Ngoài ra, các nhà khoa học cho rằng ở Việt Nam, số Tuy nhiên cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng các hệ sinh thái có tính ĐDS
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện tốt luận văn thạc sỹ này, đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến GS.TS Lê Văn Khoa, người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức, phư ơng pháp làm việc, động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực
hiên đề tài
Tôi xin cảm ơ n UBND xã Chi Lăng Nam, chi cục BVMT tỉnh Hải Dương, UBND tỉnh Hải Dương, phòng TNMT tỉnh Hải Dương và toàn thể bà con nhân dân hai thôn An Dương và Triều Dương đã nhiệt tình, trung thực dành nhiều thời gian quý báu để hợp tác , chia sẻ những quan điểm , kinh nghiệm, tâm tư nguyện vọng để tôi có cơ sở viết nên đề tài này Tôi cũng xin c ảm ơn các thầy , cô giáo khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học T ự nhiên, Đại học Quốc gia Hà N ội, những người đã cung cấp trang bị cho tôi rất nhiều các kiến thức trong suốt bốn năm học Đại học và hai năm học Cao học đã luôn động viên và ủng h ộ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên và hỗ trợ tôi để hoàn thành đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và thân thươngnhất đến gia đình, chồng và con trai tôi – những người luôn bên tôi, hỗ trợ tôi rất nhiều và là hậu phương vững chắc giúp tôi hoàn thành xuất sắc luận văn tốt nghiệp của mình
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Nguyễn Thị Hồng Ngọc
Trang 4Impact Assessment Matrix)
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 3
1.1.1 Ý nghĩa kinh tế - xã hội của bảo tồn loài chim 3
1.1.2 Bảo tồn ĐDSH và các vấn đề môi trường 3
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến QLMT đối với những loại “tài nguyên dùng chung” 4
1.2 CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐDSH TRÊN THẾ GIỚI 6
1.2.1 Một số cách thức quản lý trên thế giới 6
1.2.2 Hoạt động của một số khu bảo tồn sinh thái loài chim 10
1.2.3 Hoạt động bảo tồn loài chim của một số Quốc gia và tổ chức trên thế giới 11 1.3 CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐDSH Ở VIỆT NAM 13
1.4 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC ĐẢO CÒ CHI LĂNG NAM 19
1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 19
1.4.2 Giới thiệu về đảo cò Chi Lăng Nam 22
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU30 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 30
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.3.1 Phương pháp kế thừa 30
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn 31
2.3.3 Phương pháp thực địa 31
2.3.4 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 34
2.3.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 34
2.3.6 Phương pháp SWOT 34
2.3.7 Phương pháp đánh giá mức độ bền vững của công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học Đảo cò 35
Trang 6CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG ĐẢO CÒ CHI LĂNG NAM36 3.1.1 Hiện trạng chất lượng môi trường nước 36
3.1.2 Hiện trạng chất lượng môi trường đất 41
3.1.3 Hiện trạng chất lượng môi trường không khí 44
3.1.4 Một số nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường sinh thái 45
3.2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ TẠI ĐỊA PHƯƠNG 47
3.2.1 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý môi trường 47
3.2.2 Đánh giá điểm mạnh điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) trong công tác quản lý môi trường sinh thái tại Đảo cò 49
3.2.3 Đánh giá tổng hợp tính bền vững của công tác quản ly môi trường khu vực tới ĐDSH Đảo cò 51
3.2.4 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng quản lý môi trường tại địa phương 68
3.3 ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CHO KHU VỰC ĐẢO CÒ CHI LĂNG NAM 71
3.3.1 Định hướng phát triển đảo cò Chi Lăng Nam 71
3.3.2 Định hướng xây dựng tiêu chí phát triển bền vững đảo cò Chi Lăng Nam 73 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 KẾT LUẬN 83
2 KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7DANHMỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tính đa dạng các loài chim khu vực đảo cò Chi Lăng Nam 25
Bảng 2.1 Mô tả vị trí các điểm lấy mẫu nước 31
Bảng 2.2 Mô tả vị trí các điểm lấy mẫu đất 33
Bảng 2.3 Thang điểm đánh giá mức độ tác động xiv
Bảng 3.1 Hiện trạng chất lượng môi trường nước đảo cò vào mùa khô (tháng 3) các năm 2010, 2011, 2013 37
Bảng 3.2 Hiện trạng chất lượng môi trường nước đảo cò vào mùa khô (tháng 3) các năm 2010, 2011, 2013 (tiếp tục) 38
Bảng 3.3 Hiện trạng chất lượng môi trường nước đảo cò vào mùa mưa (tháng 8) các năm 2010, 2011 39
Bảng 3.4 Hiện trạng chất lượng môi trường nước đảo cò vào mùa mưa (tháng 8) các năm 2010, 2011 (tiếp tục) 40
Bảng 3.5 Hiện trạng chất lượng môi trường đất đảo cò năm 2010, 2011 và 2013 41 Bảng 3.6 Hiện trạng chất lượng môi trường đất Đảo cò năm 2010, 2011 và 2013 (tiếp tục) 42
Bảng 3.7 Hiện trạng chất lượng môi trường đất Đảo cò năm 2010, 2011 và 2013 (tiếp tục) 42
Bảng 3.8 Hiện trạng chất lượng môi trường đất Đảo cò năm 2010, 2011 và 2013 (tiếp tục) 42
Bảng 3.9 Kết quả phân tích môi trường không khí tháng 3/2013 44
Bảng 3.10 Đánh giá SWOT về ĐDSH tại đảo cò Chi Lăng Nam 50
Bảng 3.11 Đặc điểm các thành phần Vật lý/Hóa học (PC) 51
Bảng 3.12 Đặc điểm các thành phần Sinh học/Sinh thái (BE) 54
Bảng 3.13 Đặc điểm các thành phần Văn hóa/Xã hội (SC) 58
Bảng 3.14 Đặc điểm các thành phần kinh tế (EO) 60
Bảng 3.15 Điểm đánh giá các thành phần Vật lý/Hóa học (PC) 62
Bảng 3.16 Điểm đánh giá các thành phần Sinh học /Sinh thái (BE) 63
Bảng 3.17 Điểm đánh giá các thành phần Văn hóa/Xã hội (SC) 64
Bảng 3.18 Điểm đánh giá các thành phần Kinh tế (EO) 65
Bảng 3.19 Đánh giá tổng hợp cho các thành phần môi trường 66
Bảng 3.20 Tiêu chí phát triển theo các thành phần môi trường, kinh tế và xã hội 74 Bảng 3.21 Phân tích thành phần, trách nhiệm, quyền lơ ̣i các bên tham gia 78
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Đồng quản lý kết nối Quản lý Nhà nước và 14
Hình 1.2 Khung logic chu trình xây dựng mô hình ĐQL 15
Hình 1.3 Sơ đồ Ban quản lý VQG Xuân Thủy 18
Hình 1.4 Sơ đồ vị trí xã Chi Lăng Nam 19
Hình 1.5 Sơ đồ vị trí đảo cò Chi Lăng Nam 20
Hình 1.6 Hệ thống thủy văn khu vực hồ An Dương 24
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí lấy mẫu đất và nước mặt 32
Hình 3.1 Phân cò và xác cò trên đất và lá cây 44
Hình 3.2 Sơ đồ quản lý đảo cò xã Chi Lăng Nam 48
Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện mức độ tác động của các thành phần môi trường 67
Hình 3.4 Cò Nhạn (Cò Ốc) Anastomus oscitans và đảo cò Chi Lăng Nam 73
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 1992, Trung tâm Giám sát Bảo tồn Thế giới (WCMC) xếp Việt Nam là một quốc gia “đa dạng sinh học cao” và là một trong 16 quốc gia đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới về các hệ sinh thái, sinh cảnh sống, loài và nguồn gen Các hệ sinh thái trên cạn, biển và đất ngập nước hiện đang cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên cho người dân và đóng góp cho sự thịnh vượng và phát triển bền vững của đất nước
Theo Báo cáo Quốc gia về ĐDSH năm 2011 (Bộ TNMT, ngày 30/10/2012) Việt Nam là nơi sống của khoảng 7.500 loài vi sinh vật, 13.766 loài thực vật, 10.300 loài động vật trên cạn, đa dạng nguồn gen cây trồng vật nuôi với 14.000 nguồn gen được bảo tồn và lưu giữ Ngoài ra, các nhà khoa học cho rằng ở Việt Nam, số
Tuy nhiên cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng các hệ sinh thái có tính ĐDSH cao đặc biệt là các khu vực đất ngập nước - nơi tập trung nhiều loài động thực vật quý hiếm và đặc hữu của Việt Nam Ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với sự quản lý yếu kém là nguyên nhân dẫn đến
sự suy giảm ĐDSH ở nước ta Do đó, cần có những nghiên cứu tổng thể về vấn đề khai thác quản lý môi trường cũng như bảo tồn tính ĐDSH của các hệ sinh thái.loài sinh vật đã biết trên đây thấp hơn nhiều so với số loài đang sống trong thiên nhiên
và chắc chắn còn nhiều loài sinh vật hoang dã khác mà chúng ta chưa được biết tới
Chi Lăng Nam là vùng đất ngập nước sình lầy ven sông Thái Bình, trải qua biến cố thời gian, cảnh quan đó chỉ còn lại hồ An Dương với đảo cò ở giữa và các
ao, đầm, kênh rạch và ruộng ngập nước xung quanh Nằm giữa lòng hồ An Dương
có diện tích mặt nước là 90.377,5m2 Đảo Cò Chi Lăng Nam, xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương là nơi tập trung của nhiều loài chim nước mà chủ yếu là cò và vạc (khoảng15.000 cá thể cò và hơn 5.000 vạc) Được phát hiện từ năm 1994, đảo cò Chi Lăng Nam hiện đã được bảo vệ, tu bổ và xây dựng để trở thành địa điểm du lịch sinh thái, giáo dục bảo tồn cho cộng đồng hàng năm, thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế
Hiện nay do thiếu các nghiên cứu cơ bản toàn diện để xây dựng chiến lược phát triển bền vững, tồn tại nhiều hạn chế trong công tác quản lý môi trường, quy hoạch đồng bộ, và đặc biệt là khu vực hệ sinh thái đảo cò đang ngày càng bị tác động bởi nhiều yếu tố bất lợi, gây ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại của các quần thể chim tại đây, trong đó có cả các loài chim quý hiếm, bị đe dọa tuyệt chủng được ghi trong Danh lục đỏ Việt Nam và thế giới Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi
Trang 10thực hiện đề tài“Nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản lý môi trườngđảo cò Chi
Lăng Nam, Hải Dương” đã được đặt ra và thực hiện với các mục đích và nội dung
như sau:
a Mục đích/Mục tiêu
- Nghiên cứu hiện trạng chất lượng môi trường khu vực đảo cò;
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý môi trường tại đảo cò;
- Đề xuất một số tiêu chí nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
b.Yêu cầu nghiên cứu
Đánh giá chi tiết chất lượng môi trường đất, nước và không khí tại khu vực đảo cò, tại hồ An Dương để trên cơ sở đó có các nhận định xác đáng về hiện trạng chất lượng môi trường tự nhiên cũng như đánh giá tính phù hợp với môi trường sống củacác quần thể chin sống tại đây
Nghiên cứu công tác quản lý và bảo tồn các hệ sinh thái trên cạn và đất ngập nước đảo cò, cũng như sự phối kết hợp giữa người dân và chính quyền địa phương trong các hoạt động đó Đánh giá được những ưu và nhược điểm của công tác quản
lý trên địa bàn dựa trên những thiếu sót và hạn chế thực tế
Trên cơ sở đánh giá đúng các điểm mạnh và yếu về các mặtđề xuất một số tiêu chí cho các giải pháp quản lý có tính khả thi nhằm bảo vệ, nâng cao chất lượng môi trường, tính ĐDSH và khai thác được tiềm năng của đảo cò về mọi mặt cũng như các nguồn lực sẵn có ở địa phương
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 1.1.1 Ý nghĩa khoa học, kinh tế - xã hội của hoạt động bảo vệ các sân chim
Sự tồn tại của các sân chim (hay vườn chim, đảo cò )với nguồn gen phong phú, đa dạngmang lại nhiều giá trị không chỉ về mặt bảo tồn, duy trì ĐDSH mà nó còn có nhiều giá trị kinh tế - xã hội to lớn, có thể kể đến như:
Duy trì nguồn gen của các loài chim hoang dã, phục vụ cho bảo tồn, nghiên cứu, học tập; chim và các sản phẩm từ chim; nguồn lợi thủy sản tại các rừng ngập mặn trong sân chim; nguồn dinh dưỡng lớn từ phân chim; điều hòa khí hậu…
Sân chim là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng Hơn nữa, do thành phần động, thực vật đa dạng trong các sân chim, vườn chim nên đây là nguồn tri thức quý báu cho nghiên cứu khoa học, học tập và là yếu tố giúp du lịch phát triển Khách du lịch trong và ngoài nước đến sân chim để nghiên cứu, quan sát và thưởng ngoạn những tập đoàn chim lớn đặc biệt là ở vùng nhiệt đới
Hơn nữa thảm thực vật trong các sân chim, vườn chim không chỉ là nơi cư trú cho chim và các động vật khác mà nó còn giúp cung cấp oxy, điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường
Ngoài ra, lượng phân chim lớn của hàng triệu con là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho các loài động thực vật thủy sinh không xương sống phát triển và đó lại là nguồn thức ăn quan trọng của cá, tôm và các loại hải sản khác
Nước mặt tại các sân chim, vườn chim có hàm lượng N – P – K cao, cung cấp nguồn dinh dưỡng cho nước tưới cây trồng Tại các khu rừng ngập mặn, khi nước triều rút đi đồng thời cũng mang theo một lượng lớn chất dinh dưỡng tới các vùng đất khác [4]
Như vậy, có thể thấy sự tồn tại của sân chim, vườn chim có ý nghĩa vô cùng
to lớn do đó cần có chính sách hợp lý trong quản lý và bảo tồn
1.1.2 Bảo tồn ĐDSH và các vấn đề môi trường
Bên cạnh những giá trị về kinh tế - xã hội thì sự tồn tại của sân chim, vườn chim cũng mang lại nhiều áp lực cho môi trường xung quanh Áp lực môi trường từ các sân chim, vườn chim chủ yếu là do hoạt động sống của các loài chim định cư, làm tổ hay bay qua tại đây
Nguồn gây ô nhiễm phát sinh từ hoạt động cư trú của chim nước gồm có: phân chim, vi trùng, ký sinh trùng trên cơ thể và xác chim chết cũng như từ các loại thức ăn dư thừa Ví dụ như các loại cò, vạc thức ăn chủ yếu của cò vạc là cá, ếch
Trang 12phân cò vạc chứa một lượng lớn các chất dinh dưỡng N, P, K với hàm lượng tổng
số trung bình trong phân cò, vạc lần lượt là 1,75% (Nts), 2% (P2O5), 1,25% (K2O) Bình quân một con cò, vạc thải ra khoảng 10kg phân/năm Nếu mỗi vườn chim, sân chim có từ vài nghìn đến vài vạn, thậm chí hành chục vạn cá thể chim thì lượng phân và chất dinh dưỡng N, P, K mà chúng thải ra hàng năm là một con số không nhỏ Phân chim đọng trên lá cây gây hoại tử lá làm giảm khả năng quang hợp của cây, gây rụng lá và chết cây Khi phân rơi xuống đất, sự phân hủy trong điều kiện hiếu khí các chất hữu cơ có trong phân đã tạo ra nhiều CO2 và các axit hữu cơ làm chua đất, trong điều kiện yếm khí các chất hữu cơ sẽ tạo thành nhiều chất độc (H2S,
CH4,…) gây độc cho cây, cản trở quá trình sinh trưởng, phát triển của cây thậm chí gây chết cây Đây là nguy cơ ảnh hưởng đến sự bảo tồn và phát triển của các sân chim, vườn chim
Sự phân hủy các hợp chất hữu cơ từ phân chim và xác chim chết tạo ra các chất khí như NH3, H2S, CH3SH và CH3(CH2)3SH có mùi hôi thối, ảnh hưởng tới chất lượng môi trường không khí xung quanh tại nơi có sân chim, vườn chim Bên cạnh đó, các loài vi sinh vật cũng như kí sinh trùng trên cơ thể chim có thể lây truyền dịch bệnh không những cho các gia cầm và thủy cầm mà còn cho con người Ngoài ra, tiếng ồn do chim phát ra, nhất là vào mùa sinh sản cũng gây nên sự khó chịu cho người dân sống gần khu sân chim, vườn chim
Hàm lượng dinh dưỡng cao trong phân chim làm suy giảm chất lượng nước tại nơi có sân chim, vườn chim Chất dinh dưỡng bị dòng nước mưa rửa trôi xuống các nguồn nước mặt làm tăng nguy cơ phú dưỡng, ảnh hưởng tới tính đa dạng và sự tồn tại của hệ sinh thái
Bên cạnh đó là hậu quả của việc sử dụng thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu phổ biến của người dân tại các cánh đồng lúa nước trong vùng –nơi chim kiếm ăn (thường cách xa Vườn Chim trung bình khoảng 3 – 5 cây số)
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý môi trường đối với những loại “tài nguyên dùng chung”
Một số loại tài nguyên trong những lĩnh vực như quản lý tài nguyên ven biển, quản lý và phát triển rừng ngập mặn, phát triển nông thôn, quản lý nghề cá, ĐDSH được coi là những “tài nguyên dùng chung” -common pool resource
“CPR” Đối với các loại tài nguyên này thì hình thức quản lý phổ biến đang được
áp dụng ở Việt Nam và Thế giới là quản lý dựa vào cộng đồng Đây được xem là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho quản lý Nhà nước hiện nay
Ngoài ra, hiện nay trên Thế giới và Việt Nam đang có phương thức quản lý môi trường mới đó là phương thức đồng quản lý (ĐQL) Theo Bộ Thuỷ sản (2005) khái niệm ĐQL được phát biểu như sau: “ĐQL là quá trình quản lý có sự tham gia
Trang 13của cộng đồng địa phương và các bên liên quan khác thống nhất chia sẻ quyền và trách nhiệm trong sử dụng tài nguyên một cách bền vững” Do đó, phương thức ĐQL có những quy định về quản lý nguồn lợi được tuân thủ tốt hơn, giảm thiểu những kiểu khai thác tận diệt, giảm ô nhiễm môi trường và góp phần cải thiện thu nhập cho người dân Tuy nhiên cũng có những địa phương do chưa hiểu đúng về bản chất và cách tiếp cận ĐQL nên việc triển khai thực hiện ĐQL chưa hiệu quả Tính hợp pháp của mô hình chưa cao, thiếu văn bản quy định của chính quyền về giao quyền, phân định quyền sử dụng và ranh giới quản lý vùng nước hoặc đã có nhưng chưa rõ ràng, chưa có văn bản chính thức của chính quyền địa phương để phê chuẩn các quy chế, cam kết việc tham gia thực hiện mô hình ĐQL, đã ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động và hiệu quả mô hình
Mức độ phối hợp giữa chính quyền, cộng đồng và các bên liên quan trong ĐQL chưa chặt chẽ Cán bộ tổ chức cộng đồng tham gia với tâm lý “đi làm dự án”
hơn là một công việc thường xuyên
Cách tổ chức cộng đồng chưa thống nhất và liên tục, còn nặng về hình thức thành lập các ban bệ hơn là triển khai cụ thể các hoạt động cộng đồng, ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình nên chưa có sự chuyển biến nổi bật về môi trường, nguồn lợi tại một số nơi thực hiện mô hình Do đó, tính bền vững và khả năng nhân
rộng của mô hình chưa cao
Dựa vào các nhận định và những bài học kinh nghiệm qua thực tế áp dụng ĐQL của Thế giới và Việt Nam, cũng như dù đứng ở góc nhìn nào đối với hệ thống tài nguyên có nhiều đối tượng cùng sử dụng và hưởng lợi rất phức tạp này đều cần
