Có thể nói NĐ 115 được kỳ vọng là giải pháp mang tính đột phá trong đổi mới tổ chức và hoạt động KH&CN, tạo thế chủ động cho các tổ chức nghiên cứu và phát triển hoạt động theo “cơ chế d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VŨ THỊ THANH HƯƠNG
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ HẠCH TOÁN KINH TẾ
ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn Đề tài 5
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 9
6 Câu hỏi nghiên cứu 9
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Phương pháp chứng minh luận điểm 10
8.1 Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu 10
8.2 Phương pháp chuyên gia 11
9 Kết cấu của Luận văn 11
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HẠCH TOÁN KINH TẾ CỦA TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP TỰ TRANG TRẢI KINH PHÍ 12
1 Hoạt động KH&CN 12
1.1 Hoạt động KH&CN 12
2 Tổ chức KH&CN 17
2.1 Các loại hình tổ chức KH&CN 17
2.2 Quyền của tổ chức KH&CN 18
2.3 Nghĩa vụ của tổ chức KH&CN 19
2.4 Điều kiện thành lập và đăng ký hoạt động của tổ chức KH&CN 19
3 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập ở Việt Nam trước khi ban hành NĐ 115 20
3.1 Một số quy định của Nhà nước về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập trước khi ban hành NĐ 115 20
3.2 Những thành công trong quá trình chuyển các tổ chức KH&CN công lập sang chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm 24
3.3 Những hạn chế trong việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập 25
3.4 Yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý đối với tổ chức KH&CN công lập 27 4 Một số nội dung về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập theo quy định của NĐ 115 28
4.1 Các loại hình tổ chức của tổ chức KH&CN công lập theo quy định NĐ115 28
4.2 Mục đích thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 32
4.3 Các nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 33
4.4 Một số lĩnh vực tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN 33
5 Lý luận chung về hạch toán kinh tế 34
5.1 Khái niệm về hạch toán kinh tế 34
5.2 Tác dụng của hạch toán kinh tế 35
5.3 Những nguyên tắc cơ bản của hạch toán kinh tế 35
Trang 36 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học ảnh hưởng đến hạch toán kinh tế của
các tổ chức KH&CN 37
CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG VÀ KHÓ KHĂN TRONG TỰ CHỦ,
TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP
TỰ TRANG TRẢI KINH PHÍ 40
1 Một số quy định hiện hành về tự chủ tài chính của các tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí 40
1.1 Nguồn thu của các tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí 40
1.2 Sử dụng nguồn kinh phí 42
1.3 Về kiểm soát chi 44
1.4 Chính sách ưu đãi 45
1.5 Quản lý và sử dụng tài sản nhà nước 51
2 Đánh giá khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của một số tổ chức KH&CN 52
2.1 Khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của một số tổ chức KH&CN thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ 53
2.2 Khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của một số tổ chức KH&CN trực thuộc Đài THVN 58
2.3 Khả năng tự chủ tài chính của các tổ chức KH&CN địa phương 60
3 Một số khó khăn của tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí 63
3.1 Đầu ra cho sản phẩm nghiên cứu và tiếp cận thị trường trở thành nhân tố quyết định thành công của tự chủ tài chính đối với tổ chức KH&CN 64 3.2 Tổ chức KH&CN gặp khó khăn về vốn, đặc biệt là vốn hoạt động 66
3.3 Khó khăn trong thực hiện nguyên tắc tự cân đối thu chi khi Nhà nước quy định phân định rạch ròi giữa kinh phí ngân sách nhà nước cấp và kinh phí các hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị 67
3.4 Chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước còn nhiều bất cập 68
3.5 Khó khăn trong quản lý và sử dụng tài sản 72
3.6 Khó khăn trong hạch toán các khoản thanh toán cá nhân cho người lao động 74
3.7 Khó khăn trong hạch toán chi phí quản lý chung và chi phí quản lý tổ chức KH&CN 76
3.8 Khó khăn trong hạch toán chi phí cho các hoạt động nghiên cứu khoa học mà sản phẩm nghiên cứu mang tính rủi ro 76
3.9 Khó khăn về độ trễ khi thực hiện các đề tài, dự án được NSNN cấp kinh phí 77
3.10 Sử dụng kinh phí thu được từ các sản phẩm của đề tài, dự án là sản phẩm vật chất sử dụng kinh phí của ngân sách 78
CHƯƠNG III MỘT SÔ KHUYẾN NGHỊ VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH VÀ 79
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ HẠCH TOÁN KINH TẾ CỦA CÁC TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP TỰ TRANG TRẢI KINH PHÍ 79
1 Lấy thu bù chi đảm bảo có lợi nhuận là nguyên tắc chung trên cơ sở tổng hợp chung các khoản thu (bao gồm cả kinh phí NSNN cấp) trừ các khoản
Trang 4chi (bao gồm cả chi kinh phí ngân sách cấp) đã sử dụng trong quá trình hoạt động 791.1 Kinh phí được NSNN cấp thực hiện các nhiệm vụ KH&CN do Nhà nước giao, đặt hàng trực tiếp hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu 791.2 Đối với các khoản thu của tổ chức KH&CN 80
2 “Giá thành sản phẩm” đối với các nhiệm vụ KH&CN được NSNN hỗ trợ, đặt hàng và kết quả hoạt động tài chính của tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí 812.1 Lập dự toán, kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm đối với các nhiệm vụ KH&CN được NSNN hỗ trợ, đặt hàng 812.2 Quy định, hướng dẫn cụ thể về chi phí hợp lý được trừ để quyết toán kinh phí NSNN cấp thực hiện các nhiệm vụ KH&CN 832.3 Hạch toán các hoạt động KH&CN, hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức KH&CN 862.4 Kết quả tài chính của tổ chức KH&CN 86
3 Giao vốn cho các tổ chức KH&CN 88
4 Một số khuyến nghị về chế độ kế toán đối với tổ chức KH&CN công lập
tự trang trải kinh phí hoạt động 904.1 Các báo cáo tài chính 904.2 Kế toán một số hoạt động nghiệp vụ đặc thù của tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí 914.3 Báo cáo tài chính hợp nhất của tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí có các đơn vị trực thuộc 924.4 Hạch toán kế toán một số nghiệp vụ kinh tế 92
5 Đổi mới cơ chế quản lý và điều hành đối với tổ chức KH&CN công lập
tự trang trải kinh phí 94
6 Một số khuyến nghị khác 956.1 Chính phủ là người tiêu dùng chính những kết quả của hoạt động KH&CN trong một số lĩnh vực 966.2 Nghiên cứu và ban hành cơ chế hỗ trợ rủi ro trong nghiên cứu 966.3 Quy định, chế tài liên quan đến quyền, nghĩa vụ cụ thể của các nhà khoa học và các tổ chức KH&CN 97KẾT LUẬN 98TÀI LIỆU THAM KHẢO 101CÁC PHỤ LỤC
Trang 5TTLT 12 Thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày
5/6/2006 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 115
TT 44 Thông tư số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 7/5/2007 của
liên Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ Hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí của các đề tài,
dự án KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước
TT 93 Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT-BTC-BKHCN ngày
04/10/2006 của Bộ Tài chính - Bộ KH&CN, hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn Đề tài
KH&CN luôn được Đảng và Nhà nước ta khẳng định là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nhanh, bền vững đất nước và hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới
Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, quá trình từ nghiên cứu khoa học đến giải pháp công nghệ và áp dụng vào sản xuất ngày càng được rút ngắn, tạo sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Phương hướng, nhiệm vụ phát triển, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của KH&CN đã được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta diễn ra tại Hà Nội từ ngày 18 đến 25 tháng 4 năm 2006 tiếp tục khẳng định “Phát triển mạnh, kết hợp chặt giữa hoạt động KH&CN với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức”
Chính sách tài chính của Nhà nước là một trong những công cụ quản lý
có tính chất quyết định tạo ra động lực và môi trường khuyến khích và là "bà đỡ" cho hoạt động và phát triển của các tổ chức KH&CN nói chung, các tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí hoạt động nói riêng
Trước những bức xúc của thực tiễn phát triển kinh tế xã hội, để thực hiện Nghị quyết của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ, trong những năm qua, chính sách, cơ chế tài chính cho KH&CN liên tục được bổ sung, sửa đổi, đổi mới cho phù hợp với tính đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới hoạt động KH&CN, phát triển tiềm lực KH&CN, tạo thuận lợi hơn cho phát triển của các tổ chức KH&CN
