Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tăng cường các thiết chế kiểm soát chất lượng hàng hoá sau công bố tiêu chuẩn chất lượng xét từ góc độ hệ thống văn bản pháp luật
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN THANH THÔI
TĂNG CƯỜNG CÁC THIẾT CHẾ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA
SAU CÔNG BỐ TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỒNG
Hà Nội, 2010
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10
3 Mục tiêu nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 11
5 Mẫu khảo sát 11
6 Câu hỏi nghiên cứu 11
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 12
9 Kết cấu của Luận văn 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG, QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VÀ THIẾT CHẾ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG 13
1.1 Chất lượng 13
1.1.1 Định nghĩa về chất lượng 13
1.1.2 Đặc điểm chất lượng 15
1.1.3 Các loại chất lượng sản phẩm, hàng hoá 16
1.2 Quản lý chất lượng 17
1.2.1 Khái niệm về quản lý chất lượng 17
1.2.2 Trường phái quản lý chất lượng 17
1.2.3 Định hướng và kiểm soát chất lượng 18
1.2.4 Các nguyên tắc quản lý chất lượng 19
1.3 Thiết chế xã hội và thiết chế kiểm soát chất lượng 21
1.3.1 Các thiết chế xã hội 21
1.3.2 Chức năng cơ bản của thiết chế 22
1.3.3 Thiết chế hoá 23
1.3.4 Thiết chế kinh tế và thiết chế kiểm soát chất lượng 24
* Kết luận Chương 1 25
Trang 3CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HÀNG HOÁ
TỈNH TÂY NINH NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 27
2.1 Tình hình kiểm soát chất lượng ở Việt Nam trong những năm qua 27
2.1.1 Tình hình chung 27
2.1.2 Cơ sở pháp lý của công tác quản lý tiêu chuẩn- chất lượng 30
2.1.3 Hoạt động tiêu chuẩn và chất lượng tại Việt Nam 33
2.2 Tình hình kiểm soát chất lượng ở Tây Ninh 42
2.2.1 Một vài nét giới thiệu về tỉnh Tây Ninh 42
2.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội của Tây Ninh 43
2.2.3 Tình hình quản lý tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa ở tỉnh Tây Ninh 50
2.3 Điều tra khảo sát doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh về xây dựng , áp dụng và công bố tiêu chuẩn 58
2.4 Những tồn tại, hạn chế của việc Quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng và các nguyên nhân 60
2.4.1 Những tồn tại, hạn chế 60
2.4.2 Những nguyên nhân chính 62
* Kết luận Chương 2 67
CHƯƠNG 3: TĂNG CƯỜNG CÁC THIẾT CHẾ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HÀNG HOÁ SAU CÔNG BỐ TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG, QUY CHUẨN KỸ THUẬT 68
3.1 Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung kiểm soát Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sau công bố 70
3.1.1 Quan điểm 70
3.1.2 Mục tiêu 70
3.1.3 Nhiệm vụ 71
3.1.4 Nội dung các hoạt động Kiểm soát chất lượng sau công bố 72
3.2 Các giải pháp để tăng cường hiệu quả Kiểm soát chất lượng sau công bố 75
3.2.1 Hoàn thiện các văn bản pháp quy liên quan 75
3.2.2 Tăng cường năng lực tổ chức thực thi pháp luật và sự phối hợp hoạt động hiệu quả 75
3.2.3 Tăng cường năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý 76
Trang 43.2.4 Kiện toàn tổ chức bộ máy Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Tây
Ninh 77
3.2.5 Tăng cường kiểm soát chất lượng sản phẩm, hàng hóa thông qua các công cụ, biện pháp cần thiết 80
3.2.6 Tăng cường hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật 81
3.2.7 Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp ở Tây Ninh 82
* Kết luận Chương 3 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC I 91
PHỤ LỤC II 95
PHỤ LỤC III 103
PHỤ LỤC IV 108
PHỤ LỤC V 113
PHỤ LỤC VI 118
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
đầu của ASEAN Free Trade Area)
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (tiếng Anh:
Asia-Pacific Economic Cooperation)
ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á - (tiếng Anh: Association of
Southeast Asia Nations)
HACCP Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (tiếng Anh: Hazard
Analysis and Critical Control Points) TC&QCKT Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật
Organization)
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Quan điểm về chất lượng trang 15 Bảng 2.2: Mười nước có số chứng chỉ ISO 9000 nhiều nhất năm 2007 trang 40 Bảng 2.3: Đánh giá tỷ lệ các lợi ích của việc áp dụng ISO 9000 các doanh nghiệp trang 40 Bảng 2.4: Giá trị gia tăng và tăng trưởng kinh tế của tỉnh Tây Ninh trang 44 Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các bộ phận trang 22 Hình 2.2: Trình độ công nhân trong thập niên cuối thế kỷ 20 trang 28 Hình 2.3: Sơ đồ quá trình hình thành Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng trang 32 Hình 2.4: So sánh Tổng kim ngạch xuất khẩu trang 42 Hình 2.5: So sánh tăng trưởng kinh tế tỉnh Tây Ninh 1995 – 2005 trang 44 Hình 2.6: Phương hướng phát triển kinh tế giai đoạn đến năm 2010 trang 46 Hình 2.7: Phương hướng phát triển kinh tế giai đoạn 2011-2015 trang 46 Hình 2.8: Phương hướng phát triển kinh tế giai đoạn 2016-2020 trang 47 Hình 2.9: Cơ cấu tổ chức Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh Tây Ninh trang 50 Hình 3.10: Mối quan hệ QCS trang 69 Hình 3.11: Sơ đồ mục đích khái quát và bao trùm của Kiểm soát chất lượng trang 71 Hình 3.12: Kiểm soát chất lượng sản phẩm ở doanh nghiệp trang 72 Hình 3.13: Sơ đồ nhân quả đối với chất lượng sản phẩm trang 73 Hình 3.14: Kiểm soát chất lượng sản phẩm, hàng hóa sau công bố trang 73
Trang 7xã hội trong giai đoạn mới Thực trạng chất lượng và quản lý chất lượng các hàng hoá lưu thông trên thị trường trong nước và xuất khẩu hiện nay vẫn còn nhiều bất cập Nhiều hàng hoá nội địa chưa kịp thích ứng với yêu cầu cả về chất lượng, mẫu
mã, giá thành, không ít hàng hoá ở một số thị trường có sức mua lớn lại bị hàng nhập khẩu chiếm lĩnh Số lượng các mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao còn nhỏ, chủng loại đơn điệu, khả năng cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp còn thấp, hàm lượng gia công trong nhiều hàng hoá xuất khẩu chủ lực còn cao, dẫn tới hiệu quả xuất khẩu thấp Ngoài ra, còn phải kể đến nạn gian lận thương mại, kinh doanh hàng hoá giả, không đảm bảo chất lượng còn phổ biến, thiệt hại không nhỏ cho nhà nước, người sản xuất chân chính và người tiêu dùng
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội trong những năm vừa qua, cộng với sự bất lợi về suy thoái kinh tế trên thế giới, tình hình buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng không rõ nguồn gốc đã có những diễn biến phức tạp mới Tình trạng ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất, lưu thông hàng hoá trong nước nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế, thiệt hại cho người tiêu dùng mà còn đe doạ tới an toàn, sức khoẻ của con người Từ thực trạng trên, vai trò quản lý nhà nước đối với chất lượng hàng hoá ngày càng quan trọng và là một vấn đề lớn cần phải quan tâm
Để đẩy mạnh hoạt động quản lý chất lượng hàng hoá phù hợp với xu thế hội nhập Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (TC&QCKT) ban hành năm 2006, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá ban hành năm 2007 và một số văn bản quy phạm dưới luật cũng được ban hành, nhưng trên thực tế người kinh doanh chưa hiểu
rõ thấu đáo hoặc cố tình vi phạm khi đưa hàng hóa lưu thông trên thị trường không
Trang 8tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng trong quá trình lưu thông hàng hoá, không tự áp dụng các biện pháp kiểm soát chất lượng nhằm duy trì chất lượng hàng hoá do mình bán là nguyên nhân gây nên tình trạng hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái Từ giữa năm 2007, có một số thông tư hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ về công tác kiểm tra chất lượng hàng hoá, nhưng việc triển khai mới chỉ bắt đầu khởi động Đặc biệt, việc kiểm tra chất lượng hàng hoá sau công bố chưa được thực hiện thường xuyên và chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành về chất lượng hàng hoá cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng nêu trên
Nhằm tăng cường hoạt động quản lý hàng hoá sau công bố tiêu chuẩn chất lượng nói chung và trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nói riêng, học viên lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Tăng cường các thiết chế kiểm soát chất lượng hàng hoá sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ” cho luận văn Thạc sĩ của mình