sự đồng tình và định hướng phối kết hợp sự tham gia giữa người hưởng lợi với Nhà nước và các bên liên quan, cùng chia sẻ trách nhiệm và duy trì lợi ích hợp lý của các thành phần cộng đồng theo hướng Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng
hưởng lợi để quản lý hệ thống này hiệu quả hơn[15]
Do đó để đạt hiệu quả trong QLMT đối với các loại “tài nguyên dùng chung” thì cần xác định rõ phạm vi quản lý, đối tượng được quan tâm quản lý, các thành phần sẽ tham gia ĐQL Phải nâng cao nhận thức về văn hoá xã hội, kinh tế chính trị, môi trường sinh thái, nguồn lợi và nâng cao năng lực quản lý cho các bên tham gia ĐQL về phương pháp xây dựng quy chế, kế hoạch quản lý; nhấn mạnh kiến thức về quản lý phát triển bền vững cũng như về các vấn đề liên quan đến bản
chất ĐQL cho các bên trực tiếp và gián tiếp tham gia quản lý kể cả cộng đồng
Lựa chọn hạt nhân quản lý là người nòng cốt trong cộng đồng, có năng lực
tổ chức các hoạt động cộng đồng; đồng thời là tấm gương tốt để động viên, lôi kéo
cộng đồng cùng thực hiện ĐQL
Trang 14Xây dựng cơ chế ĐQL dựa trên tiêu chí đảm bảo sự công bằng quyền lợi để khuyến khích các bên liên quan tham gia, đặc biệt là cộng đồng Chính quyền tham gia tư vấn và phê chuẩn, hỗ trợ khi cần thiết, khi cộng đồng yêu cầu Cộng đồng chỉ đồng thuận thực thi tốt một quy chế phân chia rõ ràng vai trò trách nhiệm và lợi ích
của các bên liên quan và cộng đồng
Cần phải tìm kiếm và sử dụng tốt nguồn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong việc nâng cao nhận thức, nghiên cứu, thực hiện và nhân rộng mô hình hiệu quả hơn
Tuy nhiên, cần đảm bảo sự bền vững của mô hình sau khi hỗ trợ kết thúc
Quy chế quản lý của mô hình phải phù hợp với điều kiện của địa phương, nhưng không được trái với các quy định của pháp luật hiện hành và phải được sự nhất trí hỗ trợ của chính quyền nhất là chính quyền địa phương trong việc phê duyệt các quyết định Giải quyết các vấn đề xử phạt nhưng không can thiệp quá sâu vào các hoạt động quản lý của cộng đồng ĐQL được tiến hành song song với các chính sách về cải cách hành chính và Chính phủ, thực hiện quyền dân chủ và phân nhiệm mạnh mẽ cho cộng đồng trong quản lý TNMT
1.2 CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Một số cách thức bảo tồn trên thế giới
a Bảo tồn tại chỗ (Bảo tồn In - situ)
Bảo tồn tại chỗ là hình thức bảo tồn các HST và những nơi cư trú tự nhiên, duy trì và phục hồi các quần thể loài đang tồn tại trong điều kiện sống tự nhiên của chúng Trong trường hợp các loài được thuần hoá và canh tác, công việc này được tiến hành tại khu vực mà các giống vật nuôi cây trồng đó hình thành nên đặc tính của mình[14]
Để bảo tồn nguyên vị, các quốc gia trên thế giới đều thành lập các khu bảo
vệ, theo Hiệp hội bảo tồn thế giới (IUCN) thì khu bảo tồn: “ Là một vùng đất hay biển đặc biệt được dành cho việc bảo vệ và duy trì tính ĐDSH, các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa và được quản lý bằng các hình thức hợp pháp hay các hình thức hữu hiệu khác” Tính đến năm 1997, trên thế giới có khoảng 30.300 khu
bảo vệ với diện tích khoảng 13,2 triệu ha, chiếm 8,84% đất của thế giới Số lượng
và diện tích các khu bảo vệ những năm gần đây tăng lên rất nhanh IUCN cũng đã đưa ra 6 loại hình khu bảo tồn:
a) Khu bảo tồn nghiêm ngặt (Strict Protection): Gồm 2 hình thức
- Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt (Strict Nature Reserve): Là vùng đất
hoặc biển chứa một số hệ sinh thái nổi bật hoặc đại diện, có những đặc điểm sinh vật hoặc địa lý hoặc những loài nguyên sinh phục vụ cho nghiên cứu khoa học,
Trang 15quan trắc môi trường, giáo dục và để duy trì nguồn tài nguyên di truyền trong một trạng thái động và tiến hóa
- Vùng hoang dã (Wilderness Area): Là một vùng đất rộng lớn chưa bị tác
động hay biến đổi không đáng kể hoặc là vùng biển còn giữ lại được những đặc điểm tự nhiên của nó, không bị ảnh hưởng thường xuyên và là nơi sống đầy ý nghĩa
mà việc bảo tồn nhằm để giữ được các điều kiện tự nhiên của nó
b) Vườn quốc gia (National Park) hay Khu bảo tồn hệ sinh thái và giải trí (Ecosystem Consevation and Recreation): Là vùng đất hoặc biển tự nhiên được quy hoạch để:
- Bảo vệ sự toàn vẹn sinh thái của một hoặc nhiều HST cho các thế hệ hiện tại và mai sau;
- Loại bỏ sự khai thác hoặc chiếm dụng không mang tính thiên nhiên đối với những mục đích của vùng đất;
- Tạo cơ sở nền móng cho tất cả các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, vui chơi giải trí và tham quan mà các hoạt động đó phải phù hợp với văn hóa và môi trường Vườn quốc gia hay Khu bảo tồn hệ sinh thái và giải trí thể hiện một hình mẫu tiêu biểu cho trạng thái tự nhiên của một vùng địa lý, một quần xã sinh học, tài nguyên di truyền và những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng để tạo ra tính ổn định và
đa dạng
c) Vật kỷ niệm thiên nhiên (Natural Monument) hay Khu bảo tồn đặc điểm
tự nhiên (Conservation of Natural Feature): Là vùng đất chứa đựng một hoặc nhiều đặc điểm tự nhiên hoặc văn hóa nổi bật hoặc có giá trị độc đáo phục vụ cho mục đích thuyết minh, giáo dục và thưởng ngoạn của nhân dân
d) Khu dự trữ thiên nhiên có quản lý (Conservation through Active Management) hay Khu bảo tồn sinh cảnh/ Bảo tồn loài (Habitat/ Species Management Area): Là một vùng đất hay biển bắt buộc phải can thiệp tích cực cho
mục tiêu quản lý để đảm bảo những điều kiện cần thiết cho việc bảo vệ những loài
có tầm quan trọng quốc gia, những nhóm loài, quần xã sinh học hoặc những đặc
điểm tự nhiên của môi trường nơi mà chúng cần có sự quản lý đặc biệt để tồn tại lâu dài Nghiên cứu khoa học, quan trắc môi trường và phục vụ giáo dục là những hoạt động thích hợp với loại hình này
e) Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/cảnh quan biển (Protected Landscape/ Seascape): Là một vùng đất hay biển lân cận, nơi tác động giữa con người với tự nhiên được diễn ra thường xuyên Mục tiêu quản lý là duy trì những cảnh quan có tầm quan trọng quốc gia thể hiện tính chất tác động qua lại hài hòa giữa người với đất hoặc biển Đây là những khu mang tính kết hợp giữa văn hóa và cảnh quan tự
Trang 16nhiên có giá trị thẩm mỹ cao và đó cũng là nơi phục vụ mục đích đa dạng sinh thái, khoa học, văn hóa và giáo dục
f) Sử dụng bền vững các HST tự nhiên (Sustainable Use of Natural Ecosystem) hay Khu quản lý tài nguyên (Managemed Resource Protected Area): Một vùng chứa các hệ thống tự nhiên chưa hoặc ít bị biến đổi được quản lý bảo vệ một cách chắc chắn dài hạn và duy trì tính ĐDSH đồng thời với việc cung cấp bền vững các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của con người
b Bảo tồn chuyển vị (Bảo tồn Ex - situ)
Bảo tồn chuyển vị là hình thức bảo tồn các hợp phần của ĐDSH bên ngoài sinh cảnh tự nhiên của chúng Thực tế, bảo tồn chuyển vị hay bảo tồn chuyển chỗ là phương thức bảo tồn các cá thể trong những điều kiện nhân tạo dưới sự giám sát của con người
Các quần thể đang tồn tại của nhiều sinh vật có thể được duy trì trong canh tác hoặc nuôi giữ Thực vật có thể được bảo tồn trong ngân hàng hạt giống và các
bộ sưu tập mô; các kỹ thuật tương tự cũng được phát triển cho động vật (lưu giữ phôi, trứng, tinh trùng), nhưng khó giải quyết hơn nhiều Trong mọi trường hợp, bảo tồn ex-situ hiện tại rõ ràng chỉ khả thi đối với một tỷ lệ sinh vật nhỏ Công việc này đòi hỏi chi phí rất lớn đối với phần lớn các loài động vật, và mặc dù theo nguyên tắc công việc bảo tồn ex-situ có thể tiến hành với một tỷ lệ lớn các loài thực vật bậc cao, nhưng vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số các sinh vật của trái đất Công việc này thường dẫn đến suy giảm đa dạng di truyền do những hiệu ứng xói mòn di truyền và do xác suất lai cận huyết cao[14] Có một số phương pháp bảo tồn chuyển vị như sau:
- Vườn động vật (Zoo): Trước đây người ta chỉ chú ý đến các động vật có xương sống và chủ yếu là phục vụ cho việc tham quan du lịch, nhưng mấy năm gần đây các vườn động vật đã thay đổi và được coi là nơi nuôi các loài động vật đang
có nguy cơ tuyệt chủng (chiếm 10% số loài thú đang có nguy cơ tuyệt chủng) và phục vụ nghiên cứu Các vườn thú trên thế giới hiện nuôi khoảng 500.000 loài động vật có xương sống ở cạn, đại diện cho các loài thú, chim, bò sát và ếch nhái Các nhà khoa học đang cố gắng tìm mọi biện pháp tối ưu để nhân giống, phòng chống bệnh tật, nuôi và huấn luyện để đưa các động vật đó về với tự nhiên
- Vườn thực vật và vườn cây gỗ (Botanical Garden and ARVoretum): Hiện
