Với vai trò là cơ quan thông tin đầu ngành về tài liệu khoa học xã hội, Viện Thông tin Khoa học Xã hội ISSI hiện đang chứa đựng kho tư liệu có một không hai về Phương Đông và Đông phương
Trang 1Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học
xã hội và nhân văn
TẠI VIỆN THÔNG TIN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ 60.34.70
Hà Nội, 2008
Trang 2Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học
xã hội và nhân văn
TẠI VIỆN THÔNG TIN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ 60.34.70
Hà Nội, 2008
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN……… 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Mẫu khảo sát 8
6 Câu hỏi nghiên cứu 8
7 Giả thuyết nghiên cứu 8
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 9
9 Kết cấu của Luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN……… 10
I.1 Các khái niệm cơ bản 10
1.1.1 Thông tin và thông tin khoa học 10
1.1.2 Phân biệt thông tin khoa học và thông tin đại chúng 11
1.1.3 Phân loại thông tin 11
1.1.4 Các thuộc tính của thông tin 12
1.1.5 Vai trò của thông tin khoa học 13
1.2 Sản phẩm thông tin khoa học 15
1.3 Dịch vụ 17
I.3.1 Những đặc tính của dịch vụ 18
I.3.2 Dịch vụ thông tin khoa học 19
1.3.3 Các loại hình dịch vụ thông tin khoa học 19
1.4 Người dùng tin 22
1.5 Nhu cầu tin 23
1.6 Kết cấu hạ tầng thông tin 23
1.7 Marketing 24
1.8 Thực trạng xây dựng và phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại một số cơ quan thông tin 25
MỘT SỐ NHẬN XÉT RÚT RA 36
Kết luận Chương 1 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN KHOA HỌC TẠI VIỆN THÔNG TIN KHOA HỌC XÃ HỘI………….40
2.1 Tổng quan về ISSI 39
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của ISSI 39
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực và phương pháp quản lý nguồn nhân lực 40
2.1.3 Cơ sở vật chất, nguồn lực thông tin khoa học 43
2.2 Đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại ISSI 45
2.2.1 Hệ thống sản phẩm thông tin khoa học 46
2.2.2 Các dịch vụ thông tin khoa học tại ISSI 53
Trang 42.3 Phân tích kết quả từ “Phiếu đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin tại
ISSI” 56
2.3.1 Số liệu về hoạt động cấp thẻ và phục vụ bạn đọc 57
2.3.2.Thống kê kết quả điều tra 58
2.3.3.Phân tích kết quả từ phiếu điều tra 61
Kết luận Chương 2 68
CHƯƠNG 3 NHẬN DIỆN MỘT SỐ RÀO CẢN TRONG PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN KHOA HỌC TẠI VIỆN THÔNG TI N KHOA HỌC XÃ HỘI……… 72
3.1 Chính sách phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học chưa cụ thể và thiếu tính thực tế 70
3.2 Về tiêu chuẩn hoá trong hoạt động thông tin 71
3.2.1 Kế thừa những chuẩn dữ liệu lạc hậu 71
3.3 Kết cấu hạ tầng thông tin bất cập 73
3.4 Nhân lực thông tin 74
3.4.1 Công tác quản lý nguồn nhân lực 74
3.4.2 Một số đơn vị cơ sở chưa phát huy đúng chức năng 76
3.4.3 Trình độ ngoại ngữ và tin học chưa đáp ứng nhanh và kịp thời 78
3.5.Hợp tác và quảng bá 79
3.5.1 Thiếu vắng cơ chế hợp tác nguồn lực thông tin khoa học……… 81
3.5.2 Công tác Marketing chưa được quan tâm 80
Kết luận Chương 3 82
KẾT LUẬN 83
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 85
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Sau 3 năm học tập và nghiên cứu tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, tôi đã hoàn thành luận văn này với sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn và các đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian vừa qua Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban đào tạo sau Đại học thuộc Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và công nghệ và đặc biệt là cảm ơn TS Mai Hà đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành bản luận văn với kết quả tốt nhất Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đinh, những người luôn ủng hộ
và giúp đỡ tôi rất nhiều trong cả quá trình học tập
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH&CN: Khoa học và công nghệ
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển của mình, loài người đã tích luỹ được một khối lượng thông tin vô cùng lớn Kể từ đó đến nay, dòng tin mà từ nghiên cứu khoa học tạo ra dưới dạng bộ máy khái niệm khoa học, các phương pháp và hình thức đã tồn tại và không ngừng tăng lên Khối lượng thông tin khoa học đều có giá trị riêng của nó song hiệu suất sử dụng vốn thông tin dồi dào mà loài người tích luỹ được đang có xu hướng giảm rõ rệt Người ta tính được rằng 1/3 thời gian làm việc của nhà nghiên cứu dành cho việc tìm hiểu thông tin cho công trình nghiên cứu mới Song việc tìm kiếm thông tin là một việc làm khó khăn đối với người dùng tin và đành phải “phát hiện lại” các dữ liệu Cho nên nhiều chuyên gia tuyên bố rằng “phát hiện lại” còn hơn bỏ công ra tìm những thông tin đã có sẵn trong các kho tư liệu trên thế giới Như vậy, đã
có căn cứ khẳng định rằng, trong quá trình phát triển khoa học, chúng ta ngày càng biết nhiều hơn về các bí mật của thiên nhiên và khả năng của khoa học
và kỹ thuật mà trước đây chưa biết đến Cho nên, trong điều kiện hiện nay hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học gắn chặt chẽ với các giai đoạn thông tin Trong thực tiễn hoạt động thông tin khoa học cho thấy hiệu quả sử dụng thông tin của người dùng tin không chỉ quyết định bởi khoảng thời gian kể từ khi có được thông tin đến khi giải quyết vấn đề cụ thể mà còn quyết định bởi khối lượng thông tin không phù hợp nhận được trong cùng thời gian Vì vậy việc xác định thể loại thông tin và thời hạn cung cấp thông tin là cực kỳ quan trọng để nâng cao tính hữu ích của thông tin và nâng cao năng suất sáng tạo khoa học của người nghiên cứu Do đó việc xử lý thông tin trở thành một ngành công nghiệp dựa trên cơ sở tính toán hiện đại Vấn đề cốt lõi ở đây là làm thế nào để đáp ứng những thông tin nhanh chóng và phù hợp theo nhu cầu của người dùng tin Trong Nghị quyết 49/CP của Chính phủ ban hành
năm 1993 đã khẳng định cần phải “phổ cập văn hoá thông tin” để tạo môi
trường thuận lợi cho việc hướng tới một xã hội thông tin, xã hội của tri thức Tiếp đó, Nghị quyết lần 2 của BCH TW Đảng khoá VIII cũng khẳng định
Trang 8“hoạt động thông tin, tuyên truyền và phổ cập kiến thức khoa học và công
nghệ là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thực hiện chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời đại mới.” 1
Luật khoa học và
công nghệ khẳng định: “hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên
cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ”2
Sản phẩm và dịch vụ khoa học xã hội (KHXH) là một bộ phận của hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) do vậy không thể thiếu trong hoạt động nghiên cứu KH&CN Đặc biệt, trong giai đoạn bùng nổ thông tin như hiện nay thông tin được coi là một nhu cầu cấp bách trong đời sống xã hội, là phương tiện để quản lý và mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các nước trên toàn thế giới Sản phẩm và dịch vụ thông tin thực chất là kết quả của hoạt động thông tin, hệ thống hoá và khái quát hoá nguồn tin, hay nói cách khác chính là quá trình giải mã thông tin và đưa thông tin đã được giải mã này vào hệ thống thông tin liên lạc khoa học để phục vụ người dùng tin Sản phẩm và dịch vụ thông tin cũng là công cụ giúp cho đối tượng dùng tin có thể tiếp cận, khai thác và sử dụng một cách thuận tiện các nguồn thông tin khoa học Với vai trò là cơ quan thông tin đầu ngành về tài liệu khoa học xã hội, Viện Thông tin Khoa học Xã hội (ISSI) hiện đang chứa đựng kho tư liệu có một không hai về Phương Đông và Đông phương học ở Đông Nam Á: tại đây kho tư liệu chứa hàng van tài liệu chữ Hán cổ, Nhật Bản và Hán Nôm; hàng vạn tư liệu nghiên cứu bằng tiếng Anh và tiếng Pháp trong đó có nhiều tài liệu về Đông phương học; hàng nghìn tập hương ước, bản đồ; hàng vạn ảnh về di tích lịch sử, phố
