ tầng, theo Báo cáo Tổng kết thực hiện kế hoạch năm 2011

của Bộ NN&PTNT thì hạ tầng nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được nâng cấp

và từng bước hiện đại hoá, tạo điều kiện cho việc ƯDCN vào sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng

Đối với phát triển thuỷ lợi: Tổng năng lực tưới của các hệ thống ước đạt 3,47 triệu ha đất canh tác, đảm bảo tiêu thoát nước cho 1,76 triệu ha đất nông nghiệp Các công trình thuỷ lợi còn góp phần ngăn mặn cho 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha, duy trì cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp trên 5,65 tỷ m3/năm

Về máy móc, thiết bị, mục tiêu của cơ giới hoá trong sản xuất nông

nghiệp là tăng năng suất lao động, thay thế lao động thủ công bằng máy móc, giảm chi phí sản xuất, giảm tổn thất, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, đáp ứng yêu cầu về sản phẩm hàng hoá, tăng thu nhập cho nông dân

Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, quá trình cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp vùng đã đưa năng suất lúa bình quân từ 4,3 tấn/ha lên 6,9 tấn/ha (trong năm 2012), đồng thời sản lượng tăng từ 16 triệu tấn lúa lên gần 22 triệu tấn lúa Cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp đã giảm đáng kể những tổn thất và gia tăng giá trị cho ngành hàng lúa gạo vùng ĐBSCL

Mức độ cơ giới hóa trong sản xuất lúa ở ĐBSCL hiện còn thấp và không đồng đều giữa các khâu như: Làm đất đạt khoảng 90% so với nhu cầu, bơm nước đạt khoảng 95% - 100%, gieo sạ bán cơ giới đạt khoảng 70% - 75%; thu hoạch đạt 60% - 65% Trong khi đó, mức sử dụng máy gặt đập liên hợp đạt

17 Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010), Báo cáo kết quả thực hiện lời hứa và tổng hợp trả lời chất vấn của các đại

Trang 32

khoảng 45% - 50%, sấy chỉ đạt 38,7%, bảo quản đúng yêu cầu kỹ thuật chỉ đạt khoảng 15% tổng công suất trên 3,5 triệu tấn; xay xát lúa gạo đạt xấp xỉ 95% Còn các khâu như gieo sạ, cấy, làm cỏ và phun thuốc có mức độ cơ giới hóa rất thấp, chủ yếu vẫn là lao động thủ công

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT18, công tác khuyến nông cả nước ta

gặp những khó khăn sau:

- Điều kiện làm việc, trang thiết bị phục vụ hoạt động khuyến nông còn thiếu thốn, lạc hậu; chính sách, chế độ đãi ngộ đối với người hoạt động khuyến nông còn thấp, chưa thu hút và tạo động lực để cán bộ khuyến nông yên tâm công tác

- Kinh tế thế giới tiếp tục suy thoái ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống trong nước; lạm phát tăng cao, giá giống cây trồng, vật nuôi, vật tư, máy, thiết

bị nông nghiệp tăng cao và không ổn định, nguồn vốn tín dụng đầu tư cho sản xuất kinh doanh rất khó khăn hạn chế khả năng đầu tư thâm canh và áp dụng tiến bộ kỹ thuật cũng như triển khai các dự án khuyến nông

- Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 21/02/2011 của Chính phủ

về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ

mô, bảo đảm an sinh xã hội, mức đầu tư cho hoạt động khuyến nông ở hầu hết các địa phương cũng bị hạn chế; ở trung ương các chương trình, dự án khuyến nông phải tiết kiệm 10% nên nhiều dự án, hoạt động phải thay đổi, điều chỉnh, một số nội dung hoạt động bị cắt giảm dẫn đến kết quả và hiệu quả hoạt động khuyến nông cũng bị hạn chế

2.1.2 Nguồn lực của nông hộ Việt Nam

- Trình độ và khả năng tiếp thu công nghệ của nông hộ

Theo GS.TS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, số nông dân giỏi của chúng ta chỉ chiếm khoảng 10%, trung bình là 20%, còn lại là yếu kém, kỹ thuật canh tác của họ rất tùy tiện, và số lượng nông dân này đang có xu hướng tăng dần Lực lượng lao động nông