Ngày 5 tháng 9 năm 2005, Chính phủ đã ban hành NĐ 115 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH &CN công lập Tư tưởng và nội dung chủ đạo của NĐ 115 là giao quyền tự chủ cao về tổ chức, biên chế, tài chính cho các tổ chức KH &CN, đổi mới phương thức cấp kinh phí của
Trang 7Nhà nước cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và nâng cao hiệu quả hoạt động, gắn kết tốt nghiên cứu với đào tạo và sản xuất
Có thể nói NĐ 115 được kỳ vọng là giải pháp mang tính đột phá trong đổi mới tổ chức và hoạt động KH&CN, tạo thế chủ động cho các tổ chức nghiên cứu và phát triển hoạt động theo “cơ chế doanh nghiệp” hoặc chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN, đưa nhanh kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân triển khai ứng dụng các kết quả KH&CN vào sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh thương mại hoá các sản phẩm hàng hoá là kết quả của hoạt động KH&CN; phát triển thị trường công nghệ, làm thay đổi căn bản tỷ trọng đầu tư cho KH&CN từ các thành phần kinh tế khác trong xã hội, đặc biệt là từ các doanh nghiệp, thúc đẩy KH&CN nước nhà và góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước Theo
đề án chuyển đổi, tháng 12/2009, 100% các tổ chức KH&CN phải hoàn thành việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Nhìn chung dư luận xã hội và cộng đồng các nhà khoa học đều cho rằng tinh thần và những qui định của NĐ 115 về cơ bản là phù hợp yêu cầu của việc đổi mới hoạt động KH&CN trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Nhưng sau hơn ba năm triển khai, quá trình chuyển đổi hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập tưởng sẽ được thực hiện với một cuộc chuyển đổi ngoạn mục lại diễn ra chậm chạp và gặp nhiều khó khăn Tác động của NĐ
115 đối với sự phát triển của KH&CN nước ta vẫn hết sức khiêm tốn Nó chưa thực sự tạo nên một bước chuyển mang tính căn bản, mới về chất như mong đợi ban đầu
Theo báo cáo của Bộ KH-CN, tính đến quý I/2008, trong tổng số 546 tổ chức KH&CN công lập của cả nước, có 205 tổ chức KH&CN có đề án đã được phê duyệt chuyển đổi (chiếm tỷ lệ khoảng 40,67%), 137 tổ chức KH&CN đã có đề án trình cấp thẩm quyền phê duyệt (chiếm tỷ lệ khoảng 26,7%), 134 tổ chức KH-CN đang xây dựng và hoàn chỉnh đề án
Trang 8Một năm sau, Báo cáo tại Hội nghị trực tuyến sơ kết thực hiện NĐ 115
và Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN do Bộ KH&CN chủ trì ngày 29-5-2009 cho biết: Sau hơn 3 năm triển khai NĐ 115, tính đến cuối năm 2008, trong tổng số 546 tổ chức KH&CN thuộc các Bộ, ngành, địa phương có báo cáo, trong đó có 242 tổ chức KH&CN có đề án đã được phê duyệt (chiếm tỷ lệ 45,5%), 97 tổ chức KH&CN đã có đề án trình cấp thẩm quyền phê duyệt (chiếm tỷ lệ 18%), 192 tổ chức KH&CN đang xây dựng và hoàn chỉnh đề án (chiếm tỷ lệ 35%), 12 tổ KH&CN được các Bộ, ngành, địa phương quyết định áp dụng thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25.4.2006 của Chính phủ, chiếm tỷ lệ 2%, 3 tổ chức KH&CN chuyển sang
mô hình hoạt động là doanh nghiệp tổ chức KH&CN (chiếm tỷ lệ 0,5%)
Trong số 242 các tổ chức KH&CN đã được phê duyệt Đề án chuyển đổi thực hiện NĐ 115 có 126 tổ chức KHCN được các bộ, ngành và địa phương xác định là tổ chức nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước, chiếm tỷ lệ 52% tổng số các tổ chức đã được phê duyệt đề án, chiếm 23% tổng số các tổ chức KH&CN 116 tổ chức KH&CN thuộc diện các tổ chức tự trang trải kinh phí, chiếm tỷ lệ 48% so với tổng số các tổ chức KH&CN đã được phê duyệt đề án, chiếm tỷ lệ 21% tổng
số các tổ chức KH&CN
Lộ trình chuyển đổi không thể hoàn thành đúng tiến độ và Chính phủ phải cho phép kéo dài thời gian chuẩn bị chuyển đổi đến hết năm 2011 đối với
các tổ chức KH&CN ở trung ương, và đến hết năm 2013 đối với các tổ chức
KH&CN ở địa phương theo đề nghị của Bộ KH&CN là điều chắc chắn
Tư tưởng "ngại chuyển đổi”, "sợ tự chủ" và vẫn muốn yên ổn trong cái nôi bao cấp của nhà nước của nhiều tổ chức KH&CN trong những năm qua được nhiều người cho là nguyên nhân chính dẫn đến quá trình chuyển đổi chậm chạp nêu trên
Tuy nhiên, ngay cả khi đã hoàn thành Đề án chuyển đổi, nhiều tổ chức KH&CN công lập vẫn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm Chủ yếu là do tổ chức KH&CN công lập
Trang 9chưa được sự quan tâm đầu tư phát triển đúng mức để có đủ tiềm lực và năng lực tự chủ, một số quy định của NĐ 115 và các văn bản hướng dẫn khó thực hiện như cơ chế tài chính, chính sách miễn giảm thuế, vay vốn và sử dụng tài sản nhà nước, sử dụng đất đai …Đặc biệt quan trọng là những khó khăn trong thanh quyết toán và hạch toán kinh tế các hợp đồng KH&CN và hạch toán kinh tế, hạch toán kế toán toàn bộ hoạt động tài chính của tổ chức KH&CN Đây là những là vấn đề quan trọng, tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động tài chính và tự trang trải kinh phí hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập
Vì vậy, nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế hạch toán kinh tế đối với các tổ chức KH&CN công lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm nói riêng, cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức KH&CN nói chung là rất cần thiết, phân tích những khó khăn, từ đó, đề xuất một số giải pháp trong lĩnh vực tài chính cho KH&CN nói chung, đối với các tổ chức KH&CN nói riêng (đặc biệt là chính sách, cơ chế, quy định liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc có tác động đến hạch toán kinh tế của các tổ chức KH&CN công lập), hỗ trợ thực thi NĐ 115
có hiệu quả, góp phần đưa những cải cách kinh tế và đổi mới hoạt động KH&CN đi vào cuộc sống, thực hiện thành công phương hướng nhiệm vụ
“Đổi mới cơ bản cơ chế quản lý KH&CN, đặc biệt là cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù sáng tạo và khả năng rủi ro của hoạt động KH&CN Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN công lập Chuyển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp dưới các hình thức phù hợp; phát triển mạnh các doanh nghiệp KH&CN thuộc mọi thành phần kinh tế” mà Đại hội Đảng lần thứ X đã đề ra, đóng góp cho phát triển KH&CN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trong quá trình hội nhập hiện nay
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều nghiên cứu để làm cơ sở ban hành các chính sách, chế độ
về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập và có nhiều ý kiến, bài báo, thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng về những
Trang 10khó khăn, bất cập trong thực tế thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu về những nội dung chuyên sâu liên quan đến cơ chế hạch toán kinh tế của các tổ
chức KH&CN tự trang trải kinh phí
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đưa ra một số khuyến nghị có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đóng góp vào việc hoàn thiện cơ chế hạch toán kinh tế, đẩy mạnh tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của các tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí nói riêng, của các tổ chức KH&CN công lập nói chung
4 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các chính sách, cơ chế, quy định tài chính hiện hành của Nhà nước liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc có tác động đến hạch toán kinh tế của các tổ chức KH&CN công lập nghiên cứu, phát triển, dịch vụ khoa học công nghệ hoạt động theo hình thức Tổ chức tự trang trải kinh phí theo quy định của NĐ 115
- Nghiên cứu trường hợp một số tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí
- Nghiên cứu, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện cơ chế hạch toán kinh tế, đẩy mạnh tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của các tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí nói riêng, của các tổ chức KH&CN công lập nói chung
5 Mẫu khảo sát
- Một số chính sách, cơ chế, quy định tài chính hiện hành của Nhà nước liên quan hoặc tác động đến hạch toán kinh tế của các tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí
- Hoạt động tài chính và hạch toán kinh tế của một số tổ chức KH&CN công lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm
6 Câu hỏi nghiên cứu
Cơ chế hạch toán kinh tế như thế nào để hỗ trợ và thúc đẩy tự trang trải kinh phí của các tổ chức KH&CN công lập?