cổ Hà Nội về đời sống văn hoá các đời trước… Trong những năm vừa qua, ISSI đã từng bước triển khai một số hoạt động thông tin khoa học như: tổ chức thư mục, tuyển tập theo chuyên đề các tổng quan, dịch vụ phổ biến thông tin có chọn lọc, dịch vụ tra cứu thông tin, dịch vụ cung cấp nội dung
1 Ban chấp hành TW Đảng: Nghị quyết lần 2 khoá VIII
2 Quốc hội nước cộng hoà xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Luật Khoa học và Công nghệ, 2000
Trang 9thông tin nhằm phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học, các ấn phẩm về thông tin chuyên đề, tài liệu tham khảo đặc biệt và mới đây nhất là
“Niên giám Thông tin KHXH” Cùng với các sản phẩm thì một số dịch vụ khác đã triển khai như dịch vụ phổ biến thông tin có chọn lọc, dịch vụ sao chép tài liệu… song chưa mang lại hiệu quả rõ rệt với số lượng cung cấp rất hạn chế Nhìn chung, ISSI đã cho ra đời nhiều sản phẩm và dịch vụ phong phú, xong đến nay những hoạt động này vẫn chưa thực sự có hiệu quả, nhiều tài liệu và sản phẩm chưa phổ biến được rộng rãi đến với những người có nhu cầu Chính vì vậy, việc xác định và nhận diện được những rào cản trong quá trình phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học là cần thiết bởi chính những rào cản này gây ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả của hoạt động chung cũng như sự phát triển trong tương lai của ISSI Đây là lý do cho việc lựa chọn đề tài: “Những rào cản trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tính đến thời điểm đầu năm 2008, đã có không ít các bài viết, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, tạp chí thông tin và các tạp chí về KHXH liên quan đến sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học, bên cạnh đó có nhiều khoá luận nghiên cứu về lĩnh vực này như “Đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ thông tin – tư liệu tại Viện Thông tin KHXH” của Phùng Diệu Anh, “Phát triển nguồn lực thông tin tại Viện Thông tin KHXH” của Phạm Bích Thuỷ, “Đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện đáp ứng nhu cầu tin thời kỳ đổi mới tại Viện Thông tin Khoac học Xã hội” của Nguyễn Thuý Nga Tuy nhiên, những luận văn này chỉ tập trung vào việc triển khai và mở rộng các sản phẩm thông tin còn việc nhận diện được những rào cản trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học thì chưa có một nghiên cứu cụ thể nào
Vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài này là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay cũng như với ngành học của mình Tôi hy vọng rằng các kết quả đạt được trong nghiên cứu này sẽ là những đóng góp thiết
Trang 10thực về mặt lý luận cũng như thực tiễn nhằm nhận diện những rào cản trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại ISSI
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nhận diện được những rào cản trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại ISSI từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm vượt qua những rào cản đó để phát triển hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học, đáp ứng nhu cầu tin của các nhà khoa học tại ISSI
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học; những rào cản gây cản trở tới việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Những rào cản trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại ISSI
Phạm vi nghiên cứu về không gian: ISSI
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: từ năm 2000 đến nay
5 Mẫu khảo sát
Do đề tài nghiên cứu trường hợp cụ thể là ISSI nên mẫu khảo sát mà tác giả tập trung ở đây là các sản phẩm và dịch vụ thông tin KHXH tại ISSI
6 Câu hỏi nghiên cứu
Những rào cản nào gây cản trở tới việc phát triển các sản phẩm và dịch
vụ thông tin khoa học tại ISSI?
Có thể loại bỏ các rào cản đó bằng cách nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Tính đến thời điểm hiện nay, việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học còn nhiều khó khăn, vướng mắc do một số rào cản sau:
7.1 Chính sách, cơ chế về phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học ở nước ta còn nhiều bất cập
7.2 Kế thừa các chuẩn cũ trong thông tin khoa học
7.3 Kết cấu hạ tầng thông tin còn nhiều hạn chế
7.4 Vướng mắc về nhân lực thông tin
Trang 117.5 Hoạt động marketing chưa được quan tâm
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết
Để thực hiện và hoàn thành luận văn, tác giả đã thực hiện hai phương pháp nghiên cứu cơ bản:
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Với nội dung của đề tài, tác giả đã tiến hành nghiên cứu một số tài liệu
về sản phẩm và dịch vụ thông tin, thông tin – tư liệu, ngoài ra còn tham khảo một số bài báo, giáo trình có liên quan cũng như tài liệu của một số cơ quan thông tin – thư viện khác
8.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Tác giả tiến hành xây dựng bảng hỏi với 120 phiếu điều tra và chọn mẫu phát phiếu 50% phiếu dành cho người dùng tin là những độc giả ngoài ISSI, còn 50% phiếu dành cho người dùng tin là những độc giả làm việc tại ISSI
9 Kết cấu của Luận văn
Phần mở đầu
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 2 Thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại Viện Thông tin KHXH
Chương 3 Nhận diện một số rào cản trong quá trình phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại Viện Thông tin KHXH
Kết luận và khuyến nghị
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Thông tin và thông tin khoa học
Thông tin là khái niệm cơ bản của khoa học và cũng là khái niệm trung tâm của xã hội trong thời đại chúng ta Mọi quan hệ, mọi hoạt động của con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, thông tin ngày nay đã trở thành nguồn tài nguyên đặc biệt và nguồn lực phát triển của mỗi quốc gia, là công cụ điều hành sản xuất và quản lý xã hội Cho đến ngày nay, có rất nhiều cách hiểu về thông tin, theo quan niệm của triết học thì thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh… hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người Một số nhà khoa học về lĩnh vực thông tin cho rằng “Thông tin là tất cả sự vật/ sự kiện/ ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người và thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp” Trong Từ điển Oxford English
Dictionary cho rằng: “Thông tin là điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến;
là tri thức, tin tức” 3 Có từ điển khác thì đồng nhất thông tin với kiến thức
“thông tin là điều mà người ta biết” hoặc “thông tin là sự chuyển giao tri thức
là tăng thêm sự hiểu biết của con người” Bên cạnh các loại thông tin bằng văn bản, còn có thông tin hình ảnh, thông tin số, thông tin đa phương tiện Trong Nghị định số 159/2004/NĐ – CP ngày 31/8/2004 về Hoạt động Thông tin KH&CN được có định nghĩa coi là bao quát nhất từ cách tiếp cận hệ
thống: “Thông tin là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức khoa học và
công nghệ (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội
và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch
vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội” Vì thế, trong luận văn của mình, tác giả dùng khái niệm
này để hiểu về thuật ngữ thông tin khoa học
3
T McArthur: The Oxford Companion to the English language Oxford University Press 1992
Trang 131.1.2 Phân biệt thông tin khoa học và thông tin đại chúng
Đa số các thông tin có thể được truyền trực tiếp từ người sang người, hay có thể được truyền thông qua các phương tiện truyền thông như báo chí phát thanh(báo nói), truyền hình (báo hình), Internet (báo mạng) Đó là hoạt động thông tin đại chúng Với những loại thông tin này thông thường dành cho đông đảo mọi thành viên trong xã hội tiếp nhận, không kể trình độ, nghề nghiệp hay tuổi tác Thông tin đại chúng thông báo những vấn đề, hiện tượng,
sự kiện của đời sống xã hội Thông tin đại chúng có đặc trưng là khối lượng thông tin chuyển giao khá lớn với số lượng người sử dụng lớn
Còn với thông tin khoa học thì đối tượng sử dụng thông tin khoa học có thể là các nhà lãnh đạo và quản lý, các nhà nghiên cứu, giáo sư, sinh viên, kỹ
sư, hay các nhà sản xuất và kinh doanh4…
1.1.3 Phân loại thông tin
Có rất nhiều cách phân loại thông tin khác nhau và việc phân loại phụ thuộc vào từng tiêu chí cụ thể:
- Phân loại theo nội dung của thông tin:
+ Thông tin khoa học và kỹ thuật: bao gồm các kết quả nghiên cứu phát minh, các phương pháp, sản phẩm, các tính chất công nghệ, các tiêu chuẩn, các trang thiết bị
+ Thông tin kinh tế + Thông tin văn hoá và xã hội
- Phân loại theo giá trị và quy mô sử dụng
+ Thông tin chiến lược
+ Thông tin tác nghiệp
+ Thông tin thường thức
- Phân loại theo đối tượng sử dụng
+ Thông tin đại chúng: dành cho mọi người
+ Thông tin khoa học: dành cho người dùng tin là các nhà nghiên cứu, các giáo sư, sinh viên…
4
Đoàn Phan Tân: Thông tin học Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Hà Nội, 2001, tr 43
Trang 14- Phân loại theo mức độ xử lý nội dung
+ Thông tin cấp 1: thông tin gốc
+ Thông tin cấp 2: thông tin tín hiệu và chỉ dẫn
+ Thông tin cấp 3: tổng hợp các thông tin cấp 1
- Phân loại theo hình thức thể hiện thông tin
+ Thông tin nói
+ Thông tin viết
+ Thông tin bằng hình ảnh
+ Thông tin điện từ hay thông tin số
+ Thông tin đa phương tiện
Do có những đặc thù khác nhau nên mỗi loại thông tin có các sản phẩm thông tin khác nhau Ví dụ như thông tin cấp 1 thì sản phẩm của nó là các bài giảng, các báo cáo khoa học, được thể hiện trên sách, tạp chí, luận án, và được minh hoạ bằng các hình ảnh cụ thể với các bản vẽ và sơ đồ Thông tin cấp hai thì có các sản phẩm là thư mục, tài liệu chỉ dẫn và các bản tóm tắt tài liệu Với thông tin cấp 3 thì sản phẩm là các bài tổng kết, các bài tổng luận hay lược thuật và cuối cùng là một ngân hàng thông tin
1.1.4 Các thuộc tính của thông tin
- Giao lưu thông tin: Thông tin tiềm tàng khắp nơi trong xã hội Đó là các nguồn thông tin về lao động, đất đai, môi trường, thông tin về khoa học và công nghệ, thông tin về thị trường và sản xuất kinh doanh Những thông tin như vậy chỉ có ý nghĩa khi được truyền đi, phổ biến và được sử dụng
Để phân biệt nội dung thông tin cần truyền đi và cách thức chuyển giao thông tin, người ta tách nội dung thông tin ra khỏi hình thức biểu diễn của nó Các hình thức biểu diễn thông tin (các ký hiệu, dấu hiệu, hình ảnh ) là hữu hạn nhưng nội dung của thông tin (khái niệm, ý tưởng, sự kiện, tên ) là vô hạn Trong đời sống hàng ngày, thông tin được biểu diễn bằng ngôn ngữ Khi
đó, thông tin được diễn tả bằng cú pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ mà người
ta sử dụng
Trang 15Khối lượng thông tin: Trong lý thuyết thông tin, người ta xác định số lượng thông tin dựa vào việc càng nhiều tín hiệu sinh ra từ nguồn tin thì càng
có nhiều thông tin được truyền đi, khi đó thông tin được mô tả bằng sự thống
kê và tổ hợp các dấu hiệu phát ra từ nguồn tin thì càng có nhiều tin được truyền đi Thông báo được di chuyển bằng cách ghi tín hiệu lên một dạng vật chất trung gian, tức là một cái giá, gọi là vật mang tin Vật mang tin có thể là giấy, sóng điện từ, băng từ
Chất lượng thông tin: Để đạt mục đích sử dụng, thông tin phải được cập nhập một cách đầy đủ và chính xác Điều đó cho phép người nhận có thể lựa chọn thông tin theo yêu cầu của họ Nếu thông tin không đầy đủ thì mức
độ không chắc chắn cần phải được chỉ ra, hoặc phải tuân thủ một quy ước nào
đó Trường hợp thông tin bị coi là chất lượng thấp khi những thông tin đó bị thông tin sai lệch hoặc bị bóp méo Nó có thể trình bày một cách nghèo nàn hoặc thậm chí khó lĩnh hội đối với người nhận
1.1.5 Vai trò của thông tin khoa học
Ngày nay, mọi người đều thừa nhận nước nào biết sử dụng nhanh hơn, tốt hơn và hiệu quả hơn những thành tựu khoa học và kỹ thuật thế giới thì nước đó sẽ thu được những kết quả lớn hơn trong việc phát triển kinh tế quốc dân Thông tin khoa học có vai trò quan trọng đối với các linh vực như:
*Đối với nguồn lực phát triển của đất nước
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XX, thông tin đã được nhìn nhận là nguồn tài nguyên “thiên nhiên”, tuy nhiên nguồn tài nguyên này được cho là
vô hạn với vốn tri thức của con người luôn luôn không ngừng sáng tạo Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này cũng cho ra đời của cải vật chất giống như các nguồn tài nguyên khác Ở nước ta, từ đầu những năm 1990, nhiều Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cập đến vai trò của thông tin khoa học và nêu ra yêu cầu đối với hoạt động thông tin khoa học
Đảng đã từng chỉ rõ, “Công tác thông tin góp phần tích cực rút ngắn quá
trình từ nghiên cứu đến sản xuất, nâng cao chất lượng, quản lý và lãnh đạo Cần “hết sức coi trọng phục vụ thông tin cho lãnh đạo và quản lý, đúng nhu
Trang 16cầu, bằng những hình thức thích hợp, góp phần nâng cao chất lượng quyết định của lãnh đạo các cấp” 5
Cần “xây dựng hệ thống thông tin hiện đại về
khoa học và công nghệ, kịp thời cung cấp thông tin mới cho các cơ quan lãnh đạo và quản lý, các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở sản xuất” 6
Cần “hiện đại hoá hệ thống thông tin và bảo đảm cung cấp thông tin” 7
Bên cạnh đó, thông tin có thể mở rộng và phát triển không ngừng và chỉ bị hạn chế bởi thời gian và khả năng nhận thức của con người Do đặc tính của thông tin là lan truyền một cách tự nhiên, thông tin không bao giờ cạn đi
mà ngược lại nó luôn phong phú do được tái tạo và bổ sung thêm các nguồn thông tin mới nên thông tin trở thành cơ sở cho nhiều hoạt động xã hội như nghiên cứu, giáo dục, xuất bản, tiếp thị ở nhiều khía cạnh, thông tin đã trở thành một loại hàng hoá Do vậy, thông tin còn là yếu tố quan trọng thúc đẩy
sự phát triển kinh tế và sản xuất Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, khoa học, kỹ thuật và sản xuất là các bộ phận có quan hệ khăng khít với nhau, tạo thành chu trình “khoa học - kỹ thuật - sản xuất” thông qua tác động của quản lý
Có thể nói, vai trò của thông tin đều được mọi người khẳng định, đặc biệt là trong thời đại ngày nay, thời đại của “xã hội thông tin”, “cách mạng thông tin toàn cầu” Mục tiêu của người làm thông tin khoa học hay cung cấp thông tin khoa học là nắm được nhu cầu của người dùng tin để cung cấp thông tin một cách đầy đủ và thích hợp, bên cạnh đó còn phải xác định đặc trưng của vấn đề khoa học nào đó theo nội dung, phương hướng cơ bản, tình hình triển khai vấn đề, các kết quả đặc thù và các điều kiện của nghiên cứu để
áp dụng các kết quả đó vào thực tiễn8
Nếu coi tiềm lực khoa học và kỹ thuật
là điều kiện để nâng cao năng suất và hiệu quả của nền sản xuất xã hội thì thông tin khoa học và công nghệ được xem là yếu tố quan trọng của tiềm lực khoa học Do vậy, thông tin khoa học là một hoạt động vô cùng quan trọng,
5 Bộ Chính Trị: Nghị quyết số 37NQ/TW ngày 20/4/1981 Về chính sách khoa học và kỹ thuật, tr 44
6 Bộ Chính Trị: Nghị quyết số 26 NQ/TW ngày 30/3/1991 Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay, tr 6
7
Bộ Chính trị: Nghị quyết số 1 NQ /TW về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay ngày 28/3/1992, tr 5
8 Nguyễn Như Diệm: Thông tin khoa học và nghiên cứu khoa học, Tạp chí Thông tin KHXH, số tháng 5
1993, tr 41-47
Trang 17nó xứng đáng được coi trọng ngang hàng với nghiên cứu khoa học Hiện nay,
ở các nước tiên tiến thông tin được coi là một nguồn lực chiến lược cho sự phát triển quốc gia và chính sách thông tin được coi là một bộ phận hợp thành hữu cơ của chính sách nhà nước, một bộ phận tương đối độc lập của chính sách khoa học – kỹ thuật
* Đối với sự phát triển của khoa học
Trong sự phát triển của khoa học, thông tin được thể hiện trong quy luật phát triển của khoa học, đó là tình kế thừa Đây là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học Người thông tin sau luôn kế thừa và phát triển thông tin của người đi trước để từ đó phát hiện ra những quy luật mới, đây chính là sản phẩm của khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học được thể hiện trong mô hình sau (Hình-1)
1.2 Sản phẩm thông tin khoa học
1.2.1.Khái niệm
Khái niệm về sản phẩm được sử dụng trước tiên trong các lĩnh vực như kinh tế học và các hoạt động thực tiễn của nền sản xuất Dưới góc nhìn của
Marketing thì “Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để chú ý,
mua, sử dụng hay tiêu dùng, có thể thoả mãn một mong muốn hay nhu cầu” 9
Những sản phẩm được mua bán trên thị trường ở đây là những hàng hoá vật chất như: ô tô, sách; dịch vụ như: tư vấn, chăm sóc sắc đẹp Với cách hiểu này thì sản phẩm có 5 mức độ: mức độ thứ nhất là lợi ích đạt được khi bỏ tiền ra
Sản phẩm khoa học
(thông tin KH mới)
Hình-1(mô hình hoạt động nghiên cứu khoa học)
Trang 18mua, lợi ích thứ hai là phải biến lợi ích cốt lõi thành sản phẩm chung; lợi ích thứ ba là phải chuẩn bị một sản phẩm mong đợi; thứ tư là người kinh doanh phải chuẩn bị một sản phẩm hoàn thiện thêm; cấp độ cuối cùng là sản phẩm tiềm ẩn
Dưới góc nhìn của những người làm thông tin khoa học thì sản phẩm thông tin khoa học là một trong những kết quả của qúa trình xử lý thông tin,
là hệ thống các công cụ giúp người dùng tin có thể tìm kiếm, truy cập đến thông tin xác định Định nghĩa sau đây cũng có thể được xem là khái quát vể
sản phẩm thông tin: “Sản phẩm thông tin, thư viện là kết quả của quá trình xử
lý thông tin, do một cá nhân/ tập thể nào đó thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu của người dùng tin”10
Ở một công đoạn khác“Qúa trình và các công
đoạn để sản xuất ra sản phẩm thực chất là quá trình xử lý thông tin, những công đoạn đó là: biên mục, phân loại, định từ khoá, tóm tắt, chú giải, biên soạn tổng quan… cũng như các quá trình phân tích - tổng hợp thông tin khác Người thực hiện quá trình xử lý thông tin có thể là các chuyên gia làm việc tại một cơ quan thông tin/ tổ chức có chức năng cung cấp thông tin, hoặc cũng
có thể là các nhà khoa học, các chuyên gia – người dùng tin – trong quá trình
tự thoả mãn nhu cầu thông tin cho mình hoặc theo yêu cầu đặt hàng của các
cơ quan thông tin.” 11 Có thể nói, các sản phẩm trên đều là các sản phẩm đặc trưng của các cơ quan thông tin khoa học
1.2.2 Phân loại sản phẩm thông tin khoa học
- Đối với thư mục, thông thường có các loại sau:
+ Thư mục bậc I; thư mục bậc II; thư mục thông báo (nhanh); thư mục
có tóm tắt chú giải; thư mục hiện tại; thư mục hồi cố; thư mục nhân vật; thư mục địa chí; thư mục chuyên ngành (chuyên đề); thư mục đa ngành; thư mục tổng hợp; thư mục quốc gia; tạp chí tóm tắt; chỉ dẫn trích dẫn; các CSDL thư mục…
Trang 19-Đối với các sản phẩm được tạo ra từ phương pháp xử lý thư mục có thể đáp ứng được nhu cầu dạng tra cứu chỉ dẫn Các sản phẩm loại này bao gồm:
+ Các bài tổng luận, tổng quan, tổng thuật
Đối với những nhóm sản phẩm thông tin khoa học này có khả năng đáp ứng được nhu cầu nội dung thông tin và có thể sử dụng trực tiếp thông tin trong các sản phẩm đó mà không cần phải tra cứu đến nguồn tin gốc
Ngoài ra còn có các sản phẩm khác như:
- Hệ thống mục lục thư viện: bao gồm hệ thống phích mục lục; hệ thống mục lục điện tử
- Trang tin điện tử (website): trang tin điện tử này thông thường được cập nhật hàng ngày hay hàng tuần, phụ thuộc vào tính chất của từng tổ chức,
cơ quan Với trang tin điện từ, người dùng tin có thể được cập nhật những thông tin mới nhất như giới thiệu các sản phẩm mới, những bài viết tóm tắt, hoặc tra cứu thư mục trực tuyến
- Tài liệu dịch: bao gồm các tài liệu dịch theo chuyên đề, các tài liệu dịch theo nhu cầu và các tài liệu dịch theo tính thời sự
- Băng ghi âm, các sản phẩm từ băng ghi âm: Nội dung của băng ghi
âm phục thuộc vào tính chất hoạt động của từng cơ quan, tổ chức Có thể là nội dung của các hội nghị, hội thảo quan trọng, các bài phát biểu của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước
- Tranh ảnh và bản đồ: bao gồm các sản phẩm ảnh theo chủ đề về địa
lý, chủ đề ngành, hay các chủ đề về sinh hoạt văn hoá…
1.3 Dịch vụ
Khái niệm dịch vụ lâu nay vẫn được mọi người cho là hoạt động của những ngành phục vụ như: hoạt động cung ứng lao động, khoa học, kỹ thuật… có thể đáp ứng được các nhu cầu về sản xuất kinh doanh, đáp thoả mãn các nhu cầu về tinh thần (các hoạt động vui chơi giải trí), hay các hoạt động về tín dung, ngân hàng
Trang 20Với kinh tế học thì dịch vụ được xem là hàng hoá nhưng phi vật chất Dịch vụ bao gồm toàn bộ các ngành, các lĩnh vực có tổng sản phẩm quốc dân, trừ các ngành sản xuất các sản phẩm vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp
I.3.1 Những đặc tính của dịch vụ
- Tính đồng thời: Sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, hai hoạt động
nay do đó cũng không thể tách rời nhau Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia
- Tính không lưu kho: Do việc diễn ra đồng thời giữa sản xuất và tiêu
dùng nên không có lưu kho đối với dịch vụ, nhưng ngược lại vẫn phải duy trì chi phí tối thiểu để phải chi trả cho việc duy trì những dịch vụ đó (hệ thống ngân hàng vẫn hoạt động bình thường bất kể nhiều khách hàng hay không? Điện vẫn thắp sáng tại các khu du lịch không kể có khách hay không)
Từ những phân tích trên cho thấy, có một số điểm khác biệt giữa sản phẩm và dịch vụ:
+ Hoạt động của các ngành sản xuất là tạo ra các sản phẩm vật chất Các sản phẩm này có tính chất cơ, lý, hoá học, có các tiêu chuẩn xác định cụ thể, có thể nhìn và sờ thấy được Còn hoạt động của ngành dịch vụ là tạo các sản phẩm phi vật chất, không thể xác định cụ thể bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật hay bằng các chỉ tiêu như đối với sản phẩm vật chất Các sản phẩm vật chất
có thể được cất trữ trong có và có thể đem bán bằng cách vận chuyển đi các nơi để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng Ngược lại, đối với “sản phẩm” dịch vụ thì
Trang 21phải xuất hiện trực tiếp ở các địa điểm và thời điểm xác định, cụ thể tại nơi diễn ra dịch vụ
+ Chất lượng của sản phẩm phụ thuộc phần lớn vào các tiêu chuẩn và tính năng của sản phẩm, nhưng chất lượng dịch vụ lại phụ thuộc phần nhiều vào con người do đặc tính là phải trao đổi trực tiếp giữa người sản xuất (người làm ra dịch vụ) và khách hàng Tuy nhiên trong xu thế ngày càng hiện đại hoá như hiện nay thì đôi khi việc trao đổi các dịch vụ lại diễn ra giữa người mua dịch vụ với cái máy (dịch vụ rút tiền tự động)
I.3.2 Dịch vụ thông tin khoa học
Trong hoạt động thông tin – thư viện, dịch vụ được hiểu như sau:
“Dịch vụ thông tin thư viện bao gồm những hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin thư viện nói chung” 12
Trong Nghị định số 159/2004 – NĐ-CP quy định về Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ đã định nghĩa dịch vụ thông tin KH&CN như sau:
“ Dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ là một loại hình dịch vụ khoa học
và công nghệ bao gồm dịch vụ thông tin công ích và dịch vụ thông tin có thu Dịch vụ thông tin công ích được cung cấp miễn phí hoặc mức phí thấp do ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần Dịch vụ thông tin có thu được cung cấp theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân thông qua hợp đồng dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ” 13
Trong luận văn của mình, tác giả sử dụng định nghĩa
này để hiểu về dịch vụ thông tin khoa học
1.3.3 Các loại hình dịch vụ thông tin khoa học
1.3.3.1 Dịch vụ cho mượn tài liệu
Với dịch vụ này, người dùng tin có thể sử dụng tài liệu dưới những hình thức như:
+ Sử dụng các phòng tra cứu và từ điển của cơ quan để đọc tại chỗ các tài liệu, đôi khi phải dùng đến máy móc của cơ quan thông tin
12 Trần Mạnh Tuấn: Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện, Sđd, tr 24
13 Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 159/2004 – NĐ-CP quy định về Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ
Trang 22+ Sử dụng tài liệu bên ngoài cơ quan thông tin đối với các tài liệu in trên giấy hay đã được số hoá Người dùng tin cần phải thông qua các dịch vụ bưu điện và truyền thông công cộng, điển hình là các dịch vụ mượn từ xa, thư điện tử… Tuy nhiên để dịch vụ này hoạt động được, cơ quan thông tin phải triển khai và cho phép người dùng tin của mình sử dụng dịch vụ này (Trên thực tế, có nhiều tài liệu quan trọng và đảm bảo tính bảo mật cao nên chỉ được phép nghiên cứu tại chỗ, không được sao chụp dưới bất kỳ hình thức nào) Đối với những người dùng tin ở xa, cơ quan cần nhận được yêu cầu từ phía người dùng tin có thể bằng bưu điện hoặc email, fax về những sản phẩm hay yêu cầu dịch vụ Sau đó, cơ quan thông tin sẽ chuyển lại kết quả cho người dùng tin theo yêu cầu Mọi chi phí phát sinh, người dùng tin phải chịu trách nhiệm thanh toán cho cơ quan thông tin Hiện tại, dịch vụ này rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới do có nhiều ưu việt Việc cung cấp bản sao giúp tiết kiệm được nguồn ngân sách bổ sung tài liệu, khai thác triệt để nguồn tài liệu trong nước Đối với các cơ quan thông tin, đây là hình thức phổ biến tin khá hiệu quả với chi phí thấp Tuy nhiên, cũng cần làm rõ đối tượng được phục vụ
là nhằm mục đích sử dụng cá nhân hay mục đích kinh doanh Do vậy, cần hình thành một chính sách thông tin quốc gia cũng như các thoả thuận có tính quốc tế để tạo điều kiện cho việc cung cấp bản sao tài liệu được thừa nhận trong quan hệ quốc tế, cũng như tiền đề pháp lý cho hoạt động của các cơ quan liên quan
1.3.3.2.Dịch vụ cho mượn giữa các cơ quan thông tin
Các cơ quan thông tin trong cùng một hệ thống, hay một lĩnh vực khoa học, có thể dùng liên kết để cho phép người dùng tin của mỗi cơ quan thành viên thông qua mình sử dụng chung nguồn tài liệu của tất cả các cơ quan thành viên trong hệ thống (Hoạt động này còn được gọi là chia sẻ nguồn lực thông tin) Ngày nay, dịch vụ này còn mở rộng đối với các cơ quan thông tin không nằm trong hệ thống nếu người dùng tin có yêu cầu và cơ quan thông tin
có khả năng liên hệ và đáp ứng được
1.3.3.3.Dịch tài liệu
Trang 23Đối với những tài liệu tiếng nước ngoài thì rào cản lớn nhất để người dùng tin tiếp cận được đó là sự khác biệt về ngôn ngữ Do vậy, dịch vụ dịch tài liệu đã ra đời để đáp ứng nhu cầu của người dùng tin Với loại dịch vụ này
được hiểu như sau: “Dịch tài liệu là việc biểu đạt bằng một ngôn ngữ khác
trên văn bản so với ngôn ngữ của một tài liệu xác định, sao cho hai bản (dịch
và nguồn) là tương đương với nhau.” 14
Trên thực tế, tài liệu dịch có thể là
tài liệu bậc 1 (tài liệu gốc) khi giữ nguyên lối hành văn và phong cách của tác giả, có thể là tài liệu bậc 2 (là kết quả của quá trình xử lý thông tin đặc biệt) khi chuyển tải nội dùng nhưng với giọng văn và phong cách của người dịch
1.3.3.4 Phổ biến thông tin chọn lọc (SDI)
Là dịch vụ cung cấp các thông tin có nội dung và hình thức đã được xác định từ trước một cách chủ động và định kỳ tới người dùng tin Dịch vụ này được hình thành trên cơ sở đáp ứng cho người dùng tin những nhu cầu có tính hệ thống, ổn định, đồng thời được thực hiện theo những điều kiện về thời gian xác định
1.3.3.5 Dịch vụ trao đổi thông tin
Dịch vụ này bao gồm: dịch vụ triển lãm, hội chợ, hội nghị, hội thảo, Seminar) Mục đích của dịch vụ này là nhằm giới thiệu trực tiếp cho người dùng tin các sản phẩm, dịch vụ của các đối tượng khác và không giới hạn trong hay ngoài nước, qua đó tạo ra môi trường giao tiếp giữa người cung cấp
và người sử dụng
1.3.3.6 Dịch vụ thư điện tử
Hình thức của dịch vụ này trao đổi thông tin trực tuyến trên các diễn đàn điện tử, hay tổ chức trao đổi thư tín với nhau thông qua sử dụng hệ thống máy tính Ngày nay, dịch vụ này rất phổ biến trên các mạng máy tính, tuy nhiên đối với các cơ quan thông tin thì vẫn còn nhiều hạn chế Dịch vụ này có quan hệ chặt chẽ với các loại dịch vụ khác như cung cấp tài liệu, mượn tài liệu từ xa… Việc phát triển dịch vụ này cho phép dịch vụ có khả năng thu hút đông đảo người sử dụng
14 Trần Mạnh Tuấn: Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện, Sđd, tr 116
Trang 241.4 Người dùng tin
Là những đối tượng sử dụng hoặc được phục vụ các sản phẩm và dịch
vụ của cơ quan thông tin Người dùng tin vừa là khách hàng của các cơ quan thông tin, vừa là những người sản xuất ra thông tin mới Do vậy, vai trò của người dùng tin luôn có sự tương tác qua lại với các cơ quan thông tin
-Người dùng tin luôn là cơ sở để cơ quan thông tin định hướng hoạt động của mình
-Người dùng tin tham gia vào hầu hết các công đoạn của dây chuyền thông tin
-Người dùng tin tham gia sản sinh ra thông tin mới thông qua tiếp xúc
cá nhân
1.4.1 Phân loại người dùng tin
Người dùng tin được phân loại ra hai nhóm cơ bản sau:
- Nhóm thứ nhất: là những nhà nghiên cứu khoa học, các nhà chuyên
môn, kỹ thuật và thực hành, các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khoa học khác nhau
- Nhóm thứ hai: là những nhà lãnh đạo, những người quản lý điều hành
hoạt động khoa học, kinh tế - xã hội trong phạm vi một đơn vị, một địa phương cụ thể hay một quốc gia
Qua việc phân nhóm người dùng tin này, những người làm thông tin có thể phân loại sản phẩm để đáp ứng tốt cho từng nhóm người dùng cụ thể Đối với nhóm thứ nhất, họ cần những thông tin đầy đủ và dưới nhiều khía cạnh
15 Trần Mạnh Tuấn: Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện, Sđd, tr 185
Trang 25khác nhau về chuyên ngành cụ thể, những vẫn đề đang đặt ra hay những thông tin định hướng nghiên cứu trong khoa học, còn đối với nhóm thứ hai, nội dung thông tin họ cần thông thường phải là những thông tin xác thực, tổng hợp, cô đọng và được phân tích một cách có hệ thống, qua đó họ có thể đưa ra được những quyết định và sách lược đúng đắn Do đó có thể nhận thấy chiều sâu của thông tin, mức độ xử lý thông tin và các nhóm người dùng tin có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
1.5 Nhu cầu tin
Là đòi hỏi khách quan của con người – cá nhân, nhóm, xã hội đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người Nó còn là cách thể hiện sự cần thiết tiếp nhận nhận thông tin từ bất kỳ
cá nhân, tập thể về một vấn đề nào đó phù hợp với hành vi, công việc mà họ đang làm Nhu cầu tin không chỉ xuất phát từ nhu cầu nhận thức mà nó còn diễn ra trong thực tiễn lao động sản xuất, trong những công việc thường ngày
và từ những chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mỗi người đảm nhận Nhu cầu tin là loại nhu cầu bậc cao của con người, vì nó là một dạng thể hiện của nhu cầu tinh thần đó là nhu cầu nhận thức, nhu cầu thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mỗi người, nó thể hiện trình độ phát triển của con người trong
xã hội và do đó nhu cầu tin bị tác động bởi nhiều yếu như: điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi
Nhu cầu thông tin khoa học xuất phát từ việc các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học… phải tìm hiểu những hoạt động mình quan tâm đã có ai làm hay chưa và có thể kế thừa gì từ những nghiên cứu khoa học đó Do vậy, nhu cầu thông tin trong lĩnh vực khoa học đòi hỏi ngày một phát triển trong xã hội nói chung và hoạt động khoa học nói riêng
1.6 Kết cấu hạ tầng thông tin
Kết cấu hạ tầng thông tin bao gồm cả phần cứng và phàn mềm Những máy móc phục vụ cho việc truyển tải hoặc chứa đựng thông tin được coi là phần cứng, các hệ điều hành, chương trình chạy trên những hệ thống máy móc đó được gọi là phần mềm Các hệ thống đường truyền internet đóng vai
Trang 26trò quan trọng trong việc truyền tải những thông tin được làm ra Cơ sở vật chất khác như nhà xưởng, các loại máy móc phục vụ in ấn cũng được tác giả coi như là một phần của hạ tầng thông tin
1.7 Marketing
Thuật ngữ “Marketing” là từ tiếng Anh và được dịch sang tiếng Việt là
“tiếp thị”, với khái niệm tiếp thị này thì được hiểu đơn giản là quảng cáo và chào bán hàng hoá Một cái nhìn đơn giản hơn nữa đối với thuật ngữ tiếp thị chỉ là người bán hàng đến tận nhà khách hàng để chào bán sản phẩm của mình Tuy nhiên, trong số những học giả nước ngoài thì Peter Durker cho
rằng “Marketing là hết sức cơ bản đến mức độ không thể xem nó là một chức
năng riêng biệt Nó là toàn bộ công việc kinh doanh dưới góc độ kết quả cuối cùng, tức là dưới góc độ khách hàng… Thành công trong kinh doanh không phải là do người sản xuất, mà chính là do khách hàng quyết định”, còn Ray
Corey đưa ra một cách hiểu hết sức đơn giản và dễ hiểu “Marketing bao gồm
mọi hoạt động mà công ty sử dụng để thích nghi với môi trường của mình một cách sáng tạo và có lợi” 16
Theo Philip Kotler, người theo trường phái
marketing hiện đại, xuất phát từ quan điểm lấy thị trường là đối tượng nghiên cứu chủ yếu để quyết định quá trình sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ đã đưa
ra một khái niệm khái quát và tổng hợp nhất: “Marketing là một quá trình
quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì
họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác” 17 Do vậy, thuật ngữ marketing không được hiểu với nghĩa là thực hiện một cuộc bán hàng – “mời chào và bán” –
mà phải hiểu với nghĩa phát triển hơn đó là làm thế nào để thoả mãn nhu cầu của khách hàng Do vậy, qúa trình trao đổi giữa người tạo ra sản phẩm và dịch
vụ với người có nhu cầu sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu là không thể thiếu trong hoạt động marketing
Trang 271.8 Thực trạng phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại một số cơ quan thông tin
1.8.1 Thực trạng xây dựng và phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại Viện Thông tin khoa học thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Viện thông tin khoa học (VTTKH) có địa chỉ điện tử tại http://vttkh.npa.org.vn, là đơn vị trực thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Viện có chức năng, quản lý, đảm bảo các hoạt động thông tin khoa học, tư liệu, thư viện; nghiên cứu và ứng dụng thông tin khoa học phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, thực hiện chức năng của một trung tâm đầu mối nghiệp vụ thông tin, tư liệu, thư viện của Học viện Hiện nay, VTTKH có nhiệm vụ thông tin, tư liệu và thư viện phục vụ nghiên cứu khoa học và đào tạo của Học viện, tổ chức nghiên cứu và ứng dụng khoa học thông tin, nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và các công nghệ mới, hiện đại phục vụ công tác thông tin khoa học lý luận, chính trị trong toàn Học viện Đồng thời
tổ chức và thực hiện các hoạt động: Thu thập, chọn lọc, xử lý, biên dịch, phân loại, lưu trữ, bảo quản, phát hành và phát triển các nguồn tin trong nước và ngoài nước thành các ngân hàng tin mạch, bao gồm các loại cơ sở dữ liệu, cơ
sở dữ kiện; quản lý và tổ chức hoạt động của Thư viện trung tâm, mạng thông tin điện tử …
1.8.1.1 Các sản phẩm thông tin khoa học tại Viện Thông tin khoa học
Với phương châm bám sát chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Học viện, giữ vững định hướng chính trị trong hoạt động của các ấn phẩm, bên cạnh đó VTTKH không ngừng tìm hiểu, phát hiện những vấn đề mới mà thực tiễn đặt cho công tác nghiên cứu lý luận để hướng các bản tin vào việc bao gói các thông tin về nội dung này
Trang 28- Thông báo sách mới theo chuyên đề
- Thư mục trích báo tạp chí theo chuyên đề
- Thư mục đề tài nghiên cứu khoa học- có tóm tắt
c,Trang tin điện tử
Bước đầu trang web của Viện đã đi vào hoạt động và đáp ứng phần nào nhu cầu của các đối tượng dùng khác nhau trong hệ thống Học viện
Trang 29- Hệ thống phích mục lục: VTTKH đã xây dựng hệ thống tra cứu tìm
tin kiểu truyền thống thông qua hệ thống phích mục lục Hệ thông snày được phân loại theo chuyên đề, được xử lý theo khung phân loại BBK rút gọn gồm
14 mục chuyên đề
- Hệ thống mục lục điện tử: Bên cạnh hệ thống phích mục lục, VTTKH
đã xây dựng hệ thống CSDL bằng phần mềm WINISIS với trên 50.000 biểu ghi, đáp ứng phần nào dịch vụ tra cứu tài liệu trực tuyến Trong thời gian tới, VTTKH sẽ xây dựng mục lục điện tử hồi cố đối với toàn bộ tài liệu của Viện
VITTKH cũng chú trọng đến việc lựa chọn phần mềm, vấn đề tiêu chuẩn (khổ mẫu trao đổi MARC 21, chuẩn biên mục Anh - Mỹ AACR2) thống nhất để có thể trao đổi thuận tiện, tạo tiền đề cho việc chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các đơn vị trong Học viện và với các cơ quan thông tin khác trong nước và quốc tế
1.8.1.2.Các dịch vụ thông tin khoa học
a, Dịch vụ phổ biến thông tin
Dịch vụ này được thực hiện dựa trên bản tin định kỳ và không định kỳ
b, Dịch vụ cung cấp thông tin theo chuyên đề
Dịch vụ này cung cấp cho người dùng tin trong hệ thống học viện những thông tin thư mục mới nhất hoặc những tập tài liệu theo chuyên đề về
đề tài nghiên cứu mà người dùng tin quan tâm Sản phẩm của dịch vụ này là những tập thư mục các tài liệu mới nhất được chọn theo chuyên đề nhất định
hoặc những bộ sưu tập chuyên đề dưới dạng Thông tin chuyên đề, Tư liệu
chuyên đề Qua đó, người dùng tin có được bức tranh khái quát các tài liệu,
các nguồn thông tin về chuyên đề, chủ đề nhất định, từ đó có thể khai thác các nguồn tin gốc, hoặc có thể sử dụng trực tiếp các nguồn tin gốc được tập hơn trong các tập thông tin chuyên đề
c, Dịch vụ cung cấp thông tin chọn lọc (theo yêu cầu)
Cung cấp thông tin có chọn lọc, các tài liệu đặc biệt cho các cấp lãnh đạo, quản lý của Học viện hoặc cho các cán bộ tham gia nghiên cứu trong các chương trình, đề tài trọng điểm cấp nhà nước, cấp bộ
Trang 30d, Dịch vụ tra cứu số và cung cấp tài liệu điện tử
Người dùng tin trong Học viện có thể khai thác tin trên Internet, tra cứu, tìm tin trên các CSDL của Viện thông qua mạn LAN
Ngoài ra còn có dịch vụ thông tin miệng, dịch vụ sao chụp tài liệu, cung cấp các bản sao và gỡ băng ghi âm
Mặc dù với nhiều sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tương đối phong phú song vẫn gặp phải nhiều khó khăn do một số rào cản sau:
Thứ nhất, khả năng sử dụng công nghệ thông tin của đội ngũ cán bộ
làm công tác biên tập, xử lý tin để tìm kiếm, khai thác thông tin trên mạng còn hạn chế
Thứ hai, số lượng cán bộ làm công tác xử lý thông tin, biên tập, dịch
thuật thiếu về số lượng, trong số đó có những cán bộ không có trình độ ngoại ngữ nên việc xử lý biên tập còn nhiều khó khăn Nhiều cán bộ thông tin chưa
có năng lực đánh giá nguồn tin và hiểu được giá trị thông tin
Thứ ba, công tác quảng bá, giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ thông
tin khoa học mới chỉ dừng ở việc giới thiệu bằng tờ gấp về các hoạt động, các sản phẩm và dịch vụ của Viện Trong khi đó nhiều biện pháp như giới thiệu trên các phương tiện thông tin truyền thông, giới thiệu các sản phẩm thông qua các hội nghị, hội thảo… chưa được sử dụng
1.8.2 Thực trạng xây dựng và phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
Thư viện Quốc gia Việt Nam có địa chỉ điện tử tại: www.nlv.gov.vn Tiền
thân của TVQGVN là Thư viện Đông Dương trực thuộc Nha (Sở) Lưu trữ và
Thư viện Đông Dương được thành lập theo Nghị định ngày 29/11/1917 của A.Sarraut – Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Trụ sở đặt tại số 31 đường Trường Thi (nay là phố Tràng Thi) Hà Nội Trải qua nhiều đổi thay, ngày 21/11/1958 Bộ trưởng Bộ Văn hóa ra Nghị định tách Thư viện ra khỏi Vụ
Văn hóa đại chúng thành Thư viện Quốc gia trực thuộc Bộ18
18 http://www nlv.gov.vn
Trang 31Cho đến nay, qua 90 năm hình thành và phát triển, TVQGVN là thƣ viện đứng đầu trong hệ thống Thƣ viện công cộng và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch Thƣ viện đã tạo tập và sử dụng nhiều sản phẩm và dịch vụ thƣ viện - thông tin để phục vụ bạn đọc
b, Thư mục quốc gia và các bản thư mục khác
Đây là sản phẩm lâu đời thứ hai của Thƣ viện, nó đƣợc ra đời với tên
gọi Danh sách lưu chiểu văn hoá phẩm; Mục lục sách; Mục lục xuất bản
phẩm lưu chiểu; Thư mục quốc gia Việt N am Cấu trúc của nó gồm 5 phần:
sách; tác phẩm âm nhạc, tranh ảnh, bản đồ; ấn phẩm định kỳ; các bảng tra cứu Từ tháng 10 năm 1954, Thƣ viện đã biên soạn đƣợc gần 1000 bản thƣ mục, các bản thƣ mục sau này phản ánh những vấn đề chuyên sâu, trên cơ sở bao quát ít tài liệu nhƣng giá trị thực tiễn lại lớn
Trang 32c, Tạp chí Thư viện Việt Nam
Tiền thân là nội san Công tác Thư viện được Thư viện xuất bản từ năm
1962 Từ năm 1992 nội san được đổi tên thành Tập san Thư viện Trước yêu cầu phát triển về lý luận của ngành và yêu cầu về thông tin của giới thư viện trong nước, ngày 8/6/2004, lãnh đạo Bộ VHTT ra quyết định cấp giấy phép
số 64/GP cho TVQGVNxuất bản tạp chí Thư viện Việt Nam với định kỳ 3
tháng/số và được phép phát hành trên phạm vi toàn quốc Qua nhiều khó khăn ban đầu, đến thời điểm hiện nay chất lượng của tạp chí đã không ngừng tăng lên Điều nay được thể hiện qua số lượng cộng tác viên trong và ngoài ngành gửi bài ngày một tăng lên với khoảng 1000 thư viện, tổ chức đặt mua tạp chí này
- CSDL LA(luận án) với 13.000 biểu ghi
- CSDL báo tạp chí: với gần 8000 biểu ghi với nhiều ngôn ngữ khác nhau (không kể chữ tượng hình)
Trước kia các dữ liệu được nhập trên format do Thư viện tạo lập từ UNIMARC với phần mềm quản trị dữ liệu CDS/ISIS, nhưng do một số hạn chế của phần mềm này nên hiện nay Thư viện đã nhập CSDL trên MAR21 với phần mềm Ilib, nhờ vậy, các CSDL này hiện nay đã được đưa lên mạng Internet Chính điều này đã giúp người dùng tin thuận tiện trong khi tra cứu tài liệu cũng như biết được tình trạng của tài liệu mình cần
e, Các cơ sở dữ liệu toàn văn
Hiện nay Thư viện Quốc gia đã số hoá toàn văn được 2.900 bản luận án tiến sĩ với 500.000 trang và 6.400 bản tóm tắt luận án bằng tiếng Việt; 750 bản sách quý Đông Dương được nhập về Thư viện trước tháng 10/1954 với 90.000 trang; 338 quyển sách tiếng Anh viết về Việt Nam với 92.520 trang
Trang 33được thực hiện theo dự án của Đại hội Thư viện Đông Nam Á (CONSAL) Các CSDL này đã được đưa lên mạng LAN để bạn đọc khai thác
1.8.2.2 Hệ thống các dịch vụ thông tin
Nhằm phục vụ bạn đọc với chất lượng tốt nhất, hệ thống làm thẻ thư viện của Thư viện Quốc gia đã tạo nhiều thuận lợi với thủ tục đơn giản nhanh gọn, chính xác giúp bạn đọc nhanh chóng được tiếp cận với tài liệu mình cần Hàng năm TVQGVNcấp hơn 25.000 thẻ bạn đọc, con số này vẫn tăng dần qua các năm Bạn đọc đến với Thư viện hiện là những người đang sống, học tập và làm việc ở Hà Nội từ 18 tuổi trở lên, trong đó số cán bộ làm công tác nghiên cứu chiếm 26%; cán bộ làm công tác quản lý chiếm 19,1%; cán bộ làm công tác giảng dạy là 19,8%; cán bộ làm công tác sản xuất kinh doanh là 25,2%; cán bộ làm các công việc khác như báo chí, dịch thuật, xuất bản chỉ chiếm 9,9%
Với một lượng độc giả lớn như vậy, bên cạnh việc đáp ứng kịp thời những sản phẩm thông tin khoa học, TVQGVN còn chú trọng tới việc ngày một hoàn thiện những dịch vụ thông tin khoa học để phục vụ tốt hơn nhu cầu của độc giả Cho đến thời điểm hiện nay, TVQGVN có những dịch vụ sau
a, Dịch vụ cung cấp tài liệu đọc tại chỗ
Dịch vụ này được tiến hành thông qua 12 phòng đọc, trong đó có 8 phòng đọc tự chọn: phòng đọc mở sách Việt 3 năm gần nhất các KHXH&NV; phòng đọc mở sách Việt 3 năm gần nhất các KHTN và ứng dụng; phòng đọc theo yêu cầu các tài liệu tiếng Việt và tiếng nước ngoài 3 năm trở lại đây; phòng đọc mở tiếng nước ngoài khác (trừ tiếng Anh); phòng đọc mở tài liệu Liên hợp quốc; phòng đọc mở Quỹ Châu Á; phòng đọc báo tạp chí; phòng đọc vi phim, vi phích; phòng đọc mở tài liệu tra cứu; phòng đọc mở tài liệu nghiệp vụ thư viện học; phòng đọc mở tài liệu đa phương tiện
Do nhu cầu của bạn đọc nên TVQGVN còn tiến hành cho mượn liên thư viện trong nước và quốc tế với 100 lượt người/ năm Đây là dịch vụ tương đối mới đối với nhiều thư viện hiện nay Việc mượn liên thư viện trong nước đã là một cố gắng lớn đối với TVQGVN, song mượn liên thư viện quốc
Trang 34tế là một trong những thành công bước đầu vượt qua được những rào cản về địa lý cũng như các quy đỉnh riêng của mỗi quốc gia, mỗi thư viện Điều này giúp cho thư viện có thêm một nguồn tư liệu phong phú hơn và ngày càng đầy
đủ hơn
b, Dịch vụ cung cấp bản sao tài liệu
Đây là loại hình dịch vụ khá phổ biến và được đa số độc giả sử dụng với tần suất lớn Mỗi năm Thư viện cung cấp hàng trăm nghìn trang tài liệu sao chụp theo yêu cầu của bạn đọc và tuân thủ nghiêm ngặt quy định về bản quyền khi sao chụp
c, Dịch vụ hướng dẫn sử dụng tài liệu
Do quy mô của TVQGVN lớn cả về hình thức lẫn nội dung, với nhiều lần thay đổi các quy tắc mô tả tài liệu, bảng phân loại và gần đây nhất là sử dụng công nghệ mới là phần mềm thư viện Ilib nên Thư viện đã chủ động tổ chức quầy thủ thư trực để hướng dẫn cho bạn đọc cách sử dụng thư viện, cách tra tìm thông tin trên các phương tiện tra cứu truyền thống và hiện đại Hàng ngày các cán bộ thủ thư đã giúp đỡ hàng chục lượt người tra cứu tài liệu, kho tàng, giúp bạn đọc tìm chính xác nguồn tài liệu
d, Dịch vụ tra cứu, thông tin
Dịch vụ này được tiến hành theo hai hướng
Thứ nhất, tra cứu giúp giải đáp những câu hỏi của bạn đọc ngay tại chỗ Thứ hai, tra cứu để đáp ứng nhu cầu của bạn đọc được gửi tới từ nhiều nơi Hiện nay hàng năm có từ 400 – 450 yêu cầu của bạn đọc được đáp ứng thông qua chế độ “Hỏi – Đáp” và từ 30 – 50 chuyên đề được lập19
e, Dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện và truy cập Internet
TVQGVN đã tổ chức phòng đọc Đa phương tiện được trang bị đầy đủ trang thiết bị hiện đại gồm 40 máy tính, tivi, đầu đọc đĩa, headphone, webcam… để hỗ trợ người dùng tin khai thác tài liệu đa phương tiện và sử dụng Internet Tuy nhiên mức độ khai thác tài liệu đa phương tiện của người
19 Lê Văn Viết, Sản phẩm và dịch vụ thư viện – thông tin của thư viện quốc gia Việt nam, Sản phẩm và dịch
vụ thông tin phục vụ các ngành khoa học xã hội hiện nay, Hà Nội 2007, tr.25
Trang 35dùng tại Thư viện Quốc gia chưa cao, bạn đọc sử dụng phòng Đa phương tiện chủ yếu là truy cập vào các trang web, sử dụng dịch vụ thư điện tử
Ngoài ra, TVQGVN còn có các dịch vụ khác như: cung cấp thông tin cho bạn đọc thông qua các hoạt động tuyên truyền giới thiệu sách báo; cung cấp thông tin cho bạn đọc thông qua việc biên soạn các bản thư mục; dịch vụ làm vi phim, số hóa tài liệu, tạo lập đĩa CD theo yêu cầu, chuyển đổi dữ liệu
từ băng casset, băng video sang băng VCD, DVD
Về cơ bản các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học của TVQGVN
có lịch sử lâu dài, được khẳng định theo thời gian nhưng luôn khắc phục những rào cản để đổi mới và thích nghi với yêu cầu của bạn đọc cũng như sự phát triển của công nghệ Đến nay các sản phẩm và dịch thông tin khoa học của TVQGVN phong phú và đã đáp ứng khá tốt nhu cầu tin của người dùng tin
1.8.3 Thực trạng xây dựng và phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại Trung tâm thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm Thông tin – Thư viện thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội có địa chỉ điện tử trên Internet là http://www.lic.vnu.edu.vn có chức năng thông tin
và thư viện phục vụ các công tác: đào tạo; nghiên cứu khoa học; nghiên cứu triển khai ứng dụng và quản lý của Đại học Quốc gia Hà Nội Nhiệm vụ chính của Trung tâm là nghiên cứu, thu thập, xử lí, thông báo và cung cấp tin, tư liệu về khoa học, giáo dục, ngoại ngữ và công nghệ phục vụ cán bộ và sinh viên ĐHQGHN cụ thể là:
Tham mưu cho quyết định của lãnh đạo về phương hướng tổ chức và hoạt động thông tin, tư liệu, thư viện nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập trong ĐHQGHN
Xây dựng kế hoạch ngắn hạn và chiến lược phát triển; tổ chức và điều phối toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện trong ĐHQGHN
Thu thập, bổ sung - trao đổi, phân tích - xử lí tài liệu và tin
Thu nhận lưu chiểu những xuất bản phẩm do ĐHQGHN xuất bản và những sản phẩm thông tin khoa học khác
Trang 36Phát triển quan hệ trao đổi, hợp tác quốc tế, đồng thời tham gia tổ chức
và điều hành Liên hiệp thư viện các trường đại học và Hiệp hội thông tin - thư viện Việt nam, là thành viên của Hiệp hội thư viện quốc tế (IFLA)
1.8.3.1 Sản phẩm thông tin khoa học
Hiện tại các sản phẩm thông tin khoa học được chia theo nguồn
a, Các sản phẩm mua, trao đổi, biếu tặng
Sản phẩm trực tuyến bao gồm:
CSDL EBSCO: là CSDL trực tuyến rất lớn với 17.000 tạp chí toàn văn
trong 10 CSDL về khoa học, công nghệ, xã hội nhân văn, giáo dục, kinh tế
Springerlink: đường kết nối tới các CSDL tạp chí về các chủ đề khoa
học xã hội và nhân văn, luật
Wilson OmniFile Complete on eBridge Platform: CSDL bao gồm hơn
3000 tạp chí với 10 chủ đề: Nghệ thuật, thương mại, giáo dục, các vấn đề khoa học chung, nhân văn, thông tin thư viện, khoa học xã hội, …
CSDL Sách điện tử:
Nhiều CSDL điện tử được cung cấp địa chỉ cụ thể, rõ ràng, phân loại cụ
thể theo chuyên ngành hoặc nhóm ví dụ như: CSDL sách điện tử của nhà xuất
bản CRC “Ebrary - Life & physical Sciences” của Nhà xuất bản Ebrary
cung cấp trên 1000 cuốn sách điện tử về khoa học sự sống, thể chất & các khoa học có liên quan khác, địa chỉ truy cập:
http://site.ebrary.com/lib/vnuhanoi
Hiện tại các CSDL nói trên đều được tra cứu trực tuyến dữ liệu cập nhật hàng ngày, giao diện tra cứu thân thiện, dễ sử dụng Đặc biệt đối với từng địa chỉ đều được ghi rõ thời hạn có hiệu lực của từng website Đây là một cách thể hiện sự quan tâm và luôn coi trọng độc giả của Trung tâm mà không phải cơ quan thông tin nào cũng có thể thể hiện được20
b, Các sản phẩm do Trung tâm tự xây dựng
+ CSDL thư mục SACH: bao gồm 127.400 biểu ghi
+ CSDL thư mục TAPCHI: bao gồm 2145 biểu ghi
20 http://www.lic.vnu.edu.vn/website//content/view/42/307/lang,vn/
Trang 37+CSDL về những đề tài, dự án, công trình nghiên cứu khoa học của cán
bộ ĐHQGHN từ 1996 – 2003: 3000 biểu ghi (trong đó mỗi biểu ghi ứng với tên 1 đề tài hoặc công trình khoa học)
+ Xây dựng CSDL về môn học cho 60 ngành học với trên 2000 môn học Với những cơ sở dữ liệu này đều được Trung tâm xuất bản dưới dạng điện tử và in ấn Điều này giúp bạn đọc dễ dạng tiếp cận với tài liệu hơn
Tính đến thời điểm hiện nay, nguồn tài nguyên số hoá của Trung tâm khá đa dạng và phong phú mặc dù còn một số những bất cập đối với những người có nhu cầu tìm thông tin sâu do nguồn tin lớn, và nằm rải rác khắp nơi
Vì vậy, bạn đọc cần phải kết hợp nhiều giao diện khác nhau mới có thể tìm được những tài liệu thật chuẩn xác
1.8.3.2 Dịch vụ thông tin khoa học
Hiện nay, Trung tâm có nhiều loại hình dịch vụ thông tin khoa học khác nhau
a, Dịch vụ kho mở: dịch vụ này còn được gọi là phòng đọc tự chọn
Đây là một trong những loại hình dịch vụ thư viện tiên tiến, mang lại hiệu quả cao so với loại hình phòng đọc thông thường (hay còn gọi là kho đóng) Chính vì vậy, so với những năm học trước, khi chưa có phòng đọc mở này, số lượt bạn đọc đến sử dụng thư viện hiện nay đã tăng hơn 3 lần và số lượt tài liệu phục vụ tại chỗ cũng tăng lên gấp nhiều lần Nhận thức được tính ưu việt của nó, Trung tâm đã và đang triển khai loại hình kho mở tại tất cả các phòng phục vụ bạn đọc21
b, Dịch vụ đa phương tiện
Tại các phòng phục vụ bạn đọc, Trung tâm có các phòng đa phương tiện phục vụ bạn đọc sử dụng các tài liệu dạng CD-Room, VCD, băng cassettes Ở các phòng này, thủ thư luôn sẵn sàng phục vụ và hướng dẫn bạn đọc sử dụng các thiết bị đa phương tiện
c, Dịch vụ Internet
21 Nguyễn Huy Chương, Sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ đào tạo và nghiên cứu về lĩnh vực khoa học
xã hội – nhân văn tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 38Trung tâm có phòng tra cứu Internet với tốc độ cao cùng với những phần mềm ưu việt như phần mềm học tiếng Anh (Langmaster) đang ngày càng thu hút bạn đọc
d, Dịch vụ cho mượn tài liệu về nhà
Đây là loại hình dịch vụ không mới, song không phải cơ quan thông tin nào cũng có loại hình này do việc quản lý bạn đọc cũng như kiểm soát tài liệu rất khó khăn Tuy nhiên dịch vụ này lại khá phát triển với những thủ tục thuận tiện, dễ dàng Với bạn đọc là sinh viên thì có thể mượn tài liệu là 1 học kỳ (giáo trình), với số lượng mượn tối đa là 10 cuốn, ngoài ra Trung tâm còn có những quy định hết sức cụ thể và rõ ràng đối với từng đối tượng bạn đọc cũng như tài liệu
e, Dịch vụ sao chụp tài liệu
Trung tâm sẵn sàng sao chụp tài liệu cho bạn đọc khi có yêu cầu và tuân thủ nghiêm ngặt bản quyền tác giả (Chỉ sao chụp cho bạn đọc với mục đích tham khảo tài liệu để nghiên cứu mà không phải mục đích thương mại)
MỘT SỐ NHẬN XÉT RÚT RA
Qua việc tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại 3 cơ quan thông tin trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau
1 Đa dạng về nội dung
Cả 3 cơ quan thông tin trên đều có các hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin phong phú, đa dạng Mỗi cơ quan đều có những thế mạnh và những sản phẩm nổi bật Đối với Trung tâm thông tin của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, có nhiều bản tin được phát hành theo định kỳ với số lượng phát hành tương đối lớn và đa số là những vấn đề lý luận, chính trị và tài liệu phục vụ lãnh đạo Tại Trung tâm Thông tin của Đại học Quốc gia Hà Nội có ưu điểm là những tài liệu điện tử đã được số hoá, bên cạnh đó
là nguồn tài nguyên khổng lồ về các lĩnh vực chuyên ngành, đặc biệt còn có các bài giảng điện tử, thuận tiện cho đối tượng sử dụng là các sinh viên của trường Đại học Quốc gia Hà Nội Còn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, với lợi thế có kho sách khổng lồ, được thành lập từ cách đây 90 năm nên
Trang 39TVQGVN có khối lượng lớn các thư mục, ngoài ra do đây là nơi lưu chiểu các ấn phẩm nên tài liệu tại TVQGVN rất phong phú về thể loại, ngoài ra còn
có các luận án
Để có được những kết quả như vậy là do các cơ quan thông tin này đều được trang bị cơ sở hạ tầng tốt, với hệ thống máy móc và trang thiết bị hiện đại Các phòng đa phương tiện đều đầy đủ máy móc phục vụ người dùng tin Riêng đối với Thư viện Quốc gia Việt Nam, bên cạnh những đầu tư về máy móc, cơ sở hạ tầng… Thư viện đã tập trung cải tiến nhiều trong khâu xử lý tài liệu, cụ thể là Thư viện đã bắt đầu áp dụng phân loại theo khung phân loại DDC vào khâu xử lý tài liệu từ ngày 15/6 /2007 Trước khi áp dụng, TVQGVN đã mở lớp tập huấn DDC cho 54 cán bộ chuyên môn ở các phòng ban có liên quan đến phân loại; họp liên phòng phân công việc và trách nhiệm những khâu công việc liên quan đến phân loại như tổ chức kho mở, in nhãn tự chọn có sinh mã cutter tự động, cấu trúc thư mục quốc gia, hồi cố dữ liệu về phân loại, phân cấp phân loại cho thư mục quốc gia v.v Điều này cho thấy, các cấp lãnh đạo đã thực sự quan tâm tới các hoạt động của thư viện, không ngừng cải tiến để hoạt động thư viện ngày một tốt hơn nhằm phục vụ tài liệu cho người dùng tin một cách nhanh nhất và chính xác nhất
Trang 40Kết luận Chương 1
Bên cạnh các khái niệm về sản phẩm thông tin khoa học, dịch vụ thông tin khoa học, người dùng tin, và một số khái niệm khác có liên quan, ta có cái nhìn sơ bộ các loại hình sản phẩm và dịch vụ này Để những sản phẩm thông tin khoa học này đến được tới người dùng tin, cần có các dịch vụ phong phú
và đa dạng nhằm tiếp cận được người dùng tin, thuận tiện cho họ khai thác và
sử dụng Nếu những dịch vụ này thực hiện không tốt sẽ là những rào cản trực tiếp tác động tới việc tiếp cận tài liệu của người dùng tin Qua việc tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin tại 3 cơ quan thông tin cho thấy các cơ quan này đều đã chú trọng tới việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học, bên cạnh việc nhận được sự đầu tư tốt về cơ sở hạ tầng thì các
cơ quan này đều có sự quan tâm tới người dùng tin bằng những chính sách và hành động cụ thể Đây chính là điểm mấu chốt để xoá bỏ khoảng cách giữa người dùng tin và nguồn tài liệu