18 Bộ Nông nghiệp và PTNT (2012), Báo cáo Tổng kết công tác khuyến nông toàn quốc năm 2011 và triển

khai kế hoạch khuyến nông năm 2012,

Trang 33

nghiệp chiếm đến 65% lao động của cả nước và chiếm khoảng 20% GDP Và nguồn lao động nông nghiệp qua đào tạo trong cả nước chỉ chiếm có 24%, khu vực nông thôn nơi trực tiếp sản xuất chỉ chiếm khoảng 13%, con số này quá thấp.19

Biểu đồ 2.1 Trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đã đạt được của dân

số từ 15 tuổi trở lên theo giới tính và thành thị/nông thôn

qua đợt Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009

(Nguồn:http://portal.thongke.gov.vn/khodulieudanso2009/Tailieu/AnPham/

ChuyenKhaoGiaoDuc/Chuong6.pdf)

Theo kết quả của đợt Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, nếu tính theo khu vực, tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên chưa qua trình độ đào tạo nào cao nhất là ĐBSCL (93,4%) Những người chưa được đào tạo chủ yếu là lao động

cá thể trong các lĩnh vực nông, lâm, thủy sản.20

- Tài lực của nông hộ

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, nếu như năm 2001, dư nợ cho vay ở vùng ĐBSCL chỉ đạt 23.430 tỷ đồng thì đến năm 2011, mức dư nợ cho vay toàn vùng đã đạt 247.762 tỷ đồng (tăng hơn 10 lần, chiếm 9,41% trong tổng dư nợ cho vay của cả nền kinh tế) Trong tổng dư nợ này, phần lớn là cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, góp phần cải thiện đời sống

19

Theo Nguyễn Huyền, Trình độ sản xuất của nông dân mình quá yếu,

http://www.demen.vn/thongtinnongnghi ep/446, ngày cập nhật 15.8.2008

20Theo Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và Nhà ở Trung ương (2010), Báo cáo kết quả chính thức

Trang 34

nông dân Cụ thể, mức dư nợ tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn những năm gần đây liên tục tăng và chiếm tỷ trọng đáng

kể trong tổng dư nợ với các mức lần lượt là 28,2% (năm 2009) và 26,8% (năm 2011)

Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc cung cấp các nguồn vốn cho khu vực nông nghiệp và đối tượng nông dân ở ĐBSCL, nhưng nhìn chung các nguồn vốn thời gian qua vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng, bền vững Và hệ lụy tất yếu là việc ƯDCN vào sản xuất lúa cũng gặp nhiều khó khăn

Theo nhận định của TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL, sự phát triển của vùng ĐBSCL những năm gần đây nông dân trồng lúa ngày càng nghèo vì phải đối mặt với nhiều khó khăn do thiên tai, dịch hại; chi tiêu gia đình ngày càng cao do giá cả tăng; đầu tư cho sản xuất cao (giá vật tư cao, ứng vật tư sản xuất trước và trả lại sau khi thu hoạch mùa vụ lãi suất cao, trả lãi ngân hàng và trả nợ); thu nhập thấp do giá bán thấp, thị trường bấp bênh21

- Vật lực của nông hộ

Về đất đai, Việt Nam có khoảng 75 triệu thửa đất canh tác đã giao cho

9.259 nghìn hộ gia đình, cá nhân sử dụng Tình trạng manh mún đất đai ở nước

ta nói chung đang là vấn đề bức xúc và cản trở quá trình dịch chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá, cản trở việc ƯDCN vào sản xuất như san phẳng mặt ruộng bằng tia laser, việc sử dụng cơ giới trong sản xuất…

Thực tế cho thấy, với chủ trương của nhà nước về xây dựng “cánh đồng mẫu lớn” ngoài việc để tiết tiệm chi phí sản xuất như phân, giống, nhiên liệu cho việc bơm tưới nước… thì việc ƯDCN càng khả thi hơn Nếu nông hộ có diện tích đất canh tác manh mún thì khó thuê mướn hoặc tự mua máy móc phục vụ sản xuất do khó khăn vận chuyển và hoạt động máy móc

21 http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=19244&print=true: Huy Vũ, Để nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long bớt khó khăn vì “khát” vốn, , ngày cập nhật 17.12.2012