Trang 117 Giả thuyết nghiên cứu
- Lấy thu bù chi đảm bảo có lợi nhuận là nguyên tắc chung trên cơ sở tổng hợp chung các khoản thu (bao gồm cả kinh phí NSNN cấp) trừ các khoản chi (bao gồm cả chi kinh phí ngân sách cấp) đã sử dụng trong quá trình
hoạt động (hiện nay Nhà nước phân định rạch ròi giữa chi NSNN và chi hoạt động SXKD của tổ chức sự nghiệp có thu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm)
- Áp dụng cơ chế "giá thành" đối với các sản phẩm của tổ chức KH&CN công lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm
(Giá tha ̀ nh sản phẩm là giá tri ̣ toàn bộ các chi phí đã bỏ ra để tạo nên sản phẩm đó, khác với việc thực hiện dự toán kinh phí đã được phê duyệt của Hợp đồng KH&CN hiện nay)
+ Giao quyền tự chủ hoàn toàn trong thực hiện dự toán các nhiệm vụ KH&CN, hợp đồng KH&CN, thanh quyết toán hợp đồng căn cứ vào kết quả cuối cùng (kể cả các nhiệm vụ, hoạt động KH&CN được NSNN hỗ trợ), chi phí trực tiếp thực hiện các hợp đồng KH&CN được tính theo thực chi, bao gồm cả chi phí quản lý chung
+ Chi phí quản lý của các tổ chức KH&CN được hạch toán và phân bổ vào các “sản phẩm” của tổ chức KH&CN
- Giao vốn cho tổ chức KH&CN
- Sửa đổi, hoàn thiện chế độ kế toán đối với tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoạt động
8 Phương pháp chứng minh luận điểm
8.1 Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu
- Thu thập các văn bản pháp quy, chính sách, cơ chế, quy định về tài chính liên quan hoặc tác động đến hạch toán kinh tế của các tổ chức KH&CN công lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm;
- Thu thập, nghiên cứu về hiện trạng hạch toán kinh tế của một số tổ chức KH&CN tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Trang 128.2 Phương pháp chuyên gia
- Lấy ý kiến của một số chuyên gia trong lĩnh vực KH&CN;
- Lấy ý kiến của một số cán bộ hoạt động trong các cơ quan quản lý Nhà nước
về KH&CN ở Trung ương và địa phương;
- Lấy ý kiến của một số chuyên gia tài chính (làm việc trong lĩnh vực quản lý ngân sách, kho bạc, thuế… liên quan đến hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm)
- Lấy ý kiến của thủ trưởng đơn vị, cán bộ tài chính - kế toán của một số tổ chức KH&CN công lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm
9 Kết cấu của Luận văn
Luận văn được trình bày gồm các phần sau:
Phần mở đầu: Giới thiệu sự cần thiết phải nghiên cứu của đề tài, lịch
sử, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, mẫu khảo sát, câu hỏi nghiên cứu, giả
thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Chương I Cơ sở lý luận liên quan đến hạch toán kinh tế của các tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí
Chương II Hiện trạng và khó khăn trong thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí
Chương III Một số khuyến nghị về tự chủ tài chính và hoàn thiện chế
độ hạch toán kinh tế của các tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí
Phần cuối: Khuyến nghị và Kết luận
Trang 13+ Sản xuất loạt nhỏ (Série 0)
T Chuyển giao tri thức (bao gồm CGCN)
TD Phát triển công nghệ trong sản xuất (Technology
Development) STS Dịch vụ KH&CN
1.1.1 Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện các thuộc tính, cấu trúc, động thái của các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật và sự vật khác Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết có gía trị tổng quát, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học
1.1.2 Nghiên cứu ứng dụng: là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống
Trang 14Giải pháp được hiểu theo một nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này: có thể
là một giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổ chức và quản lý Một số giải pháp công nghệ có thể trở thành sáng chế Kết quả của nghiên cứu ứng dụng thì chưa ứng dụng được
1.1.3 Triển khai (Technological experimental development), còn gọi là
triển khai thực nghiệm, là sự vận dụng các lý thuyết để đưa các hình mẫu (prototype) với những tham số khả thi về kỹ thuật Hoạt động triển khai gồm
3 giai đoạn:
- Tạo vật mẫu (pototype)là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản
phẩm, chưa quan tâm đến quy trình sản xuất và quy mô áp dụng
- Tạo công nghệ còn gọi là giai đoạn làm “làm Pilot“, là giai đoạn tìm kiếm và thử nghiệm công nghệ để sản xuất ra sản phẩm theo mẫu (prototype) vừa thành công trong giai đoạn thứ nhất
- Sản xuất thử loại nhỏ, còn gọi là sản xuất “Série 0“ (loại 0) Đây là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ, thường gọi
là quy mô sản xuất bán đại trà, còn được gọi là quy mô bán công nghiệp
Khái niệm triển khai được áp dụng cả trong nghiên cứu công nghệ và nghiên cứu xã hội: chế tạo công nghệ mới; thử nghiệm một phương pháp giảng dạy ở các lớp thí điểm; chỉ đạo thí điểm một mô hình quản lý mới tại một cơ sở Từ triển khai thử nghiệm ra sản xuất phải chứng minh tính khả thi gồm: Tính khả thi về công nghệ; Tính khả thi về tài chính; Tính khả thi về kinh tế; Tính khả thi về thị trường; Tính khả thi về môi trường; Tính khả thi
Trang 151.1.4 Hoạt động chuyển giao công nghệ bao gồm chuyển giao công nghệ và dịch vụ chuyển giao công nghệ
Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không
kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm)
Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ
Đối tượng công nghệ được chuyển giao là một phần hoặc toàn bộ công nghệ sau đây: Bí quyết kỹ thuật; Kiến thức kỹ thuật về công nghệ được chuyển giao dưới dạng phương án công nghệ, quy trình công nghệ, giải pháp
kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu; Giải pháp hợp lý hoá sản xuất, đổi mới công nghệ
Đối tượng công nghệ được chuyển giao có thể gắn hoặc không gắn với đối tượng sở hữu công nghiệp
Dịch vụ chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ quá trình tìm kiếm,
giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ Dịch vụ chuyển giao công nghệ bao gồm: Môi giới chuyển giao công nghệ; Tư vấn chuyển giao công nghệ; Đánh giá công nghệ; Định giá công nghệ; Giám định công nghệ; Xúc tiến chuyển giao công nghệ
1.1.5 Phát triển Công nghệ (Development of Technology) thuộc phạm trù sản xuất gồm có mở rộng công nghệ (Extensive Development) và Nâng cấp công nghệ (Intensive Development)
Mở rộng công nghệ có thể hiểu là nhân công nghệ từ một dây chuyền sản xuất lên hai dây chuyền sản xuất giống như cũ
Nâng cấp theo chiều sâu là nâng một khâu nào đó trong dây chuyền công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
Phát triển công nghệ phải dùng vốn sản xuất, vốn vay, vốn đầu tư mạo hiểm và phải chịu thuế
Trang 161.1.6 Dịch vụ KH&CN là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn
1.2 Hoạt động KH&CN ở Việt Nam
Theo Luật KH&CN của Việt Nam, hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN
Theo giải thích từ ngữ của Luật này, Nghiên cứu khoa học bao gồm
nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng Phát triển công nghệ bao gồm triển
khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm Như vậy, hoạt động “nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ” theo Luật KH&CN chính là hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) theo định nghĩa của UNESCO)
Luật KH&CN đã nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động KH&CN ở nước ta Đây là kim chỉ nam cho hoạt động KH&CN của mọi tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các tổ chức KH&CN công lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Mục tiêu của hoạt động KH&CN là xây dựng nền KH&CN tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây
dựng con người mới Việt Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế -
xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Hoạt động KH&CN có các nhiệm vụ sau đây:
- Vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xây dựng luận cứ khoa học cho việc định
ra đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
Trang 17quốc phòng, an ninh; góp phần xây dựng nền giáo dục tiên tiến, xây dựng con người mới Việt Nam; kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và đóng góp vào kho tàng văn hoá, khoa học của thế giới;
- Nâng cao năng lực KH&CN để làm chủ các công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, các phương pháp quản lý tiên tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân; dự báo kịp thời, phòng, chống, hạn chế và khắc phục hậu quả thiên tai;
- Tiếp thu các thành tựu KH&CN của thế giới để tạo ra, ứng dụng có hiệu quả các công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao; phát triển nền KH&CN Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại; đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng các thành tựu KH&CN vào sản xuất và đời sống
Trong hoạt động KH&CN, phải bảo đảm các nguyên tắc sau:
- Hoạt động KH&CN phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh;
- Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về KH&CN kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các thành tựu KH&CN của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam;
- Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn; gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với giáo dục và đào tạo, với hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường công nghệ;
- Phát huy khả năng lao động sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân;
- Trung thực, khách quan, đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Trang 182 Tổ chức KH&CN
2.1 Các loại hình tổ chức KH&CN
Theo quy định của Luật KH&CN số 21/2000/QH10 ban hành ngày 28/6/2000, các tổ chức KH&CN bao gồm:
2.1.1 Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ (gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển); Các tổ
chức nghiên cứu và phát triển được tổ chức dưới các hình thức: viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trại nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm, liên hiệp khoa học - sản xuất và cơ sở nghiên cứu và phát triển khác
Căn cứ vào mục tiêu, quy mô tổ chức và phạm vi hoạt động, các tổ chức nghiên cứu và phát triển được phân thành:
- Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp quốc gia chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật; tạo ra các kết quả KH&CN mới, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN
- Tổ chức nghiên cứu và phát triển của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp bộ); tổ chức nghiên cứu và phát triển của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp tỉnh); tổ chức nghiên cứu và phát triển của cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp
bộ, cấp tỉnh chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ KH&CN phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương; đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN Tổ chức nghiên cứu và phát triển của cơ quan khác của Nhà nước ở trung ương chủ yếu thực hiện các hoạt động KH&CN theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan mình; tổ chức nghiên cứu và phát triển của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương chủ yếu thực hiện các hoạt động KH&CN theo mục tiêu, điều lệ của tổ chức mình
Trang 19- Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp cơ sở chủ yếu thực hiện các hoạt động KH&CN theo mục tiêu, nhiệm vụ do tổ chức, cá nhân thành lập xác định
2.1.2 Trường đại học, học viện, trường cao đẳng (gọi chung là trường
đại học) có nhiệm vụ tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ KH&CN theo quy định của Luật này, Luật giáo dục và các quy định khác của pháp luật Trường đại học thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước và nghiên cứu khoa học về giáo dục
2.1.3 Tổ chức dịch vụ KH&CN có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động
phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến và ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn
2.2 Quyền của tổ chức KH&CN
Tổ chức KH&CN có các quyền sau đây:
1 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tiến hành hoạt động KH&CN
đã đăng ký; ký kết hợp đồng KH&CN; đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
về KH&CN; đăng ký tham gia tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ KH&CN;
2 Thành lập tổ chức nghiên cứu và phát triển, tổ chức dịch vụ KH&CN, doanh nghiệp trực thuộc theo quy định của Luật KH&CN và các quy định khác của pháp luật;
3 Hợp tác, liên doanh, nhận tài trợ của tổ chức, cá nhân; góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành hoạt động KH&CN và hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật;
4 Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; chuyển giao, chuyển nhượng kết quả hoạt động KH&CN theo quy định của pháp luật;
5 Công bố kết quả hoạt động KH&CN theo quy định của Luật báo chí, Luật xuất bản và các quy định khác của pháp luật;
6 Các quyền khác theo quy định của pháp luật
Trang 202.3 Nghĩa vụ của tổ chức KH&CN
Tổ chức KH&CN có các nghĩa vụ sau đây:
1 Thực hiện hợp đồng KH&CN đã ký kết, nhiệm vụ KH&CN do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giao; sử dụng có hiệu quả kinh phí đầu tư phát triển KH&CN và chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước;
2 Góp phần xây dựng và phát triển tiềm lực KH&CN của đất nước;
3 Bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của
cá nhân hoạt động KH&CN trong tổ chức mình; giữ bí mật KH&CN theo quy định của pháp luật;
4 Thực hiện dân chủ, bình đẳng, công khai trong việc bố trí và thực hiện các nhiệm vụ KH&CN;
5 Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
2.4 Điều kiện thành lập và đăng ký hoạt động của tổ chức KH&CN
Theo quy định của Luật KH&CN, tổ chức nghiên cứu và phát triển, tổ chức dịch vụ KH&CN được thành lập khi có đủ các điều kiện sau đây:
1 Mục tiêu, phương hướng hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật;
Tổ chức KH&CN phải có điều lệ tổ chức và hoạt động do cơ quan, tổ chức quyết định thành lập phê duyệt hoặc ban hành Trong trường hợp có uỷ quyền của cơ quan, tổ chức quyết định thành lập, cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp của tổ chức KH&CN được phê duyệt hoặc ban hành điều lệ Việc sửa đổi, bổ sung điều lệ phải do cơ quan, tổ chức phê duyệt, ban hành điều lệ
Trang 21quyết định Đối với tổ chức KH&CN do cá nhân thành lập, điều lệ phải có chữ ký của cá nhân đó Đối với tổ chức KH&CN thành lập dưới hình thức hợp tác, liên kết, điều lệ phải có chữ ký của các bên hợp tác, liên kết
Mỗi tổ chức KH&CN phải có ít nhất bốn người có trình độ đại học, cao đẳng trở lên, trong đó có ít nhất một người có trình độ chuyên môn thuộc lĩnh vực xin đăng ký hoạt động Đối với các tổ chức KH&CN thành lập và hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, phải có ít nhất một người có trình độ đại học, cao đẳng trở lên trong lĩnh vực xin đăng ký hoạt động Mỗi tổ chức KH&CN phải có ít nhất hai người làm việc theo chế độ chính nhiệm Người đứng đầu tổ chức KH&CN phải có trình độ đại học trở lên Trường hợp tổ chức KH&CN thành lập và hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, người đứng đầu phải có trình độ cao đẳng trở lên
Đối với tổ chức NC&PT cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh, người đứng đầu phải có học vị tiến sĩ hoặc chức danh khoa học phó giáo sư trở lên
3 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập ở Việt Nam trước khi ban hành NĐ 115
3.1 Một số quy định của Nhà nước về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các
tổ chức KH&CN công lập trước khi ban hành NĐ 115
Từ những năm 80, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật và triển khai nhiều biện pháp nhằm khuyến khích các tổ chức KH&CN công lập chuyển sang chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm Một số chính sách đã ra đời khá sớm và được duy trì trong một thời gian dài Chính sách tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC-PT nhà nước xuất hiện trong chủ trương chung chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN Các chính sách và biện pháp đã tập trung vào tự chủ trong xác định nhiệm vụ và
mở rộng chức năng hoạt động; Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức, liên doanh liên kết; Tự chủ về tài chính; tự chủ nguồn tín dụng Ngân hàng; tự chủ lao động; tự chủ trong hợp tác quốc tế của các tổ chức KH&CN công lập, đặc
Trang 22biệt là các tổ chức NC&PT Nhà nước Sau đây là một số văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu
Quyết định 175-CP ngày 29/4/1981 của Hội đồng Chính phủ về việc ký kết
và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật cho phép áp dụng chế độ ký kết hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học
và triển khai kỹ thuật để phát huy khả năng lao động sáng tạo của đội ngũ cán
bộ khoa học - kỹ thuật, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ kinh tế và xã hội của đất nước, đồng thời để thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
và triển khai kỹ thuật, góp phần hoàn thành kế hoạch khoa học kỹ thuật của Nhà nước và của các ngành, các cấp
Nghị quyết 51/HĐBT ngày 17/5/1983 của Hội đồng Bộ trưởng về một
số vấn đề công tác khoa học và kỹ thuật năm 1983 và những năm tiếp theo đặt
ra công tác kiện toàn hệ thống các cơ quan nghiên cứu và triển khai là một trong những công tác lớn về khoa học và kỹ thuật cho phép mở rộng quyền chủ động của các cơ quan nghiên cứu triển khai nhằm phát huy khả năng của đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có, cho phép các cơ quan này ngoài nhiệm vụ chính là hoàn thành kế hoạch nghiên cứu triển khai được giao, được ký kết hợp đồng phục vụ các nhu cầu khác về khoa học và kỹ thuật của sản xuất, bảo đảm các dịch vụ kỹ thuật cần thiết (hướng dẫn sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết bị, phân tích thí nghiệm, thiết kế kỹ thuật ),
tổ chức sản xuất các sản phẩm là kết quả nghiên cứu của mình, mà chưa có cơ
sở sản xuất nào đảm nhiệm Các cơ quan nghiên cứu khoa học và triển khai