1 Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu hiện nay, điều đó đã tạo ra những thách thức mới trong kinh doanh, khiến các doanh nghiệp ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng của chất lượng Để thu hút ngày càng nhiều các khách hàng, các doanh nghiệp cần phải đưa chất lượng vào nội dung quản lý Các chính sách bảo hành hay sẵn sàng đổi lại các sản phẩm không phù hợp được coi là chuẩn mực một thời, nay không còn phù hợp, vì vậy cũng có nghĩa là Chất lượng sản phẩm, hàng hóa không
ổn định Sửa chữa hay đổi lại sản phẩm không phù hợp đều đem lại tổn thất không
ít thì nhiều cho người sử dụng và cả doanh nghiệp Một doanh nghiệp luôn cung cấp những sản phẩm như vậy chắc chắn sẽ không có sức cạnh tranh trên thị trường ngày nay Nếu như những năm trước đây, các quốc gia còn dựa vào các hàng rào thế quan, hàng rào kỹ thuật bảo vệ nền sản xuất trong nước thì ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hoá mạnh mẽ, với sự ra đời của tổ chức Thương mại thế giới (tiếng Anh:
World Trade Organization, viết tắt là WTO), mọi nguồn lực và sản phẩm ngày càng
tự do vượt biên giới quốc gia, chất lượng đã trở thành một yếu tố cạnh tranh Các công ty đã chuyển vốn và công nghệ vào các quốc gia có khả năng đem lại lợi nhuận cao hơn Sản phẩm có thể được thiết kế tại một quốc gia, sản xuất tại một quốc gia khác và được bán ra khắp nơi trên thế giới Đối với các nước đang phát triển và cả các nước công nghiệp, các nguồn lực tự nhiên không còn là chìa khoá để
Trang 9đem lại sự phồn vinh Thông tin, kiến thức và một khối lượng đông đảo nhân viên
có kỹ năng, có văn hóa và có một tác phong làm việc công nghiệp là những nguồn lực thực sự đem lại sức cạnh tranh Điều này đã giải thích tại sao nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc…vốn không có tài nguyên dồi dào đã bù đắp bằng lực lượng lao động có trình độ cao, đào tạo huấn luyện kỹ càng đã trở thành những quốc gia có sản phẩm và dịch vụ đứng đầu về chất lượng Xuất phát từ nhu cầu thực
tế, ngày nay tất cả các khách hàng đều đòi hỏi được cung cấp những hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao giá cả phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình Vì vậy, mọi doanh nghiệp đều rất quan tâm đến chất lượng và có những nhận thức mới, đúng đắn hơn về chất lượng Đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ vừa là cơ hội, vừa là thách thức Là cơ hội, vì người tiêu dùng ngày nay rất quan tâm đến chất lượng hàng hoá, dịch vụ mà họ cần mua Mặt khác, hệ thống thông tin mang tính toàn cầu là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp học hỏi kinh nghiệm, rút ngắn quãng đường tới mục tiêu phiá trước là nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp Là thách thức, vì các doanh nghiệp ở các nước phát triển đã tiến rất xa trong việc cung cấp hàng hoá có chất lượng tốt, việc rút ngắn khoảng cách giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài là một công việc cực kỳ khó khăn Các doanh nghiệp không thể tiến hành các biện pháp nâng cao chất lượng một cách riêng lẻ mà phải tiến hành các hoạt động chất lượng một cách có hệ thống, có chương trình kiểm soát sản phẩm, hàng hóa nhằm khẳng định thế mạnh trong cạnh tranh trên sân nhà, hướng tới hội nhập vào thị trường nước ngoài, tạo sự phát triển bền vững trong tương lai
Hệ thống tiêu chuẩn nhà nước còn thiếu, nhiều tiêu chuẩn nhà nước không phù hợp với thị trường trong nước và xuất khẩu, nhưng chưa được soát xét và sửa đổi lại cho phù hợp để đẩy mạnh việc hoà hợp tiêu chuẩn sản phẩm chủ lực trọng điểm của Việt Nam với tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn của các nước xuất khẩu, nhập khẩu
Văn bản pháp luật về chất lượng hàng hoá còn chưa đáp ứng, không đồng bộ, nhiều văn bản mới ban hành vẫn có nhiều vướng mắc nhưng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Việc phối hợp giữa các ngành các cấp còn yếu kém, công tác phối hợp thanh tra, kiểm tra còn chồng chéo giữa các cơ quan ban ngành hoặc còn những mảng trống, bỏ sót
Trang 10Trong xử phạt vi phạm hành chính còn nhiều lúng túng do văn bản quy định
về kiểm tra, thanh tra chưa thống nhất với văn bản quy định về xử lý, do đó không
có căn cứ điều khoản rõ ràng cho hành vi xử phạt Mức xử lý theo quy định hiện nay còn quá thấp so với mức độ vi phạm cũng như lợi nhuận bất chính thu được từ việc vi phạm, ví dụ như lĩnh vực kinh doanh xăng dầu Từ đó biện pháp chế tài về chất lượng chưa đủ mức răn đe, dẫn đến công tác quản lý chất lượng hàng hoá chưa thực sự đi vào nề nếp Việc quy định xử phạt còn nhiều bất cập, chỉ xử phạt những đối tượng có đăng ký kinh doanh và bị vi phạm nên thực tế có tình trạng các cơ quan chỉ xử phạt những doanh nghiệp có đăng ký, còn hàng hoá không rõ xuất xứ thì không biết đối tượng xử phạt là ai nên không thể lập quyết định xử phạt được
Việc kiểm tra nhà nước về tiêu chuẩn chất lượng của các Chi cục Tiêu chuẩn
Đo lường Chất lượng hiện nay mới chỉ thực hiện được nội dung hướng dẫn, nhắc nhở việc thực hiện các quy định của nhà nước ở lĩnh vực này Về giám sát chất lượng sau công bố chưa đạt được hiệu quả do năng lực để thực hiện thử nghiệm của tỉnh Tây Ninh chưa đáp ứng như thiếu thiết bị thử nghiệm, nhân lực hạn chế, nhiều chỉ tiêu chất lượng chủ yếu, bắt buộc áp dụng không thử nghiệm được nên hiệu quả quản lý trong lĩnh vực này chưa cao (đặc biệt đối với các chỉ tiêu về an toàn) Việc kiểm tra chất lượng hàng hoá trong lưu thông phân phối chưa có kinh phí nên việc lấy mẫu ngoài thị trường để kiểm tra chất lượng chưa thực hiện được Vì vậy chỉ tập trung chủ yếu là kiểm tra về nhãn hàng hoá
Hiện chưa có quy chế, quy định thẩm quyền đối với chức danh Kiểm tra viên khi thực hiện công tác kiểm tra chất lượng hàng hoá Điều này đã không gây ít khó khăn trong quá trình kiểm tra, giám sát thực hiện công tác quản lý nhà nước về tiêu chuẩn chất lượng nhất là khâu xử lý như: thực hiện niêm phong đình chỉ vi phạm,
do đó làm giảm hiệu quả, hiệu lực của công tác kiểm tra, làm cho công tác quản lý của nhà nước về chất lượng hàng hoá vẫn chưa đạt kết quả cao
Người kinh doanh chưa hiểu rõ thấu đáo hoặc cố tình vi phạm khi đưa hàng hoá lưu thông trên thị trường không tuân thủ theo quy trình kỹ thuật tương ứng quá trình lưu thông hàng hoá, không tự áp dụng các biện pháp kiểm soát chất lượng nhằm duy trì chất lượng hàng hoá do mình bán là nguyên nhân gây nên hàng hoá kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái
Trang 11Trước những khó khăn vướng mắc trên, giải pháp để quản lý hiệu quả chất lượng sản phẩm, hàng hoá sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn tỉnh Tây
Ninh là Tăng cường các thiết chế kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu
chuẩn chất lượng Đây chính là những lý do nghiên cứu của đề tài luận văn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ trước tới nay ở tỉnh Tây Ninh chưa có công trình nghiên cứu nào về nội dung “tăng cường các thiết chế kiểm soát hàng hoá” Chỉ có những báo cáo nêu lên khó khăn, vướng mắc hoặc chỉ dừng lại ở những kiến nghị thiếu thực tiễn
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tăng cường các thiết chế kiểm soát chất lượng hàng hoá sau công bố tiêu chuẩn chất lượng xét từ góc độ hệ thống văn bản pháp luật ban hành không theo kịp so với sự tiến bộ phát triển của xã hội và thiếu linh động, cứng nhắc khi áp dụng cụ thể ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả của
cơ chế thực thi pháp luật về quản lý chất lượng hàng hoá nói chung và riêng tỉnh Tây Ninh, góp phần giảm tối đa hàng hoá kém chất lượng lưu thông trên thị trường
Trang 12- Hệ thống văn bản pháp luật về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, hàng hoá
và xử phạt của Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương và Sở Y tế
- Khảo sát và điều tra 90 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và cửa hàng kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
6 Câu hỏi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận án thể hiện ở những vấn đề được đặt ra qua các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Hiện tượng hàng hoá kém chất lượng lưu thông ngoài thị trường ngày càng xuất hiện nhiều phải chăng do nhà kinh doanh chỉ vì lợi nhuận hay do văn bản pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hoá chưa thực hiện nên việc quản lý của các cơ quan, ban ngành không đạt hiệu quả?
- Khi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành thì ở địa phương mắc phải những khó khăn gì trong quá trình thực hiện?
- Công tác kiểm tra hàng hoá lưu thông trên thị trường và xử lý hàng hóa nhập khẩu (Mũ bảo hiểm, xăng dầu, đồ chơi trẻ em, điện - điện tử…) không đạt chất lượng ra sao?
- Công tác phối hợp hoạt động thanh tra, kiểm tra chất lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường của tỉnh Tây Ninh như thế nào?
