quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của nước ta vì hàng hóa sản xuất của nông dân khó có cơ hội cạnh tranh trên thị trường quốc tế, nên việc đưa thông tin đến nông dân là vấn đề
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN CÔNG UẨN
GIẢI PHÁP ĐƯA THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN NÔNG DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN CÔNG UẨN
GIẢI PHÁP ĐƯA THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN NÔNG DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã số: 60.34.72
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 8
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10
3 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 13
3.1 Mục tiêu 13
3.2 Nội dung 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
6 Câu hỏi nghiên cứu 14
7 Giả thuyết nghiên cứu 14
9 Kết cấu của Luận văn 15
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 16
1.1 Các khái niệm cơ bản 16
1.2 Đặc điểm của thông tin khoa học và công nghệ: 24
1.3 Vai trò của thông tin KH&CN đối với sự phát triển kinh tế- xã hội 25
1.3.1 Thông tin là nguồn lực của sự phát triển xã hội 25
1.3.2 Thông tin trở thành cơ sở cho nhiều hoạt động xã hội 26
1.3.3 Thông tin trong hoạt động kinh tế và sản xuất 27
1.3.4 Thông tin trong sự phát triển của khoa học 27
1.3.5 Thông tin trong phát triển giáo dục 28
1.3.6 Thông tin đối với sự phát triển của quản lý 28
1.3.7 Thị trường thông tin và kinh tế thông tin 29
1.4 Phát triển thông tin KH&CN để trở thành nguồn lực 30
1.5 Chính sách phát triển nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ 33
1.5.1 Đặc điểm nhu cầu thông tin trong giai đoạn hiện nay: 33
Trang 41.5.2 Quan điểm phát triển thông tin KH&CN 33
1.5.3 Mục tiêu tăng cường công tác thông tin KH&CN 34
1.5.4 Nội dung phát triển thông tin KH&CN 35
1.6 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến tổ chức triển khai thông tin khoa học và công nghệ đến nông dân 38
1.6.1 Tâm lý nông dân 38
1.6.2 Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin-thông tin 44
1.6.3 Tính đa dạng của nông thôn 44
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI TIỀN GIANG 46
2.1 Đôi nét về Tiền Giang 46
2.2 Thực trạng nông thôn mới Tiền Giang: 48
2.3 Kết quả khảo sát 56
2.3.1 Chọn mẫu và phương pháp khảo sát 56
2.3.2 Kết quả thu nhận 60
2.3.3 Bàn luận kết quả khảo sát 67
2.4 Thực trạng hoạt động thông tin khoa học và công nghệ 69
2.4.1 Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia 69
2.4.2 Chương trình nông thôn miền núi 70
2.4.3 Các tổ chức thông tin KH&CN tại Tiền Giang 73
2.4.4 Những nội dung và phương thức thông tin KH&CN tại Tiền Giang 74 2.5 Các mô hình cung cấp thông tin KH&CN 86
2.6 Nhận xét, đánh giá việc triển khai thông tin khoa học và công nghệ đến nông dân 90
Chương 3 Định hướng và Các giải pháp 93
3.1 Định hướng phát triển thông tin KH&CN 93
3.1.1 Xúc tiến và phát triển thị trường công nghệ 93
3.1.2 Nâng cao nhận thức và phổ biến KH&CN trên các phương tiện thông tin đại chúng 93
3.1.3 Tổ chức lưu giữ và sử dụng kết quả đề tài, dự án 93
3.1.4 Phát triển hệ thống thông tin KH&CN nông thôn 94
Trang 53.1.5 Đào tạo chuyên viên thông tin KH&CN 94
3.1.6 Khai thác các CSDL hiện có 94
3.2 Các giải pháp 94
3.2.1 Xúc tiến và phát triển thị trường công nghệ 94
3.2.2 Xác định nguồn thông tin KH&CN 95
3.2.3 Xây dựng mô hình chuyển giao thông tin, tiến bộ KH&CN xuống nông thôn 96
3.2.4 Đổi mới cơ chế quản lý thông tin khoa học và công nghệ: 99
3.2.5 Tăng cường năng lực thông tin KH&CN 99
3.2.6 Phát triển tiềm lực thông tin khoa học công nghệ 101
KẾT LUẬN 103
Kết quả đạt được: 103
Vấn đề còn tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu: 104
KHUYẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 112
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
CSDL: Cơ sở dữ liệu
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
GAP: Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
Trang 7 Merge multiple PDF files into one
Select page range of PDF to merge
Select specific page(s) to merge
AnyBizSoft
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Nhu cầu về nội dung thông tin 61
Biểu 2.1 Nhu cầu về nội dung thông tin 61
Bảng 2.2 Phương tiện thông tin 62
Biểu 2.2 Phương tiện thông tin 62
Bảng 2.3 Hình thức thông tin 63
Biểu 2.3 Hình thức thông tin 63
Bảng 2.4 Cấp tổ chức triển khai 64
Biểu 2.4 Cấp tổ chức triển khai 64
Bảng 2.5 Cách trình bày và nội dung thông tin 65
Biểu 2.5 Cách trình bày và nội dung thông tin 65
Bảng 2.6 Mức độ nắm bắt thông tin chính sách, pháp luật, chương trình hỗ 66
Biểu 2.6 Mức độ nắm bắt thông tin chính sách, pháp luật, chương trình hỗ trợ 66 Bảng 2.7 Đánh giá sự phối hợp giữa các cơ quan thông tin KH&CN 67
Biểu 2.7 Đánh giá sự phối hợp giữa các cơ quan thông tin KH&CN 67
Hình 3.1 Mô hình thông tin KH&CN địa phương 97
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010”, có nêu “Đẩy mạnh việc nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho sản xuất, coi đây là khâu đột phá quan trọng nhất để phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn” Nghị quyết Trung ương 7, khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn chỉ rõ nông nghiệp và kinh tế nông thôn là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân Chính phủ có cả Chương trình hành động số 24/2008 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Như vậy hiện nay nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức mới đối với nông thôn và tác động đến sự phát triển bền vững đất nước
Thông báo số 196/TB-VPCP ngày 09 tháng 7 năm 2009 của Văn phòng chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại cuộc họp bàn về việc đưa thông tin đến người dân ở cấp xã, thôn đã cho thấy tầm quan trọng của việc đưa thông tin đến nông dân
Về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp
và phát triển nông thôn Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang có kế hoạch 171/KH-UBND ngày 24/12/2008 thực hiện chương trình hành động của Tỉnh
ủy về thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành
TW Đảng khóa X về nông nghiệp - nông dân - nông thôn
Tiền Giang là một tỉnh nông nghiệp với số lượng nông dân chiếm hơn 80% dân số của tỉnh Hiện nay vấn đề cấp bách của nông dân là vốn, thị trường tiêu thụ và thông tin nói chung, thông tin khoa học và công nghệ nói riêng Đặc điểm của nông dân hiện nay là sản xuất nhỏ, manh mún, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Điều này gây không ít khó khăn cho nông dân trong
Trang 10quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của nước ta vì hàng hóa sản xuất của nông dân khó có cơ hội cạnh tranh trên thị trường quốc tế, nên việc đưa thông tin đến nông dân là vấn đề hết sức bức thiết, trong đó có thông tin khoa học và công nghệ giúp nông dân thay đổi tập quán thói quen sản xuất, nâng cao năng suất, cải tiến chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu… góp phần nâng cao giá trị sản phẩm giúp nông dân cải thiện đời sống và phát triển kinh tế xã hội nông thôn