kỹ thuật thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và thực hiện các hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu - triển khai được thành lập các quỹ phát triển khoa học - kỹ thuật, quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng
Thông tư liên bộ số 1438 KHKT-TC ngày 19/11/1983 của Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước hướng dẫn thi hành Quyết định 175-CP ngày 29/4/1981 đã giải thích, hướng dẫn và quy định cụ thể việc ký kết, thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật Theo đó, tổ chức NC-PT nhà nước được tiến hành ba loại hoạt động: nghiên cứu khoa học và
Trang 23triển khai kỹ thuật, sản xuất thử và sản xuất một số sản phẩm có trình độ kỹ thuật cao hơn, nhưng chưa có điều kiện sản xuất đại trà
Quyết định 134-HĐBT ngày 31/8/1987 của Hội đồng Bộ trưởng cho phép các cơ quan nghiên cứu và triển khai, các cơ sở đào tạo, các cơ sở sản xuất và kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế được quyền chủ động thiết lập và mở rộng mọi hình thức liên doanh, liên kết để ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất và đời sống; Cho phép cán bộ công nhân, viên chức đương chức hoặc đã nghỉ hưu, xã viên các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và tư nhân được ký các hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự với các
cơ sở nghiên cứu, đào tạo, sản xuất kinh doanh để phổ biến và áp dụng các thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống dưới danh nghĩa hiệp hội khoa học kỹ thuật, tập thể tự nguyện hoặc cá nhân
Ngày 28/1/1992, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 35/HĐBT về công tác quản lý KH&CN để tiếp tục đổi mới quản lý KH&CN, thúc đẩy phát triển các hoạt động sáng tạo, khuyến khích việc ứng dụng các thành tựu KH&CN mới vào sản xuất và đời sống, nâng cao hiệu quả kinh tế -
xã hội của các hoạt động KH&CN Nghị định số 35/HĐBT ra đời là một bước ngoặt trong những tư tưởng chủ đạo của chính sách KH&CN Tư tưởng và nội dung chủ yếu của Nghị định 35/HĐBT là tự do trong lao động khoa học, là
sự khởi đầu cho một giai đoạn mới của quá trình xã hội hoá hoạt động KH&CN Nghị định 35/HĐBT đã khẳng định "Tất cả các cơ quan Nhà nước, các đơn vị vũ trang, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân đều được quyền tổ chức và thực hiện các hoạt động KH&CN, áp dụng các thành tựu KH&CN mới vào sản xuất và đời sống "; "Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập các đơn vị nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trực thuộc "; và "Các tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực KH&CN có quyền tự do và dân chủ trong nghiên cứu, sáng tạo, trong việc thực hiện các vấn đề nghiên cứu; được khai thác và trao đổi các thông tin liên quan đến hoạt động nghiên cứu của mình " Một
số quy định quan trọng của Nghị định 35/HĐBT đã ban hành được 16 năm
Trang 24nhưng đến nay vẫn được duy trì, thực hiện đóng góp to lớn vào sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN Việt Nam Tư tưởng đột phá về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN trong Nghị định 35/HĐBT đã có tác dụng góp phần thúc đẩy đổi mới quản lý vĩ mô về KH&CN, hình thành và phát triển hệ thống các tổ chức KH&CN hùng mạnh như hiện nay và từng bước tạo lập thị trường công nghệ Những quy định cụ thể về đăng ký hoạt động KH&CN; nguồn vốn của các tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ; phân chia lợi nhuận (nếu có) của các tổ chức KH&CN; từng bước chuyển dần việc cấp kinh phí về lương và chi phí bộ máy từ ngân sách Nhà nước theo tổ chức
và biên chế sang chế độ cấp phát theo chương trình, đề tài, đề án thông qua hợp đồng đặt hàng, đối với các cơ quan nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Nhà nước; các tổ chức KH&CN của Nhà nước đang theo chế
độ biên chế được phép từng bước chuyển sang chế độ hợp đồng lao động và người làm hợp đồng dài hạn có trách nhiệm và quyền lợi như người trong biên chế đã tạo nên những thay đổi to lớn của nền KH&CN nước nhà
Nghị định số 66/2000/NĐ-CP ngày 26/3/2000 của Chính phủ về việc hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục và KH&CN
đã mở rộng quyền tự chủ trong hợp tác đầu tư với nước ngoài của các tổ chức KH&CN công lập
Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 của Chính phủ đã giao quyền
tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp hoạt động có thu, trong đó có các tổ chức KH&CN Theo quy định của Nghị định 10, các tổ chức KH&CN được tự chủ tài chính, được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách Nhà nước cấp đối với đơn vị
sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí; được vay tín dụng ngân hàng hoặc Quỹ hỗ trợ phát triển để mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức sản xuất cung ứng dịch vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật; được thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo chế
độ áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước đối với tài sản cố định sử dụng vào sản xuất, cung ứng dịch vụ đơn vị Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền
Trang 25thu do thanh lý tài sản thuộc nguồn ngân sách Nhà nước được để lại đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị của đơn vị; được chủ động sử dụng
số biên chế được cấp có thẩm quyền giao; sắp xếp và quản lý lao động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức và chủ trương tinh giản biên chế của Nhà nước
3.2 Những thành công trong quá trình chuyển các tổ chức KH&CN công lập sang chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Thông qua các chính sách và biện pháp nêu trên, một số quan hệ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập đã xuất hiện rất sớm và đến nay được định hình khá ổn định Tự chủ trong xác định nhiệm vụ thông qua hợp đồng kinh tế, tự chủ lao động thông qua hoạt động kiêm nhiệm, nhiều quan hệ tự chủ về tài chính đã được hình thành từ hơn một chục năm đã giúp cho các quan hệ này trở nên ổn định và bền vững Đã hình thành và phát triển những mối liên hệ ràng buộc giữa một số quan hệ tự chủ, thể hiện sự thống nhất của các mặt trọng hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập như hoạt động tự nguyện ký kết hợp đồng đã có ảnh hưởng làm xuất hiện nhu cầu về tự chủ trích lập quỹ, tham gia lao động kiêm nhiệm, áp dụng chế độ hạch toán kinh tế, tự chủ trong quan hệ phân phối, tự chủ trong quan hệ tín dụng với ngân hàng, Việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức KH&CN công lập đã đáp ứng các nhu cầu của sản xuất, cung cấp các dịch vụ cần thiết cho quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, phục vụ phát triển xã hội.Với chế độ kiêm nhiệm của cán bộ KHKT, nhiều tiềm năng của các tổ chức KH&CN công lập được khai thác và phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội Nhờ liên doanh liên kết, nhiều viện đã thu được gấp nhiều lần số ngân sách Nhà nước cấp Do cơ chế thông thoáng về thành lập doanh nghiệp mới nên một số tổ chức KH&CN công lập vốn vẫn hưởng ngân sách Nhà nước nay đã chuyển sang chế độ tự chủ về tài chính Hoạt động của nhiều tổ chức KH&CN đã mở rộng từ nghiên cứu - phát triển đến sản xuất và dịch vụ KH&CN Quyền tự chủ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động KH&CN bước đầu được tăng cường Quyền tự
Trang 26chủ về hợp tác quốc tế của tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN được mở rộng Vốn huy động cho KH&CN từ các nguồn hợp đồng với khu vực sản xuất - kinh doanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các nguồn khác tăng đáng kể nhờ chính sách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho KH&CN Hoạt động của nhiều cơ quan nghiên cứu và triển khai đã hướng vào phục vụ thiết thực cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội và đã đạt được một số kết quả đáng kể mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, một số ngành công nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, v.v
3.3 Những hạn chế trong việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập
Bên cạnh khá nhiều quan hệ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập được thiết lập và bên cạnh một số điển hình thực hiện tốt tự chủ, tự chịu trách nhiệm, chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập sang tự chủ,
tự chịu trách nhiệm diễn ra ở nước ta trước khi NĐ 115 ra đời vẫn còn nhiều hạn chế Có những chủ trương trao quyền tự chủ cho tổ chức KH&CN công lập được ban hành khá lâu nhưng vẫn chưa triển khai trên thực tế; có nhiều hiện tượng tự chủ diễn ra tự phát, chệch hướng, nhiều tổ chức KH&CN công lập hoặc trở nên trì trệ hoặc vận dụng tự chủ một cách sai lệch…
Hạn chế của tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức KH&CN công lập trước hết thể hiện quan hệ tài chính đối với hoạt động KH&CN của tổ chức KH&CN công lập vẫn mang nặng tính hành chính, bao cấp; quản lý cán bộ KH&CN còn dập khuôn theo chế độ công chức Nhà nước; một phần đáng kể các nhiệm vụ nghiên cứu chưa được chuyển sang cơ chế tuyển chọn; nguồn thu chủ yếu của các tổ chức KH&CN công lập vẫn là nguồn NSNN cấp Hoạt động của
