1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ hội nhập

102 861 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI TH

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Chuyên ngành: Chính sách Khoa học và Công nghệ

Mã số: 60.34.70

Khóa học: 2007-2010

NGƯỜI THỰC HIỆN: Trịnh Vũ Hồng Nga

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS Vũ Cao Đàm

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Chuyên ngành: Chính sách Khoa học và Công nghệ

Mã số: 60.34.70

Khóa học: 2007-2010

NGƯỜI THỰC HIỆN: Trịnh Vũ Hồng Nga

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS Vũ Cao Đàm

HÀ NỘI - 2010

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Một số khái niệm liên quan 7

1.1.1 Khái niệm về thông tin và thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn 7

1.1.2 Khái niệm về hoạt động thông tin KH&CN 12

1.1.3 Khái niệm về mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn 17

1.2 Vai trò của thông tin KH&CN đối với nông nghiệp nông thôn 20

1.3 Kinh nghiệm các nước về công tác phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn 23

1.3.1 Mạng thông tin nông thôn tại Ấn Độ 23

1.3.2 Mạng thông tin về Phát triển nông thôn tại Băng la đét 26

Kết luận chương 1 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KH&CN PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TẠI MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC 32

2.1 Thực trạng chính sách thông tin KH&CN 32

2.2 Thực trạng mạng lưới cung cấp thông tin KH&CN phục vụ nông nghệp nông thôn và miền núi 34

2.2.1 Mô hình cung cấp thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi 34

2.2.2 Thực trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn ở một tỉnh phía Bắc từ năm 1990 đến nay 40

2.2.2.1 Đặc điểm của nông thôn các tỉnh phía Bắc 40

2.2.2.2 Hiện trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn miền Bắc hiện nay 42

2.3 Phân tích, đánh giá thực trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục

Trang 4

vụ nông nghiệp nông thôn các tỉnh phía Bắc trong thời kỳ hội nhập 57

Kết luận Chương 2 62

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KH&CN PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN CÁC TỈNH PHÍA BẮC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 64

3.1 Định hướng, quan điểm chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn 64

3.1.1 Định hướng, chiến lược phát triển thông tin KH&CN trong giai đoạn 2015 64

3.1.2 Quan điểm chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn 65

3.2 Đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn 69

3.2.1 Chính sách tạo nguồn và phát triển nguồn tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn 72

3.2.2 Chính sách liên kết và mở rộng khả năng khai thác thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn 73

3.2.3 Chính sách phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn 74

3.2.4 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực 75

3.2.5 Chính sách sở hữu thông tin 76

3.3 Giải pháp thực hiện 77

Kết luận Chương 3 82

KHUYẾN NGHỊ 85

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 5

KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT Viết tắt Tên đầy đủ

CNTT Công nghệ thông tin

CNH – HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CSDL Cơ sở dữ liệu

ĐCSVN Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐTNCSHCM Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

ICT Công nghệ thông tin và truyền thông

KH&CN Khoa học và công nghệ

VISTA Vietnam Information for Science and Technology

Advance – Thông tin Khoa học và công nghệ tiên tiến Việt Nam

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Sự phân biệt giàu – nghèo hiện đang là vấn đề nan giải của cả nhân loại, song

ở một chừng mực nhất định thế giới đang phải đối mặt với sự phân biệt nghiêm trọng hơn, khó khắc phục hơn, đó là sự phân biệt về thông tin Trên quy mô toàn cầu cũng như trong mỗi quốc gia, mỗi địa phương, ở đâu cũng

có sự phân biệt giữa một nhóm người có thông tin và nhóm người không có thông tin Ngày nay, bị tước bỏ hoặc không có cơ hội truy cập, sử dụng thông tin đồng nghĩa với việc bị đặt sang bên lề của sự phát triển

Nông nghiệp và nông thôn là khu vực đông dân cư nhất, lại có trình độ phát triển nhìn chung là thấp nhất so với các khu vực khác của nền kinh tế Nông dân chiếm hơn 70% dân số và hơn 76% lực lượng lao động cả nước, đóng góp từ 25% - 27% GDP của cả nước Mặt khác, khu vực nông thôn hiện

có tài nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng thiên nhiên: hơn 7 triệu ha đất canh tác, 10 triệu ha đất canh tác chưa sử dụng; các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm nông - lâm - hải sản (như cà-phê, gạo, hạt tiêu ) Nông nghiệp nông thôn còn giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển công nghiệp - dịch vụ Bộ mặt nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong thời gian vừa qua đã có nhiều đổi mới, từ chỗ bị thiếu ăn, phải nhập khẩu gạo, đến nay đã và đang xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan) Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế, yếu kém, mà nhiều năm nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu Chẳng hạn, vốn đầu tư cho khu vực này vẫn thấp (chiếm 11% - 12% tổng đầu tư toàn xã hội); sản phẩm nông nghiệp lại chủ yếu thiên về số lượng, chứ chưa nâng cao về chất lượng, giá thành nông sản còn cao, năng suất lao động và hiệu quả sản

Trang 7

xuất còn thấp; sản lượng nông sản tuy tăng nhưng chi phí đầu vào vẫn tăng cao (chi phí cho sản xuất 1ha lúa tăng từ 1 triệu đến 1,5 triệu đồng), trong khi giá các mặt hàng nông sản trên thị trường quốc tế lại giảm Trình độ dân trí của một bộ phận nông dân (nhất là vùng sâu, vùng xa) chưa được cải thiện, đời sống, xã hội nông thôn mặc dù có sự chuyển biến song chưa mạnh và không đồng đều Tình trạng đó dẫn đến sự chênh lệch giữa khu vực thành thị

và nông thôn ngày càng lớn Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng thế giới (WB) (năm 2003) hệ số chênh lệch giữa thành thị và nông thôn còn là 3,65 lần Trong khi đó, các chính sách và biện pháp mà Nhà nước đã áp dụng cho phát triển nông nghiệp những năm gần đây chưa tạo bước đột phá mạnh

Nghị quyết 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã đưa ra các chương trình và giải pháp lớn, trong đó có nêu: " …Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển hệ thống thông tin nông nghiệp hiện đại; từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong nông nghiệp và nông thôn;

Kết luận của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6, khóa

IX đã nêu: "… Chú trọng chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật và thành tựu KH&CN cho nông nghiệp nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn"; Nghị quyết 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX chỉ rõ chủ trương

và giải pháp chủ yếu: "…Tập trung phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, tăng cường

sự giúp đỡ, hỗ trợ của Nhà nước, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi…";

Ngày 28/02/2001 Bộ Chính trị có đưa ra Chỉ thị 63-CT/TW về việc đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa

- hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn;

Đại hội X Đảng CSVN đã định: "Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn

đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông

Trang 8

nghiệp, nông thôn"

Như vậy thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là xu thế tất yếu của con đường phát triển nông nghiệp ở nước ta theo hướng hiện đại, xóa dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn Chỉ có tiến hành công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn mới giải quyết được những vấn đề nan giải của nông nghiệp, nông thôn nước nhà là: sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, sản phẩm không đồng đều, chất lượng kém, năng suất thấp Một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra vấn đề trên là do nông dân thiếu thông tin về thị trường; thiếu kiến thức về khoa học và công nghệ, không được tiếp thu và cập nhật với các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng trọt và chăn nuôi, không có các địa chỉ tin cậy để tư vấn

Như vậy, để góp phần nâng cao dân trí và trình độ nhận thức của người dân ở vùng nông thôn, và để người dân được tiếp cận với những kiến thức khoa học chuyên ngành tiên tiến thì công tác thông tin KH&CN cho nông nghiệp nông thôn phải được đẩy mạnh Phải có sự chia sẻ, liên kết thông tin

đa chiều: theo chiều dọc giữa trung ương và địa phương, theo chiều ngang giữa các tổ chức trong ngành, giữa các địa phương với nhau Và để thực hiện tốt được mục tiêu này thì cần phải có một chính sách đồng bộ phát triển mạng lưới thông tin, đưa thông tin về với người dân vùng nông thôn, phục vụ sản xuất nông nghiệp nông thôn Vì vậy đề tài nghiên cứu "Chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ hội nhập" là đề tài có tính cấp thiết, đồng thời mang lại ý nghĩa

to lớn cho đời sống của người dân nông thôn nói riêng, cũng như cho nền nông nghiệp nông thôn nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu:

Trong thời gian qua, đã có rất nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về chính sách thông tin KH&CN, hệ thống thông tin như: "Nghiên cứu mạng lưới thông tin và quản lý Nhà nước đối với hoạt động thông tin ở các nước kinh tế thị trường" (Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng); "Chương trình và kế hoạch phát

Trang 9

triển thông tin KH&CN nước ta giai đoạn đến năm 2020" (Tác giả: Tạ Bá Hưng); "Nghiên cứu xây dựng và phát triển hệ thống thông tin khoa học kỹ thuật quốc gia" (Tác giả: Phạm Văn Vu); "Nghiên cứu xây dựng cơ chế tổ chức và khai thác hiệu quả ngân hàng dữ liệu khoa học và công nghệ quốc gia tại Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" (Tác giả: Cao Minh Kiểm)… Tuy nhiên chưa có đề tài nào

đi sâu vào nghiên cứu, đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn đảm bảo cơ chế trao đổi thông tin mở, đa chiều, tiện dụng

4 Phạm vi nghiên cứu:

Nội dung: Nghiên cứu đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn của Bộ Khoa học

và Công nghệ

Thời gian: từ năm 1990 đến nay

Không gian: các tỉnh phía Bắc

5 Mẫu khảo sát:

Khảo sát mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia; và một số trung tâm thông tin của địa phương