- Cần tăng cường các thiết chế nào để việc kiểm soát chất lượng hàng hoá sau công bố tiêu chuẩn chất lượng lưu thông trên thị trường đạt hiệu quả?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Việc hàng hoá kém chất lượng lưu thông ngoài thị trường ngày càng xuất hiện nhiều hoàn toàn có thể do các văn bản pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng
Trang 13hoá chưa hoàn thiện, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn gây ra lúng túng khi triển khai ở địa phương nên việc quản lý của các cơ quan, ban ngành không đạt hiệu quả
- Mỗi địa phương, và điển hình như tỉnh Tây Ninh có những đặc thù riêng, nên khi áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật, các thông tư hướng dẫn thường có các quy định khó thực hiện được trong thực tế
- Cần tăng cường các chế tài về tài chính, hành chính, pháp luật và tâm lý để việc kiểm soát chất lượng hàng hoá sau công bố đạt hiệu quả
8 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập và phân tích các số liệu từ các văn bản pháp luật về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá;
- Thu thập và phân tích các số liệu từ Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh;
- Thu thập và phân tích các số liệu từ Sở Y tế Tây Ninh;
- Thu thập và phân tích các số liệu từ Sở Công thương Tây Ninh;
- Thu thập và phân tích các số liệu từ Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh Tây Ninh;
- Thu thập và phân tích số liệu từ sách báo, điều tra, khảo sát và phỏng vấn chuyên gia
9 Kết cấu của Luận văn
Chương 3: Tăng cường các thiết chế kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố
tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật
Kết luận và Khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG, QUẢN LÝ CHẤT
LƯỢNG VÀ THIẾT CHẾ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG
1.1 Chất lượng
1.1.1 Định nghĩa về chất lượng
Chất lượng là một khái niệm quen thuộc với chúng ta và được sử dụng rất phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, để đánh giá mức độ công việc, sản phẩm, quá trình được tiến hành yêu cầu đến đâu Ngay từ hồi xa xưa, con người đã đề cập đến chất lượng của những công trình nhân tạo như Kim Tự Tháp (Ai Cập); Tháp Chàm (Việt Nam); Di Hoà Viên (Trung Quốc)…, trải qua bao năm tháng vẫn đứng vững với thời gian, ngày nay trở thành di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng Tuy nhiên, chất lượng cũng là một phạm trù phức tạp, một vấn
đề gây nhiều tranh cãi, vấn đề được nhìn nhận không đơn giản, không thống nhất
Có nhiều khái niệm, định nghĩa về chất lượng, tuỳ theo đối tượng sử dụng, tuỳ theo thời gian và cách tiếp cận, chất lượng được hiểu như sau:
1/ Chất lượng theo quan niệm thông thường: chất lượng là tốt và tuyệt vời
của sản phẩm Quan niệm này mang tính trừu tượng vì chất lượng sản phẩm, hàng
hoá không thể xác định một cách chính xác Cách đây hơn 20 năm, đôi dép “nhựa Tiền Phong” được coi là tốt nhất, nhưng đến nay không ai coi đó là sản phẩm tốt nhất đối với loại dép bây giờ, thay vào đó là những đôi dép nhãn hiệu BITIS đắt tiền, sau 10, 15 năm nữa không còn ai nhắc đến đôi dép BITIS bây giờ
2/ Chất lượng theo quan điểm của nhà sản xuất: là sự đáp ứng và phù hợp của một sản phẩm, dịch vụ với một tập hợp các yêu cầu của tiêu chuẩn, chỉ tiêu thiết
kế, quy cách được xác định trước, chẳng hạn: “chất lượng là tổng hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn các yêu cầu định trước cho
nó trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định”
3/ Chất lượng xuất phát từ sản phẩm: chất lượng sản phẩm, hàng hoá được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm, hàng hoá đó Theo tiêu chuẩn TOCT 15467:70 (Liên Xô trước đây): “Chất lượng sản phẩm, hàng hoá là tổng thể những thuộc tính của nó quy định tính thích dụng của sản phẩm, hàng hoá để thoả mãn nhu cầu phù hợp với công dụng của nó” hoặc “chất lượng là một hệ thống đặc trưng nội tại của sản phẩm, hàng hoá được xác định bằng những thông số có thể đo
Trang 15hoặc so sánh được, những thông số này lấy ngay trong sản phẩm, hàng hóa đó hoặc giá trị sử dụng của nó”
4/ Chất lượng hướng theo thị trường: trong nền kinh tế thị trường, khi mô tả chất lượng sản phẩm, hàng hóa người ta nêu bật bản chất mà người sản xuất và người tiêu dùng gặp nhau: Yêu cầu sử dụng cao và giá trị phù hợp Có rất nhiều định nghĩa về chất lượng, do nhiều tác giả đưa ra:
- Theo tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (European Organization for Quality Control): chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng
- Theo W.E Deming (người Mỹ): chất lượng là mức độ dự đoán trước tính đồng đều có thể tin cậy, tại mức chi phí thấp và thị trường chấp nhận
- Theo A Feigenbaum (người Mỹ): chất lượng là những đặc điểm cơ bản của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ đáp ứng được mong đợi của khách hàng
- Theo tiến sĩ Kaoru Ishikawa (người Nhật): chất lượng là sự thoả mãn của người tiêu dùng với chi phí thấp nhất
- Theo ISO 9000:2000: “ Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc một quá trình thoả mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên liên quan ” Yêu cầu là những nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc Các bên có liên quan bao gồm khách hàng nội địa – cán bộ nhân viên của tổ chức, những người thường xuyên công tác với tổ chức, những người cung ứng nguyên vật liệu, luật pháp…
Như vậy, chất lượng nằm trong con mắt khách hàng, được xác định bởi mức
độ sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng Tuỳ theo đối tượng sử dụng, từ
“ chất lượng” có ý nghĩa khác nhau Người sản xuất coi chất lượng là điều họ làm
để đáp ứng các quy định và yêu cầu do khách hàng đề ra, để được khách hàng chấp nhận Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả Do con người và nền văn hoá trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau
Từ các khái niệm về chất lượng nêu trên, ta có thể phân chia khái niệm chất lượng theo quan điểm cũ và theo quan điểm như trong Bảng 1.1:
Trang 16Bảng 1.1: Quan điểm về chất lượng Theo quan điểm cũ Theo quan điểm mới Theo quan điểm mới nhất
số chỉ tiêu chất lượng có thể rất cao Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà quản lý, sản xuất đưa ra những chính sách, chiến lược, chất lượng sản phẩm
và kinh doanh của mình
2/ Yêu cầu có thể là nhu cầu, đó là những đặc tính không thể thiếu đối với khách hàng hay các bên quan tâm về sản phẩm được cung cấp, nhưng cũng có thể là mong đợi, nếu đáp ứng được sẽ đem lại tính cạnh tranh cao đối với sản phẩm, ví dụ như hình thức bên ngoài của sản phẩm, thái độ phục vụ, cung cấp dịch vụ, như vậy
có thể phân chia chất lượng thành hai loại: “chất lượng phải có” ứng với đáp ứng
nhu cầu và “chất lượng hấp dẫn” ứng với đáp ứng mong đợi Tuy nhiên, do sự
thay đổi điều kiện sống, nên nhiều đặc tính trong một thời kỳ được coi là mong đợi, thì sau đó được coi là nhu cầu
3/ Người kinh doanh không chỉ phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mà muốn tồn tại phát triển phải lưu ý đến các bên quan tâm khác, ví dụ như yêu cầu về pháp luật, chế định tập quán hay văn hoá, sinh hoạt của cộng đồng xã hội và thị trường vươn tới
4/ Do chất lượng được đo bằng sự thoả mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn biến động nên chất lượng cũng biến đổi theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng
5/ Khi đánh giá chất lượng một sản phẩm, ta phải xét các đặc tính chất lượng,
đó là đặc tính của đối tượng có liên quan đến những yêu cầu cụ thể Với cùng một
Trang 17chủng loại sản phẩm, các yêu cầu này khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể Ví dụ, yêu cầu với hàng may mặc sẽ khác nhau theo từng lứa tuổi, tập quán, sinh hoạt, khu vực, nghề nghiệp…các yêu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên liên quan, ví dụ các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội
6/ Yêu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, các tiêu chuẩn nhưng cũng có yêu cầu không thể mô tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chung, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng
7/ Chất lượng không chỉ dùng cho sản phẩm mà cần hiểu là áp dụng cho thực thể như sản phẩm; một hoạt động; một quá trình; một hệ thống
8/ Chất lượng luôn có tính chủ quan và mang tính khách quan Nó phản ánh tương tác giữa sản phẩm, con người (người tiêu dùng) và xã hội Cần hiểu nghĩa rộng chất lượng tổng hợp bao gồm thoả mãn yêu cầu, giá cả dịch vụ bán hàng và sau giao hàng