đa số các tổ chức KH&CN công lập chưa gắn với và chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, của xã hội… Đó lại chính là những nhân tố có sức mạnh to lớn duy trì cơ chế bao cấp cũ và cản trở quá trình phát triển, mở rộng tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập Ngoài ra, xuất hiện xu hướng thoát ly
chức năng, nhiệm vụ, biểu hiện của hiện tượng tự chủ tách rời tự chịu trách nhiệm
Trang 27của một số tổ chức KH&CN công lập, đó là xu hướng hoạt động sản xuất, kinh doanh được nhấn mạnh thay vì hoạt động nghiên cứu, nỗ lực tìm kiếm lợi nhuận ở bên ngoài được ưu tiên đến mức sao nhãng các nhiệm vụ Nhà nước giao, kinh phí Nhà nước cấp bị sử dụng sai nguyên tắc,
Chính các hạn chế nêu trên đã khiến cho nhiều mục tiêu về tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã đề ra không đạt được như mong muốn
Theo đánh giá tại Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm
2010 ban hành kèm theo Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg ngày 31/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ, chúng ta vẫn phải đối mặt với hiện tượng phổ biến
là khoa học tách rời sản xuất, tiềm lực trong tổ chức KH&CN công lập bị lãng phí, chảy máu chất xám, nguồn vốn đầu tư vào hệ thống tổ chức KH&CN công lập kém phát huy hiệu quả, Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu KH&CN, giáo dục - đào tạo và sản xuất - kinh doanh; thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu - phát triển, các trường đại học và doanh nghiệp Hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng còn yếu kém cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của hội nhập khu vực và quốc tế Nhìn chung, năng lực KH&CN nước ta còn yếu kém, chưa giải đáp được kịp thời nhiều vấn đề của thực tiễn đổi mới,
chưa gắn kết chặt chẽ và đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội
Quản lý hoạt động KH&CN còn tập trung chủ yếu vào các yếu tố đầu vào, chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn Các nhiệm vụ KH&CN chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Cơ chế quản lý các tổ chức KH&CN chưa phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các tổ chức KH&CN chưa có được đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy tính năng động, sáng tạo Việc quản lý cán bộ KH&CN theo chế độ công chức không phù hợp với hoạt động KH&CN, làm hạn chế khả năng lưu chuyển và đổi mới cán bộ Thiếu cơ chế đảm bảo để cán bộ KH&CN được tự
Trang 28do chính kiến, phát huy khả năng sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật Chưa có những chính sách hữu hiệu tạo động lực đối với cán
bộ KH&CN và chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, chế độ tiền lương còn nhiều bất hợp lý, không khuyến khích cán bộ KH&CN toàn tâm với sự nghiệp KH&CN Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN chưa tạo thuận lợi cho nhà khoa học, tổ chức KH&CN, chưa huy động được nhiều nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; cơ chế tự chủ về tài chính của các tổ chức KH&CN chưa đi liền với tự chủ về quản lý nhân lực nên hiệu quả còn hạn chế
3.4 Yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý đối với tổ chức KH&CN công lập
Từ thực tế nêu trên, yêu cầu tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập phải được đổi mới, đáp ứng được yêu cầu phát triển của KH&CN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các tổ chức KH&CN, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội thuộc mọi thành phần kinh
tế phải được tự chủ trong việc xác định nhiệm vụ KH&CN, dựa vào nhu cầu của thực tiễn và mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và KH&CN của quốc gia
Nhà nước phải giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN phù hợp với đặc thù của mỗi loại hình hoạt động, nhằm phát huy tối
đa tính chủ động, sáng tạo của các tổ chức này, hình thành mạng lưới các tổ chức KH&CN đủ năng lực hội nhập quốc tế, gắn kết chặt chẽ với giáo dục - đào tạo, sản xuất - kinh doanh Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các
tổ chức KH&CN công lập phải được thực hiện trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động KH&CN, quản lý tài chính, tài sản, nhân sự và hợp tác quốc tế Thống nhất giữa quyền tự chủ, năng lực tự chủ và tinh thần tự chủ, và
tổ chức KH&CN công lập phải trở thành một thực thể tự chủ tự thân Đồng thời, gắn với hình thành chủ thể tự chủ, định hướng của đổi mới tổ chức KH&CN công lập phải mang tính xác định hơn, đó là: gắn kết nghiên cứu với sản xuất trên cơ sở phát huy tính chủ động thực sự của tổ chứcKH&CN, gắn kết nghiên cứu với sản xuất thông qua thống nhất giữa lợi ích và ý thức trách nhiệm của bản thân các tổ
Trang 29chức KH&CN, tăng cường tiềm lực KH&CN trên cơ sở phát huy toàn diện các mặt/năng lực của tổ chức KH&CN,
Yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý đối với các tổ chức KH&CN, đổi mới cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN công lập đã tạo tiền đề cho sự ra đời của NĐ 115 vào năm 2005 nhằm góp phần đạt mục tiêu trong giai đoạn tới (2006 - 2010) và tầm nhìn đến 2020 của KH&CN nước ta phải là đổi mới quản lý và phát triển KH&CN mạnh hơn nữa, góp phần tích cực nhất sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, xây dựng nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trên nền tảng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức Đồng thời, trình
độ KH&CN nước ta được nâng lên mức tiên tiến trong khu vực, trước hết trong các lĩnh vực quan trọng của đất nước
4 Một số nội dung về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập theo quy định của NĐ 115
NĐ 115 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tài chính và tài sản, tổ chức và biên chế của các tổ chức KH&CN công lập NĐ
115 là giải pháp quan trọng về tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp khoa học, quy định việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao nhất cho các tổ chức KH&CN công lập (nhiều năm qua được hưởng kinh phí hoạt động thường xuyên từ ngân sách nhà nước theo cơ chế bao cấp), đó chính là
cơ chế của doanh nghiệp như các nghị quyết của Đảng đã yêu cầu
Tự chủ về tài chính, được giao tài sản để chủ động sử dụng cho nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh và phân cấp quản lý cán bộ viên chức là
ba vấn đề vướng mắc nhất trong hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập nhiều năm qua, làm cản trở sự phát triển của tổ chức KH&CN và cần phải tháo gỡ
4.1 Các loại hình tổ chức của tổ chức KH&CN công lập theo quy định NĐ115
Căn cứ quy định tại Luật KH&CN, NĐ 115 và TTLT 12, các tổ chức
KH&CN thuộc đối tượng áp dụng tại NĐ 115 là các tổ chức KH&CN có tư
Trang 30cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, do cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền quyết định thành lập, gồm tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ KH&CN, được tổ chức dưới các hình thức: viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và cơ sở nghiên cứu và phát triển khác thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Đại học, trường đại học, học viện, trường cao đẳng và các Tổng công ty nhà nước
Theo NĐ 115, Nhà nước cho phép các tổ chức KH&CN được lựa chọn
Ngày 06 tháng 4 năm 2007, Bộ trưởng Bộ KH&CN đã ban hành Quyết định số 08/2007/QĐ-BKHCN quy định về tiêu chí xác định tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản
lý Nhà nước
1) Tổ chức KH&CN có một trong những chức năng sau :
- Nghiên cứu cơ bản (trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật);
- Nghiên cứu chiến lược, chính sách;
- Nghiên cứu xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành phục
Trang 31trực thuộc Trung ương và được cấp Giấy Chứng nhận đăng ký hoạt động KH&CN, trong đó đã đăng ký một trong các chức năng nêu trên Trường hợp
tổ chức KH&CN công lập có chức năng nêu trên được qui định trong Quyết định thành lập hoặc Điều lệ tổ chức và hoạt động nhưng chưa đăng ký hoạt động KH&CN thì được đăng ký bổ sung
3) Về kết quả hoạt động KH&CN: Tổ chức KH&CN công lập trong 3 năm liền kề với năm xem xét phải có ít nhất 30% trong tổng số cán bộ nghiên cứu thuộc biên chế (mã ngạch nghiên cứu viên và kỹ sư) có kết quả nghiên cứu thuộc một trong những lĩnh vực sau :
- Đề tài nghiên cứu cơ bản cấp nhà nước hoặc cấp bộ (tỉnh) được nghiệm thu đạt yêu cầu, hoặc nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phục vụ dịch vụ công ích của Nhà nước được triển khai thành công;
- Công trình nghiên cứu khoa học được xuất bản, được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế chuyên ngành có uy tín, trong kỷ yếu hội nghị hoặc hội thảo khoa học quốc tế;
- Đề án nghiên cứu chiến lược, chính sách cấp nhà nước hoặc cấp bộ (tỉnh) được phê duyệt, hoặc văn bản quy phạm pháp luật về phục vụ quản lý ngành, lĩnh vực đã được ban hành;
- Đề án xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực đã được phê duyệt
