Thực tế hiện nay có nhiều tổ chức khoa học và công nghệ trong đó có nhiều trường đại học chưa thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình mà biểu hiện dễ nhìn thấy nhất là các nhà trường c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội-2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ GẤM
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TỔ CHỨC
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐẠI HỌC KỸ THUẬT LÊ QUÝ ĐÔN)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Quản lý KH&CN
Mã số: 60 34 72
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Ngọc Thanh
Hà Nội-2011
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do nghiên cứu .5
2 Lịch sử nghiên cứu .7
3 Mục tiêu nghiên cứu .8
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát .9
6 Vấn đề nghiên cứu .9
7 Giả thuyết nghiên cứu .9
8 Phương pháp chứng minh luận điểm .9
9 Kết cấu của luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
Chương 1 TỔ CHỨC KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ VÀ VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI 11
1.1 Tổ chức khoa học và công nghệ 11
1.1.1 Khái niệm tổ chức 11
1.1.2 Khái niệm tổ chức khoa học và công nghệ 12
1.2 Trách nhiệm xã hội 15
1.2.1 Khái niệm trách nhiệm 15
1.2.2 Trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tập thể, trách nhiệm tổ chức 17
1.2.3 Khái niệm trách nhiệm xã hội 19
1.2.4 Các khía cạnh và các nhóm vấn đề liên quan của trách nhiệm xã hội.24 1.2.5 Đặc trưng trong trách nhiệm xã hội của tổ chức khoa học và công nghệ 30
1.2.6 Lợi ích của trách nhiệm xã hội 36
Chương 2: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA ĐẠI HỌC KỸ THUẬT LÊ QUÝ ĐÔN 40
2.1 Tổng quan về Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn 40
2.2 Trách nhiệm xã hội của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn: bản chất và quá trình thực hiện 42
2.2.1 Bản chất trách nhiệm xã hội của đại học kỹ thuật Lê Quý Đôn 42
2.2.2 Trách nhiệm xã hội trong công tác đào tạo 42
Trang 42.2.3 Trách nhiệm xã hội trong hoạt động khoa học và công nghệ 50 2.2.4 Trách nhiệm xã hội trong công tác hậu cần, hành chính 61 2.2.5 Trách nhiệm xã hội trong các chính sách đối với cán bộ, giảng viên, học viên 67 2.2.6 Chính sách hậu cần, hậu phương quân đội và các hoạt động từ thiện, phúc lợi xã hội 70
3.1 Ảnh hưởng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với hoạt động của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn 74
3.1.1 Thu hút lượng lớn thí sinh có chất lượng tham gia dự thi và học tập tại Trường 74 3.1.2 Sự tín nhiệm của đơn vị sử dụng sản phẩm đào tạo và nghiên cứu khoa học và các đối tác trong và ngoài nước 77 3.1.3 Thu hút và phát huy năng lực đội ngũ nhân lực khoa học chất lượng cao 79
3.2 Khuyến nghị nhằm thực hiện tốt hơn trách nhiệm xã hội của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn 83
3.2.1 Xây dựng văn hóa tổ chức, văn hóa quản lý phù hợp với giai đoạn mới 83 3.2.2 Quan tâm đến hệ đào tạo dân sự nhiều hơn 84 3.2.3 Đẩy mạnh việc xây dựng, chuyển đổi việc đào tạo của Nhà trường theo học chế tín chỉ, phù hợp với xu hướng giáo dục trên thế giới và đáp ứng yêu cầu thực tiễn 85 3.2.4 Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính hơn nữa 85 3.2.5 Làm phong phú, đa dạng các hình thức sinh hoạt của các tổ chức quần chúng 86 3.2.6 Khai thác phòng thí nghiệm hiệu quả hơn nữa 87 3.2.7 Tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học với các đối tác trong và ngoài nước 87 3.2.8 Tăng lượng đầu sách, tài liệu tham khảo phục vụ nhu cầu học tập của học viên 88 3.2.9 Tăng cường các hoạt động hỗ trợ trong hoạt động nghiên cứu khoa học 88
Trang 5PHẦN KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Xếp loại tốt nghiệp đối với kỹ sư quân sự và kỹ sư dân sự (%)
2 Bảng 2.2: Các công trình nghiên cứu khoa học của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn (2006-2010)
3 Bảng 2.3: Doanh thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn (2003-2008)
4 Bảng 2.4: Các mức hỗ trợ đăng báo cho cán bộ, giảng viên của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn
5 Bảng 2.5: Phân bổ cho các quỹ của Nhà trường từ nguồn thu các hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ (%)
6 Bảng 3.1: Số lượng người dự thi và nhập học hệ đại học vào Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn giai đoạn 2003 - 2008
7 Bảng 3.2: Số lượng đề tài nghiên cứu của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng viên Nhà trường giai đoạn 2003-2008
8 Bảng 3.3: Số lượng đề tài nghiên cứu các cán bộ tham gia đảm nhiệm (2003-2008)
9 Bảng 3.4: Số lượng bài báo đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước của cán bộ nghiên cứu Nhà trường (2003 -2008)
10 Bảng 3.5: Doanh thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn (2003-2008)
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Trong bối cảnh hiện nay, khoa học và công nghệ đang phát triển như vũ bão tạo nên những công cụ đắc lực làm cho sức mạnh con người được nhân lên gấp bội, mang lại nhiều thành tựu lớn cho đời sống con người, nhưng bên cạnh đó cũng đem lại nhiều thách thức và mối đe dọa như tình trạng phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng giữa các quốc gia đang tiếp tục gia tăng mạnh hơn, khủng hoảng sinh thái đang là nguy cơ đe dọa sự sống còn của loài người Kinh tế thị trường đang có những tác động đa chiều đến các quốc gia và đời sống của con người Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ngày càng lan rộng và trở nên nghiêm trọng hơn Nhân loại đang đứng trước những nguy cơ lớn về khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực, trái đất ấm lên do hiệu ứng khí thải Tất cả các hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về trách nhiệm xã hội của Chính phủ, của các tổ chức chính trị - xã hội, của doanh nghiệp, của người dân và xã hội dân sự
Trong khi đó, một trong những vấn đề có tính sống còn hiện nay đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, đó là làm thế nào để xây dựng một xã hội phát triển bền vững Một trong những yếu tố góp phần xây dựng xã hội phát triển bền vững, đó là giải quyết tốt vấn đề trách nhiệm xã hội Chính vì vậy, vấn đề trách nhiệm xã hội hiện nay đang được đề cao trên tất cả các phương diện, các lĩnh vực, các cấp độ của chủ thể
xã hội và của nền văn minh nhân loại
Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, ở nước ta, trách nhiệm xã hội cần được xem như là một trong những động lực của sự phát triển xã hội Nâng cao trách nhiệm xã hội trong mọi lĩnh vực, ở mọi khía cạnh là một đòi hỏi bức thiết của xã hội hiện đại để có thể phát triển nhanh, mạnh và bền vững Vai trò của trách nhiệm xã hội
đã được xã hội nhận thấy và ngày càng quan tâm, chú ý, coi trọng, tuy nhiên không phải ai, tổ chức nào cũng hiểu biết được đầy đủ về nó, cũng như các hướng dẫn thực hiện để đưa tổ chức mình vào thực hiện một cách quy củ, bài bản Những thông tin cũng như hướng dẫn thực hiện trách nhiệm xã hội đối với mọi loại hình tổ chức cần được đề cập đến nhiều hơn để các tổ chức này dễ dàng tiếp cận và biết cách thực hiện đối với tổ chức của mình
Ở nước ta, trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp đã được đề cập đến khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng đặc biệt là mạng internet Các doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến vấn đề trách nhiệm xã hội một cách thực sự vì nó ảnh
Trang 8hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh cũng như lợi nhuận của họ Hiện nay, trên thế giới, có những thị trường yêu cầu vấn đề trách nhiệm xã hội là bắt buộc đối với các doanh nghiệp Khi có các bằng chứng chứng thực doanh nghiệp này thực hiện đúng quy định về trách nhiệm xã hội thì họ mới cho phép hàng hóa của doanh nghiệp lưu hành trên thị trường Nếu doanh nghiệp nào bị phát hiện ra là làm ăn không có trách nhiệm xã hội thì sẽ dễ dàng bị các đối tác, người tiêu dùng và toàn thể
xã hội tẩy chay Chính vì vấn đề trách nhiệm xã hội đang ngày càng tác động trực tiếp
và mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động cũng như lợi nhuận của các doanh nghiệp như vậy nên các doanh nghiệp đang ngày càng quan tâm và thực hiện tốt hơn vấn đề này để mang lại sự phát triển bền vững cho bản thân mình và cho toàn xã hội
Vấn đề trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở nước ta đã được quan tâm như vậy, nhưng đối với các tổ chức khoa học và công nghệ thì vấn đề này chỉ mới được bàn đến khá ít Trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng internet, các tài liệu, sách tham khảo, chúng ta có thể dễ dàng tra cứu và bắt gặp những thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhưng với các tổ chức khoa học và công nghệ thì dường như chưa có hoặc có rất ít Phải chăng các tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam không cần quan tâm và thực hiện trách nhiệm xã hội? Hay là các tổ chức này đã thực hiện rất tốt nên không cần bàn tới nữa? Thực tế hiện nay có nhiều tổ chức khoa học và công nghệ trong đó có nhiều trường đại học chưa thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình mà biểu hiện dễ nhìn thấy nhất là các nhà trường cung cấp sản phẩm đào tạo chất lượng thấp, không đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Điều đó không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến danh tiếng, thương hiệu của các tổ chức, các nhà trường
mà còn gây lãng phí các nguồn lực và ảnh hưởng xấu, lâu dài đến xã hội Trong nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa hiện nay, nếu các trường đại học không khẳng định được uy tín, chất lượng và lấy được niềm tin của người học thì sẽ không thể cạnh tranh được với các trường ở nước ngoài và sẽ dễ dàng bị mất một lượng lớn học sinh, sinh viên đi du học thay vì chọn hình thức học tập trong nước Điều đó đặt ra một yêu cầu bức thiết hiện nay là các trường đại học cần phải thực hiện trách nhiệm xã hội tốt hơn
để phát huy hiệu quả của các nguồn lực, tạo sự phát triển bền vững cho mình cũng như đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội
Với những suy nghĩ, băn khoăn như vậy, tác giả muốn đi tìm hiểu, nghiên cứu bản chất của trách nhiệm xã hội, vai trò, ý nghĩa của nó đối với các tổ chức, đối với sự phát triển của xã hội đặc biệt là trách nhiệm xã hội của các tổ chức khoa học và công
Trang 9nghệ trong đó chú trọng đến trách nhiệm xã hội của trường đại học với trường hợp nghiên cứu là Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề trách nhiệm xã hội đã được thế giới quan tâm và đề cập đến trong một khoảng thời gian khá dài Vào thập niên 70 của thế kỷ XX, trên thế giới đã bắt đầu xuất hiện thuật ngữ trách nhiệm xã hội cũng như những nội dung liên quan đến nó Các nước phát triển quan tâm đến vấn đề này sớm hơn và chú ý thực hiện tốt hơn Ban đầu, các khía cạnh, vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội đề cập đến còn ít và khá đơn giản như việc làm từ thiện của các tổ chức, giúp đỡ những người nghèo khó, gặp hoạn nạn Xã hội càng phát triển thì các vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội càng được mở rộng hơn, càng sâu sắc hơn Nó không chỉ là những vấn đề liên quan đến phúc lợi xã hội nữa mà nó tập trung nhiều vào những hoạt động chính của các cá nhân,
tổ chức Một tổ chức có trách nhiệm xã hội hay không sẽ thể hiện trong toàn bộ các quyết định và hoạt động của nó và được thực hiện trong tất cả các mối quan hệ của tổ chức đó với các đối tác hữu quan
Các nước đang phát triển và chậm phát triển thì quan tâm đến vấn đề này muộn hơn Việt Nam cũng mới chỉ quan tâm nhiều đến vấn đề trách nhiệm xã hội trong một
số năm gần đây Khi mà khoa học và công nghệ phát triển vượt bậc, tạo ra nhiều thành tựu cho cuộc sống con người nhưng bên cạnh đó cũng tạo ra rất nhiều mặt tiêu cực mà loài người đang lợi dụng, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường với những mặt tiêu cực của nó đã đẩy nước ta vào nhiều nguy cơ lớn của sự phát triển không bền vững và sự tổn thất nặng nề về kinh tế, môi trường và xã hội thì vấn đề trách nhiệm xã hội bắt đầu được quan tâm và yêu cầu thực hiện gắt gao
Vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây được đề cập đến rất nhiều Trên mạng internet cũng như các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta có thể dễ dàng tìm kiếm được các thông tin liên quan đến các yêu cầu trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp, tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp hiện nay, giải thưởng trách nhiệm xã hội,
Vấn đề trách nhiệm xã hội của các loại hình tổ chức khác thì mới được đề cập, phản ánh đến ít hơn Trên các mạng truyền thông, thông tin về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các tổ chức không phải là doanh nghiệp rất hiếm gặp và nếu có cũng chỉ là những nội dung hết sức chung chung, chưa cụ thể Tại Việt Nam, đã có 2 hội
thảo lớn bàn về vấn đề trách nhiệm xã hội với các chủ đề: “Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội” và “Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị
Trang 10trường” Tháng 10 năm 2007 tại Hà Nội diễn ra cuộc hội thảo với chủ đề “Công bằng
xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội” Từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 2 năm
2009 tại Đồ Sơn, Hải Phòng, Viện Triết học thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam cùng phối hợp với Hội hành động vì sự phát triển con người của Giáo hội Thiên chúa giáo Đức (MISEREOR) và Hội đồng Giám mục Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa
học quốc tế với chủ đề “Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường” – một
chủ đề có ý nghĩa lý luận quan trọng và giá trị thực tiễn đặc biệt to lớn, là một trong những mối quan tâm hàng đầu không chỉ của những nhà hoạt động chính trị, các nhà khoa học, mà của toàn nhân loại, của tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Hội thảo này là sự tiếp tục và phát triển những nội dung đã được đặt ra từ Hội thảo
“Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội” Hội thảo đã tổng hợp
được nhiều bài viết của các độc giả trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được hơn 90 báo cáo khoa học tập
trung vào 4 chủ đề chính về trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường: Trách nhiệm xã hội của nhà nước; Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; Trách nhiệm xã hội của các tổ chức xã hội, và Trách nhiệm xã hội của công dân
Các báo cáo được trình bày trong hội thảo và rất nhiều ý kiến phát biểu thảo luận vấn đề trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường đã được các đại biểu tham dự Hội thảo phân tích từ nhiều góc độ khác nhau: triết học, kinh tế học, luật pháp, đạo đức, lịch sử tư tưởng, giá trị học, xã hội học, tôn giáo, kinh nghiệm nước ngoài,… Có thể nói, gần như tất cả các khía cạnh khác nhau của vấn đề trách nhiệm xã hội đã được xới lên trong Hội thảo này
Nhưng những báo cáo tại hội thảo cũng mới chỉ dừng lại ở việc phân tích chung chung và bàn tới những vấn đề mang tính vĩ mô Những vấn đề cụ thể về trách nhiệm
xã hội của một tổ chức thì lại chưa được bàn luận đến đặc biệt là trách nhiệm xã hội của các trường đại học trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, tác giả muốn đi tìm hiểu một cách thống nhất những vấn đề chính liên quan đến trách nhiệm xã hội: trách nhiệm xã hội là gì? Trách nhiệm xã hội của một tổ chức bao gồm những vấn đề cụ thể nào? Đặc trưng trong trách nhiệm xã hội của tổ chức khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay là gì đặc biệt là của một trường đại học? Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trường hợp Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề trách nhiệm xã hội của tổ chức khoa học và công nghệ
Trang 11- Nhận diện trách nhiệm xã hội của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn
- Phân tích ảnh hưởng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức nói chung, đặc biệt đối với hoạt động khoa học và công nghệ của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
Nghiên cứu thực trạng trách nhiệm xã hội của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn và tác động của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với hoạt động của Nhà trường, đặc biệt là hoạt động khoa học và công nghệ
- Phạm vi thời gian: từ năm 2003 – 2010
5 Mẫu khảo sát
- Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn
Luận văn đã tiến hành khảo sát việc thực hiện trách nhiệm xã hội trên các mặt hoạt động: đào tạo, nghiên cứu khoa học, công tác hậu cần, hành chính và các chính sách đối với cán bộ, học viên của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn
Luận văn tiến hành khảo sát đối với nhóm cán bộ quản lý đào tạo, quản lý khoa học và công nghệ, giảng viên, học viên của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn
6 Vấn đề nghiên cứu
- Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn thực hiện trách nhiệm xã hội như thế nào?
- Việc thực hiện trách nhiệm xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả các hoạt động nói chung đặc biệt là hoạt động khoa học và công nghệ của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn luôn quan tâm và cố gắng đáp ứng tốt nhất những nhu cầu, quyền lợi chính đáng của các bên liên quan, luôn sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đạt kết quả cao nhất trong các hoạt động, tích cực tham gia phát triển cộng đồng và góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội
- Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội đã tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn, làm cho lực lượng cán bộ, nhân viên thêm yêu nghề và gắn bó với đơn vị, thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, trong đó có hoạt động khoa học và công nghệ và tạo được niềm tin tưởng, mong muốn hợp tác của các bên liên quan
8 Phương pháp chứng minh luận điểm
Trang 12- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích, thống kê, tổng hợp tài liệu sơ
cấp và tài liệu thứ cấp (kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đi trước) có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thực tế: Tác giả luận văn tìm hiểu thực trạng thực hiện
trách nhiệm xã hội tại Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn, thu thập, thống kê, tổng hợp và
xử lý các số liệu liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của Đại học kỹ thuật
Lê Quý Đôn cũng như những tác động của việc thực hiện này đối với hoạt động của Nhà trường
- Phương pháp phỏng vấn: Để thu thập thông tin định tính và hiểu sâu hơn về
quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn cũng như những ảnh hưởng của nó đến hoạt động của Nhà trường đặc biệt là hoạt động khoa học
và công nghệ, tác giả luận văn đã tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và cán bộ nghiên cứu của Nhà trường cũng như các bên có liên quan đến các quyết định và hoạt động của Nhà trường
Yêu cầu của phỏng vấn sâu: Mỗi cuộc phỏng vấn sâu đều có bảng hỏi phát
trước cho từng đối tượng Tác giả luận văn trực tiếp phỏng vấn sâu
- Phương pháp so sánh: Tác giả tiến hành so sánh các hoạt động của Đại học
Kỹ thuật Lê Quý Đôn với hoạt động của các tổ chức khác để thấy rõ được việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của Nhà trường
9 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của Luận văn bao gồm các phần sau:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: gồm có 3 chương:
+ Chương 1: Tổ chức khoa học và công nghệ và vấn đề trách nhiệm xã hội + Chương 2: Trách nhiệm xã hội của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn
+ Chương 3: Tác động của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với hoạt động của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn
- Phần kết luận
Trang 13PHẦN NỘI DUNG Chương 1 TỔ CHỨC KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ VÀ VẤN ĐỀ
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI 1.1 Tổ chức khoa học và công nghệ
1.1.1 Khái niệm tổ chức
Xuất phát từ thuật ngữ organon cho nên nhiều khi tổ chức được định nghĩa hết sức đơn giản
“Tổ chức là công cụ thực hiện mục tiêu” [45, tr 1]
Định nghĩa này thật đơn giản nhưng đột phá vào sự thần bí của tổ chức vốn tồn tại nhiều thập kỷ, với sự kín đáo, kém cởi mở tới mức công việc tổ chức như là việc riêng của ai đó chứ không phải việc chung của cộng đồng, mang đầy sự bí hiểm, ai nắm được điều bí hiểm đó sẽ làm chủ thực sự
Theo ngôn ngữ thông thường:
“Tổ chức được xem như tập hợp của nhiều người, nhiều nhóm người nhằm thực hiện một mục tiêu chung mà nếu chỉ một người hay một nhóm người không thực hiện được” [45, tr 1]
Cách hiểu tổ chức như vậy cũng vẫn còn đơn giản và nhiều khi còn gây ra tranh cãi, đặc biệt trong giới khoa học Tổ chức là nơi có nhiều cá nhân tập hợp lại, liên kết lại để cùng nhau thực hiện một mục tiêu chung nào đó Mục tiêu đó nếu các cá nhân đứng riêng lẻ thì sẽ không thể thực hiện được Tổ chức giúp nhân sức mạnh của con người lên gấp bội để thực hiện những mục tiêu chung cao cả
Trong khoa học tổ chức thì:
“Tổ chức là một thực thể xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm kết hợp để thực hiện mục tiêu chung, có 3 đặc trưng cơ bản ngang nhau:
- Tổ chức được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng đồng
- Có cấu trúc phân công lao động nghĩa là mọi người tham gia tổ chức không phải đều được nhận việc như nhau mà được giao những việc phù hợp với yêu cầu của
tổ chức, trình độ và năng lực cá nhân Tổ chức càng phát triển thì phân công lao động càng triệt để
- Có một ban quản lý: Ban quản lý có bổn phận đại diện cho cộng đồng với công việc trong và ngoài tổ chức Ban quản lý chịu trách nhiệm đảm bảo sự điều phối
và thực hiện mục tiêu của tổ chức” [45, tr 1]
Các tổ chức được phân thành 2 loại dựa trên: tính năng động, mềm dẻo hay cứng nhắc của cơ cấu, của chính sách, thủ tục, phong cách hoạt động, sự kiểm soát và
Trang 14thậm chí cả triết lý và chủ thuyết của chúng Những tổ chức nào thể hiện chi li, chi tiết các quyền lực với quan hệ đẳng cấp, những thủ tục làm việc với phương pháp cứng nhắc thì được liệt vào loại tổ chức cơ học Những tổ chức có tính thích ứng cao hơn về
cơ cấu của chúng, về các thủ tục, phương pháp và chính sách thì được xếp vào loại tổ chức hữu cơ Trong khi những tổ chức được xây dựng trên các nguyên tắc truyền thống đều rơi vào loại cơ học thì các tổ chức hiện đại thường được hình thành theo lý thuyết tổ chức hữu cơ Gần đây với sự phát triển của công nghệ thông tin thì dần hình thành những loại hình tổ chức mới mà người ta tạm gọi là tổ chức ảo
1.1.2 Khái niệm tổ chức khoa học và công nghệ
Tổ chức khoa học và công nghệ có thể được định nghĩa như sau:
“Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ và pháp luật có liên quan để tiến hành hoạt động khoa học và công nghệ” [45, tr 29]
Để tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ thì các tổ chức khoa học và công nghệ phải nắm rõ mục tiêu và nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước, của ngành và đơn vị mình
Mục tiêu của hoạt động khoa học và công nghệ là xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản
lý, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người mới, góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh
Nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động khoa học và công nghệ là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và vận dụng vào thực tế khoa học về xã hội
và nhân văn để xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách, luật pháp và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần làm giàu kho tàng văn hóa khoa học của thế giới;
- Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ để làm chủ và sáng tạo công nghệ;
- Tiếp thu các thành tựu khoa học và công nghệ và thực hiện chuyển giao công nghệ tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao
Hoạt động khoa học và công nghệ phải tuân theo những nguyên tắc nhất định
- Hoạt động khoa học và công nghệ phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh;
Trang 15- Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của đất nước, tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới phù hợp với thực tiễn của đất nước;
- Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn, gắn khoa học với công nghệ và công nghệ với giáo dục và đào tạo;
- Phát huy khả năng lao động và sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân;
- Trung thực, khách quan đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ,
tự chủ
Trong thực tiễn hiện nay có rất nhiều kiểu phân loại tổ chức khoa học và công nghệ khác nhau tùy theo tiêu chí, mục tiêu đã định Thông thường có một số cách phân loại sau:
- Phân loại theo lĩnh vực khoa học và công nghệ, có thể chia thành các loại sau: + Khoa học tự nhiên
+ Khoa học kỹ thuật
+ Khoa học xã hội và nhân văn
+ Khoa học nông nghiệp
+ Khoa học y, dược học
- Phân loại theo các hoạt động khoa học và công nghệ, có 3 hoạt động khoa học
và công nghệ chính đó là: Nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ và dịch vụ khoa học và công nghệ, tương ứng với 3 loại hình hoạt động là các loại hình tổ chức khoa học và công nghệ
- Phân loại theo chủ thể sở hữu:
+ Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc khu vực Nhà nước
+ Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc khu vực tư nhân
+ Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc khu vực tập thể
+ Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc khu vực đa quốc gia
- Phân loại theo Luật Khoa học và công nghệ của Việt Nam, có các loại hình tổ chức khoa học và công nghệ sau:
+ Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển);
+ Trường đại học, học viện, trường cao đẳng (sau đây gọi chung là trường đại học) ;
+ Các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ
Trang 16Như vậy, chúng ta thấy rằng có thể có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các
tổ chức khoa học và công nghệ nhưng theo cách phân loại của Luật Khoa học và Công nghệ thì mang tính khái quát và vẫn thể hiện được các hoạt động khoa học và công nghệ
Các tổ chức khoa học và công nghệ sẽ thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ Đội ngũ nhân lực trong các tổ chức này là những người có trình độ cao, được đào tạo bài bản, chuyên sâu về lĩnh vực chuyên môn
Một trong các loại hình tổ chức khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay là trường đại học Đây là một loại hình tổ chức khoa học và công nghệ đóng góp rất lớn vào sự phát triển của các quốc gia, của xã hội loài người Các trường đại học không chỉ góp phần tạo ra nguồn lao động chất lượng cao cho xã hội ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề mà đó cũng là đầu mối của nhiều công trình nghiên cứu tạo ra sản phẩm ứng dụng vào thực tiễn để nâng cao đời sống con người Đây cũng là loại hình tổ chức khoa học và công nghệ có rất nhiều đặc trưng riêng
Trường đại học là nơi đào tạo nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao cho xã hội Nhiệm vụ đào tạo của trường đại học là phải đào tạo chất lượng cao, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của xã hội Các trường đại học không chỉ đào tạo những con người giỏi về chuyên môn mà còn phải có phẩm chất đạo đức tốt, những con người vừa hồng, vừa chuyên
Như chúng ta đã biết, một trong ba nhiệm vụ chính của các trường đại học là nghiên cứu khoa học Điều này đúng ở tất cả các nền giáo dục đại học và được thể hiện ở chỗ các trường đại học không chỉ là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
mà còn là trung tâm nghiên cứu khoa học, sáng tạo tri thức mới, sử dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ Trường đại học là nơi tập trung đội ngũ cán bộ trình độ cao (giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ), giàu tiềm năng chất xám và được trang bị cơ sở vật chất, thư viện, phòng thí nghiệm hiện đại để triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học Giảng viên đại học đồng thời là nhà nghiên cứu, vừa hoạt động giảng dạy vừa hoạt động nghiên cứu Hai hoạt động này có tác dụng tương hỗ với nhau, bổ sung lẫn nhau tạo nên kết quả tổng hợp là nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng nghiên cứu, xác định vai trò quan trọng của trường đại học trong phát triển giáo dục, phát triển kinh tế -
xã hội
Các nhiệm vụ chủ yếu trong hoạt động khoa học và công nghệ của trường đại học bao gồm:
Trang 17- Thực hiện các đề tài, dự án thuộc các chương trình khoa học và công nghệ, các chương trình khoa học xã hội và nhân văn cấp Nhà nước; các đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm độc lập cấp Nhà nước, các đề tài hợp tác với nước ngoài theo Nghị định thư, các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp cơ sở và các hoạt động khoa học và công nghệ khác (thông tin khoa học, sở hữu trí tuệ, hội nghị, hội thảo khoa học, sinh viên nghiên cứu khoa học )
- Gắn kết quả nghiên cứu khoa học với đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học; liên kết giữa các trường đại học, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp trong việc phục vụ sản xuất và đời sống
- Nghiên cứu ứng dụng, triển khai các thành tựu khoa học và công nghệ phục
vụ phát triển giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chú trọng các ứng dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phòng chống thiên tai
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đã có những bước phát triển mới cả về lượng và chất, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các trường đại học đã
có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của ngành giáo dục và đào tạo và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh đó, hiện nay vẫn còn nhiều trường đại học chưa nghiêm túc trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, chất lượng đào tạo còn thấp, sản phẩm đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn Điều đó đang đặt ra một yêu cầu cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của các trường đại học để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội
1.2 Trách nhiệm xã hội
1.2.1 Khái niệm trách nhiệm
Trách nhiệm (responsibility) là một khái niệm rất rộng và được nhiều khoa học
cùng nghiên cứu Trong thực tế hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về trách nhiệm tùy theo cách tiếp cận cũng như mục đích sử dụng
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 4, trách nhiệm được hiểu như sau:
Trang 18“Trách nhiệm là khái niệm của ý thức đạo đức và ý thức pháp luật, nói lên nhân cách con người trong việc thực hiện nghĩa vụ do xã hội đặt ra cho con người” 1
Nội dung vấn đề trách nhiệm đặt ra là: con người hoàn thành và hoàn thành đến mức độ nào, hoặc không hoàn thành những yêu cầu xã hội đặt ra cho họ Theo khái niệm này thì trách nhiệm thuộc về khía cạnh đạo đức và pháp luật Con người có trách nhiệm thì phải hoàn thành các nghĩa vụ do xã hội đặt ra Trách nhiệm cũng thể hiện nhân cách của con người
Bên cạnh đó còn có khái niệm khác về trách nhiệm:
“Trách nhiệm là sự tương xứng giữa hành động và nghĩa vụ, là hệ quả của tự
do ý chí của con người, là đặc điểm cho hành động có ý thức của con người” 2
Quyền tự do hành động là nguồn gốc của trách nhiệm Chỉ có quyền tự do mới
có thể nói lên trách nhiệm của con người Nếu không có quyền tự do thì không thể có trách nhiệm Quyền tự do và trách nhiệm gắn bó với nhau Nhưng người ta không thể nói mọi hành vi tự do đều là hành vi có trách nhiệm Ngược lại, trách nhiệm đòi hỏi những quy tắc ứng xử Những qui tắc này phải bị chi phối bởi đức tính thận trọng Cách ứng xử thận trọng là đặc điểm của một tổ chức có trách nhiệm Nhưng đó không phải là thận trọng tràn lan, làm tê liệt mọi hoạt động, đó là sự thận trọng đối với người khác, có nghĩa là đối với môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức dù đó là môi trường con người, xã hội, kinh tế, môi sinh hay sinh thái
Con người ngày càng nhận thức được các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội thì năng lực chi phối tự nhiên, xã hội càng lớn và trách nhiệm con người đối với hành vi của mình càng lớn hơn
Theo Từ điển Triết học (Nxb Mátxcơva, 1986):
“Trách nhiệm là phạm trù đạo đức và luật học phản ánh thái độ đạo đức, pháp luật của cá nhân đối với xã hội (đối với nhân loại nói chung) Thái độ này biểu thị ở
sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình và các tiêu chuẩn pháp luật” 3
Khái niệm này cũng như khái niệm trách nhiệm được đề cập đến trong từ điển Bách khoa đều nhấn mạnh đến khía cạnh đạo đức và pháp luật của trách nhiệm Trách nhiệm là phải hoàn thành các nghĩa vụ đạo đức và tiêu chuẩn pháp luật Nếu một cá
Trang 19nhân nào đó không hoàn thành các nghĩa vụ đạo đức hay các tiêu chuẩn pháp luật thì
cá nhân đó chưa thể là người có trách nhiệm được
Luật học xác định các khái niệm trách nhiệm khác nhau, như trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm tài chính và trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tập thể, v.v., kèm theo đó là những quy định chặt chẽ về trách nhiệm bồi thường, các mức phạt cao thấp khác nhau nếu vi phạm Về mặt pháp lý, việc xem xét trách nhiệm cá nhân phải xuất phát từ sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ, quyền càng rộng thì trách nhiệm càng lớn
Như vậy, chúng ta thấy rằng thực tế có nhiều khái niệm trách nhiệm khác nhau
và cũng có nhiều khoa học nghiên cứu về vấn đề này Nhưng tiếp cận theo hướng nào thì chúng ta thấy rằng một cá nhân, một tổ chức có trách nhiệm thì mọi quyết định, hành động đều phải phù hợp với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức, xã hội và pháp luật Trách nhiệm luôn luôn gắn với ý thức của con người và nó thể hiện nhân cách của con người
1.2.2 Trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tập thể, trách nhiệm tổ chức
Khi nói đến trách nhiệm, chúng ta thấy có trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tập thể, trách nhiệm tổ chức
Các cá nhân khi tham gia vào các nhóm, các tổ chức sẽ được phân công những công việc nhất định Các cá nhân này phải luôn luôn có tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và chịu trách nhiệm đối với những kết quả do hành động của mình gây ra Các cá nhân có trách nhiệm là khi họ thực hiện các hành động vì lợi ích của mình thì họ cũng luôn chú ý để hành động đó không xâm phạm đến quyền lợi của người khác, của tổ chức Khi các cá nhân đều có trách nhiệm thì các công việc đều được hoàn thành một cách tốt nhất và an toàn nhất Khi đó mọi cá nhân, mọi tổ chức
và cả xã hội sẽ luôn được đảm bảo an toàn Trách nhiệm cá nhân là cơ sở, là tiền đề cho sự phát triển bền vững
Trách nhiệm cá nhân đề cập đến trách nhiệm của nhà quản lý các tổ chức và
các cá nhân là những thành viên của các tổ chức ấy Mỗi người trong tổ chức, từ nhà quản lý cho đến người nhân viên nhỏ nhất, đều có trách nhiệm giữ đúng quy trình công việc, thực hiện tốt công việc của mình để công đoạn của mình sẽ đóng góp vào sự an toàn cho người khác, cho tổ chức, cho xã hội Khi tất cả các cá nhân trong tổ chức đều
có trách nhiệm thì sẽ giúp chế ngự rủi ro và đó sẽ là tiền đề cho sự phát triển vững mạnh của tổ chức
Trang 20Trách nhiệm của nhóm là một hình thức trách nhiệm tập thể lạc hậu, từ lâu đời Trách nhiệm của nhóm là “chỉ một tình hình trong đó các thành viên của một nhóm chịu hình phạt vì lỗi của một người”[50, tr.202]
Khái niệm này về mặt lịch sử mà nói là loại hình cổ nhất Nó đã tồn tại dưới thời Cổ đại, dưới tên gọi: “hòa bình kiểu Macédoine”: nếu một người sống ở thành phố Athens bị kết án vì tội giết người mà nhận được sự trợ giúp trong một thành phố Macédoine, thành phố Athens có thể bắt tất cả người dân Macédoine đang ở trong thành phố Athens và trừng phạt họ Việc phải trả tiền phạt hộ người khác không bị coi như bất công bởi vì nhóm có quyền lực khá lớn đối với các thành viên của nhóm Người ta biện hộ cho loại hình trách nhiệm này thông qua một “quan niệm hữu cơ về trách nhiệm”: một thành phố có khả năng thống nhất và liên tục như một cơ thể sống
Vì vậy nó không ngừng chịu trách nhiệm và kế tục những tinh hoa của mọi hành động
đã cùng nhau hoàn thành trong quá khứ cũng như trong hiện tại
Trong xã hội hiện đại ngày nay, khi đề cập đến trách nhiệm tập thể chúng ta thường hay đề cập đến trách nhiệm của tổ chức
“Trách nhiệm của tổ chức là việc truy cứu trách nhiệm không nhằm vào các thành viên của tổ chức mà chính bản thân tổ chức đó (cơ quan nhà nước, tổ chức quân
sự, doanh nghiệp,…) được quan niệm như có sự tồn tại khác biệt với các thành viên của nó” [50, tr.206]
Trách nhiệm của tổ chức đòi hỏi một tổ chức có thể chịu trách nhiệm về những hành vi diễn ra nhân danh tổ chức Điều đó đòi hỏi tổ chức là một pháp nhân hay một đoàn thể Tổ chức hoạch định các chính sách chung làm cơ sở cho một số hoạt động cụ thể Tổ chức hành động theo lợi ích riêng của mình độc lập với lợi ích riêng của các nhà quản lý Các cá nhân chỉ là nơi chứa đựng các lý do hành động và chỉ là người thừa hành Chính tổ chức là người chịu trách nhiệm về tinh thần của hành động chứ không phải là người thừa hành Mỗi tổ chức được coi như một cơ thể sống Mọi cơ thể sống đều có khả năng nhận biết mình “khả năng nhận thức được vị trí của mình trong tương quan với thế giới xung quanh trong lĩnh vực lòng tin và giá trị Như vậy, một tổ chức sống luôn luôn tự hỏi về quan hệ giữa hệ thống giá trị của mình và hệ thống giá trị của thế giới bên ngoài Tổ chức này được tạo nên từ những cơ thể sống khác Chất gắn kết tổ chức này chính là văn hóa tổ chức bao gồm toàn bộ các giá trị, lòng tin, cách ứng xử, tập tục là tài sản chung của tất cả các thành viên của tổ chức Nó tạo ra trách nhiệm tập thể nhưng trách nhiệm đó có nguy cơ làm cho các thành viên trong tổ chức rũ bỏ trách nhiệm của mình với tư cách là chủ thể Chính vì vậy trong mỗi tổ
Trang 21chức, bên cạnh trách nhiệm tập thể thì cũng cần quy định rõ ràng trách nhiệm cá nhân của từng thành viên trong các hoạt động để mọi người luôn luôn có tinh thần, trách nhiệm trong công việc của mình
1.2.3 Khái niệm trách nhiệm xã hội
Trên thế giới, thuật ngữ trách nhiệm xã hội được sử dụng rộng rãi vào đầu những năm 1970, mặc dù các khía cạnh khác nhau của trách nhiệm xã hội liên quan đến hành động của các tổ chức và các chính phủ đã có từ khá lâu vào khoảng những năm cuối thế kỷ 19, và thậm chí trong một số trường hợp còn trước đó
Trước đây, trách nhiệm xã hội được đề cập tập trung chủ yếu vào hoạt động
kinh doanh Đối với mọi người, thuật ngữ "trách nhiệm xã hội doanh nghiệp"(Corporate Social Responsibility - CSR) quen thuộc hơn là thuật ngữ "trách nhiệm xã hội" (Social Responsibility) Trách nhiệm xã hội được áp dụng cho tất cả các
tổ chức nổi lên khi các loại hình tổ chức khác nhau nhận ra rằng họ cũng phải có trách nhiệm góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội Các yếu tố trách nhiệm xã hội phản ánh kỳ vọng của xã hội tại một thời điểm cụ thể, và do đó nó có khả năng thay đổi
Trước hết chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu một số khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể được định nghĩa ngắn gọn như:
“Một sự cam kết của công ty trong ứng xử phù hợp với lợi ích của xã hội trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của khách hàng, nhà cung ứng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng, môi trường” 4
Theo đó, trách nhiệm xã hội được coi là một phạm trù của đạo đức kinh doanh,
có liên quan đến mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp được coi là có trách nhiệm xã hội thì nó phải luôn coi trọng lợi ích của những người liên quan và của toàn xã hội Mọi hoạt động của nó đều phải được cân nhắc kỹ lưỡng, phù hợp với lợi ích của các bên liên quan cả trong doanh nghiệp (nhân viên, cổ đông) và ngoài doanh nghiệp (nhà cung ứng, khách hàng, cộng đồng, môi trường) Doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà phải luôn luôn đặt lợi ích của mình bên cạnh lợi ích của các bên liên quan, phải làm sao để đáp ứng được lợi ích của tất cả các bên hay nói một cách khác là các bên luôn luôn cùng nhau chia sẻ lợi ích
4
www.dddn.com.vn, Nguyễn Diệp, Trách nhiệm xã hội – Công cụ phát triển bền vững của doanh nghiệp
28/3/2010
Trang 22Doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội sẽ không bao giờ vì lợi ích của bản thân mà chèn
ép, bỏ qua hay lấy đi lợi ích của các bên liên quan khác Khi thực hiện trách nhiệm xã hội tốt, doanh nghiệp mới có thể phát triển ổn định, lâu dài và góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội
“Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là phương pháp tiến hành tự nguyện có tầm nhìn về phát triển bền vững, kết hợp xã hội và khả năng cạnh tranh” 5
Ở khái niệm này, trách nhiệm xã hội bao gồm những tác động liên quan đến xã hội, môi trường và kinh tế Trách nhiệm xã hội được các doanh nhiệp thực hiện tự nguyện để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình cũng như đóng góp vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và toàn xã hội nói chung Theo khái niệm này thì trách nhiệm xã hội mang tính chất tự nguyện Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, khi xét trách nhiệm xã hội ở khía cạnh luật pháp thì trách nhiệm xã hội không chỉ dừng lại
ở mức độ tự nguyện nữa mà nó bao gồm cả việc bắt buộc tuân theo những quy định của pháp luật hiện hành và tiêu chuẩn quốc tế
Thực tế có khá nhiều định nghĩa khác nhau về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
và một trong các định nghĩa có tính khái quát và được sử dụng phổ biến nhất hiện nay
là định nghĩa do Hội đồng kinh doanh thế giới về Phát triển bền vững (World Business
Council for Sustainable Development) đưa ra:
“Trách nhiệm xã hội là cam kết của công ty đóng góp cho việc phát triển kinh
tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới,
an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng… theo cách có lợi cho cả công ty cũng như phát triển chung của xã hội” 6
Khái quát lên, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đó hành động vì sự phát triển bền vững của xã hội, luôn chăm lo nâng cao đời sống của người lao động, gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội không chỉ đóng góp vào sự phát triển kinh tế mà phải đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội bao gồm cả các khía cạnh tinh thần, văn hóa, xã hội, Doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội phải tuân thủ theo các chuẩn mực được quy định trong các lĩnh vực cụ thể: về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên,
5
www.vietnamforumcsr.net, Diễn đàn trách nhiệm xã hội Việt Nam, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp:
công cụ tạo dựng lợi thế cạnh tranh, 01/01/2007
6
www.vientriethoc.com.vn, Trần Anh Phương, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và thực tiễn vận dụng ở
Việt Nam hiện nay, Tạp chí triết học số 8 năm 2009.
Trang 23phát triển cộng đồng… Trách nhiệm xã hội nó cũng có khía cạnh bắt buộc bên cạnh sự
tự nguyện của doanh nghiệp đó là việc tuân thủ các tiêu chuẩn, quy định của luật pháp hiện hành và các tiêu chuẩn quốc tế
Cụ thể hơn, chúng ta có thể hiểu một doanh nghiệp hiện đại chỉ được xem là có trách nhiệm xã hội khi:
- Doanh nghiệp đó phải đảm bảo hoạt động của mình không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất, hoạt động của mình Đây là một tiêu chí rất quan trọng đối với người tiêu dùng châu Âu hiện nay Họ tẩy chay những sản phẩm mà họ cho là có ảnh hưởng tới môi trường sinh thái như đồ gỗ chẳng hạn vì gỗ chắc chắn được lấy từ rừng, mà phá rừng để lấy gỗ tức là đã làm nguy hại đến môi trường sinh thái của địa phương và toàn cầu
- Doanh nghiệp đó phải biết quan tâm đến người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần Buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo sức lao động của mình là điều hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp đó phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, tức là không được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người
- Doanh nghiệp đó không được phân biệt đối xử về mặt sắc tộc, không được phân biệt đối xử giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ, tức là tổ chức không được từ chối hoặc trả lương thấp vì lý do sắc tộc hoặc vì lý do khiếm khuyết hay lành lặn về mặt cơ thể hay quá khứ của người lao động
- Doanh nghiệp đó phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khỏe người tiêu dùng Những doanh nghiệp chỉ vì lợi nhuận mà bất chấp sức khỏe của người tiêu dùng là những doanh nghiệp không có trách nhiệm xã hội
- Doanh nghiệp đó phải biết dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng, bởi tổ chức luôn tồn tại trong lòng một cộng đồng nào đó nên không thể chỉ biết có bản thân mình
- Doanh nghiệp đó còn phải tham gia việc kiến tạo hòa bình và an ninh của quốc gia cũng như thế giới, tức doanh nghiệp không được dùng một phần doanh thu
Trang 24của mình để tài trợ các cuộc chiến tranh hoặc các hoạt động gây mất an ninh trật tự tại địa phương cũng như trên thế giới
Như vậy chúng ta thấy rằng có khá nhiều khái niệm khác nhau về trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp Các khái niệm có thể được diễn tả khác nhau nhưng về bản chất chúng đều nhấn mạnh đến việc các doanh nghiệp phải quan tâm, chú ý đến những tác động của những quyết định và hành vi của mình đối với các bên liên quan, môi trường và xã hội Các doanh nghiệp phải làm sao để phát huy các tác động tích cực và giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực từ những hoạt động của mình đối với xã hội
Bên cạnh khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được đề cập đến khá nhiều như vậy thì khái niệm trách nhiệm xã hội nói chung dùng cho mọi loại hình tổ chức thì mới được đề cập đến khá ít Một khái niệm chính thống và chuẩn mực nhất về trách nhiệm xã hội mới được đưa ra trong ISO 26000 ban hành ngày 1/11/2010
ISO 26000:2010 đã đưa ra một hướng dẫn cụ thể hơn về trách nhiệm xã hội cho mọi loại hình tổ chức ở tất cả các lĩnh vực với những quy mô khác nhau Theo tiêu chuẩn quốc tế này thì trách nhiệm xã hội được định nghĩa như sau:
“Trách nhiệm xã hội của tổ chức là trách nhiệm của tổ chức đó đối với những tác động của các quyết định và hoạt động của nó đối với xã hội và môi trường, thông qua hành vi minh bạch và có đạo đức mà:
- Góp phần vào sự phát triển bền vững, bao gồm cả sức khỏe và phúc lợi xã hội;
- Có tính đến sự mong đợi của các bên liên quan;
- Phù hợp với luật pháp hiện hành và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế của hành
Môi trường là môi trường tự nhiên xung quanh một tổ chức hoạt động, bao gồm
cả không khí, nước, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, hệ thực vật, động vật, con người, không gian bên ngoài và mối quan hệ của nó Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay thì môi trường của tổ chức kéo dài từ bên trong tổ chức ra hệ thống toàn cầu
Hành vi đạo đức là hành vi theo các nguyên tắc được cho là đúng đắn trong từng bối cảnh, tình hình cụ thể và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế của hành vi
Trang 25Minh bạch là sự cởi mở về các quyết định và hoạt động có ảnh hưởng đến xã
hội, kinh tế và môi trường, và sẵn sàng thảo luận về những vấn đề này một cách rõ ràng, chính xác, kịp thời, trung thực và đầy đủ
Tác động của một tổ chức là tác động thay đổi tích cực hoặc tiêu cực cho xã
hội, kinh tế và môi trường từ các quyết định và hoạt động trong quá khứ và hiện tại của một tổ chức
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không ảnh
hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Phát triển bền vững là tổng hợp các mục tiêu về một cuộc sống có chất lượng cao, sức khỏe, sự thịnh vượng với công bằng xã hội và duy trì năng lực của trái đất để hỗ trợ cuộc sống trong sự đa dạng của nó Những mục tiêu xã hội, kinh tế, môi trường phụ thuộc lẫn nhau và tăng cường cho nhau
Các bên liên quan là cá nhân hoặc nhóm có quan tâm đến bất kỳ một quyết
định hoặc hoạt động nào của một tổ chức Tổ chức xác định và cam kết với các bên liên quan là nền tảng cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội Một tổ chức nên xác định xem ai có quan tâm trong các quyết định và hoạt động của mình để có thể hiểu những tác động có thể xảy ra và làm thế nào để giải quyết
Như vậy, khái niệm trách nhiệm xã hội trên đã khái quát cho mọi loại hình tổ chức từ tổ chức công cho đến tổ chức tư, từ tổ chức doanh nghiệp cho đến các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Một tổ chức có trách nhiệm xã hội phải có những hành vi minh bạch và có đạo đức Những quyết định và hành vi của tổ chức phải luôn luôn xem xét đến những tác động có thể gây ra đối với những bên liên quan cả trong
và ngoài tổ chức, đến môi trường và xã hội Các tổ chức phải làm sao để những tác động của mình ảnh hưởng tích cực đến những yếu tố liên quan và hạn chế tối đa những tác động tiêu cực Trách nhiệm xã hội của tổ chức được tích hợp trong toàn bộ tổ chức
và được thực hiện trong mọi mối quan hệ của nó Một tổ chức có trách nhiệm xã hội luôn luôn đặt lợi ích của các bên liên quan bên cạnh lợi ích của mình và sẵn sàng chia
sẻ lợi ích
Trách nhiệm xã hội có những phần bắt buộc phải tuân theo những quy định của pháp luật, của tiêu chuẩn quốc tế và những khía cạnh thể hiện sự tự nguyện của các tổ chức như việc làm từ thiện hay đóng góp phúc lợi xã hội Những khía cạnh trách nhiệm xã hội mang tính chất bắt buộc thì các tổ chức phải có trách nhiệm giải trình với
cơ quan chủ quản, cơ quan pháp luật và các bên liên quan Những khía cạnh thể hiện
Trang 26sự tự nguyện của các tổ chức khi thực hiện trách nhiệm xã hội thì không yêu cầu phải giải trình với bất cứ đối tượng nào
1.2.4 Các khía cạnh và các nhóm vấn đề liên quan của trách nhiệm xã hội
Như đã tìm hiểu trong phần khái niệm trách nhiệm xã hội thì chúng ta thấy rằng, trách nhiệm xã hội của một tổ chức trong xã hội hiện đại ngày nay không chỉ bao gồm những hoạt động tham gia trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ người tàn tật, trẻ em mồ côi, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt và thiên tài, mà phải rộng hơn thế Một tổ chức có trách nhiệm xã hội là phải dự đoán và đo lường được những tác động về xã hội và môi trường từ hoạt động của tổ chức và phát triển những chính sách làm giảm bớt những tác động tiêu cực Đồng thời, trách nhiệm xã hội của một tổ chức còn là cam kết của tổ chức đóng góp vào sự phát triển bền vững, hợp tác cùng người lao động, gia đình họ, cộng đồng và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ sao cho vừa tốt cho tổ chức vừa ích lợi cho sự phát triển chung của xã hội Vì vậy, trách nhiệm xã hội của tổ chức hiện nay được đề cập đến 4 khía cạnh chính: kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn
Khía cạnh kinh tế: được thể hiện trong việc chi trả kinh tế cho các bên liên
quan như người lao động, người tiêu dùng và các đối tác Nghĩa vụ kinh tế của một tổ chức là cung cấp hàng hóa và dịch vụ, tạo công ăn, việc làm với mức thù lao tương xứng Nghĩa vụ kinh tế của một tổ chức bao gồm cả việc tìm kiếm nguồn lực mới, thúc đẩy tiến bộ công nghệ, phát triển sản phẩm để sử dụng các nguồn lực ngày càng hiệu quả Trong khi thực hiện nghĩa vụ này, các tổ chức thực sự góp phần tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của bản thân tổ chức Đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ kinh tế còn liên quan đến những vấn đề về chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối và bán hàng, cạnh tranh Đối với người lao động, đó là cơ hội việc làm ngang nhau, cơ hội phát triển nghề và chuyên môn, được hưởng mức thù lao tương xứng, được hưởng môi trường lao động an toàn và vệ sinh, được đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơi làm việc
Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế của các tổ chức thường được thể chế hóa thành
các nghĩa vụ pháp lý
Khía cạnh pháp lý trong trách nhiệm xã hội đòi hỏi tổ chức tuân thủ đầy đủ các
quy định của luật pháp như một yêu cầu tối thiểu trong hành vi xã hội của một tổ chức, tập thể hay cá nhân Những nghĩa vụ này được xã hội đặt ra bởi vì những đối tượng hữu quan như người tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh, những nhóm đối tượng hưởng lợi
Trang 27khác nhau, các cấp quản lý vĩ mô nền kinh tế tin rằng các công việc của tổ chức không thể thực hiện được một cách tốt đẹp nếu không được đảm bảo bằng sự trung thực Đây cũng chính là tâm điểm của các nghĩa vụ về pháp lý Về cơ bản những nghĩa vụ pháp
lý được quy định trong luật pháp liên quan đến năm khía cạnh: điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, an toàn và bình đẳng, khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái
Khía cạnh đạo đức trong trách nhiệm xã hội liên quan đến những hành vi hay
hành động được các thành viên trong tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi hay không mong đợi nhưng không được thể chế hóa thành luật Nghĩa vụ đạo đức trong trách nhiệm xã hội của một tổ chức được thể hiện thông qua các tiêu chuẩn, chuẩn mực hay kỳ vọng phản ánh mối quan tâm của các đối tượng hữu quan chủ yếu như người tiêu dùng, người lao động, các đối tác, chủ sở hữu, cộng đồng Nói cách khác những chuẩn mực này phản ánh quan niệm của các đối tượng hữu quan về đúng sai, công bằng, quyền lợi cần được bảo vệ của họ
Nghĩa vụ đạo đức của một tổ chức được thể hiện rõ thông qua những nguyên tắc và giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lược của một tổ chức Thông qua những tuyên bố trong những tài liệu này về quan điểm của tổ chức trong việc sử dụng các nguồn lực và con người để đạt được mục tiêu, sứ mệnh, những nguyên tắc và giá trị đạo đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên và những người hữu quan
Khía cạnh nhân văn trong trách nhiệm xã hội của tổ chức liên quan đến những
đóng góp cho cộng đồng và xã hội Những đóng góp của tổ chức có thể trên bốn phương diện nâng cao chất lượng cuộc sống, san sẻ bớt gánh nặng cho Chính Phủ, nâng cao năng lực lãnh đạo cho nhân viên và phát triển nhân cách đạo đức cho người lao động Giúp đỡ những người bất hạnh hay yếu thế cũng là một lĩnh vực nhân đạo được các tổ chức quan tâm Những người bị bệnh luôn mong muốn được chữa bệnh nhưng đôi khi họ không có khả năng tiếp cận các nguồn dược liệu cần thiết hay tránh khỏi bệnh tật vì họ nghèo Đây là một khía cạnh trách nhiệm được điều chỉnh bởi lương tâm Chẳng ai có thể bắt buộc các tổ chức phải bỏ tiền ra để xây nhà tình nghĩa hoặc lớp học tình thương, ngoài những thôi thúc của lương tâm Khía cạnh này thể hiện tinh thần thương người như thể thương thân Đây là đạo lý sống ở đời và là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam
Tóm lại, trách nhiệm xã hội của một tổ chức sẽ được phản ánh trên bốn phương diện khác nhau là kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn Các nghĩa vụ pháp lý được xã
Trang 28hội yêu cầu nhằm loại trừ những hành vi không mong muốn Các nghĩa vụ đạo đức quan tâm đến quan niệm và cách thức các tổ chức ra quyết định đúng sai, công bằng và công lý ngoài những gì đã được xác định trong các nghĩa vụ pháp lý Các nghĩa vụ kinh tế là cơ sở cho các hoạt động của một tổ chức và chủ yếu liên quan đến các đối tượng hữu quan chính như người tiêu dùng, người lao động, chủ sở hữu hay nhà đầu
tư Trong khi đó các nghĩa vụ nhân văn quan tâm đến những đối tượng rộng hơn như cộng đồng và xã hội nhằm giúp họ cải thiện cuộc sống và phát triển kinh tế xã hội
Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội sẽ được thể hiện cụ thể trong bảy vấn đề chính được thể hiện trong hình vẽ sau:
Hình 1.1: Bảy vấn đề chính của trách nhiệm xã hội
Trang 29* Quản trị tổ chức: Quản trị tổ chức là yếu tố quan trọng nhất trong việc cho phép một
tổ chức chịu trách nhiệm về tác động của quyết định và hoạt động của mình và thực hiện trách nhiệm xã hội trong toàn tổ chức và các mối quan hệ của nó Trong trách nhiệm xã hội, quản trị tổ chức có vai trò đặc biệt quan trọng Quản trị hiệu quả cần phải dựa trên kết hợp các nguyên tắc của trách nhiệm xã hội vào việc ra quyết định và thực hiện các quyết định Những nguyên tắc này là trách nhiệm, minh bạch, đạo đức, tôn trọng quyền lợi các bên liên quan, tôn trọng luật pháp, tôn trọng các tiêu chuẩn quốc tế của hành vi và tôn trọng quyền con người
Trách nhiệm xã hội trong quản trị tổ chức được thể hiện cụ thể trong các nội dung chính sau:
- Phát triển các chiến lược, mục tiêu và chỉ tiêu phản ánh cam kết về trách nhiệm xã hội;
- Tạo và nuôi dưỡng một môi trường và văn hóa trong đó các nguyên tắc của trách nhiệm xã hội được thực hiện;
- Sử dụng nguồn lực tài chính, tự nhiên và con người một cách hiệu quả;
- Tạo cơ hội phát triển công bằng cho các nhóm trong tổ chức bao gồm cả phụ
nữ và các nhóm chủng tộc và sắc tộc;
- Cân bằng nhu cầu của tổ chức và các bên liên quan, bao gồm cả nhu cầu trước mắt và các thế hệ tương lai;
- Có sự trao đổi thường xuyên;
- Theo dõi việc thực hiện các quyết định để đảm bảo rằng các quyết định này được thực hiện một cách có trách nhiệm
* Thực tiễn lao động: Thực tiễn lao động là một vấn đề thể hiện rõ nét trách
nhiệm xã hội của một tổ chức Trách nhiệm xã hội của tổ chức trong thực tiễn lao động
sẽ được thể hiện ở: điều kiện làm việc, đối thoại xã hội, y tế và an toàn tại nơi làm việc, phát triển con người và đào tạo tại nơi làm việc
- Điều kiện làm việc: Điều kiện làm việc bao gồm tiền lương và các hình thức
bồi thường, thời gian làm việc, thời gian nghỉ, ngày lễ, thực hành kỷ luật, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bảo vệ chế độ thai sản, các vấn đề phúc lợi, an toàn, vệ sinh và tiếp cận dịch vụ y tế Điều kiện làm việc ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người
lao động và gia đình họ cũng như sự phát triển kinh tế và xã hội
Một tổ chức cần phải:
- Đảm bảo rằng các điều kiện làm việc phù hợp với luật pháp quốc gia và các quy định và phù hợp với áp dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế;
Trang 30- Cung cấp điều kiện làm việc đàng hoàng với tiền lương, giờ làm việc hàng tuần, ngày nghỉ lễ, bảo vệ sức khỏe và an toàn, bảo vệ thai sản và khả năng kết hợp làm việc với trách nhiệm gia đình;
- Cung cấp lương và các hình thức tiền thù lao theo quy định của luật pháp quốc gia, quy định hoặc thỏa thuận tập thể Một tổ chức cần phải trả lương ít nhất là đủ cho các nhu cầu của nhân viên và gia đình của họ
- Trả lương công bằng;
- Cung cấp các hoạt động bảo trợ xã hội cho người lao động;
- Tôn trọng quyền của người lao động, cho phép thực hiện các truyền thống dân tộc, tôn giáo;
- Đối thoại xã hội: Các tổ chức cần phải thường xuyên có sự trao đổi giữa đại
diện người sử dụng lao động và người lao động về các vấn đề ảnh hưởng đến lợi ích của các bên Đối thoại xã hội là một vấn đề rất quan trọng thể hiện sự tôn trọng người lao động và đồng thời đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan đều được bảo đảm và các sự việc sẽ được giải quyết kịp thời, hiệu quả Các tổ chức phải tôn trọng và không được gây cản trở người lao động thành lập hoặc gia nhập các tổ chức riêng của họ
- Y tế và an toàn tại nơi làm việc: Sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc là sự bảo
đảm ở mức độ cao nhất về thể chất, tâm thần và phúc lợi xã hội cho người lao động và phòng chống tác hại đến sức khỏe do điều kiện làm việc gây ra Nó cũng liên quan đến việc bảo vệ người lao động khỏi những rủi ro đối với sức khỏe và sự thích nghi về nhu
cầu tâm sinh lý của người lao động với môi trường nghề nghiệp
Một tổ chức phải xây dựng và phát triển môi trường làm việc an toàn và bảo vệ sức khỏe cho người lao động, cung cấp các thiết bị an toàn cần thiết, kể cả thiết bị bảo
hộ cá nhân, để dự phòng tai nạn lao động, bệnh tật cũng như để đối phó với trường hợp khẩn cấp Các tổ chức yêu cầu nhân viên phải tuân theo tất cả các nguyên tắc an toàn ở mọi thời điểm, phấn đấu để loại trừ nguy cơ tâm lý xã hội có thể dẫn đến stress
và bệnh tật tại nơi làm việc; Có được thông tin kịp thời, đầy đủ và chính xác liên quan đến sức khỏe và an toàn để giải quyết kịp thời các rủi ro có thể xảy ra
- Phát triển con người và đào tạo tại nơi làm việc: các tổ chức phải tạo điều
kiện, hỗ trợ để cán bộ, nhân viên của mình có cơ hội được học tập nâng cao trình độ và phát triển toàn diện về kỹ năng nghề nghiệp cũng như các kinh nghiệm sống
* Nhân quyền: Nhân quyền là những quyền cơ bản mà tất cả mọi người được hưởng, bao gồm các quyền như quyền được sống và tự do, bình đẳng trước pháp luật
và tự do ngôn luận (chính trị), quyền làm việc, quyền có lương thực, quyền đạt tiêu
Trang 31chuẩn cao nhất về sức khỏe, quyền được giáo dục và quyền an sinh xã hội (kinh tế, xã hội và văn hóa) Các tổ chức phải có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người đặc biệt là các quyền liên quan đến nơi làm việc như:
- Tôn trọng quyền tự do hội họp và công nhận hiệu quả của quyền thương lượng tập thể;
- Bãi bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc;
- Không sử dụng lao động trẻ em;
- Xoá bỏ phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp
* Môi trường: Xã hội đang phải đối mặt với nhiều thách thức môi trường, bao gồm cả sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm, biến đổi khí hậu, phá hủy môi trường sống, tiệt chủng của các loài sinh vật, sự sụp đổ của toàn bộ hệ sinh thái và sự suy thoái khu định cư ở đô thị và nông thôn của con người Chúng ta cần phải xác định các giải pháp nhằm giảm thiểu và loại bỏ các mô hình sản xuất và tiêu dùng không bền vững và đảm bảo rằng việc tiêu thụ tài nguyên cho mỗi người trở nên bền vững Trách nhiệm môi trường là điều kiện tiên quyết cho sự sống còn và thịnh vượng của con người Do đó, vấn đề môi trường cần phải được gắn liền với các vấn đề trách nhiệm xã hội khác
Các tổ chức cần phải có các hành động phòng chống, ngăn ngừa ô nhiễm như: không phát thải các chất ô nhiễm ra môi trường từ các hoạt động của mình, cải thiện môi trường sống như trồng cây xanh, làm xanh - sạch – đẹp môi trường, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững và bảo vệ hệ sinh thái Và bên cạnh việc phòng tránh gây ô nhiễm môi trường thì vấn đề quan trọng là các tổ chức cần chủ động nghiên cứu các biện pháp để sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cải thiện môi trường
* Vấn đề người tiêu dùng: Người tiêu dùng là một đối tượng quan trọng đối với bất cứ một tổ chức nào vì họ là người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của tổ chức đó Trách nhiệm xã hội của tổ chức trong vấn đề người tiêu dùng là phải cung cấp những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng, có chất lượng tốt, không gây ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng và những người xung quanh Một vấn đề quan trọng ngày nay là các tổ chức phải cung cấp những gì mà người tiêu dùng cần chứ không phải cung cấp những gì mà các tổ chức sẵn có
*Thực tiễn hoạt động công bằng: Một trong những vấn đề quan trọng trong quá rình thực hiện trách nhiệm xã hội của các tổ chức là các tổ chức phải đảm bảo được tính công bằng trong tổ chức của mình Các tổ chức cần phải tôn trọng quyền
Trang 32bình đẳng nam nữ, không được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người Các tổ chức không được phân biệt đối xử về mặt sắc tộc, không được phân biệt đối xử giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ Tất
cả mọi việc đều được đánh giá dựa trên năng lực làm việc của các cá nhân và sự đóng góp của họ đối với tổ chức, đối với xã hội Bên cạnh đó, thực tiễn hoạt động công bằng của tổ chức còn được thể hiện ở việc cạnh tranh lành mạnh của tổ chức với các tổ chức khác Các tổ chức không được sử dụng bất cứ hành vi, thủ đoạn xấu trong cạnh tranh với các đơn vị bạn Sự cạnh tranh phải dựa trên năng lực thực tế của các tổ chức
* Tham gia và phát triển cộng đồng: Các tổ chức bên cạnh các mặt hoạt động chính của mình thì cần chú trọng quan tâm đến việc phát triển cộng đồng Các tổ chức
sẽ tham gia đóng góp một phần nguồn thu của mình cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng đặc biệt là các đối tượng khó khăn trong xã hội giúp họ có điều kiện sống tốt hơn
và có cơ hội để cải thiện điều kiện sống Việc tham gia đóng góp giúp đỡ những người
có hoàn cảnh khó khăn sẽ giúp xóa bớt sự chênh lệch trong xã hội, giảm gánh nặng cho xã hội và làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn Một tổ chức nên tham gia đóng góp phát triển cộng đồng vì bất cứ một tổ chức nào cũng tồn tại trong một xã hội nhất định
và nếu xã hội đó trở nên tốt đẹp hơn sẽ tạo điều kiện cho tổ chức phát triển hơn
1.2.5 Đặc trưng trong trách nhiệm xã hội của tổ chức khoa học và công nghệ
Như chúng ta đã biết, các loại hình tổ chức khác nhau thì đều có những đặc điểm riêng về mặt tổ chức, con người và đặc biệt là về các hoạt động Những đặc điểm riêng đó thể hiện những nét đặc trưng, riêng biệt của tổ chức Các tổ chức có những mặt hoạt động khác nhau và có những đối tượng liên quan khác nhau Chính điều đó sẽ làm cho các tổ chức khi thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ có những sự khác biệt nhất định Trong phạm vi luận văn này, tác giả đi làm rõ những nét đặc trưng trong trách nhiệm xã hội của tổ chức khoa học và công nghệ trong đó chú trọng đến trách nhiệm
xã hội của trường đại học Trách nhiệm xã hội của viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ sẽ được thể hiện trong các mặt hoạt động của tổ chức đó
Viện nghiên cứu thực hiện hai nhiệm vụ chính là nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực trong đó hoạt động nghiên cứu là chính Trách nhiệm xã hội thể hiện trong hoạt động nghiên cứu của các viện nghiên cứu là cung cấp những công trình nghiên cứu có giá trị khoa học cao và luôn luôn gắn liền hoạt động nghiên cứu với
Trang 33thực tiễn nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn, đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội
Trách nhiệm xã hội của các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ là phải cung cấp các sản phẩm có giá trị tốt, bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, bảo vệ môi trường và góp phần phát triển bền vững xã hội
Trường đại học thực hiện ba nhiệm vụ chính là đào tạo, nghiên cứu khoa học
và phục vụ xã hội Những nét đặc trưng trong trách nhiệm xã hội của trường đại học được thể hiện trong ba mặt hoạt động này
Trong công tác đào tạo, trách nhiệm xã hội của trường đại học được thể hiện ở việc tuân theo những quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và hệ thống pháp luật liên quan đến công tác đào tạo; quan tâm đến lợi ích, nhu cầu của các bên liên quan (đối tượng sử dụng lao động và người học) và đáp ứng đến mức tốt nhất có thể những yêu cầu, lợi ích đó; đào tạo được đội ngũ nhân lực khoa học chất lượng cao, phát triển toàn diện về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu của xã hội, góp phần vào việc phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, an ninh, trật tự xã hội
Các trường đại học xây dựng chương trình đào tạo phải theo những quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo và những quy định chung của hệ thống luật pháp quốc gia có liên quan Bên cạnh đó, công tác đào tạo của trường đại học hiện nay cần phải bám sát, gắn liền với thực tiễn Trường đại học phải đào tạo những gì thực tiễn đang cần chứ không phải đào tạo những gì mà mình có Sản phẩm của quá trình đào tạo phải là nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao, có khả năng làm việc đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Do đó, một trường đại học có trách nhiệm xã hội trong giai đoạn hiện nay thì trong quá trình đào tạo, nhà trường phải thường xuyên khảo sát, lấy ý kiến phản hồi của các đơn vị sử dụng sản phẩm đào tạo của mình để biết được sản phẩm của mình đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn hay chưa và cần bổ sung những gì trong điều kiện mới của xã hội Đồng thời cần phải thường xuyên gần gũi, lấy ý kiến phản hồi của người học để xem quá trình đào tạo đã phù hợp với người học hay chưa
Từ đó có những sự điều chỉnh kịp thời, hợp lý nhằm tạo điều kiện cho người học có khả năng tiếp thu được lượng kiến thức, kỹ năng nhiều nhất trong quá trình học tập tại trường Làm tốt được điều này tức là trường đại học đã luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của các bên liên quan đó là người học và đối tượng sử dụng sản phẩm đào tạo
Sản phẩm đào tạo của Nhà trường là đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đóng góp rất lớn vào việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Do đó, trách nhiệm của trường đại học là phải đào tạo được các thế hệ học viên, sinh viên vừa có trình độ chuyên môn chất
Trang 34lượng cao, vừa có phẩm chất tốt Một thế hệ học trò tốt sẽ đóng góp rất lớn cho xã hội Nhưng nếu đào tạo một thế hệ học trò yếu về chuyên môn, kém về đạo đức thì là một tai họa nặng nề cho xã hội Nó không chỉ lãng phí của cải của xã hội trong quá trình đào tạo mà còn gây hậu qủa nặng nề, kéo dài cho xã hội mãi về sau Một lô sản phẩm kém chất lượng của một công ty có thể dễ dàng giải quyết bằng việc thu hồi và loại bỏ
lô sản phẩm đó Thiệt hại là chi phí để làm lô sản phẩm đó và một ít hậu quả liên quan đến quá trình sử dụng Còn một thế hệ học trò kém chất lượng sẽ gây hậu quả nhiều gấp nhiều lần và trên nhiều phương diện hơn Từ đó chúng ta càng thấy được tầm quan trọng của trách nhiệm của trường đại học trong việc giáo dục, rèn luyện học viên, sinh viên
Trong quá trình đào tạo, các trường đại học cần đảm bảo các điều kiện học tập tốt nhất cho học viên, sinh viên của mình để đảm bảo các yêu cầu về mặt sức khỏe, tâm sinh lý cho học viên giúp họ có được sự thoải mái nhất trong quá trình học tập
Một trong ba nhiệm vụ chính, trọng tâm của các trường đại học là nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học có rất nhiều đặc điểm đặc trưng Chính những đặc trưng này trong hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ góp phần hình thành nét đặc trưng trong thực hiện trách nhiệm xã hội của trường đại học Trách nhiệm xã hội trong hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đại học thể hiện ở những điểm sau: những công trình nghiên cứu của các trường đại học phải là những công trình có giá trị
về mặt khoa học, được tiến hành nghiêm túc, khách quan; các công trình nghiên cứu gắn với thực tiễn giảng dạy và thực tiễn cuộc sống nhằm giải quyết các vấn đề thực tế đang đặt ra; các công trình nghiên cứu hướng đến việc sử dụng hiệu qủa các nguồn lực, bảo vệ môi trường và đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội; hoạt động nghiên cứu khoa học mang lại hiệu quả cả về mặt giá trị khoa học và về mặt kinh tế; các chính sách trong hoạt động nghiên cứu khoa học phải phù hợp với đặc điểm của hoạt động này và mang lại lợi ích cho các nhà nghiên cứu
Trang 35Những công trình nghiên cứu của trường đại học phải là những công trình có giá trị và ý nghĩa khoa học thực sự Những công trình nghiên cứu sẽ được sử dụng và
kế thừa trong các công trình sau đó Do đó nếu công trình nghiên cứu có sai sót, thiếu tính khoa học thì sẽ kéo theo hệ thống sai sót về sau hoặc nếu như công trình được áp dụng vào trong thực tiễn thì sẽ gây sai lầm và không mang lại kết quả như mong muốn Chính vì vậy, công tác quản lý các công trình nghiên cứu cần phải được làm nghiêm túc, đảm bảo các công trình được thực hiện một cách nghiêm túc, chính xác, khách quan và không để nợ đọng đề tài vì những nguyên nhân chủ quan
Các công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu trong các trường đại học phải gắn với những yêu cầu của thực tế giảng dạy và cuộc sống, nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra Các công trình nghiên cứu phải được bắt nguồn từ những yêu cầu, đòi hỏi bức thiết của cuộc sống để giải quyết những yêu cầu
đó nhằm mang lại cuộc sống tốt hơn cho con người
Các công trình nghiên cứu phải mang lại giá trị khoa học và kinh tế Trong thực
tế hiện nay, chúng ta thấy rằng có rất nhiều công trình nghiên cứu sau khi được nghiệm thu, nó không được sử dụng và xếp vào kho, vào ngăn kéo Đó là một sự lãng phí về nhân lực, tài chính, thời gian cho xã hội Chính vì vậy, bên cạnh giá trị về mặt khoa học, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học cần phải mang lại giá trị kinh tế từ việc ứng dụng những công trình đó vào giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, sinh sôi ra giá trị nhằm mang lại lợi ích nhiều hơn cho các nhà nghiên cứu, cho các tổ chức nghiên cứu và cho cả xã hội nói chung
Bên cạnh đó, chính sách đối với đội ngũ cán bộ nghiên cứu trong hoạt động nghiên cứu khoa học cũng phản ánh trách nhiệm xã hội của trường đại học Các chính sách trong hoạt động nghiên cứu phải được xây dựng trên cơ sở đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học và đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ để phù hợp và đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các nhà nghiên cứu Từ đó, các chính sách này mới khuyến khích, thúc đẩy các nhà nghiên cứu hăng say làm việc, tạo nên những công trình có giá trị
Hoạt động nghiên cứu khoa học có một đặc điểm nổi bật đó chính là tính mới Công trình nghiên cứu khoa học nào cũng phải có tính mới Tính mới không phải là cái dễ được chấp nhận và dễ nhìn thấy ngay Chính vì vậy, các trường đại học phải xây dựng một cơ chế mở, sẵn sàng tạo điều kiện để các cá nhân có cơ hội và có quyền trình bày các ý tưởng khoa học và thực hiện các công trình nghiên cứu của mình Nếu các ý tưởng khoa học thực sự có giá trị, cần thiết thì Nhà trường đầu tư để tác giả thực hiện
Trang 36công trình nghiên cứu khoa học của mình Nếu ý tưởng chưa thực sự thuyết phục thì nhà trường cũng cần phải làm rõ để tác giả hiểu rõ điểm còn hạn chế và đầu tư nghiên cứu tiếp tạo ra những công trình thực sự có giá trị
Bên cạnh tính mới, nghiên cứu khoa học còn có tính trễ Các công trình nghiên cứu luôn luôn có độ trễ trong áp dụng Có những công trình nghiên cứu phải sau một thời gian rất lâu mới được đưa vào áp dụng trong thực tiễn Các trường đại học và các
tổ chức có hoạt động nghiên cứu khoa học cần phải nắm rõ được đặc điểm này, sẵn sàng đầu tư cho các công trình nghiên cứu có giá trị, có thể nó không mang lại giá trị kinh tế ngay nhưng lại rất có ý nghĩa trong tương lai Chính những điều đó, sẽ giúp các nhà nghiên cứu cảm thấy những ý tưởng của họ được trân trọng và bản thân họ được tôn trọng Từ đó, họ có thêm nhiệt huyết và lòng đam mê nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu cần sự thoải mái và tự thu xếp, chủ động về mặt thời gian Có thể có những lúc ngồi hàng ngày, hàng tháng không nghĩ ra được gì nhưng ý tưởng lại xuất hiện bất chợt ngay một lúc nào đó Chính vì vậy, các tổ chức không nên kiểm soát chặt chẽ về mặt thời gian của đội ngũ cán bộ nghiên cứu và cần phải quản lý theo hiệu quả công việc Điều này sẽ tạo ra tâm lý thoải mái và hiệu quả làm việc tốt hơn cho các nghiên cứu viên Điều này nó thể hiện rõ sự khác biệt giữa cơ quan nghiên cứu và đơn vị doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ về mặt thời gian với những công việc cụ thể, quy trình định sẵn
Bên cạnh đó, chính sách tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học cũng
là một khía cạnh thể hiện trách nhiệm của tổ chức đảm bảo quyền lợi của các nhà nghiên cứu Cơ chế thanh quyết toán tài chính không chỉ cần đơn giản, nhanh gọn mà còn phải đảm bảo hạn chế đến mức tối đa các khoản chi bên ngoài, mang lại nguồn thu nhập từ hoạt động nghiên cứu cho nhà nghiên cứu Làm nghiên cứu đem lại nguồn thu,
bù đắp lại công sức bỏ ra làm nghiên cứu thì các nhà nghiên cứu mới làm, chứ mất công, mất sức mà không được gì thì sẽ hiếm nhà nghiên cứu nào yêu thích công việc này
Ngoài hai hoạt động là đào tạo và nghiên cứu khoa học, trường đại học còn có thể cung cấp các dịch vụ khoa học và công nghệ, chủ yếu là các dịch vụ đào tạo Trách nhiệm xã hội trong hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ là phải cung cấp các sản phẩm có chất lượng tốt, không gây ô nhiễm môi trường và góp phần vào việc phát triển bền vững xã hội
Bên cạnh những khía cạnh thể hiện nét đặc trưng trong trách nhiệm xã hội của
tổ chức khoa học và công nghệ ở trên thì cũng giống như các loại hình tổ chức khác,
Trang 37các tổ chức khoa học và công nghệ cũng phải đảm bảo điều kiện làm việc tốt nhất cho đội ngũ nhân lực của mình, đảm bảo sức khỏe, cung cấp các chính sách hậu cần tốt để tạo điều kiện sống tốt nhất cho đội ngũ nhân lực của tổ chức và gia đình họ đồng thời tham gia tích cực vào các hoạt động hỗ trợ và phát triển cộng đồng
Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều trường đại học thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình và đó đều là những ngôi trường danh tiếng, có vai trò, vị thế quan trọng trong nền giáo dục thế giới Havard là một trong những trường đại học luôn đứng vào tốp đầu các trường đại học trên thế giới Ngôi trường này luôn luôn chú trọng đến chất lượng đào tạo và có chất lượng đào tạo hàng đầu trên thế giới Các thế hệ sinh viên của nhà trường đều là những con người tài năng, có chuyên môn vững vàng và khả năng làm việc tốt, đóng góp rất lớn cho xã hội Harvard có nhiều cựu sinh viên là những người nổi tiếng Trong số những nhân vật thành danh có 8 tổng thống Hoa Kỳ: John Adams, John Quincy Adams, Theodore Roosevelt, Franklin Delano Roosevelt, Rutherford B Hayes, John Fitzgerald Kennedy, George W Bush, và Barack H Obama và các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới Trong số những quán quân giải Nobel, 75 người có liên quan đến Đại học Harvard Kể từ năm 1947, có 19 người đoạt giải Nobel và 15 người được trao tặng giải văn chương Mỹ, và Giải Pulitzer từng phục
vụ trong ban giảng huấn của Harvard
Đại học Havard cũng luôn luôn sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ các đối tác trong khi gặp khó khăn Sau khi xảy ra Bão Katrina, cùng các đại học khác ở Mỹ và Canada, Harvard nhận sinh viên từ các đại học không thể mở cửa kịp học kỳ mùa thu, có 25 sinh viên được nhận vào Trường Harvard Tất cả được miễn học phí và được cung cấp chỗ ở Nhà trường có khuôn viên rộng rãi, sạch sẽ, thoáng đãng tạo bầu không khí trong lành, thoải mái cho giảng viên, sinh viên của Nhà trường Nhà trường có sân vận động, hệ thống các sân bãi, phòng tập thể thao cho sinh viên tham gia sau những giờ học để nâng cao sức khỏe và giải trí Môi trường học tập và làm việc ở Havard là một môi trường lý tưởng cho bất kỳ một sinh viên và nhà khoa học nào
Ở nước Nga cũng có rất nhiều trường đại học nổi tiếng và thực hiện trách nhiệm
xã hội rất tốt như trường đại học Kỹ thuật Bauman, trường đại học Lômônôxôp Chất lượng đào tạo của những ngôi trường này luôn rất tốt và sinh viên sau khi ra trường luôn có khả năng làm việc tốt, đáp ứng yêu cầu công việc và khả năng thăng tiến cao trong nghề nghiệp Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxôp (tên tắt MGU) - trường đại học lớn nhất và được coi là lâu đời nhất của Liên bang Nga, một trong những trung tâm nghiên cứu khoa học lớn của thế giới Trường đã đào tạo hàng chục nghìn chuyên
Trang 38gia cao cấp cho 150 nước, trong đó có hàng nghìn chuyên gia Việt Nam Học sinh của trường hiện nay đang giữ cương vị chủ chốt ở nhiều nước Trường Đại học Kỹ thuật Bauman được thành lập năm 1830 là một trong các trường đại học hàng đầu của Nga, chuyên đào tạo đội ngũ các nhà khoa học theo hướng thiết kế, chế tạo đáp ứng cho công nghiệp quốc phòng thời Liên Xô trước đây, cũng như liên bang Nga hiện nay Lịch sử phát triển của nhà trường gắn liền với tên tuổi các nhà bác học, các tổng công trình sư nổi tiếng cả thế giới như: Mendeleev D.I, Jukovski N.E, Tchebyshev P.L, Dmitriev F.M, Koroliov S.P, Shukhov V.G., Shukhoi P.O., Tupolev A.N.,… Những nhà bác học và tổng công trình sư này đã sáng chế ra chiếc máy bay trực thăng đầu tiên của Nga, ống thủy khí động đầu tiên, tàu ống thủy khí động đầu tiên, tàu hỏa đầu tiên, dây chuyền tự động đầu tiên, Bên cạnh việc thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học, đóng góp nhiều vào sự phát triển của xã hội, các trường đại học này cũng luôn tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội Ngoài ra trên thế giới cũng còn rất nhiều các trường đại học thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình và các trường đại học đó đều là những ngôi trường nổi tiếng thế giới
Như vậy, chúng ta vừa đi phân tích những nét đặc trưng trong trách nhiệm xã hội của các tổ chức khoa học và công nghệ: tổ chức nghiên cứu và triển khai, trường đại học, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ Trường đại học là loại hình tổ chức đặc thù thực hiện các hoạt động có ở cả hai loại hình tổ chức còn lại Do đó, trách nhiệm xã hội thể hiện trong các hoạt động của trường đại học cũng phản ánh trách nhiệm xã hội của các các tổ chức nghiên cứu và triển khai và tổ chức dịch vụ khoa học
và công nghệ Để có thể hiểu cụ thể hơn vấn đề trách nhiệm xã hội của trường đại học, chúng ta sẽ nghiên cứu trường hợp cụ thể Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn trong chương
2 của Luận văn
1.2.6 Lợi ích của trách nhiệm xã hội
Trách nhiệm xã hội có thể cung cấp nhiều lợi ích cho một tổ chức Cụ thể chúng
ta có thể dễ dàng thấy một số lợi ích sau:
- Lợi thế cạnh tranh: Trách nhiệm xã hội sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh cho các
tổ chức Khi thực hiện trách nhiệm xã hội tốt, các tổ chức để lấy được lòng tin và sự yêu mến, tin tưởng của các bên liên quan Đó là một lợi thế cạnh tranh lớn trong nền kinh tế thị trường hiện nay Nhờ sự tin tưởng đó mà các tổ chức có các mối quan hệ hợp tác bền vững, ổn định và ngày càng phát triển
- Danh tiếng: Khi thực hiện trách nhiệm xã hội tốt, các tổ chức không cần
quảng bá cho bản thân nhưng tên tuổi của các tổ chức này sẽ được các bên liên quan
Trang 39truyền đi, ủng hộ, nêu gương và sẽ tạo thành danh tiếng, nâng cao giá trị thương hiệu của tổ chức trên thị trường
- Khả năng thu hút và giữ chân người lao động hoặc các thành viên, khách hàng và người sử dụng: Khi thực hiện trách nhiệm xã hội tốt, các tổ chức sẽ luôn
luôn đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan một cách tốt nhất, luôn luôn chia sẻ lợi ích với các bên liên quan Chính vì vậy sẽ thu hút được sự chú ý, tham gia và tạo niềm tin, yêu mến cho các bên liên quan mà trước hết là đội ngũ nhân viên, khách hàng và người sử dụng
- Duy trì các cam kết của nhân viên, tinh thần và năng suất lao động của đội ngũ nhân viên: Khi thực hiện trách nhiệm xã hội tốt thì các tổ chức luôn luôn đảm bảo
được quyền lợi, điều kiện tốt nhất cho đội ngũ nhân viên nên khiến họ yêu tổ chức và sẵn sàng cống hiến hết mình cho tổ chức Mọi cam kết luôn được đội ngũ nhân viên thực hiện tốt và họ làm việc với thái độ tự nguyện, hăng say, yêu nghề và sẽ đem lại hiệu quả công việc được tốt nhất
- Có cái nhìn tốt từ các nhà đầu tư, chủ sở hữu, các nhà tài trợ, cộng đồng
- Mối quan hệ tốt với chính phủ, các phương tiện truyền thông, nhà cung cấp,
đồng nghiệp, khách hàng và cộng đồng mà tổ chức hoạt động trong đó
Những lợi ích mà trách nhiệm xã hội mang lại cho các tổ chức đã được chứng minh qua thực tế Qua thực tế khảo sát, người ta nhận thấy rằng những doanh nghiệp chú trọng nhiều đến trách nhiệm xã hội cũng là những doanh nghiệp có mức lợi nhuận cao hơn trung bình Sau khi nghiên cứu một số doanh nghiệp, một số nhà nghiên cứu của trường Đại học Sidney, Đại học Iowa đã nhận thấy rằng kết quả tài chính một doanh nghiệp tỷ lệ thuận với thành tựu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đó
Vào thập niên 90 của thế kỷ trước, một bà ký giả nước ngoài khám phá một nhà máy ở Việt Nam sản xuất giày gia công cho Nike Công nhân của nhà máy này phải làm việc trong một môi trường không khí nguy hại đến sức khỏe Độc giả tờ báo của
bà ngay tức khắc phổ biến tin này và kêu gọi tẩy chay không mua giày của Nike nữa Trước doanh số xuống dốc, Nike đành phải công bố một chính sách trách nhiệm xã hội đối với những nhà cung cấp của họ: những nhà cung cấp phải tuân thủ những điều lệ của Nike về trách nhiệm xã hội Chính nhờ sự thay đổi đúng đắn, kịp thời và hợp lý này mà Nike đã giữ vững được vị trí của mình trên thị trường kinh doanh và tiếp tục phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay
Sau 130 năm thành lập, ngày nay General Electric (GE) là một tập đoàn đa quốc gia có trên 300 nghìn nhân viên, kinh doanh tại trên 100 quốc gia trong nhiều
Trang 40lĩnh vực từ năng lượng, giao thông vận tải, thiết bị y tế, dịch vụ tài chính và nghiên cứu, phát triển công nghệ…, với doanh thu năm 2009 đạt 157 tỷ Đô la Mỹ Có một “bí quyết” giúp làm nên cơ đồ của GE, đó là tập đoàn này đã xây dựng và thực thi nghiêm túc các quy tắc công dân doanh nghiệp – một cách gọi khác nữa của trách nhiệm xã hội
Những năm gần đây, ở nước ta đã có một số doanh nghiệp chủ động thực hiện trách nhiệm xã hội và nhờ đó thương hiệu của họ càng được xã hội biết đến như Mai Linh, Kinh Đô, ACB, Khảo sát do viện Khoa học Lao động và Xã hội tiến hành gần đây trên 24 doanh nghiệp thuộc 2 ngành dệt may và da giầy, đã chỉ ra rằng, nhờ việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%, năng suất lao động cũng tăng từ 34,2 lên 35,8 triệu đồng/lao động/năm, tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97%
Thêm nữa, sau những gì đã xảy ra với Vedan, Tung Kuang, Vinamit,… có lẽ cần trở lại với vấn đề xây dựng và thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hay
có thể nói là văn hóa doanh nghiệp tại nước ta Trước những thông tin về sự hủy hoại môi trường, môi sinh, ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc đồng áng của hàng vạn nông dân trong cả một vùng rộng lớn, chắc hẳn những cổ đông của các doanh nghiệp này cũng chẳng sung sướng gì khi nhận những đồng cổ tức được chia từ lợi nhuận mà doanh nghiệp có được do né tránh việc xử lý nước thải Việc người tiêu dùng từ chối
sử dụng sản phẩm hay dịch vụ của các doanh nghiệp này cũng là điều dễ hiểu
Đối với các trường đại học trên thế giới cũng vậy, trường đại học nào thực hiện trách nhiệm xã hội tốt tức là có sản phẩm đào tạo đạt chất lượng cao, có khả năng tác nghiệp tốt, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, tạo ra nhiều công trình nghiên cứu có giá trị,
có khả năng áp dụng lớn, giải quyết được nhiều vấn đề trong thực tiễn thì đó là những trường đại học danh tiếng, khẳng định được vị thế của mình, khả năng cạnh tranh lớn, thu hút được lượng lớn những sinh viên có chất lượng theo học và sự tín nhiệm, mong muốn hợp tác, sử dụng những công trình nghiên cứu của Nhà trường của các cá nhân,
tổ chức trong xã hội Những trường đại học như vậy ngày càng phát triển, ngày càng khẳng định được vị thế của mình, được học tập, làm việc trong những ngôi truờng như vậy luôn là niềm ao ước của rất nhiều người như trường đại học Havard, trường đại học Kỹ thuật Bauman, trường đại học Tổng hợp Lômônôxôp Còn các trường đại học nào mà chất lượng đào tạo thấp, không đáp ứng được yêu cầu của xã hội, chất lượng nghiên cứu kém thì chẳng mấy chốc sẽ không có người muốn theo học, không có đối tác muốn hợp tác và nhanh chóng đóng cửa