Khi nói đến chất lượng không thể không nói đến khái niệm cấp chất lượng Cấp chất lượng là chủng loại hay thứ hạng của các yêu cầu chất lượng khác nhau đối với sản phẩm, quá trình hay hệ thống có cùng chức năng sử dụng Ví dụ các hạng vé máy bay, hạng khách sạn một sao, hai sao …chính là nói đến cấp chất lượng Như vậy cấp chất lượng có thể cao nhưng chưa chắc chất lượng tương ứng
đã tốt theo nghĩa đáp ứng nhu cầu
1.1.3 Các loại chất lượng sản phẩm, hàng hoá
Nếu sản phẩm là kết quả quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng thì hàng hoá chính là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán tiếp thị
Tuỳ theo tiêu chí phân chia và yêu cầu quản lý, có thể có các loại sau:
- Chất lượng thiết kế: là giá trị đem lại thông qua các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm, hàng hoá được phác thảo qua văn bản để tổ chức sản xuất
- Chất lượng công bố (còn gọi là chất lượng chuẩn): là chất lượng được các
cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn hoặc chấp nhận, trong đó các quy định mức chất lượng cần có của sản phẩm, hàng hoá phải đạt được Mặt khác, cơ quan có thẩm quyền quản lý căn cứ tiêu chuẩn đã công bố (tiêu chuẩn cơ sở, tiêu chuẩn Việt Nam, quy chuẩn Việt Nam, quy chuẩn địa phương, tiêu chuẩn nước ngoài, tiêu chuẩn quốc tế) để kiểm soát chất lượng sản phẩm, hàng hoá
Trang 18- Chất lượng thực tế: là chất lượng đạt được ở sản phẩm, hàng hoá qua thử nghiệm tại thời điểm cụ thể, việc kiểm tra chất lượng thực tế nhằm loại bỏ sản phẩm không đạt tiêu chuẩn, kiểm soát mức độ thoả mãn yêu cầu hoặc đánh giá chất lượng còn lại sử dụng
- Chất lượng tối ưu : là chất lượng đạt mức hợp lý nhất trong điều kiện sản xuất và kinh tế xã hội nhất định nhằm thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng trong điều kiện cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá
1.2 Quản lý chất lượng
1.2.1 Khái niệm về quản lý chất lượng
Sản phẩm là kết quả các hoạt động, các quá trình có định hướng Chất lượng không tự sinh ra, không phải là một kết quả ngẫu nhiên, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý, kiểm soát một cách đầy đủ và đúng đắn các yếu tố này Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng Theo ISO 9000:2000: “ Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng ”
1.2.2 Trường phái quản lý chất lượng
Trên thế giới hiện tại có 2 trường phái quản lý chất lượng
- Trường phái thứ nhất: Quản lý chất lượng dựa trên cơ sở tiêu chuẩn hoá (Standars-based, Quality, Maragament) Trường phái này chịu ảnh hưởng của học thuyết Taylor về chuyên môn hoá, hợp lý hoá sản xuất để tạo ra năng suất cao Trường phái này đã phát triển mạnh mẽ, làm cơ sở cho chuyên môn hoá hợp tác hoá sản xuất không chỉ trong phạm vi một quốc gia và phát triển mạnh cả trong các khu vực và ngày nay là trên toàn thế giới Người ta chỉ có thể đánh giá và thừa nhận lẫn nhau trên cơ sở các tiêu chuẩn Đó có thể là các tiêu chuẩn kỹ thuật, phương pháp hay tiêu chuẩn về hệ thống quản lý
- Trường phái thứ hai: Quản lý chất lượng không xem nhẹ tiêu chuẩn hoá nhưng đặt trọng tâm vào phát huy của nội lực (Endogenous capcity– based Quality Management) Trường phái này chịu ảnh hưởng học thuyết Deming, mà đỉnh cao là quản lý chất lượng toàn diện (tiếng Anh: Total Quality Management, viết tắt là TQM) Theo trường phái này, người ta tìm cách làm con người ý thức tối đa vai trò trách nhiệm với chất lượng sản phẩm, phát huy mọi sáng kiến luôn luôn cải tiến để
Trang 19làm tốt hơn quy định và nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng và xã hội
Hai trường phái trên không hề mâu thuẫn với nhau, mà còn hỗ trợ cho nhau
để cả hai cùng mang lại hiệu quả cho việc áp dụng và quản lý
1.2.3 Định hướng và kiểm soát chất lượng
Việc định hướng và kiểm soát chất lượng gồm những hoạt động sau:
1/ Chính sách và mục tiêu chất lượng Đó là ý đồ và định hướng của doanh nghiệp liên quan đến chất lượng trên cơ sở nhu cầu của khách hàng, khả năng thoả mãn của doanh nghiệp và điều kiện tổ chức thực hiện
2/ Hoạch định chất lượng Là một phần của quản lý chất lượng, tập trung vào mục tiêu và quy định các quá trình tác nghiệp và nguồn lực để thực hiện mục tiêu chất lượng
3/ Kiểm soát chất lượng Ngay từ thập niên thứ 3 của thế kỷ XX, người ta bắt đầu chú trọng đến một quá trình tạo ra sản phẩm, chứ không đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc phân loại chúng Kiểm soát chất lượng (tiếng Anh: Quality Control, viết tắt là QC) ra đời, và ngày càng hoàn thiện đồng hành cùng lịch sử phát triển nền sản xuất hàng hoá
Trong sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng, thường tập trung kiểm soát 5 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng Đó là:
- Kiểm soát con người thực hiện (Men)
- Kiểm soát phương pháp và quá trình sản xuất (Methods)
- Kiểm soát nguyên vật liệu (Materials)
- Kiểm soát và bảo dưỡng thiết bị (Machines)
- Kiểm soát thông tin (Information)
Qui tắc (4M + I) vừa nêu trên mang đặc trưng của lực lượng sản xuất, còn xét về quan hệ sản xuất thì chất lượng sản phẩm, hàng hoá còn phụ thuộc vào các yếu tố như: nhu cầu của nền kinh tế; sự phát triển của Khoa học và Công nghệ; cơ chế quản lý và hiệu lực của cơ chế quản lý; các yếu tố phong tục, văn hoá
Cần hiểu đầy đủ hơn, theo quan điểm của ISO 9000:2000: kiểm soát chất lượng là một phần của quản lý chất lượng, là quá trình điều khiển các hoạt động tác nghiệp thông qua những kỹ thuật, phương tiện, phương pháp và tác nghiệp nhằm đảm bảo chất lượng Nhiệm vụ chủ yếu của kiểm soát chất lượng là:
Trang 20- Tổ chức các hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng theo yêu cầu;
- Đánh giá việc thực hiện chất lượng trong thực tế của tổ chức;
- So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch, công bố để phát hiện các sai lệch;
- Tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm khắc phục những sai lệch và xử lý đảm bảo yêu cầu, đồng thời kiểm soát chất lượng là một phần yếu tố chính của đảm bảo chất lượng
4/ Đảm bảo và cải tiến chất lượng Là một phần của quản lý chất lượng, khẳng định với khách hàng về khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hoá đang tiến tới thoả mãn hơn
1.2.4 Các nguyên tắc quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng đã được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, không chỉ trong sản xuất mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình công ty, từ qui mô lớn đến quy mô nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không Quản lý chất lượng đảm bảo cho công ty làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng Nếu các công ty muốn làm chủ thị trường nội địa và cạnh tranh trên thị trường quốc tế, phải tìm hiểu và triển khai áp dụng các nguyên tắc về quản lý chất lượng hiệu quả
1/ Tám nguyên tắc quản lý chất lượng theo ISO
- Nguyên tắc 1: Định hướng bởi khách hàng
Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu các nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, để không chỉ đáp ứng mà còn phấn đấu vượt cao hơn sự mong đợi của họ
- Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của doanh nghiệp Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ để hoàn toàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
- Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp Sự tham gia đầy đủ với những hiểu biết kỹ năng của họ rất có ích cho doanh nghiệp và quyết định chất lượng sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp
Trang 21- Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình
- Nguyên tắc 5: Tính hệ thống
Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp
- Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục
Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi doanh nghiệp Muốn có được khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao nhất, doanh nghiệp phải liên tục cải tiến
- Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện
Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý, hoạt động kinh doanh muốn có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin cập nhật
- Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng
Doanh nghiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau, và mối quan hệ tương
hỗ cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị
2/ Nguyên tắc quản lý chất lượng ở Việt Nam
Theo điều 5 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa thì nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá như sau:
- Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa là trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh nhằm bảo đảm an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường; nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam
Trang 22- Quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nhằm thực thi các quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa
Hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải đảm bảo minh bạch, khách quan, không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hóa và tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa, phù hợp với thông
lệ quốc tế, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
các mô hình đã trở nên ổn định, lúc đó thiết chế đã được hình thành Hay nói cách
khác, các mối quan hệ xã hội giữa người với người đều kinh qua những thiết chế Những thiết chế này đều có tính độc lập tương đối so với các mối quan hệ
xã hội ấy Thiết chế thường có tính chất lạc hậu hơn so với các biến đổi của quan hệ xã hội Việc cải biến và thay đổi các thiết chế xã hội liên quan trực tiếp với quản lý xã hội và chính sách xã hội
Nói đến thiết chế, người ta thường hiểu theo hai nghĩa: một là thiết chế xã hội với một hệ thống các nguyên tắc, giá trị và cơ cấu hướng tới một mục đích xác định; hai là tổ chức xã hội với các nguyên tắc, quy tắc và hệ thống thứ bậc của trách nhiệm và quyền lực Các thiết chế là những mô hình các quy tắc và tác động hỗ tương, được thiết lập nhằm thoả mãn những nhu cầu xã hội
Các nhà xã hội học cho rằng thiết chế nảy sinh, tồn tại và phát triển là do nó đáp ứng nhu cầu xã hội Đồng thời cũng là mục đích tồn tại của thiết chế Các thiết chế là những hệ thống hoặc tiểu hệ thống trong một xã hội, bao gồm những truyền thống tương đối ổn định, những tổ chức xã hội, các mối quan hệ pháp lý và những quy tắc được phát triển, những tổ chức xã hội, các mối quan hệ pháp lý và những quy tắc được phát triển nhằm giải quyết những vấn đề mà xã hội phải đối phó Các thiết chế có thể mang tính đơn giản (trong xã hội nguyên thuỷ) và có thể phức tạp (trong xã hội hiện đại)
Trang 23Trong xã hội thường tồn tại một số thiết chế cơ bản làm nền móng cho toàn
xã hội – đó là gia đình, giáo dục, tôn giáo, kinh tế và nhà nước Mỗi một thiết chế
kể trên đều có chức năng năng và nhiệm vụ rõ ràng của nó Nếu như ta dễ dàng nhận thấy sự tồn tại các thiết chế này trong xã hội thì cũng cần hiểu rằng, hình thức của các thiết chế đó có thể khác nhau đó là những hiện tượng văn hoá, phản ánh những đặc trưng riêng của mỗi xã hội Mọi thành viên trong xã hội đều phải lựa chọn và đều chỉnh hành vi của mình theo các thiết chế của xã hội mình
Tồn tại trong xã hội, các thiết chế tuy có những đặc trưng riêng về chức năng
và nhiệm vụ nhưng lại liên quan rất chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống Thuật ngữ hệ thống ám chỉ các mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận, ảnh hưởng và phụ thuộc lẫn nhau Ở đây chúng ta muốn đề cập đến hệ thống xã hội, nó cũng bao gồm những đặc điểm kể trên nhưng chỉ có trong xã hội Vì vậy, chúng ta dễ dàng nhận thấy cái gì xảy ra ở bộ phận này cũng có thể kéo theo sự biến đổi trong các bộ phận khác Với tính cách là một hệ thống phụ thuộc, một thiết chế cũng có thể được coi như một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống xã hội Hình 1.1 sẽ cho ta thấy mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các bộ phận
Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các bộ phận
1.3.2 Chức năng cơ bản của thiết chế
Các thiết chế vừa có những chức năng cơ bản vừa có các chức năng chuyên biệt của từng thiết chế
Tôn giáo Khẳng định và củng cố hệ thống giá trị
Gia đình
Xã hội hoá, thoả mãn các
nhu cầu, bảo vệ và hỗ trợ
Chính trị Qui định và buộc tôn trọng pháp luật, phối hợp các hoạt động và dịch vụ
Kinh tế Sản xuất và phân phối hàng
hoá nhằm thoả mãn các nhu
cầu của các thành viên xã hội
Giáo dục Huấn luyện các thành viên cho những địa vị tương lai, người trưởng thành hoặc nghề nghiệp
Trang 24Những chức năng cơ bản của các thiết chế được thể hiện một cách phổ biến đối với các loại thiết chế khác nhau Những chức năng đó được thể hiện như sau:
Thứ nhất, các thiết chế đảm bảo các cá nhân có những ứng xử xã hội được chấp nhận trong nhiều trạng thái xã hội khác nhau Chính thông qua quá trình xã hội hoá, sự thừa nhận hay không của xã hội đối với khuôn mẫu ứng xử đã được phản ánh đến từng cá nhân thông qua các hoạt động của thiết chế
Thứ hai, các thiết chế quy định phần lớn các vai trò xã hội của cá nhân để cá nhân nhận biết rằng nó có phù hợp hay không trong quá trình xã hội hoá Cá nhân
có thể lựa chọn và quyết định những vai trò mà cho là thích hợp nhất Sở dĩ như vậy
là vì họ có thể nắm được sự mong đợi của vai trò khi họ đã chuẩn bị tiếp nhận nó
Thứ ba, thiết chế mang lại cho các thành viên xã hội sự ổn định, còn cá nhân hướng sự nhận thức tới các thiết chế hoá như là một sự chấp nhận
Cuối cùng, các thiết chế nói chung đều kiểm soát và điều tiết các ứng xử để chúng phù hợp với sự mong đợi của xã hội
1.3.3 Thiết chế hoá
Thiết chế hoá là sự phát triển hệ thống điều tiết của các chuẩn mực, qui tắc,
vị thế, vai trò được xã hội thừa nhận Qua việc thiết chế hoá, các hành vi tự phát triển và không lường trước sẽ thay thế được bằng những hành vi đã điều chỉnh và
dự kiến trước Chẳng hạn, những vai trò của những quan chức chính phủ đã được thiết chế hoá cao, hành vi của họ luôn được tính trước như một kịch bản có sẵn
Nói cách khác, thiết chế hoá là quá trình thiết lập sự nhất trí về các mối quan
hệ và mô hình ứng xử cấu thành các thiết chế, là quá trình làm cho các mô hình đó trở nên chính thức thông qua sự chấp nhận của nhóm
Với tư cách là một hệ thống, các ứng xử đặc trưng trong những tình huống khác nhau ấy hình thành nên các bộ phận tương tác lẫn nhau Các hiện tượng này tương đối ổn định với thời gian và được thực hiện một cách rộng rãi trong toàn xã hội Việc lập lại và ngày càng được đông đảo người chấp nhận chính là những khía cạnh của quá trình thiết chế hoá
Có nhiều học thuyết nghiên cứu về sự tương tác giữa các cá nhân và giữa các
cá nhân với xã hội K.Marx coi kinh tế là yếu tố quyết định các mối quan hệ xã hội của con người Simmel là người đưa ra quan điểm ngược với thuyết quyết định luận kinh tế về xã hội Ông tìm thấy trong cá nhân những cơ sở của những hiện tượng xã
Trang 25hội Theo ông, những mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân là nguồn gốc của các hiện tượng xã hội, sau đó, đến lượt chúng, khi được thể chế hoá, lại định hướng mối quan hệ giữa các cá nhân Lúc đầu, các cá nhân thực hiện mối quan hệ đó bởi những nội dung của xã hội, vì vậy, những nội dung đó của xã hội được coi là những nguyên nhân đầu tiên của quan hệ xã hội Những mối quan hệ ban đầu mang tính vi
mô sau đó mới là những hiện tượng xã hội mang tính vĩ mô (sự đoàn kết, xung đột, phân công lao động… ), đó là những thiết chế xã hội Sau này, khi đã ổn định, các thiết chế xã hội lại tác động trở lại các mối quan hệ giữa các cá nhân ( nhà nước, giáo dục, gia đình…) Chính vì vậy, các mối quan hệ xã hội luôn bị quy định bởi những mô hình, quy tắc nhằm giới hạn sự tự do của cá nhân
Quá trình thiết chế hoá và hệ thống thiết chế là sản phẩm của con người, phản ánh những đặc trưng văn hoá trong từng xã hội Nó được con người tạo ra trong mối quan hệ hỗ tương, và đến lượt mình lại quay trở lại định hướng điều chỉnh hành vi con người Đó là một quá trình khách quan và biện chứng
1.3.4 Thiết chế kinh tế và thiết chế kiểm soát chất lượng
Các chức năng chuyên biệt hay các loại thiết chế của xã hội bao gồm như thiết chế gia đình, thiết chế giáo dục đào tạo, thiết chế tín ngưỡng và tôn giáo, thiết chế văn hoá, thiết chế chính trị và thiết chế kinh tế
Thiết chế kinh tế là hệ thống quy định của xã hội để hình thành nền kinh tế quốc dân nhằm thoả mãn nhu cầu của đời sống xã hội Thiết chế mà nhờ nó xã hội được cung cấp đầy đủ về vật chất và dịch vụ Nó bao gồm chủ yếu sự sản xuất, phân phối Các chức năng chuyên biệt của thiết chế kinh tế gồm: thiết lập các tổ chức sản xuất của cải vật chất và dịch vụ xã hội, tổ chức hệ thống lưu thông hàng hoá xã hội thoả mãn nhu cầu sản xuất tiêu dùng, định hướng tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ
Một chức năng chuyên biệt là kiểm soát chất lượng sản phẩm, hàng hóa Thiết chế kiểm soát chất lượng là các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của nhà nước các cấp của các tổ chức liên quan được thiết lập để mọi người tuân thủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ nhằm thực thi các hoạt động liên quan,
cụ thể là duy trì, bảo đảm và nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá được sản xuất, đảm bảo hệ thống lưu thông hàng hoá và dịch vụ vì người tiêu dùng và phát triển doanh nghiệp
Trang 26Các thiết chế phụ thuộc là nghị định, quyết định, thông tư, quy định, chỉ thị, công văn… có liên quan về hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong sản xuất, lưu thông và dịch vụ, đồng thời, nó có đặc trưng độc lập nhất định, có các thiết chế chính chi phối như luật TC&QCKT, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá… với một hệ thống cơ quan quản lý tiêu chuẩn chất lượng các cấp từ Trung ương đến nhiều ngành của từng tỉnh thành phố trong cả nước
Trang 27* Kết luận Chương 1
Chương 1 đã khái quát một số vấn đề lý luận chủ yếu về chất lượng, quản lý
và thiết chế kiểm soát chất lượng Chất lượng là một khái niệm rất quen thuộc với chúng ta, có nhiều cách tiếp cận về chất lượng khác nhau như cách tiếp cận chất lượng theo quan điểm của nhà sản xuất, cách tiếp cận chất lượng xuất phát từ sản phẩm, cách tiếp cận chất lượng theo hướng thị trường, cách tiếp cận chất lượng theo quan điểm của ISO … mỗi cách tiếp cận khác nhau cho ta khái niệm khác nhau về chất lượng Tuy nhiên, dù hiểu chất lượng theo cách nào thì chất lượng đối với các sản phẩm, hàng hoá khi lưu thông ngoài thị trường phải thoả mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên liên quan
Người sản xuất, kinh doanh có thể cung cấp những sản phẩm, hàng hoá có chất lượng đáp ứng theo nhu cầu nhưng cũng phải ở giới hạn điểm sàn, tức là chất
lượng tối thiểu cũng phải đáp ứng được theo tiêu chuẩn bắt buộc đó là “Chất lượng
phải có” Ứng với đáp ứng nhu cầu, hay nói cách khác là đáp ứng được tiêu chuẩn
hoặc quy chuẩn kỹ thuật của sản phẩm, hàng hoá đó
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường ngoài nhu cầu cần có của người tiêu dùng thì còn những yêu cầu cao hơn buộc nhà sản xuất phải thoả mãn yêu cầu của
họ thì mới có khả năng cạnh tranh và tồn tại được nên sản phẩm, hàng hoá có “
Chất lượng hấp dẫn” Ứng với mong đợi của người tiêu dùng
Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng Việc quản lý chất lượng tuân theo 8 nguyên tắc cơ bản Trong phương pháp quản lý chất lượng, đề tài đặc biệt quan tâm đến vấn đề kiểm soát chất lượng Kiểm soát theo nghĩa hẹp là hoạt động xem xét, đánh giá lại chất lượng sản phẩm hàng hoá đã được đánh giá bởi tổ chức đánh giá sự phù hợp hoặc
đã áp dụng các biện pháp quản lý của tổ chức quản lý kinh doanh
Việc kiểm soát ở đây còn bao hàm ý nghĩa quản lý, định hướng nhằm giúp cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của mình nhằm đảm bảo chất lượng và an toàn cho khách hàng (người tiêu dùng) Đồng thời tạo điều kiện cũng như sự hỗ trợ cần thiết để thực hiện trách nhiệm quản lý chất lượng của doanh nghiệp
Ngoài ra, cũng bàn luận đến thiết chế kiểm soát chất lượng, nó vừa có tính phụ thuộc vừa có tính độc lập tương đối để phát huy vai trò và hữu hiệu
Trang 28CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HÀNG HOÁ TỈNH TÂY NINH NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 2.1 Tình hình kiểm soát chất lượng ở Việt Nam trong những năm qua
2.1.1 Tình hình chung
Trong thời kỳ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, vấn đề chất lượng được đề cao, được coi là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế Tuy nhiên trong thực tế, sản phẩm sản xuất ra theo kế hoạch định sẵn, dù tốt hay xấu đều được tiêu thụ, người sản xuất không phải lo đầu vào và đầu ra Việc quản lý chất lượng tại các doanh nghiệp được các phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm thực hiện với nhiệm vụ
là phân loại các sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng hay phế phẩm
Ngày nay, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cùng với quá trình mở cửa
và hội nhập kinh tế, sự cạnh tranh diễn ra quyết liệt đã không còn chỗ đứng cho những sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo chất lượng Trước sức ép của hàng nhập ngoại và của người tiêu dùng trong nước, buộc các nhà kinh doanh cũng như các nhà quản lý không còn con đường nào khác là phải coi trọng vấn đề bảo đảm và nâng cao chất lượng Chất lượng sẽ là nhân tố cơ bản để giải quyết sự thành công hay thất bại trong cạnh tranh, hay nói rộng ra, chất lượng là vấn đề quyết định sự tồn tại hay tiêu vong của một tổ chức, và đó cũng là sự hưng thịnh hay suy vong của một nền kinh tế đất nước
Trong thập niên cuối thế kỷ 20, Việt Nam thực sự đổi mới cả về tư duy, nhận thức lẫn hành động, nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước Biểu hiện cụ thể là một loạt các chính sách quản lý, trong đó có những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quản lý chất lượng được ban hành, thay thế cho những văn bản không còn phù hợp Cả cơ quan quản lý, nhà sản xuất
và kinh doanh đều có cải tiến bước đầu về kiểm soát chất lượng, nhằm tạo ra bước chuyển biến, cải thiện tình hình yếu kém về chất lượng và quản lý chất lượng Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân như:
- Sự yếu kém về quản lý chất lượng của đội ngũ cán bộ, mặc dù chúng ta có nguồn lao động trẻ lên tới 3,8 triệu người nhưng chỉ có 17,8% lao động đã qua đào tạo (gần 7 ngàn người được đào tạo) Riêng đội ngũ công nhân có 2,5 triệu người nhưng chỉ có 36% công nhân kỹ thuật được đào tạo theo Tiêu chuẩn quốc gia, 39,37% công nhân qua đào tạo ngắn hạn, 24,63% công nhân chưa qua đào tạo
Trang 29Những công nhân có khả năng điều hành, đứng máy trong những dây chuyền tự động hóa là rất khan hiếm.[1]
Hình 2.2: Trình độ công nhân trong thập niên cuối thế kỷ 20
- Sự thiếu hụt về kinh nghiệm, kiến thức về kinh tế thị trường; vẫn còn có doanh nghiệp kinh doanh theo kiểu “chụp giật”, tình trạng trốn lậu thuế, khai gian thuế vẫn phổ biến, điển hình là vụ án “thuế giá trị gia tăng” Các doanh nghiệp chưa thực sự bình đẳng với nhau trong cùng một sân chơi, nhà nước vẫn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhà nước cả về vốn lẫn cơ chế chính sách, trong khi đó, các doanh nghiệp tư nhân, trong hoạt động sản xuất, kinh doanh còn gặp rất nhiều khó khăn, không được vay vốn, không được ưu đãi về thuế, về mặt bằng sản xuất
- Sự kìm hãm của cơ chế quản lý quan liêu bao cấp; nhiều doanh nghiệp vẫn phải thực hiện “các chỉ tiêu kế hoạch” theo ý muốn chủ quan của Tổng công ty cấp trên mà không xuất phát từ việc nghiên cứu, tìm hiểu thị trường Tình trạng độc quyền của một số Tổng công ty lớn như Điện lực, xăng dầu…gây ra sự bất bình đẳng trong kinh doanh, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng Nhiều cơ quan quản lý nhà nước còn can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp bị bó buộc và thu hẹp
- Kém ở kiểm nghiệm ô nhiễm hóa học, theo phó cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm Nguyễn Thị Khánh Trâm, kết quả cuộc khảo sát năng lực kiểm nghiệm của 63 địa phương vừa tiến hành cho thấy trong kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm, khâu kém nhất là kiểm nghiệm các chỉ tiêu ô nhiễm hóa học, chỉ có 1/63 địa phương thực hiện được kiểm tra dư lượng kháng sinh, 8/63 tỉnh thành kiểm
CN đào tạo theo TCQG
CN đào tạo ngắn hạn
CN chưa đào tạo
36%
39,37%
24,63%
Trang 30tra được độc tố vi nấm Về kim loại nặng, có 20/63 địa phương xác định được Với phụ gia thực phẩm, hầu như không địa phương nào kiểm tra được chất bảo quản, chất chống ôxy hóa ngay kiểm nghiệm các thành phần dinh dưỡng chỉ có 30% địa phương thực hiện được, bởi có phòng kiểm nghiệm còn thiếu thiết bị cơ bản Tuy nhiên theo bà Lê Thị Hồng Hảo - phó viện trưởng Viện Kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm quốc gia, Kinh phí kiểm tra mỗi lô hàng chỉ có 500.000 đồng cho tất cả các khâu, nên cơ quan kiểm nghiệm chỉ chọn một số chỉ tiêu kiểm nghiệm, các lô hàng phải áp dụng kiểm tra chặt mới được kiểm nghiệm đầy đủ Điều đó chứng tỏ thực phẩm kém chất lượng vẫn còn “lọt lưới” kiểm nghiệm vào thị trường!