4) Về tiềm lực KH&CN
- Nguồn tài chính: Trong báo cáo tài chính 3 năm liền kề của tổ chức KH&CN công lập được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước (bao gồm kinh phí hoạt động thường xuyên, kinh phí thực hiện các nhiệm vụ KH&CN các cấp về nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách, xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật, nghiên cứu khoa học phục vụ dịch vụ công ích, kinh phí từ nguồn hợp tác quốc tế được quy định là ngân sách nhà nước, kinh phí có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước của các hợp đồng) chiếm tỷ lệ trên 70% tổng nguồn thu hàng năm của tổ chức KH&CN
Trang 32- Số lượng cán bộ nghiên cứu đang làm việc (mã ngạch viên chức nghiên cứu viên và Kỹ sư) có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ ít nhất 70% so với tổng số cán bộ viên chức hiện có (biên chế, hợp đồng không
có thời hạn và hợp đồng có thời hạn từ 1 năm trở lên)
- Có đủ điều kiện về cơ sở vật chất (thư viện và các trang thiết bị phục
vụ nghiên cứu) đáp ứng yêu cầu của từng lĩnh vực chuyên môn
4.1.2 Thứ hai là tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoạt động,
được hiểu là đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành; dịch vụ công cộng; văn phòng phẩm; các khoản chi nghiệp vụ; sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các khoản chi khác theo chế độ quy định (gọi chung là quỹ lương và chi hoạt động bộ máy), sau khi chuyển đổi vẫn là một tổ chức KH&CN hoạt động theo Luật KH&CN, được nhà nước tiếp tục hỗ trợ kinh phí thông qua nhiệm vụ và đầu tư phát triển, đồng thời nếu có hoạt động sản xuất kinh doanh thì được hưởng những quyền lợi khác như doanh nghiệp mới thành lập
Tuy nhiên, Nhà nước chưa có quy định cụ thể về phân loại và cách xác định để phân loại tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí (tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động hay tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động) và chưa quy định rõ về căn cứ và cách xác định quỹ lương và chi hoạt động bộ máy của tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí
4.1.3 Thứ ba là doanh nghiệp KH&CN, được hiểu là doanh nghiệp đa
sở hữu mới khởi nghiệp, hoạt động trong lĩnh vực KH&CN theo Luật Doanh nghiệp, sản xuất kinh doanh các sản phẩm mới dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học, bí quyết công nghệ, kết quả ươm tạo công nghệ, được hưởng chính sách ưu đãi cao của nhà nước trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển
Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ quy định
về việc thành lập doanh nghiệp KH&CN và chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước đối với doanh nghiệp KH&CN Doanh nghiệp KH&CN tổ chức quản lý
Trang 33và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật KH&CN Hoàn thiện việc ươm tạo và làm chủ công nghệ từ kết quả KH&CN thuộc các lĩnh vực công nghệ thông tin - truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa, công nghệ vật liệu mới, công nghệ bảo vệ môi trường, công nghệ năng lượng mới, công nghệ vũ trụ và một số công nghệ khác do Bộ KH&CN qui định; Chuyển giao công nghệ hoặc trực tiếp sản xuất trên cơ sở công nghệ ươm tạo và làm chủ Đó là hai điều kiện bắt buộc để công nhận là doanh nghiệp KH&CN được nêu trong Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV giữa liên Bộ KH&CN, Nội vụ, Tài chính
Hoạt động chính của doanh nghiệp KH&CN là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Ngoài các hoạt động này, doanh nghiệp KH&CN có thể thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá khác và thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật
Tổ chức KH&CN công lập xây dựng Đề án chuyển đổi tổ chức và hoạt động để thành lập doanh nghiệp KH&CN dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần Nội dung đề án cần làm
rõ số vốn dưới dạng tiền và tài sản (trụ sở làm việc, nhà xưởng, trang thiết bị nghiên cứu, phương tiện làm việc, diện tích đất được giao quyền sử dụng, kết quả KH&CN ) thuộc sở hữu nhà nước đề nghị giao cho tổ chức KH&CN công lập để góp vốn vào doanh nghiệp KH&CN; phương án sắp xếp, bố trí lại cán bộ, viên chức và một số nội dung khác theo hướng dẫn của Bộ KH&CN
4.2 Mục đích thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
- Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức KH&CN và Thủ trưởng tổ chức KH&CN
- Tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động KH&CN
Trang 34- Tạo điều kiện tập trung đầu tư có trọng điểm cho các tổ chức KH&CN
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN, góp phần tăng cường tiềm lực KH&CN của đất nước;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân triển khai ứng dụng các kết quả KH&CN vào sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh thương mại hoá các sản phẩm hàng hoá là kết quả của hoạt động KH&CN; phát triển thị trường công nghệ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước
4.3 Các nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
- Thực hiện quyền tự chủ phải đi đôi với việc tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của tổ chức KH&CN
- Thực hiện công khai và dân chủ trong các hoạt động của tổ chức KH&CN
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được Nhà nước giao và các nguồn lực khác của tổ chức KH&CN
- Hoàn thành với chất lượng cao các nhiệm vụ được các cơ quan nhà nước giao hoặc đặt hàng, các nhiệm vụ của tổ chức KH&CN, bảo đảm sự phát triển của tổ chức KH&CN
4.4 Một số lĩnh vực tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN
- Về tài chính, NĐ 115 quy định thay đổi căn bản phương thức cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước, thay vì cấp theo biên chế, nay các tổ chức KH&CN sẽ được cấp theo nhiệm vụ do nhà nước giao, đặt hàng (có thể bao gồm cả kinh phí để duy trì bộ máy theo chức năng nhiệm vụ), hoặc thông qua đấu thầu, tuyển chọn
NĐ 115 cho phép các tổ chức KH&CN khi có sản xuất kinh doanh thì được hoạt động “như doanh nghiệp” hoặc có thể chuyển thành doanh nghiệp thực sự, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như doanh nghiệp, được miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (miễn 4 năm, giảm 50% trong 9 năm và thuế suất 10%) và nhiều ưu đãi khác, có quyền xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm thuộc lĩnh vực chuyên môn, được liên doanh,
Trang 35liên kết sản xuất với mọi tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài nước, được trực tiếp thuê chuyên gia nước ngoài vào làm việc
- Về tài sản, NĐ 115 cho phép các tổ chức KH&CN được cấp có thẩm quyền giao tài sản, kể cả quyền sử dụng đất và được quản lý, sử dụng tài sản cho nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật, tài sản nào sử dụng cho sản xuất kinh doanh thì phải trích khấu hao như tài sản nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước và hạch toán vào giá thành sản phẩm, được giữ lại khấu hao để bổ sung vào quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị Nếu đơn vị chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN theo Nghị định 80 thì tài sản được coi là phần vốn nhà nước trong doanh nghiệp, có thể được giao đất, thuê đất và sử dụng tài sản thế chấp, vay vốn, liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật
- Về quản lý cán bộ viên chức, NĐ 115 tăng quyền hạn cho người đứng
đầu các tổ chức KH&CN góp phần cải cách hành chính và phân cấp quản lý một cách triệt để, đồng thời có quy định sự phối hợp, giám sát của các tổ chức chính trị và chính trị xã hội trong đơn vị
Luận văn này tập trung vào những nội dung liên quan đến hoàn thiện
cơ chế hạch toán kinh tế thuộc lĩnh vực tài chính của tổ chức KH&CN công lập tự trang trải kinh phí hoạt động
5 Lý luận chung về hạch toán kinh tế
Các tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí bắt buộc phải thực hiện tốt
cơ chế hạch toán kinh tế để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
5.1 Khái niệm về hạch toán kinh tế
- Hạch toán kinh tế là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hoá nói chung, đặc biệt dùng trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thực hiện phương thức quản lí hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, trên cơ sở kế hoạch hoá kết hợp với sử dụng các quan hệ hàng hoá - tiền tệ và áp dụng phương pháp thương mại Những nguyên tắc cơ bản của HTKT là: tự chủ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh và tự chịu trách nhiệm vật chất và tài chính về kết
Trang 36quả kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước bằng kế hoạch và các chính sách, các đòn bẩy kinh tế; tự bù đắp chi phí và có lãi; thực hiện chế độ khuyến khích vật chất, kích thích sản xuất phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế
Hạch toán kinh tế là phương pháp quản lý kinh tế của các doanh nghiệp dựa trên cơ sở sử dụng các phạm trù giá trị và quy luật giá trị, đề cao trách nhiệm vật chất và quan tâm đến lợi ích vật chất của người lao động nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
