Tuy nhiên, trên thực tế hiệu quả của các hoạt động chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi còn gặp một số khó khăn dẫn đến hiệu quả chưa cao: năng lực tiếp nhận, sử dụng công nghệ của ngườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRẦN VĂN ĐOÀI
KHẮC PHỤC RÀO CẢN VỀ KHẢ NĂNG
TIẾP NHẬN TRONG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Ở MIỀN NÚI BẰNG MÔ HÌNH TRÌNH DIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRẦN VĂN ĐOÀI
KHẮC PHỤC RÀO CẢN VỀ KHẢ NĂNG
TIẾP NHẬN TRONG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Ở MIỀN NÚI BẰNG MÔ HÌNH TRÌNH DIỄN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do nghiên cứu 3
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Mẫu khảo sát 6
6 Câu hỏi nghiên cứu 7
7 Giả thuyết nghiên cứu 7
8 Phương pháp nghiên cứu 8
9 Cấu trúc của Luận văn 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 9
1.1 Chuyển giao công nghệ 9
1.1.1 Công nghệ 9
1.1.2 Vai trò của công nghệ 11
1.1.3 Khái niệm chuyển giao công nghệ 15
1.1.4 Quy trình chuyển giao công nghệ 16
1.1.5 Các loại hình chuyển giao công nghệ 18
1.1.6 Các quy định về chuyển giao công nghệ 19
1.2 Rào cản trong chuyển giao công nghệ 21
1.2.1 Khái niệm rào cản trong chuyển giao công nghệ 21
1.2.2 Rào cản về năng lực tiếp nhận công nghệ ở miền núi 23
1.3 Mô hình trình diễn 27
1.3.1 Khái niệm mô hình trình diễn 27
1.3.2 Đặc điểm của mô hình trình diễn 29
1.3.3 Trình tự các bước triển khai thực hiện mô hình trình diễn 30
1.3.4 Mối quan hệ giữa mô hình trình diễn đến sự thành công trong chuyển giao công nghệ 35
1.3.5 Tiêu chí đánh giá mô hình trình diễn thành công trong chuyển giao công nghệ 36
Kết luận Chương 1 36
CHƯƠNG 2 NHỮNG RÀO CẢN TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở VÙNG MIỀN NÚI 38
2.1 Thực trạng chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi 38
2.1.1 Khái quát về các hoạt động chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi 38
2.1.2 Một số kết quả chuyển giao công nghệ ở miền núi 39
Trang 42.2 Rào cản từ điều kiện tự nhiên đến chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi 40
2.2.1 Rào cản về địa hình 40
2.2.2 Rào cản về đất đai 43
2.2.3 Rào cản về môi trường 45
2.3 Rào cản từ điều kiện kinh tế - xã hội đến chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi 46 2.3.1 Rào cản từ phương thức canh tác 46
2.3.2 Rào cản về ngôn ngữ và văn hóa 49
2.3.3 Rào cản về dân trí 50
2.3.4 Rào cản về chất lượng nguồn nhân lực 51
2.3.5 Rào cản về cơ chế chính sách 53
2.3.6 Rào cản về điều kiện tiếp nhận và vận hành công nghệ 57
2.3.7 Rào cản về vốn đầu tư 59
2.4 Nguyên nhân của những rào cản trong chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi 62
2.4.1 Nguyên nhân chủ quan 62
2.4.2 Nguyên nhân khách quan 62
Kết luận chương 2 63
CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG MÔ HÌNH TRÌNH DIỄN ĐỂ KHẮC PHỤC RÀO CẢN TRONG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở MIỀN NÚI 64
3.1 Các quy định về chuyển giao công nghệ có liên quan đến mô hình trình diễn 64
3.2 Thực tiễn áp dụng mô hình trình diễn trong chuyển giao công nghệ ở miền núi 65
3.2.1 Hiểu biết, áp dụng pháp luật trong chuyển giao công nghệ 66
3.2.2 Năng lực tiếp nhận, sử dụng công nghệ 66
3.2.3 Nguyên tắc khi thực hiện mô hình trình diễn 66
3.2.4 Thành phần thực hiện mô hình trình diễn 67
3.3 Mô hình trình diễn được áp dụng không thành công 68
3.3.1 Chuyển giao công nghệ ép dầu cải 68
3.3.2 Nguyên nhân mô hình trình diễn không thành công 70
3.4 Mô hình trình diễn được áp dụng thành công 70
3.4.1 Chuyển giao công nghệ trồng cây lương thực 70
3.4.2 Chuyển giao công nghệ trồng cây công nghiệp (trường hợp 1) 74
3.4.3 Chuyển giao công nghệ trồng cây công nghiệp (trường hợp 2) 77
3.4.4 Chuyển giao công nghệ chăn nuôi bò 80
3.4.5 Bài học kinh nghiệm từ mô hình trình diễn thành công 83
Kết luận chương 3 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 5bộ khoa học - công nghệ Trong khi nguồn lực, tài nguyên và đất đai ở vùng dân tộc thiểu số có hạn, để phát triển kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và miền núi với các vùng khác trong cả nước, con đường tất yếu là cần phải chuyển giao, áp dụng các công nghệ vào sản xuất và đời sống, nâng cao thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số
và miền núi những năm qua Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng tăng cường các hoạt động đưa tiến bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) vào vùng dân tộc thiểu số và miền núi Từ sau khi thực hiện Nghị quyết 22/NQTW ngày 22 tháng 12 năm 1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi và Quyết định 72/HĐBT ngày
13 tháng 03 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một số chủ trương chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi, các hoạt động đưa tiến bộ KH&CN vào vùng dân tộc thiểu số và miền núi được tổ chức theo các chương trình, dự án có mục tiêu và nhiều chính sách, qua đó đã đạt được những kết quả quan trọng Từ năm 1993, Bộ KH&CN đã thực hiện
chương trình “Xây dựng mô hình chuyển giao tiến bộ KH&CN phục vụ phát
triển nông nghiệp và nông thôn, miền núi vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn” Mỗi năm Bộ KH&CN đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng, huy động
nhiều tổ chức KH&CN với các chuyên gia giỏi tham gia tổ chức thực hiện
Trang 6hàng trăm dự án trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa Nhờ các hoạt động cụ thể, một số công nghệ đã được chuyển giao đến người dân vùng sâu, vùng xa, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn
và xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc
Tuy nhiên, trên thực tế hiệu quả của các hoạt động chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi còn gặp một số khó khăn dẫn đến hiệu quả chưa cao: năng lực tiếp nhận, sử dụng công nghệ của người dân còn hạn chế; sự khác biệt về địa hình, khí hậu, đất đai dẫn tới một số công nghệ khi chuyển giao không hiệu quả, không đáp ứng nhu cầu người dân; cách thức, phương pháp
và quy trình chuyển giao chưa phù hợp với ngôn ngữ, văn hoá, tập quán sản xuất mà nguyên nhân chủ yếu là do chưa tìm ra mô hình chuyển giao công nghệ phù hợp với năng lực tiếp nhận của nông dân miền núi
Với những lý do vừa nêu, tôi chọn đề tài “Khắc phục rào cản về khả
năng tiếp nhận trong chuyển giao công nghệ ở miền núi bằng mô hình trình
đề xuất giải pháp khắc phục những rào cản, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động chuyển giao công nghệ ở miền núi
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu mô hình trình diễn (MHTD) đã được một số đề tài nghiên cứu khi cần chuyển giao công nghệ cho các đối tượng có năng lực tiếp thu công nghệ được chuyển giao thấp
Dự án MHTD do Phạm Viết Khánh, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học - Sở KH&CN tỉnh Hải Dương chủ trì trong khoảng thời gian 2002-2005 Dự án này đã xây dựng mô hình trình diễn lò gạch liên tục kiểu đứng hiệu suất cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường phù hợp với điều kiện sản xuất gạch nung thủ công ở tỉnh Hải Dương, đặc biệt là trên vùng đất bãi ven sông Thông qua xây dựng mô hình, tổ chức tập huấn, tuyên truyền từng bước nâng cao nhận thức cho các cấp chính quyền từ huyện đến các xã, phường, thị trấn, cộng đồng dân cư ở các địa phương có điều kiện sản xuất gạch nung về tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường và góp phần phát triển
Trang 7bền vững trên địa bàn tỉnh Chuyển giao công nghệ lò gạch liên tục kiểu đứng cho các hộ sản xuất gạch nung, thay thế lò thủ công truyền thống Kết quả của MHTD là người dân đã tiếp thu công nghệ xây dựng thí điểm mô hình lò gạch liên tục kiểu đứng, hiệu suất cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường làm cơ sở triển khai mở rộng
Đề tài “Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất một số chế phẩm
sinh học” do Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp An
Giang đã hỗ trợ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Miền Tây thực hiện Theo đề tài, Công ty TNHH Miền Tây sẽ giới thiệu quy trình sản xuất, ứng dụng các chế phẩm sinh học rộng rãi ra cộng đồng sau thời gian thực nghiệm hiệu quả
Mô hình được thực hiện qua 3 giai đoạn: giai đoạn 1 sản xuất ra các chế phẩm phân sinh học; giai đoạn 2 sản xuất các chế phẩm đạm dinh dưỡng; giai đoạn
3 sản xuất các chế phẩm tinh dầu Hiện nay, đơn vị đã đi vào hoạt động ở giai đoạn 1 và đã sản xuất đưa ra thị trường 3 loại chế phẩm sinh học cải tạo đất, bón rễ và bón lá Sản phẩm được trộn từ các nguyên liệu vi sinh tinh khiết, có những thành phần cần thiết cho cây trồng như kali, magiê, phốt-pho, urê,… và những nhóm vi sinh vật hữu ích như Rhizobium, Azotobacter Các giai đoạn còn lại đang tiếp tục thực hiện Theo tính toán, sau khi hoàn thiện, dự án sẽ giải quyết việc làm cho khoảng 110 lao động tại địa phương
Đề tài “Chuyển giao công nghệ xây dựng mô hình trình diễn sản xuất
và tiêu thụ một số loại nấm ăn tại tỉnh Bến Tre”, đề tài này đã mang lại hiệu
quả kinh tế - xã hội, làm cho nhiều hộ nông dân tham gia trồng các loại nấm ăn
Liên quan đến đề tài này còn có nhiều nghiên cứu về quy trình chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ thông qua xây dựng các mô hình, xây dựng MHTD trồng cây, con, nuôi trồng thủy hải sản, những rào cản về pháp lý, thương mại, năng lượng, kỹ thuật, lao động trong chuyển giao công nghệ
Luận văn cao học chuyên ngành Quản lý KH&CN“Nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản bằng mô hình
Trang 8trình diễn” của Trần Đức Minh cũng đề cập đến mô hình trình diễn trong
chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên mẫu khảo sát của Trần Đức Minh chỉ dừng lại ở việc chuyển giao công nghệ riêng trong lĩnh vực thủy sản tại huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng Luận văn này không đề cập đến các rào cản trong chuyển giao công nghệ
Có thể nói, việc nghiên cứu MHTD trong hoạt động chuyển giao công nghệ đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến việc khắc phục những rào cản trong quá trình chuyển giao công nghệ cho nông dân ở miền núi
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu mô hình trình diễn để khắc phục rào cản về khả năng tiếp
nhận trong chuyển giao công nghệ ở miền núi
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Đưa ra hệ thống lý thuyết về chuyển giao công nghệ, khả năng tiếp nhận trong chuyển giao công nghệ, rào cản trong chuyển giao công nghệ, mô hình trình diễn
- Khảo sát thực tiễn để nhận diện những rào cản về khả năng tiếp nhận trong chuyển giao công nghệ ở miền núi
- Thực nghiệm để chứng minh có thể áp dụng mô hình trình diễn để khắc phục những rào cản về khả năng tiếp nhận trong chuyển giao công nghệ
Trang 9Đồng thời khảo sát 4 mô hình trình diễn thành công, đó là:
- Chuyển giao công nghệ thâm canh cây bắp giống C919 tại cánh đồng Tum, thị trấn Lạc Tánh, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận;
- Chuyển giao công nghệ trồng chè tại xã Bằng Phúc, huyện Chợ Ðồn, tỉnh Bắc Kạn;
- Chuyển giao công nghệ trồng Măng Bát độ tại tỉnh Yên Bái;
- Chuyển giao công nghệ chăn nuôi bò tại Huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi chủ đạo: Làm thế nào để khắc phục rào cản về khả năng tiếp
nhận trong chuyển giao công nghệ ở miền núi?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết chủ đạo: Sử dụng mô hình trình diễn để khắc phục rào cản
về khả năng tiếp nhận trong chuyển giao công nghệ ở miền núi
- Các luận điểm cụ thể:
+ Có 2 nhóm rào cản nào về khả năng tiếp nhận trong chuyển giao công nghệ ở miền núi, đó là nhóm rào cản từ yếu tố tự nhiên (bao gồm: địa hình, đất đai, môi trường); nhóm rào cản từ yếu tố kinh tế - xã hội (bao gồm: phương thức canh tác, ngôn ngữ, dân trí, chất lượng nguồn nhân lực, chính sách, điều kiện tiếp nhận và vận hành công nghệ, vốn đầu tư)
+ Cần tiến hành 7 bước của mô hình trình diễn để khắc phục rào cản về khả năng tiếp nhận trong chuyển giao công nghệ ở miền núi, bao gồm:
1 Đánh giá thực trạng và xác định nhu cầu về công nghệ;
2 Chọn địa điểm xây dựng MHTD và thành lập tổ chỉ đạo kỹ thuật;
3 Chọn hộ nông dân để xây dựng MHTD;
Trang 104 Xây dựng kế hoạch và các nội dung hoạt động;
5 Tổ chức thực hiện MHTD và giám sát đánh giá định kỳ;
6 Đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện MHTD;
7 Tổ chức nhân rộng MHTD đã được thử nghiệm thành công
8 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng những phương pháp chính sau đây để hoàn thiện Luận văn:
- Sử dụng số liệu thứ cấp liên quan;
- Khảo sát thực địa để thu thập số liệu nhằm tìm ra các rào cản về khả
năng tiếp nhận trong chuyển giao công nghệ ở miền núi, nguyên nhân dẫn đến các rào cản này;
- Phương pháp thí điểm mô hình trình diễn để khắc phục rào cản về khả
năng tiếp nhận trong chuyển giao công nghệ ở miền núi đã được tìm ra
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như:
- Phương pháp quan sát được dùng kết hợp là phương pháp dùng thị
giác để xem xét khách quan tình hình thực tế để đưa ra những nhận định,
- Phương pháp phỏng vấn sâu dùng để phỏng vấn những người có vai
trò, chức vụ trong cộng đồng và được xem như đại diện cho ý kiến cộng đồng
- Thảo luận nhóm là một kỹ thuật thảo luận nhóm đặc biệt, gồm từ 6
đến 12 người, được một người hướng dẫn, một người ghi chép Thành viên của nhóm thường là đồng nhất, ví dụ nhóm các trưởng khu, thanh niên, phụ nữ… các thành viên thảo luận về chủ đề nào đó một cách tự do
9 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương, bao gồm:
Chương 1 Cơ sở lý luận của Luận văn;
Chương 2 Những rào cản trong quá trình chuyển giao công nghệ ở miền núi;
Chương 3 Áp dụng mô hình trình diễn để khắc phục rào cản trong quá trình chuyển giao công nghệ ở miền núi
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
1.1 Chuyển giao công nghệ
1.1.1 Công nghệ
Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Có nhiều cách hiểu về công nghệ Nhìn chung có thể hiểu công nghệ
là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Như vậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người Với tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học và kỹ nghệ Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn Việc tiêu chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ Khái niệm về kỹ thuật: Kỹ thuật được hiểu là bao gồm toàn bộ những phương tiện lao động và nhưng phương pháp tạo ra cơ sở vật chất
Công nghệ (có nguồn gốc từ technologia, hay τεχνολογια, trong tiếng
Hy Lạp; techne có nghĩa là thủ công và logia có nghĩa là "châm ngôn") là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người Tùy vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu:
- Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề;
- Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề;
- Các sản phẩm được tạo ra hàng loạt và giống nhau;
- Sản phẩm có chất lượng cao và giá thành hạ
Định nghĩa công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP): Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình
và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức,
Trang 12thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ
Các thành phần của công nghệ:
Mỗi công nghệ đều bao gồm 4 thành phần chính:
- Kỹ thuật (T): bao gồm các máy móc thiết bị Thành phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào Nhờ máy móc, thiết bị, phương tiện mà con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ trong hoạt động sản xuất
- Con người (H): Bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích lũy được trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gồm các tố chất của con người như tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức lao động
- Thông tin (I): Bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về con người và
tổ chức Các thông số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị, để duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật Thành phần thông tin biểu hiện các tri thức được tích lũy trong công nghệ, nó giúp trả lời câu hỏi "làm cái gì" và "làm như thế nào"
- Tổ chức (O)
Dưới góc độ pháp luật, công nghệ có hai cách hiểu: công nghệ nói chung và công nghệ có thể chuyển giao
Luật Khoa học và Công nghệ đề cập đến công nghệ nói chung (trong
đó có công nghệ không thể được chuyển giao, ví dụ công nghệ giáo dục, công nghệ đào tạo) Còn Luật chuyển giao công nghệ chỉ đề cập đến công nghệ có thể được chuyển giao Nhân đây cũng phải bàn thêm về thuật ngữ “công nghệ” trong Dự thảo Luật KH&CN [6;39]
Khoản 2 điều 2 Luật KH&CN 2000 định nghĩa Công nghệ là tập hợp
các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm
Khoản 2 điều 3 Dự thảo Luật KH&CN định nghĩa Công nghệ là giải
pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Lý do để các
Trang 13nhà soạn thảo dự thảo đưa ra sự thay đổi này là “chỉnh sửa cho chính xác và
phù hợp với khoản 2 điều 3 Luật chuyển giao công nghệ năm 2006”
Luận văn không bình luận về nội hàm của khái niệm công nghệ trong
hai văn bản vừa nêu, nhưng lý do để chỉnh sửa lại không thuyết phục bởi lẽ:
- Công nghệ trong Luật chuyển giao công nghệ chỉ được hiểu là công
nghệ có thể được chuyển giao, tức là công nghệ có thể được thương mại hóa
- Công nghệ trong Luật KH&CN phải được hiểu là công nghệ nói
chung, tức là cả công nghệ có thể được thương mại hóa và công nghệ không thể được thương mại hóa
Cần thấy rằng phương pháp, quy trình, kỹ năng… (những bộ phận
thuộc công nghệ) trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn là không thể thương mại hóa, do đó chúng không thể được chuyển giao theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ [5;42] Không có tổ chức, cá nhân nào lại bỏ tiền
ra mua độc quyền sử dụng phương pháp dạy văn học cổ điển, quy trình kiểm tra bài tập của học sinh tiểu học, kỹ năng nghe tiếng Anh cho trẻ em…
Luận văn định nghĩa công nghệ nhƣ sau: Công nghệ là giải pháp,
quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Trong đó nhấn
mạnh đến công nghệ có thể được chuyển giao và loại trừ công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
1.1.2 Vai trò của công nghệ
Nhiều nhà kinh tế đồng ý rằng sự tiến bộ về công nghệ là nhân tố chính cho tăng trưởng kinh tế và đến lượt nó, các họat động nghiên cứu và chuyển giao là động lực chủ yếu cho các tiến bộ về công nghệ Mặt khác, nhiều nhà kinh tế còn nhấn mạnh hơn và cho rằng các lí thuyết về tăng trưởng cổ điển với việc khẳng định lao động và vốn thì chưa đủ để đóng góp cho sự tăng trưởng của nền kinh tế Nhà kinh tế học Robert Solow, người đã đọat giải Nobel về kinh tế năm 1987 với lí thuyết về vai trò của công nghệ trong tăng trưởng kinh tế chứng minh rằng sự thay đổi về công nghệ bao gồm cả công
Trang 14nghệ được cải thiện, và nâng cao trình độ lực lượng lao động là nhân tố chính trong tăng trưởng dài hạn
Một số lý thuyết kinh tế đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa tiến bộ về công nghệ và phát triển kinh tế Lý thuyết tăng trưởng mới nhấn mạnh tốc độ tăng trưởng do nguồn vốn con người, bao gồm các tri thức hay các ý tưởng sáng tạo từ khu vực doanh nghiệp, trường học và chính phủ Cách tiếp cận này như thế cho rằng các ý tưởng mới là nguồn gốc dẫn đến sự cải tiến về công nghệ và do đó dẫn đến sự cải thiện về năng suất
Trong một nền kinh tế toàn cầu cạnh tranh như hiện nay, các quốc gia cần duy trì sự phát triển về công nghệ trong hầu hết các khu vực kinh tế Hàn Quốc và Đài Loan là những ví dụ điển hình về sự đầu tư vào phát triển công nghệ, để từ đó, chuyển các doanh nghiệp nội địa thành các công ty toàn cầu Trong khi đó, Singapore thì thực hiện việc thương mại hóa công nghệ để đạt được sự tăng trưởng kinh tế
Một đặc điểm nổi bật của thế giới ngày nay là sự phân chia giàu nghèo ngày càng lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển Một số nước đang phát triển ở Châu Á, đặc biệt là tại các nước Đông Nam Á đã vươn lên rút ngắn thời gian và đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng, giảm khoảng cách giàu nghèo trong khuôn khổ của phát triển bền vững bằng con đường CNH Trong đó, vai trò thúc đẩy của công nghệ đóng vai trò cốt lõi của mọi quá trình Có thể hiểu công nghệ là tổng hợp các giải pháp cũng như công cụ để chuyển đổi các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của con người thành sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội Chính công nghệ là yếu tố quyết định mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên, làm nên sự thay đổi xã hội Lịch sử phát triển của xã hội loài người
đã chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa công nghệ và phát triển bằng việc tăng cường áp dụng công nghệ, xã hội loài người đã từng bước chuyển dịch vị thế của mình từ thế giới tự nhiên sang xã hội… Công nghệ cũng chính
là yếu tố quyết định sự thịnh vượng hay suy vong của một quốc gia
Trang 15Trong xã hội hiện đại, vai trò của công nghệ ngày càng tăng lên Nó đã
và đang trở thành hàng hoá được chuyển giao trên thị trường và được bảo hộ bằng pháp luật Những tiến bộ như vũ bão của KH&CN trong hai thập kỷ qua, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ Nano, tự động hoá đã làm đảo lộn tư duy và chiến lược của nhiều nước Không ai còn có thể hoài nghi về vai trò của công nghệ trong phát triển kinh
tế toàn cầu và của mỗi quốc gia
Trong những năm qua, Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích ứng dụng KH&CN vào sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp Song những cơ chế khuyến khích 20% kinh phí của Nhà nước và 80% kinh phí đối ứng của người dân theo kênh khuyến nông chưa thật sự đủ mạnh để tác động việc mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng tiến
bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa có hàm lượng chất xám và giá trị kinh tế cao Nhất là vùng nông thôn và miền núi người dân còn nghèo, trình độ dân trí còn thấp, điều đó đã tạo ra rào cản rất lớn cho KH&CN thâm nhập sâu vào đời sống cộng đồng nơi đây
Chương trình nông thôn miền núi đã thật sự mở ra một cơ hội mới cả
về vốn và công nghệ sản xuất cho người dân vùng nông thôn trong giai đoạn hiện nay Giai đoạn Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, các sản phẩm nông nghiệp đều phải sản xuất sạch, nông nghiệp hữu cơ và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Mặc dù trong ba năm qua, việc triển khai các dự án thuộc Chương trình của huyện còn mỏng, mới chỉ dừng lại ở hai dự án nêu trên, nhưng bước đầu đã tạo ra được điểm sáng ứng dụng KH&CN vào sản xuất nông nghiệp đối với vùng nông thôn, mở đường cho KH&CN ứng dụng vào sản xuất đối với người dân trên địa bàn Thực tế qua triển khai thực hiện các dự án khoa học - công nghệ và hiệu quả của các dự án đã và đang thực hiện bước đầu phát huy hiệu quả trong việc ứng dụng các KH&CN trong sản xuất góp phần tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao giá trị sản xuất
Trang 16Từ khi khoa học và công nghệ đi vào đời sống đã tạo ra một cuộc cách mạng làm thay đổi diện mạo đời sống Và đối tượng được hưởng những thành quả
đó không ai khác là những người dân
Công nghệ đã giải quyết rất nhiều cho bài toán nhân lực và kỹ năng Ngày nay với sự phát triển từng ngày của công nghệ thì điều đó càng được khẳng định rõ rệt Có thể thấy điển hình như ở đối tượng lao động là người nông dân vốn truyền thống là chỉ trông chờ vào các vụ canh tác, lao động thủ công, năng suất thấp và được coi là một trong những bộ phận nghèo nhất trong xã hội Với sự cải tiến về KH&CN đã từng bước đưa người dân nâng cao giá trị cuộc sống Với các trang thiết bị máy móc và các mô hình hiệu quả
đã khiến cho năng suất tăng lên gấp nhiều lần Cùng với sự cải tiến trong hoạt động quản lý đã dẫn hướng nông thôn lao động không chỉ phục vụ tốt nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài
Kéo theo bài toán nhân công, kỹ thuật làm tăng năng suất là đời sống người dân tăng lên đáng kể Không thể phủ nhận bước tiến của KH&CN đã khiến cho những năm gần đây, xuất hiện nhiều người giàu đi lên từ kinh tế nông thôn Nhiều hộ gia đình đã “ăn nên, làm ra” khi tham gia đề tài phát triển kinh tế nông nghiệp gia đình dưới sự chủ trì của Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam, các Liên hiệp địa phương và một số hội ngành thực hiện Tổng kết 10 năm thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, đại diện lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam, 20 tỉnh thành tham gia đề tài cũng đi đến thống nhất, tiếp tục phát triển đề tài này theo hướng các dự án gắn với việc chuyển giao công nghệ, trong đó đặc biệt chú ý đến chuyển giao công nghệ cho nông dân miền núi
KH&CN còn nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua cách tiếp cận thông tin và cung cấp dịch vụ Ngày nay, với các chương trình đưa công nghệ thông tin và khoa học dưới chủ trương của Nhà nước đã nâng cao được đời sống nông dân một cách đáng kể, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Với đường truyền thông tin đến được với người dân khiến cho nông dân
Trang 17tiếp cận được nhiều chương trình của Nhà nước, gia tăng hiểu biết và tiếp cận công nghệ mới Cũng như biết cách dùng KH&CN ứng dụng vào đời sống, người dân cũng biết cách chủ động tiếp cận các dịch vụ như y tế, bảo hiểm…
Không thể phủ nhận được vai trò to lớn của KH&CN đối với đời sống người dân, nhất là đối với nông dân bởi những giá trị nó mang lại Điều đó càng khiến chúng ta càng nhận thức rõ hơn việc thúc đẩy đưa KH&CN vào đời sống nhân dân tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước
1.1.3 Khái niệm chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ
Ngược trở lại các quy định trước đây ở Việt Nam, bắt đầu từ Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam ngày 05/12/1988 cho đến Nghị định số 49/HĐBT ngày 04/03/1991 chi tiết việc thi hành Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ chuyển giao công nghệ (technology transfer) Các văn bản gần đây nhất
là Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 01/07/1998 và Nghị định 11/2005/NĐ-CP ngày 02/02/2005 quy định về chuyển giao công nghệ vẫn tiếp tục sử dụng thuật ngữ “chuyển giao công nghệ” Mặc dù trong các văn bản pháp luật này chưa xác định được đúng nghĩa của việc chuyển giao công nghệ nhưng ít ra cũng không làm cho người đọc hiểu sai về bản chất của chuyển giao công nghệ Các văn bản này mới dừng lại ở cách hiểu về chuyển giao công nghệ là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ
Cho đến khi Luật Chuyển giao công nghệ được ban hành thì khái niệm
về chuyển giao công nghệ đã bắt đầu được hiểu khác đi Khái niệm chuyển giao công nghệ không những được hiểu là chuyển quyền sử dụng công nghệ
mà còn được hiểu là chuyển quyền sở hữu công nghệ Cách hiểu như vậy sẽ khiến cho việc xây dựng các khái niệm, các quy định khác dựa trên khái niệm chuyển giao công nghệ không được chính xác Việc thực thi các quy định sẽ dẫn đến không thực hiện Chúng ta chỉ cần lấy một ví dụ điển hình về 03
Trang 18quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu công nghệ, thật khó tưởng tượng nếu ai đó bảo rằng họ có thể phá huỷ công nghệ đó hay chiếm hữu được công nghệ đó [17;56]
Theo Luật Chuyển giao công nghệ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2007 thì “chuyển giao công nghệ” là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ Chuyển giao công nghệ tại Việt Nam là việc chuyển giao công nghệ giữa các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là việc tổ chức, cá nhân hoạt động ở nước ngoài chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân hoạt động ở nước ngoài
Luận văn định nghĩa chuyển giao công nghệ nhƣ sau: Chuyển giao
công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ Trong đó nhấn mạnh đến việc chỉ khảo sát công nghệ có thể được
chuyển giao như đã phân tích
1.1.4 Quy trình chuyển giao công nghệ
Có thể tóm tắt các bước chuyển giao công nghệ như sau:
- Xác định nhu cầu chuyển giao công nghệ;
- Chuẩn bị các điều kiện tiếp nhận và vận hành công nghệ;
- Chuyển giao và tiếp nhận chuyển giao công nghệ;
- Sử dụng và vận hành công nghệ;
- Đánh giá kết quả chuyển giao công nghệ;
- Nhân rộng, phát triển công nghệ phù hợp và hiệu quả
a Trước khi ký Hợp đồng chuyển giao:
- Người trực tiếp thực hiện hợp đồng đàm phán với đối tác về nội dung hợp đồng, thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng như: giá cả, phương thức thanh toán, thời gian thực hiện, thời gian bảo hành v.v
Trang 19- Người thực hiện hợp đồng đến Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học công nghệ làm việc về nội dung hợp đồng sẽ thực hiện, soạn thảo hợp đồng (Trung tâm cung cấp mẫu đúng quy định) đưa đối tác ký trước sau
đó đưa về Trung tâm ký
- Trung tâm tiến hành lập hợp đồng ủy thác
- Người nhận ủy thác nghiên cứu kỹ các quy định trong hợp đồng ủy thác, trình Khoa, Phòng (đơn vị quản lý trực tiếp người nhận ủy thác) có ý kiến về năng lực thực hiện hợp đồng của người nhận ủy thác
- Tiến hành ký kết hợp đồng ủy thác giữa Trung tâm và người thực hiện hợp đồng
b Quá trình thực hiện Hợp đồng chuyển giao:
- Người nhận uỷ thác cần lập kế hoạch để thực hiện hợp đồng đúng tiến
độ
- Mọi thủ tục thu chi theo tiến độ phải được thực hiện tại phòng kế toán Trung tâm theo đúng thời gian đã ghi trong hợp đồng
- Người nhận ủy thác được tạm ứng theo tiến độ để thực hiện hợp đồng,
và có trách nhiệm thanh toán tạm ứng đúng thời hạn (trên nguyên tắc hoàn đợt trước mới ứng tiếp đợt sau), phòng kế toán Trung tâm có quyền từ chối những chứng từ thanh toán không đúng quy định
- Trong trường hợp có thay đổi về thời gian thực hiện hợp đồng, hoặc
có những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện… người ủy thác có trách nhiệm lập các biên bản ghi rõ lý do để làm minh chứng cho sự chậm trễ hoặc thay đổi
- Đối với những hợp đồng có giá trị lớn và thời gian thực hiện dài, bên nhận ủy thác có trách nhiệm báo cáo tiến độ thực hiện và cung cấp cho trung tâm những văn bản minh chứng như biên bản nghiệm thu, biên bản giao nhận sản phẩm của từng đợt, nếu thấy cần thiết trung tâm sẽ tham gia kiểm tra việc thực hiện hợp đồng
Trang 20c Kết thúc Hợp đồng chuyển giao:
Khi hợp đồng đã thực hiện xong người nhận ủy thác lập biên bản minh chứng cho việc đã hoàn tất hợp đồng như:
- Biên bản nghiệm thu, giao nhận đối với các hợp đồng thiết kế lắp đặt
- Quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền đối với các hợp đồng lập báo đầu tư môi trường, đánh giá tác động môi trường
- Người nhận ủy thác nộp đầy đủ các khoản thu như: các khoản thuế theo quy định, phí quản lý…
- Người nhận ủy thác thanh toán các khoản đã tạm ứng để thực hiện hợp đồng
- Trung tâm xuất hoá đơn trên cơ sở nghiệm thu, và thanh lý hợp đồng đã được lập
1.1.5 Các loại hình chuyển giao công nghệ
a Hợp đồng chuyển giao công nghệ độc lập
Hợp đồng chuyển giao công nghệ:
a Hình thức của hợp đồng chuyển giao công nghệ: là bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương văn bản, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
b Hợp đồng chuyển giao công nghệ bao gồm những nội dung chính sau đây:
- Tên hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong đó ghi rõ tên công nghệ được chuyển giao;
- Đối tượng công nghệ được chuyển giao, sản phẩm do công nghệ tạo ra;
- Chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ;
- Phương thức chuyển giao công nghệ;
- Quyền và nghĩa vụ của các bên;
- Giá, phương thức thanh toán;
- Thời điểm, thời hạn hiệu lực của hợp đồng;
- Khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong hợp đồng (nếu có);
Trang 21- Kế hoạch, tiến độ chuyển giao công nghệ, địa điểm thực hiện chuyển giao công nghệ;
- Trách nhiệm bảo hành công nghệ được chuyển giao;
- Phạt vi phạm hợp đồng;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
- Pháp luật được áp dụng để giải quyết tranh chấp;
- Cơ quan giải quyết tranh chấp;
- Các thoả thuận khác không trái với quy định của pháp luật Việt Nam
c Đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ
Các bên tham gia giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ có quyền đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ tại cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có thẩm quyền làm cơ sở để được hưởng các ưu đãi theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ các quy định khác của pháp luật có liên quan
Hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ bao gồm:
- Đơn đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ;
- Bản gốc hoặc bản sao hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có thẩm quyền xem xét, quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký Hợp đồng chuyển giao công nghệ
b Phần chuyển giao công nghệ trong dự án hoặc hợp đồng
Trong mục này gồm có:
- Dự án đầu tư;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền thương mại;
- Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ [4;37]
1.1.6 Các quy định về chuyển giao công nghệ
a Luật Khoa học và Công nghệ
Điều 2 của Luật KH&CN quy định công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các
Trang 22nguồn lực thành sản phẩm Hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN
b Luật Chuyển giao công nghệ
Luật này quy định về hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam,
từ Việt Nam ra nước ngoài, từ nước ngoài vào Việt Nam; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ; thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước; các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ Trong đó công nghệ được quy định là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Để hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, ngày 31/12/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 133/2008/NĐ-CP Theo đó, trường hợp sử dụng vốn nhà nước để nhận chuyển giao công nghệ trong dự án đầu tư, bên nhận công nghệ phải lập phương án nhận chuyển giao công nghệ, trong đó nêu rõ nội dung chuyển giao công nghệ và giá ước tính của công nghệ để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư (kể cả trường hợp sử dụng nhiều nguồn vốn để nhận chuyển giao công nghệ, trong
đó nguồn vốn nhà nước chiếm tỷ lệ từ 51% trở lên)
Hợp đồng chuyển giao công nghệ không bắt buộc phải đăng ký, nhưng các bên tham gia giao kết hợp đồng có quyền đăng ký nếu có nhu cầu Đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ là cơ sở để được hưởng các ưu đãi theo quy định
Về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ, Bộ KH&CN có thẩm quyền cấp đối với công nghệ thuộc dự án đầu tư do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đầu tư và các trường hợp còn lại
do Sở KH&CN cấp
Trang 23Đối với công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao thì việc đăng ký được thực hiện thành 2 bước: chấp thuận chuyển giao công nghệ và cấp phép chuyển giao công nghệ (do Bộ KH&CN cấp)
Nghị định cũng quy định về việc chuyển giao công nghệ trong dự án hoặc hợp đồng nhượng quyền thương mại, hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ Theo đó, khi lập dự án hoặc hợp đồng phải tách nội dung và chi phí chuyển giao công nghệ thành một phần riêng trong dự án, hợp đồng
Để khuyến khích và thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, các trường hợp miễn, giảm thuế liên quan đến hoạt động này Theo đó, tổ chức góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh bằng công nghệ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập được tạo ra từ công nghệ; miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu
để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ… Ngoài ra, cơ sở ươm tạo công nghệ, cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ được miễn thuế thu nhập trong 4 năm, được giảm 50% thuế thu nhập phải nộp trong 9 năm tiếp theo và được miễn thuế sử dụng đất
Nghị định có hiệu lực thi hành sau 15 ngày đăng công báo và thay thế Nghị định số 11/2005/NĐ - CP ngày 02/02/2005 của Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ (sửa đổi)
1.2 Rào cản trong chuyển giao công nghệ
1.2.1 Khái niệm rào cản trong chuyển giao công nghệ
Rào cản là những yếu tố có hướng đi không cùng chiều, tác động làm hạn chế quá trình phát triển, ngăn cản việc đạt mục tiêu của tổ chức, cá nhân hoặc hoạt động cụ thể
Rào cản chia thành 2 loại:
- Rào cản khách quan là những yếu tố bên ngoài tổ chức, cá nhân hoặc
sự vật, hiện tượng, nảy sinh trong quá trình phát triển, tác động, quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác
Trang 24- Rào cản chủ quan là yếu tố bên trong tổ chức, cá nhân, sự vật, hiện tượng, nảy sinh trong quá trình phát triển, tác động, quan hệ giữa các bộ phận cấu thành tổ chức, cá nhân, sự vật, hiện tượng [19]
Nghiên cứu của các học giả nước ngoài về khó khăn trong chuyển giao công nghệ đã chỉ rõ, ví dụ: Peter Behr đã nêu khó khăn trong hợp tác và cạnh tranh để thực hiện chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Trung Quốc hoặc từ khu vực R&D sang khu vực sản xuất, trong đó nhấn mạnh về năng lực công nghệ của bên nhận chuyển giao thường là thấp so với bên chuyển giao công nghệ [27;138]
Trong hoạt động chuyển giao công nghệ, về lý thuyết điểm mấu chốt nhất là phải làm cho năng lực công nghệ của bên nhận chuyển giao ngang bằng với năng lực công nghệ của bên chuyển giao, nhưng trong thực tiễn để đạt được điểm mấu chốt vừa nêu là khó có thể (trường hợp này chuyển giao công nghệ được coi là thành công ở mức độ thấp) và trong nhiều trường hợp
là không thể (trường hợp này chuyển giao công nghệ được coi là không thành công), để xảy ra hiện tượng này có thể do các nguyên nhân:
- Có sự khác biệt giữa khu vực R&D với khu vực phát triển công nghệ
theo chiều rộng (Extensive Development of Technology), còn gọi là “nhân rộng công nghệ” (Diffusion of Technology);
- Có chênh lệch về năng lực giữa bên chuyển giao công nghệ và bên nhận chuyển giao công nghệ;
- …
Những khác biệt và chênh lệch vừa nêu thuộc về yếu tố khó khăn trong chuyển giao công nghệ, trong Luận văn này gọi là “rào cản” trong chuyển giao công nghệ
Luận văn định nghĩa rào cản trong chuyển giao công nghệ nhƣ sau:
Rào cản trong chuyển giao công nghệ là những yếu tố tác động gây khó khăn, hạn chế trong quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ giữa bên chuyển giao công nghệ và bên tiếp nhận công nghệ
Trang 25Có thể chia rào cản trong chuyển giao công nghệ thành 2 loại:
- Rào cản kỹ thuật bao gồm những yếu tố: Luật pháp, loại công nghệ, thông tin, kinh phí chuyển giao…
- Rào cản xã hội là những yếu tố liên quan đến con người: Văn hóa, phong tục, tập quán, thói quen, năng lực tiếp nhận và sử dụng công nghệ
1.2.2 Rào cản về năng lực tiếp nhận công nghệ ở miền núi
Đặc điểm của vùng dân tộc và miền núi của Việt Nam khá đa dạng và phong phú, có thể khái quát như sau:
Vùng dân tộc và miền núi chiếm gần ¾ diện tích tự nhiên, bao gồm gồm 51 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (19 tỉnh miền núi vùng cao (có đồng bào dân tộc thiểu số), 22 tỉnh miền núi (có đồng bào dân tộc thiểu số) và
10 tỉnh đồng bằng (có đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống)) Vùng có vị trí quan trọng vì có nhiều cửa ngõ thông thương với các nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới; là nơi có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng phục vụ cho sự phát triển đất nước; là khu vực đầu nguồn của những con sông lớn, có hệ thống rừng phòng hộ, rừng đặc dụng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên đây cũng là vùng điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, bị chia cắt nhất là các tỉnh miền núi [18;31]
Ngoài những đặc điểm chung, địa bàn còn những khu vực điều kiện tự nhiên đặc thù: có những vùng với địa hình chủ yếu là núi cao hiểm trở, chia cắt phức tạp, tạo ra các vùng dân cư cư trú phân tán, cách biệt, giao lưu đi lại khó khăn như trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và một phần vùng Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung (khu vực dãy Trường Sơn); có vùng địa hình đồng bằng, núi thấp như: Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, một phần của Bắc trung Bộ và duyên hải miền Trung và vùng Đông Nam bộ… Các yếu tố điều kiện tự nhiên này có ảnh hưởng không nhỏ (kể cả thuận lợi và khó khăn) cho phát triển nguồn nhân lực
Trang 26Vùng dân tộc và miền núi chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp, mang tính tự nhiên, tự cấp, tự túc là phổ biến, sản xuất hàng hóa chưa thực sự phát triển Các điều kiện về hạ tầng kinh tế, kỹ thuật còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống: còn gần 3% các xã đặc biệt khó khăn chưa
có đường ô tô đến trung tâm xã, hệ thống giao thông thôn bản chủ yếu là đường đất, dân sinh, trong khi khoảng cách từ thôn, bản đến các trung tâm xã rất xa (có nơi hơn 50km); 5% số xã chưa có điện và 30% số hộ chưa được dùng điện lưới quốc gia; hạ tầng thủy lợi, thông tin, liên lạc… còn nhiều khó khăn, bất cập
Một số dân tộc thiểu số có trình độ phát triển kinh tế - xã hội tương đối cao, nhưng phần lớn các dân tộc thiểu số vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, có mức sống thấp, chậm phát triển hơn so với dân tộc đa số Một số dân tộc vẫn còn tập quán du canh, du cư… Đất đai rộng, nhiều tài nguyên khoáng sản song tốc độ phát triển kinh tế kém, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, tỷ lệ
hộ nghèo cao, có nơi rất cao so với bình quân chung của cả nước Điều này đã dẫn đến vùng dân tộc và miền núi nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng có trình độ phát triển thấp hơn so với mặt bằng của cả nước (nhất là chất lượng nguồn nhân lực)
Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa truyền thống riêng biệt về phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục và thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau (có 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau) Vì vậy nó tác động và hình thành nên đặc điểm tâm sinh lý, lối sống, ý thức tộc người… đặc thù của từng dân tộc Tuy nhiên
do các dân tộc sống xen kẽ nhau, điều này đã tạo ra sự giao thoa ảnh hưởng lẫn nhau cả về văn hóa và ngôn ngữ (theo 2 chiều hướng tích cực và tiêu cực),
từ đó tạo nên sự đa dạng về văn hóa của vùng Bên cạnh những bản sắc giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của từng dân tộc, từng cộng đồng, địa phương cũng tồn tại một số tập quán sản xuất, đời sống còn mang tính lạc hậu, ít phù hợp và trở thành rào cản đối với sự phát triển
Trang 27Vùng dân tộc và miền núi thường là khu vực đầu nguồn, có hệ thống rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái và an ninh quốc gia Tuy nhiên, hiện nay do tác động của phát triển kinh tế: các tài nguyên thiên nhiên bị khai thác bừa bãi, quá mức cho phép, gây ô nhiễm; rừng bị khai thác và chặt phá kiệt quệ; sự di dịch cư của các dân tộc (trong nội vùng và giữa vùng này, địa phương này với vùng khác, địa phương khác) không được kiểm soát gây ra các xáo trộn bất lợi… tác động tiêu cực từ tập quán sản xuất (chăn thả rông, chặt phá rừng…) đến đời sống… Những tác nhân nêu trên đã và đang làm cho môi trường sinh thái
và môi trường sống vùng dân tộc và miền núi bị ô nhiễm Đây cũng là vấn đề ảnh hưởng không nhỏ đến số lượng, chất lượng nguồn nhân lực của vùng
Nguồn nhân lực dân tộc thiểu số là bộ phận quan trọng cấu thành nên nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi Hiện cả nước có 53 thành phần dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn 51/63 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 đã công bố Việt Nam
có 12.251.436 người dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ 14,27% dân số cả nước và chiếm gần 18% dân số của vùng dân tộc miền núi
Lao động trong vùng dân tộc và miền núi chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là 2 vùng có số lượng và tỷ lệ dân tộc thiểu số cao nhất cả nước là trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên (lao động nông nghiệp chiếm trên 70%); công nghiệp - xây dựng và dịch vụ có nhưng không nhiều Cơ cấu này có sự cách biệt rất xa nếu so sánh với cơ cấu bình quân chung giữa nông nghiệp - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ của cả nước (cơ cấu cả nước là 51,9% - 21,5% - 26,5%) [18;33]
Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi Trí lực là thành tố quan trọng trong việc hình thành và quyết
định chất lượng nguồn nhân lực Để đánh giá về trí lực, cần xem xét dưới nhiều góc độ, trong đó vấn đề trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật được xem như là 2 tiêu chí cơ bản để nghiên cứu, phân tích:
Trang 28Tỷ lệ dân số không biết chữ còn khá cao, trong đó vùng Trung du và miền núi phía Bắc có khoảng 12,7% dân số, đặc biệt đối với khu vực nông thôn miền núi là 14,7%, cao nhất cả nước (toàn quốc là 6,5%, trong đó khu vực nông thôn là 8,0%) Vùng Tây Nguyên có 11,73% dân số không biết chữ, khu nông thôn miền núi là 14,5%, cao thứ hai cả nước Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 8,4% dân số không biết chữ, khu nông thôn là 9,1%, cao thứ 3
cả nước Đối tượng không biết chữ chủ yếu rơi vào những người có độ tuổi cao (trên 40 tuổi), một số địa phương có tỷ lệ người trong độ tuổi lao động (từ
15 trở lên) không biết chữ cao như: Lai Châu - 42,6%, Hà Giang - 34,5%, Điện Biên - 32,4%, Gia Lai - 19,5%, Kon Tum - 15,5%
Đối với trình độ học vấn của lực lượng lao động trong độ tuổi Tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 58,6% dân số độ tuổi từ 15 trở lên chỉ có trình độ từ tiểu học trở xuống (10,3% chưa đi học, 22,7% chưa tốt nghiệp tiểu học; 25,6% đã tốt nghiệp tiểu học); 23,1% tốt nghiệp trung học cơ sở và 18,3% tốt nghiệp trung học phổ thông Vùng Tây Nguyên: 65,5% dân số có
độ tuổi từ 15 trở lên chỉ có trình độ từ tiểu học trở xuống (8,9% chưa đi học, 25,7% chưa tốt nghiệp tiểu học; 30,9% đã tốt nghiệp tiểu học; 20,8% tốt nghiệp trung học cơ sở và 13,7% tốt nghiệp trung học phổ thông Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: 75,0% dân số từ 15 tuổi trở lên có trình độ từ tiểu học trở xuống (6,6% chưa đi học, 32,8% chưa tốt nghiệp tiểu học; 35,6% đã tốt nghiệp tiểu học); 14,3% tốt nghiệp trung học cơ sở và 10,7% tốt nghiệp trung học phổ thông Trong khi đó, toàn quốc là: 5,1% chưa đi học, 22,7% chưa tốt nghiệp tiểu học; 27,6% tốt nghiệp tiểu học; 23,7% tốt nghiệp trung học cơ sở
và 20,8% tốt nghiệp trung học phổ thông; khu vực Đồng bằng sông Hồng là: 2,2% chưa đi học, 15,8% chưa tốt nghiệp tiểu học; 18,9% tốt nghiệp tiểu học; 33,0% tốt nghiệp trung học cơ sở và 30,1% tốt nghiệp trung học phổ thông
Trình độ học vấn của nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi nhìn chung thấp, song trình độ học vấn của nguồn nhân lực dân tộc thiểu số lại càng thấp hơn Ngoài 2 dân tộc Tày và Mường có dân số từ 10 tuổi trở lên không biết đọc biết viết chiếm tỷ lệ thấp (Tày - 5,1%, Mường - 5,5%), các
Trang 29dân tộc thiểu số còn lại tỷ lệ dân số từ 10 tuổi trở lên không biết đọc, biết viết rất cao: Thái - 18,1%, Khmer - 24,4%, Mông - 54%, các dân tộc thiểu số còn lại là 22,4% Tỷ lệ này của dân tộc Kinh chỉ có 3,8% [2;50]
Như vậy các rào cản trong việc tiếp nhận công nghệ được chuyển giao
ở miền núi được thể hiện trên các mặt:
Nhóm 1: rào cản từ điều kiện tự nhiên đến chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi, nhóm này bao gồm:
- Rào cản về địa hình;
- Rào cản về đất đai;
- Rào cản về môi trường
Nhóm 2: rào cản từ điều kiện kinh tế - xã hội đến chuyển giao công
- Rào cản từ phương thức canh tác;
- Rào cản về ngôn ngữ;
- Rào cản về dân trí;
- Rào cản về chất lượng nguồn nhân lực;
- Rào cản về cơ chế chính sách;
- Rào cản về điều kiện tiếp nhận và vận hành công nghệ;
- Rào cản về vốn đầu tư
Do giới hạn của khuôn khổ Luận văn, đề tài này chỉ khảo sát các rào cản thuộc nhóm 2, đó là rào cản từ điều kiện kinh tế - xã hội đến chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi
1.3 Mô hình trình diễn
1.3.1 Khái niệm mô hình trình diễn
Mô hình là hình mẫu, điển hình hoá những mối quan hệ đặc trưng quan trọng nhất mang tính bản chất của các sự vật và hiện tượng, của các quá trình diễn ra trong tự nhiên và trong đời sống xã hội
Do tính chất điển hình hoá, nên khi nói đến mô hình người ta dễ hình dung ra những đặc trưng quan trọng nhất của sự vật, hiện tượng và những mối liên hệ chủ yếu của bản thân sự vật đó Vì vậy, có thể thử nghiệm mô hình đó
Trang 30vào thực tiễn và nhân rộng nó trở thành phổ biến hoặc có thể thu hẹp, xoá bỏ nếu thấy mô hình đó kém hiệu quả, không phù hợp với thực tiễn [29;51]
Trong thực tế để khái quát hóa các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau Theo quan niệm của nhiều
cơ quan chuyển giao công nghệ, MHTD kỹ thuật cần có các đặc trưng sau:
- Là hình mẫu tối ưu (đã qua thử nghiệm) về một giải pháp sản xuất;
- Phải có tính đại diện cho vùng có điều kiện tương tự;
- Phải ứng dụng được các kết quả nghiên cứu vào sản xuất;
- Phải đạt hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường
Để giúp cho người dân phát triển sản xuất và xoá đói giảm nghèo, việc xây dựng các mô hình sản xuất là rất cần thiết vì các lý do sau đây:
- Thực tế đã khẳng định, muốn làm giàu trong sản xuất nông, lâm nghiệp thì không thể sản xuất theo kiểu quảng canh, tự cấp, tự túc mà phải áp dụng các kỹ thuật tiến bộ, thâm canh tăng năng suất và tiến đến sản xuất theo hướng hàng hoá
- Để đáp ứng yêu cầu của việc chuyển đổi phương thức canh tác nhằm phù hợp với thực tế sản xuất Ví dụ, hiện nay khi diện tích bãi chăn thả ngày càng bị thu hẹp, việc duy trì số lượng đàn bò là rất khó khăn nếu vẫn thực hiện phương thức chăn thả truyền thống như trước đây Do vậy, việc xây dựng các mô hình nuôi bò bán thâm canh là cần thiết để hướng dẫn cho người dân chuyển đổi phương thức chăn nuôi nhằm thích ứng với tình hình mới của thực tiễn sản xuất để phát triển sản xuất chăn nuôi bò
- Đáp ứng các nhu cầu về chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích hợp với điều kiện sinh thái để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Ví dụ, các mô hình vườn đồi, mô hình trồng rau ở trung du và miền núi
- Nhằm tạo cho người dân ý thức và hướng tới phát triển bền vững, nghĩa là phát triển kinh tế phải quan tâm đúng mức tới bảo vệ môi trường,
Trang 31không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Ví dụ, mô hình chăn nuôi kết hợp với Bioga
- Tạo ra những hình mẫu về sản xuất để tổ chức các chuyến tham quan học tập, các lớp tập huấn hay hội nghị đầu bờ nhằm chuyển giao rộng rãi các
kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất theo cách "nông dân tự chuyển giao cho nông dân"
- Để ứng dụng những kỹ thuật mới trước khi phổ biến ra diện rộng Góp phần khẳng định tính khả thi của một phương án sản xuất để giai đoạn tiếp theo chỉ cần tiếp tục bổ sung chứ không phải mày mò thử nghiệm mà có thể yên tâm phát triển trên diện rộng khi có vốn đầu tư và có thị trường tiêu thụ sản phẩm
1.3.2 Đặc điểm của mô hình trình diễn
Mô hình trình diễn trong việc chuyển giao công nghệ cho nông dân ở miền núi có đặc trưng cơ bản:
- Mô hình trình diễn là một hình thức hoạt động cụ thể được làm mới hoặc tái tạo lại, được tạo ra tại một điểm trong một khu vực nhất định nhằm làm mẫu để nghiên cứu, rút kinh nghiệm, tham quan học tập, từ đó có thể nhân ra diện rộng
- Mô hình trình diễn trong việc chuyển giao công nghệ cho nông dân ở miền núi ở dạng triển khai thử nghiệm hoặc sản xuất bán đại trà của công nghệ, hoặc ở diện mở rộng công nghệ trong áp dụng bán đại trà và đại trà Trong đó có bên giao và bên nhận: bên giao là các cơ quan nghiên cứu, đơn vị
sự nghiệp, các đơn vị thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, đơn
vị kinh doanh, tổ chức phi chính phủ; bên nhận là nông dân, hợp tác xã ở vùng nông thôn miền núi Cơ quan làm chuyển giao công nghệ cho nông dân chính ở nông thôn thường là Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các hội, chi hội, câu lạc bộ
- Trong các hoạt động chuyển giao công nghệ cho nông dân ở miền núi thì có nhiều quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất, cho rằng đây chỉ là hướng dẫn kỹ thuật thuần tuý Quan điểm thứ hai, cho là chuyển giao kỹ thuật
Trang 32tiến bộ Quan điểm thứ ba, cho là huấn luyện kỹ thuật và kèm theo đầu tư Quan điểm thứ tư, cho rằng đây là một hình thức của chuyển giao công nghệ
Nghiên cứu về phương pháp chuyển giao KH&CN tại 13 tỉnh miền núi phía Bắc cho thấy: xây dựng MHTD là phương pháp chủ đạo để chuyển giao công nghệ cho người dân (93,3% số cơ quan và dự án áp dụng) Đây là phương pháp rất thành công, nhất là với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, hầu hết cán bộ và nông dân được phỏng vấn ở 13 tỉnh đều cho rằng MHTD là rất quan trọng vì: (1) nông dân chỉ làm theo khi họ thấy được kết quả, và (2) mô hình là nhằm để khẳng định tính phù hợp của KH&CN tại địa phương
Luận văn định nghĩa mô hình trình diễn nhƣ sau:
MHTD là một hình thức hoạt động cụ thể nào đó được tái tạo lại hoặc mới được tạo ra tại một điểm trong khu vực nhất định nhằm làm mẫu để nghiên cứu, rút kinh nghiệm, tham quan học tập, từ đó có thể nhân ra diện rộng
1.3.3 Trình tự các bước triển khai thực hiện mô hình trình diễn
Quá trình xây dựng mô hình gồm 7 bước với sự tham gia tích cực của người dân vào tất cả các hoạt động của mô hình Tuy nhiên hình thức và mức
độ tham gia ở mỗi bước có khác nhau Tiến trình xây dựng mô hình có thể tóm tắt như sau:
Bước 1: Đánh giá thực trạng và xác định nhu cầu
Thành phần tham gia: Rất rộng rãi, bao gồm nhiều tầng lớp (lãnh đạo địa phương, cán bộ kỹ thuật và nông dân); các nhóm đối tượng khác nhau tại cộng đồng (giàu, nghèo, già, trẻ); các giới (nam, nữ)
- Nội dung:
Đánh giá thực trạng về kinh tế - xã hội của địa phương;
Tình hình sản xuất có liên quan tới việc xây dựng mô hình:
(1) Các phương pháp canh tác đang áp dụng;
(2) Các khó khăn trong sản xuất;
(3) Các khó khăn trong việc áp dụng công nghệ được chuyển giao;
Trang 33(4) Các kinh nghiệm của địa phương:
Tìm hiểu nguyện vọng của cộng đồng về công nghệ mới;
Xem xét điều kiện thực tế của địa phương để có thể thực hiện được các công nghệ đó
- Bước này được tiến hành trong quá trình điều tra xây dựng dự án
- Các mô hình xây dựng đều được thực hiện trong điều kiện đã có sự giúp đỡ về tài chính của dự án (nên không phải tìm nguồn kinh phí để thực hiện) Trong trường hợp chưa có dự án, cần phải tìm nguồn tài trợ trước khi tiến hành các bước tiếp theo để xây dựng mô hình
Bước 2: Chọn địa điểm xây dựng MHTD và thành lập tổ chỉ đạo kỹ thuật
- Thành phần tham gia: hẹp hơn, gồm các cán bộ lãnh đạo, khuyến nông và cán bộ kỹ thuật
- Nội dung:
Chọn điểm xây dựng mô hình: cần chọn địa điểm phù hợp, có tính đại diện để nhân rộng, dễ dàng cho việc tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn tại mô hình, đồng thời có thể thu hút nhiều người xem nhất
Thành lập tổ chỉ đạo kỹ thuật gồm đại diện của ban quản lý dự
án, các cán bộ của cơ quan tư vấn (chuyển giao), cán bộ kỹ thuật huyện, xã
- Tổ chỉ đạo kỹ thuật sẽ tổ chức cho việc hình thành nhóm cùng sở thích
Trang 34Bước 3: Chọn hộ nông dân để xây dựng MHTD
- Thành phần tham gia: các cán bộ lãnh đạo, khuyến nông (thôn/xã), cán bộ kỹ thuật và hộ nông dân tự nguyện
- Các tiêu chí chọn hộ:
Hộ hoàn toàn tự nguyện;
Có tính đại diện cho việc nhân rộng;
Có ý chí và quyết tâm trong sản xuất;
Có điều kiện (đất đai, lao động, ) để xây dựng MHTD;
Có nguyện vọng áp dụng KH&CN trong sản xuất;
Sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ các hộ khác;
Cam kết thực hiện tốt qui định của dự án
Bước 4: Xây dựng kế hoạch và các nội dung hoạt động
- Mục đích: Quyết định về nội dung và tiến trình thực hiện;
- Thành phần tham gia: tổ kỹ thuật, các hộ thực hiện MHTD;
- Cán bộ kỹ thuật giúp dân lựa chọn được các giải pháp kỹ thuật thích hợp để giải quyết các vấn đề đã được xác định;
- Kế hoạch và nội dung hoạt động được xác định dựa trên: hiện trạng, mục tiêu và nhu cầu của dân đối với việc chuyển giao kỹ thuật mới;
- Dân tham gia lập kế hoạch hoạt động cụ thể như sau:
Thời gian: Khi nào bắt đầu, thực hiện, kết thúc, đánh giá,
Khối lượng công việc cụ thể cho từng hoạt động
Xác định rõ nguồn lực: của hộ nông dân và sự hỗ trợ của dự án
Bước 5: Tổ chức thực hiện MHTD và giám sát đánh giá định kỳ
- Chỉ đạo để thực hiện theo kế hoạch đã đề ra;
- Tổ chức tập huấn: Những lưu ý khi tập huấn:
Từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp;
Nội dung phù hợp với nhu cầu của dân, dễ hiểu;
Chỉ tập huấn nội dung mới khi nông dân đã làm tốt các nội dung
đã được tập huấn trước;
Trang 35 Chọn phương pháp phù hợp, dùng nhiều tranh ảnh, hình vẽ, băng hình;
Tập huấn ngoài đồng ruộng, trên MHTD
- Hỗ trợ kỹ thuật sau tập huấn: Những lưu ý khi hỗ trợ kỹ thuật:
Thường xuyên theo dõi để giúp dân làm được theo những nội dung
đã học;
Theo cách cầm tay chỉ việc;
Phương thức "nông dân chuyển giao cho nông dân"
- Giám sát, đánh giá định kỳ
Ai giám sát? Ban quản lý, cán bộ kỹ thuật và nhóm cùng sở thích;
Cách làm: Phỏng vấn, họp nhóm, họp dân;
Đánh giá, giám sát cái gì?
+ Đánh giá chung: MHTD có đạt được mục tiêu đề ra không? Những hạn chế? Tính khả thi? Tính dễ làm? Khả năng áp dụng? Tính bền vững? Ảnh hưởng tới sản xuất ở địa phương
+ Việc thực hiện kế hoạch: Tiến độ các hoạt động, tài chính, phân bổ nguồn lực, so sánh với kế hoạch ban đầu để điều chỉnh (nếu cần)
+ Về kỹ thuật: các quy trình kỹ thuật có được tuân thủ triệt để không?
Có gặp khó khăn gì ảnh hưởng đến kỹ thuật không? Khả năng ứng dụng của đông đảo số hộ trong thôn/xã
+ Đánh giá về tổ chức, quản lý;
+ Đánh giá về hoạt động đào tạo, chuyển giao kỹ thuật của cơ quan tư vấn;
+ Đánh giá về kết quả, lợi ích và hiệu quả của MHTD;
+ Sự đóng góp và sự thực hiện của các hộ như đã cam kết
Bước 6: Đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện MHTD
- Thành phần tham gia: các cán bộ lãnh đạo, khuyến nông (thôn/xã), cán
bộ kỹ thuật, các hộ MHTD, nhóm cùng sở thích, đại diện của nông dân và những người quan tâm
Trang 36- Tư liệu hoá: tổng kết tất cả những thông tin, kết quả, kinh nghiệm,
để giúp cho việc tuyên truyền và nhân rộng
- Đánh giá sự thành công trên các khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường…
Về kinh tế: xem xét về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của sản xuất, sự phù hợp với điều kiện hiện tại (nhất là mức đầu tư) của nông hộ, vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm
Về xã hội: xem xét về khả năng tạo việc làm và nâng cao thu nhập, những đóng góp trong việc nâng cao kiến thức và nhận thức của người dân trong sản xuất, sự thay đổi về tập quán canh tác (từ lạc hậu sang áp dụng các KH&CN mới, )
Về môi trường: sự đóng góp của kỹ thuật mới trong việc bảo vệ môi trường sinh thái (do canh tác hợp lý và có kỹ thuật), có gây ô nhiễm môi trường không
Tính bền vững và khả năng áp dụng: xem xét về thái độ và cách ứng xử của người dân với các kỹ thuật mới, bao nhiêu hộ trong địa phương có thể áp dụng được các kỹ thuật này?
- Tổ chức các hội nghị đầu bờ, tham quan, học tập;
- Giúp đỡ cho chủ hộ các nội dung để chia sẻ kinh nghiệm;
- Các thành viên trong nhóm cùng sở thích được dự án ưu tiên cho vay vốn và các cán bộ của Trung tâm sẽ định kỳ kiểm tra để hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình nhân rộng MHTD;
- Hình thành các nhóm sở thích (ở các cơ sở mới), thông qua đó để tiếp tục nhân rộng các kỹ thuật đã trình diễn
Trang 371.3.4 Mối quan hệ giữa mô hình trình diễn đến sự thành công trong chuyển giao công nghệ
- Mô hình trình diễn lựa chọn phù hợp sẽ phát huy, khai thác hiệu quả lợi thế, điều kiện tự nhiên địa phương; hạn chế những tác động của địa hình, khí hậu cũng như những yếu tố khách quan đến quá trình chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi;
- Từ đặc tính trực quan của MHTD sẽ giúp cho quá trình chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi phù hợp với năng lực tiếp nhận và sử dụng công nghệ của người dân và cán bộ cơ sở;
- Thông qua việc mô phỏng cụ thể và triển khai việc chuyển giao công nghệ trên thực tế ở quy mô nhỏ sẽ tiết kiệm chi phí nhất để nhiều người dân
có thể tiếp nhận công nghệ và sử dụng công nghệ;
- Việc chuyển giao công nghệ qua MHTD sẽ góp phần thay đổi tập quán canh tác truyền thống của người dân trong quá trình sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo vùng miền núi;
- Về kỹ thuật, công nghệ đã góp phần xác lập quy trình sản xuất cho người dân, qua đó chuyển giao công nghệ vào sản xuất và đời sống ở vùng miền núi;
- Về kinh tế: với việc áp dụng công nghệ, các kỹ thuật mới và các biện pháp canh tác hợp lý nên năng suất cây trồng hoặc vật nuôi được tăng lên, dịch bệnh được hạn chế; góp phần làm tăng thu nhập và xoá đói giảm nghèo cho nông dân
- Về xã hội: nâng cao nhận thức và năng lực cho người dân; tạo niềm tin và quyết tâm cho người dân để áp dụng các KTTB mới, đồng thời thúc đẩy người dân chủ động áp dụng công nghệ, các kỹ thuật mới khi họ đã thấy được hiệu quả của MHTD
- Về môi trường: Công nghệ được chuyển giao qua MHTD góp phần
sử dụng hợp lý quỹ đất, cải tạo đất, chống xói mòn do canh tác hợp lý; giảm các loại chất thải ra môi trường Đồng thời nâng cao nhận thức của người dân
về bảo vệ môi trường, từ chỗ chỉ biết khai thác và sử dụng tiến tới biết tôn tạo gìn giữ và sử dụng hợp lý hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 381.3.5 Tiêu chí đánh giá mô hình trình diễn thành công trong chuyển giao công nghệ
Mô hình trình diễn chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi được coi là thành công khi đáp ứng các tiêu chí sau:
- Mô hình trình diễn chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu thực tiễn của người dân và điều kiện, thế mạnh của địa phương, được người dân và cán
bộ cơ sở chủ động tham gia tiếp nhận;
- Mô hình trình diễn chuyển giao công nghệ phù hợp với năng lực tiếp nhận của người dân và các bên tham gia trong quá trình tiếp nhận và sử dụng công nghệ;
- Công nghệ được chuyển giao thông qua mô hình trình diễn được sử dụng/áp dụng trên thực tế và phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, tăng thu nhập cho người dân;
- Công nghệ được chuyển giao thông qua mô hình trình diễn được người dân và các bên tiếp nhận chủ động sử dụng/áp dụng và mở rộng việc áp dụng/sử dụng sau khi mô hình trình diễn kết thúc
Kết luận Chương 1
Trong Chương 1, Luận văn đã trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến chuyển giao công nghệ và mô hình trình diễn, trong đó nhấn mạnh đến:
- Khái niệm công nghệ và chuyển giao công nghệ;
- Quy trình chuyển giao công nghệ;
- Mô hình trình diễn và vai trò của mô hình trình diễn trong chuyển giao công nghệ, đặc biệt là chuyển giao công nghệ cho các đối tượng có năng lực tiếp nhận công nghệ thấp, như nông dân, nông dân miền núi, vùng đặc biệt khó khăn;
- Vai trò của công nghệ và chuyển giao công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của chúng đối với nông dân miền núi Chỉ có thể rút ngắn khoảng cách phát triển về kinh tế - xã hội giữa các vùng,
Trang 39miền khác nhau thông qua việc thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, trong đó vai trò của chuyển giao công nghệ là vô cùng quan trọng;
Như vậy, Luận văn đã phân tích xong cơ sở lý thuyết về chuyển giao công nghệ và mô hình trình diễn Việc thực thi chúng như thế nào trong thực tiễn? Luận văn xin phân tích cụ thể tại Chương 2
Trang 40CHƯƠNG 2 NHỮNG RÀO CẢN TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở VÙNG MIỀN NÚI
2.1 Thực trạng chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi
2.1.1 Khái quát về các hoạt động chuyển giao công nghệ ở vùng miền núi
Thực hiện Quyết định số 122/2004/QĐ - TTg phê duyệt Chương trình
“Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn từ 2004 - 2010” Bộ KH&CN phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Uỷ ban dân tộc, Trung ương Hội nông dân Việt Nam, Bộ Tài Chính và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đã triển khai thực hiện được 288 dự án tại 60 tỉnh, thành phố với tổng kinh phí là 743.917 triệu, trong đó kinh phí hỗ trợ từ ngân sách
sự nghiệp KH&CN Trung ương là 295.325 triệu đồng (chiếm 39,7%) và huy động từ dân, doanh nghiệp, ngân sách địa phương là 448.592 triệu đồng (chiếm 60.3%) Sau 5 năm thực hiện Chương trình đã chuyển giao 856 công nghệ và tiến bộ kỹ thuật là kết quả nghiên cứu khoa học của các tổ chức khoa học công nghệ vào địa bàn nông thôn, miền núi, hải đảo, các vùng khó khăn
chậm phát triển, vùng dân tộc ít người
Các dự án thuộc Chương trình đã giúp các địa phương tiếp nhận, làm chủ và phát triển các công nghệ để giải quyết các vấn đề về: chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhân giống và đưa vào sử dụng các giống cây trồng vật nuôi
có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao nhằm tăng năng suất, tăng thu nhập trên diện tích hiện có tại địa phương; phát triển các sản phẩm lợi thế của Việt Nam như cây ăn quả có múi đặc sản, hoa các loại; chăn nuôi đại gia súc; phát triển cây công nghiệp, cây dược liệu, cây ăn quả; trồng và bảo
vệ rừng; bảo quản, chế biến nông, lâm, hải sản; tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp và lao động nông nhàn, phát triển nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu; giải quyết nước sạch quy mô hộ gia đình và cụm dân cư; khôi phục và