Trang 35

Về máy móc, cơ giới, ĐBSCL là vùng an ninh lương thực và sản xuất

nông nghiệp trong điểm với sản lượng lúa chiếm 52% và 90% lượng gạo xuất khẩu cả nước, nhưng điểm yếu nhất là cơ giới hoá trong nông nghiệp chỉ tập trung ở khâu làm đất, vận chuyển và xay xát lúa gạo; còn các khâu gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch lúa thì mức độ cơ giới hoá rất thấp, chủ yếu

là lao động thủ công Hiện nay, khu vực ĐBSCL có khoảng 3.000 máy gặt đập liên hợp, 3.500 máy gặt rải hàng Năng lực máy móc chỉ đáp ứng được khoảng 15% diện tích thu hoạch lúa toàn vùng

- Tâm lý nông dân

Thứ nhất, nông dân vẫn chưa thật sự sẵn sàng để tiếp thu và ƯDCN vào sản xuất

Hàng năm, ngành nông nghiệp phối hợp với các doanh nghiệp hoặc tự mình đứng ra tổ chức hàng trăm mô hình đưa tiến bộ kỹ thuật ra đồng ruộng, nhằm nâng cao năng suất cây trồng để góp phần nâng cao thu nhập cho bà con nông dân Tuy nhiên, sau khi kết thúc mô hình thì chẳng mấy hộ áp dụng được vào thửa ruộng của mình Có rất nhiều nguyên nhân như:

+ Để đạt được như mô hình trình diễn nông dân khó đáp ứng, trong khi vật tư đầu vào của nhà nông khá cao, giá bán nông sản lại thấp Nếu nhà không

có người làm mà phải thuê toàn bộ thì làm ruộng thậm chí còn lỗ

+ Hiện nay, diện tích ruộng của các hộ nông dân chỉ đạt khoảng 6, 7 sào/hộ nhưng lại không tập trung, mà nằm ở nhiều xứ đồng khác nhau Điều đó

đã hạn chế việc đưa tiến bộ kỹ thuật, đưa cơ giới vào sản xuất

+ Việc dồn điền đổi thửa mặc dù đã được tiến hành từ lâu nhưng hiệu quả đạt được rất thấp

+ Tình trạng thiếu hụt lao động ngày càng trầm trọng Lực lượng lao động trẻ, có trình độ hầu hết đều “ly hương, ly nông” tìm các việc làm khác ở thành phố với mong muốn có thu nhập cao hơn Họ chỉ quay trở về quê khi vào vụ cấy hoặc thu hoạch

Thứ hai, nông dân lúc nào cũng ngại tình trạng nhiều người biết, nhiều người làm, nếu có hộ đưa được giống nào có hiệu quả vào đồng ruộng thì chỉ

Trang 36

được một vài vụ là cả làng, cả xã trồng theo trong khi nhu cầu của thị trường

có hạn và lại dẫn đến hiệu quả thấp

2.1.3 Ngôn ngữ của nông hộ và người hướng dẫn tại Việt Nam

Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm 86,2% dân số Còn lại là dân tộc thiểu số (chiếm 13,8%), và đông dân nhất là Tày, Thái, Mường, Khmer, Hoa,

Khi tập huấn hoặc hướng dẫn nông hộ là người dân tộc thiểu số thực hiện hoặc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, ngôn ngữ sẽ là rào cản để khuyến khích trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và bổ sung kiến thức mới, nếu tập huấn viên không nói được tiếng dân tộc hoặc người phiên dịch không đảm bảo tốt việc chuyển tải thông tin, tất nhiên nông hộ sẽ không tiếp thu tốt kiến thức

để ứng dụng, họ sẽ canh tác theo tập quán hoặc làm theo cộng đồng

2.1.4 Hình thức khuyến nông và phương pháp khuyến nông

Hiện nay, Việt Nam có các hình thức và phương pháp khuyến nông:

a Một số hình thức khuyến nông chủ yếu:

- Nhịp cầu nhà nông, cùng nông dân ra đồng, chuyện nhà nông, …

- Hoạt động tuyên truyền thông qua các hội thi, hội chợ và Diễn đàn khuyến nông @ công nghệ

- Thông tin trên trang web khuyến nông,

b Một số phương pháp khuyến nông

- Phương pháp khuyến nông cá nhân: Thăm nông dân trên hiện trường, nông dân đến thăm cơ quan khuyến nông, gửi thư và gọi điện

- Phương pháp khuyến nông nhóm: Hội họp, trình diễn (phương pháp và kết quả), hội thảo đầu bờ, tham quan,…