5.2 Tác dụng của hạch toán kinh tế
- Nâng cao tính chủ động sáng tạo của tập thể cũng như của từng người lao động, do đó khai thác đầy đủ các tiềm năng của doanh nghiệp;
- Kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất Do
đề cao trách nhiệm vật chất và khuyến khích bằng lợi ích vật chất, người lao động sẽ quan tâm đến kết quả lao động
- Hạch toán kinh tế dựa trên cơ sở sử dụng các phạm trù giá trị để tính toán, lựa chọn phương án tối ưu, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh;
- Hoạt động của các đơn vị hạch toán kinh tế làm tăng thêm dung lượng thị trường Đối với từng doanh nghiệp, để đứng vững trong cạnh tranh phải không ngừng hạ thấp giá trị cá biệt bằng cách tăng năng suất lao động, đồng thời, quá trình này đưa đến kết quả giảm giá trị thị trường (giá trị xã hội), và
do đó, hạ thấp giá cả hàng hoá
5.3 Những nguyên tắc cơ bản của hạch toán kinh tế
- Lấy thu bù chi và có lãi Đây là nguyên tắc có tính chất quyết định
Hoạt động sản xuất mở rộng đòi hỏi phải tự bù đắp được những chi phí đã bỏ ra: chi phí vật chất và chi phí về tiền lương Và không chỉ bù đắp chi phí sản xuất, mà phải đảm bảo có lãi để mở rộng sản xuất, nâng cao phúc lợi của người lao động
“Lấy thu bù chi và có lãi” là một trong những nguyên tắc hàng đầu trong thực hiện cơ chế hạch toán kinh tế của các tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí
Trang 37hoạt động Nguyên tắc này đòi hỏi các tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoạt động phải hoạt động tài chính như một tổ chức kinh tế - thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời, nắm vững lý luận chung về chi phí, doanh thu
và lợi nhuận
- Tự chủ về kinh tế - tài chính Nguyên tắc này tạo tiền đề cho sự hoạt
động của các đơn vị hạch toán kinh tế Các tổ chức KH&CN tự tổ chức các hoạt động nghiên cứu và phát triển, sản xuất, tài chính của mình nhằm khai thác những tiềm năng, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người lao động
- Chịu trách nhiệm vật chất và được khuyến khích vật chất Nguyên tắc
này được thực hiện dựa trên cơ sở tự chủ về kinh tế - tài chính Nguyên tắc tự chủ về kinh tế - tài chính quy định quyền cho các tổ chức KH&CN như là điều kiện cần cho hoạt động hạch toán thì nguyên tắc này xác định trách nhiệm vật chất như điều kiện đủ cho các đơn vị thực hiện hạch toán kinh tế Chế độ trách nhiệm vật chất và được khuyến khích vật chất gắn chặt lao động
để đóng góp với thành quả được hưởng thụ, đồng thời kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội
- Thực hiện giám đốc bằng đồng tiền Mọi hoạt động của tổ chức
KH&CN được phản ánh trên sổ kế toán, thống kê dưới hình thức tiền tệ Quán triệt nguyên tắc này tức là thông qua hình thức tiền tệ để kiểm tra, giám sát các hoạt động của tổ chức Dựa trên cơ sở phân tích các hoạt động kinh tế phát hiện những mặt, những khâu bất hợp lý, gây lãng phí, thất thoát…Trên
cơ sở đó đề ra biện pháp hữu hiệu để giải quyết
Hạch toán kinh tế được thực hiện trên thực tế khi quán triệt đầy đủ các nguyên tắc nêu trên Các nguyên tắc liên hệ, vận động qua lại lẫn nhau trong thể thống nhất, vì vậy khi áp dụng chế độ hạch toán kinh tế, không thể coi nhẹ nguyên tắc này mà nhấn mạnh nguyên tắc khác
Trang 386 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học ảnh hưởng đến hạch toán kinh tế của các tổ chức KH&CN
Các tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí cũng như mọi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia phát triển sự nghiệp KH&CN; phổ biến kiến thức, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN; phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất; ứng dụng các thành tựu KH&CN vào việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Để có thể phát triển hoạt động và thực hiện tốt hạch toán kinh tế, mỗi tổ chức KH&CN phải vững những khái niệm, đặc điểm của hoạt động KH&CN
từ đó lựa chọn được phương án hoạt động và hạch toán kinh tế phù hợp
Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật và sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng Nói cho cùng NCKH là một hoạt động xã hội nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức thế giới và cải tạo thế giới
Nghiên cứu khoa học mang Tính mới, Tính tin cậy; Tính thông tin; Tính khách quan; Tính rủi ro; Tính kế thừa; Tính cá nhân; Tính phi kinh tế
Quá trình nghiên cứu KH luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Trong NCKH không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo Vì vậy, tính mới là thuộc tính quan trọng số một của lao động KH Tính mới của NCKH đồng thời cũng quy định một thuộc tính quan trọng khác của nghiên cứu khoa học Đó là tính rủi ro Một nghiên cứu cũng
có thể thành công, có thể thất bại Sự thất bại có thể có nhiều nguyên nhân: Thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy để xử lý những vđề được đặt ra trong nghiên cứu; Trình độ kỹ thuât của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm không đủ đáp ứng nhu cầu kiểm chứng giả thiết; Sự hạn chế về năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu; Giả thiết khoa học đặt sai; Những tác nhân bất khả kháng…
Ngay cả khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công cũng vẫn chịu những rủi ro trong áp dụng (có thể do kỹ thuật chưa được làm chủ, khi triển khai áp dụng trong phạm vi mở rộng không thành công; hoặc khi thử
Trang 39nghiệm thành công vẫn không thể đi đến quyết định áp dụng vì 1 nguyên nhân xã hội nào đó) Trong KH, thất bại cũng được xem là 1 kết quả Kết quả này cũng phải được tổng kết, lưu giữ lại, tránh cho các đồng nghiệp đi sau khỏi dẫm chân lên lối mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu
Công trình NCKH do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy
cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân
Lao động NCKH rất khó định mức một cách chính xác Những thiết bị chuyên dụng cho NCKH hầu như không thể khấu hao (tần suất sử dụng không
ổn định và hầu như rất thấp, tốc độ hao mòn vô hình luôn vượt trước rất xa so với tốc độ hao mòn hữu hình, hiệu quả kinh tế của NCKH hầu như không thể xác định)
Tính rủi ro, tính cá nhân và tính phi kinh tế là những đặc điểm quan trọng và mỗi tổ chức KH&CN cần quan tâm khi xác định giá trị sản phẩm nghiên cứu khoa học và hạch toán kinh tế của các tổ chức KH&CN
Đại hội X của Đảng đã nhấn mạnh: "Đổi mới cơ bản cơ chế quản lý KH&CN, đặc biệt là cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù sáng tạo và khả năng rủi ro của hoạt động KH&CN"
Cơ chế tài chính cho KH&CN ở Việt Nam hiện nay còn bất cập, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sáng tạo của nhà khoa học Ðây là vấn
đề đang có nhiều tranh luận, thu hút sự quan tâm của cả các nhà quản lý, nhà khoa học và xã hội Ở Việt Nam hiện nay, cơ chế tài chính trong hoạt động KH&CN đang là chủ đề của những cuộc tranh luận chưa phân thắng bại giữa các nhà quản lý và các nhà khoa học Các nhà quản lý đánh giá đầu tư cho KH&CN ở Việt Nam mang lại hiệu quả không cao; còn các nhà khoa học thì cho rằng, cơ chế quản lý tài chính hiện nay đang làm lãng phí thời gian, thậm chí làm phương hại đến lao động sáng tạo của giới khoa học Các nhà quản lý cho rằng, cần phải quản lý chặt đồng vốn do Nhà nước bỏ ra; còn các nhà khoa học cho rằng, họ cần có hành lang thỏa đáng để quyết định việc chi tiêu trong hoạt động của mình
Trang 40Hoạt động KH&CN là một hoạt động đặc thù, lấy sự sáng tạo làm mục đích chủ đạo, nên sản phẩm của hoạt động KH&CN gồm có ba loại:
Thứ nhất là các công bố khoa học dưới dạng các bài báo gốc trình bày
các kết quả mới được công bố trên các tạp chí uy tín có sự phản biện của các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn;
Thứ hai là các bằng phát minh sáng chế được bảo hộ trong và ngoài
nước bởi các cơ quan chuyên nghiệp;
Thứ ba là những nghiên cứu ứng dụng, thực chất là việc thử nghiệm
các kết quả có sẵn ở điều kiện cụ thể nào đó, nhất là điều kiện trong nước Ngoài ra, theo NĐ 115, Nhà nước cho phép các tổ chức KH&CN được lựa chọn 3 loại hình tổ chức: Tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý nhà nước, được ngân sách tiếp tục đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên; Tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoạt động và Doanh nghiệp KH&CN Tuy nhiên, trong thực tế, rất khó phân định rạch ròi 3 loại hình tổ chức KH&CN này do hoạt động KH&CN có những đặc điểm riêng và quá trình hoạt động KH&CN gắn liền với nhau Tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí có thể tham gia toàn bộ vào các hoạt động KH&CN hoặc có thể chuyên sâu cho một hoặc một số hoạt động KH&CN
Những đặc thù quan trọng nêu trên ảnh hưởng đến nguyên tắc và cơ chế đầu tư tài chính cho KH&CN nói chung, hạch toán kinh tế của các tổ chức KH&CN công lập nói riêng (tác động trực tiếp đến việc xác định sản phẩm, doanh thu, chi phí, giá thành, thuế và lợi nhuận của các tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí)