Do đó một số huyện đã đề xuất lên tỉnh cần có nghiên cứu, đánh giá về công tác quản lý KH&CN của cấp huyện, nhất là đánh giá những tác động của chính sách tài chính đối với hoạt động ngh
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài: 7
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu: 9
3 Mục tiêu nghiên cứu: 11
4 Phạm vi nghiên cứu: 11
5 Mẫu khảo sát 11
6 Câu hỏi nghiên cứu: 12
7 Giả thuyết nghiên cứu: 12
8 Phương pháp nghiên cứu: 13
9 Kết cấu của luận văn: 14
PHẦN NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 15
1 1 Các khái niệm cơ bản: 15
1.1.1.Hoạt động khoa học và công nghệ 15
1.1.2 Nghiên cứu khoa học 15
1.1.3 Chính sách 17
1.1.4 Chính sách tài chính 17
1.1.5 Tác động 18
1.1.6 Tác động của chính sách 19
1.1.7 Mối quan hệ giữa chính sách tài chính và hoạt động KH&CN 19
1.2 Cơ sở lý luận của hoạt động nghiên cứu khoa học: 19
1.2.1 Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học: 19
1.2.2 Đặc điểm của công tác quản lý khoa học và công nghệ cấp huyện: 22
1.3 Chính sách tài chính cho R&D 26
1.4 Chính sách tài chính cho KH&CN: 27
1.5 Đặc điểm chung của hoạt động KH&CN xét từ giác độ tài chính 28
Trang 21.6 Kết luận Chương 1 31
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH XÉT TỪ ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG KH&CN 33
2.1 Hệ thống hóa văn bản, chính sách tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ (hoạt động nghiên cứu khoa học) 33
2.2 Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học (như tính mới, tính rủi ro) chi phối đến chính sách tài chính 35
2.2.1 Đặc điểm tính mới chi phối đến chính sách tài chính 35
2.2.2 Đặc điểm tính rủi ro chi phối đến chính sách tài chính 49
2.2.3 Phân tích những tác động của tính mới, tính rủi ro và chính sách tài chính vĩ mô 59
2.3 Nguồn và đối tượng chi 60
2.3.1 Từ ngân sách Nhà nước 61
2.3.1.1 Vốn đầu tư phát triển cho KH&CN 61
2.3.1.2 Kinh phí sự nghiệp khoa học 61
2.3.3 Nguồn vốn hợp tác với nước ngoài 62
2.3.4 Các nguồn vốn khác 62
2.4 Cơ chế quản lý tài chính đối với nhiệm vụ KH&CN 63
2.4.1 Lập dự toán 63
2.4.2 Thẩm định, phê duyệt dự toán 63
2.4.3 Giao dự toán, cấp kinh phí 64
2.4.4 Kiểm tra 64
2.4.5 Quyết toán kinh phí 64
2.5 Kết luận Chương 2 65
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ TÀI CHÍNH VĨ MÔ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP HUYỆN 66
3.1 Dẫn nhập 66
3.2 Xem xét sự không tương thích giữa thiết chế tài chính vĩ mô với đặc điểm của quản lý hoạt động KH&CN 68
3.2.1 Phân bổ tài chính nghiên cứu theo phân cấp quản lý hành chính 68
Trang 33.2.2 Cấp phát tài chính nghiên cứu theo “cấp” đề tài 69
3.2.3 Cấp phát tài chính nghiên cứu cho các cơ quan hành chính 69
3.2.4 Chế độ thanh quyết toán không thật sự phù hợp với hoạt động R&D 70
3.2.5 Chưa có bất cứ ưu đãi nào về chính sách tài chính cho hoạt động khoa học 70
3.3 Xét đến các điều kiện về tổ chức thực hiện thiết chế tài chính vĩ mô 73
3.3.1 Lập dự toán (thiếu căn cứ) 73
3.3.2 Tổng hợp dự toán 75
3.3.3 Giao dự toán 75
3.3.4 Sử dụng ngân sách 75
3.3.6 Chỉ đạo điều hành của cơ quan quản lý 77
3.3.7 Kết quả, hiệu quả 78
3.4 Nguyên nhân của những tác động nêu trên và những tồn tại, yếu kém 78
3.4.1 Nguyên nhân chủ quan 78
3.4.2 Nguyên nhân khách quan 79
3.4.3 Tồn tại, yếu kém 81
3.5 Kết luận Chương 3 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
4.1 Kết luận: 83
4.2 Đề xuất, khuyến nghị: 84
4.2.1 Đối với cấp Bộ/cấp Tỉnh: 84
4.2.2 Đối với Các Sở, Ban ngành có liên quan 85
4.2.3 Đối với UBND huyện và các đơn vị liên quan cấp huyện 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 88
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong lịch sử loài người, Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đóng vai trò quan trọng KH&CN ngày càng thực sự trở thành một động lực phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) và phát triển bền vững, toàn diện cả về hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế, an ninh xã hội, an toàn thực phẩm, khai thác sử dụng hợp
lý các tài nguyên và bảo vệ môi trường trên bình diện vĩ mô của mọi quốc gia Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2 (khóa VIII) đã chỉ rõ quan điểm phát triển KH&CN của Đảng ta trong đó phải coi KH&CN là nội dung then chốt của các ngành, các cấp Thời gian qua, hoạt động khoa học và công ở Tỉnh Đồng Nai đã có nhiều đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) nông nghiệp nông thôn tỉnh nhà Tuy nhiên, qua nhiều lần thay đổi tổ chức, nên đội ngũ KH&CN cấp huyện còn yếu, cấp huyện gặp khó khăn về cơ chế chính sách, lúng túng trong công tác quản lý KH&CN
Do đó một số huyện đã đề xuất lên tỉnh cần có nghiên cứu, đánh giá về công tác quản lý KH&CN của cấp huyện, nhất là đánh giá những tác động của chính sách tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học cấp huyện
Đồng Nai là tỉnh có 11 huyện, thị xã Long Khánh và Tp Biên Hòa, có nền công nghiệp phát triển với cơ cấu kinh tế công nghiệp 57,2%, dịch vụ 34,1 % và nông nghiệp 8,7%, nhưng lại có diện tích đất nông nghiệp chiếm 80,67 % và dân
cư nông thôn chiếm 68,58 % Do đó, Đồng Nai rất xem trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH-HĐH, với mục tiêu xây dựng mô hình nông thôn “4 có”: có cơ sở hạ tầng khá, có đời sống kinh tế được cải thiện, có đời sống văn hóa lành mạnh và có môi trường sinh thái tốt
Hoạt động khoa học và công nghệ cũng đã tập trung phát triển cả theo chiều rộng và chiều sâu thông qua xây dựng các chương trình khoa học và công nghệ có tác động mạnh và gây hiệu ứng để huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào các hoạt động khoa học và công nghệ để vừa tạo động lực vừa tạo sức mạnh tổng hợp phát triển khoa học và công nghệ theo hướng gắn chặt hơn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và quản lý Công tác quản lý hoạt
Trang 7động khoa học và công nghệ có đổi mới và tăng cường phát triển về cơ sở; Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và triển khai nhiều chương trình, dự án trọng điểm; Tổ chức tốt các hoạt động để góp phần thúc đẩy thị trường khoa học và công nghệ phát triển Từ đó hoạt động khoa học và công nghệ đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội và sự nghiệp đẩy mạnh Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa của tỉnh Đồng Nai nói riêng và của cả nước nói chung
Theo lý thuyết hệ thống thì “hệ thống là tập hợp các phần tử có mối liên hệ tương tác nhằm thực hiện các mục tiêu (hoặc một số mục tiêu) định trước trong môi trường xác định”.[1] Như vậy khi nói đến hệ thống quản lý nhà nước về KH&CN thì người ta có thể nói rằng đó là tập hợp về hệ thống chính sách, văn văn bản pháp luật, về tổ chức bộ máy quản lý KH&CN, về nhân lực khoa học và công nghệ nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Hệ thống văn bản pháp luật về KH&CN hiện nay đã tương đối hoàn chỉnh và đi thực tiễn, tuy nhiên phân cấp chưa mạnh về địa phương, ở cấp tỉnh còn gặp nhiều lúng túng, nhất là địa bàn cấp huyện thì hệ thống văn bản pháp luật này còn thiếu và trong quá trình áp dụng còn lúng túng nhiều hơn Khả năng vận dụng chính sách pháp luật về khoa học và công nghệ, chính sách tài chính cho hoạt động khoa học ở địa bàn cấp huyện còn yếu
Hoạt động KH&CN trên địa bàn các huyện thuộc tỉnh Đồng Nai hiện nay chưa khai thác, sử dụng và phát huy hết khả năng vốn có của nó, còn nhiều yếu kém và gặp nhiều cản trở Một trong những nguyên nhân đó là do:
- Nhận thức của các cấp lãnh đạo về vai trò của KH&CN chưa cao
- Nhân lực làm công công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ
ở địa phương còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra
- Kết quả hoạt động KH&CN ở địa phương chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra Còn mang tính hình thức xin - cho trong hoạt động nghiên cứu khoa học; Chưa chủ động trong việc xây dựng kế hoạch hoạt
1 Vũ Cao Đàm, Bài giảng lý thuyết hệ thống, Slide 26, Hà Nội, 2007
Trang 8động khoa học và công nghệ hằng năm của địa phương; Chưa đa dạng hóa được các hoạt động và nguồn vốn; Chưa bố trí được nhân sự cho hoạt động khoa học và công nghệ có nơi còn kiêm nhiệm; Chưa sử dụng hết ngân sách được phân bổ và còn lúng túng trong khâu quyết toán kinh phí
- Kinh phí đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ ở địa bàn các huyện còn thấp, chưa đáp ứng được các nhiệm vụ đề ra
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoa học và công nghệ và chính sách tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ chưa phân cấp mạnh về địa bàn huyện và áp dụng còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng
Do đó, để phát triển khoa học và công nghệ ở địa bàn cấp huyện, cũng như đánh giá những tác động của chính sách tài chính vĩ mô và vi mô tới hoạt động KH&CN trên địa bàn các huyện thuộc tỉnh Đồng Nai, từ đó tìm ra những nguyên nhân, yếu kém đối với chính sách tài chính cho hoạt động
KH&CN, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tác động của chính sách tài chính tới hoạt động KH&CN trên địa bàn các huyện thuộc tỉnh Đồng Nai ”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Ở Việt Nam, trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về chính sách tài chính vĩ mô nói chung và đề cập đến quản lý KH&CN địa phương như sau:
Tác giả Đỗ Nguyên Phương và các cộng sự (2003-2007) đã thực hiện
đề tài “Nghiên cứu nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý KH&CN địa phương” Trong đó đề cập đến những vấn đề chung về công tác quản lý khoa học và công nghệ địa phương Trình bày thực trạng và những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý KH&CN địa phương Đề xuất nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý KH&CN địa phương
Tác giả Vũ Cao Đàm đã có 02 nghiên cứu về chính sách tài chính cho KH&CN đó là: Thứ nhất “Định hướng cải cách thiết chế tài chính cho KH&CN trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường” được trình bày tại Hội nghị kết thúc dự án VISED, tháng 8/1996, trong đó đã đề cập đến các nội dung: Tính cấp bách của cải cách; những vấn đề đặt ra trước yêu cầu
Trang 9cải cách; định hướng nội dung cải cách; và khuyến nghị về chiến lược thực hiện Thứ hai “Đổi mới chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN ” Trong nghiên cứu này đề cập đến những vấn đề như: Đại cương về chính sách tài chính cho KH&CN; Những biến đổi chính sách tài chính cho KH&CN; Chính sách tài chính trong giai đoạn mới
Kỷ yếu “Hội thảo, đánh giá rút kinh nghiệm một số mô hình quản lý hoạt động KH&CN cấp huyện ở nước ta hiện nay” do Bộ KH&CN tổ chức tại Nghệ An vào tháng 11/2009 Mục tiêu Hội thảo này là đánh giá lại quá trình triển khai công tác quản lý nhà nước về KH&CN xuống cơ sở Từ thực tế hoạt động KH&CN, rút ra một số kinh nghiệm thành công và chưa thành công về mô hình tổ chức, phương pháp triển khai, hoạt động, cơ chế thực hiện ; phân tích nguyên nhân của những thành công và những hạn chế yếu kém
để từ đó có những đề xuất, kiến nghị tiếp tục bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách, tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện tốt các chủ trương đề ra
về phát triển KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện
Và một số tài liệu tập huấn nghiệp vụ xây dựng kế hoạch và đảm bảo tài chính trong lĩnh vực KH&CN do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức hằng năm có đề cập đến công tác xây dựng kế hoạch và tài chính cho hoạt động KH&CN, hướng dẫn triển khai các Thông tư tài chính đối với hoạt động KH&CN, nêu lên những vấn đề bất cập trong công tác lập dự toán, quyết toán, sử dụng ngân sách nhà nước
Các nghiên cứu và tài liệu trên mới chỉ đề cập đến vấn đề về chính sách tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ ở tầm vĩ mô, nhưng chưa đưa
ra được những luận cứ, luận chứng và những tác động của chính sách tài chính tới hoạt động KH&CN cụ thể tại địa phương, nhất là cấp huyện Và cũng chưa có một nghiên cứu khoa học nào của các tổ chức, cá nhân bên ngoài tiến hành nghiên cứu về tác động của chính sách tài chính tới hoạt động KH&CN trên địa bàn các huyện thuộc tỉnh Đồng Nai
Trang 103 Mục tiêu nghiên cứu:
Tác động của chính sách tài chính tới hoạt động KH&CN trên địa bàn
các huyện thuộc tỉnh Đồng Nai
4 Phạm vi nghiên cứu:
Hệ thống các chính sách tài chính, văn bản quy phạm pháp luật hình thành nên quản lý KH&CN, hoạt động KH&CN nói chung và quản lý KH&CN, hoạt động KH&CN ở địa bàn huyện nói riêng
Những vấn đề thực thi chính sách tài chính đối với hoạt động KH&CN của Tỉnh, Bộ Khoa học và Công nghệ liên quan đến lĩnh vực khoa học và công nghệ tại địa phương
Những yếu tố tác động tác động đến hoạt động KH&CN trên địa bàn huyện thuộc tỉnh Đồng Nai
Với đề tài này, tác giả xin giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau:
+ Đối với chính sách tài chính: chỉ giới hạn những chính sách tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ
+ Hoạt động khoa học và công nghệ chỉ tập trung vào tác động của chính sách tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học
Phạm vi về thời gian: Từ năm 2000 đến 2010
5 Mẫu khảo sát
Tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm: huyện Cẩm
Mỹ, Định Quán, Long Thành, Nhơn Trạch, Tân Phú, Thống Nhất, Trảng Bom, Xuân Lộc, Vĩnh Cửu, thị xã Long Khánh và Thành phố Biên Hòa Theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ về việc Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Quyết định số 34/2008/QĐ-UBND ngày 28/4/2008 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các huyện, thị xã Long Khánh và Tp Biên Hòa hoạt động quản lý khoa học và công nghệ được tổ chức thành một bộ phận của phòng kinh tế (UBND huyện Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Thị xã Long
Trang 11Khánh và thành phố Biên Hòa) và của phòng Công thương (nay là Phòng Kinh
tế - Hạ tầng) (UBND huyện Tân Phú, Định Quán, Thống Nhất, Xuân Lộc, Cẩm
Mỹ, Vĩnh Cửu) Cũng theo Nghị định 14/2008/NĐ-CP thì 01 Lãnh đạo UBND cấp huyện phụ trách lĩnh vực KH&CN, 01 Lãnh đạo Phòng Kinh tế/Kinh tế - Hạ tầng phụ trách lĩnh vực KH&CN, 01 cán bộ (chuyên viên) làm công tác quản lý KH&CN cấp huyện
Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả chọn mẫu khảo sát ở 11 UBND các huyện, thị xã và Tp Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai, 11 Phòng Kinh tế/Phòng Kinh tế - Hạ tầng thuộc UBND các huyện, thị xã và Tp Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai, 11 Lãnh đạo, cán bộ phụ trách quản lý hoạt động KH&CN ở các huyện, thị xã và Tp Biên Hòa và 11 cán bộ phụ trách kế toán tại các Phòng Tài chính kế hoạch của huyện Đồng thời khảo sát 04 lãnh đạo Sở
Tổng số mẫu dự kiến khảo sát là 59 phiếu khảo sát
Về mẫu phỏng vấn sâu: tác giả chọn phỏng vấn một số chủ nhiệm và kế toán đề tài, dự án đã và đang triển khai đề tài, dự án trong giai đoạn 2000-
2010
Như vậy, mẫu khảo sát và mẫu phỏng vấn là các cán bộ quản lý hoạt động KH&CN ở tỉnh và huyện, các nhà khoa học (chủ nhiệm đề tài, dự án), các cán bộ làm công tác kế toán ở địa phương và kế toán của đơn vị thực hiện đề tài, dự án Đây là những mẫu khảo sát đầy đủ và mang tính đại diện cho chủ thể và khách thể của hoạt động KH&CN cấp huyện thuộc tỉnh Đồng Nai
6 Câu hỏi nghiên cứu:
Những tác động của chính sách tài chính nào ảnh hưởng tới hoạt động
KH&CN trên địa bàn các huyện thuộc tỉnh Đồng Nai
7 Giả thuyết nghiên cứu:
Các yếu tố cản trở hoạt động khoa học và công nghệ về mặt tài chính ở địa bàn huyện thuộc tỉnh Đồng Nai chủ yếu là do thiết chế vĩ mô
Trang 128 Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được những mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: hệ thống, phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát thực tế hoạt động tài chính qua các đề tài, dự án ở địa phương, nghiên cứu tài liệu tổng kết
về tài chính cho các đề tài, dự án do Sở quản lý, phỏng vấn các chủ nhiệm đề tài, dự án và các chuyên viên tài chính Trong đó, đề tài sử dụng các phương pháp sau :
a Phương pháp thu thập thông tin :
- Nghiên cứu tài liệu:
+ Thu thập tài liệu tại các cơ quan, trường, … có liên quan
+ Phân tích tài liệu
+ Tổng hợp tài liệu
- Phi thực nghiệm :
+ Phỏng vấn: phỏng vấn sâu các chủ nhiệm đề tài, dự án và các chuyên viên về tài chính thuộc lĩnh vực mà luận văn nghiên cứu, liên hệ, sắp xếp lịch làm việc và gửi trước nội dung trao đổi cho các chuyên gia có kinh nghiệm cần trao đổi
+ Phương pháp điều tra chọn mẫu: Nội dung điều tra nhận thức thái độ
và sự hiểu biết về hoạt động KH&CN cấp huyện, về hoạt động tài chính qua các đề tài, dự án ở địa phương, những yếu tố tác động của chính sách tài chính
vĩ mô và vi mô đối với hoạt động KH&CN cấp huyện, cũng như những tác động của chính sách tài chính vĩ mô và vi mô đối với hoạt động nghiên cứu khoa học cấp huyện nói riêng
Chọn mẫu:
* 04 lãnh đạo Sở KH&CN Đồng Nai
* 11 cán bộ lãnh đạo (chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND cấp huyện) phụ trách lĩnh vực KH&CN cấp huyện
* 11 cán bộ lãnh đạo (Trưởng phòng hoặc phó trưởng phòng Kinh tế/Kinh tế - Hạ tầng cấp huyện) phụ trách lĩnh vực KH&CN
Trang 13* 11 cán bộ làm chuyên trách lĩnh vực KH&CN tại phòng Kinh tế/Kinh
tế - Hạ tầng cấp huyện
* 11 cán bộ kế toán thuộc phòng Tài chính kế hoạch cấp huyện
* 11 cán bộ phòng Quản lý KH&CN cơ sở làm việc tại phòng Kinh tế/Kinh tế - Hạ tầng cấp huyện
b Phương pháp xử lý thông tin :
- Dữ liệu định lượng : dùng phương pháp thống kê toán học để phân loại, xử lý các mẫu phiếu điều tra nghiên cứu thực tế
- Dữ liệu định tính : sắp xếp, phân loại, tổng hợp và phân tích theo các
đề mục đã định trước bằng cách dùng chương trình Microsoft Excel
9 Kết cấu của luận văn:
Kết cấu của luận văn, bao gồm 3 phần: mở đầu, nội dung và kết luận – khuyến nghị
Phần mở đầu:
Phần nội dung:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
- Chương 2: Hiện trạng chính sách tài chính xét từ đặc điểm của hoạt động khoa học và công nghệ
- Chương 3: Tác động của thể chế tài chính vĩ mô đến hoạt động khoa học và công nghệ cấp huyện
Phần kết luận và khuyến nghị:
Trang 14PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1 1 Các khái niệm cơ bản:
1.1.1.Hoạt động khoa học và công nghệ
“Hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ” [2
] , [12; điều 2]
1.1.2 Nghiên cứu khoa học
“Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật và sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích
sử dụng” [3
] [12; điều 2]
Nghiên cứu khoa học là hoạt động nhằm phát hiện các hiện tượng, các tính chất, qui luật của của tự nhiên và xã hội, sử dụng những hiểu biết này để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trong họat động thực tiễn của con người Nghiên cứu khoa học gồm: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai
Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm nhận thức những qui luật khách quan phát triển tự nhiên, xã hội và mở rộng tri thức của loài người
về thế giới vật chất Kết quả của nghiên cứu cơ bản là những nguyên lý, hiệu ứng mới, các cấu trúc vật chất, các lý thuyết từ trước tới nay chưa được biết
Nghiên cứu ứng dụng là nghiên cứu dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu cơ bản nhằm giải quyết nhiệm vụ nhất định của thực tiễn Kết quả của nghiên cứu ứng dụng là các nguyên lý kỹ thuật, các phương pháp chế tạo vật liệu, các phương pháp tổ chức sản xuất
Nghiên cứu triển khai là những nghiên cứu nhằm hoàn thiện những kết quả của nghiên cứu ứng dụng tới mức có thể sử dụng một cách có hiệu quả vào hoạt động thực tiễn trong điều kiện cụ thể Kết quả của nghiên cứu triển
2 Luật khoa học và công nghệ 9/6/2000 – Chương 1 - Điều 2 khoản 3
3 Vũ Cao Đàm – Tuyển tập các công trình đã công bố – Tập I: Lý luận và phương pháp luận khoa học, NXB Thế giới 2011
Trang 15khai là mẫu thiết bị, qui trình công nghệ, các giống cây con mới, sản phẩm mới, các cải tiến kỹ thuật nâng cao phương pháp công nghệ sản xuất đã có
“Theo quan niệm R&D của UNESCO, trong phân loại nghiên cứu khoa học, UNESCO chia làm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm, viết tắt là R&D:
- Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu (lý thuyết hoặc thực nghiệm) nhằm tạo ra các tri thức mới về căn nguyên của các sự vật và hiện tượng, chưa có một ứng dụng đặc biệt nào Trong định nghĩa này có 2 điểm đáng lưu ý: 1) Tuy trong định nghĩa ghi là “chưa có một ứng dụng đặc biệt nào”, nhưng UNESCO cũng chia làm 2 loại nghiên cứu cơ bản: Nghiên cứu cơ bản thuần túy, không xét đến ứng dụng thực tế và nghiên cứu cơ bản định hướng,
đã xét đến phương hướng ứng dụng 2) UNESCO chỉ có định nghĩa về nghiên cứu cơ bản cho các khoa học, không có định nghĩa riêng về nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn
- Nghiên cứu ứng dụng: là những nghiên cứu nhằm tạo ra các tri thức mới, nhưng chủ yếu là nhằm vào một mục đích (chữ “nhưng” ở đây trả lời câu hỏi “nghiên cứu để làm cái gì?) hoặc mục tiêu (“mục tiêu” ở đây là để trả lời câu hỏi “nghiên cứu cái gì?) thực tế đặc biệt
- Triển khai là những nghiên cứu hoặc thực nghiệm nhằm tạo ra các vật liệu mới, sản phẩm mới, các hệ thống và dịch vụ mới nhằm hoàn thiện những sản phẩm vốn tồn tại Trong định nghĩa này, UNESCO cũng đưa ra một hình dung chi tiết về nội dung của triển khai, gồm 3 giai đoạn:
+ Chế tác mẫu sơ khởi (Prototypes): làm ra mẫu (của sản phẩm hoặc công nghệ) đầu tiên, như một bước hiện thực hóa tư tưởng khoa học thành sản phẩm hoặc công nghệ để chuẩn bị đưa vào sản xuất
+ Làm Pilot (Installations pilots): Thử nghiệm để tạo ra quy trình sản xuất, tức tạo ra công nghệ sản xuất sản phẩm theo prototype đã làm thử thành công trong labô ở giai đoạn prototype
Trang 16+ Sản xuất thử nghiệm (Production exprerimental: Sản xuất thử, tức tạo ra công nghệ sản xuất “Loạt 0”, để khẳng định độ tin cậy của công nghệ” [4
Khi nói về chính sách là nói về một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, chỉ thị của Chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (viện, trung tâm nghiên cứu, trường đại học…) Nói cách khác, vật mang chính sách chính là văn bản quy phạm pháp luật
Dưới góc độ tiếp cận xã hội học, chính sách là tập hợp biện pháp do chủ thể quản lý đưa ra, nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm lợi thế của một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới
Tóm lại, chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội [5] [5; 11-13]
1.1.4 Chính sách tài chính
Chính sách tài chính (chính sách tài khóa) trong kinh tế học vĩ mô là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động tới nền kinh tế Chính sách tài chính cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô quan trọng (theo http://vi.wikipedia.org)
4 Vũ Cao Đàm – Tuyển tập các công trình đã công bố – Tập I: Lý luận và phương pháp luận khoa học, NXB Thế giới, 2011
Trang 17Chính sách tài chính là tập hợp những biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy thực hiện một hoặc một số mục tiêu kinh tế và/hoặc xã hội [6], [7; 201-
223]
Xét về mặt nội dung của các biện pháp, chính sách tài chính có thể bao gồm chính sách vốn cho KH&CN; chính sách giá cả đối với sản phẩm KH&CN; chính sách lợi nhuận đối với sản phẩm KH&CN; chính sách thuế đối với sản phẩm KH&CN; chính sách khấu hao thiết bị trong KH&CN; chính sách thu nhập đối với những người hoạt động trong lĩnh vực KH&CN,
…
Chẳng hạn, trong chính sách tạo nguồn vốn, Nhà nước (hoặc một chủ thể chính sách bất kỳ) có thể có các biện pháp ưu đãi để kích thích tạo nguồn lực vốn hoặc có các biện pháp hạn chế tạo nguồn vốn Cũng có những biện pháp tương tự đối với các chính sách giá cả, chính sách lợi nhuận, chính sách thuế, chính sách khấu hao và chính sách thu nhập
Tuy nhiên, tùy loại hoạt động, mà chính sách tài chính có thể bao gồm một hoặc một số loại chính sách trong danh mục trên đây Trong KH&CN, có
lẽ quan trọng nhất là chính sách vốn và chính sách thuế
1.1.5 Tác động
"Tác động (cũng có thể xem như là kết quả) có thể như dự định hoặc không như dự định; có thể là những tác động tích cực hoặc tiêu cực; có thể đạt được ngay hoặc đạt được sau một thời gian nhất định; và có thể kéo dài hoặc không kéo dài Tác động có thể quan sát được, đo đếm được trong suốt quá trình thực thi, khi dự án kết thúc hoặc sau một thời gian khi kết thúc dự án" (Department for International Development (DFID) Glossary of terms
1998)
Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi thống nhất khái niệm tác động
như sau: "Tác động là sự khác biệt có thể thông báo được, có thể xác định được mà một chương trình hay một dự án mang lại cho con người"
6 Vũ Cao Đàm: Tuyển tập các công trình đã công bố , Tập II: Nghiên cứu chính sách và chiến lược, NXB Thế giới, 2011
Trang 181.1.6 Tác động của chính sách
“Tác động của chính sách là sự hiện thực hóa các mục tiêu của chính sách trong hành vi của con người và nhóm người trong xã hội” [7] [5; 51]
1.1.7 Mối quan hệ giữa chính sách tài chính và hoạt động KH&CN
Hoạt động KH&CN có được triển khai hay không là do chính sách tài chính quy định, không có tài chính thì không có hoạt động KH&CN nào được thực hiện
Chính sách tài chính phù hợp thì hoạt động KH&CN đạt hiệu quả cao, ngược lại chính sách tài chính không phù hợp thì hoạt động KH&CN sẽ gặp khó khăn, và khó có khả năng được triển khai trong cuộc sống
1.2 Cơ sở lý luận của hoạt động nghiên cứu khoa học:
1.2.1 Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học:
- “Tính mới: Nghiên cứu khoa học (NCKH) là quá trình tìm tòi những
điều chưa biết (!) Tuy nhiên đây cũng chính là điều làm nên những tính chất rất đặc thù của nghiên cứu khoa học Vì vậy, quá trình NCKH luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Trong NCKH không
có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà những người đi trước
đã làm Vì vậy, tính mới là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học Tính mới cần được hiểu là, cho dù đã đạt được một phát hiện mới, nhưng người nghiên cứu vẫn còn tiếp tục tìm kiếm những phát hiện mới hơn Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong tính mới của NCKH không hề có mâu thuẫn giữa cái mới và cái mới hơn, và do vậy, không thể bị hiểu lầm với tính tin cậy của kết quả nghiên cứu
- Tính tin cậy: Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp
nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần do nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước cũng chưa thể xem
là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng Điều này
Trang 19
dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận của NCKH, là khi trình bày một kết quả nghiên cứu người nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, các tác nhân và phương tiện (nếu có) để tạo ra kết quả đó, đồng thời phải chứng minh rằng khi lặp lại đúng những điều kiện, tác nhân và phương tiện đó, thì kết quả nghiên cứu sẽ được lặp lại chính xác như kết quả đã đạt được ban đầu
- Tính thông tin: Sản phẩm của NCKH được thể hiện dưới nhiều dạng,
có thể đó là một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, song cũng có thể là một mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một phương thức tổ chức sản xuất mới… Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin Đó là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, hiện tượng, thông tin về quy trình công nghệ và các tham số đi kèm theo quy trình đó
- Tính khách quan: Vừa là đặc điểm của NCKH, vừa là tiêu chuẩn của
người NCKH Một nhận định vội vã theo tình cảm, một kết luận thiếu các xác nhận bằng kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng
+ Nếu phương pháp đã sử dụng trong nghiên cứu cho phép đạt kết quả, vậy còn có thể tiến hành theo phương pháp khác không?
+ Kết quả có thể khác không, dù cho nghiên cứu vẫn được thực hiện trong cùng điều kiện và phương tiện ban đầu?
+ Nếu kết quả là đúng, thì đúng trong cùng những điều kiện ban đầu hay có thể đúng trong các điều kiện nào khác?
- Tính rủi ro: Tính mới của NCKH đồng thời cũng quy định một thuộc
tính quan trọng khác của NCKH Đó là tính rủi ro Một nghiên cứu cũng có thể thành công, có thể thất bại Sự thất bại trong NCKH có thể do nhiều nguyên nhân:
- Thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy để xử lý những vấn đề được đặt
ra trong nghiên cứu
Trang 20- Trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm không đủ đáp ứng nhu cầu kiểm chứng giả thuyết
- Sự hạn chế về năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu
- Giả thuyết khoa học đặt sai
- Những tác nhân bất khả kháng…
Ngay cả khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công cũng vẫn chịu những rủi ro trong áp dụng, mặc dù sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu đã có thể đạt trình độ một “sáng chế”, một “hình mẫu” Hai trường hợp
có thể xẫy ra: Thứ nhất, kỹ thuật chưa được làm chủ, khi triển khai áp dụng trong phạm vi mở rộng không thành công; Thứ hai, ngay cả khi thử nghiệm thành công vẫn không thể đi đến quyết định áp dụng vì một nguyên nhân xã hội nào đó
Tuy nhiên, trong khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả Kết quả ấy cũng mang ý nghĩa về một kết luận của nghiên cứu khoa học, mà nội dung là, các giả thuyết đã đặt ra không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là trong sự vật không tồn tại quy luật hoặc giải pháp như đã dự kiến Xét về ý nghỉa khoa học, đây là một kết quả quan trọng Kết quả này cũng phải được tổng kết, được lưu giữ như một tài liệu khoa học nghiêm túc Mục đích của sự tổng kết là để tránh cho các đồng nghiệp đi sau khỏi dẫm chân lên lối mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu
- Tính kế thừa: Mỗi một nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên
cứu trong các lĩnh vực khoa học rất khác nhau Tính kế thừa có một ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu: Một người nghiên cứu chân chính không bao giờ đóng của cố thủ trong những lý luận và phương pháp luận “riêng có”, “của mình” mà bài xích sự thâm nhập về lý luận và phương pháp luận từ các lĩnh vực khoa học dù rất khác nhau Hàng loạt phương hướng nghiên cứu mới và bộ môn khoa học mới xuất hiện chính là kết quả kế thừa lẫn nhau giữa các bộ môn khoa học (VD: kinh tế học chính trị là kết quả kế thừa về lý luận và phương pháp luận của chính trị học vào kinh tế học)
Trang 21- Tính cá nhân: Đối với những đề tài do một cá nhân thực hiện, thì
tính cá nhân là đương nhiên Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân Tuy nhiên, một công trình NCKH do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Một đề tài do tập thể thực hiện, thì vai trò của cá nhân người chủ trì đề tài sẽ quyết định tư tưởng khoa học của đề tài đó Trong mỗi phần việc mà các cá nhân thực hiện thì tư tưởng khoa học của mỗi phần sẽ do cá nhân phụ trách phần đó quyết định
- Tính phi kinh tế: lao động NCKH rất khó định mức một cách chính
xác như trong sản xuất vật chất, thậm chí có thể nói, lao động khoa học hầu như không thể định mức Những thiết bị chuyên dụng cho NCKH hầu như không thể khấu hao (tần suất sử dụng không ổn định và hầu như rất thấp, tốc
độ hao mòn vô hình luôn vượt trước rất xa so với tốc độ hao mòn hữu hình, hiệu quả kinh tế của NCKH hầu như không thể xác định)” [8]; [6, 80-84]
1.2.2 Đặc điểm của công tác quản lý khoa học và công nghệ cấp huyện:
Trong giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đang hình thành Nông thôn nước ta đang trải qua thời kỳ chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cả hình thức tổ chức sản xuất, đặc biệt là trong nông nghiệp (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) Mô hình Hợp tác xã nông nghiệp trước đây đang được tổ chức lại theo Luật Hợp tác xã mới ban hành Theo đó, hoạt động khoa học và công nghệ không chỉ được tiến hành với một “pháp nhân duy nhất” là tổ chức hợp tác xã trước đây, mà là công việc hàng ngày thiết thân của các hộ nông dân, người nông dân, chủ trang trại, thợ thủ công, chủ doanh nghiệp tư nhân Sự chuyển đổi vai trò làm chủ này, trước hết và chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp quyết định đến nội dung và phương thức hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn huyện trong thời kỳ mới
8 Vũ Cao Đàm: Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập I: Lý luận và phương pháp luận khoa học, NXB Thế giới, 2011
Trang 22Sự chuyển đổi vai trò làm chủ này, trước hết và chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp quyết định đến đặc điểm của hoạt động KH&CN trên địa bàn huyện, cụ thể:
Đối tượng thụ hưởng các thành tựu khoa học và công nghệ và các pháp nhân trực tiếp triển khai việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất đã được đa dạng hóa – Hộ nông dân, người nông dân, chủ trang trại, thợ thủ công, chủ doanh nghiệp tư nhân giữ vai trò trung tâm, chủ động lựa chọn và quyết định cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sản phẩm; tự tìm kiếm và ứng dụng các
kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất và đời sống, tiêu thụ sản phẩm, chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp theo định hướng chung của huyện, xã và phương hướng sản xuất của từng cụm, vùng chuyên canh (vùng mía, dứa, dâu tằm, sắn, cây ăn quả, nuôi tôm cá, v.v ) Riêng về mặt sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, mặc
dù đã bắt đầu phát triển các hình thức doanh nghiệp tư nhân, nhưng mô hình các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, xây dựng vẫn được duy trì và phát triển trong những điều kiện mới với việc đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, tạo ra các sản phẩm có chất lượng tiêu thụ trong nội địa, một số đã được xuất khẩu (đồ gỗ, gốm sứ, mây tre đan mỹ nghệ, thêu đan, da giầy, may mặc, một số thực phẩm chế biến…)
Nguồn kinh phí cho hoạt động khoa học và công nghệ cũng được đa dạng hóa, không chỉ từ một nguồn vốn duy nhất – từ ngân sách nhà nước - như trước đây Hiện nay, nguồn vốn đầu tư cho việc đổi mới công nghệ, ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất chủ yếu là của các đối tượng và pháp nhân như đã nêu trên (nông dân, thợ thủ công, chủ trang trại, chủ doanh nghiệp tư nhân)
Nhà nước chỉ có những hỗ trợ nhất định thông qua việc thực hiện các mô hình ứng dụng KH&CN phục vụ sự phát triển nông thôn, nhưng cũng chỉ tập trung ở một số trọng điểm (hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, giống, quản lý…) với mục đích thí điểm để rút kinh nghiệm nhân rộng
Trang 23Mối quan hệ trực tiếp giữa người nông dân với các cơ quan nghiên cứu – triển khai, các trung tâm khuyến nông (bao gồm nông, lâm, ngư), trung tâm khuyến công, trung tâm hỗ trợ phát triển nông thôn, v.v…trong việc đưa kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất là một nét mới trong việc tăng cường mối liên kết nghiên cứu – sản xuất chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn với nhiều hình thức phong phú, đa dạng
Vai trò quản lý của các phòng chức năng của Huyện (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng…) chỉ thể hiện trong việc chỉ đạo thời vụ, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, chọn lựa các giống cây con có năng suất cao, phòng trừ dịch hại…trong nông nghiệp, hoặc giới thiệu các kỹ thuật tiến bộ cần ứng dụng trong sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, trong xây dựng để các tổ chức sản xuất (HTX nông, lâm, ngư nghiệp; HTX tiểu thủ công nghiệp, các trang trại và người nông dân) tính toán, lựa chọn thực hiện; tổ chức tập huấn hướng dẫn ứng dụng kỹ thuật tiến bộ; tổng kết kinh nghiệm sản xuất tiên tiến
để phổ biến áp dụng
Quản lý KH&CN ở cấp huyện không có nghĩa là trực tiếp thực hiện các nghiên cứu hay triển khai, bởi đó là công việc của tổ chức R&D (nhà nước, tư nhân, phi chính phủ), của doanh nghiệp Quản lý KH&CN cũng không có nghĩa là tiến hành các dịch vụ KH&CN Nhưng quản lý KH&CN có nhiệm vụ quản lý các tổ chức trên thông qua việc thực hiện các chính sách KH&CN đối với họ; theo dõi, nắm thông tin về hoạt động của họ thông qua hệ thống báo cáo thống kê; nắm bắt được những vướng mắc, khó khăn, đề xuất của họ để tư vấn cho lãnh đạo cấp trên trong việc điều chỉnh chính sách và hoạt động quản
lý
Quản lý KH&CN cấp huyện hướng vào phục vụ các vấn đề của huyện và phải dựa trên cơ sở tiềm lực KH&CN mà huyện có thể huy động Tiềm lực KH&CN bao gồm một số thành phần chủ yếu là:
- Nhân lực KH&CN;
- Mạng lưới tổ chức các cơ quan KH&CN;
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động KH&CN;
Trang 24- Tài chính cho KH&CN;
- Thông tin KH&CN;
- Hợp tác quốc tế về KH&CN
Tiềm lực cho hoạt động KH&CN còn bao gồm cả những gì địa phương
có thể thu hút từ bên ngoài Ví dụ, địa phương có thể thu hút các nhà khoa học
từ các viện nghiên cứu cấp quốc gia về tham gia các chương trình nghiên cứu của địa phương Tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy, việc thu hút có hiệu quả tiềm lực bên ngoài phụ thuộc nhiều mặt vào chính tiềm lực bên trong Lực lượng khoa học bên trong thường đóng vai trò chủ động đề xuất vấn đề nghiên cứu, là nòng cốt của quá trình nghiên cứu và chịu trách nhiệm triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế ở địa phương; tiềm lực tài chính địa phương cũng là một điều kiện quan trọng để thu hút lực lượng nghiên cứu bên ngoài,…Như vậy, dù nhấn mạnh đến khả năng thu hút tiềm lực bên ngoài, thì vẫn không thể xóa nhòa sự khác biệt về tiềm lực KH&CN giữa địa phương và quốc gia
Đối tượng của hoạt động quản lý KH&CN cấp huyện là con người hoạt động riêng lẻ hay hoạt động trong một tổ chức, một nhóm, trực tiếp hay gián tiếp thực hiện các hoạt động KH&CN Ở địa phương, đối tượng quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN bao gồm:
+ Cá nhân hoạt động KH&CN: quyền hoạt động KH&CN là quyền của mọi công dân được Hiến pháp, Luật khoa học và công nghệ và các văn bản luật khác có liên quan quy định, công dân có quyền tiến hành tất cả các hoạt động KH&CN trừ các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật Cụ thể là:
Thủ trưởng các cơ quan quản lý KH&CN, thủ trưởng các tổ chức KH&CN, thủ trưởng các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có tiến hành các họat động KH&CN ở địa phương
Đội ngũ cán bộ KH&CN, đội ngũ công nhân kỹ thuật đang làm việc trong tất cả các cơ quan quản lý, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, các cơ sở nghiên cứu, giáo dục đào tạo,các đơn vị sự nghiệp, các cơ sở sản
Trang 25xuất kinh doanh của tất cả các thành phần kinh tế (khu vực nhà nước, tập thể,
tư nhân, liên doanh, đầu tư nước ngoài,…);
Mọi công dân Việt Nam ( công nhân, nông dân, thương nhân, thợ thủ công, người làm nghề tự do…) tham gia hoạt động KH&CN
+ Tổ chức khoa học và công nghệ là một thiết chế KH&CN hoạt động theo điều lệ tổ chức và hoạt động riêng, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của
tổ chức đó Các tổ chức KH&CN này hoạt động theo đúng pháp luật nói chung và pháp luật KH&CN có liên quan của trung ương, địa phương ban hành và chịu sự quản lý nhà nước đối với mọi hoạt động KH&CN do mình tiến hành trừ các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật
1.3 Chính sách tài chính cho R&D
“Hoạt động R&D có 2 loại:
- Một loại có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với việc làm ra của cải vật chất, có liên hệ chặt chẽ với sản xuất kinh doanh;
- Trong khi đó, hàng loạt hoạt động thì thuộc công ích toàn xã hội Chính vì vậy, kinh phí cho R&D không chỉ do Nhà nước cấp qua ngân sách, mà cần được cấp trực tiếp từ sản xuất
Không những thế, hoạt động R&D không chỉ tồn tại trong các tổ chức của Nhà nước, mà của mọi thành phần kinh tế và tổ chức xã hội (không làm kinh doanh)
Chính vì vậy, các nguồn tài trợ dành cho hoạt động R&D không chỉ được cấp bởi Nhà nước, mà còn bởi nhiều tổ chức kinh doanh, nhiều tổ chức tài trợ trong nước hoặc quốc tế, chính phủ hoặc phi chính phủ Đâu đó có quan niệm cho rằng, Nhà nước trung ương chịu trách nhiệm nghiên cứu cơ bản; kinh phí cho nghiên cứu cơ bản do Nhà nước cấp Địa phương và các doanh nghiệp thì nghiên cứu ứng dụng và triển khai; Do vậy, địa phương và các doanh nghiệp thì cấp kinh phí cho nghiên cứu ứng dụng và triển khai là hoàn toàn không có căn cứ
Tại các nước phát triển nghiên cứu công nghệ cho các doanh nghiệp do doanh nghiệp tự trang trải Nhà nước có thể tài trợ cho các dự án nghiên cứu
Trang 26khác nhau trong xã hội, thuộc mọi thành phần kinh tế Một số nghiên cứu công nghệ tiên phong, chưa được các doanh nghiệp quan tâm, thì Nhà nước cấp kinh phí đầy đủ cho các đề tài, dự án, chương trình nghiên cứu
Đối với những nghiên cứu khoa học mà kết quả của chúng có thể làm nền tảng cho phát triển công nghệ trong tương lai gần, Nhà nước có thể tài trợ một phần kinh phí, phần còn lại do các cơ sở đóng góp” [7; 201-223]
1.4 Chính sách tài chính cho KH&CN:
“Chính sách tài chính cho KH&CN thuộc phạm trù chính sách công và luôn là mối quan tâm của các chính phủ Việc nghiên cứu ban hành và thực hiện chính sách công ở nước ta đã được quan tâm từ rất sớm, trong đó có chính sách tài chính Tuy nhiên, chính sách công trong lĩnh vực KH&CN nói chung và trong lĩnh vực nghiên cứu triển khai (R&D) nói riêng, thì chưa được đặt ra một cách có hệ thống
Trước hết, xét trên những đặc điểm của hoạt động R&D, đây là loại hoạt động dựa trên nguyên tắc tài chính “cho không, biếu không” dựa trên
“lòng tốt” của các đấng Mạnh Thường Quân, các đấng Mạnh Thường Quân
có thể là Nhà nước, các tổ chức tài trợ chính phủ hoặc phi chính phủ Đây chính là nơi luôn phải tồn tại cơ chế “Xin – Cho” Các nhà nghiên cứu trên thế giới luôn phải đi “Xin” các đấng Mạnh Thường Quân Các đấng Mạnh Thường Quân sẽ xem xét và bỏ túi tiền của mình để “Cho” các nhà nghiên cứu Các đấng Mạnh Thường Quân xét “Cho” trên cơ sở các đơn “Xin” cụ thể của các nhà nghiên cứu
Trong chính sách tài chính cho loại hoạt động này, chúng ta không xem xét chính sách thuế, chính sách lợi nhuận, nhưng phải có chính sách ưu đãi về tạo nguồn vốn (được hiểu là nguồn kinh phí) cho nghiên cứu, chính sách ưu đãi về “giá cả”, khấu hao và thu nhập Nhà nước có thể hạn chế và không hạn chế thu nhập của những người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và triển khai, tùy thuộc quan điểm của các nhà nước trong mỗi giai đoạn lịch sử Tại các nước có nền công nghiệp, KH&CN đã phát triển cao, người ta đánh thuế thu nhập lũy tiến những người hoạt động trong trong lĩnh vực này,
Trang 27nhưng tại các nước kém phát triển, rất có thể chưa cần đánh thuế thu nhập trong một giai đoạn nhất định nhằm khuyến khích những người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và triển khai, tạo ra những tiền đề về công nghệ trong bước đầu phát triển đất nước.” [7; 205-206]
Đặc điểm của hoạt động công nghệ:
- Là khoa học làm, là hệ thống tri thức về các giải pháp hành động Khác với khoa học là hệ thống tri thức về quy luật của sự vật
- Hoạt động lặp lại theo chu kỳ chế tạo sản phẩm (ví dụ chế tạo một chi tiết máy: đúc phôi, gia công phôi, tôi, mạ, đánh bóng)
- Tồn tại theo chu kỳ, phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm, nó tồn tại
và phát triển qua các giai đoạn: ra đời, tiến triển, làm chủ thị trường, bão hòa, suy giảm và tiêu vong
- Sản phẩm xác định - sản phẩm của công nghệ được xác định trước theo thiết kế Những sản phẩm sai thiết kế được gọi là phế phẩm
- Tính tin cậy - hoạt động công nghệ mang tính tin cậy cao trên cơ sở một quy trình đã được nhà chế tạo chuẩn hoá và người sản xuất làm chủ
Chính sách tài chính cho phát triển công nghệ: Phải sử dụng vốn vay; sản phẩm triển khai được miễn thuế, còn sản phẩm của phát triển công nghệ phải chịu thuế “[9
]
1.5 Đặc điểm chung của hoạt động KH&CN xét từ giác độ tài chính
“Trong hệ thống thống kê của UNESCO, hoạt động KH&CN bao gồm: Hoạt động R&D, chuyển giao tri thức (bao gồm chuyển giao công nghệ) và dịch vụ KH&CN
Cũng trong hệ thống thống kê của UNESCO, hoạt động R&D nằm trọn trong khu vực “Nghiên cứu khoa học” Đặc điểm chung, cơ bản nhất của hoạt động R&D xét từ góc độ tài chính là loại hoạt động không đưa lại lợi nhuận tức thời, mang những đặc trưng cơ bản và những đặc điểm về đối xử như sau:
9 Vũ Cao Đám: Bài giảng khoa học luận đại cương, slide 59, 2008
Trang 28- Mọi hoạt động trong suốt quá trình từ R đến D, chúng ta hoàn toàn không thấy bất cứ hoạt động nào thu được lợi nhuận theo đúng ý nghĩa của khái niệm này trong kinh tế học
- Sản phẩm R&D có thể định được giá thành sau nghiên cứu, nhưng không thể định được giá cả mua bán trên thị trường
- Sản phẩm R&D không thể tính toán được lợi nhuận
- Thiết bị khoa học có tốc độ hao mòn vô hình vượt xa tốc độ hao mòn hữu hình
- Lao động trong lĩnh vực R&D không thể định mức”[6,203]
“Theo quan niệm R&D của UNESCO, trong phân loại nghiên cứu khoa học, UNESCO chia làm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm , viết tắt là R&D:
- Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu (lý thuyết hoặc thực nghiệm) nhằm tạo ra các tri thức mới về căn nguyên của các sự vật và hiện tượng, chưa có một ứng dụng đặc biệt nào Trong định nghĩa này có 2 điểm đáng lưu ý: 1) Tuy trong định nghĩa ghi là “chưa có một ứng dụng đặc biệt nào”, nhưng UNESCO cũng chia làm 2 loại nghiên cứu cơ bản: Nghiên cứu cơ bản thuần túy, không xét đến ứng dụng thực tế và nghiên cứu cơ bản định hướng,
đã xét đến phương hướng ứng dụng 2) UNESCO chỉ có định nghĩa về nghiên cứu cơ bản cho các khoa học, không có định nghĩa riêng về nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn
- Nghiên cứu ứng dụng: là những nghiên cứu nhằm tạo ra các tri thức mới, nhưng chủ yếu là nhằm vào một mục đích (chữ “nhưng” ở đây trả lời câu hỏi “nghiên cứu để làm cái gì?) hoặc mục tiêu (“mục tiêu” ở đây là để trả lời câu hỏi “nghiên cứu cái gì?) thực tế đặc biệt
- Triển khai là những nghiên cứu hoặc thực nghiệm nhằm tạo ra các vật liệu mới, sản phẩm mới, các hệ thống và dịch vụ mới nhằm hoàn thiện những sản phẩm vốn tồn tại Trong định nghĩa này, UNESCO cũng đưa ra một hình dung chi tiết về nội dung của triển khai, gồm 3 giai đoạn:
Trang 29+ Chế tác mẫu sơ khởi (Prototypes): làm ra mẫu (của sản phẩm hoặc công nghệ) đầu tiên, như một bước hiện thực hóa tư tưởng khoa học thành sản phầm hoặc công nghệ để chuẩn bị đưa vào sản xuất
+ Làm Pilot (Installations pilots): Thử nghiệm để tạo ra quy trình sản xuất, tức tạo ra công nghệ sản xuất sản phẩm theo prototype đã làm thử thanh công trong labô ở giai đoạn prototype
+ Sản xuất thử nghiệm (Production exprerimental: Sản xuất thử, tức tạo ra công nghệ sản xuất “Loạt 0”, để khẳng định độ tin cậy của công nghệ”
Trong thực tế hoạt động khoa học còn tồn tại một hoạt động, đích thực
là phát triển công nghệ, mà Luật KH&CN đã bỏ qua Đó là các hoạt động: Phát triển công nghệ theo chiều rộng (mở rộng công nghệ) và phát triển công nghệ theo chiều sâu (nâng cấp công nghệ) Hai hoạt động này là các giai đoạn “sau R&D” và được thực hiện trong sản xuất
Về mặt chính sách tài chính, giữa Triển khai trong khái niệm của UNESCO và “Phát triển công nghệ” trong Luật KH&CN có sự khác nhau căn bản
- Toàn bộ khâu “triển khai” của UNESCO, từ prototype, qua Pilot đến sản xuất loạt đầu đều thuộc phạm trù nghiên cứu, khâu này được ăn vốn nghiên cứu và không phải chịu bất cứ sắc thuế nào
- Khâu “Phát triển công nghệ” nêu trong Luật KH&CN cũng có đặc điểm tương tự
- Toàn bộ khâu “Phát triển công nghệ”, bao gồm “mở rộng công nghệ“ và “nâng cấp công nghệ” đều không được sử dụng kinh phí nghiên cứu , mà phải sử dụng vốn sản xuất, vốn vay hoặc vốn đầu tư mạo hiểm Nó phải nộp thuế như đối với sản xuất
- Trong Luật KH&CN: “ Phát triển công nghệ” được nêu ở trên đây là hoàn toàn không được đề cập đến.” [10], [6; 128-132]
10 Vũ Cao Đàm – Tuyển tập các công trình đã công bố – Tập I: Lý luận và phương pháp luận khoa học, NXB Thế giới, 2011
Trang 301.6 Kết luận Chương 1
Trong chương 1, luận văn trình bày cơ sở lý luận chung về một số khái niệm cơ bản, Cơ sở lý luận của hoạt động nghiên cứu khoa học, chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN, hệ thống văn bản về tài chính cho hoạt động KH&CN, các đặc điểm của quản lý hoạt động KH&CN Những nội dung này chính là luận cứ lý thuyết quan trọng để tác giả tiến hành phân tích đánh giá cũng như tìm ra những tác động của chính sách tài chính vĩ mô và vi mô đối với hoạt động KH&CN cấp huyện
1) Về đặc điểm của hoạt động R&D: Hoạt động nghiên cứu khoa học
có các đặc điểm chính đó là tính mới của vấn đề nghiên cứu, tính tin cậy của kết quả nghiên cứu, tính thông tin khi thực hiện vấn đề nghiên cứu, tính khách quan của kết quả nghiên cứu, tính rủi ro trong quá trình nghiên cứu, tính kế thừa các kết quả đã nghiên cứu trước đó, tính cá nhân của người chủ trì, người phụ trách những phần công việc được phân công và tính phi kinh tế trong hoạt động lao động nghiên cứu khoa học và khấu hao thiết bị chuyên dụng
2) Về đặc điểm của hoạt động công nghệ: hoạt động công nghệ có các đặc điểm chính sau: Tính tin cậy của thao tác; Tính chu kỳ của quá trình; Tính xác định của sản phẩm; Tính kinh tế của hoạt động công nghệ: Công nghệ quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
3) Về mối quan hệ giữa những đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động công nghệ với chính sách tài chính: Trong hoạt động nghiên cứu khoa học thì chính sách tài chính thuộc chính sách công và chủ yếu sử dụng từ ngân sách nhà nước Mọi hoạt động trong suốt quá trình từ R đến D, chúng ta hoàn toàn không thấy bất cứ hoạt động nào thu được lợi nhuận; Sản phẩm R&D có thể định được giá thành sau nghiên cứu, nhưng không thể định được giá cả mua bán trên thị trường; Sản phẩm R&D không thể tính toán được lợi nhuận; Thiết bị khoa học có tốc độ hao mòn vô hình vượt xa tốc độ hao mòn hữu hình; Lao động trong lĩnh vực R&D không thể định mức Với đặc điểm của hoạt động công nghệ thì chính sách tài chính quy
Trang 31định là phải sử dụng vốn vay; sản phẩm triển khai được miễn thuế, còn sản phẩm của phát triển công nghệ phải chịu thuế
Trang 32CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH XÉT TỪ ĐẶC
ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG KH&CN
2.1 Hệ thống hóa văn bản, chính sách tài chính cho hoạt động khoa học
và công nghệ (hoạt động nghiên cứu khoa học)
- Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 20/4/1981 của Bộ Chính trị khóa IV
về chính sách khoa học và kỹ thuật đến Nghị định số 35-HĐBT ngày 28/01/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về công tác khoa học và công nghệ và Nghị quyết Số 02-NQ/HNTW ngày 24 tháng 12 năm 1996 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000
Đảng và Nhà nước ta đã sớm xác định vai trò then chốt của cách mạng khoa học và kỹ thuật Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững đất nước Trong các Nghị quyết, Nghị định này, Đảng và Nhà nước đã tập trung đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN là 2% tổng chi ngân sách Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và đặc biệt là sự cố gắng của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, hoạt động khoa học và công nghệ đã có bước chuyển biến, đạt được một số tiến bộ và kết quả nhất định, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước
- Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước;
Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước về lập dự toán, chấp hành, kế toán, kiểm toán và quyết toán Ngân sách nhà nước Trong Nghị định này yêu cầu phải lập dự toán đầy đủ, chi đúng, chi đủ, chi đúng tiến độ, thanh quyết toán đầy đủ chứng từ …
- Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 23/9/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ;
Trang 33Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ tập trung vào các giải pháp chủ yếu: (1) Hoàn thiện cơ chế xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ; (2) Đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ; (3) Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ; (4) Đổi mới cơ chế quản lý nhân lực khoa học và công nghệ; (5) Phát triển thị trường công nghệ; (6) Hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
- Thông tư liên tịch số 39/2005/TTLT/BTC-BKHCN ngày 23/5/2005 Hướng dẫn quản lý tài chính của Chương trình” Xây dựng mô hình ứng dụng
và chuyển giao KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn từ nay đến 2010”
Thông tư này hướng dẫn quản lý tài chính của Chương trình "Xây dựng
mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn từ nay đến năm 2010
- Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN, ngày 04/10/2006 của Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ, hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của sử dụng ngân sách nhà nước;
Thông tư này nêu rõ việc khoán kinh phí đề tài, dự án khoa học và công nghệ là giao quyền tự chủ cho tổ chức chủ trì và chủ nhiệm trong việc sử dụng dự toán kinh phí của đề tài, dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, gắn với trách nhiệm về các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án nhằm đạt được mục tiêu, kết quả cao nhất
- Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 07 tháng 5 năm 2007 hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ;
Thông tư này hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ
Thông tư này áp dụng đối với: Các đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước (bao
Trang 34gồm đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án KH&CN cấp nhà nước, cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, các Ban của Đảng, cơ quan trung ương các Hội đoàn thể, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương - dưới đây viết tắt là đề tài, dự án KH&CN); các hoạt động phục vụ công tác quản lý các
đề tài, dự án KH&CN của cơ quan có thẩm quyền
2.2 Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học (như tính mới, tính rủi ro) chi phối đến chính sách tài chính
2.2.1 Đặc điểm tính mới chi phối đến chính sách tài chính
Trong NCKH không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo Vì vậy, tính mới là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học Tính mới cần được hiểu là, cho dù đã đạt được một phát hiện mới, nhưng người nghiên cứu vẫn còn tiếp tục tìm kiếm những phát hiện mới hơn
Trong nghiên cứu khoa học tính mới có tác động mạnh đến chính sách tài chính Sự phụ thuộc này được thể hiện như sau:
- Một vấn đề nghiên cứu khoa học lúc nào cũng xuất phát điểm trước khi được cấp phát kinh phí, nếu vấn đề khoa học này là phù hợp với định hướng nghiên cứu và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì cũng phải mất một thời gian dài, trãi qua các thủ tục hành chính, nhất là thủ tục hành chính về tài chính thì mới được cấp phát kinh phí để thực hiện Trong quá trình triển khai thực hiện thì cũng phải qua một số đợt kiểm tra về tài chính và thủ tục thanh quyết toán thì mới có thể đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng trong thực tế
- Tính mới trong nghiên cứu khoa học ảnh hưởng rất mạnh đến chính sách tài chính, đó là nếu xuất hiện một vấn đề nghiên cứu mới, cần được nghiên cứu ngay, cần có kinh phí để nghiên cứu thì khó có thể thực hiện được, bởi vì chính sách tài chính nói chung và cho hoạt động nghiên cứu nói riêng phải tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Như vậy có thể nói rằng chính tính mới của vấn đề nghiên cứu yêu cầu chính sách tài chính phải theo kịp với đặc điểm của hoạt
Trang 35động nghiên cứu khoa học, nếu không theo kịp thì đây sẽ là một trở ngại lớn trong hoạt động nghiên cứu khoa học
- Tính mới trong nghiên cứu khoa học là một động lực, tác động làm thay đổi chính sách tài chính, ngay cả trong chính chính sách tài chính cũng phải thay đổi khi hệ thống tài chính, cơ chế vận hành và phương thức, trình
tự, thủ tục tài chính không còn phù hợp với cơ chế quản lý Qua thực tế yêu cầu phải thay đổi chính sách tài chính cho phù hợp Nếu nó không thay đổi thì hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ trì trệ và giẫm chân tại chỗ, gây cản trở cho hoạt động nghiên cứu khoa học Nếu cơ chế chính sách tài chính thay đổi phù hợp với các đặc điểm nghiên cứu khoa học nói chung và tính mới nói riêng thì
sẽ tạo động lực cho hoạt động nghiên cứu phát triển
- Trong trường hợp chính sách tài chính phù hợp với đặc điểm nghiên cứu khoa học, chế độ tài chính thông thoáng, tiến độ cấp phát kinh phí nhanh thì tiến độ triển khai nghiên cứu có thể rút ngắn được thời gian, đưa kết quả vào ứng dụng nhanh nhất trong thực tiễn Mặt khác, tránh được tiếp nhận kết quả từ nước ngoài chuyển vào (vì cùng thời gian này họ cũng có những nghiên cứu giống ta), nâng cao năng lực nghiên cứu của các tổ chức khoa học trong nước Chính sách tài chính thông thoáng sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức KH&CN, các cá nhân nghiên cứu khoa học có thể sống và phát triển bằng kết quả lao động sáng tạo của mình, từ đó, kích thích lao động sáng tạo,
đề xuất được nhiều vấn đề nghiên cứu mới hơn
- Một chính sách tài chính thiếu thông thoáng, minh bạch thì sẽ làm ảnh hưởng đến nhân lực cho nghiên cứu: người có tài năng thì ít muốn làm khoa học, họ sẽ lao vào làm kinh tế nhiều hơn
- Một đặc điểm quan trọng trong quan hệ giữa chính sách tài chính với tính mới là khi chính sách tài chính phù hợp và được cấp phát một cách kịp thời thì việc triển khai nghiên cứu có hiệu quả, nói một cách khác là tính mới trong nghiên cứu được đảm bảo Ngược lại nếu không phù hợp, không kịp thời thì sẽ bỏ lỡ cơ hội nghiên cứu, bỏ lỡ cơ hội làm chủ kết quả nghiên cứu khi mà các nơi khác cũng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học Người
Trang 36ta sẽ nghiên cứu và làm chủ kết quả nghiên cứu trước ta, khi đó chúng ta phải
đi mua của họ, như vậy sẽ tốn kém rất nhiều so với cái chúng ta nghiên cứu
và làm chủ được Mất khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực làm
chủ và không có khả năng nâng cao thu nhập và việc làm cho đội ngũ nghiên
cứu khoa học
- Một nghiên cứu đạt được kết quả khi kinh phí được cấp đủ, cấp đúng
thời điểm Thời gian thực hiện không kéo dài và đảm bảo tiến độ cấp phát và
giải ngân kinh phí kịp thời
Thực tế trong hoạt động KH&CN tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn
2000-2010, cho chúng ta kết luận rằng, giữa nhu cầu cần thực hiện đề tài/dự án với
nhu cầu kinh phí hằng năm không tương xứng, trong khi nhu cầu cần thực
hiện thì nhiều mà đáp ứng kinh phí để thực hiện thì ít, nghĩa là việc đề ra ý tưởng nghiên cứu thì nhiều mà cơ chế chính sách tài chính không đáp ứng
được, còn thiếu nguồn kinh phí để thực hiện, còn đầu tư dàn trãi, thủ tục còn
rườm rà Như vậy tính mới có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách tài chính kết
quả này được thể hiện ở Bảng 2.1 và Bảng 2.2 dưới đây
Bảng 2.1: Số lượng đề tài/dự án cấp tỉnh đăng ký và được thực hiện từ năm
Trang 37Bảng 2.2: Số lượng đề tài/dự án cấp huyện đăng ký và được thực hiện từ năm
(Nguồn: Sở KH&CN tỉnh Đồng Nai từ năm 2000-2010)
Qua khảo sát: có 25/59 phiếu trả lời cần phân bổ kinh phí cho hoạt
động KH&CN đúng theo tinh thần Nghị quyết TW2 là 2% tổng chi ngân sách
và có 33/59 phiếu trả lời cần có Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân tỉnh ưu
tiên dành kinh phí cho hoạt động KH&CN cấp huyện (để Hội đồng nhân dân cấp huyện bố trí kinh phí cho hoạt động KH&CN cấp huyện) Như vậy, trên
cơ sở khảo sát, chúng ta có thể thấy rằng nguồn kinh phí dành cho hoạt động
KH&CN cấp huyện là không có và cũng không bố trí kinh phí dành cho hoạt
động khoa học và công nghệ cấp huyện là 2% tổng chi ngân sách Do đó,
chúng ta có thể khẳng định rằng chính sách tài chính vĩ mô ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động KH&CN cấp huyện, nhất là ảnh hưởng đến hoạt động nghiên
cứu khoa học
Mặt khác, cũng thông qua các báo cáo hằng năm của Sở KH&CN tỉnh
Đồng Nai thì ngân sách hằng năm do Bộ KH&CN phân bổ và tỉnh cấp cho
hoạt động KH&CN tỉnh Đồng Nai chưa đến 1% tổng chi ngân sách Từ bảng
2.1 và 2.2 chúng ta có thể khẳng định rằng với mức phân bổ <1% tổng chi
Trang 38ngân sách thì không thể thực hiện được nhiều đề tài, dự án kể cả cấp tỉnh và cấp huyện
Ở Việt Nam hiện nay, cơ chế chính sách tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học đang bị hành chính hóa, mọi định mức, chế độ, thủ tục đều phải thông qua hệ thống hành chính, gây cản trở cho các nhà khoa học, các nhà khoa học phải nói dối, dự toán thành nhiều nội dung, phải bỏ nhiều công sức
để chế biến chứng từ thanh quyết toán, gây lãng phí về chất xám và thời gian (dành 30% cho việc làm thủ tục thanh quyết toán) của các nhà khoa học Đặc biệt là nhiều công trình nghiên cứu không đưa được vào ứng dụng trong thực tiễn
Việc cấp phát kinh phí cho hoạt động nghiên cứu trong thời gian qua chưa được đầu tư đúng mức (là đầu tư đủ cho người nghiên cứu có thể hoàn thành các nội dung nghiên cứu một cách tốt nhất, có thể từ khi nghiên cứu đến khi ra sản phẩm cuối cùng và được thương mại hóa sản phẩm), đúng trọng tâm, trọng điểm (là việc gì cần đầu tư thì phải đầu tư đúng định hướng, và làm cho đến nơi đến chốn và đầu tư đúng mức), đầu tư kinh phí còn mang tính cào bằng (phân bổ kinh phí dành cho các tỉnh gần như đồng đều, trừ Thành phố
Hồ Chí Minh và Thành phố Hà Nội là có mức phân bổ cao hơn các tỉnh, thành khác trong cả nước), dàn trãi (nghĩa là không phân bổ vốn nghiên cứu khoa học nhỏ lẽ theo kiểu năm này qua năm khác, đầu tư nhiều nội dung, mỗi năm một ít, gây lãng phí và hiệu quả không cao, ảnh hưởng đến tính rủi ro và tính mới trong nghiên cứu khoa học)
Theo Bộ trưởng Bộ KH&CN, Nguyễn Quân trả lời trên báo điện tử thì trong thời gian tới, Chính phủ sẽ chỉ đạo cho Bộ KH&CN, Bộ Tài chính tham mưu trình Chính phủ cơ chế chính sách tài chính làm sao tránh được bệnh hành chính hóa trong khoa học, xem kết quả, hiệu quả nghiên cứu để trả thù lao nghiên cứu xứng đáng, đặc biệt là làm sao để người nghiên cứu khoa học phải sống được bằng kết quả nghiên cứu của mình, tập trung nghiên cứu chuyên sâu
Trang 39Đầu tư cho KH&CN hạn hẹp, thiếu tập trung vào lĩnh vực trọng điểm
và không đồng nhất đã dẫn đến cơ sở hạ tầng yếu kém, hiệu quả đầu tư thấp Chưa kể, theo nhiều nhà khoa học, công tác quản lý tài chính vẫn còn nặng về hành chính Dự toán chi ngân sách hàng năm Chính phủ giao cho các ban chủ nhiệm chương trình, nhưng thực tế ban chủ nhiệm không được quyền quyết định dự toán và phân bổ kinh phí cho các đề tài, mà phụ thuộc vào cơ quan quản lý nhà nước Do vậy, việc phân bổ dự toán chi ngân sách hàng năm thường bị chậm Việc thanh quyết toán đề tài, dự án vẫn chưa được “thoáng”, vẫn đòi hỏi đầy đủ chứng từ, khiến nhiều nhà khoa học “nản”
Nghị định 119/1999/NĐ-CP quy định về một số chính sách về cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ Thông tư Hướng dẫn chưa đáp ứng được hoạt động thực tế của địa phương (do các văn bản chỉ thể hiện cấp Trung ương, chưa cụ thể hóa cấp tỉnh, cấp huyện)
Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định về cơ chế tự chủ các tổ chức KH&CN đến năm 2010 Xét thấy các đơn vị sự nghiệp của tỉnh chưa đủ mạnh, do đó đề nghị Chính phủ cho kéo dài thời gian thực hiện và điều chỉnh đối tượng thực hiện nghị định này
Về kinh phí đầu tư phát triển KH&CN, trong những năm qua, nguồn kinh phí cũng như việc tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế ( do chưa có sự phối hợp giữa các Bộ, ngành có liên quan: Bộ Tài chính, Bộ KH&CN, Bộ KH&ĐT) Hiện tại, vấn đề này do ngành Kế hoạch và Đầu tư thực hiện
Thông tư Liên tịch 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 07/5/2007 của liên Bộ Tài chính- Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn định mức xây dựng
và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ
có sử dụng ngân sách nhà nước Theo ý kiến của các tổ chức KH&CN và nhà khoa học, thì có một số điểm hiện nay quá lỗi thời và chưa phù hợp, Liên Bộ nên xem xét điều chỉnh hoặc có Thông tư mới thay thế (các định mức khoán công lao động cho cán bộ kỹ thuật, lao động đơn thuần…)
Trang 40Cơ chế quản lý tài chính trong các hoạt động KH&CN hiện nay theo hình thức khoán chi được quy định tại Thông tư 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN và xây dựng tiêu chuẩn, định mức theo Thông tư 44/2007/TTLT/BTC-BKHCN còn một số vướng mắc sau đây:
- Muốn khoán được thì phải dựa trên dự toán được tính đúng, tính đủ các chi phí chính Tuy nhiên, hiện nay trong nội dung dự toán còn nhiều khoản kinh phí chưa được tính như lương cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý, giám sát đánh giá, đoàn ra - đoàn vào và chi phí dự phòng
- Dự toán phải căn cứ vào hệ thống tiêu chuẩn, định mức chuyên ngành sát với thực tế Tuy nhiên, do các định mức kinh tế - kỹ thuật để xây dựng các
dự toán hiện nay không linh hoạt, không được xây dựng gắn với giá thị trường của từng chuyên ngành kỹ thuật cụ thể nên ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện các nhiệm vụ KH&CN
- Ngoài ra, ngay cả đối với những phần đã được khoán theo định mức trong dự toán, quy định hiện hành vẫn yêu cầu các tổ chức KH&CN giao nộp hóa đơn chứng từ để hoàn thiện thủ tục thanh toán Đây là thủ tục hình thức rườm rà, không cần thiết, gây lãng phí thời gian và nguồn lực
Hiện nay, phần lớn hoạt động KH&CN được giao theo hình thức đề tài Các đề tài có thể kéo dài, nhưng trong nhiều trường hợp là đề tài hàng năm Thời gian quyết toán phụ thuộc vào năm ngân sách, đề tài phải hoàn tất vào cuối năm Trong thực tế, có nhiều nhiệm vụ KH&CN, nhất là với các đề tài nghiên cứu ứng dụng, mục tiêu cuối cùng phải là sản phẩm KH&CN (một giống mới, mẫu máy mới, quy trình canh tác mới ) Như vậy, việc giao nhiệm vụ và nghiệm thu dựa trên sản phẩm KH&CN phù hợp hình thức đề tài, báo cáo khoa học thuần tuý Thủ tục thanh quyết toán không nên tập trung vào giám sát chứng từ hóa đơn và các khoản chi phí đầu vào, mà cần đánh giá đúng hiệu quả, chất lượng sản phẩm đầu ra Ngoài ra, thời gian thực hiện nhiệm vụ khoa học tuỳ thuộc vào mùa vụ nông nghiệp, không nhất thiết phải kết thúc vào cuối năm tài chính