- Thanh tra cũng bị lỗi, theo Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, thời gian qua có nhiều “lỗi” trong thanh tra chất lượng vệ sinh thực phẩm Như ở Bến Tre phát hiện trực khuẩn mủ xanh trong nước uống đóng chai nhưng không công bố
để người dân biết, lựa chọn vì cho rằng không nguy hại Hoặc đoàn liên ngành quận
8 (Tp.HCM) lấy mẫu rồi giao chủ cơ sở đi xét nghiệm! Ở Long An từng có hiện tượng chỉ quan tâm đến sản phẩm công bố tiêu chuẩn hay chưa, không quan tâm chất lượng thực tế và cuối cùng cho lưu hành sản phẩm không đạt chất lượng so với công bố Ở Tiền Giang có trường hợp chỉ kiểm tra hồ sơ, không kiểm tra kho và kết quả không phát hiện nguyên liệu quá hạn Ở Trà Vinh, Kiên Giang, Vĩnh Long, cơ
sở vi phạm về vệ sinh thực phẩm tại huyện và xã chủ yếu chỉ nhắc nhở, không phạt (ở Trà Vinh, số bị nhắc nhở chiếm 92,6% số vi phạm phát hiện) Ở Bắc Ninh, Trà Vinh, cán bộ thanh tra không nắm được quy định về quản lý thực phẩm, cho rằng nước uống đóng chai thì ai cũng sản xuất được! Tiền Giang lại cho rằng không thanh tra cơ sở do trung ương cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện mặc dù cơ sở nằm trên địa bàn tỉnh[34]…Ở tỉnh Tây Ninh cũng rơi vào những trường hợp tương tự
Những nguyên nhân trên đã làm cho hoạt động quản lý chất lượng ở nước ta gặp nhiều khó khăn, các hoạt động chất lượng chỉ nặng về phong trào, tuyên truyền, quảng cáo, nội dung không thiết thực, chưa tiếp cận nội dung kiểm soát chất lượng một cách bài bản, có hệ thống, do vậy kết quả đạt được chưa cao Trong những năm gần đây, chúng ta đã có rất nhiều cố gắng trong lĩnh vực quản lý chất lượng, các tổ chức đã chú trọng hơn trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng Việt nam đã từng bước chiếm lĩnh được thị trường, người tiêu dùng trong nước cũng như người tiêu dùng nước ngoài chấp nhận, một số mặt hàng như cà phê, chè,
Trang 31hạt điều, gạo, cao su, hàng thủy sản như tôm, cá… đạt giá trị xuất khẩu cao Với xu thế tự do thương mại trên thế giới và việc xóa bỏ hàng rào thuế quan, chúng ta chỉ
có một con đường duy nhất để giải bài toán tồn tại và phát triển là phải nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa Muốn vậy, cần phải có sự thay đổi một cách sâu sắc trong nhận thức và hành động của từng người, từng cơ quan quản lý, từng doanh nghiệp, của mọi thành phần kinh tế cũng như toàn xã hội, chỉ có như vậy phát triển sản xuất, kinh doanh mới cơ bản và vững chắc
2.1.2 Cơ sở pháp lý của công tác quản lý tiêu chuẩn- chất lượng
1/ Về văn bản quy phạm pháp luật
Để làm cơ sở cho các hoạt động tiêu chuẩn chất lượng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được các cấp có thẩm quyền ban hành
Nếu tính từ năm 1963, khi Miền Bắc bắt đầu tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho đến năm 1999 có 15 văn bản pháp luật là các Nghị định (NĐ), Quyết định (QĐ), Chỉ thị (CT), Pháp lệnh (PL):
Từ năm 2000, văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành:
- Lệnh của Chủ tịch nước số 04 L/CTN, ngày 4/01/2000 về việc công bố Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa;
- Nghị định 179/2004/NĐ-CP, ngày 21/10/2004 của Chính phủ quy định quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
Trang 32- Nghị định 126/2005/NĐ-CP, ngày 10/10/2005 của Chính phủ quy định về
xử phạt hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
- Quyết định số 50/2006/QĐ-TTg, ngày 07 /3/ 2006 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hoá phải kiểm tra về chất lượng;
- Luật 68/2006/QH 11 Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 từ 16/5 đến 29/6/2006 ban hành Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật;
- Ngày 21/7/2006, Văn phòng Chủ tịch nước đã họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật;
- Nghị định 89/2006/NĐ-CP, ngày 30 /8/ 2006 của Chính phủ về nhãn hàng hoá;
- Quyết định số 26/2006/QĐ-BKHCN, ngày 18/12/2006 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành Quy định về tổ chức thực hiện việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị trường trong nước và xuất khẩu, nhập khẩu;
- Điều 24, Chương V, Nghị định số 127/2007/NĐ-CP, ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn
kỹ thuật;
- Quyết định số 24/2007/QĐ-BKHCN, ngày 28 /9/ 2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành “Quy định về chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy và công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy;
- Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa ngày 21 /11/ 2007;
- Nghị định số 132/2008/NĐ-CP, ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá;
- Thông tư số 16/2009/TT-BKHCN, ngày 02/6/2009 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường;
- Nghị định số 54/2009/NĐ-CP, ngày 05/6/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hoá;
- Thông tư số 17/2009/TT-BKHCN, ngày 18/6/2009 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ
2/ Quá trình hình thành và phát triển Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
Trang 33Để giúp Chính phủ quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, năm 1962, Viện Đo lường và Viện Tiêu chuẩn được thành lập, đến năm 1971, Viện này được tách ra thành Viện Đo lường và Viện Tiêu chuẩn, và cũng trong năm
1971, Cục Kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hóa được thành lập, đến năm
1972, Viện quốc gia định chuẩn được thành lập Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, một lần nữa các viện này được đổi thành cục, Viện Tiêu chuẩn đổi thành Cục Tiêu chuẩn, Viện Đo lường được đổi thành Cục Đo lường Trung ương, Viện sản phẩm và hàng hóa được giữ nguyên Năm 1979 các tổ chức trên được thống nhất lại thành Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, đến năm 1984, tại Nghị định 22/HĐBT, ngày 8/02/1984 của Hội đồng Bộ trưởng, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thành lập, đây là cơ quan cao nhất ở Trung ương giúp Bộ trưởng và Chính phủ quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng tại địa phương Hiện nay trên toàn quốc có 62/63 tỉnh, thành phố có tổ chức của Chi cục, riêng tỉnh Bắc Cạn có phòng tiêu chuẩn, đo lường thuộc Sở Công nghiệp và Khoa học
Hình 2.3: Sơ đồ quá trình hình thành Tổng cục Tiêu chuẩn
Đo lường Chất lượng
Cục Tiêu chuẩn (năm 1976)
Viện Tiêu chuẩn (năm 1971)
Cục Tiêu chuẩn
Đo lường Chất lượng (năm 1979)
Viện Quốc gia định chuẩn (năm 1972)
Viện Đo lường (năm 1971)
Tổng cục Tiêu chuẩn
Đo lường Chất lượng (năm 1984)
Cục Đo lường TW (năm 1976)
Viện Đo lường và Tiêu chuẩn
(năm 1962)
Trang 34Từ giữa tháng 10 năm 2009, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng với chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng với cơ cấu tổ chức như sau:
3 Vụ Đánh giá Hợp chuẩn và Hợp quy 4 Vụ Kế hoạch Tài chính
19 Trung tâm Hỗ trợ phát triển doanh
23 Văn phòng Thông báo và Hỏi đáp quốc gia về Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
2.1.3 Hoạt động tiêu chuẩn và chất lượng tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới đang diễn ra những thay đổi
to lớn theo xu thế toàn cầu hoá Đó là quá trình không thể đảo ngược, đặc biệt trong điều kiện Khoa học và Công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Các quốc gia có thể có các đối sách khác nhau để khắc phục và hạn chế các tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá nhưng nhất định phải tham gia vào quá trình này
Là một nước đang phát triển nằm trong khu vực kinh tế năng động và có tốc
độ tăng trưởng tương đối cao, Việt Nam đã và đang có những nỗ lực vượt bậc để nhanh chóng hội nhập về kinh tế với các nước trong khu vực và thế giới Điều này càng thể hiện rõ sau khi Việt Nam gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
(tiếng Anh: Association of Southeast Asia Nations, viết tắt là ASEAN) cùng với sự
Trang 35tham gia Khu vực Mậu dịch tự do của khối ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái
đầu của ASEAN Free Trade Area) trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (tiếng Anh: Asia-Pacific Economic
Cooperation, viết tắt là APEC), ký Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ
và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (tiếng Anh: World Trade Organization,
1/ Hệ thống văn bản Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật ở Việt Nam
- Tiêu chuẩn: là văn bản quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý
dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này
Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng, bao gồm Tiêu chuẩn quốc gia (ký hiệu là TCVN) và tiêu chuẩn cơ sở (ký hiệu là TCCS)
- Quy chuẩn kỹ thuật: là văn bản quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ
thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn,
vệ sinh, sức khỏe con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích
và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác
Quy chuẩn kỹ thuật là văn bản quy định đặc tính của sản phẩm hoặc các quá trình và phương pháp sản xuất có liên quan để sản phẩm, quá trình bao gồm cả các điều khoản hành chính thích hợp mà việc tuân thủ chúng là bắt buộc theo WTO và Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (tiếng Anh: Agreement on technical Barries to Trade, viết tắt là TBT); do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng, bao gồm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
và Quy chuẩn kỹ thuật địa phương
Trang 36Những quy chuẩn kỹ thuật (Technical Regulations), tiêu chuẩn (Standards) là những biện pháp kỹ thuật gây trở ngại cho sản xuất, thương mại song phương, khu vực và quốc tế
Việc hài hòa tiêu chuẩn quốc tế, khu vực là làm cho Tiêu chuẩn quốc gia các nước càng xích gần nhau càng tốt trên cơ sở lấy tiêu chuẩn quốc tế làm gốc, nhằm mục tiêu “một tiêu chuẩn, một thử nghiệm” được chấp nhận ở mọi nơi
Đến tháng 9 năm 2009, số lượng Tiêu chuẩn quốc gia còn hiệu lực là hơn
