1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin

89 462 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tất cả lý do trên đây, việc nghiên cứu đề tài “Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong SME ngành CNTT” để từ đó có thể đề xuất một số biện pháp, chính sách nhằm phát tri

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGUYỄN LAN ANH

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ

TRIỂN KHAI TRONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.70 Khoá 2005-2008

Hà Nội, 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ

TRIỂN KHAI TRONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.70 Khoá 2005-2008

Người thực hiện: Nguyễn Lan Anh Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hữu Hùng

Hà Nội, 2008

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Danh mục các từ viết tắt ……… 5

Phần mở đầu……… 6

Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động NC&TK trong SME….……… 14

1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động NC&TK trong SME………… 14

1.1.1 Một số khái niệm……… 14

1.1.2 Đổi mới, hệ thống đổi mới quốc gia……… 16

1.2 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới trong việc khuyến khích doanh nghiệp phát triển hoạt động NC&TK… … 24

1.2.1 CHLB Đức ……… 25

1.2.2 Đài Loan……… 27

1.2.3 Trung Quốc……… 30

1.2.4 Nhận xét từ kinh nghiệm nước ngoài mà Việt Nam có thể tham khảo 33 Chương II Hoạt động NC&TK trong các SME ngành CNTT ở Việt Nam… ……… ……… 36

2.1 Hoạt động NC&TK trong SME Việt Nam… ……… 36

2.1.1 SME Việt Nam……… 36

2.1.2 Khái quát hoạt động NC&TK trong các SME……… 38

2.2 Một số chính sách khuyến khích SME, SME phần mềm tiến hành hoạt động NC& TK… ……… 41

2.2.1 Chính sách hỗ trợ về tài chính 43

2.2.2 Chính sách hỗ trợ về thuế, tín dụng 46

2.2.3 Một số chính sách hỗ trợ tài chính khác 49

2.2.4 Một số chính sách liên quan đến phát triển phần mềm và SME phần mềm 51

2.3 Hoạt động NC&TK trong SME phần mềm 55

2.3.1 Doanh nghiệp phần mềm Việt Nam 56

2.3.2 Đặc thù sản phẩm phần mềm và vai trò của hoạt động NC&TK trong SME phần mềm 60

2.3.3 Tổ chức thực hiện hoạt động NC&TK trong SME phần mềm 61

Trang 4

2.3.4 Đầu tư tài chính cho hoạt động NC&TK trong SME phần

mềm 62

2.3.5 Nguồn nhân lực NC&TK trong các SME phần mềm 63

2.3.6 Thông tin về thị trường trong các SME phần mềm 67

2.3.7 Quản lý chất lượng trong các SME phần mềm 68

2.4 Kết luận chương II 69 Chương III Một số giải pháp phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong SME ngành CNTT 74

3.1 Định hướng phát triển hoạt động NC&TK trong SME CNTT ở Việt Nam 74

3.1.1 Duy trì và phát triển hệ thống đổi mới quốc gia và xây dựng, thực thi chính sách đổi mới ở Việt Nam 74

3.1.2 Nhà nước giữ vai trò “bà đỡ” cho các SME phần mềm 77

3.2 Một số giải pháp phát triển hoạt động NC&TK trong SME CNTT 78

3.2.1 Giải pháp về xây dựng chiến lược phát triển của các SME phần mềm 78

3.2.2 Giải pháp về nguồn nhân lực cho các SME phần mềm 79

3.2.3 Giải pháp về tài chính 81

3.2.4 Giải pháp về công tác quản lý trong doanh nghiệp 82

3.2.5 Giải pháp về thông tin thị trường trong các SME phần mềm 83

3.2.6 Một số giải pháp gián tiếp nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh của các SME phần mềm

84 Kết luận 85

Tài liệu tham khảo 87

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNTT: công nghệ thông tin

KH&CN: khoa học và công nghệ

NC&TK: nghiên cứu và triển khai

SME: doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Hoạt động KH&CN nói chung, hoạt động NC&TK nói riêng ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng trong việc ổn định và phát triển nền kinh tế của đất nước Tuy nhiên hoạt động NC&TK chưa được các doanh nghiệp, đặc biệt là SME đánh giá đúng với tầm quan trọng của nó Điều đó được thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp sẵn sàng bỏ tiền để mua công nghệ khi cần thiết, mặc dù phải chi những khoản tiền rất lớn, trong khi đó nguồn vốn của SME rất hạn chế

Về phía Nhà nước, đã có những chính sách hỗ trợ cho hoạt động KH&CN của doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó phải

kể đến là chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động KH&CN được quy định tại Nghị định 119/1999/NĐ-CP Các chính sách quy định tại Nghị định này bao gồm: chính sách về thuế, tín dụng, chính sách hỗ trợ kinh phí…, song nổi bật và rõ nét nhất của Nghị định này là việc hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu khoa học

Trong gần 10 năm thực hiện, chính sách này đã được các doanh nghiệp rất ủng hộ, tuy nhiên trên thực tế những hỗ trợ của Nhà nước ở đây chỉ mang tính thời vụ, và như vậy đã không giải quyết được cái “gốc” của

vấn đề Rõ ràng nó không đủ mạnh để có thể làm thay đổi nhận thức và hành động của doanh nghiệp đối với hoạt động NC&TK, để từ đó có thể

phát triển một cách có hệ thống hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp, đặc biệt là SME

Trang 7

Mỗi năm khối SME đóng góp khoảng 25%-26% GDP1

của cả nước Trong giai đoạn hiện nay, đứng trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế tri thức, các doanh nghiệp ngành CNTT đóng vai trò không nhỏ, tuy nhiên hoạt động NC&TK cũng chưa được các doanh nghiệp chú ý đúng mức

Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt động KH&CN trong khu vực sản xuất, nhưng vì cách tiếp cận khác nhau nên các công trình này không đi sâu nghiên cứu về mảng hoạt động NC&TK của các doanh nghiệp, đặc biệt là SME

Với tất cả lý do trên đây, việc nghiên cứu đề tài “Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong SME ngành CNTT” để từ đó có thể đề xuất

một số biện pháp, chính sách nhằm phát triển hoạt động NC&TK trong các doanh nghiệp này là cần thiết trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các vấn đề nghiên cứu của đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước:

Nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về hoạt động KH&CN nói chung, hoạt động NC&TK nói riêng trong khu vực doanh nghiệp cũng như các chính sách để tăng cường hoạt động NC&TK của doanh nghiệp

Nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy hoạt động NC&TK trong khu vực doanh nghiệp không nhiều, vì thế đã tạo nên sự khác biệt lớn với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên theo xu thế phát triển chung, kinh

1 Vũ Quốc Tuấn, Hoàng Thu Hoà (Chủ biên), Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa: Kinh nghiệm nước ngoài và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội 2001, tr.91

Trang 8

phí dành cho hoạt động NC&TK cũng như những đóng góp về NC&TK trong các doanh nghiệp đã tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây Năm

2000, Trung Quốc quy định rằng những doanh nghiệp nào có chi phí cho NC&TK đạt 5% doanh thu2 thì được cấp chứng nhận là doanh nghiệp công nghệ cao Chính sách này đã thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường hoạt động NC&TK

Chính phủ đã xây dựng nhiều khu công nghệ cao quốc gia, với mục đích thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ cao Các doanh nghiệp trong các khu công nghệ cao này chủ yếu là doanh nghiệp khoa học và kỹ thuật vừa và nhỏ có đầu tư lớn cho hoạt động NC&TK

Tuy nhiên, nhìn chung đầu tư cho NC&TK của doanh nghiệp ở mức thấp và năng lực NC&TK của nhiều doanh nghiệp còn yếu nên họ phải nhập khẩu hầu hết các công nghệ cốt lõi và các thiết bị thiết yếu Mặt khác, cũng chính vì các doanh nghiệp có thể tiếp cận được công nghệ và thiết bị tiên tiến từ các nước phát triển, rất nhiều doanh nghiệp đã không tập trung vào việc nghiên cứu Đây là tình trạng phổ biến chung của hầu hết các cơ sở nghiên cứu tại Trung Quốc (Han Jinglun, Yang Ruikai, 2004) Trong ngành dược, ngành sản xuất điện thoại di động, hiện tượng này thể hiện rất rõ

Các nghiên cứu ở Đài Loan cho thấy, Đài Loan có rất nhiều doanh nghiệp nhỏ, tuy nhiên từng doanh nghiệp sẽ bị hạn chế trong việc đầu tư hiệu quả cho hoạt động NC&TK Vì vậy, Chính phủ Đài Loan đã giao cho Viện Nghiên cứu công nghệ công nghiệp (ITRI) làm đầu mối cho một số chương trình hợp tác NC&TK khu vực doanh nghiệp Theo nghiên cứu của Hobday (1995) thì để có thể nâng cao nhận thức về hoạt động nghiên cứu trong khu vực doanh nghiệp, Chính phủ đã áp dụng một số chính sách như:

Trang 9

đầu tư cho giáo dục, chính sách tài chính để khuyến khích doanh nghiệp tiến hành hoạt động NC&TK…

Ở CHLB Đức có nhiều chương trình hỗ trợ hoạt động NC&TK, đổi

mới công nghệ của các doanh nghiệp, điển hình là Chương trình nâng cao năng lực đổi mới cho các SME (ProInno) Mục đích của chương trình là

thông qua việc hỗ trợ kinh phí cho hoạt động NC&TK của các SME để tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Ngoài ra ở Đức còn có Liên đoàn các hội nghiên cứu doanh nghiệp, trong Liên đoàn có các Liên hiệp nghiên cứu bao gồm nhiều viện nghiên cứu Vai trò của Liên đoàn như người đỡ đầu, hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu của khu vực doanh nghiệp Liên đoàn đứng ra tiếp nhận tài trợ của Liên bang thông qua Bộ Kinh tế Liên bang cấp để tiến hành nghiên cứu

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, đã có những công trình nghiên cứu về hoạt động KH&CN nói chung, hoạt động NC&TK nói riêng của các tổ chức KH&CN,

đó là các nghiên cứu về hoạt động NC&TK của các viện nghiên cứu thuộc các bộ, ngành (TS Nguyễn Thị Anh Thu, 2000), nghiên cứu hoạt động NC&TK thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam (TS Nguyễn Thanh Thịnh, 2000), nghiên cứu hoạt động NC&TK trong trường đại học (Ths Nguyễn Thị Minh Nga, Ths Phạm Thị Bích Hà, 2000) Vì các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp có những đặc thù nên hoạt động NC&TK trong các tổ chức đó cũng mang những nét đặc trưng riêng

Đối với hoạt động KH&CN trong khu vực doanh nghiệp cũng đã có một số công trình nghiên cứu điển hình có liên quan, đó là:

Trang 10

- Đề tài cấp bộ năm 2000: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ

và nghiên cứu - triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam Chủ nhiệm

đề tài: TS Trần Ngọc Ca, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN Đề tài đưa ra cách tiếp cận mới về đổi mới công nghệ, đặt nó trong hệ thống đổi mới quốc gia Tuy nhiên, đề tài mới chỉ tập trung vào phân tích môi trường chính sách, đặc biệt là chính sách về tài chính và nhân lực đối với hoạt động đổi mới công nghệ tại các cơ sở sản xuất

- Đề tài cấp bộ năm 2006: Nghiên cứu tác động của cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN Chủ nhiệm

đề tài: Ths Nguyễn Việt Hoà, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN Cách tiếp cận của đề tài đi từ những tác động của các chính sách của Nhà nước tới hoạt động KH&CN của doanh nghiệp Liên quan đến đề tài, hoạt động KH&CN gồm hoạt động NC&TK, đào tạo và dịch vụ trong các doanh nghiệp ngành công nghiệp và nông nghiệp Chính vì phạm vi rộng như vậy nên đề tài không đi sâu nghiên cứu hoạt động NC&TK đối với loại hình SME trong ngành CNTT để có thể đề xuất được những chính sách phù hợp với đặc thù của các doanh nghiệp loại này

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm vào:

- Nhận dạng hoạt động NC&TK trong SME ngành CNTT

- Đề xuất một số giải pháp phát triển hoạt động NC&TK trong các SME ngành CNTT

Trang 11

2005 của Hội tin học TP Hồ Chí Minh HCA)

6 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài

6.1 Hoạt động NC&TK trong SME CNTT diễn ra như thế nào?

6.2 Cần có những giải pháp gì để thúc đẩy được hoạt động NC&TK trong các SME ngành CNTT?

6.3 Gia công phần mềm là một thị trường nhiều tiềm năng của Việt Nam nhưng làm thế nào để biến cơ hội thành lợi thế của doanh nghiệp?

7 Giả thuyết nghiên cứu

7.1 Hoạt động NC&TK trong các SME CNTT diễn ra rất nhỏ lẻ, chưa được các doanh nghiệp nhận thức đầy đủ, vì thế không được đầu tư đúng mức

7.2 Tài chính và nhân lực là hai vấn đề hiện nay các SME ngành CNTT đang gặp phải khó khăn

 Về tài chính, các SME CNTT thiếu vốn để hoạt động Cần đa dạng hoá, thu hút các nguồn vốn khác nhau hỗ trợ cho hoạt động NC&TK của SME CNTT

 Về nhân lực, nhân lực CNTT nói chung, nhân lực phần mềm nói riêng còn rất thiếu cả về chất lượng và số lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế Vì vậy cần có chiến lược phát triển nguồn nhân lực CNTT trước mắt và lâu dài

Trang 12

7.3 Các doanh nghiệp khi tham gia thị trường gia công phần mềm thiếu tính chuyên nghiệp Để khắc phục tình trạng này, các doanh nghiệp cần xây dựng quy trình sản xuất/ gia công phần mềm đạt chất lượng quốc tế

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu tài liệu: thu thập, hệ thống hoá và phân tích các tài liệu của Việt Nam và nước ngoài về lý luận và thực tiễn hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp nói chung, SME nói riêng cũng như các tài liệu về hệ thống chính sách đối với hoạt động NC&TK trong khu vực doanh nghiệp

- Kế thừa kết quả nghiên cứu có liên quan đã được công nhận: hệ thống hoá, phân tích các số liệu điều tra từ các đề tài nghiên cứu đã được nghiệm thu, các cuốn sách đã được xuất bản, và đặc biệt là số liệu khảo sát điều tra của 89 doanh nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 của Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh

- Phỏng vấn chuyên gia: tiếp xúc, trao đổi với các chuyên gia, các nhà khoa học, các doanh nghiệp phần mềm

- Nghiên cứu so sánh kinh nghiệm nước ngoài và thực tiễn Việt Nam: Luận văn tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm các nước CHLB Đức, Đài Loan, Trung Quốc và mốt số nước khác trong sự so sánh với điều kiện kinh

tế, xã hội của Việt Nam

9 Kết cấu luận văn

Trang 13

Chương III Một số giải pháp phát triển hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG NC&TK

TRONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động NC&TK trong SME

1.1.1 Một số khái niệm

Liên quan đến khái niệm về KH&CN, nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm (NC&TK), nhiều tác giả đã đưa ra những quan niệm, giải thích và nhận định khác nhau

Nghiên cứu khoa học có thể được xác định như là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm áp dụng chúng vào thực tiễn (Y.de Hemptinne, 1986)

Nghiên cứu khoa học là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người (Vũ Cao Đàm, 2005)

Hoạt động nghiên cứu khoa học là những hoạt động nghiên cứu có tính hệ thống và sáng tạo… nhằm áp dụng vào đời sống thực tế (UNESCO)

Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng,

sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn (Luật KH&CN, 2000)

Triển khai thực nghiệm có thể được xác định như bất kỳ một công việc

có hệ thống nào vận dụng các kiến thức hiện tại đạt được nhờ nghiên cứu và/ hoặc kinh nghiệm thực tiễn nhằm sản xuất ra vật liệu mới, sản phẩm và

Trang 15

thiết bị mới, nhằm đưa ra những phương pháp tiến hành mới, những hệ thống và dịch vụ mới, nhằm cơ bản hoàn thiện những gì đã sản xuất hoặc đã đưa ra sử dụng (Y.de Hemptinne, 1986)

Triển khai thực nghiệm (còn gọi là triển khai) là sự vận dụng các lý thuyết để đưa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật (Vũ Cao Đàm, 2005) Theo đó, hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn: tạo vật

mẫu, tạo công nghệ (làm pilot), sản xuất thử loạt nhỏ (loạt 0)

Như vậy, mặc dù khái niệm nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm được nhiều tác giả hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau, song rõ ràng nhân tố quyết định của hoạt động NC&TK là sự có mặt của yếu tố sáng tạo và đổi mới và mục đích cuối cùng của hoạt động này là để áp dụng vào thực tiễn Tác giả cho rằng đây chính là bản chất của hoạt động NC&TK Vì lẽ đó, trong phần dưới đây tác giả sẽ sử dụng lý thuyết về hệ thống đổi mới quốc gia để phân tích hoạt động NC&TK trong khu vực doanh nghiệp

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (tiếng Anh: Small and Medium Enterprise – SME) là một thực thể kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong các nền kinh tế, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Quan niệm về SME không thống nhất ở các nước khác nhau Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người (Điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và

vừa)

Trang 16

- Công nghệ thông tin: là tập hợp các phương pháp khoa học, công

nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số (Luật CNTT, 2006)

- Doanh nghiệp CNTT, gồm có doanh nghiệp kinh doanh phần mềm,

phần cứng và doanh nghiệp dịch vụ

Doanh nghiệp CNTT được tiến hành nghiên cứu sâu trong luận văn này là doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam

1.1.2 Đổi mới, hệ thống đổi mới quốc gia

1.1.2.1 Đổi mới (innovation)

Đổi mới là khái niệm rộng, được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau Theo R Nelson, đổi mới là một quá trình “chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới hoặc sản phẩm hoàn thiện để đưa ra thị trường, thành một quy trình được đưa vào hoạt động hoặc được hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa ra một cách tiếp cận mới trong các dịch vụ xã hội”

Schumpeter cho rằng đổi mới bao gồm: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mới thị trường, đổi mới nguồn lực, đổi mới tổ chức Đổi mới không chỉ có ý nghĩa trong kinh tế mà còn có ý nghĩa đối với xã hội Tác giả cuốn sách “Diffusion of innovation” – Everett Roger nhận ra sự khác biệt giữa nhà sáng chế (inventor) và nhà đổi mới (innovator) Theo ông, nhà sáng chế là người có ý tưởng mới, còn nhà đổi mới là người biết vận dụng những

ý tưởng đó để thực thi nó trong thực tế

Theo cuốn Manual Oslo của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD thì khái niệm đổi mới bao gồm việc thực thi sản phẩm công nghệ mới

và quy trình công nghệ mới hoặc hoàn thiện công nghệ trong sản phẩm và

Trang 17

Theo cách tiếp cận truyền thống, hoạt động đổi mới được quan niệm như một quá trình tuyến tính, không có sự tác động qua lại giữa các yếu tố Quá trình đó bắt đầu bằng hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm Từ đó hình thành nên các sáng chế và ra đời các sản phẩm mới, quy trình mới Như vậy ở đây có sự tiếp nối của các sự kiện mà không có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các sự kiện đó

Từ những năm 1980, quan niệm về đổi mới được thay đổi theo cách tiếp cận mối quan hệ tương hỗ/ cách tiếp cận hệ thống Theo đó, quá trình đổi mới không phải là một chuỗi các công đoạn biệt lập với nhau, mà là một

sự tác động qua lại thường xuyên giữa các yếu tố do KH&CN hoặc thị trường mang lại Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa giai đoạn sau (gắn với thị trường) và giai đoạn trước (gắn với NC&TK, công nghệ) của quá trình đổi mới, mối quan hệ tác động tương hỗ giữa KH&CN, hoạt động sản xuất và thương mại của quá trình đổi mới

Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về đổi mới, chính sách đổi mới Nghiên cứu của Ths Hoàng Văn Tuyên (2005) cho rằng đổi mới ở đây hàm chứa đổi mới về sản phẩm và đổi mới quy trình công nghệ, trong đó đổi mới sản phẩm và quy trình công nghệ bao gồm một loạt các hoạt động về khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại

Nghiên cứu của Ths Nguyễn Mạnh Quân (2006) cho rằng, mục đích cuối cùng của đổi mới là tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới hoặc phương pháp mới, cách thức mới để làm ra các sản phẩm và dịch vụ mới được thị trường chấp nhận Đặc điểm của đổi mới là tính thị trường, tính tổng thể, tính hệ thống, tính đa dạng, tính không tuần tự, tính phức tạp và doanh nghiệp là trung tâm của các hoạt động đổi mới

Trang 18

Như vậy mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về đổi mới song có thể hiểu đổi mới là một quá trình cần và đủ để có thể đưa ra thị trường một sản phẩm mới hoặc dịch vụ mới Doanh nghiệp là chủ thể chính, giữ vai trò trung tâm của quá trình đổi mới

Hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp có mục đích tạo ra công nghệ mới, hoặc để tiếp thu, làm chủ, vận hành một công nghệ nào đó để tạo ra những sản phẩm mới, quy trình mới, dịch vụ mới Rõ ràng hoạt động NC&TK gắn bó chặt chẽ với sự sáng tạo, đổi mới Xét cho cùng hoạt động NC&TK cũng là một trong các hoạt động đổi mới Tuy nhiên hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp nói riêng, hoạt động đổi mới nói chung không tồn tại độc lập mà được duy trì và phát triển trong một hệ thống với nhiều mối liên hệ tương tác lẫn nhau Đó là hệ thống đổi mới quốc gia

1.1.2.2 Hệ thống đổi mới quốc gia và cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia

Khái niệm hệ thống đổi mới quốc gia (National innovation system, NIS) được nhắc tới từ những năm 1980 Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này và đã coi cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia là một trong những cách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Lê Đình Tiến, 2000) Trên thế giới, xung quanh khái niệm “hệ thống đổi mới quốc gia” đã có rất nhiều tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau Mỗi cách định nghĩa đều được lý giải phù hợp với những điều kiện của một nền kinh tế cụ thể

“Hệ thống đổi mới quốc gia là một mạng lưới các thiết chế (institution) trong khu vực công và tư cùng phối hợp hoạt động trong quá trình sáng tạo, nhập khẩu, cải tiến và phổ biến công nghệ mới.” (Freeman,

Trang 19

“Hệ thống đổi mới quốc gia gồm các yếu tố và các mối quan hệ tương tác trong các hoạt động sáng tạo, phổ biến và sử dụng tri thức mới có lợi ích

về kinh tế… diễn ra trong hoặc bắt nguồn từ bên trong biên giới của một quốc gia.” (Lundvall, 1992)

“Hệ thống đổi mới quốc gia gồm các thiết chế có liên quan lẫn nhau quyết định mức độ đổi mới của các công ty quốc gia.” (Nelson, 1993)

“Hệ thống đổi mới quốc gia gồm các thiết chế quốc gia, hệ thống khuyến khích và năng lực quyết định tốc độ và chiều hướng học hỏi công nghệ (hoặc là tốc độ và cấu thành của các hoạt động tạo ra đổi mới) trong một quốc gia.” (Patil và Pavitt, 1994)

“Hệ thống đổi mới quốc gia gồm tập hợp các thể chế độc lập và phối hợp với nhau tham gia vào quá trình triển khai, phổ biến các công nghệ mới, đưa ra các khuôn khổ để hình thành và thực thi các chính sách của Chính phủ có liên quan đến quá trình đổi mới Đó cũng là hệ thống các thiết chế có liên quan trong quá trình sáng tạo, gìn giữ và chuyển giao các tri thức, kỹ năng tạo nên các công nghệ mới.” (Metcalfe, 1995)

Về bản chất thì đổi mới quốc gia là một hệ thống Theo đó, chúng là tập hợp các phần tử có liên hệ tương tác với nhau nhằm thực hiện một hoặc một số mục tiêu đã định trước trong một môi trường xác định Các phần tử chính của hệ thống đổi mới quốc gia bao gồm: Chính phủ, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, tổ chức trung gian Các phần tử này có mối liên hệ tương tác lẫn nhau trong quá trình hoạt động nhằm hướng tới mục đích đổi mới Theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia thì đổi mới và phát triển công nghệ là kết quả của mối liên kết giữa các nhân tố doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu trong một hệ thống trong sự điều chỉnh của một tập hợp các thiết chế Với cách hiểu như

Trang 20

vậy, doanh nghiệp là một phần tử của hệ thống đổi mới quốc gia trong mối tương tác với các phần tử khác Như vậy cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia về cơ bản dựa trên lý thuyết và cách tiếp cận của hệ thống

Tựu chung lại, hệ thống đổi mới quốc gia là một hệ thống các tổ chức tương tác với nhau trên cơ sở một tập hợp các thiết chế nhằm đạt được các mục tiêu về kinh tế và xã hội và coi đổi mới như là phương tiện chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó

Về các thành phần của hệ thống đổi mới quốc gia, có nhiều lý giải khác nhau Song nhìn chung, hệ thống đổi mới quốc gia tại nhiều quốc gia

gồm có các thành phần chính sau:

Chính phủ và các cơ quan trực thuộc: Đây là tổ chức có nhiệm vụ

ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách và pháp luật nhằm khuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường cơ sở hạ tầng, quá trình học hỏi và đổi mới, bảo vệ môi trường; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quyền lợi của khách hàng Trong hệ thống đổi mới quốc gia, Chính phủ giữ vai trò điều phối, hướng dẫn liên kết giữa khu vực nghiên cứu và khu vực doanh nghiệp Ngoài ra các tổ chức này còn có chức năng cấp kinh phí cho các hoạt động NC&TK, hoạt động đổi mới

Các tổ chức nghiên cứu (viện nghiên cứu, trường đại học): là nơi

thực hiện các hoạt động từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đến triển khai thực nghiệm để tạo ra công nghệ

Doanh nghiệp: thực hiện hoạt động NC&TK, hoạt động đổi mới, đổi

mới và phát triển công nghệ Như vậy doanh nghiệp là chủ thể và giữ vai trò trung tâm của các hoạt động đổi mới, là thành phần trung tâm của hệ thống đổi mới quốc gia

Trang 21

Ngoài ra có thể còn có các tổ chức tài chính (quỹ) để cấp vốn cho các

hoạt động đổi mới; các tổ chức trung gian có vai trò thúc đẩy sáng tạo và đổi

mới, thúc đẩy NC&TK, chuyển giao công nghệ, giữ vai trò cầu nối trong

liên kết các doanh nghiệp với các tổ chức nghiên cứu

Trên sơ đồ 1 trình bày các thành phần của hệ thống đổi mới quốc gia

cùng với sự liên kết, tương tác giữa các thành phần trong quá trình hoạt động

trên cơ sở một hệ thống các thiết chế Như vậy, hệ thống đổi mới quốc gia

chỉ có thể mang lại thành công khi các thành phần tạo nên hệ thống mạnh và

mối tương tác giữa các thành phần phải bền vững

Hình 1: Tương tác giữa các thành phần của Hệ thống đổi mới quốc gia

1.1.2.3 Doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong hệ thống đổi mới

quốc gia và nguồn đổi mới chính của doanh nghiệp là từ hoạt động

NC&TK và thị trường

Theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia trình bày trên đây, thì

doanh nghiệp là nơi tiến hành các hoạt động đổi mới Doanh nghiệp giữ vai

trò trung tâm của quá trình đổi mới Tuy nhiên doanh nghiệp không đứng

Trang 22

tách rời với các thành phần khác của cả hệ thống, đó là Chính phủ, các viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức trung gian hỗ trợ khác Doanh nghiệp thực hiện đổi mới trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau giữa các thành phần Các SME cũng không nằm ngoài sự chi phối của mối liên hệ đó

SME có đặc điểm là nguồn nhân lực và vốn hoạt động hạn chế Nguồn nhân lực hạn chế cả về số lượng và chất lượng so với các doanh nghiệp lớn Nguồn vốn nhỏ nên không có đủ điều kiện để đầu tư cho hệ thống thông tin, thiếu những phương tiện kỹ thuật hiện đại nên gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin, không theo kịp vòng quay và tốc độ đổi mới cũng như những diễn biến của thị trường Nhiều doanh nghiệp không tiếp cận được các nguồn vốn của Nhà nước

Mặc dù vậy, các SME vẫn phải đứng trước thách thức cạnh tranh không chỉ trong nước mà còn trên thế giới Các doanh nghiệp loại này muốn phát triển được không thể nằm ngoài quy luật, đó là luôn luôn phải tiến hành đổi mới Có nhiều nguồn cho hoạt động đổi mới, có thể từ hoạt động NC&TK của doanh nghiệp, hoặc từ thị trường, đó là các nhà cung ứng thiết

bị, sản phẩm, công nghệ, các khách hàng; có thể từ thông tin công nghệ, các hội chợ (chợ công nghệ, chợ thiết bị…), triển lãm… Trong số các nguồn đó, thì hoạt động NC&TK có thể xem là nguồn quan trọng, vì nó sẽ giải quyết được cái gốc của vấn đề Hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp không nhất thiết phải tạo ra công nghệ mới, mà trong khả năng của SME thì NC&TK còn có tác dụng nâng cao năng lực tiếp cận và sử dụng tri thức của doanh nghiệp, để doanh nghiệp có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp thu và làm chủ công nghệ nhập trong khi bản thân doanh nghiệp chưa thể tạo ra được công nghệ

Trang 23

Ở Việt Nam, các SME nói chung, SME ngành CNTT nói riêng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về vốn Đối với SME CNTT thì còn khó khăn nhiều hơn vì nguồn nhân lực CNTT hầu như chưa đáp ứng được yêu cầu đặt

ra trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, khi mà CNTT đã trở thành công cụ

hỗ trợ đắc lực cho quá trình phát triển

1.1.2.4 Vai trò của chính sách đổi mới đối với hoạt động NC&TK của doanh nghiệp

Chính sách đổi mới, hiểu một cách đơn giản nhất là những cách thức, biện pháp của Chính phủ hỗ trợ cho quá trình đổi mới Cụ thể hơn, chính sách đổi mới là những nỗ lực của Chính phủ nhằm khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp tiến hành đổi mới; khuyến khích tổ chức, cá nhân tích luỹ, tạo

ra, phổ biến và thương mại hoá các sản phẩm, công nghệ, quy trình và dịch

vụ mới

Các chính sách đó thường được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau,

có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp Chính phủ trực tiếp tiến hành hoặc khuyến khích hoạt động NC&TK trong các viện nghiên cứu, trường đại học Hoặc Chính phủ gián tiếp thông qua các biện pháp kích thích hoạt động NC&TK ở khu vực doanh nghiệp Sự hỗ trợ gián tiếp đó cho khu vực doanh nghiệp có thể là các hỗ trợ về tài chính, thông tin (cơ sở dữ liệu, dịch vụ tư vấn), cơ sở hạ tầng KH&CN (phòng thí nghiệm), cơ sở hạ tầng giáo dục – đào tạo, hỗ trợ về thuế, sở hữu trí tuệ, giải thưởng, dịch vụ công… Các chính sách này trong từng trường hợp cụ thể mà có thể định hướng theo bên cung hoặc bên cầu nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp Ngoài ra chính sách đổi mới còn nhằm vào phát triển năng lực KH&CN, giúp cho doanh nghiệp duy trì khả năng tiếp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ

Trang 24

Như vậy, chính sách đổi mới không phải là một chính sách độc lập như: chính sách công nghiệp, chính sách thương mại, chính sách NC&TK, chính sách giáo dục… mà chính sách đổi mới là tập hợp một hệ thống các chính sách nhằm hướng tới hoạt động đổi mới

Ở nhiều nước phát triển hiện nay, chính sách đổi mới đang được chú trọng để khắc phục tình trạng giảm sút hoạt động NC&TK của các doanh nghiệp

1.2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc khuyến khích doanh nghiệp phát triển hoạt động NC&TK

Các nước và nền kinh tế trên thế giới đã có rất nhiều chính sách và biện pháp đa dạng nhằm khuyến khích phát triển hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp nói chung, SME nói riêng Ở các nước phát triển, chính sách đổi mới đang được chú trọng để tăng cường hoạt động NC&TK của các doanh nghiệp Hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp không chỉ là việc tạo

ra công nghệ mới mà còn để nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ công nghệ nhập, từ đó dẫn đến các hoạt động đổi mới Hoạt động NC&TK cũng như chuyển giao công nghệ là một trong những cách thức để tiến hành đổi mới công nghệ, đã được thừa nhận là vấn đề mấu chốt ở nhiều nước Điều này được thể hiện ở chỗ Nhà nước rất chú trọng đến kinh phí dành cho hoạt động NC&TK và nhiều chính sách đã ra đời như thành lập quỹ hợp tác NC&TK, miễn thuế, tạo lập và tăng cường nguồn vốn đầu tư mạo hiểm… Những chính sách này đã có vai trò tích cực trong việc đẩy mạnh NC&TK nói chung và đẩy mạnh NC&TK ở các khu vực doanh nghiệp nói riêng

Trang 25

1.2.1 Cộng hoà liên bang Đức

Hoạt động NC&TK trong các SME ở CHLB Đức trước hết là quá trình thực hiện cải tiến, làm chủ công nghệ được chuyển giao, sau đó là đổi mới công nghệ, tạo ra công nghệ mới Trong điều kiện KH&CN trên thế giới phát triển vô cùng nhanh chóng và sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp, các SME ở Đức muốn đứng vững và phát triển được không còn có sự lựa chọn nào khác hơn là phải thường xuyên đổi mới và làm chủ những công nghệ được trang bị Vì vậy, hoạt động NC&TK đã được các SME ở CHLB Đức rất coi trọng, đưa lên thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong hoạt động của doanh nghiệp nói chung Chi phí cho hoạt động NC&TK trong SME không ngừng tăng lên Trong số các nước thuộc OECD, thì CHLB Đức là một trong những nước dẫn đầu về phát triển KH&CN và đổi mới Chi phí cho NC&TK liên tục tăng, năm 2006 kinh phí cho NC&TK là 2,53%3 GDP, trong đó khu vực doanh nghiệp đóng góp 70% Đức phấn đấu đến năm 2010 đầu tư cho NC&TK sẽ đạt 3% GDP Trong năm 2002-2004

đã có 4,4 % SME có hợp tác với các trường đại học trong hoạt động đổi mới

Về cơ bản, kinh phí đầu tư cho hoạt động NC&TK ở các SME là từ chính bản thân các doanh nghiệp đó Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm coi loại hình doanh nghiệp này như là động lực, xương sống của nền kinh tế, nên Nhà nước đã và đang giữ vai trò là “bà đỡ” cho sự ra đời và lớn lên của các SME Hàng loạt chương trình khuyến khích SME đã được áp dụng Hàng năm Bộ đào tạo và nghiên cứu liên bang Đức (BMBF) đều dành những nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động NC&TK của các SME

3 OECD STI outlook 2008, tr.121

Trang 26

Kết quả từ sự đầu tư này, các SME ở Đức đã tạo ra được những sản phẩm chứa đựng hàm lượng chất xám cao với giá trị lớn, có khả năng cạnh tranh không chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở thị trường quốc tế

Một số chương trình điển hình hỗ trợ hoạt động NC&TK của doanh nghiệp ở CHLB Đức:

Chương trình hỗ trợ hoạt động NC&TK tại các SME để phát triển sản phẩm mới:

Các doanh nghiệp có thể lập dự án xin hỗ trợ kinh phí khi có nhu cầu nghiên cứu đổi mới công nghệ Trong trường hợp doanh nghiệp không tự nghiên cứu thì có thể đặt hàng với các trường đại học hay viện nghiên cứu Khi đó Hiệp hội nghiên cứu các ngành công nghiệp Đức AiF sẽ có vai trò như người quản lý, sẽ tiến hành ký kết hợp đồng với Bộ BMBF và đặt hàng với nơi thực hiện Đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ sẽ được Nhà nước

hỗ trợ 50% kinh phí, 50% kinh phí còn lại doanh nghiệp phải tự bỏ ra

Chương trình hỗ trợ đổi mới SME (PRO-INNO): Mục đích của

chương trình là thông qua việc hỗ trợ kinh phí cho hoạt động NC&TK của các SME để tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm của các doanh nghiệp này Vì các SME yếu về khả năng cạnh tranh, ít khả năng hợp tác với các viện NC&TK, trường đại học nên Bộ đào tạo và nghiên cứu đã lập ra chương trình này để hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu của doanh nghiệp Hình thức hỗ trợ chủ yếu là tài chính thông qua các dự án nghiên cứu Doanh nghiệp có thể tự nghiên cứu hoặc hợp tác với các viện NC&TK, hoặc có thể ủy thác cho viện NC&TK tiến hành nghiên cứu

Ngoài ra ở Đức còn có Liên đoàn các hội nghiên cứu doanh nghiệp, trong Liên đoàn có các Liên hiệp nghiên cứu bao gồm nhiều viện nghiên cứu Vai trò của Liên đoàn như người đỡ đầu, hỗ trợ cho các hoạt động

Trang 27

nghiên cứu của khu vực doanh nghiệp Liên đoàn đứng ra tiếp nhận tài trợ của Liên Bang thông qua Bộ Kinh tế Liên bang cấp để tiến hành nghiên cứu

1.2.2 Đài Loan

Mô hình phát triển CNTT của Đài Loan là dựa vào các hoạt động của các SME, xây dựng các SME trong nước làm vệ tinh Ở đây, Chính phủ không tập trung phát triển các tập đoàn lớn như ở Hàn Quốc Vì vậy Chính phủ đã tạo cơ hội cho các SME phát triển bằng nhiều hình thức khác nhau Các SME đã tham gia được vào mạng lưới sản xuất toàn cầu Nhiều sản phẩm có thương hiệu trên toàn thế giới, như máy tính Acer, Mitac… đều được phát triển từ các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa

Một số chính sách và hình thức phát triển hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp ở Đài Loan:

- Với quy mô nhỏ và vừa, các SME nếu đầu tư cho hoạt động NC&TK một cách riêng rẽ chắc chắn sẽ bị hạn chế và đương nhiên hiệu quả mang lại sẽ không cao Vì vậy Chính phủ Đài Loan đã giao cho Viện Nghiên cứu công nghệ công nghiệp (ITRI) làm đầu mối cho một số chương trình hợp tác NC&TK khu vực doanh nghiệp Chính phủ hỗ trợ kinh phí cho các SME tiến hành NC&TK thông qua các chương trình này mà đứng đầu là Viện ITRI

- Thành lập các “liên minh NC&TK”: Hình thức này đã được Chính phủ Đài Loan chú ý từ những năm 80, tuy nhiên trong giai đoạn này các liên minh NC&TK được thành lập rất dè dặt Cho tới những năm 90s thì hình thức này được phát triển mạnh vì đã khuyến khích các doanh nghiệp liên minh/ hợp tác để nâng cao trình độ công nghệ Mục đích của liên minh này

là chi phí cho NC&TK có thể được chia sẻ giữa các thành viên của liên

Trang 28

minh, giảm bớt sự rủi ro nhờ sự hỗ trợ lẫn nhau, và thúc đẩy phát triển công nghệ, nâng cao năng lực công nghệ quốc gia Hầu hết các liên minh này thuộc lĩnh vực CNTT như: máy tính cá nhân PC, các sản phẩm viễn thông… Một số ngành khác như chế tạo máy, ô tô, cơ khí… cũng xuất hiện những liên minh NC&TK Thông qua các hình thức liên minh này, các viện nghiên cứu đã hỗ trợ, hợp tác với các doanh nghiệp để vượt qua những khó khăn của các doanh nghiệp nhỏ của Đài Loan trong việc thực hiện chiến lược nâng cao năng lực công nghệ của đất nước Có thể nói nhiều SME ở Đài Loan lớn lên được là nhờ có sự hỗ trợ tích cực của các liên minh NC&TK, trong đó có thể kể tới sự cố gắng của các viện NC&TK công lập

Điển hình là trường hợp Viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp Đài Loan (ITRI) đã điều hành 20 doanh nghiệp liên kết chế tạo thành công máy tính tương thích với các sản phẩm của hãng IBM có uy tín trên thế giới Nhìn chung, các viện nghiên cứu này trong sự hợp tác với doanh nghiệp có vai trò như là đòn bẩy cho sự tiếp cận các công nghệ tiên tiến của nước ngoài và phổ biến nhanh chóng đến các doanh nghiệp Đài Loan Ngoài ra từ các liên minh này đã cho ra đời nhiều sản phẩm hợp tác Đây cũng chính là chủ trương của việc thành lập liên minh NC&TK của Chính phủ Đài Loan

Mô hình liên minh NC&TK được phát huy rất rõ trong lĩnh vực CNTT

Cuối những năm 90s, các liên minh này đã tạo nên sự hợp tác gắn kết giữa các doanh nghiệp và các viện nghiên cứu công lập trong hệ thống đổi mới quốc gia ở Đài Loan Chính phủ đã có chính sách hỗ trợ về tài chính để các liên minh này hoạt động mạnh mẽ, tạo điều kiện củng cố và phát triển hệ thống đổi mới quốc gia ở đây

Trang 29

- Hợp tác nghiên cứu giữa doanh nghiệp và trường đại học: Mối quan

hệ này có thể mang tính chính thức hoặc không chính thức, có thể ngắn hạn hoặc dài hạn

- Ngoài ra, Chính phủ đã áp dụng một số chính sách để nâng cao nhận thức và tăng cường hoạt động nghiên cứu trong khu vực doanh nghiệp như:

 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực: hỗ trợ kinh phí để các SME nâng cao trình độ cho nhân viên, lôi kéo các kỹ sư Đài Loan từ nước ngoài, đặc biệt là từ Mỹ về nước bằng nhiều chính sách ưu đãi;

 Có các chính sách về tài chính để khuyến khích (trong một số trường hợp là ép buộc) doanh nghiệp tiến hành hoạt động NC&TK… Ví dụ:

để khuyến khích doanh nghiệp phát triển sản phẩm, Chính phủ cho phép doanh nghiệp có các khoản vay không lãi suất thích hợp Nhiều

dự án nghiên cứu của doanh nghiệp được tài trợ tới 25% kinh phí Các thiết bị nghiên cứu được miễn toàn bộ thuế;

 Xúc tiến phát triển các liên minh NC&TK;

 Lập ra các tổ chức của Chính phủ để hỗ trợ và kiểm soát hoạt động NC&TK của doanh nghiệp (trường hợp điển hình là Viện ITRI)

 Thành lập tổ chức hỗ trợ các SME phát triển, như: Cục quản lý kinh doanh nhỏ và vừa có vai trò hỗ trợ các SME trong việc tổ chức, quản

lý, tiếp thị và tiếp cận với các tổ chức hỗ trợ tài chính; Hiệp hội kinh doanh nhỏ và vừa đã thành lập quỹ với số vốn 10 tỉ nhân dân tệ để đẩy mạnh hoạt động của các SME

Trang 30

1.2.3 Trung Quốc

Việc thúc đẩy các SME ở Trung Quốc tiến hành hoạt động KH&CN nói chung, hoạt động NC&TK nói riêng là một trong những ưu tiên của Chính phủ Trung Quốc Năm 1998 Chính phủ đã thành lập Quỹ đổi mới công nghệ SME Hàng năm Quỹ này hỗ trợ cho các dự án KH&CN của các SME

Hoạt động NC&TK trong các doanh nghiệp ở Trung Quốc được thực

hiện chủ yếu thông qua tổ chức phát triển kỹ thuật của doanh nghiệp Hoạt động NC&TK trong khu vực doanh nghiệp không nhiều, vì thế đã tạo nên sự khác biệt lớn với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp Trong lĩnh vực CNTT, mối quan hệ của các SME với nước ngoài chưa phát triển, các SME hầu như không tham gia được vào mạng lưới sản xuất toàn cầu mà chủ yếu sản phẩm để phục vụ cho thị trường nội địa Về phía Chính phủ, những chính sách hỗ trợ cho các SME không được như một số nước trong khu vực Tuy nhiên theo xu thế phát triển chung, kinh phí dành cho hoạt động NC&TK cũng như những đóng góp về NC&TK trong các doanh nghiệp đã tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây Nguồn kinh phí của Chính phủ đầu

tư cho NC&TK ngày càng giảm, thay vào đó nguồn từ khu vực doanh nghiệp ngày càng tăng lên Năm 2006 tổng kinh phí dành cho NC&TK ở Trung Quốc đạt 1,42% GDP4, trong đó đóng góp của khu vực doanh nghiệp

là 69%, ngang với các nước Đức, Phần Lan, Thuỵ Điển về tỉ lệ % kinh phí doanh nghiệp dành cho hoạt động NC&TK Trung Quốc phấn đấu tổng chi cho NC&TK sẽ đạt 2% GDP vào năm 2010

Trang 31

Năm 2000, Trung Quốc quy định rằng những doanh nghiệp nào có chi phí cho NC&TK đạt 5% doanh thu5 thì được cấp chứng nhận là doanh nghiệp công nghệ cao Khi đã trở thành doanh nghiệp công nghệ cao sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi như về thuế, đầu tư vốn… Vì vậy, chính sách này đã thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường hoạt động NC&TK

Chính phủ đã xây dựng nhiều khu công nghệ cao quốc gia, với mục đích thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ cao Các doanh nghiệp trong các khu công nghệ cao này chủ yếu là doanh nghiệp khoa học và kỹ thuật vừa và nhỏ có đầu tư lớn cho hoạt động NC&TK

Tuy nhiên, nhìn chung đầu tư cho NC&TK của SME còn ở mức thấp

và năng lực NC&TK của nhiều doanh nghiệp còn yếu nên họ phải nhập khẩu hầu hết các công nghệ cốt lõi và các thiết bị thiết yếu Các SME của Trung Quốc kém trong định hướng đổi mới Một số doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động NC&TK cho đổi mới đang hợp tác với các viện nghiên cứu công hoặc trường đại học Mặt khác, cũng chính vì các doanh nghiệp có thể tiếp cận được công nghệ và thiết bị tiên tiến từ các nước phát triển, rất nhiều doanh nghiệp đã không tập trung vào việc nghiên cứu

Vì vậy, các SME này quan tâm đến nhập khẩu công nghệ hơn là phát triển năng lực NC&TK của mình, chủ yếu là do thiếu sự đầu tư hiệu quả đối với NC&TK Đây là tình trạng phổ biến chung của nhiều SME tại Trung Quốc (Han Jinglun, Yang Ruikai, 2004) Trong ngành dược, ngành sản xuất điện thoại di động, hiện tượng này thể hiện rất rõ

Hiệp hội các SME Trung Quốc (CASME) đã đề xướng thành lập quỹ đầu tư kinh doanh mạo hiểm với số vốn 3 tỷ nhân dân tệ (439,2 triệu USD) vào cuối năm 2008 như một biện pháp nhằm hỗ trợ vốn cho các SME Ngoài

5 OECD STI outlook 2002: country response to policy questionnaire (China)

Trang 32

ra, những nỗ lực khác cũng được triển khai như thành lập một ngân hàng với

số vốn đăng ký dự kiến 10 tỷ nhân dân tệ để phục vụ các SME Chủ tịch Hiệp hội SME Trung Quốc cho biết, mỗi công ty có thể được vay 5 triệu nhân dân tệ để đầu tư và phát triển

Ngoài ra, một số nước khác như Anh, Pháp, Hungari, Bỉ, Hàn Quốc, Singapo đều có các chính sách hỗ trợ về thuế và tín dụng cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện hoạt động NC&TK Hàn Quốc khấu trừ thuế cho chi phí nghiên cứu và triển khai thực nghiệm là 5% (đặc biệt giảm 50% cho chi phí mua sắm trang thiết bị nghiên cứu) Singapo giảm 50% thuế cho chi phí NC&TK ở những lĩnh vực nhất định và cấp 20-30% kinh phí cho những hoạt động NC&TK của doanh nghiệp mang lại lợi ích công nghệ tiềm năng cho đất nước Nhiều nước có các quỹ dành cho hoạt động đổi mới của doanh nghiệp như: Quỹ nghiên cứu và đổi mới công nghệ (Hungari), Quỹ đầu tư đổi mới (Pháp)6

Ở Ấn Độ, việc có định hướng chiến lược phát triển CNTT đúng đắn là rất quan trọng Ấn Độ tập trung ưu tiên phát triển vào lĩnh vực xuất khẩu phần mềm mà không quan tâm tới xuất khẩu phần cứng, bởi vì trong lĩnh vực sản xuất phần cứng Ấn Độ không thể cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài Còn đối với lĩnh vực phần mềm, yếu tố quan trọng nhất đó là chất xám con người thì Ấn Độ có một nền tảng thuận lợi, có truyền thống toán học khá mạnh Vì vậy Ấn Độ đặc biệt quan tâm đến đào tạo và thu hút nhân lực làm phần mềm bằng nhiều hình thức khác nhau như: hỗ trợ kinh phí từ ngân sách cho việc đào tạo, thuê người nước ngoài có trình độ cao tham gia giảng dạy… Ngoài ra, một nhân tố quan trọng khác trong chính sách phát triển nguồn nhân lực CNTT là thu hút các chuyên gia phần mềm gốc Ấn có

6

Trang 33

tay nghề cao về nước làm việc Chính phủ Ấn Độ đã dành những ưu đãi đặc biệt cho họ như cho phép miễn thuế thu nhập cá nhân… Chính nhờ chính sách lôi kéo, tận dụng nhân lực của Ấn kiều và liên kết nghiên cứu với nước ngoài mà các công ty của Ấn Độ đã nhanh chóng thu hẹp được khoảng cách

về trình độ công nghệ với các công ty lớn trên thế giới và đã nhận được các hợp đồng gia công phần mềm phức tạp với nước ngoài Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phần mềm Ấn Độ đã áp dụng rộng rãi chuẩn quản lý chất lượng phần mềm quốc tế CMM Đây là một điều kiện cần thiết để có thể tham gia thị trường phần mềm quốc tế Ngoài ra Chính phủ còn hỗ trợ cho các hiệp hội phát triển với mục đích hợp tác các doanh nghiệp CNTT Cuối cùng, với sự nỗ lực của cả hai phía, Nhà nước và doanh nghiệp, Ấn Độ đã biến tiềm năng thành hiện thực và đã trở thành một trong những cường quốc mạnh nhất thế giới về sản xuất và cung cấp dịch vụ phần mềm

1.2.4 Nhận xét từ kinh nghiệm nước ngoài mà Việt Nam có thể tham khảo

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc phát triển hoạt động NC&TK của doanh nghiệp, có thể thấy thành công của họ phụ thuộc vào cả hai nhân tố: doanh nghiệp và Chính phủ, trong đó Chính phủ cần có chính sách phù hợp với xu thế của thị trường

Mỗi nước có những chính sách hỗ trợ khác nhau, tuỳ vào đặc điểm của nước mình Hầu hết các nước đều có những chiến lược phát triển riêng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của quốc gia Trên thực tế, với chiến lược phát triển phù hợp, các nước đã có những thành công nổi bật trong lĩnh vực CNTT

Hiện nay có 2 xu hướng chính mà Chính phủ các nước đang áp dụng,

đó là:

Trang 34

 Tập trung phát triển các SME như trường hợp của Đài Loan;

 Tập trung phát triển các doanh nghiệp lớn, tập đoàn lớn như trường hợp của Hàn Quốc

Ở Việt Nam trong những năm gần đây đi theo mô hình nào cũng chưa thực sự rõ ràng Hiện nay có khá nhiều tập đoàn được hình thành như: tập đoàn dầu khí, dệt may, than khoáng sản, điện lực… Trên thực tế, hiệu quả

và xu thế phát triển của các tập đoàn này như thế nào chắc còn phải chờ thời gian mới có thể được ghi nhận Bên cạnh đó có số lượng lớn các SME đang gặp nhiều khó khăn Vì vậy, Việt Nam không thể áp dụng một cách máy móc theo bất cứ một quốc gia nào mà chiến lược phát triển cần phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Cách tiếp cận theo mô hình hỗn hợp, phát triển song song cả 2 khu vực (doanh nghiệp lớn, tập đoàn lớn và các SME) rất có thể sẽ mang lại những kết quả khả quan

Nhìn chung các nước đã và đang chú trọng vào chính sách đổi mới của quốc gia Chính sách đó tập trung vào việc tạo lập và duy trì một môi trường thuận lợi để khu vực doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư vào hoạt động NC&TK bằng nhiều cách khác nhau như: ưu đãi về tài chính, miễn giảm thuế, các khoản trợ cấp thích hợp và xúc tiến các doanh nghiệp thực hiện các

dự án NC&TK quốc gia

Một điểm thành công quan trọng của các quốc gia châu Á là chiến lược con người Đa phần các nước trong khu vực này đều nhận thức được rằng, trở ngại lớn nhất trong ngành CNTT nói chung, công nghiệp phần mềm nói riêng là thiếu nhân lực có chuyên môn cao và rào cản ngôn ngữ Kinh nghiệm của Ấn Độ cho thấy những trở ngại này không thể vượt qua được nếu Chính phủ không có chính sách hỗ trợ cụ thể

Trang 35

Nhiều quốc gia cho rằng, để xây dựng các doanh nghiệp có trình độ chuyên môn cao, không chỉ trông chờ vào các kỹ sư được đào tạo ở các trường đại học, mà còn phải nhờ vào hoạt động nghiên cứu ngay trong các doanh nghiệp

Phần lớn các nước sử dụng công cụ khuyến khích trực tiếp về tài chính, thể hiện dưới hình thức:

- Miễn thuế, giảm thuế đối với kinh phí dành cho hoạt động NC&TK Rất nhiều quốc gia đã sử dụng công cụ khuyến khích bằng thuế để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nhiều nguồn lực hơn nữa cho hoạt động NC&TK;

- Cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp đối với dự án nghiên cứu của doanh nghiệp trong những trường hợp cụ thể;

- Hỗ trợ một phần cho các dự án nghiên cứu của doanh nghiệp Ngoài ra một số các chính sách, biện pháp gián tiếp sau đây cũng thường được các nước áp dụng:

- Đầu tư cho giáo dục, đào tạo để phát triển nguồn nhân lực KH&CN của doanh nghiệp; khuyến khích trí thức ở nước ngoài về nước làm việc;

- Liên kết doanh nghiệp với các tổ chức NC&TK, liên kết các doanh nghiệp với nhau một cách hợp lý để phát triển;

- Thành lập các tổ chức trung gian làm cầu nối thúc đẩy hoạt động NC&TK của doanh nghiệp

Trang 36

CHƯƠNG II HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM

2.1 Hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

2.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Theo số liệu thống kê về thực trạng doanh nghiệp Việt Nam của Tổng cục thống kê năm 2007 thì hầu hết các doanh nghiệp nước ta ở quy mô nhỏ

và vừa Tính đến 31/12/2006 cả nước có 131.318 doanh nghiệp Với tiêu chí SME là doanh nghiệp có số lao động dưới 300 người và/ hoặc số vốn đăng

ký dưới 10 tỷ đồng thì số doanh nghiệp năm 2006 có tới 127.593 doanh nghiệp, chiếm 97,1% thuộc nhóm nhỏ và vừa (tính theo quy mô về lao động), và 114.341 doanh nghiệp, chiếm 86,55% (tính theo quy mô về vốn)

Cụ thể là, cơ cấu SME theo quy mô về lao động7

(Hình 2):

- Số doanh nghiệp dưới 10 lao động chiếm 58,63%;

- Số doanh nghiệp từ 10 đến dưới 200 lao động chiếm 40%;

- Số doanh nghiệp từ 200 đến dưới 300 lao động chiếm 1,37%

Trang 37

58.63, 59%

40, 40%

Doanh nghiệp dưới 10 lao động Doanh nghiệp từ 10 đến dưới 200 lao động Doanh nghiệp từ 200 đến dưới 300 lao động

Hình 2: Cơ cấu SME theo quy mô về lao động

Theo quy mô về vốn8

(Hình 3):

- Số doanh nghiệp có vốn dưới 1tỷ đồng chiếm 32,98%;

- Số doanh nghiệp có vốn từ 1 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng chiếm 56,1%;

- Số doanh nghiệp có vốn từ 5 tỷ đến dưới 10 tỷ đồng chiếm 10,92%

Hình 3: Cơ cấu SME theo quy mô về vốn

8 Tính toán từ số liệu thống kê trong Niên giám thống kê 2007, Nhà xuất bản thống kê 2008

Trang 38

Nhìn chung, số lượng các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ với nguồn vốn hạn chế (dưới 5 tỷ đồng) là khá nhiều (chiếm 89%) Từ đây, khả năng trang bị máy móc, thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến ở các SME của nước

ta là rất khó khăn

2.1.2 Khái quát hoạt động NC&TK trong các SME

Trong khu vực doanh nghiệp, công nghệ giữ một vai trò quan trọng, là trung tâm của nhiều thay đổi trong doanh nghiệp Theo Luật KH&CN (2000) thì công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Công nghệ là sản phẩm do con người tạo ra và có chu trình sống của nó, tức là công nghệ được sinh ra, phát triển và cuối cùng là suy vong Chính vì vậy, đổi mới công nghệ là một hoạt động tất yếu của doanh nghiệp Về lợi ích, thông qua đổi mới công nghệ, doanh nghiệp sẽ nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm cũng như việc tạo ra được những sản phẩm và việc làm mới Như vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào mà không có những hoạt động đổi mới thì chắc chắn công nghệ của họ sẽ đến lúc bị lạc hậu và bị đào thải, doanh nghiệp sẽ không thể phát triển được Đổi mới nói chung, đổi mới công nghệ nói riêng trong doanh nghiệp là một quy trình tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển

Hoạt động KH&CN nói chung, NC&TK nói riêng trong các doanh nghiệp không chỉ phục vụ cho công tác đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp

mà còn nâng cao năng lực tiếp thu tri thức, nâng cao năng lực tiếp thu, thích nghi, làm chủ công nghệ nhập và tiến tới phát triển công nghệ Trong nhiều trường hợp, việc bán kết quả NC&TK do doanh nghiệp tạo ra cũng là một trong những hình thức tăng thu nhập cho doanh nghiệp Ở nước ta, trong các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, hoạt động

Trang 39

NC&TK chưa được coi trọng đúng mức Điều này được thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:

- Các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay sẵn sàng bỏ tiền để mua công nghệ khi cần, hoặc đơn thuần chỉ là việc mua các thiết bị, máy móc mới và học cách vận hành máy móc thiết bị đó, mà không chú trọng vào nghiên cứu

để tạo ra công nghệ hoặc chí ít cũng là để làm chủ, vận hành công nghệ nhập Điều đó dẫn đến việc doanh nghiệp thiếu chủ động trong việc có được các công nghệ cần thiết mà rất bị động trong việc nhập công nghệ, thường là theo sức ép cạnh tranh của thị trường Hơn nữa, khi tham gia vào tiến trình hội nhập thì vấn đề làm thế nào để có những bí quyết về công nghệ thì việc

đi mua công nghệ đã không thực sự phù hợp Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp cần phải tiến hành ngay từ giai đoạn NC&TK để có thể tạo ra những công nghệ mới, để từ đó có thể hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp Việc tiến hành NC&TK cũng giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực trong việc tiếp thu, vận hành, làm chủ công nghệ nhập, từ đó tiến tới phát triển công nghệ

- Một thực tế khác cũng thể hiện các doanh nghiệp không chú ý nhiều tới đầu tư cho NC&TK qua số liệu Sách trắng KH&CN năm 2004 do Bộ

KH&CN xuất bản: “Trong tổng số vốn đầu tư cho hoạt động KH&CN của các doanh nghiệp chỉ có 8% cho nghiên cứu khoa học, phần dành cho đổi mới công nghệ chiếm tỉ lệ rất cao 92% chủ yếu là đổi mới trang thiết bị kỹ thuật với phần không nhỏ là nhập máy móc, thiết bị từ nước ngoài Còn việc nghiên cứu khoa học để đổi mới công nghệ và sản phẩm chưa được coi trọng”9

9 Bộ KH&CN, Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2004, Hà Nội 2005

Trang 40

Bảng 1: Cơ cấu đầu tư cho hoạt động KH&CN của doanh nghiệp

Nguồn: KH&CN Việt Nam 2004, Hà Nội 2005, tr.72

Bảng 2: Cơ cấu nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động KH&CN khu vực doanh nghiệp

Nguồn: KH&CN Việt Nam 2004, Hà Nội 2005, tr.71

Nhìn vào bảng 2, trong tổng nguồn kinh phí dành cho hoạt động KH&CN khu vực doanh nghiệp, thì nguồn vốn tự có của doanh nghiệp chiếm tỉ lệ thấp 30% (một số nước như Đức, Thuỵ Điển, Hàn Quốc… con số này tới 70%), còn lại là từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác Không những thế, chỉ có 8% kinh phí đầu tư cho KH&CN của doanh nghiệp là dành cho hoạt động NC&TK (bảng 1) Điều đó cho thấy các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm và chưa có nhận thức đầy đủ về vai trò của hoạt động KH&CN nói chung, hoạt động NC&TK nói riêng Rõ ràng, mặc dù các doanh nghiệp ngày càng mạnh dạn hơn trong việc đầu tư cho hoạt động KH&CN, nhưng nguồn kinh phí dành cho hoạt động NC&TK vẫn là rất nhỏ

- Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp gặp phải những khó

Ngày đăng: 20/03/2015, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo quốc gia về CNTT, Bộ Thông tin và truyền thông, Hội thảo quốc gia về công nghiệp CNTT trong xu thế đầu tư mới, Hà Nội, tháng 11 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo quốc gia về công nghiệp CNTT trong xu thế đầu tư mới
2. Bộ Khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ Việt Nam, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ Việt Nam
3. Bộ KHCN&MT, Ban quản lý khu công nghệ cao Hoà Lạc: Cơ hội tham gia đầu tư mạo hiểm phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam, Hà Nội, tháng 12-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội tham gia đầu tư mạo hiểm phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam
6. Diễn đàn Kinh tế - Tài chính, Hội đồng phân tích kinh tế: Đổi mới và tăng trưởng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và tăng trưởng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
7. Đoàn chuyên gia quốc tế IDRC: Báo cáo đánh giá về chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới của Việt Nam, Hà Nội, tháng 12-1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá về chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới của Việt Nam
8. Hội tin học TP. Hồ Chí Minh, Thế giới vi tính: Niên giám CNTT truyền thông Việt Nam 2007, Nhà xuất bản tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám CNTT truyền thông Việt Nam 2007
Nhà XB: Nhà xuất bản tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
9. Hội tin học TP. Hồ Chí Minh, Thế giới vi tính: Niên giám CNTT truyền thông Việt Nam 2008, Nhà xuất bản tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám CNTT truyền thông Việt Nam 2008
Nhà XB: Nhà xuất bản tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
10. Hội tin học TP. Hồ Chí Minh, Kết quả điều tra 89 doanh nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội tin học TP. Hồ Chí Minh
11. Nguyễn Hữu Hùng, Thông tin - từ lý luận tới thực tiễn, Nhà xuất bản văn hoá thông tin, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hữu Hùng, "Thông tin - từ lý luận tới thực tiễn
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá thông tin
12. Nguyễn Việt Hoà, Đề tài cấp bộ, Nghiên cứu tác động của cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Việt Hoà, Đề tài cấp bộ, "Nghiên cứu tác động của cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN
13. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Khoa học và công nghệ, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
14. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Chuyển giao công nghệ, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
15. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật CNTT, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
16. Tạp chí Nghiên cứu châu Âu: Đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Cộng hoà liên bang Đức, Số 2-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Cộng hoà liên bang Đức
17. Tổng cục thống kê: Niên giám thống kê 2007, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2007
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
18. Tổng luận Khoa học, kỹ thuật, kinh tế: Năng lực công nghệ và chiến lược đổi mới của doanh nghiệp. Số 2(132)/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng luận Khoa học, kỹ thuật, kinh tế: "Năng lực công nghệ và chiến lược đổi mới của doanh nghiệp
19. Tổng luận Khoa học, công nghệ, kinh tế: Một số chính sách và biện pháp khuyến khích đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp. Số 9-2000 (151) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách và biện pháp khuyến khích đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp
20. Tổng luận Khoa học, công nghệ, kinh tế: Hệ thống đổi mới quốc gia của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á, Số 4-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống đổi mới quốc gia của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á
21. Trần Ngọc Ca, Đề tài cấp bộ, Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và NC-TK trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam, Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và NC-TK trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam
22. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Sở Bưu chính viễn thông, Chương trình phát triển doanh nghiệp phần mềm TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, tháng 6/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phát triển doanh nghiệp phần mềm TP. Hồ Chí Minh

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tương tác giữa các thành phần của Hệ thống đổi mới quốc gia - Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin
Hình 1 Tương tác giữa các thành phần của Hệ thống đổi mới quốc gia (Trang 21)
Hình 2: Cơ cấu SME theo quy mô về lao động - Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin
Hình 2 Cơ cấu SME theo quy mô về lao động (Trang 37)
Hình 3: Cơ cấu SME theo quy mô về vốn - Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin
Hình 3 Cơ cấu SME theo quy mô về vốn (Trang 37)
Bảng 3. Doanh số ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam 2002- - Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin
Bảng 3. Doanh số ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam 2002- (Trang 57)
Bảng 4.  Số doanh nghiệp phần mềm hiện đang hoạt động trong cả  nước (tính tới năm 2007) - Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin
Bảng 4. Số doanh nghiệp phần mềm hiện đang hoạt động trong cả nước (tính tới năm 2007) (Trang 58)
Bảng 5. Quy mô doanh nghiệp phần mềm tính theo số lao động tại - Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin
Bảng 5. Quy mô doanh nghiệp phần mềm tính theo số lao động tại (Trang 59)
Bảng 7. Chi NC-TK và đào tạo tại DN phần mềm TP. Hồ Chí Minh - Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin
Bảng 7. Chi NC-TK và đào tạo tại DN phần mềm TP. Hồ Chí Minh (Trang 63)
Bảng 8: Số trường đào tạo CNTT giai đoạn 2002-2006 - Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin
Bảng 8 Số trường đào tạo CNTT giai đoạn 2002-2006 (Trang 65)
Bảng 9 . Trình độ nhân lực trong các SME phần mềm - Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin
Bảng 9 Trình độ nhân lực trong các SME phần mềm (Trang 66)
Bảng 11. Lý do chưa triển khai quản lý chất lượng theo chứng chỉ  quốc tế tại các doanh nghiệp phần mềm TP - Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin
Bảng 11. Lý do chưa triển khai quản lý chất lượng theo chứng chỉ quốc tế tại các doanh nghiệp phần mềm TP (Trang 69)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w