- Phương tiện thông tin đại chúng: Truyền thanh (nghe), phương tiện nhìn, kết hợp nghe và nhìn (tivi và video), ấn phẩm (đọc như: áp phích, tờ rơi, nông lịch treo tường, báo chí, sách hướng dẫn kỹ thuật,…

Theo Báo cáo Tổng kết hoạt động khuyến nông khuyến ngư giai đoạn

1993 – 2008 của Bộ NN&PTNT, khuyến nông khuyến ngư Việt Nam đã bám sát các chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp trọng điểm, chuyển giao

Trang 37

thành công nhiều tiến bộ kỹ thuật, góp phần tăng nhanh sản lượng nông nghiệp trên cả nước, góp phần nâng cao trình độ dân trí, trình độ kỹ thuật và kỹ năng

tổ chức sản xuất, quản lý để tăng thu nhập, cải thiện đời sống người nông dân

và góp phần quan trọng trong công cuộc "xoá đói giảm nghèo"

Tuy nhiên, hoạt động khuyến nông chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhóm đối tượng nông dân khác nhau, nội dung và phương pháp đào tạo, tập

huấn chưa phù hợp với nhu cầu thức tế đòi hỏi ngày càng cao của người dân

Công tác đào tạo kỹ năng nhân lực khuyến nông còn yếu Các chương trình tập huấn có rất ít nội dung về phương pháp khuyến nông, phương pháp tập huấn

và giao tiếp Nhìn chung, công tác đào tạo nhân lực khuyến nông vẫn chưa đáp ứng so với nhu cầu phát triển của hệ thống khuyến nông Việt Nam

Đặc biệt, chưa có kênh thông tin tuyên truyền khuyến nông - khuyến ngư phù hợp cho đồng bào dân tộc ít người

2.1.5 Tài liệu hướng dẫn

Theo Báo cáo của Bộ NN&PTNT, kết quả công tác thông tin tuyên truyền 1993 - 2008 đã chuyển tải một lượng thông tin đáng kể đến người sản xuất với 27.705.220 xuất bản phẩm từ trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư quốc gia và các trung tâm KN-KN trong cả nước gồm: 13.688.594 sách kỹ thuật, 12.281.702 tờ gấp, tranh…, 1.478.563 bản tin và 256.361 băng, đĩa hình Ngoài ra, số lượng bản tin KN-KN phát hành trong thời gian qua là: 644.000 bản, hiện nay trung tâm KN-KN Quốc gia đã phát hành 2 số/tháng tới hơn 10.000 địa chỉ và tới 40% số xã sản xuất nông nghiệp trong cả nước

Với số lượng khá lớn như trên thì tài liệu hướng dẫn khuyến nông tác động rất lớn đến ƯDCN vào sản xuất Tuy nhiên, nếu nội dung tài liệu hướng dẫn không phù hợp với khả năng về tài lực, vật lực thì nông dân

cũng khó áp dụng, làm theo

2.1.6 Các chính sách hỗ trợ nông hộ sản xuất lúa tại Việt Nam

Trong những năm qua, Nhà nước đã quan tâm và có định hướng đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, và đã ban hành nhiều chính sách để

Trang 38

hỗ trợ nông dân ƯDCN vào sản xuất, riêng đối với sản xuất lúa thì có một

số chính sách có liên quan như:

- Quyết định 63/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được ban hành ngày 15/10/2010 Về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản, sau được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định 65/2011/QĐ-TTg vào ngày 2/12/2011 (gọi tắt là Quyết định 63)

Theo Quyết định 63, nông dân sẽ được hỗ trợ 100% lãi suất trong hai năm đầu và 50% lãi suất trong năm thứ ba khi vay vốn ưu đãi mua máy móc có tỷ lệ nội địa từ 60% trở lên (theo danh mục do Bộ NN&PTNT quy định) Thế nhưng hầu hết nông dân đều cho rằng, hiện máy móc được sản xuất trong nước chất lượng chưa cao Vì vậy, đây là một yêu cầu bất hợp

lý khiến cho quyết định trên chưa thể đi vào thực tế

Theo danh sách các cá nhân, tổ chức bán máy móc, thiết bị được Bộ NN&PTNT "đính kèm" Quyết định 63, thì hầu hết trong số đó đều đóng trên địa bàn các tỉnh miền Tây Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội Nếu mua một chiếc máy cày đáp ứng điều kiện vay vốn theo Quyết định 63, thì rất xa cho nông dân ở các tỉnh khác Máy đem về sử dụng nếu

có hỏng hóc, hay cần thay phụ tùng lại phải vào tận nơi bán Như vậy, chi phí để mua một chiếc máy cày nội địa không chênh lệch nhiều so với máy nhập ngoại Vì vậy, nông dân chỉ mua máy ở các cửa hàng trong tỉnh, vừa được bảo hành, lại có phụ tùng thay thế

- Các nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Quyết định số 497/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn; Quyết định số 2213/QĐ-TTg, ngày 31/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 497/QĐ-TTg nhằm hỗ trợ đúng đối tượng, đặc biệt là các hộ gia đình và cá nhân ở khu vực nông thôn, thực hiện được mục tiêu ngăn chặn suy giảm và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển

Trang 39

Các chính sách này khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn bất cập, thể hiện qua cơ chế tài chính quy định còn chưa rõ, chưa quy định nguồn cụ thể để đầu tư; thủ tục để nhận các khoản hỗ trợ còn rườm rà và phức tạp; một số nội dung hỗ trợ (vận tải, tư vấn, phát triển thị trường…) chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp; thiết kế còn phức tạp, khó tính toán các khoản hỗ trợ nên chưa tạo đột phá thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

- Gói kích cầu cho sản xuất nông nghiệp năm 2009

Nông dân gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp nhận được nguồn vốn, vì quá nhiều thủ tục ràng buộc khiến nông dân khó đủ điều kiện được vay Gói kích cầu không được sử dụng hết, ngân hàng có rất nhiều tiền và muốn được giải ngân, nông dân rất cần tiền nhưng không thể vay được do những điều kiện không thích hợp như mua vật tư, hàng hoá phải có hoá đơn tài chính, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất lúa phải xuất xứ của Việt Nam, trong khi máy của Việt Nam giá cao hơn máy ngoại và tính năng ít hơn…

2.1.7 Tác động của kinh tế xã hội đến việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất lúa tại Việt Nam

- Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá

Trong quá trình công nghiệp hoá, việc co hẹp diện tích đất nông nghiệp để xây nhà máy và các công trình dịch vụ khác là điều tất yếu Giảm bớt đất canh tác của nông dân, thay đổi cơ cấu lao động ở nông thôn, chuyển lao động thuần nông sang lao động khác tạo ra nhiều giá trị sản phẩm và giá trị gia tăng hơn, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu

kinh tế.v v., là những tất yếu Tuy nhiên, việc thu hẹp diện tích đất canh tác nông nghiệp để công nghiệp hoá và đô thị hoá ồ ạt như mấy năm gần đây ở nước ta, đã tạo nên những tác động tốt và không tốt đến đời sống người dân ở nông thôn, nhất là những người nông dân, hàng nghìn hộ nông dân mất đất sản xuất, thiếu việc làm nên một bộ phận gia đình nông dân có thu nhập thấp và mức sống giảm dần; thiếu vốn cho tái sản xuất

Trang 40

Ngoài ra, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, một phần lao động trẻ nông nghiệp chuyển dịch đến các khu vực công nghiệp và đô thị,

số nông dân trẻ ở lại nông thôn ít được đào tạo, thiếu kinh nghiệm sản xuất, thậm chí vào thời điểm thời vụ tập trung ở một số vùng có tình trạng thiếu lao động dẫn đến giá công lao động cao, giá thành sản xuất tăng

- Thị trường thương mại thế giới

Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, đây là cơ hội lớn tạo điều kiện thuận lợi cho lúa gạo

và các loại sản phẩm nông nghiệp khác có quyền bình đẳng tham gia vào thị trường thương mại nông sản của thế giới

Nhằm đáp ứng được các tiêu chuẩn thâm nhập này, việc ƯDCN vào sản xuất lúa theo đó cũng được đẩy mạnh nhờ các thể chế chính sách không ngừng được cải thiện để đáp ứng các yêu cầu cam kết gia nhập Điều này tạo điều kiện cơ hội cho ngành nông nghiệp phát triển ổn định, sản xuất và xuất khẩu lúa đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế

2.2 Chủ trương, định hướng của tỉnh Sóc Trăng về việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa

Thực hiện Nghi ̣ quyết Đa ̣i hô ̣i Tỉnh Đảng bô ̣ Sóc Trăng lần thứ XII (giai đoạn 2010-2015) nông nghiệp tiếp tục được xác định là nền tảng Ngành Nông nghiệp đang tập trung phát triển sản xuất hàng hóa có chất lượng và hiệu quả cao, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn Trong đó các vấn đề được quan tâm là: Triển khai đề án “Phát triển vùng lúa đặc sản tỉnh Sóc Trăng đến năm 2015”; Nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn; đầu tư vùng sản xuất lúa ƯDCN cao; Triển khai thực hiện đề án “Cơ giới hóa các khâu thu hoạch và sau thu hoạch; Tăng cường các chương trình hợp tác phát triển nông nghiệp, nông thôn; hợp tác nghiên cứu, ƯDCN bảo quản, tiêu thụ hàng nông sản, hợp tác phát triển lĩnh vực cơ giới hóa, ƯDCN sau thu hoạch trong sản xuất nông nghiệp;

Uỷ ban Nhân dân (UBND) tỉnh Sóc Trăng đã cụ thể hóa bằng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoa ̣n 2011-2015 Các giải pháp cụ thể

Ngày đăng: 20/03/2015, 14:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Bộ Tài chính – Bộ Khoa học và Công nghệ (2006), Hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, Thông tƣ liên tịch 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN, ngày 04/10/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính – Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2006
9. Bộ Tài chính – Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước , Thông tƣ liên tịch số 44/2007/ TTLT/BTC-BKHCN, ngày 07/5/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính – Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2007
11. Võ Minh Chiến, Sóc Trăng chú trọng đầu tư khoa học - công nghệ để tăng cường hiệu quả sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, http://www.tapchicongsan.org.vn, ngày cập nhật 24.8.2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sóc Trăng chú trọng đầu tư khoa học - công nghệ để tăng cường hiệu quả sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới
12. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010), chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12.4.2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
13. Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng (2012), Niên giám thống kê Sóc Trăng 2011 14. Cục Thống kê Sóc Trăng (2012), Kết quả Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Sóc Trăng 2011" 14. Cục Thống kê Sóc Trăng (2012)
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng (2012), Niên giám thống kê Sóc Trăng 2011 14. Cục Thống kê Sóc Trăng
Năm: 2012
19. Nguyễn Viết Khoa và cộng sự (2006) - Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Chương trình hỗ trợ Ngành Lâm nghiệp và đối tác, Bộ Nông nghiệp và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ngành lâm nghiệp
20. Đỗ Nam, Sóc Trăng ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, http://cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=117454686#ixzz2HRRt3f00, ngày cập nhật: 16.08.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sóc Trăng ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất
21. Nguyễn Quốc Nghi (2010), Các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh Đồng Tháp (năm 2009 - 2010), Thông tin Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Tháp, số 2/2011, tr. 10 –17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Tháp
Tác giả: Nguyễn Quốc Nghi
Năm: 2010
22. Hạnh Nguyên, Phát triển KH&CN: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, http://truyenthongkhoahoc.vn/vn/Phat-trien-KH-CN-Dong-luc-thuc-day-tang-truong-kinh-te-c1026, ngày cập nhật 14.3.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển KH&CN: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
23. Hiếu Nguyễn, Lối đi nào cho nhân lực cán bộ ngành NN&PTNN, http://gdtd.vn/channel/2741/201004/hoi-thao-dao-tao-boi-duong-can-bo-lanh-dao-quan-ly-nnampptnt-loi-di-nao-cho-nhan-luc-can-bo-nganh-nnampptnn-1925096/, ngày cập nhật 10.4.2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối đi nào cho nhân lực cán bộ ngành NN&PTNN
24. Hồng Nhung, Cơ giới hoá nông nghiệp: Ứng dụng để sản xuất hiệu quả hơn, http://xttm.agroviet.gov.vn/XTTMSites/vi-VN/76/tapchi/130/136/7183/Default .aspx, ngày cập nhật 13.12.2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ giới hoá nông nghiệp: Ứng dụng để sản xuất hiệu quả hơn
29. Triệu Sang, Nâng cao hiệu quả hoạt động đối với Khuyến nông viên cơ sở, http://www.soctrang.gov.vn/wps/portal/portal/sonongnghiep, ngày cập nhật 30.09.2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động đối với Khuyến nông viên cơ sở
30. Trần Thanh Sơn, Khảo sát ứng dụng khoa học và kỹ thuật phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh An Giang, http://angiang.gov.vn/wps/wcm/connect/6445da8046bb01ce84f9958b5bcc4472/2011023.doc?MOD=AJPERES, ngày cập nhật 23.02.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát ứng dụng khoa học và kỹ thuật phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh An Giang
31. Trần Thanh Sơn (2011), Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông dân ở tỉnh An Giang, Tạp chí Khoa học, số 20/2011, tr. 117-121 32. Tự điển Tiếng Anh En.wikipedia.org, http://en.wikipedia.org/obstacle33.Tự điển Tratu.soha.vn, http://tratu.soha.vn/rào cản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học, "số 20/2011, tr. 117-121 32. Tự điển Tiếng Anh En.wikipedia.org, "http://en.wikipedia.org/obstacle "33. Tự điển Tratu.soha.vn
Tác giả: Trần Thanh Sơn
Năm: 2011
40. Đào Duy Sự, Hiệu quả trong thực hiện cơ giới hoá khâu thu hoạch lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, http://www.sonnptnt.soctrang.gov.vn, ngày cập nhật 24.7.2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả trong thực hiện cơ giới hoá khâu thu hoạch lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
41. Phạm Thái, Sắp buộc doanh nghiệp tham gia cánh đồng mẫu lớn, http://www.thesaigontimes.vn/Home/nongsan/tintucthitruong/91032/, ngày cập nhật 28/01/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắp buộc doanh nghiệp tham gia cánh đồng mẫu lớn
42. Tạp chí Tài chính, Chính sách đất đai phát triển "tam nông": Những vấn đề đặt ra, http://www.tapchitaichinh.vn/Trao-doi-Binh-luan/Chinh-sach-dat- Sách, tạp chí
Tiêu đề: tam nông
44. Thủ tướng Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Chính sách tiêu thụ nông sản hàng hóa qua hợp đồng, Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, ngày 24/6/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tiêu thụ nông sản hàng hóa qua hợp đồng
34. Tự điển Tratu.vietgle.vn, http://tratu.vietgle.vn/hoc-tieng-anh/tu-dien/lac-viet/V-V/vai trò Link
36. Tự điển Wikipedia Tiếng Việt, http://vi.wikipedia.org/wiki/Quản trị nhân sự/nhân lực Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Máy gặt đập liên hợp Yanmar - Nhận dạng rào cản ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Hình 1.1. Máy gặt đập liên hợp Yanmar (Trang 21)
Hình 1.2. Máy cấy Kubota (Nhật Bản) - Nhận dạng rào cản ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Hình 1.2. Máy cấy Kubota (Nhật Bản) (Trang 21)
Bảng 2.1. Dân số nông thôn và bình quân đất nông nghiệp  trên đầu người của Việt Nam 16 - Nhận dạng rào cản ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Bảng 2.1. Dân số nông thôn và bình quân đất nông nghiệp trên đầu người của Việt Nam 16 (Trang 30)
Bảng 2.2: Tỷ lệ đáp ứng của một số loại cơ giới chủ yếu trong sản xuất  lúa năm 2012 tại tỉnh Sóc Trăng - Nhận dạng rào cản ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Bảng 2.2 Tỷ lệ đáp ứng của một số loại cơ giới chủ yếu trong sản xuất lúa năm 2012 tại tỉnh Sóc Trăng (Trang 46)
Bảng 3.1. Các đặc điểm cơ bản về nguồn lực sản xuất lúa của nông hộ  T - Nhận dạng rào cản ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Bảng 3.1. Các đặc điểm cơ bản về nguồn lực sản xuất lúa của nông hộ T (Trang 60)
Bảng 3.2. Tỷ lệ nông hộ có các loại máy móc, thiết bị chủ yếu  phục vụ sản xuất lúa - Nhận dạng rào cản ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Bảng 3.2. Tỷ lệ nông hộ có các loại máy móc, thiết bị chủ yếu phục vụ sản xuất lúa (Trang 67)
Bảng 3.3. Số lƣợng và trình độ nhân lực của các đơn vị chuyên môn có  liên quan đến sản xuất lúa thuộc Sở NN và PTNT tỉnh Sóc Trăng  T - Nhận dạng rào cản ứng dụng công nghệ trong sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Bảng 3.3. Số lƣợng và trình độ nhân lực của các đơn vị chuyên môn có liên quan đến sản xuất lúa thuộc Sở NN và PTNT tỉnh Sóc Trăng T (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w