1 Đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam" củ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN THU TRANG
XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH THÔNG TIN
HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hữu Hùng
Hà Nội - 2010
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu: 6
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 7
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Mẫu khảo sát 8
6 Câu hỏi nghiên cứu 8
7 Giả thuyết nghiên cứu 8
8 Phương pháp nghiên cứu 9
9 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH THÔNG TIN HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 10
1.1 Một số khái niệm cơ bản 10
1.1.1 Khoa học 10
1.1.2 Công nghệ 11
1.1.3 Đổi mới công nghệ 14
1.1.4 Chính sách 15
1.2 Khái niệm thông tin và thông tin quản lý 16
1.2.1 Định nghĩa thông tin và thông tin quản lý 16
1.2.2 Giá trị của thông tin 17
1.2.3 Đặc trưng và vai trò của thông tin quản lý 19
1.2.4 Phân loại thông tin quản lý 21
1.2.5 Quá trình thông tin trong quản lý 23
1.3 Khái niệm DNNVV và một số đặc điểm của DNNVV 26
1.3.1 Khái niệm DNNVV 26
1.3.2 Một số đặc điểm của DNNVV 28
1.4 Hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp và vai trò của thông tin đối với hoạt động đổi mới công nghệ 30
1.4.1 Hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp 30
1.4.2 Quan niệm chung về thông tin KH&CN 32
1.4.3 Thông tin KH&CN và vai trò của thông tin KH&CN 33
1.5 Quản lý nhà nước đối với hoạt động thông tin 35
Kết luận chương 1 36
CHƯƠNG 2 37
HIỆN TRẠNG ĐẢM BẢO THÔNG TIN HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 37
2.1 Thực trạng hoạt động đổi mới công nghệ tại các DNNVV 37
2.1.1 Trình độ công nghệ của DNNVV 37
2.1.2 Những khó khăn của DNNVV khi tiến hành đổi mới công nghệ 38
2.1.3 Chiến lược phát triển của DNNVV 42
2.1.4 Nhu cầu của DNNVV trong hoạt động đổi mới công nghệ 43
2.2 Khái quát về thực trạng thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV 46
2.3 Đánh giá khả năng khai thác thông tin hỗ trợ hoạt động đổi mới công nghệ của DNNVV 54
2.3.1 Đánh giá qua kết quả khảo sát 54
Trang 32.3.2 Nguyên nhân thực trạng về vai trò của thông tin đối với hoạt động đổi mới công
nghệ tại các DNNVV 58
Kết luận chương 2 60
CHƯƠNG 3 61
ĐỀ XUẤT VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH THÔNG TIN HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 61
3.1 Yêu cầu của chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV 61
3.1.1 Cấu trúc của chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV 61 3.1.2 Các cách tiếp cận chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV 62
3.1.3 Những yếu tố cơ bản của chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV 64
3.2 Mục tiêu của chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV 65
3.3 Các vấn đề cần giải quyết trong việc xây dựng chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV 67
3.4 Đề xuất nội dung chính sách 70
3.5 Cơ chế tổ chức xây dựng và thực thi chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV 76
Kết luận chương 3 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
KH&CN: Khoa học và Công nghệ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CIEM: Viện Quản lý kinh tế Trung ương
Viện chiến lược và chính học và công nghệ
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH&CN: Khoa học và Công nghệ
NISTPASS: Viện chiến lược và chính sách Khoa học và công nghệ OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
R&D: Nghiên cứu và triển khai
Trang 5
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với mọi quốc gia, doanh nghiệp luôn được coi là lực lượng chủ lực, đóng vai trò quyết định đến sự tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế, tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới, nâng cao thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện các chính sách xã hội Do vậy, việc xây dựng
và phát triển doanh nghiệp luôn được coi là nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ quốc qia nào
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 20101
của Việt Nam đặt ra mục tiêu cả nước sẽ có 500.000 doanh nghiệp, trong đó có nhiều doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả và có tầm cỡ quốc tế Cần nhấn mạnh rằng Việt nam chỉ có thể trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020 nếu có nhiều doanh nghiệp mạnh và thành công Doanh nghiệp có vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc gia và họ xứng đáng được hưởng các chế độ hỗ trợ của nhà nước
và sự ủng hộ của xã hội để có thể nâng cao sức cạnh tranh và đóng góp tích cực hơn nữa cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Viện Quản lý kinh tế Trung ương đưa ra kết quả khảo sát về tình hình
sử dụng thiết bị - công nghệ và tư vấn công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam Kết quả khảo sát đã thể hiện rõ: mức đầu tư cho đổi mới thiết bị - công nghệ của doanh nghiệp chỉ chiếm 3% doanh thu cả năm, phần lớn doanh nghiệp sử dụng công nghệ của những năm 80 của thế kỷ trước, 69% doanh nghiệp phụ thuộc vào nguyên vật liệu, 52% phụ thuộc vào thiết bị, công nghệ nhập khẩu và 19% doanh nghiệp lệ thuộc vào bí quyết công nghệ Số cán bộ,
kỹ thuật có chuyên môn của doanh nghiệp cũng chỉ đạt 7% Việc đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là DNNVV còn rất chậm, thụ động và chỉ mang tính tình huống là chính Trong số các nguyên nhân của tình hình trên có nguyên nhân do thiếu thông tin nghiêm trọng Doanh nghiệp
1
Báo cáo đánh giá tổng quát thành tựu kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2005 và các chỉ tiêu phát triển kinh
tế - xã hội giai đoạn 2006 – 2010 của chính phủ tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa X tại Hà Nội
Trang 6rất cần một địa chỉ tin cậy để thẩm định về nguyên vật liệu, công nghệ, thiết bị nhưng những thông tin như vậy hầu như chưa có
Sau hơn bốn năm Luật doanh nghiệp ra đời, có thêm hàng chục ngàn doanh nghiệp được khai sinh nhưng mức đầu tư cho thiết bị mới vẫn gần như giẫm chân tại chỗ Khoảng cách giữa công nghệ hiện đại, phù hợp, hiệu quả với doanh nghiệp nói chung ngày càng lớn và một thị trường công nghệ xem
ra vẫn rất xa vời
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển theo chiều sâu, dựa trên cơ sở đổi mới công nghệ và các phương thức quản lý hiện đại thì vai trò của thông tin càng trở nên quan trọng Thiếu thông tin, các quyết định sẽ bị sai lệch, thiếu
cơ sở khoa học, không thực tiễn và trở nên kém hiệu quả Thời gian qua, việc
hỗ trợ doanh nghiệp bằng các biện pháp trực tiếp, chủ yếu thông qua các khuyến khích về thuế, tín dụng từ phía nhà nước đã bộc lộ nhiều điểm hạn
chế Nghị quyết 49/CP của Chính phủ đã đánh giá nước ta còn là nước nghèo
thông tin Như vậy có nghĩa là thông tin chưa được tổ chức tốt thành nguồn
lực để từ đó thực sự trở thành của cải, thành hàng hóa, đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế nói chung
DNNVV thường là những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính yếu, rất
lo ngại khi đầu tư một khoản tiền lớn để đổi mới công nghệ Nếu thất bại, công năng sử dụng của công nghệ mới không phù hợp với thực tế sản xuất thì hoạt động đổi mới ấy sẽ trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp Nguồn thông tin phong phú, đa dạng, chính xác, kịp thời sẽ giảm đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra trong nghiên cứu, trong sản xuất và trong các hoạt động đổi mới công nghệ của DNNVV Việc quản lý nhà nước đối với thông tin và hoạt động thông tin trở thành vấn đề cấp bách, cần được nghiên cứu để tìm ra các giải pháp cần thiết để thông tin thực sự trở thành nguồn lực, hỗ trợ cho các doanh nghiệp – cũng là hỗ trợ nền kinh tế
Vì lý do đó tôi chọn chủ đề "Xây dựng chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV" làm đề tài luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý khoa học và công nghệ
Trang 72 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Chủ đề đổi mới công nghệ tại các DNNVV đã được nhiều tác giả đề cập đến, đặc biệt là trong xu thế phát triển và hội nhập đang đặt ra câu hỏi đối với năng lực cạnh tranh của Việt Nam Bên cạnh đó, xu thế xây dựng và áp dụng chính sách đổi mới ở nhiều nước cũng đang ảnh hưởng lớn đến các lựa chọn chính sách của các nước đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng
(1) Đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam" của Tiến sĩ Trần Ngọc Ca (2009)
đã lựa chọn phân tích hai mảng chính sách được xem là ảnh hưởng khá rõ tới hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai trong doanh nghiệp đó là: chính sách tài chính và chính sách nhân lực Các giả thuyết sau đã được đề tài kiểm chứng:
- Mặc dù môi trường chính sách tài chính đã có những tiến bộ nhất định trong thời gian qua và bao gồm nhiều vấn đề khá đầy đủ thuộc cơ chế khuyến khích thúc đẩy đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai trong các doanh nghiệp, tuy nhiên việc soạn thảo và ban hành một số văn bản chính sách còn vội vàng, nội dung quy định còn quá chung chung và chưa thể hiện sự hiểu biết thấu đáo về đặc thù hoạt động đổi mới công nghệ nên hiệu quả còn thấp
- Các chính sách về nhân lực có tầm quyết định quan trọng trong đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp trong nhiều trường hợp còn cấp bách hơn chính sách tài chính
- Hành vi đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp
phụ thuộc vào các yếu tố không liên quan đến chính sách đẩy Vấn đề sâu xa
thúc bách các doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai nằm trong các yếu tố của nền kinh tế vĩ mô, vào nhu cầu cạnh tranh, vào tính cấp
thiết của đổi mới (chính sách kéo) Do vậy, nếu chỉ nhằm vào giải quyết các
vấn đề của chính sách đẩy bằng các cơ chế khuyến khích trực tiếp cho doanh
Trang 8nghiệp khi họ đổi mới mà không tiến tới quan tâm xử lý các vấn đề thuộc chính sách kéo nhằm tạo môi trường (thông thường là về thị trường cạnh tranh) thì hiệu quả của các chính sách đẩy sẽ rất thấp và tình trạng chung của đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai trong doanh nghiệp còn tiếp tục yếu kém
(2) Năm 2000 Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hùng đã nghiên cứu
đề tài "Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách quốc gia về thông tin khoa học và công nghệ" Đề tài đã làm sáng tỏ được các khái niệm liên quan đến chính sách thông tin khoa học và công nghệ, đánh giá hiện trạng
và đề xuất xây dựng chính sách thông tin khoa học và công nghệ quốc gia trên
cơ sở xây dựng hạ tầng thông tin đầy đủ và vững chắc, thành lập một hội đồng chính sách thông tin khoa học và công nghệ quốc gia bao gồm những nhà khoa học, nhà quản lý để giúp chính phủ có quyết định đúng đắn về chính sách, chiến lược để phát triển công tác thông tin khoa học và công nghệ
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá vai trò của thông tin đối với hoạt động đổi mới công nghệ tại các DNNVV;
- Đề xuất việc xây dựng chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đưa ra hệ thống lý thuyết, cơ sở lý luận có liên quan đến các khái niệm: thông tin, công nghệ, thông tin KH&CN, chính sách, chính sách thông tin KH&CN đổi mới công nghệ, doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Khảo sát thực tiễn trên địa bàn Hà Nội và tỉnh Vĩnh Phúc về việc sử dụng thông tin đối với hoạt động đổi mới công nghệ tại các DNNVV;
- Trên cơ sở khảo sát và phân tích thực tiễn, đề xuất việc xây dựng chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV
Trang 94 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận văn sử dụng các số liệu có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 2000 đến 2010
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: trên địa bàn Hà Nội và tỉnh Vĩnh
- Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa – Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
- Trung tâm hỗ trợ DNNVV phía Bắc
- 30 DNNVV thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có trụ sở đặt trên địa bàn Hà Nội và tỉnh Vĩnh Phúc Các DNNVV được phỏng vấn là những doanh nghiệp đã có thời gian hoạt động ít nhất là 3 năm Cuộc khảo sát được thực hiện đồng thời bằng hai hình thức: qua gửi thư và phỏng vấn trực tiếp các chủ hoặc giám đốc điều hành các DNNVV
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Thông tin có vai trò như thế nào đối với hoạt động đổi mới công nghệ tại các DNNVV?
- Chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV cần đáp ứng những yêu cầu nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Luận văn nhằm kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu sau đây:
- Thông tin giúp các DNNVV tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả hoạt động đổi mới công nghệ;
- Các DNNVV còn khó khăn trong khâu tiếp cận thông tin, chưa biết
Trang 10- Chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV cần đáp ứng tối đa nhu cầu thông tin của doanh nghiệp khi đổi mới công nghệ như: thông tin về thị trường công nghệ, sở hữu trí tuệ, hành lang pháp lý, xúc tiến thương mại
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích, thống kê, tổng hợp tài
liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp, kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: các tài liệu có liên quan đến vai trò của thông tin trong hoạt động đổi mới công nghệ tại các DNNVV, đặc điểm về tổ chức và hoạt động đổi mới công nghệ trong DNNVV, sự khác biệt
về đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp lớn và ở DNNVV, các chính sách định hướng doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh bằng đổi mới công nghệ,
Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu, lấy ý
kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý hoạt động thông tin khoa học – công nghệ, nhà quản lý doanh nghiệp;
Phương pháp nghiên cứu trường hợp: nghiên cứu một số trường hợp
điển hình của sự không thành công đối với hoạt động đổi mới công nghệ tại các
DNNVV mà nguyên nhân trực tiếp là thiếu thông tin
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV
Chương 2 Hiện trạng đảm bảo thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV (qua điều tra tại Hà Nội và Vĩnh Phúc)
Chương 3 Đề xuất việc xây dựng chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVVchính s
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH THÔNG TIN HỖ TRỢ
ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khoa học:
Từ điển Larousse (2002) của Pháp định nghĩa: “Khoa học là một tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo một quy luật xác định”
Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1986) định nghĩa: “Khoa học
là lĩnh vực hoạt động của con người, có chức năng xử lý và hệ thống hóa về mặt lý thuyết các tri thức khách quan”, “Là một trong những hình thái ý thức
xã hội, bao gồm trong đó cả những hoạt động nhằm thu nhận các kiến thức mới, và cả những kết quả của các hoạt động đó”
Từ điển MacMillan English Dictionary for Advanced Learners (2006) định nghĩa: “Khoa học là một hoạt động nghiên cứu và kiến thức về thế giới vật lý và hành vi của nó, dựa trên các thực nghiệm và các sự kiện được kiểm chứng và được tổ chức thành hệ thống” Tiếp theo định nghĩa này, trong từ điển MacMillan tách ra hai từ mục: (1) Khoa học là một lĩnh vực nghiên cứu
(an area of study) sử dụng các phương pháp khoa học, và (2) Khoa học là một chủ đề nghiên cứu (a subject), chẳng hạn, vật lý học, hóa học
Từ điển Cobuild Learner’s Dictionary (2001) định nghĩa: “Khoa học là
một study về giới tự nhiên và hành vi của giới tự nhiên”, đồng thời cũng đưa
ra định nghĩa thứ hai: “Khoa học là những tri thức đạt được từ công việc
nghiên cứu” Còn study thì được định nghĩa là một “activities of studying”,
nghĩa là một loại hoạt động
Từ điển Hutchinson Dictionary of Ideas (1994) định nghĩa: Khoa học là
“any systematic field of study”, nghĩa là một lĩnh vực nghiên cứu có hệ thống
và “nhằm sản xuất ra (to produce) các tri thức”
Trang 12Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (1994) định nghĩa: “Khoa học là một thiết chế xã hội” (Nguyễn Khắc Viện gọi là thể chế xã hội) Định nghĩa này dựa trên nghiên cứu của một nhà nghiên cứu lịch sử khoa học người Mỹ, D.J Price từ năm 1972
Như vậy, về cơ bản có 4 định nghĩa về khoa học dựa trên các cách tiếp cận sau2
:
Khoa học là một hệ thống các tri thức
Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội
Khoa học là một thiết chế xã hội
Cả bốn khái niệm trên đều có chỗ đứng trong tư duy và hành động của những người làm nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn
này, khái niệm khoa học được hiểu là “lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sản
xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất này” (Từ điển Triết học của Liên
Xô - bản tiếng Việt, 1975)
1.1.2 Công nghệ:
Công nghệ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "techne" có nghĩa là một khoa học hay sự nghiên cứu Công nghệ là sản phẩm do con người tạo ra làm công cụ để sản xuất ra của cải vật chất Cho đến bây giờ vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về công nghệ Có thể xem xét một số định nghĩa sau3
: Định nghĩa 1: Theo tác giả F.R.Root, "công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới", như vậy, bản chất của công nghệ là dạng kiến thức và mục tiêu sử dụng công nghệ là áp dụng vào sản xuất và tạo ra các sản phẩm mới
2
Vũ Cao Đàm, "Định nghĩa khái niệm "khoa học" trong Luật khoa học và công nghệ nên như thế nào?"
Tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 5 năm 2008
3
Trần Ngọc Ca, Đề tài "Nghiên cứu cơ chế và chính sách phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam",
NISTPASS, 2003
Trang 13Định nghĩa 2: Theo J.D.Dunning, "công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản suất và tiếp thị cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới" Công nghệ theo định nghĩa này có bản chất là kiến thức và mục tiêu để nâng cao hiệu quả sản xuất và dịch vụ
Định nghĩa 3: Tác giả R.Jones cho rằng "công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa" Theo định nghĩa này bản chất công nghệ là cách thức và mục tiêu là dùng để chuyển nguồn lực thành hàng hóa
Định nghĩa 4: Theo E.M.Graham, "công nghệ là kiến thức không sờ mó được, không phân chia được và có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất
ra các sản phẩm và dịch vụ" Tại đây ta thấy công nghệ cũng có bản chất là kiến thức và mục tiêu là sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ
Định nghĩa 5: Tác giả P.Strunk cho rằng "công nghệ là sự áp dụng khoa học và công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp" Trong định nghĩa này công nghệ có bản chất là kiến thức khoa học và được áp dụng vào công nghiệp
Định nghĩa 6: Ngân hàng thế giới (1985) đưa ra định nghĩa "công nghệ
là phương pháp chuyển hóa các nguồn thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: (1) thông tin về phương pháp; (2) phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa; (3) sự hiểu biết các phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao" Theo định nghĩa này công nghệ có bản chất là thông tin, công cụ, sự hiểu biết và có mục tiêu chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành sản phẩm
Định nghĩa 7: UNCTAD định nghĩa "công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy, nó được mua bán trên thị trường như một hàng hóa được thể hiện ở một trong các dạng sau:
- Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và
Trang 14- Nhân lực, thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực
có trình độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị, kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin;
- Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền"
Định nghĩa này chỉ ra về bản chất công nghệ là tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin, có mục tiêu là làm đầu vào cần thiết cho sản xuất
Định nghĩa 8: Sharif cho rằng "công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội
và văn hóa" Cụ thể hơn, công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản:
- Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh);
- Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm);
- Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu v.v );
- Dạng thiết chế, tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp )
Công nghệ theo nghĩa này có bản chất là vật thể (thiết bị máy móc) còn gọi là phần kỹ thuật; con người, phần con người; ghi chép, phần thông tin; thiết chế tổ chức, phần tổ chức; có mục tiêu để sử dụng tối ưu, để tác động vào các yếu tố môi trường vật chất, xã hội, văn hóa
Định nghĩa 9: Luật khoa học và công nghệ số 21/2000/QH10 viết "công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm" Định nghĩa này nói rõ công nghệ bao gồm cả công cụ và phương tiện
Trang 15Về bản chất, các định nghĩa đều nói tới công nghệ với tư cách là tri thức cần có để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Sự khác biệt ở chỗ có coi những vật mang tri thức công nghệ như máy móc thiết bị, sản phẩm trung gian, lao động khoa học và công nghệ nằm trong phạm trù công nghệ hay không Thực tiễn hoạt động ở Việt Nam việc đổi mới công nghệ chủ yếu là hình thức mua sắm máy móc, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị toàn bộ Do vậy, việc coi công nghệ bao gồm cả những vật mang công nghệ sẽ thuận tiện hơn khi hoạch định chính sách hỗ trợ hoạt động đổi mới công nghệ, nhất là tại các DNNVV
1.1.3 Đổi mới công nghệ
Đổi mới công nghệ là việc chủ động thay thế một phần hoặc toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh4
Đổi mới khác với sáng tạo và sáng chế, việc sáng tạo hoặc sáng chế là việc tạo ra những ý tưởng mới còn đổi mới là dùng những ý tưởng này để tạo
ra lợi ích Sáng chế là giải pháp cho một vấn đề, thường là về mặt kỹ thuật còn đổi mới là sự sử dụng hành công về mặt thương mại của giải pháp này OECD (1997) định nghĩa "đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình là việc thực hiện được sản phẩm và quy trình mới về mặt công nghệ hay đạt được tiến bộ đáng kể về mặt công nghệ đối với sản phẩm và quy trình Đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình được thực hiện nếu đổi mới đó đã được đưa
ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong sản xuất (đổi mới quy trình) Đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình gắn với một chuỗi các hoạt động khoa học công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại" Khái niệm này được hiểu là mới và được cải tiến đối với doanh nghiệp, không nhất thiết
là mới và được cải tiến so với thế giới, điều này cho phép phân tích hoạt động đổi mới công nghệ với phạm vi rộng hơn và phù hợp hơn với những nước đang phát triển như Việt Nam
4
Nguyễn Thanh Tùng "Nghiên cứu xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ năng nghiệp vụ đổi mới công nghệ cho
Trang 16Như vậy, đổi mới công nghệ làm phát sinh nhiều loại nhu cầu công nghệ khác nhau, rất đa dạng, thậm chí còn có cả những nhu cầu phi công nghệ Và cũng không nhất thiết cứ đổi mới hoặc đang tiến hành đổi mới doanh nghiệp mới có nhu cầu công nghệ Việc học hỏi và tích lũy năng lực công nghệ của doanh nghiệp có thể hoàn toàn không gắn với một đổi mới nào
cụ thể cũng làm phát sinh nhu cầu đối với công nghệ
1.1.4 Chính sách:
Có rất nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách
Thomas R Dye đưa ra chính nghĩa về chính sách công: "Chính sách công là điều mà một chính phủ chọn để làm hoặc không làm" Khái niệm này gần giống với cách hiểu về chiến lược
Guy Peters định nghĩa: "Chính sách công là toàn bộ hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của công dân" Định nghĩa này cho thấy về bản chất chính sách là hoạt động của Nhà nước
James Anderson đưa ra định nghĩa: "Chính sách là quá trình hành động
có mục tiêu mà một mặc một số chủ thể theo đuổi, để giải quyết những vấn đề
mà họ quan tâm" Định nghĩa này có ý nghĩa chung hơn, không chỉ chính sách công
Vũ Cao Đàm5
định nghĩa: "Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà mỗi chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi cho một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội"
Khái niệm "Hệ thống xã hội" ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường
5
Vũ Cao Đàm "Giáo trình khoa học chính sách", Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2008
Trang 17Chính sách là một thiết chế xã hội và đến lượt mình chính sách lại bao gồm một tập hợp các thiết chế có bản chất phân biệt đối xử, luôn có một nhóm hoặc một số nhóm đóng vai trò tác nhân của mục tiêu phát triển được nhận sự ưu đãi, các nhóm còn lại thì không, thậm chí còn bị thiệt Và do vậy, chính sách bao giờ cũng tạo ra một bất bình đẳng xã hội nhưng một mục tiêu
xã hội lớn hơn sẽ được thực hiện
1.2 Khái niệm thông tin và thông tin quản lý
1.2.1 Định nghĩa thông tin và thông tin quản lý
Theo nghĩa rộng, thuật ngữ “Thông tin” thường có nghĩa là mọi ý tưởng, sự kiện hay tác phẩm được sáng tạo ra “Thông tin” cũng có thể được
sử dụng để nói đến một yếu tố dữ liệu nào đó
Do vậy, thông tin là một cái gì đó có thể làm thay đổi tình trạng kiến thức của một người (những gì mà người đó biết) và đại diện vật chất cho những gì trừu tượng có thể tạo ra được sự thay đổi này
Theo Trần Ngọc Liêu6, thông tin là một vấn đề phức tạp bao chứa đựng nội dung đa dạng và phong phú vì thế nó được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Theo nghĩa chung nhất thì thông tin được hiểu là những tri thức được
sử dụng để định hướng, tác động tích cực và để điều khiển nhằm duy trì tính đặc thù về chất, hoàn thiện và phát triển hệ thống
Thông tin quản lý là hệ thống tri thức được thu thập và xử lý để phục
vụ cho việc ban hành, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá quyết định quản
lý
Từ định nghĩa này, có thể thấy thông tin quản lý bao gồm:
- Hệ thống tri thức được thu thập và xử lý (thông tin đầu vào);
- Thông tin trong tổ chức thực hiện quyết định quản lý (quá trình truyền thông);
- Thông tin cho việc kiểm tra, đánh giá quyết định quản lý (thông tin phản hồi)
Trang 18
1.2.2 Giá trị của thông tin
Trong xã hội hiện đại, thông tin được coi là nguồn lực quan trọng để phát triển Thời đại ngày nay là thời đại mà mọi hoạt động phải dựa trên thông tin, sức hấp dẫn của thông tin là ở giá trị của nó Tuy nhiên, không phải mọi thông tin đều có giá trị và không phải nó đều có giá trị như nhau đối với mọi người dùng tin Thông tin không có giá trị nếu rơi vào các bối cảnh sau đây:
Nội dung thông tin không liên quan gì tới công việc đang làm;
Thông tin đến không đúng lúc (quá muộn hoặc quá sớm);
Thông tin không chính xác
Thông tin là một loại hàng hoá đặc biệt và quan trọng, song khác với các vật phẩm hàng hoá khác, giá trị của thông tin rất khó được xác định Vấn
đề giá trị của thông tin từ lâu vẫn là một trong số các vấn đề trung tâm của thông tin học Vào những năm 60, nhà thông tin học Hoa Kỳ - Mooer đã phát biểu: "Thông tin chỉ có giá trị khi và chỉ khi nó có giá trị và nó được sử dụng" Với những gì là đặc trưng của thông tin, không thể dùng phép đo thông thường về mặt chi phí để xác định giá trị của thông tin
Chất lượng của thông tin bị chi phối bởi 3 nhóm yếu tố chính sau đây:
- Nhóm yếu tố nội dung;
- Nhóm yếu tố thời gian;
- Nhóm yếu tố hình thức
Nội dung là yếu tố quan trọng nhất tạo nên chất lượng của thông tin Cũng chính thông qua nội dung, vấn đề quản trị thông tin được xác lập, phân biệt quản trị thông tin với quản trị các vật thể (quản lý vật mang tin) Yếu tố nội dung thông tin bao gồm 3 đặc tính sau đây:
- Chính xác (Accuracy): Thông tin phải chính xác không được sai lệch
so với nguồn tin được xử lý
Trang 19- Phù hợp (Relevance): thông tin phải liên quan tới công việc và nhiệm
vụ đang cần được giải quyết
- Đồng bộ (Completeness): thông tin phải đầy đủ các yếu tố mà người
dùng tin muốn biết để giải quyết công việc
Tiếp theo nội dung là yếu tố thời gian của thông tin, bao gồm 2 đặc trưng sau đây:
- Kịp thời (Timeliness): thông tin phải được đưa đến người dùng tin
đúng lúc họ cần
- Thời sự (Current): thông tin phải được thời sự và được cập nhật kịp
thời Trong bối cảnh xã hội hiện đại, tốc độ phát triển và nhịp độ thay đổi của các sự kiện rất nhanh chóng, thì những thông tin thậm chí mới chỉ có ngày hôm trước đã trở nên lạc hậu và không còn giá trị sử dụng
Yếu tố nội dung và yếu tố thời gian của thông tin đóng vai trò quyết định chất lượng của thông tin Nếu người dùng tin, ví dụ là các nhà quản lý,
mà không có được những thông tin cần thiết, và có được thông tin một cách kịp thời, thì không thể có các quyết định đúng đắn trong các công việc của mình được
Yếu tố hình thức của thông tin yêu cầu thông tin phải đáp ứng tính chi tiết và hấp dẫn
Tính chi tiết (Detail) yêu cầu thông tin đưa ra phải cụ thể tới một mức
thích hợp Ví dụ các dữ liệu về nội dung một bài báo có thể biểu đạt qua một chuỗi các từ khoá Số lượng của từ khoá dùng để định chủ đề bài báo được gọi là chiều sâu định chủ đề Tham số này cũng biểu hiện tính chi tiết của thông tin Hình thức trình bày của thông tin cũng góp phần làm tăng tính hấp dẫn, từ đó tạo thêm giá trị cho thông tin
Thông tin trở thành vấn đề thời đại vì tầm quan trọng nằm trong giá trị của chúng Song bản thân thông tin không thể tạo ra giá trị, giá trị thông tin được hình thành do kết quả của quá trình lao động khoa học để thông tin trở
Trang 20thành một sản phẩm có chất lượng đáp ứng nhu cầu sử dụng của con người Giá trị của thông tin không thể chỉ được hiểu một chiều: Có giá trị tích cực (dương) có giá trị tiêu cực (âm) Trách nhiệm của cơ quan thông tin là phải làm tăng phần các giá trị tích cực để thông tin giúp cho con người giải quyết
có hiệu quả các vấn đề của cuộc sống, hạn chế và tiến tới thủ tiêu các giá trị tiêu cực Có như vậy, thông tin mới thực sự là nguồn lực của sự phát triển và hoạt động thông tin thực sự mới là hoạt động có ích cho xã hội
1.2.3 Đặc trưng và vai trò của thông tin quản lý
- Thông tin không phải là vật chất, nhưng nó tồn tại nhờ “vỏ vật chất”, tức là vật mang thông tin (tài liệu, sách báo, tivi…) Chính vì vậy, thường xảy
ra hiện tượng: cùng một vật mang thông tin như nhau nhưng người nhận tin
có thể thu lượm được những giá trị khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ và vấn
đề mà họ quan tâm
- Thông tin trong quản lý có số lượng lớn vì tính chất đa dạng và phong phú của hoạt động quản lý, bởi vậy, mỗi chủ thể quản lý, mỗi tổ chức đều có thể trở thành một trung tâm thu phát thông tin
- Thông tin trong quản lý phản ánh trật tự và cấp bậc của quản lý Trong một tổ chức tồn tại các cấp quản lý khác nhau Do đó, việc tiếp nhận và
xử lý thông tin cũng như sử dụng nó đối với các cấp quản lý khác nhau là có
sự khác biệt Nói cách khác, không thể có sự bình đẳng tuyệt đối trong tiếp nhận, xử lý và sử dụng thông tin của các cấp quản lý và của các thành viên trong tổ chức
Thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý Trong mỗi tổ chức, để cho các hoạt động quản lý có hiệu quả thì điều không thể thiếu được
là phải xây dựng hệ thống thông tin tối ưu Vai trò của thông tin trong quản lý thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
- Vai trò của thông tin trong việc lập kế hoạch và ra quyết định
Trang 21Lập kế hoạch và ra quyết định là công việc phức tạp và khó khăn nhưng nó lại có ý nghĩa tiên quyết đối với các nhà quản lý Để có được những
kế hoạch và những quyết định đúng đắn, các nhà quản lý cần rất nhiều thông tin Nhờ có thông tin mà các nhà quản lý có thể giải quyết đúng đắn và hiệu quả các vấn đề sau:
+ Nhận thức vấn đề cần phải lập kế hoạch và ra quyết định;
+ Xác định cơ hội cũng như thách thức đối với tổ chức;
+ Xác lập các cơ sở tiền đề khoa học cần thiết để xây dựng các mục tiêu;
+ Lựa chọn các phương án để thực hiện các quyết định quản lý
- Vai trò của thông tin trong công tác tổ chức
Trong quá trình thực hiện chức năng tổ chức, thông tin có vai trò quan trọng ở các phương diện sau:
+ Nhận thức các vấn đề liên quan tới việc thiết kế mô hình cơ cấu tổ chức, phân công phân nhiệm và giao quyền;
+ Cung cấp các dữ liệu cần thiết về nhân lực, vật lực và tài lực;
+ Xây dựng các phương án để bố trí, sắp xếp, sử dụng nhân lực và phân
bổ các nguồn lực khác;
+ Giải quyết các vấn đề liên quan tới công tác tổ chức
- Vai trò của thông tin trong công tác lãnh đạo
Khi thực hiện chức năng lãnh đạo, thông tin giúp các nhà quản lý giải quyết đúng đắn và hiệu quả các nội dung sau:
+ Nhận thức các vấn đề liên quan tới động cơ thúc đẩy nhân viên;
+ Cung cấp các dữ liệu để làm cơ sở cho việc xây dựng nội quy, quy chế và chính sách của tổ chức;
+ Lựa chọn các phương pháp và phong cách quản lý hiệu quả
Trang 22- Vai trò của thông tin trong công tác kiểm tra
Trong lĩnh vực kiểm tra, thông tin có vai trò quan trọng trên các phương diện:
+ Nhận thức vấn đề cần phải kiểm tra;
+ Cung cấp dữ liệu cho việc xây dựng các tiêu chuẩn;
+ Xây dựng các phương án để đo lường và các giải pháp sửa chữa sai lầm của chủ thể
Như vậy, có thể thấy rằng thông tin là mạch máu liên kết toàn bộ các chức năng của quy trình quản lý, là nhân tố không thể thiếu để xây dựng, triển khai thực hiện và kiểm tra đánh giá các quyết định quản lý Thông tin là cầu nối giữa tổ chức với môi trường
1.2.4 Phân loại thông tin quản lý
Thông tin quản lý là một dạng thông tin đặc biệt, tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau Tuỳ vào các căn cứ khác nhau mà có thể phân chia thông tin thành loại:
- Căn cứ vào mức độ xử lý thông tin
+ Thông tin ban đầu
Thông tin ban đầu là những thông tin chưa được xử lý để phục vụ cho hoạt động quản lý, nhưng nó có thể là một thông tin đã được xử lý ở phương diện khác với mục đích khác
+ Thông tin trung gian
Thông tin trung gian là loại thông tin đã được xử lý nhưng mới ở mức
sơ cấp Vì vậy, các nhà quản lý phải cẩn trọng trong việc xử lý các thông tin này để phục vụ cho hoạt động quản lý
+ Thông tin cuối cùng
Thông tin cuối cùng là thông tin đã được xử lý một cách triệt để và có thể được sử dụng cho hoạt động quản lý
Trang 23- Căn cứ vào mức độ phản ánh của thông tin
+ Thông tin đầy đủ (Thông tin tổng thể)
Thông tin đầy đủ là thông tin về chỉnh thể đối tượng và đã được xử lý + Thông tin không đầy đủ (Thông tin bộ phận)
Thông tin không đầy đủ là thông tin về một mặt, một khía cạnh của đối tượng
- Căn cứ vào tính pháp lý của thông tin
+ Thông tin chính thức
Thông tin chính thức là thông tin được công bố bởi những cấp quản lý xác định trong tổ chức
+ Thông tin phi chính thức
Thông tin phi chính thức là những thông tin không phải do những người có trách nhiệm trong tổ chức công bố
- Căn cứ vào chức năng của quy trình quản lý:
+ Thông tin phục vụ quá trình lập kế hoạch và ra quyết định;
+ Thông tin phục vụ công tác tổ chức;
+ Thông tin phục vụ công tác lãnh đạo;
+ Thông tin phục vụ công tác kiểm tra
- Căn cứ hướng chuyển động của thông tin:
+ Thông tin theo chiều dọc
Thông tin theo chiều dọc là thông tin từ cấp trên chuyển xuống cấp dưới và cấp dưới chuyển lên cấp trên trong một tổ chức và của quan hệ giữa
tổ chức cấp trên và tổ chức cấp dưới
+ Thông tin theo chiều ngang
Thông tin theo chiều ngang là thông tin giữa các cấp quản lý đồng cấp
và giữa những người bị quản lý với nhau
Trang 24- Căn cứ vào nội dung của các lĩnh vực liên quan tới hoạt động quản lý
+ Thông tin kinh tế, thông tin tài chính,
+ Thông tin pháp luật;
+ Thông tin văn hoá - xã hội
- Theo hình thức truyền đạt thông tin
+ Thông tin bằng văn bản;
+ Thông tin bằng lời nói;
+ Thông tin không lời
Ngoài ra, có thể phân loại: thông tin về nhân sự, thông tin về tài chính ; thông tin mới, thông tin lạc hậu (đã lão hoá),…
1.2.5 Quá trình thông tin trong quản lý
* Quá trình thông tin cho việc xây dựng quyết định quản lý
Quá trình này gồm: Thu thập thông tin; Xử lý thông tin và Sử dụng thông tin
Thu thập, xử lý và sử dụng thông tin liên quan tới những vấn đề về thực trạng, khả năng của tổ chức và những thông tin bên ngoài nhằm xây dựng mục tiêu và các chương trình hoạt động phù hợp
Thu thập Lựa chọn Xử lý
Sử dụng
Ra quyết định
Trang 25* Quá trình thông tin triển khai thực hiện quyết định quản lý
- Ban hành các quyết định quản lý;
- Truyền đạt việc thực hiện quyết định quản lý;
- Giải thích, hướng dẫn thực hiện quyết định
Đây chính là quá trình truyền tin trong quản lý Quá trình này bao gồm:
1 Nguồn tin (Quyết định quản lý), 2 Thông điệp, 3 Mã hoá, 4 Truyền đạt qua các kênh, 5 Giải mã, 6 Nơi nhận, 7 Thông tin phản hồi
* Quá trình thông tin cho việc kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quyết định quản lý
- Thông tin cho việc xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra;
- Thông tin về kết quả thực hiện quyết định quản lý;
- Thông tin về kết quả đánh giá;
- Những thông tin về các giải pháp điều chỉnh
Trang 26* Những trở ngại của quá trình thông tin trong quản lý
Những trở ngại đối với quá trình thông tin trong quản lý:
- Những trở ngại trong việc thu thập, xử lý và sử dụng thông tin cho việc xây dựng quyết định quản lý;
+ Tình trạng quá tải hoặc thiếu thông tin hữu ích;
+ Hạn chế về năng lực và kĩ năng xử lý thông tin
- Những trở ngại trong việc truyền đạt thông tin:
+ Đối với chủ thể truyền đạt;
* Những yêu cầu sử dụng thông tin trong quản lý
- Thông tin trong quản lý phải khách quan, chính xác, đầy đủ;
- Thông tin trong quản lý phải kịp thời, không sử dụng thông tin đã lạc hậu;
- Thiết lập hệ thống xử lý thông tin hữu hiệu;
Ưu điểm
Hạn chế
Các tiêu chuẩn
Đo lường Kết quả
Thông tin xây dựng Tiêu chuẩn
Kết quả thực hiện
Giải pháp NHÀ QUẢN LÝ
Trang 27- Truyền đạt thông tin phải rõ ràng, dễ hiểu;
- Sử dụng thông tin phản hồi 7
1.3 Khái niệm DNNVV và một số đặc điểm của DNNVV
Có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp, ở góc độ tổ chức, doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc, thiết bị và con người được tổ chức nhằm đạt mục tiêu nhất định Dưới góc độ lợi nhuận, doanh nghiệp là một chủ thể tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Theo quan điểm lý thuyết hệ thống, doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, chịu sự tương
hỗ lẫn nhau và phải tuân thủ những điều kiện hoạt động của hệ thống nhằm phục vụ mục tiêu chung
Hiện ở Việt Nam có ba loại hình doanh nghiệp nắm giữ hầu như toàn
bộ tài sản quốc gia: doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân
Ở Việt Nam, theo định nghĩa tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ thì DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ là
Trang 28doanh nghiệp có số lao động từ 10 người trở xuống; doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc có số lao động
từ trên 10 người đến 200 người (đối với doanh nghiệp hoạt động thương mại
và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định là từ 10 tỷ đồng trở xuống hoặc có số lao động từ trên 10 người đến 50 người); doanh nghiệp vừa
là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc
có số lao động từ trên 200 người đến 300 người (đối với doanh nghiệp hoạt động thương mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định là từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng hoặc có số lao động từ trên 50 người đến 100 người)
DNNVV có cả ở ba loại hình: doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, nếu tính cả các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp từ 10 lao động trở lên không đăng ký thành lập doanh nghiệp (Hộp 1), thì số doanh nghiệp nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng, kể cả cơ quan đăng ký kinh doanh là rất lớn Số doanh nghiệp này cho đến nay vẫn là một ẩn số chưa có lời giải
Hộp 1: Hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp có 10 lao động trở lên không đăng ký thành lập doanh nghiệp
1 Nghị định 109/2004/NĐ-CP, ngày 2/4/2004 của Chính phủ qui định: Những cơ sở kinh doanh có từ 10 lao động trở lên lựa chọn một loại hình doanh nghiệp thích hợp để đăng ký và hoạt động theo Luật doanh nghiệp
2 Kết quả điều tra cơ sở SXKD cá thể phi nông nghiệp do Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2004 cho thấy cả nước có hơn 2.9 triệu cơ sở, trong đó có 22.599 cơ sở có từ 10 lao động trở lên vẫn không đăng ký thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, riêng 30 tỉnh phía Bắc có 12.337 cơ sở loại này
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2004
Trang 291.3.2 Một số đặc điểm của DNNVV
Bộ phận DNNVV tại Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao, số lượng của các DNNVV đã liên tục gia tăng: tính đến năm 2006, các DNNVV chiếm trên 96% tổng số doanh nghiệp của cả nước DNNVV đã có những đóng góp không thể phủ nhận cho nền kinh tế quốc dân, trong đó, phải kể đến vai trò huy động sử dụng hiệu quả các tài nguyên và nguồn lực đa dạng, tạo ra việc làm cho một bộ phận lực lượng lao động trong nước Tuy vậy, hiện vẫn còn tồn tại những yếu kém bất cập, đó là:
Thứ nhất, hoạt động sản xuất phân tán đi kèm với trình độ công nghệ thấp, lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, hơn nữa tốc độ đổi mới lại quá chậm, không đồng đều và chưa theo một định hướng phát triển rõ rệt Hiện vẫn còn tồn tại đan xen trong nhiều doanh nghiệp các loại thiết bị công nghệ từ lạc hậu, trung bình đến tiên tiến, do vậy đã làm hạn chế hiệu quả vận hành thiết bị và giảm mức độ tương thích, đồng nhất giữa sản phẩm đầu vào, đầu ra
Phần lớn các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới 2 đến 3 thế hệ 80% - 90% công nghệ nước ta đang sử dụng là công nghệ ngoại nhập Có 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ 1950 - 1960, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% là
đồ tân trang Rất nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang sử dụng máy móc, thiết bị do các doanh nghiệp nước ngoài đã thải bỏ Tính chung cho các doanh nghiệp, mức độ thiết bị hiện đại chỉ có 10%, trung bình 38% lạc hậu và rất lạc hậu 52% Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ ớ mức thấp, theo đánh giá của Bộ KH&CN thì đổi mới công nghệ thuộc loại năng lực yếu nhất của các doanh nghiệp Việt Nam
Thứ hai, hầu hết các DNNVV đang hoạt động trong tình trạng không
đủ vốn cần thiết, đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường Những khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn của các doanh nghiệp là rất lớn Các doanh nghiệp Nhà nước được ưu đãi hơn về vốn trước hết là được cấp vốn ban đầu
Trang 30từ ngân sách, cấp đất xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh Còn các doanh nghiệp ngoài Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu dựa vào vốn tự có của cá nhân Với khả năng tiếp cận nguồn vốn hạn chế, các doanh nghiệp có tình trạng phổ biến là chiếm dụng vốn lẫn nhau, làm lây nhiễm rủi ro giữa các doanh nghiệp
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 31/12/2007, cả nước có 151.064 DNNVV thực tế hoạt động Trong đó:
Số lượng doanh nghiệp có số vốn dưới 0,5 tỷ đồng: 18.646, chiếm 12,34%
Số lượng doanh nghiệp có số vốn từ 0,5 tỷ đến dưới 1 tỷ: 23.631, chiếm 15,64%
Số lượng doanh nghiệp có số vốn từ 1 tỷ đến dưới 5 tỷ: 72.342, chiếm 47,89%
Số lượng doanh nghiệp có số vốn từ 5 tỷ đến dưới 10 tỷ: 17.629, chiếm 11,67%
Số lượng doanh nghiệp có số vốn từ 10 tỷ đến dưới 50 tỷ: 16.353, chiếm 10,84%
Số lượng doanh nghiệp có số vốn từ 50 tỷ đến 100 tỷ đồng: 2463, chiếm 1,63%
Như vậy, có thể thấy tiềm lực về tài chính của DNNVV hầu như rất hạn chế Lượng vốn nhỏ dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp không có điều kiện
để lựa chọn các mặt hàng có chất lượng cao trong kinh doanh, đầu tư vào đổi mới công nghệ Mặt khác, các cơ chế chính sách tạo vốn cho doanh nghiệp còn có sự phân biệt đối xử giữa các đối tượng là doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, giữa đối tượng là doanh nghiệp lớn và DNNVV Những bất cập này rất cần những nhà quản lý và hoạch định chính sách tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện
Thứ ba, các yếu tố cơ bản của sản xuất chưa được đảm bảo đầy đủ Yếu
tố lao động có vị trí rất quan trọng nhưng hiện trong các DNNVV thì phần đông người lao động có trình độ không cao, đa số là lao động phổ thông, vì
Trang 31vậy khi doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất thì tình trạng thiếu lao động trình độ cao ngày càng trở nên trầm trọng Thêm nữa, phần lớn các doanh nghiệp phải tự đào tạo tay nghề cho người lao động chứ không phải lao động được đào tạo qua hệ thống trường dạy nghề tập trung, điều này dẫn đến chi phí đào tạo cho lao động cao, nhưng trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật của lao động thấp Trong một khảo sát về lĩnh vực này, tỷ lệ đào tạo giữa Đại học, Trung cấp, Công nhân kỹ thuật lần lượt là 110-8310-6 Mô hình
"hình tháp ngược" này không phải là lợi thế cho doanh nghiệp
1.4 Hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp và vai trò của thông tin đối với hoạt động đổi mới công nghệ
1.4.1 Hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp
Theo báo cáo của CIEM8, các doanh nghiệp thường tiến hành một hoặc một số hoạt động đổi mới công nghệ tùy vào khả năng tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị, có thể khái quát như sau:
- Nghiên cứu cải tiến quy trình sản xuất hiện có, bao gồm: cải tiến về máy móc, về phương pháp sản xuất hay nguyên vật liệu, Đây là hoạt động có
tỷ lệ doanh nghiệp tiến hành nhiều nhất Điều này được giải thích là do đầu tư cho hoạt động nghiên cứu cải tiến quy trình ít tốn kém hơn so với đầu tư máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong khi vẫn có đóng góp tích cực trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất hay sản xuất ra những sản phẩm mới
Ngoài ra, một lý do khiến số liệu thống kê cho thấy hoạt động này cao hơn so với các hoạt động khác là do một số doanh nghiệp quan niệm rằng bất
cứ sự can thiệp nào dù lớn hay nhỏ vào máy móc thiết bị, vào quy trình công nghệ hiện có đều được coi là nghiên cứu cải tiến, ngay cả việc thay thế một hoặc một vài chi tiết rất nhỏ Thực tế này thường diễn ra ở khu vực tư nhân có quy mô sản xuất nhỏ
8
"Báo cáo tình hình đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam", Viện quản lý kinh tế
Trang 32- Nghiên cứu cải tiến sản phẩm và đưa ra sản phẩm mới: Đây là một yêu cầu khách quan đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, nhằm đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo sự thay đổi của yếu tố ngoại cảnh Đó là lí do các doanh nghiệp thường xuyên tiến hành hoạt động này
- Nghiên cứu áp dụng các quy trình sản xuất mới: Tại một số doanh nghiệp, việc nghiên cứu áp dụng các quy trình sản xuất mới thường được thực hiện với tính chất là mở rộng sản xuất kinh doanh nhiều hơn là đổi mới công nghệ; có nghĩa là việc đầu tư đổi mới các dây chuyền công nghệ ở doanh nghiệp hoặc nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm hiện có, hoặc phát triển các sản phẩm mới cùng chủng loại với sản phẩm hiện thời và có thể là một mặt hàng hoàn toàn khác Ít có sự áp dụng các quy trình sản xuất mới theo kiểu thay thế các trang thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ hiện có vì điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư một lượng vốn lớn
- Nghiên cứu và triển khai: Đây là hoạt động ít được các doanh nghiệp tiến hành nhất nhằm đổi mới công nghệ của sản xuất Về lý thuyết, hoạt động nghiên cứu và triển khai được các doanh nghiệp thực hiện bao gồm: nghiên cứu nhằm đổi mới sản phẩm/quy trình sản xuất; nghiên cứu để tạo ra công nghệ sản xuất sản phẩm hoặc nâng cấp công nghệ, quy trình sản xuất cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay các doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu và triển khai đa phần phục vụ mục đích ứng dụng, vận hành công nghệ hơn là đổi mới công nghệ
Tình hình đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp9 có thể được khái quát là: đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp thường chỉ là đi mua các máy móc, thiết bị về và đi học để nắm các thao tác cần thiết cho vận hành, hầu như không có những nghiên cứu sâu để làm chủ, cải tiến và phát triển công nghệ, Đổi mới công nghệ được tiến hành khá bị động theo sức ép của thị trường, khi khách hàng đến đặt hàng mới, để sản xuất đòi hỏi phải có công nghệ mới thì doanh nghiệp mới đi tìm công nghệ mới
9
Hoàng Xuân Long, "Về đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ở nước ta" Tạp chí Hoạt động khoa học
số tháng 5 năm 2005
Trang 331.4.2 Quan niệm chung về thông tin KH&CN
Ngày nay, thông tin khoa học và công nghệ được coi là chìa khoá của mọi hoạt động sáng tạo, là yếu tố thiết yếu của năng lực đổi mới, cạnh tranh
và phát triển của mỗi cá nhân, tập thể và của toàn xã hội Chính vì vậy, hoạt động thông tin KH&CN ngày càng được coi trọng và đã trở thành một thành
tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nói chung, và KH&CN nói riêng, của bất cứ quốc gia nào
Nhận thức rõ vai trò của thông tin đối với sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung, và đối với sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ nói riêng, Nhà nước ta đã ban hành một số chủ trương và chính sách nhằm thúc đẩy và phát triển công tác này Những chủ trương và chính sách được ban hành gần đây nhất là:
- Chỉ thị 95-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1991
về việc thúc đẩy công tác thông tin khoa học và công nghệ trong công cuộc đổi mới đất nước;
- Nghị quyết 49/CP của Chính phủ năm 1993 về phát triển công nghệ thông tin ở nước ta trong những năm 90;
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về khoa học, công nghệ và môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trên cơ sở các Nghị quyết, Chỉ thị nêu trên, Bộ KH&CN đã cùng với các ngành hữu quan chuẩn bị và ban hành các văn bản hướng dẫn, cụ thể hoá những nội dung, nhiệm vụ và biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động thông tin KH&CN, củng cố và phát triển hệ thống thông tin KH&CN quốc gia Đến nay, về cơ bản Hệ thống đã bao quát tất cả các ngành kinh tế quốc dân và các lĩnh vực khoa học, công nghệ từ trung ương đến các tỉnh, thành phố trong cả nước
Một số năm gần đây, sự phối hợp hoạt động thông tin-tư liệu khoa học
và công nghệ đã gắn kết các thư viện, cơ quan lưu trữ trong một lĩnh vực hoạt động, cho phép mở rộng phạm vi phục vụ của hệ thống thông tin KH&CN
Trang 34quốc gia, trong đó đáng kể là mạng lưới gồm 61 thư viện khoa học tổng hợp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trên 480 thư viện cấp huyện
và mạng lưới bao gầm 90 kho lưu trữ ở trung ương và địa phương
Ngoài ra, hiện nay trong điều kiện đổi mới cơ chế kinh tế và mở cửa, tham gia hoạt động thông tin KH&CN còn có các cơ quan và tổ chức tư vấn, các Hiệp hội thuộc các lĩnh vực khác nhau Như vậy, ở nước ta, cho đến nay, một hệ thống các cơ quan thông tin tư liệu KH&CN với các quy mô tổ chức khác nhau đã tạo nên một hạ tầng cơ sở, đảm bảo cho công tác thông tin tư liệu KH&CN thực sự trở thành một lĩnh vực hoạt động xã hội, góp phần tích cực phục vụ công tác quản lý, lãnh đạo, nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh Hoạt động này đang cố gắng từng bước gắn chặt với quá trình phát triển kinh tế-xã hội nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu thông tin của xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế
1.4.3 Thông tin KH&CN và vai trò của thông tin KH&CN
- Thông tin khoa học và công nghệ là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin
tức, tri thức khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội
- Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ là hoạt động nghiệp vụ về
tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin khoa học và công nghệ; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin khoa học và công nghệ
- Tài liệu là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản,
âm thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến
và sử dụng
- Vật mang tin là phương tiện vật chất dùng để lưu giữ thông tin gồm
giấy, phim, băng từ, đĩa từ, đĩa quang và các vật mang tin khác
- Nguồn tin khoa học và công nghệ bao gồm sách, báo, tạp chí, cơ sở
dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tài liệu về sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu
Trang 35chuẩn, đo lường, chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được tổ chức, cá nhân thu thập
- Tổ chức dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ là đơn vị thực hiện
chức năng cung cấp dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thành lập theo quy định của pháp luật.10
Trong thời đại ngày nay thông tin đang tỏ rõ là nguồn lực và là nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và trong hoạt đổi mới công nghệ nói riêng Có thể nêu ra một số vai trò của thông tin như sau:
Trước hết, thông tin giúp doanh nghiệp sẽ có thể lập kế hoạch đổi mới công nghệ mang tính chiến lược
Thông tin cho phép lựa chọn, đánh giá các giải pháp công nghệ thích hợp để áp dụng cho phù hợp với điều kiện hiện có của doanh nghiệp, xác định công nghệ thay thế và nguồn công nghệ thay thế, đồng thời, tránh nghiên cứu trùng lặp để giảm chi phí thời gian và tiền bạc;
Thông tin có thể gợi ý những giải pháp kỹ thuật mới; Cải tiến sản phẩm hoặc quy trình hiện có; Phát triển sản phẩm hoặc quy trình mới;
Thông tin cho phép theo dõi xu hướng công nghệ và phát triển dữ liệu
về đối thủ cạnh tranh chính đang nổi (đánh giá trọng tâm kỹ thuật và sản phẩm của đối thủ) ở trong nước và ngoài nước
Thông tin cũng cho phép doanh nghiệp khảo sát thị trường nhờ thu thập thông tin thị trường về xu hướng công nghệ và những quyết định đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; Dự báo sự phát triển của thị trường sản phẩm, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật giúp hoạt động đổi mới công nghệ diễn ra một cách
an toàn và hiệu quả
- Thông tin giúp cho doanh nghiệp và các tổ chức dịch vụ KH&CN có thể định giá một công nghệ cụ thể
Khi có đầy đủ thông tin, doanh nghiệp sẽ có được những lợi ích mang tính chất pháp lý, kinh tế và kỹ thuật Rõ ràng rằng, những lợi ích này đều mang đến cơ hội nhiều hơn thách thức cho doanh nghiệp
1.5 Quản lý Nhà nước đối với hoạt động thông tin
Trang 36
Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của nước ta cho thấy Nhà nước đóng vai trò chủ yếu cả về phương diện là người chủ sở hữu, cả về phương diện tác động vào việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực thông tin trong xã hội11 Đảng và Nhà nước ta đang tập trung mọi nỗ lực để thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá và để hội nhập với cộng đồng quốc tế, cũng đã khẳng định quyết tâm thực hiện việc "phổ cập văn hoá thông tin trong xã hội nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc chuẩn bị hướng tới một xã hội thông tin"12 Rõ ràng, trong bối cảnh như vậy, vai trò chỉ đạo và quản lý của nhà nước đối với công tác thông tin KH&CN có ý nghĩa quyết định
Thực chất của công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động thông tin -
tư liệu KH&CN được thể hiện ở các nội dung sau đây :
- Xác định các phương hướng chiến lược và mục tiêu chủ yếu để phát triển công tác thông tin KH&CN trong cả nước Vạch kế hoạch và các dự án quan trọng để thực hiện các mục tiêu và phương hướng đã đề ra;
- Nghiên cứu xây dựng và ban hành các chính sách, chế độ, tạo lập và hoàn thiện các cơ chế nhằm tạo môi trường pháp lý - xã hội thuận lợi và các điều kiện kinh tế - kỹ thuật cần thiết cho phát triển công tác thông tin;
- Trực tiếp đầu tư và chỉ đạo thực hiện các dự án Nhà nước về xây dựng
và phát triển hạ tầng cơ sở thông tin-tư liệu và nâng cao năng lực đảm bảo thông tin thông qua việc tích cực khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực thông tin phục vụ cho công cuộc phát triển Tổ chức công tác giáo dục -đào tạo và nghiên cứu về khoa học thông tin và quản trị thông tin;
- Chỉ đạo và hỗ trợ việc thực hiện các quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thông tin-tư liệu KH&CN
11
Nguyễn Hữu Hùng "Tiếp cận chương trình trong hoạt động thông tin KH&CN thời kỳ quá độ chuyển sang
xã hội thông tin" Tạp chí Thông tin&Tư liệu, 1998, Số 2 tr 3-7
12Tạ Bá Hưng "Các xu thế phát triển công tác thông tin- tư liệu ở Việt Nam" Tạp chí Thông tin & Tư liệu,
Số 3, Năm 2007
Trang 37Kết luận của chương 1:
Thông tin là một nhân tố quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta Do tính chất đa ngành về nội dung, phức tạp trong khâu thực hiện của chính sách thông tin hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các DNNVV, và đặc biệt để giúp việc thực hiện vai trò chỉ đạo và quản lý Nhà nước có hiệu lực hơn trong sự nghiệp phát triển đó, đề nghị tiếp tục kiện toàn nội dung quản lý Nhà nước về công tác thông tin Cần nhìn nhận hoạt động thông tin là hoạt động không chỉ mang lại giá trị kinh tế mới mà còn cả giá trị nhận thức mới
Trình độ công nghệ là một yếu tố cực kỳ quan trọng đối với sự suy tàn hay hưng thịnh của một DNNVV Kết quả khảo sát 27 DNNVV thu hồi được phiếu cho thấy, nhóm có trình độ công nghệ tiên tiến và nhóm có trình độ công nghệ lạc hậu là tương đương, đều chiếm 11%; 78% còn lại là nhóm có trình độ công nghệ trung bình (theo doanh nghiệp tự đánh giá) Nếu gộp các DNNVV có trình độ công nghệ trung Trình độ công nghệ là một yếu tố cực
kỳ quan trọng đối với sự suy tàn hay hưng thịnh của một DNNVV Kết quả khảo sát 27 DNNVV thu hồi được phiếu cho thấy, nhóm có trình độ công nghệ tiên tiến và nhóm có trình độ công nghệ lạc hậu là tương đương, đều chiếm 11%; 78% còn lại là nhóm có trình độ công nghệ trung bình (theo doanh nghiệp tự đánh giá) Nếu gộp các DNNVV có trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu thành một nhóm thì số này chiếm đến 89% Như vậy, nền kinh tế không thể có sức cạnh tranh khi có đến 89% số DNNVV có trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu bởi họ đang là đối tượng chiếm 96% trên tổng số doanh nghiệp và đóng góp gần 40% GDP cả nước
DNNVV có trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu thành một nhóm thì số này chiếm đến 89% Như vậy, nền kinh tế không thể có sức cạnh tranh khi có đến 89% số DNNVV có trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu bởi
họ đang là đối tượng chiếm 96% trên tổng số doanh nghiệp và đóng góp gần 40% GDP cả nước
Trang 38CHƯƠNG 2
HIỆN TRẠNG ĐẢM BẢO THÔNG TIN HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 2.1 Thực trạng hoạt động đổi mới công nghệ tại các DNNVV
2.1.1 Trình độ công nghệ của các DNNVV
Trình độ công nghệ là một yếu tố cực kỳ quan trọng đối với sự suy tàn hay hưng thịnh của một DNNVV Kết quả khảo sát 27 DNNVV thu hồi được phiếu cho thấy, nhóm có trình độ công nghệ tiên tiến và nhóm có trình độ công nghệ lạc hậu là tương đương, đều chiếm 11%; 78% còn lại là nhóm có trình độ công nghệ trung bình (theo doanh nghiệp tự đánh giá) Nếu gộp các DNNVV có trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu thành một nhóm thì số này chiếm đến 89% Như vậy, nền kinh tế không thể có sức cạnh tranh khi có đến 89% số DNNVV có trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu bởi họ đang
là đối tượng chiếm 96% trên tổng số doanh nghiệp và đóng góp gần 40% GDP cả nước
Biểu đồ 1: Cơ cấu DNNVV theo trình độ công nghệ
Công nghệ lạc hậu 11%
Công nghệ trung bình 78%
Công nghệ tiên tiến 11%
Những số liệu này cho thấy hiện trạng công nghệ mà các DNNVV đang
sử dụng thuộc loại trung bình thấp Số DNNVV có trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu chiếm 89% cũng đồng nghĩa với khoảng 89% khối lượng sản
Trang 39phẩm và dịch vụ chỉ đạt mẫu mã và chất lượng trung bình thấp; năng suất lao động cũng ở mức trung bình thấp và khả năng cạnh tranh cũng rất thấp
Trình độ công nghệ cao một mặt làm tăng khả năng thành công khi doanh nghiệp tiến hành đổi mới, mặt khác, nó cho phép doanh nghiệp sử dụng tốt hệ thống các sản phẩm du nhập từ bên ngoài, từng bước mở rộng sang các giá trị gia tăng khác mà trước đó thường do các yếu tố bên ngoài chi phối, cho phép doanh nghiệp thực hiện đổi mới một cách chủ động hơn, dựa trên năng lực của họ chứ không chỉ đổi mới một cách thụ động theo sự sắp đặt của bạn hàng
2.1.2 Những khó khăn của các DNNVV khi tiến hành đổi mới công nghệ
Khái niệm "đổi mới công nghệ" phổ biến ở DNNVV là mua bán công nghệ hoàn chỉnh, theo kiểu làm sao ra được sản phẩm hay tiêu thụ được sản phẩm Điều này thể hiện ở việc thiết bị chiếm vị trí áp đảo ở các kỳ hội chợ thiết bị - công nghệ về số lượng được giới thiệu cũng như giao dịch được thực hiện Tuy nhiên, hoạt động đổi mới công nghệ tại các DNNVV được thực hiện ở những quy mô rất khác nhau Các công ty có cơ sở vật chất đầy đủ, tiềm lực tài chính dồi dào thường có trung tâm R&D riêng, thu hút được sự phục vụ của nhiều nhà khoa học và kỹ sư tài năng, hoạt động R&D ở các công ty này có thể tạo ra các ý tưởng mới, giải pháp mới, công nghệ mới Những kết quả sáng tạo trên của doanh nghiệp được sử dụng cho những mục đích khác nhau, có thể được bán cho bên ngoài cũng có thể được doanh nghiệp phát triển tiếp thành đổi mới, bởi lẽ, về bản chất, doanh nghiệp là bên cầu công nghệ nhưng cũng có thể là bên cung công nghệ Các doanh nghiệp
có nguồn tài chính hạn hẹp, nhu cầu công nghệ chủ yếu tập trung vào công nghệ hoàn chỉnh trong đó máy móc thiết bị - những vật thể chứa đựng các kết quả R&D trong quá khứ - chiếm vị trí trung tâm Việc cải tiến, phát triển các thiết bị này cũng có lúc được thực hiện nhưng thường chỉ để giải quyết những vướng mắc cụ thể của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất hoặc để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm
Trang 40Thực tế cho thấy, dù tiến hành đổi mới công nghệ ở bất kỳ hình thức nào DNNVV cũng gặp những cản trở nhất định, chúng ta cùng theo dõi bảng sau:
Bảng 2: Mười khó khăn cản trở DNNVV trong hoạt động đổi
mới công nghệ (%)
40.7 29.6
37 22.2
62.9 25.9
51.8 18.5
22.2
33.3
Hành lang pháp lý Giảm chi phí sản xuất
Đào tạo nhân lực Tiếp cận công nghệ
Tài chính
Mở rộng thị trường
Thiếu thông tin
Xử lý môi trường Phát triển sản phẩm mớiƯu đãi thuế
Trong 10 vấn đề khó khăn lớn mà DNNVV đang phải đối mặt có 3 vấn
Các trở ngại đối với các DNNVV như đã chỉ ra ở trên phần nào thể hiện hiện trạng môi trường đầu tư của chúng ta Chính phủ đã cố gắng rất nhiều để tạo ra môi trường đầu tư tốt cho DNNVV phát triển (Hộp 2) Nhưng