có khoảng 1.500 vườn thực vật trên thế giới lưu giữ ít nhất 35.000 loài thực vật, chiếm khoảng 15% số loài thực vật toàn cầu (IUCN,WWF, 1989, Given, 1994) Vườn thực vật lớn nhất là vườn thực vật Hoàng gia Anh ở Kew có khoảng 25.000 loài thực vật đã được trồng bằng khoảng 10% số loài trên thế giới, trong đó có 2.700 loài thực vật đã được liệt kê trong Sách Đỏ thế giới (Reid and Miller,
Trang 171989).Vườn thực vật có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn thực vật vì các bộ sưu tầm sống của chúng cũng như các bộ tiêu bản khô là một trong những nguồn thông tin tốt nhất về phân bố cũng như yêu cầu về nơi cư trú của thực vật
- Bể nuôi (Aquarium): Truyền thống của bể nuôi là trưng bày các loài cá lạ
và hấp dẫn, nhưng gần đây các chuyên gia về cá, thú biển và san hô đã cùng hợp tác với các viện nghiên cứu biển, các thủy cung và các bể nuôi tổ chức nhân nuôi bảo tồn các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng Có khoảng 580.000 loài cá đang được nuôi trong các bể nuôi (Olney and Ellis, 1991)
- Ngân hàng hạt giống – Gen (Seed Bank): Trên thế giới có khoảng 60 – 70% loài thực vật có thể tái sinh và bảo tồn nòi giống bằng phương thức tạo hạt hữu tính là có thể bảo quản khô lạnh, với độ ẩm 5 – 7%, hạt có thể kéo dài sự sống trong kho lạnh Tuy nhiên có khoảng 15% số loài thực vật trên thế giới (trong đó có loài rất có giá trị như cao su, cà phê) có hạt không thể tồn tại hoặc không thể chịu đựng được các điều kiện nhiệt độ thấp nên không thể cất giữ trong các ngân hàng hạt giống Ngân hàng hạt giống đặc biệt có giá trị trong việc bảo tồn ex - situ bởi nó cho phép bảo tồn nhiều loài quý hiếm trong một không gian nhỏ, thời gian dài và chi phí thấp Hiện có khoảng 50 ngân hàng hạt giống trên thế giới với hơn 2 triệu
bộ sưu tập hạt giống cây nông nghiệp Tuy nhiên nếu bảo quản quá lâu thì hạt cũng mất dần khả năng nảy mầm nên người ta phải tiến hành gieo trồng định kỳ để lấy hạt giống mới cho bảo quản
- Tập đoàn cơ bản: Là tập đoàn các mẫu hạt giống thực vật được bảo quản dài hạn và chỉ được sử dụng trong trường hợp cần thiết Tập đoàn cơ bản phải có sức nảy mầm từ 85% trở lên và ổn định về di truyền Hạt được bảo quản ở nhiệt độ
- 18oC, và độ ẩm tương đối vào khoản 35 – 40%, hàm lượng nước trong hạt 3 – 7%
và thường xuyên được kiểm tra định kỳ về sức nảy mầm
- Tập đoàn hoạt động: Là mẫu giống tập đoàn cơ bản được nhắc lại, được bảo quản với số lượng lớn hơn để có thể cung cấp cho người sử dụng, tập đoàn này thường biến động và được nhân lại bổ sung để sử dụng Tập đoàn hoạt động thường được bảo quản ở nhiệt độ + 5oC, độ ẩm tương đối 50 – 60%, lượng nước trong hạt 7 – 8 %, thời gian bảo quản từ 10 – 15 năm, có khi là 30 – 40 năm
- Tập đoàn công tác: Là các mẫu hạt giống của các cơ sở nghiên cứu khoa học và chọn tạo giống để phục vụ công tác nghiên cứu của mình và chỉ cần giữ một
số lượng giống đủ để phục vụ chương trình nghiên cứu Tập đoàn công tác thường được bảo quản ngắn hạn (2-3 năm) với nhiệt độ 18 – 20oC, độ ẩm tương đối 50 – 60%, hàm lượng nước trong hạt 8 – 10%
- Ngân hàng gen Invitro: Là tập đoàn các vật liệu di truyền được bảo quản trong môi trường dinh dưỡng nhân tạo, trong điều kiện vô trùng Đối tượng bảo
Trang 18quản In-vitro là những vật liệu sinh sản vô tính, các loài cây có hạt không thể bảo quản trong điều kiện khô lạnh, các vật liệu dùng để nhân nhanh phục vụ các chương trình chọn tạo và nhân giống hạt phấn và ngân hàng ADN Có 3 loại kho bảo quản in-vitro ngắn, trung và dài hạn tùy theo nhu cầu bảo quản Bảo quản ngắn hạn vật liệu là để cung cấp cho nhu cầu chọn, tạo giống và nghiên cứu Bảo quản bằng sinh trưởng chậm (trung hạn), tốc độ sinh trưởng của vật liệu được làm giảm một cách đáng kể ở điều kiện nhiệt độ, ánh sáng thấp hoặc làm giảm nồng độ ôxy tiếp cận vật liệu Bảo quản trong hoặc trên bề mặt nitơ lỏng (-15oC) là bảo quản dài hạn, ở nhiệt độ này các phản ứng sinh hóa bị ngưng đọng hoàn toàn nên loại trừ được khả năng xảy ra biến dị sinh dưỡng, tuy nhiên bảo quản đông lạnh thường ảnh hưởng đến sức sống, khả năng tái sinh và có thể xảy ra biến dị sinh dưỡng nếu có quá trình phát triển “ không có tổ chức cơ quan” [14]
1.2.2 Hoạt động của một số khu bảo tồn sinh thái loài chim
a Sân chim tại khu bảo tồn Pantanal của Brasil
Pantanal là khu bảo tồn có diện tích 187.818 ha nằm ở phía Tây Nam bang Mato Grosso và Tây Bắc bang Mato Grosso do Sul của Brasil, gần biên giới với Bolivia Khu bảo tồn này là một trong những vùng đất ngập nước (ĐNN) lớn nhất thế giới với nguồn nước được cung cấp bởi hai hệ thống sông Cuiabá và Paraguay
và một hệ thống suối ngầm dưới lòng đất Pantanal được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 2000 nhờ sự đa dạng đáng ngạc nhiên của hệ động thực vật
Hệ động vật của Pantanal là vô cùng đa dạng bao gồm 80 loài động vật có
vú, 650 loài chim, 50 loài bò sát và 400 loài cá Trong đó có rất nhiều các loài thú quý hiếm như: báo đốm, hươu đầm lầy, thú ăn kiến, rái cá
Khu bảo tồn này nổi bật với các loài chim chiếm số lượng lớn Đó là một trong các khu vực sân chim sinh sản quan trọng nhất cho các loài chim đất ngập nước điển hình như loài chim Jabiru, diệc, hạc Ibis, vịt được tìm thấy Pantanal còn là nơi sinh sống của 26 loài vẹt, với sự có mặt của loài vẹt lục bình (vẹt lớn nhất thế giới)
Tuy vậy, hiện nay các loài động vật, nhất là các loài chim đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi tình trạng săn bắt và ô nhiễm vùng nước khiến cho nhiều loài đang đứng bên bờ vực tuyệt chủng [23]
b Khu bảo tồn động vật hoang dã Agamon Hula của Israel
Thung lũng Agamon Hula được bao quanh bởi các cao nguyên Golan, Korazim, Metulla, Cộng hòa Li-băng, dãy núi Naphtali bắc Israel và nằm ở trung tâm của Afro-Syrian Rift Đây là một trong số những địa điểm nằm ngay tuyến đường di trú quan trọng nhất của 500 triệu con chim thuộc hơn 400 loài chim
Trang 19Thung lũng Agamon Hula là một trong số khu vực nghỉ ngơi quan trọng cho những loài chim di trú Nhiều chuyến di cư của chúng từ châu Phi đến nghỉ ngơi và kiếm ăn tại Agamon Hula trước khi bay đến châu Âu và châu Á Tại trạm đeo vòng cho chim ở Agamon Hula, những chú chim sẽ được gắn một cái vòng bằng kim loại vào một trong hai chân của chim để theo dõi suốt quá trình di trú của chim
Trong thập niên 1950, chính phủ Israel đã lấy nước từ thung lũng Agamon Hula nhằm phục vụ cho nông nghiệp Nhưng kể từ đó, cảnh vật tại đây đã thay đổi, nhiều loài chim và các động vật khác đã bị suy giảm Sau đó, chính phủ Israel đã phân chia lại từng khu đất trong khu vực, tạo không gian mới cho việc bảo tồn và sản xuất nông nghiệp Vùng Agamon đại diện duy nhất cho mô hình hợp tác giữa thiên nhiên và nông nghiệp tại Israel
1.2.3 Một số hoạt động bảo tồn loài chim trên thế giới
Ở Mỹ có tổ chức Audubon chuyên nghiên cứu và bảo tồn chim nước Tổ
chức này thông qua ủng hộ, tiếp xúc với nhân dân, phổ biến mục tiêu và cách tiếp cận trong bảo vệ chim nước, những chương trình dựa trên cơ sở khoa học mà tổ chức này đã đạt được những kết quả bảo tồn đáng khích lệ từ những hòn đảo riêng
lẻ đến phạm vi toàn quốc
Những nỗ lực to lớn của tổ chức này được tập trung vào bảo vệ và phục hồi các sinh cảnh ở mức độ quốc gia, khu vực và cả quốc tế Những chi nhánh của tổ chức này ở Mỹ bao gồm:
Audubon Florida: Bảo tồn nhiều sân chim trong đó có trên 50 sân chim với 50.000 đôi làm tổ của 28 loài chim nước
Khu bảo tồn đầm lầy Corkscrew rộng 10.772 acres (mẫu Anh) với cây bách và một đàn cò quắm núi nổi tiếng nhất nước Mỹ và thế giới
Audubon Bắc Carolina, quản lý, bảo vệ hơn 20 vùng nuôi cho hơn 23 loài chim nước, bao gồm một số các địa điểm làm tổ quan trọng nhất ở Bắc Mỹ cho Chim nhạn biển, chim óc cao của Wilson,…
Audubon Texas, giám sát và bảo vệ một mạng lưới của 33 vùng đất và 14.000 ha môi trường sống từ Vịnh Galveston đến Lower Laguna Madre
Ít nhất 22 loài chim nước lợi ích, bao gồm cò thìa sắc hồng, chim cốc, bồ nông, mòng biển, nhiều loài diệc và chim nhạn biển
Một số các chiến dịch như: Chiến dịch thượng sông Misissippi, Chiến dịch phục hồi Hồ Lớn, Chiến dịch Everglad… tất cả đều hoạt động cho mục đích bảo vệ các tập đoàn chim nước [21]
Tại Canada có chương trình bảo vệ những khu vực chim quan trọng
(Important Bird Areas – IBA) tập trung bảo vệ quần thể chim mòng biển tại 2 hòn đảo Brothers Islandsthuộc bang Nova Scotia thông qua hoạt động của hội bảo vệ
Trang 20chim của Nova Scotia (NSBS), tổ chức bảo vệ động vật hoang dã Canada (Canada Wildlife Service - CWS) và Cục Tài nguyên thiên nhiên của Nova Scotia (NSDNR) Việc bảo vệ ở đây tập trung vào nghiên cứu, quan sát phân bố của tập
đoàn chim, tình trạng làm tổ và nguồn thức ăn của chúng
Campuchia với “Chương trình bảo vệ và bảo tồn các loại chim quý hiếm
sinh sống tại vùng Biển Hồ” thì chương trình này được triển khai từ năm 2001 đã
giúp mở rộng khu vực sinh tồn và tăng số lượng cho khoảng 20 loài chim quý
Việc giám sát những loài chim nước lớn tại Prek Toal, Tonle Sap - Biển Hồ – Campuchia từ năm 2001 – 2007 do Wildlife Conservation Society (WCS) thực hiện Dự án bảo tồn Prek Toal nhằm củng cố những hoạt động quản lý và giám sát những kết quả của chiến lược bảo vệ và bảo tồn của quần thể chim [24]
Phạm vi bảo tồn : Biển Hồ của Campuchia là hồ lớn nhất Đông Nam Á, là một vùng cảnh quan đẹp, giàu ĐDSH và là nơi phong phú nhất nhì về nguồn cá nước ngọt Khu dự trữ sinh quyển Tonle Sap do vương quốc Campuchia khoanh định bao gồm 3 khu lõi, 1 vùng đệm và 1 vùng chuyển tiếp Prek Toal là 1 trong 3 khu lõi và là một địa điểm bảo tồn mang tính chất quốc tế vì nó có sân chim, vườn
cò bao gồm một số loài cò lớn quốc tế quý hiếm Sân chim Prek Toal là sân chim duy nhất còn lại ở Đông Nam Á cho 2 loài bị đe dọa toàn cầu là bồ nông chân xám
(Pelecanus philippensis) và cò lạo xám (Mycteria cinerea) và những loài quý hiếm
khác ở mức độ đe dọa và gần đe dọa như: chim cổ rắn (Anhinga melanogaster), Già
đẫy nhỏ (Letoptilus dubius), quắn trắng (Threskiornis melanocephalus) và cò lạo
Ấn Độ (Mycterria leucocephalus) Vì tầm quan trọng của những loài quý hiếm này
đòi hỏi phải thiết lập một chương trình giám sát và bảo vệ toàn diện Từ năm 2011
Bộ Môi trường của Campuchia hợp tác với WCS (Word Comservation Souety, USA) đã triển khai bảo vệ sân chim Prek Toal [24]
Ở Thái Lan cũng có những vườn cò quý hiếm được những gia đình bảo vệ
đó là trường hợp sân chim cổ rắn (Anhinga menogaster) hầu như đã bị tuyệt diệt
trên đất Thái Lan nhưng một người dân ở Ban Klong Malakor thuộc tỉnh Sa Kaew
đã bảo vệ thành công gồm 50 đôi của loài quý hiếm này phục vụ cho mục đích du lịch sinh thái
Một địa điểm nổi tiếng nữa là vườn cò ốc hay cò nhạn (Anastomus osciatans) ở Ban Thasadet cách Bangkok chừng 80 km về phía Bắc Đây cũng là
loài chim quý hiếm được thế giới bảo vệ nghiêm ngặt Sân chim này cũng do tư nhân làm chủ bảo vệ với mục đích du lịch sinh thái Ngoài ra tại khu đất thuộc chùa Wat Phai Lom đối diện với thủ đô Bangkok cũng có một tập đoàn cò ốc do tiến sĩ Boonsong Lekagun đề xướng bảo vệ từ năm 1970 với chừng 30.000 con cò sinh sống Đây cũng là khu du lịch sinh thái nổi tiếng của Bangkok Du khách tới đây
Trang 21để quan sát chim, không được phép tiếp cận chim Ở Thái Lan còn nhiều nơi có sân chim nổi tiếng khác nữa [21]
1.3 CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM
Nhìn chung ở Việt Nam công tác bảo tồn ĐDSH cũng áp dụng các phương thức tương tự như trên thế giới Bên cạnh phương thức truyền thống là Quản lý Nhà nước tập trung thì trong lĩnh vực này còn có một số phương pháp quản lý như quản
lý có sự tham gia (participatory management), quản lý dựa vào cộng đồng (community – based management) và đồng quản lý dựa vào cộng đồng (community – based co-management) Trong các phương thức trên thì phương thức đồng quản
lý tỏ ra hiệu quả hơn trong công tác bảo tồn ĐDSH vì nó có khả năng kết nối quản
lý Nhà nước và lấy cộng đồng làm trọng tâm Đây được xem là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho quản lý Nhà nước hiện nay, nó mang lại hiệu quả khả quan vì đã xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân Đồng quản lý được chia thành 5 cấp độ:
hướng dẫn, tư vấn, phối hợp, cố vấn và thông tin[10][15] (Hình 1.1)
1 Cấp độ hướng dẫn: Nhà nước có cơ chế đối thoại, trao đổi thông tin,
thông báo, ra quyết định và hướng dẫn cộng đồng tham gia quản lý;
2 Cấp tư vấn cộng đồng: Cộng đồng cung cấp thông tin, chính quyền tham
khảo ý kiến của cộng đồng để quản lý;
3 Cấp độ phối hợp cộng tác: Cộng đồng được tham gia vào quá trình ra
quyết định cùng chính quyền và các bên liên quan quản lý;
4 Cấp độ cố vấn: Cộng đồng vận dụng tri thức địa phương đề xuất các biện
pháp quản lý nhưng chính phủ phê chuẩn các quyết định đó;
5 Cấp độ thông tin: Chính phủ ra quyết định trao quyền sử dụng cho cộng đồng địa phương và cộng đồng địa phương có trách nhiệm thông tin phản hồi cho chính phủ các quy ước của cộng đồng
Trang 22Hình 1.1 Đồng quản lý kết nối Quản lý Nhà nước và
lấy cộng đồng làm trọng tâm
Việt Nam đã cụ thể hóa quan ni ệm ĐQL là sự tham gia của c ộng đồng
đi ̣aphương và các bên liên quan , thống nhất chia sẻ trách nhi ệm và lợi ích trong quản lý TN MT theo hướng Nhà nước và nhân dân cùng làm , cùng hưởng lợi , và theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Theo nhóm công tác nghiên cứu ĐQL – Bộ thuỷ sản năm 2005 “ĐQL là quá trình quản lý có sự tham gia của cộng đồng địa phương và các bên liên quan khác thống nhất chia sẻ quyền
và trách nhiệm trong sử dụng tài nguyên một cách bền vững” (Hình 1.1) Như vậy,
để bảo vệ TNMT thì Nhà nước cần phải dựa vào sức mạnh tiềm ẩn trong cộng đồng người dân (chính quyền địa phương, người dân địa phương) nếu không thì các loại tài nguyên thuộc diện “tài nguyên dùng chung” – common pool resource “CPR” với nhiều đối tượng sử dụng và hưởng lợi rất phức tạp vẫn được quản lý theo kiểu
“cha chung không ai khóc”[6] Do đó, Nhà nước cần đặc biệt quan tâm đến phương pháp, cách làm như thế nào để có được sự đồng thuận, đồng lòng của dân chứ không đơn thuần là tập hợp được sức mạnh “cơ bắp” của lực lượng quần chúng nhân dân (Hình 1.2)
Trang 23Hình 1.2 Khung logic chu trình xây dựng mô hình ĐQL
Một số hoạt động bảo tồn tại các sân, vườn chim ở Việt Nam:
Do có tầm quan trọng to lớn về mặt kinh tế - xã hội nên việc bảo tồn các sân chim, vườn chim đều được các địa phương nơi có sân chim, vườn chim quan tâm Tuy nhiên, tình hình quản lý và bảo tồn tại các sân chim, vườn chim ở nước ta còn nhiều bất cập
Mặc dù có rất nhiều cách thức quản lý khác nhau nhưng nhìn chung ở Việt Nam thì các vườn chim vẫn chưa được quan tâm đúng mức, các quá trình hình thành, các phương thức quản lý đều mang tính chất tự phát với 3 hình thức cơ bản: (1) quản lý bởi nhà nước như chính quyền cấp xã, huyện, cơ quan văn hóa du lịch, lâm ngư trường quốc doanh và liên doanh ; (2) các tổ chức xã hội ở địa phương như Hội cựu chiến binh, Hội nông dân ; (3) ở cấp hộ gia đình (một hoặc vài gia đình liên kết với nhau
Trang 24i Công tác quản lý và bảo tồn tại Vườn Cò Ngọc Nhị
Vườn Cò Ngọc Nhị (Hà Nội) thuộc sở hữu của gia đình ông Phùng Đoài Học (do theo quan niệm của dân ta, cò làm tổ trong vườn nhà nào thì là của nhà đó) Để thu hút cò tới làm tổ, gia đình ông Học đã tiến hành mở rộng diện tích vườn
cò bằng cách thuê đất của các hộ dân xung quanh và trồng thêm tre, đào mương dẫn nước Tuy nhiên, việc thu hút cò tới làm tổ lại nhằm phục vụ mục đích tư lợi cá nhân từ việc giết mổ cò để bán cho du khách Để tận dụng lợi thế của mình, chủ vườn cò đã xây dựng hẳn một hệ thống hàng quán, nhà hàng ăn uống, giải khát, nghỉ ngơi rộng khoảng 3.000 - 4.000m2 bao gồm nhiều lán tre và có thể phục vụ
500 đến 600 thực khách ăn uống cùng một lúc Ngoài việc kinh doanh trong quán
ăn thì chủ vườn này cũng tiến hành bắt và bán cò còn sống theo yêu cầu của khách [18]
Chính bản thân chủ vườn cò Ngọc Nhị cũng đã ký cam kết với Hạt Kiểm lâm Ba Vì về việc không kinh doanh, mua bán, vận chuyển, săn bắn, bẫy bắt, tàng trữ, nuôi nhốt, giết thịt, chế biến thức ăn từ động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên Nhưng bản thân chủ vườn không nghiêm túc chấp hành cam kết này Việc không mạnh tay trong xử phạt của Hạt Kiểm lâm đã không đủ sức răn đe
và ngăn chặn hành vi buôn bán trái phép cò, vạc tại vườn
Do tính ĐDSH cao nên ngay từ những năm 1990, Nhà nước đã có chủ trương quốc hữu hoá, chuyển vườn cò Ngọc Nhị thành khu bảo tồn thiên nhiên, được bảo vệ một cách nghiêm ngặt, chỉ dành cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và quan trắc môi trường Song đến nay, tình trạng săn bắt, tận diệt cò vẫn diễn ra hàng ngày
Việc quản lý và bảo tồn tại đây còn thiếu quan tâm của chính quyền địa phương Theo chính quyền địa phương thì toàn bộ số diện tích đất vườn cò Ngọc Nhị do gia đình ông Học quản lý vẫn chưa có hồ sơ sử dụng đất và cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Từ nhiều đời nay, gia đình ông Học vẫn tự
sử dụng, khai thác tài nguyên trên đất, chưa phải nộp bất kỳ khoản phí, lệ phí gì Huyện Ba Vì cũng chưa hề kiểm tra việc bảo vệ môi trường nói chung và môi trường sinh thái nói riêng tại đây Đối với số diện tích hơn 5 ha mà chủ vườn mở rộng là do giữa các hộ dân và chủ vườn cò tự ý chuyển đổi cho nhau, chưa được cấp có thẩm quyền cho phép và cũng chưa làm thủ tục thuê đất theo đúng quy định của pháp luật [18]
Những bất cập trên đã cho thấy mặt yếu kém trong quản lý và bảo tồn tại các vườn cò tư nhân Tuy không phải chủ vườn nào cũng thiếu ý thức trong bảo tồn vườn cò của mình nhưng sự thiếu quan tâm của chính quyền địa phương trong việc tài trợ kinh phí, hướng dẫn kỹ thuật khiến cho môi trường và tính ĐDSH tại đây bị
Trang 25ii Công tác quản lý và bảo tồn tại Vườn Quốc gia Xuân Thủy
Vườn quốc gia (VQG) Xuân Thủy là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam Do
đó, việc bảo vệ các loài chim di cư là một trong những mục tiêu quan trọng trong công tác quản lý tại đây nhằm thực thi Công ước Ramsar
VQG Xuân Thủy có diện tích vùng bảo tồn rộng 7.100 ha (vùng nghiêm ngặt là 5.380 ha, vùng phục hồi sinh thái là 1.704 ha, 26 ha là khu hành chính dịch
vụ trong đó có 10 ha là vùng đệm) Bao gồm vùng bãi bồi Cồn Lu, Cồn Xanh, Cồn Ngạn và vùng đệm rộng 8.000 ha, trong đó có gần 3.000 ha rừng ngập mặn với nhiều loài thủy sinh có giá trị cao tạo nên sự trù phú cho vùng đất này
Vùng lõi VQG Xuân Thủy rộng 7.100 ha, trong đó có 3.100 ha đất nổi và 4.000 ha đất còn ngập nước Diện tích đất có rừng ngập mặn là 1.855 ha và vùng đất trống chiếm 5.245 ha
Vùng đệm bao gồm phần còn lại của Cồn Ngạn (ở trong đê Vành Lược), toàn bộ Bãi Trong và diện tích tự nhiên của 5 xã: Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải Rộng 8.000 ha, trong đó 1.407 ha còn ngập nước, 6.593 ha đất nổi, 1.724 ha rừng ngập mặn, 6 ha rừng phi lao
Việc phân chia VQG thành các phân khu giúp thuận lợi hơn trong công tác quản lý và bảo tồn
Theo Nghị định 109/2003/NĐ – CP của Chính phủ về việc phân công quản
lý các khu ĐNN thì VQG Xuân Thủy sẽ do UBND tỉnh Nam Định quản lý Cơ chế quản lý này có nhiều ưu thế như có sự quản lý, phân bổ Ngân sách trực tiếp hơn so với quản lý cấp Quốc gia và có sự phối hợp từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở Tuy nhiên, hiệu quả của cơ cấu quản lý này ở VQG Xuân Thủy phụ thuộc quá nhiều vào năng lực của Ban quản lý VQG và các ban ngành liên quan [22]
Trang 26Hình 1.3 Sơ đồ Ban quản lý VQG Xuân Thủy
Nguồn: [22]
Chú thích: Quan hệ chỉ đạo trực tiếp
Quan hệ phối hợp giản tiếp
Hình 1.3 minh họa sơ đồ quản lý tại VQG Xuân thủy là tiêu biểu cho sơ đồ quản lý tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên Nó hoàn thiện và chặt chẽ hơn hẳn
so với hình thức quản lý tại các vườn chim thuộc sở hữu cá nhân Điều này tạo ra lợi thế trong công tác bảo tồn ĐDSH không chỉ cho các sân chim, vườn chim mà còn cho các quần xã sinh vật khác trong VQG, các khu bảo tồn thiên nhiên và khu
dự trữ sinh quyển thế giới [3]
Các hình thức quản lý nói trên tuy một mặt đã góp phần tích cực trong việc xây dựng quản lý và bảo vệ các khu vườn chim như hiện nay nhưng mặt khác đã và đang dẫn đến việc bảo vệ và khai thác thiếu bền vững tại nhiều vườn chim, gây tổn thất ĐDSH, không phát huy hết vai trò của vườn chim về du lịch sinh thái, giáo dục bảo vệ môi trường cho du khách, nhất là học sinh và cộng đồng dân cư sinh sống gần đó, thậm chí tại một vài nơi còn có những tác động ngược lại
Trước tình hình trên, việc xây dựng mô hình quản lý bảo vệ các vườn chim trong hệ thống vườn chim hiện nay thuộc phạm vi cả nước là vấn đề cần được quan tâm Một trong số ít vườn chim đã tiếp cận được nguồn kinh phí của Nhà nước hay
Trang 27quốc tế đó là đảo cò Chi Lăng Nam ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Tại đây trong thời gian qua đã có sự hỗ trợ của quốc tế (Quỹ môi trường toàn cầu – GEF/SGF)
1.4 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC ĐẢO CÒ CHI LĂNG NAM
1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
a Điều kiện tự nhiên
i Vị trí địa lý
Xã Chi Lăng Nam nằm ở phía Tây Nam huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương cách Hà Nội khoảng 80km về phía Đông, cách thành phố Hải Dương 34km, với ranh giới địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp xã Chi Lăng Bắc;
- Phía Đông Bắc giáp xã Ngũ Hùng;
- Phía Đông giáp xã Thanh Giang;
- Phía Đông Nam giáp xã Diên Hồng;
- Phía Tây giáp huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên với sông Cửu An là ranh giới
tự nhiên giữa xã Chi Lăng Nam và huyện Phù Cừ (Hình 1.4; Hình 1.5)
Diện tích tự nhiên của xã là 527,4 ha được chia làm 3 thôn gồm An Dương (193,2 ha), Triều Dương (196,4 ha) và Hội Yên (137,8 ha)[16]
]
Hình 1.4 Sơ đồ vị trí xã Chi Lăng Nam
Trang 28Hình 1.5 Sơ đồ vị trí đảo cò Chi Lăng Nam
ii Đặc điểm về khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng
Xã Chi Lăng Nam nằm ở khu vực trung tâm của Đồng bằng sông Hồng nên nơi đây mang đầy đủ nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Thời tiết trong năm được chia thành 4 mùa khá rõ rệt : xuân, hạ, thu, đông Từ tháng 5 đến tháng
10 khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Từ tháng 11 đến tháng 4 khí hậu lạnh và khô nhưng nửa mùa sau khí hậu lạnh và có mưa phùn ẩm ướt
- Nhiệt độ: Hàng năm Hải Dương nhận được một nhiệt lượng lớn từ mặt
trời, năng lượng bức xạ tổng cộng vượt quá 100 kcal/cm2/năm, số giờ nắng đạt 1.600 – 1.800 giờ/năm Nhiệt độ trung bình của vùng đạt 23,3oC với 8 tháng nhiệt
độ trung bình trên 20oC, tổng nhiệt hoạt động năm là 8.500o
C
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí dao động từ 80 – 89%, trung bình đạt 84%
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.500 –
1.600mm/năm Lượng mưa bình quân tháng cao nhất (tháng 8) là 290mm và tháng thấp nhất (tháng 12) từ 14 – 19mm Số ngày mưa trong năm là 140 -145 ngày, mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung đến 85% lượng mưa cả năm
(đạt 1.400mm), vào các tháng mùa đông lượng mưa ít, thường là mưa phùn
Nhìn chung khí hậu thời tiết của vùng khá thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác
- Địa hình, thổ nhưỡng: Đất xã Chi Lăng Nam nói riêng và huyện Thanh
Miện nói chung chủ yếu là loại đất phù sa được tạo thành bởi phù sa sông Thái Bình Đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, đất nghèo dinh dưỡng, tầng đất canh tác mỏng, độ chua của đất từ 5,5 – 6,5 Địa hình của xã tương đối bằng phẳng với độ cao tuyệt đối từ 0,9 – 2,5m [16]
Trang 29b Điều kiện kinh tế - xã hội
- Một số chỉ tiêu chính về kinh tế đạt được trong năm 2012
Tổng giá trị thu nhập của xã trong năm 2012 đạt 83.806,6 triệu đồng, đạt 97,56% kế hạch năm, tăng 7.105,5 triệu đồng so với năm 2011 (Nguyên nhân do điều chỉnh chế độ tăng lương của Nhà nước)
Lương thực bình quân đầu người đạt 673,4 kg/người/năm, tăng 8,2 kg so với năm 2011
Giá trị thu nhập bình quân đầu người đạt 15.193 nghìn đồng/người/năm, tăng 1.138 nghìn đồng/người/năm
Mức tăng trưởng kinh tế 9,26% so với năm 2011 Hộ nghèo năm 2012 có
ha, diện tích vườn 33,55 ha Giá trị thu từ 1 ha đất nông nghiệp đạt 103,5 triệu/1ha, tăng 17,8 triệu đồng so với năm 2011[16]
Tổng giá trị thu từ ngành trồng trọt đạt 23.317,8 triệu đồng, tăng 195 triệu đồng so với năm 2011
+ Kinh tế ngành chăn nuôi
Tổng đàn lợn có 2.708 con (lợn nái có 156 con), giảm 92 con (lợn nái 2 con)
so với năm 2011 Đàn bò, bê có 23 con giảm 6 con Đàn gia cầm có 28.500 con, giảm 5.000 con Sản lượng thịt hơi ước đạt 189,6 tấn Diện tích nuôi trồng thủy sản
là 62,4 ha, sản lượng cá ước đạt 226,9 tấn Tổng giá trị thu từ chăn nuôi đạt 9.744,9 triệu đồng, giảm 1.196,9 triệu đồng so với năm 2011
Tổng giá trị thu từ ngành nông nghiệp đạt 33.062,7 triệu đồng, đạt 86,66%
kế hoạch
- Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và xây dựng năm 2012 đạt 13.787,5 triệu đồng tăng 2.075 triệu đồng bằng 17,7%, đạt 105,1%kế hoạch
Ngành dịch vụ - thương mại đạt 36.956,4 triệu đồng, tăng 6.032,4 triệu đồng bằng 19,5% so với năm 2011, đạt 106,7% kế hoạch
Trang 301.4.2 Giới thiệu về đảo cò Chi Lăng Nam
a Lịch sử hình thành
Người dân vẫn lưu truyền câu chuyện về nguồn gốc hình thành đảo cò như sau Vào khoảng thế kỷ 15, trận đại hồng thủy lớn đã làm vỡ đê sông Luộc, nhấn chìm gò đất cao và ngôi đền giữa cánh đồng trũng An Dương Từ đó, nước không rút mà tạo thành một hồ lớn, nơi gò đất cao hình thành một đảo nhỏ Người dân coi đây là vùng nước thiêng, không bao giờ tát cạn được nên đã sống dạt ra phía ngoài
hồ Theo nhịp thời gian, cò và vạc bắt đầu đến trú ngụ ở đảo mỗi ngày một nhiều và đảo cò Chi Lăng Nam cũng bắt đầu hình thành
Ngày nay, đảo cò được biết đến như một hệ sinh thái động thực vật vô cùng phong phú với hơn 170 loài Ngoài 9 loại cò trắng, cò lửa, cò hương, cò nghênh, cò ngang, cò ruồi, cò diệc, cò bợ, cò đen và 3 loại vạc xám, vạc xanh, vạc đen có nguồn gốc từ Trung Quốc, Miến Điện, Ấn Độ, Nepal, đảo cò còn là nơi trú ngụ của rất nhiều loại chim khác như diệc xám, chim chả, bói cá, bồng chanh, cuốc, cú mèo,…Vào mùa chim làm tổ, từ tháng 9 năm trước tới tháng 4 năm sau, có thể chứng kiến quang cảnh hàng ngàn con quần tụ kiếm ăn, phủ kín cả mặt hồ Lòng hồ
An Dương cũng là nơi sinh trưởng của rất nhiều loài cá như cá lành canh, cá mòi,
cá chép, cá diếc, trắm đen, trắm cỏ, cá măng, cá mương, cá thiểu, cá trôi, cá măng kìm,… có con nặng đến hơn 30kg Ngoài ra còn nhiều loại thủy sản khác như tôm, cua, ốc, ếch, ba ba sông, ba ba gai, thậm chí một số loài còn có tên trong sách đỏ Việt Nam như tổ đỉa, rái cá Thực vật quanh hồ chủ yếu là các cây trồng cho bóng mát và là nơi đỗ của cò, vạc, tiêu biểu là tre gai, chuối, nhãn, vải, xoan, ổi; các cây hoang dứa dại, mào gà, rau ngổ, mọc thành bụi quanh bờ phía Nam, phía Đông và các loài rong rêu, thực vật thủy sinh
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Khang, người đầu tiên phát hiện giá trị sinh thái của Đảo cò, thì đây là khu dự trữ thiên nhiên có mức độ ĐDSH lớn và được bảo tồn gần như nguyên vẹn duy nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng, khu vực miền Bắc Nhiều địa điểm khác cũng có cò về sinh sống như vườn cò Lạng Giang (Bắc Giang), vườn cò Hải Lựu (Sông Lô), vườn cò Đồng Xuyên (Bắc Ninh)…; nhưng việc bảo tồn luôn gặp rất nhiều khó khăn, thì đảo cò Chi Lăng Nam lại được người dân nơi đây tự nguyện bảo vệ Nhờ đó, hệ sinh thái quanh hồ luôn được giữ
ở mức độ ổn định, tạo điều kiện cho các loài sinh vật tiếp tục kéo nhau về làm tổ,
bổ sung thêm mức độ ĐDSH vốn đã rất phong phú [9]
Tuy nhiên, sau hơn 10 năm khai thác du lịch, hiện hệ sinh thái đảo cò vẫn đang thiếu chiến lược phát triển cũng như quy hoạch đồng bộ Từ tháng 7/2009, huyện Thanh Miện đã tổ chức công bố quy hoạch chi tiết xây dựng khu du lịch sinh thái đảo cò trên diện tích hơn 67 ha, với tổng mức đầu tư hơn 83 tỷ đồng nhằm tạo
Trang 31điều kiện thuận lợi vừa khai thác du lịch phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng, vừa tạo khoảng đệm cách ly bảo vệ đàn cò, giữ vững các điều kiện môi trường tự nhiên Sau 3 năm công bố, quy hoạch trên gần như vẫn chưa đi vào thực hiện do thiếu hụt nguồn kinh phí và chưa tìm được đối tác đầu tư Do vậy, khai thác du lịch tại đây vẫn diễn ra một cách tự phát, thiếu những hoạt động gây được ấn tượng và tác động xấu tới môi trường tự nhiên Sau khi đưa vào khai thác du lịch, mặt nước lòng hồ dần trở nên ô nhiễm nghiêm trọng do rác thải sinh hoạt và dầu máy chạy tàu Việc đánh bẫy cò, vạc của nhân dân địa phương lân cận cũng như tổ chức các dịch vụ câu cá, đánh bắt thủy sản không được kiểm soát khiến trữ lượng đang có nguy cơ suy giảm mạnh Cơ sở vật chất phục vụ không đảm bảo cho du lịch (nhà vệ sinh công cộng không tự hoại, không có thùng chứa rác công cộng ), các bụi tre, cây lớn, là chỗ đậu và nơi làm tổ của cò, vạc đang chết dần do không được chăm sóc và trồng mới Thêm vào đó là tình trạng sạt lở đất trên các đảo diễn ra một cách nghiêm trọng, mỗi năm diện tích sạt lở lên tới khoảng 100m2 (số liệu điều tra năm 2012) Để chống xói mòn, Ban Quản lý đã dùng phên tre và đổ đất, cát đóng thành bao, chăng lưới quây bèo tây xung quanh Tuy nhiên, biện pháp này chỉ mang tính chất giải quyết tình thế, tạm thời, việc sạt lở vẫn diễn ra, nhất là khi mưa bão[2]
b Đặc điểm thủy văn của hồ An Dương
Đảo cò được bao bọc bởi hồ An Dương, là nơi có cảnh quan đẹp với diện tích mặt hồ là 90.377,5 m2, nơi có cò sinh sống là 2 đảo nhỏ với diện tích là 7.324,5
m2(thực chất là một đảo diện tích 2,8ha và khu vực mới mở rộng ở bờ tây diện tích 3,5ha)Hồ An Dương có độ sâu dao động từ 3 – 8m, chỗ sâu nhất tới 18m Thời gian nước cạn nhất diễn ra vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, trong khi đó thời gian nước cao nhất là từ tháng 6 đến tháng 10 Hồ có chức năng chính là tiêu nước cho thôn An Dương và Triều Dương ở phía trên, đồng thời cung cấp nước tưới cho cánh đồng Đống Trâu giáp ranh với hồ ở phía Đông Nam vào mùa khô [17]
i Các dòng nước chảy vào hồ
Dòng nước chính chảy vào hồ qua cống tiếp nhận ở phía Tây Bắc, gần với đường bộ dẫn vào hồ là kênh tiêu nước của thôn Triều Dương và phần lớn thôn An Dương ở phía trên Ở phía Đông Bắc của hồ, gần khu vực cánh đồng Đống Trâu còn có cống tiêu thông với sông Luộc Vào mùa cạn cống này được mở để nước từ sông Luộc chảy vào hồ (Hình 1.6)
Ngoài ra, hồ còn tiếp nhận một lượng lớn nước mưa từ khu vực xung quanh Chỉ tính riêng khu vực hồ với lượng mưa trung bình 1.500mm thì một năm hồ đã tiếp nhận khoảng 125.000 m3
nước Vào mùa mưa, nước từ cánh đồng Đống Trâu cũng được tháo trực tiếp xuống hồ để chống ngập úng cho lúa
Trang 32Các mạch nước ngầm cũng cung cấp lượng nước đáng kể cho hồ Hồ còn
tiếp nhận NTSH của các hộ dân sống xung quanh hồ[17]
ii Các dòng nước ra khỏi hồ
Cống tiêu chính của hồ nằm ở phía Đông Nam Tại cống tiêu này có trạm
bơm Mi Động hoạt động với công suất 3.000 m3/giờ, để bơm nước ra sông Luộc
vào mùa mưa Ngoài ra, vào mùa mưa cống tiêu ở phía Đông Bắc hồ, gần cánh
đồng Đống Trâu được mở để nước của hồ thoát ra sông Luộc [4]
Hình 1.6 Hệ thống thủy văn khu vực hồ An Dương
c Hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên
i Hệ thực vật trên đảo cò và xung quanh
Trên đảo cò và xung quanh hồ An Dương có nhiều loài thực vật trồng, thực
vật hoang dại và các loài thực vật thủy sinh
Thực vật trồng: Các hộ dân sống gần hồ trồng các loại cây tre, chuối, nhãn,
vải, xoan, ổi, bàng, đại, bưởi, cam, táo ta, hồng xiêm, quýt, trứng gà, chanh đó là
Chú thích:
Dòng nước chảy vào hồ qua cống vào phía Tây Bắc
Dòng nước ra khỏi hồ qua cống tiêu phía Đông Nam
Cống tiêu phía Đông Bắc (thoát nước vào mùa mưa và chảy vào hồ vào mùa khô) Điểm nhận nước thải sinh hoạt
Trang 33các cây trồng ăn quả, cho bóng mát và là nơi đỗ của cò, vạc, nhất là các hộ dân khu
bán đảo, đối diện với Đảo cò
Thực vật hoang dại: Bao gồm các loài như: xấu hổ, dứa dại, cà gai, rau dệu,
sung, duối, gáo, cỏ mần trầu Những cây hoang dại này mọc thành bụi gần bờ, đặc
biệt là bờ phía Nam và phía Đông của hồ
Thủy sinh vật: Bao gồm các loài như: rong đuôi chó, bèo cái, bèo tây, rau ngổ, bèo tấm, cây lưỡi mác
ii Thống kê các loài động vật trên cạn tại Đảo cò
Hệ động vật của khu vực đảo cò bao gồm có động vật trên cạn thuộc khu vực 2 đảo cò và hệ động vật nước của hồ An Dương Động vật cạn trên khu vực 2 đảo cò chủ yếu là các loài chim Theo nhiều nghiên cứu thì khu vực đảo cò này có thành phần chim đa dạng và phong phú hơn hẳn so với các khu vực khác của đồng bằng sông Hồng Hệ chim của đảo cò có khoảng 51 loài, thuộc 12 bộ, 31 họ và 42 giống Trong đó có nhiều loài chim quý như: bồ nông, le le, mòng, két, cú mèo…Thành phần các loài chim của đảo cò được tổng hợp trong Bảng 1.1
Bảng 1.1 Tính đa dạng về thành phần loài của khu hệ chim
khu vực đảo cò Chi Lăng Nam
Nguồn: Trần Hải Miên, 2008
Hệ động vật thủy sinh: Hồ An Dương với diện tích mặt nước và độ sâu tương đối lớn được cho là nơi sống lý tưởng của nhiều loài cá và thủy sinh vật Trong đó có nhiều loài quý hiếm thuộc danh mục sách đỏ của Việt Nam như: tổ
Trang 34Theo ý kiến của ban quản lý đảo cò cho biết thì trong những năm gần đây do người dân trong khu vực có ý thức bảo vệ tốt, tình trạng săn bắn các loài chim, cò không còn nên số lượng các loài chim về cư trú tại khu vực 2 đảo cò ngày càng tăng lên Trong đó, có sự xuất hiện của một số loài mới là cò nhạn(cò ốc -
Anastomus oscitans là loài có tên trong sách đỏ Việt Nam, 2007) – mới về cư trú tại
đảo cò trong 1 – 2 năm gần đây[13]
iii Đặc điểm sinh thái của một số loài chim đặc trưng
Đảo cò Chi Lăng Nam có một số loài chim với những đặc điểm sinh thái sau
1 Le hôi – Tachybaptus ruficollis
Le hôi là loài chim định cư phổ biến ở miền Bắc Việt Nam Ở đảo cò le hôi sống rải rác quanh năm ở vùng hồ nước Loài này thường kiếm ăn ở nhiều cây thuỷ sinh, cỏ lác, rong vải Theo kết quả theo dõi của Vũ Thi Châu cho thấy loài chim này bắt đầu tha rác về làm tổ đẻ trứng từ đầu tháng 4 đến tháng 5 đã thấy đàn chim
mẹ và chim con bơi kiếm ăn trên mặt hồ Tổ le hôi thường được làm trên các cành
cỏ lác do chim bẻ cong lại Lớp trong của tổ là cỏ, rong, rêu Đường kính ngoài của
tổ 30 – 35cm, lòng tổ 20 – 25cm Số trứng mỗi lứa từ 3 – 5 quả, kích thước trứng trung bình 36 x 26cm, thời gian ấp trứng kéo dài từ 19 – 26 ngày Vào mùa sinh sản, le hôi chủ yếu tập trung làm tổ trên một số cây ăn quả lâu năm ở vùng đất liền bao quanh đảo Mùa đông, le hôi họp thành từng đàn từ 3 – 5 con, số lượng le hôi nhiều nhất là vào tháng 11 khoảng 87 con Về thức ăn, theo Trịnh Tác Tân (1963), thức ăn le hôi là cá nhỏ, tôm tép, côn trùng ở nước, thực vật thuỷ sinh đôi khi cả cua, ốc, trạch…
2 Sâm cầm – Fulica atra
Sâm cầm là loài chim di cư đông, thời gian sâm cầm xuất hiện ở Chi Lăng Nam phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết trong từng năm Theo người dân ở đây cho biết thường khi bắt đầu có “sấm” (khoảng trung tuần tháng 11) là sâm cầm bay về đảo Theo Võ Quý thì sâm cầm ăn các loại sinh vật thuỷ sinh, cá nhỏ, tép, côn trùng thuỷ sinh, ốc…
3 Gà lôi nước – Hydrophasianus chirurgus
Gà lôi nước là loài chim định cư Ở đảo cò Chi Lăng Nam, trong khoảng thời gian từ trung tuần tháng 2 đến đầu tuần tháng 4 thường thấy 1 đến 2 đàn gà lôi nước từ nơi khác di cư đến đây để kiếm ăn trong ngày Chúng kiếm ăn và di chuyển theo đàn, mỗi đàn từ 16 đến 27 con Theo Vũ Thị Châu (2012) thì tác giả chỉ quan sát được gà lôi nước di chuyển kiếm ăn ở khu vực xã An Dương, số lượng nhiều nhất đếm được trong tháng 3/2012 là 45 con Đây là khoảng thời gian ngoài mùa sinh sản Theo S.Baker (1929) thì tổ gà lôi nước làm bằng cỏ và cây thuỷ sinh, đặt
Trang 35trên mặt đất hoặc trên lá lớn nổi trên mặt nước Mỗi lứa chim đẻ 4 trứng, vỏ trứng màu vàng hay nâu nhạt, kích thước trứng trung bình 37,4cm x 26,6cm Về thức ăn
gà lôi thì theo Võ Quý thường bao gồm ốc và hạt thực vật thuỷ sinh
4 Mòng két – Anlas crecca
Mòng két là loài chim cư trú đông, ở đảo cò Chi Lăng Nam mòng két thường xuất hiện từ tháng 10 cho đến tháng 4 năm sau Số lượng mòng két nhiều nhất vào khoảng tháng 12/2011 khoảng 150 con Mòng két thường kiếm ăn ở vực nước cạn có nhiều thực vật thuỷ sinh Ở khu vực đảo cò mòng két chủ yếu tập trung kiếm ăn ở hồ An Dương Thức ăn chủ yếu của mòng két là ốc, lúa, thực vật thuỷ sinh [12]
6 Cò trắng hay cò ngàng nhỏ – Egretta gazetta
Chủng quần cò trắng đến di cư ở đảo cò Chi Lăng Nam bắt đầu tháng 11 cho tới tháng 4 năm sau Đây có lẽ là chủng quần từ phương bắc đã về đây trú đông Chúng thường bay từng đàn từ 25 – 45 con Chúng kiếm ăn ở những vực nước cạn trong đầm, một số kiếm ăn rải rác trong các ruộng lúa Khi kiếm ăn các loài chim này thường lội vội vã, vừa lội vừa dùng chân khuấy ở đáy nước để xua cá tôm khỏi chỗ ẩn nấp Theo Võ Quý (1971) thức ăn chính của cò trắng là cá nhỏ, tôm, tép Một đặc điểm rất đáng chú ý là loài cò thường trú đêm trên các bụi tre, bụi cây lớn rậm rạp Đặc thù của đảo cò Chi Lăng Nam là hệ sinh thái đất ngập nước và hệ sinh thái cây lâu năm nên rất thuận lợi cho các loài này Số lượng cò xuất hiện nhiều vào tháng 1/2012 khoảng 550 con
7 Cò ngàng lớn – Egretta alba
Trang 36Chủng quần cò ngàng lớn đến cư trú ở đảo cò Chi Lăng Nam muộn hơn một chút so với cò trắng khoảng nửa tháng, bắt đầu từ trung tuần tháng 11 đến tháng 4 năm sau Chúng kiếm ăn ở những vực nước cạn trong hồ ven đảo Khi kiếm ăn loài chim này thường lội từ từ, từng bước, thỉnh thoảng lại ngước chiếc cổ dài nhìn xung quanh Đây là loài cò trắng lớn nhất có bộ lông hoàn toàn màu trắng, khi bay chúng rất dễ nhận ra do kích thước lớn Cò ngàng thường kiếm ăn rải rác trong đầm Số lượng cò ngàng lớn nhiều nhất đếm được vào tháng 2/2011 là 75 con Thức ăn của cò ngàng chủ yếu là cá nhỏ, tôm, tép
8 Diệc xám – Ardea cinerea
Diệc xám là loài chim trú đông, loài chim này di trú đến đảo cò Chi Lăng Nam từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Loài này thường kiếm ăn trong đầm nước vào ban đêm và lúc sáng sớm Khi kiếm ăn, diệc xám thường đứng yên một chỗ, có khi đếnhàng giờtại một vũng nước để kiếm mồi Chúng như cò trắng, loài chim này cũng phải thích nghi sinh thái trú ngụ qua đêm trên các cây cao, tán rộng Thường vào lúc hoàng hôn, có thể quan sát thấy rất nhiều diệc xám đậu trên ngọn một vài cây lớn và cây tre trên đảo Số lượng diệc nhiều nhất vào tháng 12/2011 khoảng 70 con Theo anh Nguyễn Văn Luân trạm du lịch đảo cò Chi Lăng Nam cho biết diệc xám di trú về năm 2011 ít hơn năm 2012 từ 20 – 30 con Theo Võ Quý, thức ăn của diệc xám là cá nhỏ, chạch và tôm [2]
9 Cò nhạn (cò ốc) - Anastomus oscitansthuộc họ Hạc Ciconiidae– bộ Hạc Ciconiiformes
Loài chim này nằm ở dạng: VU - Sẽ nguy cấp [1]
Chim trưởng thành thường vào mùa hè, các lông cánh sơ cấp, lông cánh thứ cấp lông vai dài nhất, cánh con, lông bao cánh sơ cấp và thứ cấp, lông đuôi màu đen có ánh lục hay hồng; phần còn lại của bộ lông màu trắng Vào mùa đông, các lông trắng ở mặt lưng được thay thế bằng lông xám nhạt; mắt trắng, xám vàng nhạt hay nâu nhạt; mỏ xám sừng hơi lục, phần dưới mỏ hơi hung; da trần quanh mắt màu đen; chân hồng vàng nhạt hay hồng nâu nhạt; kích thước cơ thể lớn với đặc điểm nổi bật là mỏ trên và dưới không khép chặt vào nhau ở đoạn giữa mà chỉ ở chóp và gốc mỏ
Ngoài ra ở đảo cò Chi Lăng Nam cũng có một vài loài chim nước khác, tuy nhiên đây đều là loài số lượng không nhiều Theo Nguyễn Văn Luân và Vũ Quang Ninh (trạm du lịch đảo cò Chi Lăng Nam) thì vào mùa khô 2010 – 2011 đã phát hiện có 35 con vịt trời, 6 con xít[2] [13] [9]
iv Thành phần loài khu hệ cá
Hồ An Dương là nơi sống lý tưởng của nhiều loài cá và thủy sinh vật, bên cạnh các loài thủy sinh vật tự nhiên thì hàng năm người ta đã thả xuống hồ nhằm
Trang 37phục vụ mục đích câu cá giải trí ở hồ An Dương Các loài cá phổ biến ở hồ An Dương bao gồm:
- Các loài thủy sản khác: tôm, cua, ốc, ếch, ba ba sông, ba ba gai
Ngoài ra, khu hệ động vật đất ngập nước đảo cò Chi Lăng Nam còn gặp các loài: tôm, cua, ốc, ếch, ba ba sông, ba ba gai, trong số đó có một số loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam như: tổ đỉa, rái cá [2] [9]
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là mô hình quản lý môi trường đảo cò Chi Lăng Nam trong đó tập trung vào hiện trạng môi trường, thể chế
và các chính sách của Nhà nước và địa phương
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: là toàn bộ khu hệ sinh thái đảo cò xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương bao gồm đảo cũ, đảo mới và hồ An Dương
Phạm vi thời gian: từ 1/2013 đến 12/2014
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu hiện trạng môi trường: nước mặt, không khí và đất tại đảo cò
và hồ An Dương để đánh giá được diễn biến chất lượng môi trường đảovà nguồn gây ô nhiễm chính;
- Tìm hiểu và đánh giá công tác quản lý và bảo tồn tại Đảo cò, trên cơ sở kết hợp với hiện trạng môi trường khu vực để đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu cũng như những cơ hội, thách thức trong công tác quản lý của địa phương;
- Đề xuất hoàn thiện mô hình quản lý môi trường nhằm nâng cao chất lượng công tác bảo tồn và phát huy tiềm năng thế mạnh củaĐảo cò
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp kế thừa
Đề tài đãkế thừa các tài liệu, các nghiên cứu, báo cáo, các số liệu trong nước
và trên thế giới liên quan đến chim, cò, đảo cò cũng như từ các nghiên cứu bảo tồn ĐDSH và quản lý môi trường có liên quan tới các vấn đề sau:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thanh Miện;
- Tính ĐDSH, môi trường sống và tập quán sinh sản của các loài chim tại khu vực Đảo Cò;
- Công tác quản lý và chất lượng môi trường tại các khu bảo tồn ĐDSH loài chim;
- Các thông tin về chất lượng môi trường khu vực đảo cò qua các năm;
- Hệ thống quản lý môi trường trong công tác bảo tồn ĐDSH
Trang 392.3.3 Phương pháp nghiên cứu thực địa
Phương pháp lấy mẫu ngoài hiện trường đã được thực hiện với các mẫu đất, nước và không khí trong khu vực nghiên cứu vào mùa khô (tháng 3) năm 2013 (trong đó các mẫu nước phân tích năm 2010, 2011 là số liệu kế thừa) Trong đó mẫu đất được lấy tại 8 điểm xung quanh khu vực đảo và mẫu nước được lấy tại 12
vị trí khác nhau và 2 mẫu không khí xung quanh tại hồ An Dương theo vị trí như sau (Bảng 2.1và Hình 2.1)
a Mẫu nước
Các mẫu nước được thu thập tại các vị trí sau:
- Các mẫu nước bổ cập cho hồ bao gồm mương nước ở vị trí phía Bắc và phía Đông Bắc: N1, N10;
- Các mẫu nước gần khu vực hai đảo cũ và mới: N5, N6, N7, N8, N9;
- Các mẫu nước trực tiếp bị ảnh hưởng từ hoạt động du lịch và câu cá: N2, N3, N4, N11;
- Mẫu nước tiêu thoát nước khỏi hồ An Dương: N12
Vị trí chi tiết các điểm lấy mẫu được thể hiện tại bảng 2.1
Bảng 2.1 Mô tả vị trí các điểm lấy mẫu nước
N1 Tại cống vào phía Tây
N3 Tại vị trí phía Tây hồ 106013’30,67”E
20043’30,67”N
Lấy mẫu cách bờ 5m, khu vực dân cư sinh sống N4 Tại bến đậu thuyền chở
kháchdu lịch
106013’56,18”E
20042’56,18”N Tại bờ có các quán bán hàng của người dân N5 Tại vị trí giữa hồ ở phía 1050 13’30,2”E Cách đảo cũ 30m
Trang 40mới
105013’34,1”E
20043’18,9”N
Cách bờ 1,5m, vùng nước trong bèo
N8 Tại vị trí phía Tây Bắc
N10 Tại cống tiêu phía Đông
Bắc
106013’43,5”E
20042’55,34”N Bên cạnh cánh đồng lúa N11 Tại vị trí khu câu cá 106013’44,6”E
20043’15,6”N Phía Đông Nam hồ An Dương N12 Tại cống tiêu phía Đông
Nam hồ
106013’38,3”E
20043’14,3”N Cách cống tiêu 5m
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí lấy mẫu đất và nước mặt
Ghi chú: N1,…: vị trí lấy mẫu nước