Trang 10

chiều, tiện dụng

7 Giả thuyết nghiên cứu:

- Mạng lưới thông tin KH&CN có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nông thôn nói chung và nông nghiệp nông thôn nói riêng Về phương diện sản xuất: thông qua các mạng lưới thông tin, người nông dân có

cơ hội tiếp cận với khoa học công nghệ tiên tiến giúp nâng cao năng suất lao động Đồng thời người nông dân còn có được các địa chỉ tư vấn cần thiết theo chuyên ngành sản xuất; rộng hơn nữa người dân còn có thể với tới thị trường KH&CN toàn quốc Về mặt xã hội: thông tin KH&CN giúp nâng cao dân trí, từng bước xóa bỏ những tập tục lạc hậu, những quan niệm sai lệch, phi khoa học trong cuộc sống thường ngày

- Từ năm 1990 đến năm 2002: Mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn chưa đủ năng lực để kiểm soát tốt các nguồn thông tin trong nước, nội dung còn thiếu nhiều mảng Chưa đồng bộ trong công tác tin học hóa, việc khai thác tin mất nhiều công sức, không hiệu quả Từ năm 2002 đến nay: Mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn đã được tin học hóa nhưng còn hạn chế trong việc trao đổi, liên kết thông tin, chưa tạo ra kênh chuyển giao thông tin có hiệu quả

- Đề xuất giải pháp chính sách: Nhà nước cần đưa ra nhóm chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo nhân lực, phát triển hạ tầng, … nhằm thiết lập một cổng thông tin KH&CN để phát triển, liên kết thành mạng lưới nhằm đảm bảo cơ chế trao đổi thông tin mở, đa chiều có hiệu quả, tiện dụng

8 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu

Phương pháp chuyên gia

Trang 11

+ Thông tin: Từ lý luận tới thực tiễn Nguyễn Hữu Hùng Hà Nội, 2005

+ Một số báo cáo, số liệu điều tra tại Trung tâm thông tin KH&CN các tỉnh

10 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, luận văn có các chương sau đây:

Chương 1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Thực trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn tại một số tỉnh phía Bắc

Chương 3 Đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn các tỉnh phía Bắc trong thời kỳ hội nhập

Trang 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Một số khái niệm liên quan:

1.1.1 Khái niệm về thông tin và thông tin KH&CN:

a) Khái niệm thông tin:

Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, con người thường xuyên cần đến thông tin Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin, thông tin càng trở thành một trong những nhu cầu sống còn của con người và khái niệm "thông tin" đang trở thành khái niệm cơ bản của nhiều khoa học Thông tin là một hiện tượng vốn có của thế giới vật chất Nhưng không phải ngay từ đầu thông tin đã được con người nhận thức ở cấp độ khái niệm Lần đầu tiên thông tin được con người chú ý nghiên cứu về mặt ý nghĩa xã hội của nó và được đề cập đến trong lý thuyết báo chí vào những năm 20 - 30 của thế kỷ XX Theo cách hiểu kinh điển thì thông tin chính là những cái mới khác với những điều

đã biết Và thông tin đã trở thành đối tượng nghiên cứu chủ yếu, trực tiếp của điều khiển học, của lý thuyết thông tin và tin học Từ đó có rất nhiều định nghĩa về thông tin Nhìn chung, những định nghĩa đó đều cố gắng tiếp cận với bản chất của thông tin nhưng chỉ từ những góc độ, phương diện nhất định nào

đó của nó Có thể xem xét thông tin từ góc độ phân biệt các loại thông tin như thông tin kinh tế, thông tin khoa học - kỹ thuật, thông tin văn hoá - xã hội…

Để làm rõ bản chất chung nhất của thông tin chúng ta sẽ tiếp cận với một số định nghĩa khác nhau về thông tin như sau:

- Theo định nghĩa thông thường: thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện,

ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng

dữ liệu hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh

- Trên quan điểm triết học: thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã

Trang 13

hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh…hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người

- Trên quan điểm của lý thuyết thông tin: thông tin là sự loại trừ tính bất định của hiện tượng ngẫu nhiên

Trong thời đại thông tin hiện nay, để có thể làm chủ được thông tin, khai thác và sử dụng nó một cách có hiệu quả, chúng ta ngoài việc hiểu cái bản chất chung nhất của thông tin, đó là: "Cái đa dạng được phản ánh", thì việc tìm hiểu các đặc điểm, thuộc tính của nó mới chính là mục tiêu để nắm bắt, làm chủ và khai thác thông tin

b) Một số thuộc tính cơ bản của thông tin:

* Chất lượng thông tin:

- Thông tin phải xác thực và đúng đắn (phù hợp với thực tế) Độ tin cậy được tăng lên nếu thông tin được kiểm tra bằng các phương tiện độc lập

- Thông tin phải được cập nhật đầy đủ và chính xác

- Thông tin phải dễ hiểu tức là người nhận có thể lĩnh hội được

- Thông tin có chất lượng thấp là những thông tin sai lạc hoặc bị bóp méo, trái ngược với các thông tin khác, trình bày nghèo nàn, khó lĩnh hội… *Giá trị thông tin:

- Theo nghiên cứu gần đây, có 4 yếu tố đem lại giá trị thông tin là : Tính chính xác; Phạm vi bao quát của nội dung; Tính cập nhật; Tần số sử dụng

- Trên bình diện tổng quát: thông tin có giá trị là những thông tin có tính chất riêng biệt (làm thông tin phù hợp với yêu cầu của người sử dụng) và thông tin có tính chất dự báo (cho phép lựa chọn một quyết định trong nhiều khả năng cho phép)

- Trên ý nghĩa rộng hơn: giá trị thông tin nằm trong quyền lực tổ chức của nó – thông tin phản ánh cái xác định, trật tự trong các mối quan hệ của tổ chức, thông tin có giá trị cao làm môi trường tốt lên và đưa ra được những quyết định đối phó được với sự thay đổi của hoàn cảnh

Trang 14

* Giá thành của thông tin:

Giá thành của thông tin phụ thuộc 2 yếu tố:

- Lao động trí tuệ: bao gồm việc hình thành ra thông tin và xử lý nội dung thông tin hay còn gọi là việc tạo nên giá trị của thông tin

- Các yếu tố vật chất: đó là các phương tiện xử lý và lưu trữ thông tin, các phương tiện truyền tin

Đối với các yếu tố vật chất việc định giá thường dễ dàng theo giá thị trường Thông tin có thể trở thành hàng hoá khi được lặp lại với số lượng lớn

và được ghi ra trên các phương tiện vật chất phổ biến Ngược lại có những thông tin thuần khiết và người sáng tạo ra thông tin có quyền sở hữu chúng và được đảm bảo bằng pháp luật (Luật SHTT)

c) Các hình thức thông tin:

Thông tin KH&CN cũng như các thông tin khác được thu thập từ 2 nguồn gồm: nguồn tin KH&CN nội sinh và nguồn tin KH&CN được nhập từ nước ngoài (dưới các hình thức khác nhau)

- Nguồn tin KH&CN nội sinh:

Trong một đất nước, nguồn tin nội sinh được sản sinh dựa trên sức lực trí tuệ và vật chất của một quốc gia Cơ quan thông tin KH&CN thuộc sở hữu Nhà nước được cấp kinh phí để thu thập, quản lý đầy đủ các dạng nguồn tin KH&CN nội sinh và tạo lập các nguồn tin nội sinh phù hợp với chức năng và diện phục vụ của mình Các cơ quan hữu quan cần có những giải pháp thích hợp đế thực hiện việc lưu chiểu đặc biệt là đối với tài liệu nội sinh được số hóa trên các mạng thông tin

Các nguồn tin KH&CN nội sinh rất đa dạng, bao gồm các loại sau: Sách, Báo, tạp chí, tài liệu chép tay, Luận án khoa học; Báo cáo kết quả nghiên cứu và phát triển KH&CN; Tư liệu và số liệu điều tra cơ bản; Báo cáo các đoàn tham quan, khảo sát; Tài liệu hội nghị, hội thảo về KH&CN, các hình thức lưu trữ qua phim, nhạc, truyền khẩu

- Nguồn tin KH&CN được nhập từ nước ngoài:

Trang 15

Nguồn tin KH&CN được nhập từ nước ngoài theo các hình thức khác nhau như mua (chủ yếu bằng ngân sách Nhà nước), trao đổi, biếu tặng

Đối với kế hoạch mua nguồn tin nước ngoài, việc phát triển nguồn tin cần được thực hiện theo một số nguyên tắc cơ bản là:

+ Xác định rõ nguồn tài liệu nào đáp ứng đúng nhu cầu trong nước; + Kết hợp chặt chẽ kế hoạch bổ sung giữa các cơ quan trong toàn hệ thống;

+ Kết hợp chặt chẽ giữa công tác bổ sung với công tác hợp tác quốc tế

về thông tin KH&CN, cùng với khả năng khai thác trên mạng thông tin;

+ Chú trọng tới yêu cầu về tính có hệ thống, tính liên tục của nguồn bổ sung;

+ Chú trọng phát triển nguồn tin số hóa để nâng cao khả năng khai thác chung, tiết kiệm chi phí luân chuyển, bảo quản và lưu trữ

Các nguồn thông tin quốc gia phải được thu thập, xử lý và lưu trữ dưới dạng các CSDL để có thể đưa ra phục vụ một cách nhanh nhất Việc xây dựng

hạ tầng cơ sở thông tin phải coi là điểm đột phá trong hoạt động thông tin KH&CN để phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế-xã hội của đất nước Các cơ quan thông tin KH&CN cần được trang bị các thiết bị mạnh để

có thể kết nối với các mạng khác trong các ngành kinh tế của đất nước và truy cập được tới các nguồn tin trên Internet Nhà nước nghiên cứu ban hành các chính sách bưu cước đối với các loại ấn phẩm và giảm cước viễn thông truy cập vào các cơ sở dữ liệu quốc gia và truy cập vào Intemet không vì mục đích lợi nhuận Đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin trong toàn hệ thống Cần có các quy định và thỏa thuận về việc cho mượn tài liệu giữa các thư viện trong toàn

hệ thống

d) Các hình thức mang thông tin:

Các hình thức mang thông tin cơ bản bao gồm:

- Tài liệu văn bản: đó là các sách, bài tạp chí, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, các bản mô tả thiêt bị, công nghệ (catalô sản phẩm), đặc biệt là các

Trang 16

sách phổ biến kỹ thuật mới, các cẩm nang, tra cứu, tài liệu hướng dẫn, có thể được đọc trực tiếp trên máy tính hoặc in, sao ra giấy để đọc lại khi có yêu cầu

- Tài liệu nghe nhìn, tài liệu đa phương tiện (multimedia): Các phim KH&CN giới thiệu và phổ biến các kỹ thuật tiến bộ, kỹ thuật nuôi trồng, chế biến, chăm sóc, bảo quản nông lâm, thủy sản Các tài liệu đồ họa, âm thanh, tiếng nói nhạc có thể được xem trực tiếp tại Trung tâm thông tin KHCN của xã hoặc mượn về xem tại nhà, thôn bản cụ thể trên các phương tiện điện

tử gia dụng (TV, đầu đọc VCD/DVD, )

- Tài liệu điện tử trực tuyến: việc kết nối Internet cho phép truy cập và khai thác các nguồn tin điện tử trực tuyến trên mạng Internet, nhất là các tin tức thời sự trong nước và thế giới, các thông tin về giá cả, thị trường hữu quan, tin tức tuyển sinh của con em trong xã Đặc biệt Bản tin điện tử Nông nghiệp nông thôn đổi mới trên mạng VISTA và các bản tin về giá cả nông sản trên mạng Agroviet rất thiết thực với bà con

- Tài liệu "sống": đó là thông tin về các chuyên gia, các tổ chức tư vấn, chuyển giao công nghệ Người dân có thể tra cứu trong CSDL chuyên gia để biết và liên hệ trực tiếp với các nhà khoa học, các chuyên gia (nguồn tài liệu

"sống") để được giải đáp thắc mắc, được tư vấn về những vấn đề chuyển giao công nghệ hoặc áp dụng kỹ thuật mới

e) Thông tin Khoa học và Công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn:

Thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn được hiểu là các thông tin về các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức khoa học

và công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp cho người dùng tin ở nông thôn bao gồm người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, người quản lý nông nghiệp nông thôn, và các bên hữu quan

Thông tin KH&CN vừa là nguồn lực của phát triển, vừa là của cải và tài sản của xã hội Bước sang thời kỳ hậu công nghiệp, từ những năm 70 của

Trang 17

thế kỷ XX, hoạt động thông tin vừa là lĩnh vực hoạt động khoa học, vừa là bộ phận của ngành kinh tế dịch vụ Như vậy, sản phẩm và dịch vụ của ngành thông tin là một dạng hàng hóa đặc biệt với đầy đủ các tiêu thức về giá trị và giá trị sử dụng

Hoạt động thông tin mang tính xã hội sâu sắc và cần tích cực đóng góp vào quá trình cải biến xã hội Trong cuộc "Cách mạng thông tin", con người bao giờ cũng là nhân tố quan trọng nhất Thông tin phải trở thành một bộ phận của ý thức xã hội, là yếu tố tổ chức để tập hợp các lực lượng trong xã hội mà trong đó người lãnh đạo, cán bộ KH&CN, các nhà quản lý kinh tế phải

là lực lượng nòng cốt trong việc sản xuất ra thông tin, khai thác và sử dụng thông tin trong hoạt động thực tiễn Sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế của nước ta cần phải gắn liền với sự phát triển của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực Việc tổ chức kiểm soát các nguồn tin trong nước, nắm bắt các thông tin nước ngoài phù hợp, đẩy nhanh quá trình làm giàu vốn tài nguyên thông tin đất nước, khai thác tốt và có lựa chọn các sản phẩm thông tin bằng nhiều phương thức và kênh khác nhau là một nhiệm

vụ phức tạp đối với mọi quốc gia

Trong chính sách kinh tế - xã hội cần dành vị trí xứng đáng cho vấn đề thông tin KH&CN Giải quyết vấn đề thông tin phải được coi là một trong những mục tiêu chiến lược của Nhà nước Nói một cách khác là phải xây dựng một chính sách về thông tin tư liệu KH&CN, chính sách đó phải là một

bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế - xã hội

1.1.2 Khái niệm về hoạt động thông tin KH&CN:

“Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ" là hoạt động nghiệp vụ

về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin khoa học và công nghệ; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin khoa học và công nghệ1

Trong thực tiễn của thế giới có một số mô hình khác nhau về tổ chức

Trang 18

hoạt động thông tin KH&CN phụ thuộc vào tính chất sở hữu và vai trò điều chỉnh của nhà nước đối với các cơ quan thông tin KH&CN phụ thuộc vào tính chất sở hữu và vai trò điều chỉnh của nhà nước đối với các cơ quan thông tin KH&CN

Nói chung, đối với các nước đang phát triển hoặc những nước có nền kinh tế thị trường chưa được phát triển, hoạt động thông tin KH&CN thường nằm dưới sự kiểm soát toàn diện của nhà nước và được định hướng tới việc phục vụ cho những nhu cầu thông tin trong khu vực quản lý nhà nước, đảm bảo an ninh và nâng cao dân trí

Xét về mặt sở hữu, có 3 loại hình tổ chức sau đây đối với các cơ quan thông tin KH&CN:

- Các cơ quan thông tin nhà nước ;

- Các cơ quan thông tin tập thể (chính xác hơn là cơ quan thông tin công cộng hoặc phi thương mại);

- Các cơ quan thông tin tư nhân

Tương quan và cơ cấu tổ chức giữa các loại hình tổ chức thông tin trên đây rất khác nhau theo từng nước và theo từng lĩnh vực hoạt động Các cơ quan thông tin thuộc sở hữu nhà nước có thể tồn tại hai loại chính sau đây:

- Cơ quan thông tin được nhà nước tài trợ toàn phần hoặc một phần bao gồm:

Những cơ quan thông tin nằm trong hệ thống các cơ quan và chính quyền quản lý nhà nước, những thư viện công cộng quốc gia mà không coi và không thực hiện các dịch vụ thông tin có thu phí như một hoạt động kinh tế riêng biệt (ví dụ Thư viện quốc hội của Hoa Kỳ, các Thư viện quốc gia ở các nước, các Trung tâm phân tích thông tin trong các cơ quan Chính phủ);

Những cơ quan thông tin có thực hiện một phần những dịch vụ thông tin có thu như một hoạt động kinh tế độc lập (ví dụ, ở nước Nga phần lớn các

cơ quan thông tin toàn Liên bang như: Viện Thông tin KH&KT toàn Nga (VINITI), Trung tâm thông tin KH&KT toàn Nga (VNTIX), Thư viện KHKT

Trang 19

công cộng (GPNTP) ở Hoa Kỳ, như: Cơ quan thông tin kỹ thuật quốc gia - NTIS, Thư viện Y học quốc gia NLM, ;

- Những cơ quan thông tin mà hoạt động thường xuyên của chúng không được nhà nước tài trợ về ngân sách:

Hoạt động của các cơ quan này được thực hiện trên cơ sở tự trang trải

và tự cấp vốn, nhà nước chỉ đầu tư phần hạ tầng cơ sở ban đầu như: Trụ sở, phương tiện làm việc, trang thiết bị, lương cơ bản Các cơ quan thông tin này thường thuộc sở hữu tập thể được tổ chức rất đa dạng chúng thường là những

cơ cấu tổ chức trong các hiệp hội KH&CN, các hiệp hội nghề nghiệp, các nghiệp đoàn những tổ chức loại này thuộc nhóm các cơ quan phi chính phủ Những cơ quan thông tin này có thể bao gồm các thể loại sau đây:

- Cơ quan thông tin được các tổ chức sinh ra chúng tài trợ toàn phần hoặc một phần:

Những loại cơ quan thông tin này có thể thực hiện hoặc không thực hiện các hoạt động kinh tế đối với các loại sản phẩm và dịch vụ thông tin của mình;

- Cơ quan thông tin không được tài trợ bởi các tổ chức sinh ra chúng: Đối với loại cơ quan này, ngoài tài sản ban đầu về trụ sở được tổ chức cấp cho, chúng phải thực hiện hoạt động kinh tế đối với các dịch vụ và sản phẩm thông tin trên cơ sở tự hoàn vốn và tự trang trải về kinh phí Ví dụ về loại cơ quan này là, cơ quan tóm tắt hóa học Hoa Kỳ (CAS), INSPEC, Trung tâm Thông tin Khoa học và Kỹ thuật Quốc tế ở Moskva (MXNTI)

- Các cơ quan thông tin tư nhân:

Đây là những cơ quan thông tin được thành lập tại các hãng hoặc những đơn vị cổ phần trên cơ sở tự huy động vốn đầu tư và tự trang trải về chi phí

Kinh nghiệm của các nước cho thấy, trong khi phát triển hoạt động thông tin, không thể chỉ thuần tuý dựa trên những nguyên tắc của thị trường Điều này được giải thích ở chỗ, cho dù đến nay, nhiều nhà nghiên cứu khẳng

Trang 20

định tồn tại một thị trường thông tin nhưng nhu cầu về thông tin và khả năng thanh toán của thị trường này không giản đơn như các thị trường vật thể vật chất khác Từ đây không thể nóng vội chuyển toàn bộ hoạt động thông tin sang ngay tổ chức theo cơ chế thị trường Điều đó có nghĩa là, nhà nước vẫn

sẽ giữ một vai trò quan trọng trong việc cấp vốn cho hoạt động thông tin

Tuy nhiên, kinh nghiệm của nhiều nước cũng cho thấy, về một phương diện khác, ngân sách của nhà nước dành cho hoạt động thông tin ngày càng giảm đi theo tỷ lệ tương đối của chúng Điều này có nghĩa rằng, bên cạnh nguồn tài chính của nhà nước dành cho hoạt động thông tin cần phải tạo điều kiện để đa dạng hóa nguồn vốn cho chúng Từ đây đòi hỏi phải thay đổi cơ chế mệnh lệnh cứng nhắc của nhà nước trong việc quản lý hoạt động thông tin sang một chính sách thích ứng mềm mại hơn

Nhiệm vụ của quản lý nhà nước đối với hoạt động thông tin trong môi trường chuyển sang mô hình tổ chức hướng tới thị trường thể hiện ở những nội dung sau đây:

- Bảo toàn và phát triển tính hợp lý và cân đối trong việc xây dựng cơ

sở hạ tầng thông tin quốc gia, đáp ứng những đòi hỏi của nền kinh tế hướng tới thị trường trong khi ngân sách của nhà nước dành cho hoạt động thông tin ngày càng bị giảm sút, còn nguồn lực ngoài nhà nước được huy động cho hoạt động này mới được bắt đầu và thực sự chưa đáng kể;

- Tạo lập những điều kiện về kinh tế và pháp lý để huy động được thêm các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước dành cho hoạt động thông tin, từng bước thay thế việc đầu tư cho các sản phẩm và dịch vụ thông tin bằng ngân sách sang việc đầu tư từ các nguồn lực ngoài ngân sách, trước hết đối với các lĩnh vực thông tin phục vụ cho các hoạt động kinh tế, đổi mới công nghệ, đầu tư ;

- Tổ chức lại cơ cấu hạ tầng thông tin bằng cách đưa vào hệ thống thông tin quốc gia những cơ cấu và thành phần thông tin ngoài nhà nước và

có chính sách để phát triển và phát huy các thành phần này trong chiến lược

Trang 21

phát triển thông tin nói chung;

- Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức và chức năng các cơ quan thông tin nhà nước, thực hiện việc quản lý hoạt động chung một cách có hiệu quả

Việc chuyển hoạt động thông tin KH&CN sang mô hình hướng tới thị trường (chủ yếu từ ngân sách nhà nước chuyển sang ngân sách của các thành phần ngoài nhà nước) đòi hỏi phải thực hiện theo từng bước mà trong đó mỗi một bước đi cần phải xác định những lĩnh vực ưu tiên dựa trên những yêu cầu sau đây:

- Đảm bảo giải quyết nhiệm vụ thông tin cho các nhiệm vụ của nhà nước;

- Giải quyết những nhiệm vụ xã hội mà nhà nước phải có trách nhiệm không thể chuyển sang cho các đơn vị ngoài nhà nước thực hiện;

- Đảm bảo sự hài hoà và phát triển cân đối toàn bộ hoạt động thông tin như một cấu trúc chỉnh thể

Chính sách của nhà nước trong lĩnh vực thông tin là cần thiết đối với mọi quốc gia Ứng với mỗi giai đoạn phát triển hoạt động thông tin cần có những cơ chế điều chỉnh thích hợp, từ việc phát triển chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước chuyển sang sự phát triển hỗn hợp trong đó bao gồm các thành phần của nhà nước và ngoài nhà nước, cuối cùng tiến tới là nhiệm vụ của các

tổ chức và thiết chế xã hội Những phương pháp điều hành hoạt động thông tin trong môi trường như vậy dựa trên nguyên tắc sử dụng hợp lý nhất những nguồn lực được huy động từ ngân sách nhà nước và thu hút đầu tư từ các nguồn lực ngoài ngân sách với nhưững chính sách khuyến khích và ưu đãi cần thiết

Cần phải lưu ý rằng, xét về phương diện hiệu quả đầu tư hoạt động thông tin không phải là lĩnh vực có lợi nhuận cao Do vậy, chính sách của nhà nước cần phải được thông thoáng, có sức hấp dẫn để giúp cho các thành phần trong xã hội đầu tư vào lĩnh vực thông tin có thể tự trang trải kinh phí được

Hoạt động thông tin trong các cơ quan nhà nước nhằm hướng tới giải

Trang 22

quyết các nhiệm vụ của cơ quan chính quyền và quản lý nhà nước mà trước hết nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện:

- Công việc của bản thân chính các cơ quan chính quyền và quản lý của nhà nước;

- Công việc của của các tổ chức nhà nước khác;

- Phát triển hoạt động KH&CN và phát triển các hoạt động kinh tế theo những định hướng ưu tiên của nhà nước;

- Truy nhập rộng rãi tới thông tin đối với mọi người dân như một phương thức để giải quyết thực hiện các nhiệm vụ xã hội

1.1.3 Khái niệm về mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn:

a) Khái niệm chung:

Mạng lưới thông tin là một tập hợp các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thông tin bao gồm nhiều hình thức khác nhau, liên kết với nhau và cùng chung một mục tiêu, một định hướng cho một đối tượng phục vụ Như vậy chúng ta có thể hiểu rằng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn cũng sẽ là một tập hợp các tổ chức, gồm nhiều hình thức khác nhau nhưng đều đạt mục tiêu là cung cấp được thông tin KH&CN đến tay những người cần thông tin ở nông thôn với điều kiện cơ sở hạ tầng hiện có của họ

Chúng ta đã biết, để cung cấp thông tin từ xưa đến nay có rất nhiều hình thức đã được áp dụng như: ra hiệu, nói, vẽ, viết … và các bài viết trên giấy, sách báo… đã từng là một hình thức phổ biến thông tin được sử dụng rộng rãi, thông dụng trong suốt một thời gian dài, cho đến khi có máy tính ra đời và đặc biệt là khi có sự ra đời và phổ biến của hệ thống internet thì việc phổ biến thông tin đã chuyển sang một hình thức mới, đó là cung cấp và khai thác thông tin thông qua máy tính kết nối với hệ thống internet Hình thức này

đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với một xã hội phát triển bởi nhiều ưu điểm vượt trội như: nhanh chóng, tiện dụng, chi phí thấp, tập hợp được nguồn tin phong phú của cả xã hội

Trang 23

Hiện nay cùng với sự phát triển chung của xã hội, nông nghiệp nông thôn Việt nam cũng có những bước phát triển vượt bậc, tuy nhiên cũng còn có nhiều khu vực do các điều kiện về tự nhiên không ưu đãi nên còn kém phát triển, lạc hậu Tới nay việc cung cấp thông tin cho khu vực nông nghiệp nông thôn chủ yếu thông qua mấy hình thức như sau: Tivi, đài, báo, sách và hệ thống Internet Trong đó các hình thức như tivi, đài, sách, báo vẫn đang rất phổ biến và giúp ích rất nhiều cho các hoạt động về văn hóa, xã hội và cả các hoạt động sản xuất, khoa học kỹ thuật Tuy nhiên với nhu cầu phát triển hiện nay, việc cung cấp thông tin thông qua các hình thức truyền thống đã tỏ ra kém đầy đủ, không theo kịp sự phát triển của khoa học, tính lưu trữ và phổ biến kém… nên việc áp dụng công nghệ thông tin trong việc phổ biến thông tin và đặc biệt là thông tin KH&CN là một nhu cầu cấp bách

Internet đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của nông nghiệp nông thôn, giúp nông dân có thể học hỏi cách làm ăn, tìm nơi tiêu thụ sản phẩm từ những thông tin trên mạng để nâng cao giá trị cuộc sống Ðưa thông tin nông nghiệp nói chung và những thông tin khác giúp nông dân cải thiện cuộc sống dựa trên nhu cầu của họ cũng giúp nông dân làm giàu lên từ nông nghiệp Qua những thông tin trên trang Web, người làm nông nghiệp có

cơ hội tiếp cận với nhiều tài liệu, ấn phẩm tham khảo trên các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật Nhờ internet mà nhiều người nông dân đã giàu lên từ những mô hình sản xuất mà họ học từ trên mạng, có cái nhìn nhạy bén hơn và mạnh dạn hơn trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi tại địa phương, nắm bắt được những kỹ thuật mới, giá cả thị trường, các mô hình sản xuất giỏi đạt hiệu quả cao góp phần xóa đói, giảm nghèo ở địa phương Theo Ngân hàng thế giới (WB), ICT là một thành phần quan trọng trong việc loại trừ nghèo đói trên thế giới, đặc biệt với hơn 75% dân số ở vùng nông nghiệp nông thôn, trong đó 85% trực tiếp và gián tiếp trong sản xuất nông nghiệp; và nhấn mạnh rằng các ứng dụng ICT trong công cuộc giảm nghèo phải thể hiện được vai trò cần thiết trong nông nghiệp và các lĩnh vực liên quan như an ninh

Trang 24

lương thực và đời sống của người nông dân ICT sẽ giúp người nghèo nói chung và nông dân nghèo nói riêng rút ngắn "khoảng cách số", tạo khả năng tiếp cận và chia sẻ "kiến thức, thông tin" về lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi và các vấn đề khác của phát triển nông nghiệp nông thôn như giáo dục, đào tạo, dịch vụ và thương mại điện tử

Trong hệ thống thông tin KH&CN ở nước ta, các tổ chức thông tin KH&CN địa phương, đặc biệt là khu vực nông nghiệp nông thôn có một vị trí đặc biệt bởi lẽ, các đơn vị này nằm trải khắp các địa bàn trong cả nước Địa phương là nơi có nhiều khó khăn, là nơi thiếu thông tin nhất Người dùng tin

ở địa phương có nhiều yêu cầu tin rất đa dạng Địa phương cũng chính là nơi hình thành nhiều nguồn tin KH&CN nội sinh, phản ánh sát thực cuộc sống ở

cơ sở cũng như kết quả ứng dụng tiến bộ KH&CN về hầu hết các lĩnh vực Từ địa phương, chúng ta có thể thu thập tài liệu và tổ chức dòng tin từ dưới lên

Do đó, địa phương chính là nơi rất cần được tăng cường công tác thông tin KH&CN một cách toàn diện, bài bản

b) Khái niệm về mạng lưới thông tin đa chiều:

Trong hệ thống thông tin nói chung, một cách tự nhiên ngay từ khi xuất hiện: việc xây dựng, phát triển và tổ chức khai thác các ứng dụng, thông tin luôn được triển khai theo hướng 1chiều, tức là việc xây dựng, phát triển cập nhật, tổ chức khai thác chỉ do phía nhà quản lý cung cấp dịch vụ, chứ chưa

có sự tương tác, phản hồi và phát triển từ nhiều phía Điều này một phần là do nhận thức hạn chế, một phần là do nhu cầu cần đáp ứng chưa cao, khai thác chưa hiệu quả… còn một lý do nữa là do nền tảng cơ sở vật chất ( phần cứng) lúc đó chưa đáp ứng được yêu cầu thông tin

Tuy nhiên, đến nay do sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật

và công nghệ, sự đòi hỏi phát triển của nhu cầu xã hội, đã nhiều năm nay, việc xuất hiện ngày càng nhiều các mạng xã hội, mạng chia sẻ, lưu trữ thông tin cá nhân … đã trở thành phổ biến thì việc hệ thống thông tin 1 chiều đã trở nên

Trang 25

lạc hậu, không đáp ứng với nhu cầu phát triển và thay vào đó là hệ thống thông tin mở, kết nối đa chiều đang là đòi hỏi không thể thiếu

Vậy thế nào là hệ thống thông tin đa chiều trong cung cấp, khai thác thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn? Một cách chung nhất

chúng ta có thể hiểu: nó bao gồm một hệ thống mạng lưới kết nối các máy tính trên diện rộng, dựa trên nền tảng công nghệ cao, giúp cho việc kết nối, truy cập, khai thác, cập nhật … được thực hiện dễ dàng theo nhiều chiều, từ trên xuống, từ dưới lên và chia sẻ ngang hàng… Đi cùng với nó là hệ thống phần mềm cho phép các thành viên tham gia hệ thống có thể truy cập từ bất

kỳ máy tính nào tới kết nối với hệ thống thông qua một tài khoản cá nhân để xác định quyền truy cập Quyền truy cập này sẽ quy định cụ thể phạm vi, mức

độ truy cập, khai thác cũng như khả năng có thể cập nhật, chỉnh sửa, thay đổi thông tin Với hệ thống này, việc khai thác, chia sẻ thông tin sẽ mang tính cộng đồng, giúp cho thông tin luôn cập nhật, tận dụng được toàn bộ nguồn lực của xã hội, không phải mất công cho nhiều nơi cùng cập nhật một nguồn tin, đồng thời cho phép mọi thành viên có thể trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm quý báu của mình cũng như cần sự giải đáp, thảo luận của cộng đồng tham gia

về vấn đề của mình Trong mô hình này, cơ quan quản lý sẽ có trách nhiệm quản lý việc vận hành ổn định của hệ thống, cấp phép cho các thành viên, cập nhật, quy định phổ biến các thông tin chính thống, quản lý các nội dung được

hệ thống cập nhật đảm bảo tuân thủ pháp luật, cấp xác nhận cho các thông tin chính xác, quản lý bản quyền cho các nguồn tin cần kinh doanh…

1.2 Vai trò của thông tin KH&CN đối với nông nghiệp nông thôn:

Không chỉ trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, phát triển

… vai trò của thông tin KH&CN mới được thừa nhận, mà vấn đề thông tin KH&CN cho nông nghiệp nông thôn cũng không nằm ngoài vấn đề này Tuy nhiên, do đặc thù về trình độ phát triển của Việt Nam cũng như hạn chế trong nhận thức nên vấn đề thông tin KH&CN cho nông nghiệp nông thôn đến nay hầu như chưa được quan tâm một cách thích đáng Không quá lời khi khẳng

Trang 26

định rằng, câu chuyện về thông tin và truyền thông đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông nghiệp nông thôn hầu như chưa được tính đến Nhất là việc làm thế nào để mọi chủ trương, chính sách, thông tin KH&CN hỗ trợ sản xuất và nâng cao dân trí đến được đầy đủ và kịp thời với bà con nông dân

Trong thời gian qua, để thông báo, phân tích các chính sách cho nhà nông, một vài cơ quan báo chí cũng đã đưa tin rất kịp thời, tuy nhiên, báo viết thì chỉ đến được tới UBND xã và điểm bưu điện văn hoá xã Theo số liệu điều tra, tại các tỉnh phía Bắc có tới 90% người dân nông nghiệp nông thôn không đọc báo viết Đài phát thanh, số người thường xuyên nghe cũng chỉ còn khoảng 40% Chủ yếu bà con lấy thông tin trên truyền hình Tuy nhiên, các chương trình truyền hình nông nghiệp nông thôn cũng còn chưa đều, lúc có lúc không, mặc dù gần đây, thời lượng về các vấn đề nông nghiệp nông thôn

đã tăng lên khá nhiều Kênh thông tin chính ngạch là qua chính quyền địa phương thì chẳng phải mỗi lúc họ lại họp dân để thông báo, chỉ có các nghị quyết được thông qua kênh này, còn lại các thông tin về luật, thị trường, chính sách đầu tư, bà con không được cung cấp đầy đủ Cũng vì vậy mà có những chính sách đưa ra với thiện chí của các nhà quản lý là nhằm hỗ trợ nông dân, song một số chính sách lại không được nông dân đón nhận Đơn cử như chính sách hỗ trợ lãi suất để nông dân mua vật tư nông nghiệp, nhưng rất ít người hưởng ứng Vì phải làm gần chục loại giấy tờ để vay 1 triệu đồng thì chắc chắn không khả thi đối với bà con nông dân

Một ví dụ về vai trò của thông tin gần đây là chuyện xung quanh đồng muối Năm 2009, khi giá muối tăng cao, bà con phấn khởi mở rộng diện tích với mong ước đổi đời, thì ngay đầu năm 2010, giá muối giảm liên tục, muối làm ra lại dư thừa, trong khi Bộ Công Thương vẫn đề nghị nhập khẩu 200.000 tấn muối Nếu chưa bàn đến những vấn đề vĩ mô khác ở đây, nhưng nghịch lý thì ai cũng thấy rõ Và khoan bàn đến chuyện nông dân chạy theo phong trào, vấn đề ở chỗ liệu diêm dân có nắm được những thông tin cụ thể về thị trường,

về sản lượng muối ở các địa phương khác, và có chắc rằng ai cũng thông chủ

Trang 27

trương nhập muối hay không? Qua câu chuyện này thấy rõ: vấn đề ở đây không chỉ là chính sách mà trong rất nhiều trường hợp, thông tin đã không đến được với bà con hoặc đến không đầy đủ Tại nhiều vùng nông thôn, bà con nghe nói có những chính sách hỗ trợ vốn vay, nhưng họ không biết phải vay ở đâu và làm những thủ tục gì, mặc dù có thể ngân hàng không gây khó, địa phương có lẽ cũng sẵn sàng xác nhận giấy tờ liên quan, nhưng người nông dân không biết phải bắt đầu từ đâu

Chúng ta đều biết, thông tin KH&CN giúp phát triển sản xuất hàng hoá, phổ biến các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, có hiệu quả để tăng thu nhập, nâng cao đời sống người nông dân Hướng dẫn nông dân dồn điền đổi thửa, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, lựa chọn mô hình, phương án sản xuất có hiệu quả, quy hoạch cả nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ theo hướng phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương, sản xuất những sản phẩm hàng hoá có lợi thế, có giá trị, sức cạnh tranh cao Trên cơ sở nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình, phát triển các trang trại sản xuất hàng hoá, các tổ hợp tác, hợp tác xã, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống

Mặt khác, thông tin nói chung và thông tin KH&CN nói riêng giúp cho người nông dân xây dựng nông thôn có đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, phong phú, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn Cùng với xây dựng các thiết chế phục vụ hoạt động văn hoá, thể thao, vui chơi, kết hợp với hội họp, học tập của cộng đồng ở thôn, bản, xã, thì điều quan trọng là phải khai thác,

sử dụng có hiệu quả các cơ sở vật chất đó, phát triển các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao cho thanh niên, thiếu niên, hội viên các hội phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh, người cao tuổi ở nông thôn; xây dựng quy ước của làng, bản, thôn, ấp về xây dựng nếp sống văn hoá trong việc cưới, việc tang,

lễ hội, chống mê tín dị đoan và tệ nạn xã hội, giữ gìn vệ sinh chung, bảo vệ trật tự, an toàn thôn, xóm, bảo vệ môi trường; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở

Trang 28

cơ sở, giữ gìn và bồi đắp truyền thống đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm, đùm bọc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giảm nghèo, vươn lên làm giàu trên quê hương mình

Một vai trò rất lớn nữa là, thông tin KH&CN hỗ trợ và trang bị kiến thức bảo vệ và phát triển môi trường nông nghiệp nông thôn xanh, sạch, đẹp; khắc phục tình trạng ô nhiễm về nguồn nước, không khí ở địa bàn thôn, xã; xây dựng, cải tạo hệ thống tiêu thoát nước thải, thu gom và xử lý rác thải, chuyển các chuồng, trại chăn nuôi, nhất là các cơ sở chăn nuôi tập trung, quy

mô lớn, các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi các khu dân cư, xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, hầm bi-ô-ga của mỗi hộ gia đình, quy hoạch xây dựng và quản lý nghĩa trang

1.3 Kinh nghiệm các nước về công tác phát triển mạng lưới thông tin KH&CN:

Nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ và thông tin công nghệ, nhiều quốc gia và chính phủ đã có những nỗ lực quan trọng trong việc hỗ trợ các đối tượng trong xã hội để sử dụng rộng rãi các nguồn thông tin công nghệ Sau đây là một số ví dụ về kinh nghiệm các nước về phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông thôn:

1.3.1 Mạng thông tin nông thôn tại Ấn Độ:

“Nabanna - Mạng thông tin dành cho phụ nữ nông thôn” 2

Tại Ấn Độ có chương trình “Sáng kiến thay đổi” là chương trình thăm

dò việc sử dụng các CSDL được chuyển sang ngôn ngữ bản địa với mục đích giáo dục và nâng cao vị thế kinh tế của phụ nữ nghèo ở các vùng nông thôn của bang Bengal, Ấn Độ Chương trình tập trung vào việc xây dựng một khung mẫu cho việc chia sẻ thông tin, sáng tạo nội dung và phổ biến thông tin off-line Thông qua sự hợp tác với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO), Chương trình “Sáng kiến thay đổi” cho phép cả những người thất học cũng có thể truy cập thông tin và nội dung công nghệ truyền thông (ICT)

2

Jhumpa Ghosh and Jhulan Ghose, “Nabanna – Information Network for Women Rural”,

http://www.idrc.ca/en, India, 2004

Trang 29

Đây là mạng lưới có khả năng thúc đẩy tiếp cận thông tin hoặc chia sẻ thông tin và kiến thức

Theo nhà tổ chức, phụ nữ ở nhiều vùng nông thôn và bán nông thôn Bengal không có mạng lưới thông tin liên lạc địa phương một cách hệ thống,

có tổ chức Do vậy nhiều phụ nữ nông thôn không biết làm thế nào hoặc không thể tiếp cận, thậm chí với cả những nhu cầu thông tin đơn giản Vì thế trong thời gian đầu của chương trình phát triển Nabanna, trọng tâm chính là việc sử dụng ICT để cho phép phụ nữ ở Bengal tạo lập mạng thông tin địa phương của họ Qua đó họ có thể truy cập trực tiếp đến các công cụ mà họ cần, chia sẻ kiến thức và kỹ năng với những người khác Bằng cách kết hợp các mạng công nghệ và xã hội, Nabanna hoạt động để có được một số lượng lớn các phụ nữ tham gia và cung cấp các thông tin sưu tập ở địa phương, đồng thời phổ biến thông tin và kiến thức

Hạt nhân ban đầu của Nabanna làm việc tại Baduria, thực hiện giảng dạy một nhóm nòng cốt gồm 60 “đại lý thông tin” để lên kế hoạch và tạo ra nội dung được rà soát từ Internet hoặc từ nguồn địa phương Sau đó, họ thảo luận

và trao đổi với phụ nữ khác thông qua một loạt các phương tiện truyền thông như: máy vi tính, internet, các cuộc gặp gỡ trực tiếp, và một tờ báo in Mỗi đại lý thông tin thiết lập và quản lý một nhóm thông tin của 10 phụ nữ trong khu phố của riêng mình Những nhóm này gặp nhau một tuần một lần để thảo luận về các vấn đề tác động lên cuộc sống và cộng đồng của họ (như sinh kế, nông nghiệp, y tế, giáo dục, và các trải nghiệm khác), đánh giá các thông tin

và kỹ năng mà họ đã làm chủ và những người mà họ muốn làm quen và phát triển quan hệ

Đặc biệt để phát triển các kỹ năng, 3 trung tâm công nghệ thông tin đã được thiết lập để dạy các kỹ năng máy tính cơ bản và cách sử dụng MS Office

và các ứng dụng xuất bản trên máy tính để bàn (DTP) Họ đã học được cách

nhập dữ liệu và tìm kiếm các nội dung trong chương trình Làm giàu, một

chương trình có thể lưu trữ và phục hồi Mục tiêu cuối cùng của Nabanna là

Trang 30

xây dựng các mô-đun kiến thức, đó sẽ là một cơ sở dữ liệu thực hành tốt nhất của địa phương để giúp phụ nữ giải quyết vấn đề tại địa phương mình

Chương trình “Sáng kiến thay đổi” phát triển một công cụ để đánh giá sự tham gia của cư dân nông thôn (PRA), nó yêu cầu người tham gia phải duy trì ghi nhật ký về cuộc sống của họ Những nhật ký này là một công cụ để đánh giá nhu cầu, và cũng là một phương tiện để giúp chương trình phát triển các mô-đun cho các nhóm chia sẻ thông tin mô tả ở trên Kết quả của các cuộc thảo luận được ghi nhận và nghiên cứu phát triển với một mục tiêu duy nhất

là Làm giàu Internet cũng đã được sử dụng mạnh trong các dự án để thực

hiện công việc nghiên cứu hoạt động Trong giai đoạn đầu của dự án, tư vấn nghiên cứu tại Trường Kinh tế Luân đôn và Đại học Công nghệ Queensland

đã khuyên các nhà tổ chức nên nghiên cứu thông qua một trang web tương tác

Các nghiên cứu thực hiện bởi chương trình đã chứng minh rằng việc truy cập vào các công cụ công nghệ thông tin tốt thì có thể làm tăng tốc sự phát triển Nhưng thực tế thiếu điện và kết nối Internet tại vùng sâu vùng xa ở Ấn

Độ làm cho người dân không thể với tới các công nghệ thông tin Vì vậy, dự

án đã phải thay đổi: thay vì tập trung vào các trung tâm truyền thông (telecentres) tĩnh, chương trình bắt đầu sử dụng máy tính xách tay trong làng một cách thường xuyên để phổ biến thông tin Tiếp sau đó một kiốt thông tin

di động có khả năng di chuyển từ làng này sang làng khác đã được triển khai Điều này lý giải sự ra đời của khái niệm Telecentre on Wheels (TOW) – Trung tâm truyền thông trên những bánh xe TOW là một xe ba bánh tùy chỉnh được trang bị một tấm thu năng lượng mặt trời và phần cứng cần thiết, chẳng hạn như một máy tính xách tay, máy in, bảng điện, thiết bị cho các nhiếp ảnh kỹ thuật số, v.v…

Sau khi tùy chỉnh và thử nghiệm, TOW đã được chính thức ra mắt vào tháng 11 năm 2007 và đang được thử nghiệm tại 4 thôn, Ghoragacha, Madandanga, Kantabelia, và Teligacha, quận Nadia của Bengal Một nhân

Trang 31

lực nguồn và các thành viên cộng đồng được lựa chọn từ mỗi làng sẽ được đào tạo để có thể sử dụng TOW và giúp dân làng truy cập thông tin công cộng

về y tế và vệ sinh, biết đọc biết viết, giáo dục người lớn, nông nghiệp, nhân quyền, và pháp luật dân sự theo ngôn ngữ địa phương, Bengali TOW nhằm mục đích phát triển một mô hình tài chính bền vững bằng cách cung cấp dịch

vụ ICT kích hoạt khác nhau và giúp phụ nữ địa phương bán các sản phẩm của

họ Sáng kiến này cũng tạo dựng một kho lưu trữ kỹ thuật số về các vấn đề liên quan đến phụ nữ, thanh niên, và sinh kế nông thôn của địa phương, cho phép dân làng truy cập tới các thông tin thích hợp ngay tại cửa nhà của họ Một thay đổi lớn khác khi Nabanna được cải tiến trong nhiều năm qua là khái niệm mạng lưới Đề xuất này mang đến cho không chỉ những người có liên quan với ICT mà cả những phụ nữ tham gia vào các hoạt động tạo thu nhập khác của Nabanna thành mạng lưới Nabanna Các nhà tổ chức đang thiết lập một trang web cho tất cả các hoạt động có liên quan đến thông tin về việc tăng quyền lực cho người phụ nữ

Nabanna là chương trình đoạt giải thưởng Công nghệ thông tin và Khai trương Giới trong thể loại Ủng hộ Cộng đồng hay Cá nhân và Tạo lập mạng lưới

1.3.2 Mạng thông tin về Phát triển nông nghiệp nông thôn tại Băng la đét 3

:

Trung tâm Phát triển nông thôn hội nhập châu Á và Thái Bình Dương (CIRDAP- Central on Integrated Rural Development for Asia and Pacific) đã khởi xướng một mạng lưới thông tin về Phát triển nông thôn (INRD – Information network for Rural Development) vào năm 1992 CIRDAP là một

tổ chức liên chính phủ của 11 quốc gia, đặt trụ sở chính tại Bănglađét Nhiệm

vụ của Trung tâm là thúc đẩy hoạt động quốc gia tại các nước thành viên để phát triển khu vực nông thôn và giảm nghèo Một trong những mục tiêu của

nó là phổ biến thông tin để hỗ trợ các chương trình của mình Để theo đuổi

Trang 32

mục tiêu này CIRDAP đã khởi xướng INRD tại Bănglađét, với sự tham gia của 24 thư viện hoạt động trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn INRD là một mạng lưới cấu trúc lỏng gồm các thư viện, với CIRDAP đóng vai trò hậu thuẫn Mục tiêu của INRD là thúc đẩy việc sử dụng và trao đổi thông tin về phát triển nông nghiệp nông thôn và xóa đói giảm nghèo bằng cách chia sẻ nguồn lực, cải thiện năng lực của các thành viên mạng lưới để thu thập, xử lý và phổ biến thông tin; để hỗ trợ các thành viên mạng lưới sử dụng công nghệ thông tin mới, và giúp đỡ phát triển các kỹ năng của nhân viên thông tin Một ủy ban hoạt động gồm bảy thành viên có trách nhiệm lập

kế hoạch và thực hiện các hoạt động mạng Các thành viên ủy ban được luân chuyển định kỳ để đảm bảo tính khách quan trong các quyết định được đưa ra

Ủy ban làm việc họp theo quý để xem xét lại các hoạt động và lên kế hoạch cho quý tiếp theo Trong năm đầu tiên hoạt động bao gồm những điều sau đây:

- Chuẩn bị một danh sách các thành viên nắm giữ trọng trách theo định

kỳ ;

- Phổ biến thông tin về hoạt động tổ chức như hội thảo và nghiên cứu;

- Nâng cấp các kỹ năng chuyên môn thông qua đào tạo;

- Cho phép mượn tài liệu liên thư viện và các thiết bị kèm theo

Trong thời gian đầu INRD đã xuất bản được ba số của một bản tin có chứa các ấn phẩm của các thành viên mạng lưới Một định dạng cho báo cáo

số liệu đã được chuẩn bị theo các định dạng mẫu do Hiệp hội Thư viện của Bănglađét khuyên dùng Các dữ liệu nhập vào cơ sở dữ liệu thư mục CIRDAP qua phần mềm CDS/ISIS, được làm sẵn có trên đĩa cứng hoặc như bản sao cứng cho người dùng Mười một thư viện thường xuyên được cung cấp đầu vào cho cơ sở dữ liệu

Một số vấn đề quan trọng về tổ chức, hoạt động và tài chính:

- Tổ chức: Hiện tại, CIRDAP có chức năng như là nhà điều phối các

hoạt động INRD Kinh nghiệm của nhiều mạng lưới là lấy CIRDAP làm tiêu

Trang 33

điểm cốt lõi của tổ chức, chịu trách nhiệm chính cho việc duy trì hoạt động mạng Các thành viên đảm nhiệm vai trò quan sát thụ động hoặc lấy nguồn thu của dịch vụ quay lại đầu tư cho dữ liệu thư mục đầu vào Sự hình thành của một ủy ban hoạt động với quy định cho phép thay định kỳ các thành viên,

hy vọng sẽ làm cho các quyết định của INRD có tính tham gia của các thành viên trong việc thiết kế và phát triển độc lập mạng lưới và đảm bảo một cách tiếp cận tập thể tới mạng lưới

- Thành viên: Thành viên INRD bao gồm các thư viện làm việc trong lĩnh

vực phát triển nông nghiệp nông thôn và giảm nghèo Các thư viện này gồm

từ cơ quan chính phủ và các Bộ, các tổ chức quốc tế đến địa phương và tổ chức phi chính phủ nước ngoài Trong một số tổ chức thông tin được coi là quan trọng, còn ở một số tổ chức khác đó là hoạt động ngoại vi Nhân sự của các mô hình là khác nhau cả chuyên nghiệp đến không chuyên nghiệp

- Hoạt động : Chương trình làm việc bao gồm các hoạt động mang lại

lợi ích ngay cho các thành viên và người dùng của họ Cung cấp quyền truy cập vào các bộ sưu tập thư viện của các thành viên mạng lưới Tất cả các thư viện đã đồng ý cung cấp quyền truy cập vào bộ sưu tập của họ, và phục vụ phôtô bản sao với một khoản phí danh nghĩa

Nhiều tổ chức có các thành viên mạng lưới được khuyến khích tham gia thực hiện dự án nghiên cứu Các sáng kiến địa phương, khu vực và quốc tế và những nỗ lực sản xuất các thông tin khác nhau, từ sự kiện căn bản tới các kế hoạch có dẫn chứng như các nghiên cứu khả thi, báo cáo dự án, công trình nghiên cứu, báo cáo thẩm định, v.v… đã được tiến hành Các thành viên mạng lưới thấy rõ được nhu cầu truy cập vào các tài liệu đó, đã đồng ý chia sẻ tài liệu của tổ chức mình CIRDAP đối chiếu các thông tin để phổ biến thông qua một bản tin thường xuyên Khi không có sự tham gia thu thập thông tin của một hệ thống quốc gia thì nỗ lực của INRD để phổ biến nó cho cộng đồng phát triển là một bước tiến quan trọng hướng tới nắm quyền kiểm soát thư mục của tài liệu in quốc gia phi cổ truyền

Trang 34

Hầu hết những người tham gia mạng lưới đã theo chương trình đào tạo của CIRDAP trong việc sử dụng CDS/ISIS - chương trình phần mềm lưu trữ

và truy cập thông tin CIRDAP cố gắng phát triển một khổ mẫu chuẩn để lưu giữ và trao đổi thông tin, thông qua việc xem xét các khổ mẫu khuyên dùng của Hiệp hội Thư viện Bănglađét Vì hầu hết các thư viện đang trong giai đoạn đầu của tin học hóa, nên việc thông qua một khổ mẫu vào dữ liệu thống nhất là rất cần thiết Tin học hóa cũng sẽ tạo điều kiện cho việc hòa nhập các

cơ sở dữ liệu của các thành viên mạng lưới, loại bỏ công việc chuẩn bị bản tin

để phổ biến thông tin; và tin học hóa sẽ làm giảm nhu cầu bổ sung nhân sự Mục tiêu của INRD là làm việc theo hướng trao đổi dữ liệu

- Sự tham gia: Để minh chứng về tính tích cực của INRD, các thành

viên của ủy ban hoạt động thường xuyên tham gia các cuộc họp, nhắc lại cam kết của họ để tiếp tục hoạt động INRD Tổ chức Phụ Huynh đã cung cấp trang thiết bị cho các cuộc họp Mười một thư viện đã cung cấp đầu vào cho hai bản tin INRD, được phát hành cho đến nay Tuy nhiên, trách nhiệm về mạng lưới nên được các tổ chức quốc gia gánh vác, và một cơ quan phối hợp nên được chỉ định để đảm nhận trọng trách này Vì chia sẻ tài nguyên là điều cần thiết cho sự phát triển của một hệ thống thông tin quốc gia, các thành viên nên tìm kiếm ở bên ngoài nhiều hơn và coi việc kết nối mạng là một phần nhiệm

vụ chuyên môn của họ

- Tài chính : Quy hoạch mạng lưới ban đầu ở Bănglađét có thể không

được thực hiện do thiếu nguồn lực tài chính INRD đã bắt đầu hoạt động mà không có tài trợ bên ngoài, và được hoạt động với nguồn lực nội bộ, với các thành viên chịu chi phí Nếu mạng được xem là một phần của các hoạt động của thư viện, một mạng lưới tự lực cánh sinh có thể được xây dựng trên cơ sở chia sẻ chi phí giữa các tổ chức liên kết Nguồn lực bên ngoài có thể được trưng cầu để mở rộng hoạt động nhưng khi kinh phí dự án chấm dứt thì mạng

sẽ phải tiếp tục hoạt động dựa trên chính bản thân mình Một cách để giải quyết vấn đề hỗ trợ tài chính là mỗi thư viện sẽ thuyết phục tổ chức của mình

Trang 35

dành ra một nguồn cung cấp ngân sách cho mạng Tiết kiệm chi phí có thể đạt được bằng cách thực hiện một chương trình mua hợp tác sẽ bù đắp cho các chi phí phát sinh về các chương trình mạng

Trang 36

Kết luận Chương 1

Như vậy, thông tin với vai trò là nhu cầu không thể thiếu của mọi người, mọi tổ chức, mọi quốc gia, cùng với các hoạt động thông tin đi kèm của nó đã khẳng định vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của một đất nước Đặc biệt, trong hệ thống thông tin KH&CN có mạng lưới thông tin phục vụ nông nghiệp nông thôn với cơ chế trao đổi thông tin nhiều chiều là một đề xuất mới, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng tăng của cư dân nông thôn trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Từ kinh nghiệm mạng lưới thông tin phục vụ nông nghiệp nông thôn ở một số nước có đặc điểm tương đồng với Việt Nam, có thể phân tích để thấy một số vấn đề chính còn tồn đọng như sau:

Ở Ấn Độ chương trình được thực hiện với kinh phí của UNESCO nên không mang tính thường xuyên, liên tục và còn dàn trải giữa các vùng nông nghiệp nông thôn trong nước Kinh phí mới chỉ tập trung vào một số dự án, chương trình cho nông nghiệp nông thôn nên hoạt động chưa mang tính hệ thống Còn ở Bănglađét: đã có sự hình thành một mạng lưới hệ thống và có đề cập đến vấn đề chia sẻ thông tin; nhưng chưa có giải pháp thực hiện và chưa

có cơ chế hoạt động độc lập

Qua các khái niệm đã trình bày và phần kinh nghiệm của nước ngoài như trên, được lấy làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu so sánh với hiện trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn ở phía Bắc nước ta ở phần sau và đề xuất giải pháp chính sách trong các chương tiếp theo

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KH&CN PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TẠI MỘT

SỐ TỈNH PHÍA BẮC

2.1 Thực trạng chính sách thông tin KH&CN:

Đảng và Nhà nước ta đã sớm khẳng định vai trò to lớn của thông tin KH&CN nên đã có sự chỉ đạo cần thiết nhằm tăng cường và phát triển công tác thông tin - tư liệu Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành một số văn bản, chính sách về công tác thông tin và tư liệu Thực hiện các đường lối

và định hướng của Nhà nước, các Bộ, ngành cũng đã ban hành các qui chế, qui định, hướng dẫn về tổ chức, thực hiện và triển khai từng mặt công tác trong các ngành và địa phương

Sau đây là một số văn bản pháp quy, thông tư, chỉ thị… chính liên quan đến hoạt động thông tin KH&CN từ năm 1990 đến nay:

- Nghị quyết của Bộ chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới (30/3/1991) có nêu: “Xây dựng hệ thống thông tin hiện đại về khoa học và công nghệ, kịp thời cung cấp thông tin mới cho các cơ quan lãnh đạo và quản lý, các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở sản xuất Tham gia hệ thống thông tin khoa học thế giới Dành một quỹ ngoại tệ thích đáng để mua các tư liệu thông tin cần thiết từ nước ngoài, nhất là từ những nước có trình độ phát triển cao.”

- Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa

8 (24/12/1996) có nêu điều 8: Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức khoa học và công nghệ

Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ cập tri thức khoa học Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa học xã hội và nhân văn nói chung, những hiểu biết thường thức về khoa học tự nhiên và công nghệ, bảo vệ môi trường trong nhân dân, đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng núi, vùng dân tộc ít người, hình thành lối sống văn minh và sự lành mạnh của môi trường xã hội

- Chỉ thị của hội đồng Bộ trưởng về công tác thông tin khoa học và

Trang 38

Công nghệ (04/4/1991) có nêu các nội dung chính như sau:

Nhiệm vụ của hệ thống thông tin KH&CN là phải thường xuyên bám sát và phục vụ cho việc xây dựng và thực hiện chiến lược và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, hoạch định các chủ trương, chính sách về kinh tế -

xã hội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng của cả nước cũng như của từng ngành, từng địa phương, phục vụ thông tin cho các cơ quan nghiên cứu khoa học, triển khai kỹ thuật và công nghệ; đồng thời, cung cấp thông tin cho mọi cơ sở

và cá nhân có nhu cầu

Các cơ quan thông tin KH&CN cần phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, tăng cường việc phổ biến rộng rãi các kiến thức KH&CN, giới thiệu kinh nghiệm và các mô hình ứng dụng thành tựu khoa học, tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất và đời sống xã hội có hiệu quả cao, nhằm đẩy mạnh phong trào lao động sáng tạo của quần chúng và góp phần nâng cao dân trí

Uỷ ban Khoa học Nhà nước cần sớm xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống thông tin KH&CN, kết hợp với hệ thống thông tin kinh tế - xã hội, hình thành các mạng lưới trao đổi thông tin phục vụ lãnh đạo và quản lý, phục vụ nghiên cứu và triển khai, phát triển công nghệ; từng bước hiện đại hoá công nghệ thông tin tạo khả năng tiếp nối với hệ thống thông tin khoa học quốc tế

Uỷ ban Khoa học Nhà nước, các ngành, các địa phương cần cải tiến cơ chế quản lý hoạt động của các cơ quan thông tin KH&CN theo hướng gắn hoạt động thông tin KH&CN với thông tin kinh tế - xã hội, gắn hoạt động thông tin với thực tiễn sản xuất và đời sống, thông qua hợp đồng hoặc đơn đặt hàng giữa cơ quan và người có nhu cầu thông tin với cơ quan thông tin Có hình thức khuyến khích thoả đáng cho những đơn vị và cá nhân cung cấp kịp thời những thông tin khoa học và công nghệ có giá trị, cả tin trong nước và tin nước ngoài

Các cơ quan thông tin KH&CN được phép xuất bản các ấn phẩm thông tin và thực hiện các dịch vụ thông tin trong phạm vi pháp luật hiện hành để có

Trang 39

thêm kinh phí hoạt động, ngoài phần được cấp từ ngân sách

- Quyết định số 487/TCCB ngày 24/9/1990 của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước về việc thành lập "Trung tâm thông tin tư liệu KH&CN quốc gia" trên cơ sở hợp nhất Viện Thông tin KHKT trung ương và Thư viện KHKT trung ương để giúp Uỷ ban thực hiện chức năng trung tâm thông tin tư liệu KHCN của Nhà nước và quản lý thống nhất hoạt động thông tin tư liệu KHCN trong cả nước

- Nghị định 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ đã ban hành nghị định 159/2004/NĐ-CP quy định về hoạt động thông tin KH&CN

- Ngoài các văn bản quan trọng trên cần phải kể đến một số văn khác

có liên quan như: Nghị định số 30/2006/NĐ-CP về Thống kê KH&CN quy định việc cung cấp, thu thập, xử lý, công bố và sử dụng thông tin thống kê KH&CN, phát triển công tác thống kê KH&CN trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam; Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT quy định về việc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; Luật Công nghệ cao Tất cả các văn bản trên đã tạo nên một hành lang pháp lý cho hoạt động thông tin KH&CN của Việt nam

Đây chính là căn cứ pháp lý để chuẩn bị cho việc hình thành chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ cho nông nghiệp nông thôn ở chương sau

2.2 Thực trạng mạng lưới cung cấp thông tin KH&CN cho nông nghiệp nông thôn và miền núi:

2.2.1 Mô hình cung cấp thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh

tế-xã hội, nông thôn và miền núi

Sau khi các Nghị định được ban hành, công tác thông tin KH&CN đã

có những chuyển biến rõ nét trong hoạt động Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia (nay là Cục Thông tin KH&CN Quốc gia) và các Sở KH&CN ở nhiều tỉnh, thành trong nước đã phối hợp triển khai nhiệm vụ phát triển hoạt động thông tin phục vụ nông nghiệp nông thôn Nhiều cơ sở dữ liệu KH&CN

Trang 40

về nông nghiệp nông thôn đã được các bộ, ngành, các địa phương thu thập và xây dựng để đáp ứng nhu cầu thông tin của bà con nông dân Từ năm 2001

Bộ KH&CN và Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia (nay là Cục Thông tin KH&CN Quốc gia) đã hỗ trợ một số địa phương triển khai các dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng KH-CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội nông nghiệp nông thôn miền núi” (cụ thể ở Ninh Bình, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, ) Nhiều tỉnh, thành trong nước cũng đã chủ động tổ chức xây dựng các mô hình thông tin KH&CN cấp xã tại địa phương của mình Hiện nay trên toàn quốc đã có 24 tỉnh tổ chức xây dựng các mô hình này, số các xã được xây dựng các điểm thông tin KH&CN là 139 xã

a) Giới thiệu mô hình:

Mô hình cung cấp thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội nông nghiệp nông thôn và miền núi (sau đây gọi tắt là mô hình cung cấp thông tin) có mục tiêu tổng thể là góp phần nâng cao dân trí, xoá đói, giảm nghèo, cải thiện chất lượng đời sống tinh thần và vật chất của cư dân nông nghiệp nông thôn, miền núi trên cơ sở cung cấp kịp thời và sử dụng rộng rãi thông tin và tri thức khoa học và công nghệ

Việc ứng dụng và triển khai mô hình cung cấp thông tin nhằm 3 mục tiêu cụ thể như sau:

- Đáp ứng nhu cầu thông tin bằng việc sử dụng tích hợp công nghệ thông tin hiện đại phù hợp với nhu cầu và điều kiện cụ thể ở nông thôn, miền núi nước ta;

- Thiết lập cơ chế trao đổi và cập nhật thông tin hai chiều giữa cơ sở, địa phương và Trung ương;

- Lồng ghép các dự án được triển khai trên cùng một địa bàn bằng cơ chế chia sẻ các nguồn tin phát triển

Nhằm đạt được các mục tiêu nêu trên, mô hình cung cấp các thông tin phải đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung, phù hợp với đặc điểm, nhu cầu thông tin của cư dân ở cơ sở Có thể nêu một số nội dung thông tin cơ bản

Ngày đăng: 20/03/2015, 13:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thống kê về tổ chức các Trung tâm thông tin địa phương phía - Chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ hội nhập
Bảng 1. Thống kê về tổ chức các Trung tâm thông tin địa phương phía (Trang 55)
Bảng  3.  Mức  độ  hoạt  động  của  mạng  lưới  cung  cấp  và  khai  thác  thông  tin - Chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ hội nhập
ng 3. Mức độ hoạt động của mạng lưới cung cấp và khai thác thông tin (Trang 62)
Bảng  4.  Nhu  cầu  thông  tin  KH&CN  phục  vụ  nông  nghiệp  nông  thôn  ở  địa - Chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ hội nhập
ng 4. Nhu cầu thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn ở địa (Trang 62)
Bảng  5.  Để  phát  triển  hoạt  động  cung  cấp,  khai  thác  và  sử  dụng  thông  tin - Chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ hội nhập
ng 5. Để phát triển hoạt động cung cấp, khai thác và sử dụng thông tin (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w