Hiện nay có rất nhiều nguồn tin và phương tiện thông tin tuy nhiên vấn
đề đặt ra là việc chọn lọc thông tin tin cậy, cung cấp thông tin phù hợp, kịp thời đúng đối tượng, vận dụng được để phục vụ phát triển sản xuất vẫn còn là một vấn đề hết sức phức tạp nhất là đối tượng sử dụng tin là nông dân Vì lý
do trên đây tác giả chọn đề tài “Giải pháp đưa thông tin khoa học và công nghệ đến nông dân“ làm đề tài nghiên cứu của luận văn cao học này Từ những thực tiễn trên đề tài nghiên cứu nhằm đề xuất những giải pháp đưa thông tin khoa học và công nghệ đến tay nông dân sao cho có hiệu quả và thiết thực
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đến nay trong nước có một số công trình khoa học về tổ chức công tác thông tin phục vụ nông thôn
Đề tài “Triển khai mô hình cung cấp thông tin khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế -xã hội nông thôn, miền núi tại các huyện”, năm
2000, của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (nay là Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia) được tiến hành nhằm xây dựng tại mỗi huy ện mô ̣t t ổ chức thông tin khoa học và công nghệ được trang bi ̣ đồng bô ̣:
Trang 11+ Các thiết bị công nghê ̣ thông tin - truyền thông tiên tiến (máy vi tính , máy in Laser, máy ảnh số, đầu đo ̣c DVD, bô ̣ TV, Internet tốc đô ̣ cao (ASDL), máy sao chụp (Photocopy), )
+ Thư viện điê ̣n tử và các CSDL với nô ̣i dung thông tin phong phú, thiết thực dưới nhiều hình thức thuâ ̣n tiê ̣n đã được số hóa về tất cả các lĩnh vực liên quan đến phát triển kinh t ế -xã hội tuyến huyê ̣n như kinh tế (nông-lâm-ngư nghiê ̣p, công nghiê ̣p, thủ công nghiệp, dịch vụ), xã hội, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, phát triển làng nghề , văn hóa, văn minh, dưới các da ̣ng tài liê ̣u phim khoa học và công nghệ, văn bản pháp luâ ̣t , tiêu chuẩn, kết quả nghiên cứu, nhãn hiệu hàng hóa, phù hợp với trình độ dân trí ta ̣i đi ̣a bàn
+ Khả năng truy cập và khai thác trực tuyến Chợ Công nghệ và Thiết bị trên ma ̣ng (http://www.techmartvietnam.com.vn), Mạng thông tin khoa h ọc
và công nghệ Viê ̣t Nam (http://www.vista.gov.vn) và hàng loạt các nguồn t in khoa học và công nghệ khác trên internet , như www.agroviet.gov.vn, www.stp.gov.vn,
- Xây dựng và phát triển trang điê ̣n tử giới thiê ̣u và quảng bá các thành
Internet;
- Xây dựng cơ chế trao đổi thông tin đa chiều từ trên xuống , từ dưới lên
và trao đổi thông tin theo chiều ngang giữa các địa phương;
- Phát triển đội ngũ cán bộ khoa h ọc và công nghệ tại chỗ đủ năng lực tiếp nhâ ̣n, triển khai và phát huy lâu dài hiê ̣u quả của dự án để phổ biến tri thức và chuyển giao công nghê ̣ phu ̣c vu ̣ phát triển kinh tế -xã hội trên đi ̣a bàn
Đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng mạng thông tin khoa học
và công nghệ khu vực đồng bằng sông Cửu Long” của Trường Đại học Cần Thơ được tiến hành nhằm mục tiêu:
Trang 12+ Phục vụ phát triển sản xuất và đời sống cho nhân dân khu vực nông thôn vùng ĐBSCL;
+ Tăng cường trao đổi, chia sẻ thông tin trong công tác quản lý KH&CN giữa các Sở Khoa học và Công nghệ;
+ Tạo cầu nối gắn kết chặt chẽ các hoạt động chuyên ngành của các Sở KH&CN tại các địa phương, phát huy được thế mạnh của vùng nhất là lĩnh vực quản lý, nghiên cứu và ứng dụng KH&CN;
+ Cung cấp thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh tế xã hội nhất là địa bàn sản xuất nông nghiệp và nông thôn khu vực ĐBSCL thông qua xây dựng hệ thống thông tin và mạng thông tin KH&CN phù hợp với nhu cầu và trình độ của nhân dân trong vùng;
+ Tăng cường sự hiểu biết và ứng dụng công nghệ thông tin trong nhân dân nhất là khu vực nông thôn;
+ Tạo điều kiện kết nối, rút ngắn khoảng cách về trình độ KH&CN giữa các khu vực, giữa nông thôn và thành thị;
+ Nâng cao năng lực người dân, hỗ trợ người dân học tập và ứng dụng KH&CN phục vụ phát triển sản xuất và đời sống bằng phương tiện công nghệ thông tin truyền thông
Tiền Giang là một tỉnh vừa thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng song cho đến nay trong tỉnh chưa có đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này Mặc dù hiện nay có các tổ chức khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công, Phòng Thông tin khoa học và công nghệ của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh triển khai việc đưa tin khoa học và công nghệ đến nông dân Tuy nhiên chưa
có sự kết hợp giữa các tổ chức này thành một hệ thống và cũng chưa có đánh giá toàn diện về hiệu quả ứng dụng của các thông tin này đến hoạt động sản xuất của nông dân
Trang 133 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn tổ chức thông tin phục
vụ nông thôn đồng bằng sông Cửu Long;
- Đề xuất các giải pháp thích hợp cho việc tổ chức triển khai thông tin khoa học và công nghệ đến nông dân trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Hiện trạng tổ chức đảm bảo và phục vụ TT cho nông dân;
Đề xuất các giải pháp và mô hình HTTT khoa học và công nghệ nhằm nâng cao năng lực đảm bảo TT phục vụ nông dân đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động đảm bảo và cung cấp thông tin khoa học và công nghệ đến nông dân trên địa bàn đồng bằng sông Cửu long
Phạm vi nghiên cứu: trong tỉnh Tiền Giang từ năm 2009 đến 2010
5 Mẫu khảo sát
Chuyên viên sở, ngành có liên quan đến thông tin khoa học và công nghệ đến nông dân
Lãnh đạo xã, hợp tác xã, nông dân, xã viên
Lãnh đạo sở, ngành có liên quan đến thông tin khoa học và công nghệ đến nông dân
Trang 14Cụ thể như sau:
Đối tượng chuyên viên sở, ngành gửi email và nhận 30 phiếu trả lời của chuyên viên Sở Nông nghiệp và PTNN 15 phiếu, Chi cục Quản lý HTX 8 phiếu, Sở Khoa học và Công nghệ 7 phiếu
Đối tượng lãnh đạo xã, hợp tác xã, nông dân, xã viên gửi phiếu điều tra qua chuyên viên phụ trách KH&CN của HTX và huyện nhận về 130 phiếu trong đó 50 phiếu của xã viên HTX Nông nghiệp Quyết Thắng vùng chuyên canh khóm (dứa) huyện Tân Phước, 50 phiếu của nông dân tự do của xã Bình Nhì, huyện Gò Công Tây, 30 phiếu lãnh đạo xã Bình Nhì, lãnh đạo HTX Nông nghiệp Quyết Thắng, lãnh đạo HTX Nông nghiệp Bình Tây.(Xem Phụ lục)
6 Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để đưa thông tin khoa học và công nghệ đến nông dân đồng bằng Cửu Long có hiệu quả?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đặc điểm nhu cầu thông tin
và tổ chức thông tin cho nông dân đồng bằng Cửu Long tác giả đưa ra ý tưởng khoa học của luận văn:
Tổ chức thông tin KH&CN theo kiểu “kinh viện“ và “hàn lâm“ không phù hợp và từ đó không thể đáp ứng nhu cầu thông tin của nông dân, nông thôn đồng bằng Cửu Long trong sản xuất, kinh doanh tạo ra hiệu quả kinh tế-
xã hội
Tổ chức thông tin đến với nông dân đồng bằng Cửu Long cần phải có cách làm riêng, hữu ích đáp ứng các yêu cầu của thực tế
Trang 158 Phương pháp nghiên cứu
Điều tra xã hội học: Gồm 3 nhóm đối tượng điều tra: Nông dân tại Hợp tác xã nông nghiệp, nông dân xã; Chuyên viên quản lý hợp tác xã/xã; Chuyên viên làm công tác thông tin (bao gồm quản lý, kỹ thuật và chuyên viên thông tin)
Hội thảo giữa Ban chủ nhiệm HTX, Hội nông dân, nông dân và các đơn
vị cung cấp thông tin
Thảo luận nhóm thực hiện (các cộng tác viên thực hiện)
Phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia của các đơn vị liên quan như Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp, Phát triển nông thôn; Trung tâm Khuyến nông, ngư, Trung tâm Hỗ trợ nông dân-Hội Nông dân, Liên minh HTX, Chi cục Phát triển nông thôn…
Nghiên cứu tài liệu
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng hoạt động thông tin KH&CN tại Tiền Giang Chương 3: Định hướng và các giải pháp
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Các khái niệm cơ bản
Thuật ngữ “Thông tin” (gốc La tinh là Informatio - có nghĩa là diễn giải, thông báo, lý giải) là thuật ngữ thông dụng nhất, được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đời sống hàng ngày, thông tin được hiểu là tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh Trong các lĩnh vực khoa học khác như triết học, toán học, vật lý học, điều khiển học, di truyền học khái niệm thông tin được sử dụng nhưng có nội dung rất khác nhau, không giống như cách hiểu trong đời sống hàng ngày:
Theo quan điểm điều khiển học: Thông tin là tính trật tự của các đối
tượng vật chất có những mối liên hệ biện chứng
Theo quan điểm hệ thống: Thông tin là sự hạn chế tính đa dạng của mỗi
hệ thống sự vật đối với môi trường
Theo quan điểm triết học: Thông tin là một phạm trù triết học phản ánh
sự vận động và tương tác của các hiện tượng, sự vật của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy
Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5453 - 1991: Thông tin là các dữ liệu, tin tức
được xem xét trong quá trình tồn tại và vận động trong không gian và thời gian Như vậy, khái niệm thông tin được hiểu là các tin tức, dữ liệu phản ánh các hiện tượng, sự vật của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy được xem xét trong quá trình tồn tại và vận động của chúng trong không gian và thời gian
Theo Nghị định 159/2004/NĐCP của Chính phủ ngày 31/8/2004 phần
giải thích thuật ngữ:
- "Thông tin khoa học và công nghệ" là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin
tức, tri thức khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng
Trang 17nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội
- "Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ" là hoạt động nghiệp vụ
về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin khoa học và công nghệ; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin khoa học và công nghệ
- "Tài liệu" là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản,
âm thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến
và sử dụng
- "Vật mang tin" là phương tiện vật chất dùng để lưu giữ thông tin gồm
giấy, phim, băng từ, đĩa từ, đĩa quang và các vật mang tin khác
- "Nguồn tin khoa học và công nghệ" bao gồm sách, báo, tạp chí, cơ sở
dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tài liệu về sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được tổ chức, cá nhân thu thập
- "Tổ chức dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ" là đơn vị sự nghiệp
thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thành lập theo quy định của pháp luật
Theo http://vi.wikipedia.org:
Thông tin là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội Điều cơ bản là con người thông qua việc cảm nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng
Thông tin được lưu trữ trên nhiều dạng vật liệu khác nhau như được khắc trên đá, được ghi lại trên giấy, trên bìa, trên băng từ, đĩa từ Ngày nay, thuật ngữ "thông tin" (information) được sử dụng khá phổ biến Thông tin
Trang 18chính là tất cả những gì mang lại hiểu biết cho con người Con người luôn có nhu cầu thu thập thông tin bằng nhiều cách khác nhau: đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, giao tiếp với người khác Thông tin làm tăng hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của quyết định trong quản lý Môi trường vận động thông tin là môi trường truyền tin, nó bao gồm các kênh liên lạc tự nhiên hoặc nhân tạo như sóng âm, tia sáng, dây dẫn, sóng âm thanh, sóng hình Kênh liên lạc thường nối các thiết bị của máy móc với nhau hay nối với con người Con người có hình thức liên lạc tự nhiên qua tiếng nói và cao cấp là qua chữ viết Ngày nay nhiều công cụ phổ biến thông tin đã xuất hiện: bút viết, máy in, điện tín, điện thoại, phát thanh, truyền hình, phim ảnh v.v
Về nguyên tắc, thì bất kỳ cấu trúc vật chất nào hoặc bất kỳ dòng năng lượng nào cũng có thể mang thông tin Các vật có thể mang thông tin được gọi là giá mang tin (container) Thông tin luôn mang một ý nghĩa xác định nhưng hình thức thể hiện của thông tin thì rõ ràng mang tính quy ước Chẳng hạn ký hiệu "V" trong hệ đếm La Mã mang ý nghĩa là 5 đơn vị nhưng trong
hệ thống chữ La tinh nó mang nghĩa là chữ cái V Trong máy tính điện tử, nhóm 8 chữ số 01000001 nếu là số sẽ thể hiện số 65, còn nếu là chữ sẽ là chữ
"A"
Trên đây là các khái niệm liên quan đến phạm trù thông tin, tuy nhiên để hiểu rõ về đối tượng được thông tin là khoa học và công nghệ cần phải phân biệt khái niệm khoa học, khái niệm công nghệ, khái niệm khoa học kỹ thuật,
và khái niệm khoa học công nghệ
Khái niệm khoa học: Hiện nay, người ta đề cập đến khái niệm khoa học
ở ba khía cạnh sau:
Trang 19+ Khoa học là hệ thống những hiểu biết hoặc tri thức của con người về
tự nhiên - xã hội - tư duy, nó tồn tại dưới dạng các lý thuyết, định lý, quy luật, nguyên tắc, phạm trù, tiền đề
+ Khoa học là một hình thái ý thức - xã hội thể hiện tồn tại xã hội trong nội dung, mục đích và các chuẩn mực giá trị, các nguyên lý thế giới quan trong triết học và bức tranh chung về thế giới
+ Khoa học là một dạng hoạt động lao động của con người, nó ra đời trong quá trình chinh phục giới tự nhiên và khoa học giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của con người Đó là một hình thức hoạt động đặc thù, là hoạt động nhận thức Nó ra đời chỉ ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử
Từ ba khía cạnh trên, chúng ta có thể định nghĩa, khoa học là hệ thống các kiến thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy dựa trên những phương pháp được xác định để thu nhận kiến thức
Theo Cẩm nang chuyển giao công nghệ khái niệm kỹ thuật và công nghệ:
Kỹ thuật: là một kỹ năng cần thiết để thực hiện một số nhiệm vụ đặc thù (thường là kỹ năng cụ thể) Ví dụ : người thợ hàn, nhà quản lý, người chủ bút…
Công nghệ: Là hệ thống thông tin trọn gói và các bí quyết cần thiết để sản xuất một sản phẩm hoặc thực hiện một số nhiệm vụ Ví dụ công nghệ hàn
kỹ thuật cao bao gồm các kiến thức khoa học cụ thể về kim loại ở nhiệt độ cao, về hồ quang điện và khí, về kiểm tra bằng tia X đối với các vết nứt nhỏ cũng như kiến thức về kỹ thuật vật lý về hàn Sự chuyển giao giữa hai công ty luôn luôn là sự chuyển giao công nghệ, không bao giờ chỉ là chuyển giao về
kỹ thuật
Theo Luật Chuyển giao công nghệ:
Trang 20Bí quyết kỹ thuật là thông tin được tích luỹ, khám phá trong quá trình
nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có ý nghĩa quyết định chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ
Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không
kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Chợ công nghệ, hội chợ công nghệ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ là nơi trưng bày, giới thiệu, mua bán công nghệ, xúc tiến
chuyển giao công nghệ và cung cấp các dịch vụ khác về chuyển giao công nghệ
Hệ thống thông tin (Information system): Trong xã hội phát triển thông
tin đã trở thành một nguồn tài nguyên quan trọng và to lớn cần được tạo lập,
xử lý và khai thác bằng những phương pháp và công cụ thích hợp Từ đó xuất hiện khái niệm Hệ thống thông tin mà ngày nay nhấn mạnh tới việc sử dụng công cụ máy vi tính và mạng truyền tin bằng hệ thống mạng internet để xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin
Trong HTTT có các khái niệm sau:
Dữ liệu (Data): biểu diễn một tập hợp các giá trị mà khó biết được sự
liên hệ giữa chúng (Ví dụ: Nguyễn Văn A, 003737, 01002, 30/11/60, H., v.v…) Dữ liệu là các mẫu thông tin thô chưa được xử lý Như vậy, khái niệm
dữ liệu hẹp hơn khái niệm thông tin, dữ liệu có thể biểu diễn dưới nhiều dạng khác nhau (văn bản, âm thanh, hình ảnh, v.v )
Thông tin (Information): Thông tin luôn mang ý nghĩa và gồm nhiều giá
trị dữ liệu, nghĩa là những dữ liệu được sắp xếp lại thành từng tổ hợp có cấu trúc, có ý nghĩa, có nội dung thì trở thành thông tin Ví dụ về dữ liệu trên có thông tin như sau:
Nguyễn Văn A: số hiệu công chức 003737, chuyên viên chính, sinh ngày 30/11/1960 tại Hà Nội
Trang 21Thông tin = Dữ liệu + Xử lý
Thông tin giá trị có các đặc điểm :
có phần cứng, phần mềm, dữ liệu, con người và quy trình xử lý
Hệ thống thông tin được xây dựng trong các tổ chức là tất cả các thành phần và những tài nguyên cần thiết để truyền và xử lý thông tin cho tổ chức Các loại hệ thống trong hệ thống thông tin hiện đại Nền tảng kỹ thuật của HTTT là công nghệ thông tin (IT) – các công nghệ cần thiết cho hệ thống vận hành Xét theo đặc điểm của thông tin và tính chất xử lý người ta chia HTTT thành:
TPS–Transaction Processing System: Hệ thống xử lý giao dịch/ giao tác MIS–Management Information System : Hệ thống thông tin quản lý DSS–Decision Support System: Hệ thống hỗ trợ ra quyết định
EIS–Executive Information System: Hệ hỗ trợ lãnh đạo
ES–Expert System: Hệ chuyên gia
KMS–Knowledge Management System: Hệ quản lý kiến thức
DW–Data WareHouse: Kho dữ liệu, sử dụng các công cụ khai thác dữ liệu để rút ra tri thức
Trang 22Tri thức: Thông tin sau khi được thu thập, xử lý để nhận thức Khi tiếp
thu và xử lý thông tin, con người có những hiểu biết về đối tượng, về quy luật vận động và tương tác của đối tượng đó đối với thế giới vật chất xung quanh Những hiểu biết đó được gọi là tri thức
Giữa thông tin và tri thức đôi khi không có ranh giới rõ ràng Để phân biệt thông tin và tri thức ta có thể hình dung mối quan hệ giản dị: thông tin là
“cái của người” còn tri thức là “cái của mình” Tri thức có tính cách cá nhân,
nó bao gồm tất cả những hiểu biết của một người, nó tồn tại dưới nhiều hình thức như “biết”, “biết cái gì”, “biết như thế nào”, “biết làm thế nào”
Phân biệt tri thức được hệ thống hóa với tri thức tiềm ẩn là điều quan trọng Tri thức được hệ thống hóa là tri thức được chuyển thành thông tin để
có thể dễ dàng truyền đạt, trao đổi, phổ biến rộng rãi đến mọi người Tri thức dạng tiềm ẩn như năng khiếu, khó có thể hệ thống hóa để trở thành thông tin,
vì vậy khó có khả năng truyền đạt, trao đổi, phổ biến rộng rãi cho người khác Tri thức tiềm ẩn thường gắn với chủ thể - cá nhân con người, tổ chức, dân tộc, đất nước cụ thể
Phân loại thông tin:
Tương ứng với các khái niệm đã định nghĩa ở phần trên có thông tin tương ứng
Thông tin khoa học: là thông tin về lý thuyết như các quy luật, học
thuyết…
Thông tin kỹ thuật: Chủ yếu là các thông kỹ năng, thiết bị, máy móc,
công cụ, một phần của công nghệ
Thông tin công nghệ: là thông tin các giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ
thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện Thông tin công nghệ bao gồm các loại thông tin chủ yếu sau:
Trang 23Thông tin về chính bản thân công nghệ bao gồm các yếu tố như dây chuyền công nghệ, các đặc trưng kinh tế- kỹ thuật;
Thông tin kinh tế thị trường công nghệ, sản phẩm hàng hóa do công nghệ tạo ra;
Thông tin về tiềm năng sản xuất, các doanh nghiệp sản xuất;
Thông tin về chuyên gia thực hiện thúc đẩy và triển khai công nghệ, tư vấn, đánh giá, lựa chọn công nghệ và chuyển giao công nghệ;
Thông tin về luật lệ, quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
Ngoài ra để triển khai được hoạt động thông tin khoa học và công nghệ cũng cần phân loại và bố trí nhân sự thông tin:
Chuyên viên kỹ thuật thông tin (Information technicans): chuyên viên này có kiến thức và kỹ năng tác động vào cấu trúc và tổ chức của thông tin trong sự tồn tại và vận động của chúng Chuyên viên có nhiệm vụ như định chỉ số, biên mục, mã hóa, lưu trữ, tìm kiếm và trong giai đoạn hiện nay là xây dựng tệp tin, tạo dựng và quản trị các cơ sở dữ liệu, hiệu đính trực tuyến, tìm tin…qua hệ thống máy tính
Chuyên viên thông tin (Editor): Chuyên viên sử dụng các phương pháp trình bày và biến đổi liên quan nhiều đến phần nội dung và cấu trúc của thông tin với mục đích làm “trồi” lên giá trị gia tăng
Giám đốc thông tin(CIO): quản lý và điều hành hoạt động thông tin của một tổ chức.1
Trong luận văn này chúng tôi tập trung làm rõ các vấn đề thông tin theo nội dung khoa học và công nghệ trong đó đặc biệt chú ý đến thông tin tiến bộ
kỹ thuật và thông tin công nghệ đến nông dân
Trang 24
1.2 Đặc điểm của thông tin khoa học và công nghệ:
Khoa học Công nghệ
Sản phẩm bất định Sản phẩm xác định
Quá trình rủi ro Quá trình tin cậy
Hoạt động không lặp lại Hoạt động theo chu kỳ
Sản phẩm tồn tại vĩnh viễn Liên tục đổi mới, công nghệ cũ tiêu vong
Từ những đặc điểm khác nhau giữa khoa học và công nghệ dẫn tới sự khác nhau trong tổ chức thông tin Trong thông tin khoa học, thư viện là nguồn chính, đó là nơi các nhà khoa học, nhà nghiên cứu thường lui tới vì các nhu cầu thông tin cần hiểu biết của họ
Trong thông tin công nghệ, thư viện không phải là nguồn chính, vì lẽ đó những người dùng thông tin công nghệ ít tới thư viện Quá trình hoạt động thông tin công nghệ chỉ diễn ra khi có yêu cầu của người sản xuất, nhà đầu tư… và đáp ứng yêu cầu của họ Vì vậy việc tạo nguồn thông tin công nghệ hướng nhiều vào việc chuẩn bị và bao gói thông tin và đáp ứng yêu cầu tin hơn là mở rộng và bảo trì một thư viện dưới dạng truyền thống
Yêu cầu của người dùng tin công nghệ là khá đặc biệt Họ cần thông tin
cụ thể để làm như: một quy trình công nghệ cụ thể, sử dụng một loại nguyên liệu với một khoản tiền tương đối rõ ràng đáp ứng sản phẩm đầu ra ổn định Những yêu cầu như vậy không thể đáp ứng chỉ bằng cách mô tả đại cương có thể tìm thấy trong sách báo kỹ thuật mà chủ yếu bằng các thông tin chi tiết từ các nơi làm ra công nghệ hoặc từ các nguồn thông tin công nghệ
2
Vũ Cao Đàm- Phương pháp luận Khoa học và Công nghệ
Trang 25Nguồn thông tin công nghệ rất phong phú và đa dạng Đó là những tổ chức hỗ trợ phát triển, bao gồm cả các tổ chức tài chính, các tổ chức khuyến khích áp dụng công nghệ, triển lãm, chợ công nghệ, các hiệp hội, các sứ quán nước ngoài, các tổ chức thương vụ nước ngoài, các catalô công nghiệp, dữ liệu patent…
Trong lĩnh vực quản lý người ta cho rằng thông tin không phải chỉ là nội dung mà cũng không phải chỉ là ý nghĩa Thông tin ít liên quan đến những gì chúng ta đã biết mà liên quan rất nhiều đến những gì chúng ta chưa biết, mặt khác, thông tin không đồng nhất với dữ kiện Bàn luận sâu hơn, từ ý nghĩa của thông tin ta có thể rút ra các dữ kiện; một dữ kiện có phải là thông tin hoặc không còn tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và con người cụ thể tiếp nhận chúng Một số dữ kiện nói lên những gì chúng ta đã biết thì các dữ kiện đó không phải là thông tin Thông tin được sử dụng để làm gia tăng sự đúng đắn trong mọi hoạt động của con người vì vậy chất lượng và tính kịp thời của thông tin
là yếu tố rất quan trọng
1.3 Vai trò của thông tin KH&CN đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
1.3.1 Thông tin là nguồn lực của sự phát triển xã hội
Ngày nay, cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra với quy mô lớn - nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Khoa học công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội thì thông tin khoa học công nghệ được trở thành nguồn lực tạo nên những ưu thế về kinh tế và chính trị cho mỗi nước Tiềm lực khoa học và kỹ thuật là điều kiện
để nâng cao năng suất, hiệu quả của nền sản xuất xã hội thì thông tin khoa học công nghệ được coi là yếu tố cấu thành rất quan trọng của tiềm lực khoa học
kỹ thuật
Nhờ có thông tin mà có sức cạnh tranh trong việc để các nhà sản xuất tạo
ra sản phẩm có giá thành thấp nhưng trình độ tiên tiến hơn Thông tin là nền
Trang 26tảng phát triển khoa học công nghệ: để có sản phẩm mang tính cạnh tranh phải đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm để phát triển sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp nói riêng và quốc gia nói chung Mặt khác, thông tin là tiền
đề để phát triển khoa học quy luật phát triển khoa học là tính kế thừa mà thông tin với vai trò là bộ nhớ và đường dẫn đưa các thành tựu trước đây truyền qua không gian, thời gian được loài người tích luỹ trở thành cái mới Thông tin rút ngắn khoảng cách về thời gian và áp dụng cho cái mới Thông tin giúp khoa học phát triển, là nền tảng để phát triển công nghệ mới, đổi mới sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ Thông tin là tài sản kinh tế , là nguồn lực phát triển của mỗi quốc gia Trước đây, mọi nền kinh tế đều dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên Việc sở hữu, sử dụng
và khai thác thông tin đã và đang đem lại hiệu quả về kinh tế rất lớn cho đời sống xã hội trong khi tài nguyên thiên nhiên khó có thể mở rộng phát triển không ngừng
Khả năng mở rộng của thông tin thể hiện ở chính các thuộc tính của thông tin:
- Thông tin là nguồn lực vô hình và không bị hạn chế;
- Thông tin thường lan truyền một cách tự nhiên;
- Thông tin không bao giờ cạn đi mà trái lại càng trở nên phong phú do
đó được tái tạo và bổ sung thêm các nguồn thông tin mới;
- Thông tin được chia sẻ, nhưng không mất đi trong giao dịch
1.3.2 Thông tin trở thành cơ sở cho nhiều hoạt động xã hội
Khả năng truyền với tốc độ cao và khả năng đem lại ưu thế cho người dùng tin, thông tin đã thực sự đi vào hoạt động tích cực cho các ngành, các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ sở giáo dục đào tạo, hoạt động xuất bản, tiếp thị và hoạt động chính trị
Trang 27Mối quan tâm của xã hội đối với việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được mở rộng, đặc biệt trong việc quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên Thông tin về kinh tế đem lại sự ổn định cho thị trường; thông tin chính trị và thời sự giúp cho các thành viên trong xã hội
có thái độ về chất lượng xã hội đúng đắn; thông tin về thời tiết đảm bảo an toàn cho người sản xuất
1.3.3 Thông tin trong hoạt động kinh tế và sản xuất
Thông tin là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động kinh tế và sản xuất bởi:
- Nhu cầu của khách hàng luôn thay đổi liên tục
- Khuynh hướng thị trường ngày càng mở rộng
- Các vật liệu sản xuất mới đang xuất hiện
- Các thiết bị mới với khả năng kỹ thuật cao thay đổi liên tục
- Các công nghệ mới được triển khai áp dụng thường xuyên
Từ giữa thế kỷ XX, nền sản xuất công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ, nhu cầu thông tin và xử lý thông tin mới nảy sinh nhanh chóng Sản xuất đòi hỏi thông tin: nhu cầu, giá cả và kỹ thuật đáp ứng kịp thời, do đó vai trò của thông tin ngày càng quan trọng
1.3.4 Thông tin trong sự phát triển của khoa học
Vai trò của thông tin thể hiện trong chính quy luật nội tại của khoa học -
là tính kế thừa và tính quốc tế của nó Một phát minh khoa học là sản phẩm lao động của nhiều người, nhiều thế hệ chứ không phải một cá nhân nào đó trong một thời điểm nhất định nào đó Issac Newton đã nói: “Nếu tôi có nhìn
xa hơn một người khác một phần nào đó là do tôi đứng trên vai những người khổng lồ” Tính kế thừa là yếu tố quan trọng thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học
và kỹ thuật Thế hệ sau chọn lọc, hệ thống hoá thành quả của người đi trước,
Trang 28cũng là thông tin khoa học mới Hoạt động nghiên cứu khoa học là loại hoạt động đặc thù của con người nhằm thu hút nhiều thông tin khoa học mới trên
cơ sở những thông tin mà xã hội loài người đã tích luỹ được Hoạt động nghiên cứu khoa học còn là hệ thống có sự đầu tư vật chất và tiếp nhận thông tin để tạo ra những thông tin mới Thiếu thông tin là nguyên nhân dẫn đến yếu kém về khoa học kỹ thuật của cả nước
1.3.5 Thông tin trong phát triển giáo dục
Trong thiết chế của xã hội người ta cho rằng giáo dục là hoạt động xã hội nhằm thực hiện chức năng chuyển giao thông tin giữa các thế hệ Do đó, giáo dục là nhân tố hàng đầu của sự phát triển Nguồn thông tin trước hết là những kho tài liệu, các hoạt động khai thác và phát triển tri thức của các tri thức, thông tin thư viện và các hoạt động giảng dạy, học tập, tự đào tạo có vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục truyền tải tri thức, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người Thuộc tính cơ bản của thông tin là độc lập và bất định và ngẫu nhiên nó cũng phản ánh cái xác định và trật tự trong các mối quan hệ của sự vật, hiện tượng Vì vậy, thông tin đúng đắn và chính xác đem lại trật tự và sự ổn định của tổ chức giáo dục và đời sống cộng đồng
1.3.6 Thông tin đối với sự phát triển của quản lý
Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên khách thể quản
lý, nhằm đạt được mục đích của nhà quản lý Quản lý là hoạt động tương tác liên kết của con người với môi trường xung quanh nhằm đạt được mục tiêu trên cơ sở sử dụng tài nguyên: con người, tri thức, kinh phí, vật chất, năng lượng và không gian, thời gian Đây chính là nguồn nhân lực, vật lực, trí lực Chính vì vậy, trong quản lý thông tin là yếu tố quan trọng nhất mà thiếu nó thì không thể có bất kỳ một hệ thống quản lý nào trong hệ thống tổ chức của xã hội Do vậy, nếu thông tin chính xác, tốt, cập nhật chắc chắn nhà quản lý sẽ đưa ra quyết định sáng suốt và ngược lại
Trang 291.3.7 Thị trường thông tin và kinh tế thông tin
Trong nền kinh tế quốc dân đã hình thành một bộ phận mới đó là khu vực dịch vụ thông tin Khu vực này ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm và dịch
vụ thông tin đa dạng, đóng góp một tỉ trọng đáng kể trong nền kinh tế quốc dân Thông tin trở thành hàng hóa và hình thành các thị trường thông tin cùng với các khu vực kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp, khu vực kinh tế thông tin đã hình thành và có sức phát triển nhanh chóng Khối lượng, chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin đã trở thành tiêu chí đánh giá trình
độ phát triển kinh tế của mỗi nước
Công nghệ thông tin là một ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ, tạo
ra nhiều việc làm mới và làm thay đổi đáng kể nhiều ngành công nghiệp hiện
có Trong xã hội thông tin, thông tin là yếu tố làm tăng giá trị và tăng hiệu quả sản xuất, có giá trị trao đổi và trở thành hàng hoá Giá trị của thông tin được đặc trưng bởi lợi ích kinh tế có được do sử dụng thông tin dưới mọi dạng dịch
vụ cung cấp nội dung có thể truy cập: thư viện, viện bảo tàng
Khu vực thông tin đang trở thành một yếu tố xuất khẩu quan trọng Trong nền kinh tế thông tin, thông tin và hàng loạt những dịch vụ liên quan tới nó có thể trở nên xuất khẩu và nhập khẩu được Nhờ khả năng hỗ trợ đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm, nền kinh tế thông tin đang trở thành một thành phần quan trọng nhất và đồng thời là một động lực hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu hoá Trong xã hội thông tin, các mạng máy tính, các công nghệ truyền thông và viễn thông là những yếu tố chủ chốt có tính chiến lược bởi vì thông qua chúng, nguồn nhân lực có kỹ năng sẽ tiến hành quá trình sản xuất thông tin và trao đổi các nguồn thông tin khoa học công nghệ và kiến thức hiện được coi là nguồn lực trọng yếu đối với nền kinh tế quốc gia và quốc tế
Trang 30Vai trò của thông tin vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, không có thông tin thì không thể có tri thức Tất nhiên đôi khi có thông tin mà vẫn không có tri thức Năm 1996 nhà tương lai học người Anh John Naisbet
đã cảnh báo: “Chúng ta đang chìm ngập trong thông tin mà vẫn thiếu tri thức” Thông tin trong thời đại ngày nay có tốc độ gia tăng, lan truyền và được phổ biến rất nhanh, gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất và đời sống xã hội
Nguồn: Asia and the Pacific Asian and Pacific Centre for Transfer of Technology (APCTT)
1.4 Phát triển thông tin KH&CN để trở thành nguồn lực
Cách mạng khoa học và công nghệ đòi hỏi áp dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học vào đời sống thực tiễn Nhưng quá trình này không xảy ra
Trang 31một cách tự động, nó đòi hỏi những cố gắng thường xuyên của toàn bộ hoạt động thông tin trong xã hội
Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại một sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực và giữa các nước về hai tham số cơ bản là: trình độ khoa học – giáo dục
và khả năng với tới thông tin – tri thức 90% số nhà khoa học trên thế giới hiện đang làm việc ở khoảng 20 nước công nghiệp phát triển, 93% số bằng phát minh sáng chế được ghi nhận là của các nước này Trong khi đó tại 150 quốc gia còn lại tiềm lực khoa học chỉ chiếm có chưa đầy 10% Đây là sự mất cân đối chính và phản ánh tính không đồng đều trong quá trình phát triển Vì vậy, nhiệm vụ được đặt ra cho từng nước là phải có các chiến lược thích hợp
để củng cố tiềm lực khoa học của mình, hoàn thiện hệ thống và chương trình giáo dục - đào tạo, đặc biệt là đào tạo đại học và sau đại học, tạo lập hệ thống đổi mới đáp ứng với yêu cầu phát triển và hội nhập
Thế giới đang diễn ra quá trình tiến vào “xã hội thông tin toàn cầu” Trong bối cảnh đó, việc hướng tới sự định hình một xã hội thông tin ở từng nước đã đặt ra yêu cầu đối với việc khai thác và sử dụng thông tin như một nguồn lực cơ bản và quan trọng để phát triển quốc gia Hơn 40 năm trước, nhà nghiên cứu chiến lược Hoa kỳ D Bell (1973) đã tiên liệu về vị trí và vai trò của nguồn lực thông tin và tri thức sẽ thay chỗ của nguồn lực lao động và
vô hình, thông tin và tri thức khác với các nguồn lực vật chất truyền thống ở những đặc điểm nổi trội, ví như: không bị giới hạn về trữ lượng, trong quá trình sử dụng giá trị của thông tin không bị “hao mòn” hoặc bị mất đi thậm chí có thể được làm giàu hơn, tức là thông tin có khả năng tái sinh, tự sinh sản
và không bao giờ cạn kiệt Kể từ khi nền khoa học thế giới trưởng thành với
3
Trang 32thẩm quyền là “khoa học lớn” (Theo Derek J de Solla Price), lượng thông tin của nhân loại phát triển theo tốc độ hàm mũ Với sự phát triển của mạng Internet, không gian thông tin của nhân loại được mở rộng và lớn hơn rất nhiều Ngày càng có nhiều trang Web được xây dựng trên mọi lĩnh vực để đăng tải và truyền thông tin Các bản tin, các loại ấn phẩm, các cơ sở dữ liệu, các cuộc thảo luận và tham vấn được xuất hiện trên mạng Internet Mọi hoạt động trong xã hội hiện đại điều phải dựa trên thông tin Ngày nay, chúng ta càng thấy thấm thía hơn lời tiên tri của N Wiener – cha đẻ của ngành Cybernetics (điều khiển học) cách đây nửa thế kỷ, “Cuộc sống có chất lượng
là cuộc sống với thông tin” Trong thời đại thông tin, lợi thế so sánh sẽ thuộc
về quốc gia nào có năng lực tổ chức khai thác với hiệu quả cao nhất các nguồn thông tin và tri thức hiện có của nhân loại Ở Nhật Bản, nhiều doanh nghiệp đều thấm thía phương châm “Doanh nghiệp là con người và chiến lược của doanh nghiệp là chính sách thông tin”
Tại Hoa kỳ, 70% lao động xã hội đang làm việc trong khu vực thông tin,
và chính khu vực thông tin đã tạo ra 74% giá trị GDP tại nước này Nguyên Thủ tướng đảo quốc Singapore, ngài Goh Chok Tong, trong bức thông điệp gửi tới toàn dân nhân ngày quốc khánh năm 1993 đã khẳng định: “Tương lai
sẽ thuộc về các quốc gia mà ở đó người dân biết sử dụng có hiệu quả thông tin, tri thức và công nghệ Đây chính là các nhân tố chủ yếu, chứ không phải
là tài nguyên thiên nhiên, để phát triển kinh tế thắng lợi” Rõ ràng, trong thời đại thông tin, nguồn tài nguyên quý giá và trọng tâm cạnh tranh để giành ưu thế trên thế giới của một quốc gia đã được chuyển từ các nhân tố hữu hình có tính vật chất sang phương thức kiểm soát, thu thập, xử lý và khai thác các nguồn thông tin quốc gia và quốc tế Để có sức cạnh tranh trong môi trường của nền kinh tế tri thức, điều cốt yếu cho mỗi quốc gia là phải có năng lực tiếp thu thông tin, dựa trên thông tin sáng tạo ra nhiều tri thức và tích cực đổi mới
Trang 331.5 Chính sách phát triển nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ
Chính sách phát triển các nguồn lực khoa học và công nghệ bao gồm chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN, tài chính KH&CN, thông tin KH&CN Như đã nêu trong chính sách phát triển nguồn lực KH&CN thì thông tin KH&CN là một trong ba nguồn lực không thể thiếu của Chính sách phát triển các nguồn lực khoa học và công nghệ
1.5.1 Đặc điểm nhu cầu thông tin trong giai đoạn hiện nay:
Nhu cầu trên là căn cứ quan trọng để xác lập chính sách thông tin được đúng hướng Đặc điểm định hướng nhu cầu tin trong giai đoạn hội nhập hiện tại được đặc trưng bằng:
- Tính tổng hợp, đa ngành và liên ngành được quy định bởi sự gia tăng gắn kết giữa khoa học, kinh tế và xã hội, bởi xu thế xuất hiện và phát triển các ngành khoa học và lĩnh vực công nghệ chứa đựng nhiều phần giao nhau của các lĩnh vực cụ thể Đặc điểm này đòi hỏi cần phải xây dựng một số ngân hàng dữ liệu có tính đa ngành, liên ngành, tổng hợp
- Sự bùng nổ về nhu cầu thông tin chỉ dẫn và định hướng Khả năng truy nhập tới các nguồn tin càng được mở rộng càng đòi hỏi phải có công cụ và biện pháp đáp ứng nhu cầu tin một cách hiệu quả
- Xu thế toàn cầu hóa đòi hỏi việc cung cấp thông tin phải được nâng cao chất lượng Tính cạnh tranh của sản phẩm đòi hỏi dịch vụ thông tin ở mức cao, nhanh chóng và kịp thời
1.5.2 Quan điểm phát triển thông tin KH&CN
- Thông tin KH&CN là chìa khóa của mọi hoạt động sáng tạo, là yếu tố cần thiết của năng lực đổi mới, cạnh tranh và phát triển Công tác thông tin KH&CN gắn kết mật thiết với sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
Trang 34nước, lấy việc đáp ứng nhu cầu tin của công cuộc đổi mới là mục tiêu và động lực phát triển công tác thông tin trong thời gian tới
- Công tác thông tin phải đáp ứng cung cấp thông tin cần thiết, đầy đủ, chính xác, kịp thời và hiện đại Dịch vụ thông tin công nghệ phải trở thành nội dung trọng tâm của hoạt động thông tin KH&CN
- Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong phát triển công tác thông tin KH&CN trên cơ sở tích cực, chủ động sử dụng thông tin KH&CN trong hoạt động sáng tạo, đầu tư phát triển các nguồn lực thông tin, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin cần thiết cho xã hội
1.5.3 Mục tiêu tăng cường công tác thông tin KH&CN
Mục tiêu tổng quát đến năm 2020:
Tăng cường và phát triển hạ tầng cơ sở thông tin KH&CN của đất nước nhằm đáp ứng một cách có hiệu quả nhu cầu thông tin của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần đưa nước ta thành một nước công nghiệp phát triển, hội nhập hiệu quả vào xã hội thông tin toàn cầu
Hạ tầng cơ sở thông tin (quốc gia) là một hệ thống thống nhất các mạng truyền thông, các máy tính, các cơ sở dữ liệu và các phương tiện điện tử dân dụng, sẵn sàng để mọi người có thể truy nhập tới những lượng thông tin to lớn dưới mọi hình thức, vào bất kể lúc nào, bất cứ nơi nào, bởi vậy, nó sẽ mang lại phương thức mới cho việc học tập, lao động, giao lưu…
Giai đoạn trước mắt:
- Xây dựng hệ thống thông tin KH&CN quốc gia đạt trình độ trung bình của các nước ASEAN và APEC trên một số phương diện chủ yếu
- Phát triển mạnh các mạng thông tin theo các lĩnh vực trọng điểm và ưu tiên phát triển của đất nước
- Mở rộng và phát triển thư viện điện tử ở các quy mô và các cấp khác nhau
Trang 35- Thúc đẩy và tạo điều kiện để doanh nghiệp coi trọng sử dụng và phát triển thông tin KH&CN như một sức mạnh và công cụ hữu hiệu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
- Tạo điều kiện để số thư viện, trường học và thư viện công cộng quan trọng từng bước trở thành trung tâm thông tin, điểm truy nhập của đông đảo dân chúng vào các mạng trong và ngoài nước
1.5.4 Nội dung phát triển thông tin KH&CN
Kiện toàn cơ cấu tổ chức Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia:
- Điều chỉnh và củng cố mạng lưới của các cơ quan thông tin KH&CN theo hướng năng động hóa, thích nghi cao đối với những đòi hỏi đa dạng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hiện đại hóa thông tin;
- Tăng cường, hiện đại hóa các cơ quan thông tin KH&CN trọng điểm nhà nước; đẩy mạnh điều hòa, phối hợp hoạt động thông tin trong cả nước;
- Thúc đẩy xây dựng và khai thác mọi nguồn lực thông tin phục vụ các mục tiêu kinh tế-xã hội;
- Tăng cường công tác chỉ đạo nghiệp vụ, tiêu chuẩn hóa nhằm đảm bảo nguyên tắc hệ thống mở và nâng cao trình độ công nghệ của hệ thống thông tin KH&CN tại địa bàn trọng điểm
KH&CN:
Ngân hàng dữ liệu quốc gia là thước đo tài nguyên thông tin của một quốc gia về các mặt quy mô, cơ cấu, nội dung, chất lượng và khả năng trao đổi thông tin Các nội dung cần tập trung:
- Tăng cường công tác đăng ký, thu thập các tư liệu liên quan đến chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu, sản xuất thử, thử nghiệm, các luận án, luận văn;
Trang 36- Quản lý hiệu quả công tác tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế, quốc gia; thu thập và phổ biến rộng rãi các tài liệu hội nghị, hội thảo, các báo cáo khoa học trong các chương trình hợp tác quốc tế;
- Quản lý chặt chẽ và sử dụng hợp lý các số liệu điều tra cơ bản về tài nguyên thiên nhiên, về tình hình kinh tế xã hội và tiềm lực KH&CN;
- Đẩy mạnh công tác tư liệu hóa các nguồn tin liên quan tới sáng kiến cải tiến, các thành tựu mới trong lĩnh vực hoạt động
- Xây dựng và phát triển các công cụ tra cứu chỉ dẫn phản ánh các nguồn tin quan trọng hiện có trong nước và các nguồn tin hữu quan trên thế giới;
- Nghiên cứu, thích ứng và phát triển các giao diện thân thiện người dùng tin Việt Nam để tận dụng và phát huy các dịch vụ thông tin trên intranet, internet
- Điều hòa và phối hợp bổ sung các nguồn tin giữa các cơ quan thông tin, thư viện và lưu trữ hiện có trên địa bàn thích hợp
Liên kết mạng giữa các cơ quan thông tin KH&CN:
Trên cơ sở công nghệ thông tin hiện đại (internet) tham gia chia sẻ nguồn lực thông tin qua các hệ thống thông tin trong nước và quốc tế Nguồn lực thông tin KH&CN dưới các dạng khác nhau có thể được nhân lên và phát huy tối đa vai trò của chúng nếu được tổ chức chia sẻ và khai thác rộng rãi trong xã hội Liên kết mạng trong hệ thống thông tin KH&CN và các mạng khác hiện có trong nước và trên thế giới là tiền đề và phương thức hoạt động thông tin chủ yếu trong những năm tới Việc xây dựng các CSDL, các ngân hàng dữ liệu cần được tiến hành đồng thời với việc liên kết mạng trên các quy
mô khác nhau Các trung tâm thông tin KH&CN lớn cần gấp rút triển khai các mạng cục bộ (LAN) tương ứng để phát huy tác dụng các CSDL đã có Các cơ quan thông tin KH&CN trong cùng một lĩnh vực hoặc trên cùng một địa bàn cần xúc tiến triển khai các mạng diện rộng (WAN) hoặc mạng internet phù
Trang 37hợp với năng lực và quy mô hiện có Các mạng thông tin KH&CN hiện có cần sớm kết nối với nhau tạo thành mạng liên kết của nhiều mạng khác nhau
để tạo nên một hạ tầng cơ sở thông tin KH&CN đủ mạnh có thể đáp ứng hiệu quả các nhu cầu thông tin KH&CN trên quy mô toàn quốc, tiến tới liên kết mạng quốc tế
Đẩy mạnh các dịch vụ thông tin KH&CN:
Sức mạnh của cơ quan thông tin KH&CN là ở khả năng tổ chức và cung cấp các dịch vụ thông tin theo yêu cầu và khả năng tạo ra các sản phẩm thông tin có giá trị gia tăng cao được người dùng tin chấp nhận
Ưu tiên phục vụ và cung cấp các dịch vụ thông tin KH&CN cho các đối tượng dùng tin sau:
- Người ra quyết định và các cơ quan ra quyết định ở các cấp, các ngành;
- Các nhà doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh có nhu cầu đổi mới công nghệ, tăng cường và duy trì sức cạnh tranh hàng hóa và dịch vụ trên thị trường;
- Các chuyên viên nghiên cứu, giảng dạy, sinh viên, học sinh;
- Đông đảo quần chúng nhân dân có nhu cầu nắm bắt và tiếp thu thông tin về các thành tựu tiến bộ KH&CN nhằm áp dụng vào đời sống hàng ngày và nâng cao văn hóa KH&CN
- Tăng cường các dịch vụ thông tin có thu phí trên cơ sở cung cấp các dịch vụ có giá trị gia tăng
- Đa dạng hóa các dịch vụ thông tin KH&CN phù hợp với nhu cầu dùng tin của từng loại đối tượng sử dụng
Tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền, phổ cập kiến thức
KH&CN góp phần nâng cao dân trí xã hội:
Trang 38Mục đích chủ yếu của công tác phổ biến, tuyên truyền, phổ cập kiến thức KH&CN là góp phần nâng cao dân trí, thúc đẩy việc áp dụng rộng rãi các thành tựu KH&CN vào sản xuất và đời sống cũng như tạo tiến đề để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công tác này cần kết hợp chặt chẽ với hoạt động khuyến khích, thúc đẩy áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Làm tốt công tác nói trên có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy hình thành và phát triển nền văn hóa KH&CN
tốt mạng lưới thu thập, xử lý thông tin KH&CN nước ngoài:
Là nội dung có tính xung kích và đột phá trong công tác thông tin KH&CN trong bối cảnh nền kinh tế đang được toàn cầu hóa, cảnh báo công nghệ vừa là phương thức vừa là công cụ thông tin cho phép hoạch định và duy trì chiến lược phát triển trong thế giới đầy biến động hiện nay
Các nguồn nhận thông tin công nghệ giúp cho công tác cảnh báo:
- Bổ sung có chọn lọc thông tin KH&CN của thế giới theo con đường truyền thống (mua, trao đổi, )
- Triển khai mạng lưới tùy viên KH&CN tại nước ngoài
- Tổ chức mạng lưới công nghệ
1.6 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến tổ chức triển khai thông tin khoa học và công nghệ đến nông dân
1.6.1 Tâm lý nông dân
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là cuộc cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để về mọi mặt, nhất là trong đời sống tâm lý của người nông dân
Trang 39Có thể nói rằng, nền kinh tế tiểu nông đã tồn tại hàng ngàn năm ở Việt Nam cùng với chế độ phong kiến, chế độ thuộc địa nửa phong kiến và văn hóa làng xã đã góp phần tạo nên tâm lý đa dạng, phong phú và phức tạp của người nông dân
- Tình yêu quê hương đất nước, gắn bó với quê cha đất tổ là một trong những biểu hiện nổi bật của người nông dân Việt Nam Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, người nông dân vừa phải chống chọi với thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm; dù trong hoàn cảnh nào họ vẫn bám trụ quê cha đất tổ với tinh thần “Một tấc không đi, một ly không rời” Đối với nông dân, quê cha đất tổ là “thánh địa linh thiêng”; vì vậy hàng năm cứ đến ngày mồng mười tháng ba là tất cả mọi người đều thấp nén nhang hướng về Phong Châu để giỗ tổ vua Hùng
- Cuộc sống lao động ở làng xã đã tạo ra sự đoàn kết gắn bó cộng đồng, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, tình nghĩa thuỷ chung đã trở thành lẽ sống của người nông dân Chính công việc cày cấy hàng ngày và sinh hoạt trong họ hàng, làng xã đã làm cho cuộc sống của người nông dân “tối lửa tắt đèn có nhau”, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ ngọt bùi đắng cay…Điều đó, được thể hiện không chỉ trong hoạt động hàng ngày mà còn được khái quát trong ca dao tục ngữ: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, “Lá lành đùm lá rách”,v.v…
- Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi nằm ở giữa đầu mối giao lưu văn hóa
“Bắc – Nam” và “Đông – Tây”, cho nên người Việt Nam xưa nay có điều kiện giao lưu học hỏi, tiếp thu cái hay, cái đẹp của người để biến chúng thành cái của riêng mình Chính điều đó góp phần làm nên cái thông minh, sáng tạo
và lạc quan yêu đời của người dân Những câu chuyện về những ông Trạng Việt Nam (Trạng Quỳnh, Trạng Lợn…) và những câu tục ngữ ca dao như:
Trang 40“Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”… đã là những minh chứng sinh động cho điều đó
- Tư duy manh mún, tản mạn là một biểu hiện tâm lý nổi bật của nông dân Sống khép kín sau lũy tre làng; canh tác trên mảnh đất bạc màu, những thửa ruộng nhỏ, lẻ với công cụ thô sơ “Con trâu đi trước cái cày theo sau” dựa trên những thói quen, tập quán nhiều đời…- hoàn cảnh đó đã làm nảy sinh và nuôi dưỡng tư duy manh mún, tản mạn (ít khả năng khái quát, tổng hợp) của người nông dân Chính vì vậy mà họ “chỉ thấy lợi trước mắt, không thấy lợi lâu dài, chỉ thấy lợi cá nhân, không thấy lợi ích tập thể…”
- Do tư duy manh mún, tản mạn nên sinh ra thói “lười biếng” suy nghĩ và tính toán so đo, tính ỷ lại và bảo thủ, sự sùng bái kinh nghiệm và “coi thường” lớp trẻ Đó cũng là sản phẩm lâu dài của nền kinh tế tiểu nông mà dù muốn hay không người nông dân vẫn bị ảnh hưởng Trong nền kinh tế tiểu nông, kiểu “Lão nông tri điền”, “Sống lâu nên lão làng”, “Đất lề quê thói”, “Phép vua thua lệ làng” đã trở thành thói quen làng xã phổ biến ở người nông dân Hơn nữa, sống trong chế độ phong kiến dưới sự thống trị của chế độ đẳng cấp, tôn ti, trật tự Nho giáo, người nông dân thường có cái nhìn ít tôn trọng đối với lớp trẻ và coi cố gắng đổi mới của họ như là ý đồ muốn “Trứng khôn hơn vịt”…Trong khi nói về những điều cần khắc phục trong tâm lý nông dân,
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “… nông dân thường có tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu…”
- Thói quen tự do, thiếu kỷ luật lao động và “thừa” tính đố kỵ, ganh ghét, cục bộ, bản vị, địa phương cũng là một biểu hiện tâm lý phức tạp của nông dân Người nông dân (tư hữu nhỏ) sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên “nắng mưa bất thường” và “tùy hứng” cá nhân đã trở thành thói quen phổ biến ở làng xã Việt Nam Do bị quy định bởi tính chất tư hữu nhỏ, bởi trình độ nhận thức và điều kiện kinh tế - xã hội, người nông dân tuy cần cù, thông minh