6000, trong đó khoảng 2100 Tiêu chuẩn quốc gia hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế (gần 35%) Các Tiêu chuẩn quốc gia được phân loại theo các lĩnh vực/chủ đề của khung phân loại Tiêu chuẩn quốc gia (hoàn toàn phù hợp với khung phân loại tiêu chuẩn quốc tế (tiếng Anh: International Classification for Standards, viết tắt là ICS) như sau:
Mã Lĩnh vực/Chủ đề mã Lĩnh vực/Chủ đề
01 Vấn đề chung Thuật ngữ Tiêu
Xã hội học Dịch vụ Tổ chức và quản lý cơ sở Hành chính Vận tải
13 Bảo vệ môi trường và sức khoẻ
Trang 3781 Thuỷ tinh và gốm 83 Cao su và chất dẻo
99 Dự trữ
Nguồn: http://new.tiêu chuẩnvninfo.org.vn
Về Quy chuẩn kỹ thuật, từ khi Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật có hiệu lực gần 2 năm qua, các Bộ đã tập trung xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật cho hoạt động quản lý Đến nay đã có sấp xỉ 100 Quy chuẩn kỹ thuật của các Bộ được ban hành hoặc chờ thẩm định để kịp ban hành (Bộ Giao thông Vận tải: 11, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn:19, Bộ Công thương: 8, Bộ Thông tin và Truyền thông: 20, Bộ Tài chính: 12, Bộ Tài nguyên và Môi trường: 19, Bộ Lao động và Thương binh Xã hội: 1, Bộ Khoa học và Công nghệ: 4, Bộ Y tế: 2)
Các Bộ, ngành có nhiều cố gắng trong hoạt động này, nhưng nhìn chung việc xây dựng và công bố tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn quốc gia vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đa dạng và phong phú của nền kinh tế phát triển và hội nhập của đất nước
Ví dụ: khi muốn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mũ bảo hiểm phải bảo đảm chất lượng, có các đặc tính kỹ thuật tối thiểu đạt an toàn giới hạn cho phép thì phải có Quy chuẩn kỹ thuật, lúc đó chúng ta mới nhanh chóng hoàn thành Quy chuẩn kỹ thuật về mũ bảo hiểm, và các cơ sở sản xuất phải chứng nhận phù hợp quy chuẩn và phải được mang dấu hợp quy (theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, ký hiệu
là CR) mới được lưu thông trên thị trường Đối với đồ chơi trẻ em cũng phải hợp quy như vậy Còn đối với quần áo phải bảo đảm nếu có thành phần foocmandehyt thì phải trong giới hạn cho phép (dư luận đã xôn xao về quần áo có xuất xứ từ Quảng Đông Trung Quốc có chứa hóa chất độc hại tiềm ẩn gây ung thư cho người
sử dụng) nhất là đối với quần áo trẻ em… chúng ta đang xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật cho các sản phẩm hàng hóa này…
2/ Đánh giá sự phù hợp với Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật
- Chứng nhận chất lượng: lĩnh vực hoạt động được tiến hành ở các nước xã
hội chủ nghĩa và ở Việt Nam được triển khai cho đến 1991, nhằm so sánh mức chất lượng của sản phẩm cần đánh giá với mẫu chuẩn, thông qua các tiêu chuẩn, mẫu sản phẩm cụ thể, tài liệu pháp quy - kỹ thuật để cấp giấy chứng nhận chất lượng và
Trang 38dấu chất lượng nhà nước cho những sản phẩm có chất lượng đạt yêu cầu và có biện pháp xử lý đối với sản phẩm chất lượng kém Cơ sở pháp lý để tiến hành công tác chứng nhận chất lượng nhà nước ở Việt Nam là Nghị định 62-CP ngày 12.4.1976 của Hội đồng Chính phủ Theo Quyết định 1073, sản phẩm được phân theo ba cấp chất lượng:
+ Cấp 1 Sản phẩm được cấp dấu chất lượng cấp cao là sản phẩm đạt và vượt những chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đề ra trong tiêu chuẩn hoặc quy định hiện hành về chất lượng, có mức chất lượng tương đương hoặc cao hơn mức chất lượng trung bình tiên tiến của sản phẩm cùng loại trên thị trường thế giới
+ Cấp 2 Sản phẩm được cấp dấu chất lượng cấp 1 là sản phẩm đạt và vượt những chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đề ra trong tiêu chuẩn hoặc quy định hiện hành về chất lượng, có mức chất lượng tương đương với trình độ tiên tiến của sản phẩm cùng loại trong nước, đáp ứng được nhu cầu nền kinh tế quốc dân
+ Cấp 3 Sản phẩm chất lượng kém là sản phẩm không đạt các chỉ tiêu quy định trong tiêu chuẩn, có những chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đã lỗi thời cần được cải tiến hoặc loại khỏi sản xuất
Hình thức của dấu chất lượng nhà nước được quy định trong Tiêu chuẩn quốc gia 2844-79 Tính đến 30.6.1991, đã có 810 giấy chứng nhận chất lượng được cấp cho gần 1.000 lượt sản phẩm của trên 280 cơ sở sản xuất Việt Nam Từ 1.7.1991, công tác chứng nhận chất lượng ngừng hoạt động để chuyển sang hình thức chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn
- Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn: Ở Việt Nam, công tác Chứng nhận phù
hợp tiêu chuẩn được đề cập đến trong chương IV của Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá (1991) và trong Nghị định 327 (1991) Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn được tiến hành theo hai hình thức: chứng nhận bắt buộc (với Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng) và chứng nhận tự nguyện (với Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng) Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng là cơ quan
có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận, dấu phù hợp Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn cho hàng hoá, cho hệ thống bảo đảm chất lượng và cấp giấy chứng nhận cho "phòng thử nghiệm được công nhận" Cho đến 30.6.1993 đã có 139 sản phẩm quạt điện và
xe đạp của gần 60 cơ sở sản xuất trong nước được cấp dấu hợp chuẩn về an toàn
Trang 39- Đánh giá sự phù hợp: Từ sau khi có Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ
thuật và Nghị định, Thông tư, Hướng dẫn hoạt động nầy mới có chuyển biến về chất và tuân thủ hài hòa với quy định của tổ chức quốc tế có liên quan
+ Về hình thức đánh giá: có 3 hình thức đánh giá
HT1 Do Tổ chức Đánh giá sự phù hợp thực hiện, hoặc tổ chức cá nhân công bố sự phù hợp tự thực hiện
HT2 Đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn được thực hiện tự nguyện
theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân dưới hình thức thử nghiệm, giám định, chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy
HT3 Đánh giá sự phù hợp với quy chuẩn được thực hiện bắt buộc
theo yêu cầu quản lý nhà nước dưới hình thức thử nghiệm, giám định, chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy
+ Dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy được cấp cho Sản phẩm, hàng hóa sau khi Sản phẩm, hàng hóa này được chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy
Đến nay, công tác chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn đã thực hiện được hơn 500 doanh nghiệp cho hơn 100 chủng loại sản phẩm Tuy nhiên, hoạt động này cũng còn hạn chế vì số doanh nghiệp tham gia và ngay cả tiêu chuẩn Sản phẩm, hàng hóa để chứng nhận còn hạn chế
Tình hình chứng nhận hợp quy, thử nghiệm đối với một số mặt hàng thuộc trách nhiệm Bộ Khoa học và Công nghệ cũng mới được triển khai Các nhóm sản phẩm có khả năng gây mất an toàn (hàng hóa nhóm 2), tại thời điểm này có 3 nhóm
có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đó là: mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy; xăng và nhiên liệu Diezen Để tiến hành hoạt động này, một số văn bản đã được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành như quy trình lấy mẫu, phương pháp thử mẫu đại diện, tổ chức các đào tạo và cấp chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ bảo quản thiết bị đo lường (do Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng các tỉnh thực hiện), phương pháp đánh giá, việc chứng nhận phù hợp quy chuẩn và công bố sự phù hợp
Theo số liệu đến tháng 6/2009 có 64 doanh nghiệp mũ bảo hiểm (60 doanh nghiệp sản xuất và 4 doanh nghiệp nhập khẩu) đã được chứng nhận phù hợp quy chuẩn quốc gia –QCVN 2:2008/BKHCN với 308 kiểu loại mũ Còn đối với xăng và nhiên liệu Diezen thì chứng nhận hợp quy theo QCVN 1:2007/BKHCN và các doanh nghiệp phải thực hiện chứng nhận hợp quy từ ngày 5/5/2009 (Thông tư số
Trang 4001/2009/TT-BKHCN, ngày 20/3/2009 Quy định Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ) Hoạt động chứng nhận xăng và nhiện liệu Diezen đang được bắt đầu
Còn việc chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy cho Sản phẩm, hàng hóa ở các Bộ khác quản lý còn nhiều bất cập, còn loay hoay với xây dựng quy chuẩn Việt Nam và chưa có kế hoạch cụ thể
3/ Áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến
Hội nghị Chất lượng lần thứ nhất diễn ra tại Hà Nội vào tháng 8/1995 do Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng chủ trì, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đến dự và phát động phong trào “Thập niên phấn đấu vì chất lượng sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ 1995-2005” Tại Hội nghị này, các chuyên gia hàng đầu của thế giới đã giới thiệu những kinh nghiệm trong việc áp dụng hệ thống Quản lý chất lượng ở các nước công nghiệp phát triển cũng như các nước đang phát triển Đây có thể được coi là mốc đánh dấu và mở đầu cho việc “truyền bá” các hệ thống Quản lý chất lượng tiên tiến vào Việt Nam[20].
Như vậy, có thể nói rằng hệ thống Quản lý chất lượng được đưa vào Việt Nam trong bối cảnh:
- Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, chúng ta không có kinh nghiệm về nhận thức và quản lý về chất lượng trong cơ chế mới;
- Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan rã, chúng ta mất đi một thị trường xuất khẩu hàng hóa chủ yếu;
- Áp lực của hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu phải tìm thị trường xuất khẩu mới đòi hỏi các chứng chỉ hệ thống chất lượng như: hệ thống quản lý chất lượng (ISO 9000); hệ thống quản lý môi trường (ISO 14000); Phân tích mối nguy và điểm
kiểm soát tới hạn (tiếng Anh: Hazard Analysis and Critical Control Points, viết tắt
là HACCP); Thực hành sản xuất tốt (tiếng Anh: Good Manufacturing Practices, viết tắt là GMP) ; Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội - SA 8000 (tiếng anh: Social Accountability ) tùy theo yêu cầu thị trường xuất khẩu và loại doanh nghiệp
Do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN (1995), tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á, Âu -1997 (tiếng Anh: The Asia-Europe Meeting, viết tắt ASEM), gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế