Thậm chí một số cơ quan nhà nước còn thờ ơ chưa quan tâm đến việc tăng cường nhân lực để triển khai các ứng dụng về CNTT nhằm chuẩn bị thực hiện lộ trình tiến tới xây dựng Chính phủ điện
Trang 1MỤC LỤC
Lời cảm ơn 8
Danh mục các từ viết tắt 9
Danh mục các biểu đồ 9
PHẦN MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu: 10
3 Mục tiêu nghiên cứu: 11
4 Phạm vi nghiên cứu: 11
5 Mẫu khảo sát: 11
6 Vấn đề nghiên cứu: 12
7 Giả thuyết nghiên cứu: 12
8 Phương pháp nghiên cứu: 12
9 Luận cứ: 13
10 Kết cấu của đề tài: 13
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CNTT 15
1.1 Một số khái niệm 15
1.1.1 CNTT và các khái niệm liên quan 15
1.1.2 Nguồn nhân lực CNTT 15
1.2 Đặc điểm của ngành CNTT 18
1.2.1 Ngành công nghệ có tốc độ phát triển cao 18
1.2.2 Vòng đời sản phẩm ngắn 19
1.2.3 Chi phí nghiên cứu và phát triển ngành cao 19
1.2.4 Tính tích hợp cao 19
1.2.5 Tập trung đầu tư vào máy tính và thiết bị viễn thông 19
1.2.6 Sự phát triển của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 19
1.3 Xu hướng ứng dụng và phát triển CNTT trên thế giới và ở Việt Nam 20
1.3.1 CNTT phục vụ phát triển toàn diện của xã hội 20
1.3.2 Xu hướng khai thác và phát triển phần mềm mã nguồn mở 20
1.3.3 Xu hướng phát triển và sử dụng mạng không dây 21
1.3.4 Xu hướng phát triển truyền thông đa phương tiện và hội tụ CNTT - viễn thông - phát thanh và truyền hình 22
Trang 21.4 Đặc điểm nguồn nhân lực CNTT 22
1.4.1 Nguồn nhân lực trẻ 22
1.4.2 Nguồn nhân lực có trình độ cao 23
1.4.3 Nguồn nhân lực có tư duy toán học tốt 23
1.4.4 Nguồn nhân lực năng động, sáng tạo và lòng say mê nghiên cứu 23
1.4.5 Nguồn nhân lực có năng suất lao động cao 23
1.4.6 Sự thống trị của lao động nam giới trong nguồn nhân lực CNTT 24
1.4.7 Nguồn nhân lực có trình độ ngoại ngữ (tiếng Anh) cao 24
1.5 Vai trò của CNTT, nguồn nhân lực CNTT trong phát triển kinh tế xã hội 24
1.5.1 CNTT hình thành nền kinh tế tri thức 24
1.5.2 CNTT với quá trình hội nhập và toàn cầu hoá 25
1.5.3 CNTT đóng vai trò động lực phát triển của nền kinh tế 26
1.5.4 Nguồn nhân lực CNTT đóng vai trò trọng tâm trong phát triển CNTT và nền kinh tế tri thức 27
1.6 Thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao trong các CQNN 28
1.6.1 Tầm quan trọng của thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao 28
1.6.2 Tình hình thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao trong các CQNN 29
1.7 Mục tiêu của Chính phủ về phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 30
1.7.1 Mục tiêu phát triển đến năm 2015 30
1.7.2 Định hướng phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2020 32
1.8 Nhu cầu nguồn nhân lực CNTT của tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020 32
1.9 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực CNTT của một số nước 34
1.9.1 Phát triển nguồn nhân lực CNTT của Mỹ 34
1.9.2 Phát triển nguồn nhân lực CNTT của Hàn Quốc 35
1.9.3 Phát triển nguồn nhân lực CNTT của Ấn Độ 37
1.9.4 Phát triển nguồn nhân lực CNTT của Trung Quốc 39
Kết luận 39 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN
Trang 32.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Thanh Hoá và tình hình nhân lực lao
động của tỉnh 41
2.1.1 Đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội Thanh Hoá 41
2.1.2 Tình hình nhân lực lao động của tỉnh Thanh Hóa 42
2.1.3 Thuận lợi, khó khăn từ điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình nhân lực lao động của tỉnh liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực CNTT 46
2.2 Các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển nguồn nhân lực CNTT 49
2.2.1 Nội dung cơ bản của các chủ trương, chính sách Chính phủ đã ban hành từ trước đến năm 2010 49
2.2.2 Nhận xét về các chủ trương, chính sách, chương trình quốc gia về phát triển nguồn nhân lực CNTT 54
2.2.3 Cơ chế chính sách của tỉnh 57
2.2.4 Những tồn tại đối với chính sách thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT 58
2.3 Thực trạng ứng dụng CNTT ở Thanh Hoá 61
2.3.1 Ứng dụng CNTT tại các cơ quan Đảng, đoàn thể chính trị 61
2.3.2 Ứng dụng CNTT tại các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước 61
2.3.3 Ứng dụng CNTT trong GD&ĐT, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 62
2.3.4 Ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp ở Thanh Hoá 63
2.3.5 Đánh giá tồn tại và nguyên nhân 63
2.4 Thực trạng đào tạo, cung ứng, thu hút, sử dụng, phát huy nhân lực CNTT giai đoạn 2006-2010 65
2.4.1 Thực trạng đào tạo, cung ứng nhân lực CNTT trên địa bàn tỉnh 65
2.4.2 Thực trạng thu hút, sử dụng, phát huy nhân lực CNTT trong các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh 69
2.4.3 Chỉ số sẵn sàng cho ứng dụng và phát triển CNTT-TT và xếp hạng chỉ số hạ tầng nhân lực CNTT của Thanh Hoá trong năm 2011 75
Kết luận 80
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NHÂN LỰC CNTT Ở THANH HOÁ 81
Trang 43.1.1 Quan điểm của Chính phủ về phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020 81
3.1.2 Chính sách thu hút và sử dụng nhân lực CNTT ở Thanh hoá được đề xuất trên cơ sở vận dụng các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp điều kiện kinh tế xã hội thực tế ở địa phương 81
3.1.3 Đối với địa phương, thu hút và sử dụng nhân lực CNTT phải mang tính đặc thù và phát huy nội lực là chủ yếu 82
3.1.4 Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho hệ thống các cơ quan Đảng và các cơ quan Nhà nước 82
3.1.5 Cần có chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực CNTT trình độ cao. 83
3.1.6 Đẩy mạnh xã hội hóa và tăng cường hợp tác quốc tế trong việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT 83
3.2 Các giải pháp thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT 83
Nhóm1: Nhóm giải pháp ngắn hạn 83
3.2.1 Ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng CIO 83
3.2.2 Ban hành chính sách hợp lý thu hút nhân lực CNTT 83
3.2.3 Đào tạo lại, đào tạo văn bằng 2 cho nhân lực hiện tại 85
3.2.4 Thực hiện liên kết nhà nước, nhà doanh nghiệp và nhà trường 85
3.2.5 Hỗ trợ cho các chương trình đào tạo ngắn hạn bổ sung kiến thức thực tiễn cho các trường Đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh 86
Nhóm 2: Nhóm giải pháp dài hạn 86
3.2.6 Thực hiện tốt công tác thống kê, dự báo 86
3.2.7 Thu hút đầu tư vào ngành CNTT 87
3.2.8 Tăng cường thu hút đầu tư, tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, thực hiện xã hội hóa công tác đào tạo nhân lực CNTT 87
3.2.9 Đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực CNTT phục vụ phát triển kinh tế - xã hội 89
3 2.10 Mở rộng quy mô đào tạo 90
3.3 Khuyến nghị 90
3.3.1 Đối với UBND tỉnh, tác giả xin có những khuyến nghị như sau: 90
3.3.2 Đối với các CQNN, tác giả xin có những khuyến nghị như sau: 91 3.3.3 Đối với Hiệp hội, đặc biệt là Hội tin học Thanh Hóa, các Khu Kinh tế,
Trang 53.3.4 Đối với các đơn vị đào tạo CNTT, tác giả khuyến nghị: 92
3.3.5 Đối với các doanh nghiệp, tác giả có các khuyến nghị: 92
Kết luận 92
PHẦN KẾT LUẬN 92
Danh mục tài liệu tham khảo 94
PHỤ LỤC 96
Phụ lục 1: Mẫu phiếu khảo sát (TÌNH HÌNH VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP HỆ CHÍNH QUY ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC) 96
Phụ lục 2: Mẫu phiếu khảo sát (CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHUYÊN TRÁCH CNTT TRONG CÁC CQNN) 100
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS Tiến sĩ Trần Ngọc
Ca vì sự tận tâm, sự nhiệt tình của thầy trong quá trình hướng dẫn tôi từ những bước đầu tiên của bản thảo cho tới khi hoàn thiện bản luận văn này Không có sự hỗ trợ
và chỉ bảo của thầy, nghiên cứu của tôi khó đạt được kết quả như ngày hôm nay Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Giáo sư, Tiến sĩ đã giảng dạy chúng tôi - học viên của lớp cao học chính sách Khoa học và Công nghệ K14, Viện chiến lược và chính sách Khoa học và Công nghệ - vì những bài giảng bổ ích và thực sự đã dẫn dắt chúng tôi vào niềm đam mê nghiên cứu khoa học thông qua việc nghiên cứu các hoạt động của chính sách Bài giảng của các thầy là nền móng căn bản cho sự ra đời nghiên cứu đầu tiên của tôi – bản luận văn này
Lời cảm ơn của tôi xin cũng được gửi tới bạn bè, đồng nghiệp và những người
đã tham gia vào quá trình khảo sát, tập hợp tài liệu ủng hộ đề tài của tôi Đó là chị
Lê Thị Hoa – Trưởng phòng Văn Xã, Sở Kế hoạch và Đầu tư; anh Nguyễn Viết Thức – Trưởng phòng Quản lý Công chức, Sở Nội Vụ; anh Nguyễn Ngọc Túy – Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ; chị Nguyễn Thị Hà – Chuyên viên tổng hợp Sở Lao động – Thương binh và Xã hội; anh Nguyễn Ngọc Minh – Phó trưởng phòng Tổng hợp, Cục Thống Kê; chị Nguyễn Thị Xuân Đài – Phó Trưởng Khoa Công nghệ thông tin, Đại Học Hồng Đức; anh Nguyễn Hữu Hiền – Phó Trưởng Khoa Đào Tạo, Đại học Hồng Đức; anh Đỗ Huy Văn – Trưởng khoa Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh (chi nhánh tại Thanh Hóa); anh Vũ Nguyên Hoàng - Phó Chánh Văn Phòng, Sở Giáo dục và Đào tạo; anh Nguyễn Đức Trung – Phó trưởng phòng Công nghiệp, Văn phòng UBND tỉnh; anh Nguyễn Bá Hoan – Văn phòng Tỉnh ủy Đặc biệt, tôi xin cảm ơn lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông, phòng Quản lý Công nghệ thông tin và các đơn vị liên quan của Sở Thông tin & Truyền thông đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành bản luận văn này Xin cảm ơn chân thành, nếu không có các anh, các chị, bạn
bè và đồng nghiệp, bản luận văn của tôi sẽ không được hoàn thiện như bây giờ
Và cuối cùng, tôi xin cảm ơn những thành viên trong gia đình tôi, vì tình yêu,
sự chăm sóc, động viên, khuyến khích và chia sẻ Nếu không có những tình cảm thiêng liêng của những người thân yêu trong gia đình, tôi khó có thể hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn với tất cả lòng thành
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CQNN Cơ quan nhà nước
CNTT Công nghệ thông tin
CSDL Cơ sở dữ liệu
TT&TT Thông tin và Truyền thông
KH&CN Khoa học và công nghệ
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư
LĐ-TB&XH Lao động – Thương binh và Xã hội
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế đáng lưu ý của tỉnh
Bảng 2.2 Các văn bản chủ trương , chính sách của Chính phủ về phát triển
nguồn nhân lực CNTT
Bảng 2.3 Hình thức sử dụng nhân lực CNTT ở CQNN các cấp
Bảng 2.4 Cơ cấu trình độ đào tạo của cán bộ CNTT trong các CQNN tỉnh
Thanh Hóa
Bảng 2.5 Dự định của nhân lực CNTT về công việc
Bảng 2.6 Nơi công tác của 37 sinh viên cử nhân tài năng CNTT
Bảng 2.7 Xếp hạng chung Vietnam ICT index 2011
Bảng 2.8 Xếp hạng hạ tầng nhân lực CNTT toàn quốc 2011
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Nhu cầu nhân lực CNTT cho ngành CNTT và truyền thông
của Hàn Quốc giai đoạn 1998-2010
Biểu đồ 1 2 Tỉ lệ số lao động CNTT được đào tạo đến năm 2008
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu ngành nghề và vùng công tác của sinh viên Đại học Hồng
Đức tốt nghiệp từ năm 2006 đến 2009
Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ sinh viên chọn công việc
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị đã khẳng định: CNTT là động lực của sự phát triển KTXH, là công cụ quan trọng để rút ngắn quá trình CNH-HĐH của Quốc gia và các địa phương Phát triển CNTT nhằm tăng khả năng cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế Trong đó nguồn nhân lực CNTT là yếu tố quyết định [1]
Tuy nhiên, hiện nay tại các cơ quan quản lý nhà nước của Thanh Hoá, nhân lực hoạt động trong lĩnh vực CNTT có nhiều vấn đề bất cập Tình trạng di chuyển dòng nhân lực CNTT từ các cơ quan nhà nước sang các công ty có vốn nước ngoài; sang các doanh nghiệp như dầu khí, ngân hàng, viễn thông … đang diễn với chiều hướng tăng nhanh Một số cơ quan lại gặp tình trạng nhân lực CNTT vừa thiếu vừa thừa hoặc vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng Một số cơ quan lại có tình trạng bố trí sử dụng nhân lực CNTT chưa hợp lý Thậm chí một số cơ quan nhà nước còn thờ ơ chưa quan tâm đến việc tăng cường nhân lực để triển khai các ứng dụng về CNTT nhằm chuẩn bị thực hiện lộ trình tiến tới xây dựng Chính phủ điện
tử như chiến lược của Quốc gia đã đề ra
Vì vậy đối với Thanh Hoá, vấn đề cấp bách đặt ra là cần có những chính sách phù hợp để tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực CNTT trong khối các cơ quan nhà nước, nhằm triển khai tốt các chương trình, dự án CNTT trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp
thu hút và sử dụng nhân lực CNTT tỉnh Thanh Hoá” làm đề tài tốt nghiệp cao
học chuyên ngành chính sách KH&CN; với mong muốn kết quả nghiên cứu lý luận
và thực tiễn và những giải pháp đưa ra góp phần xây dựng các chính sách cụ thể về thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT trong khối CQNN của tỉnh Thanh Hoá
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Ở nước ngoài, các chính sách phát triển nguồn nhân lực CNTT đã được chú trọng và đầu tư “đi trước” so với việc ứng dụng CNTT Nguồn nhân lực CNTT mạnh là cơ sở để xây dựng Chính quyền điện tử, Công dân điện tử và Doanh nghiệp điện tử Các nước như Mỹ, Ấn độ, Hàn Quốc, Trung Quốc được coi là những
Trang 9nước đi tiên phong và đã dành được nhiều thành công trong việc đầu tư, phát triển, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT
Ở Việt Nam, Chính phủ đã phê duyệt các qui hoạch; ban hành các quyết định
về phát triển nguồn nhân lực CNTT giai đoạn 2006-2010, định hướng đến 2020 Nhiều giải pháp và chính sách cấp vĩ mô đã được thể hiện trong các qui hoạch, kế hoạch và quyết định của Chính phủ
Một số tỉnh thành đã xây dựng được những chính sách ưu đãi để thu hút nhân lực CNTT về công tác và làm việc tại địa phương
Tuy nhiên đối với thực tế tỉnh Thanh Hoá trong những năm qua: với đặc thù của một tỉnh thuần nông ở Bắc miền Trung, địa lý phức tạp, kinh tế phát triển chậm thì việc áp dụng các chính sách của Trung ương cho phát triển nguồn nhân lực CNTT phục vụ địa phương đều chưa mang lại kết quả khả quan Thực trạng hiện nay về nguồn nhân lực CNTT trong khối CQNN, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, các doanh nghiệp nhìn chung là thiếu và yếu, chưa có chính sách riêng để thu hút và sử dụng nhân lực CNTT của địa phương
Với đề tài này, tác giả đã kế thừa những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước; và đưa ra một hướng tiếp cận nhằm khắc phục hiện trạng thiếu và yếu về nhân lực CNTT do còn nhiều những bất cập của chính sách đang thực thi
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề sau:
Tìm ra những yếu kém và bất hợp lý đối với hoạt động thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT ở các CQNN tỉnh Thanh Hoá
Đề xuất các giải pháp chính sách về thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT để tăng cường nguồn nhân lực CNTT của khối CQNN tỉnh Thanh Hoá trong những năm tới
4 Phạm vi nghiên cứu:
Khảo sát, đánh giá thực trạng đào tạo, cung ứng nhân lực CNTT; thực trạng
của các chính sách thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT trong khối CQNN ở Thanh Hoá thời gian từ năm 2006 – 2010
Chỉ nghiên cứu đề xuất những giải pháp chính sách về thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT trong khối CQNN ở Thanh Hoá
Trang 105 Mẫu khảo sát:
Kinh nghiệm thu hút nhân lực CNTT của một số nước thông qua tài liệu và thông tin trên Internet
Tình hình tuyển sinh và kết quả đào tạo của các Trường Đại học, Cao đẳng
ở Thanh Hoá trong việc cung cấp nhân lực cho Thanh Hoá
Đánh giá về nhu cầu, tuyển dụng và bố trí sử dụng nhân lực CNTT tại các CQNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Các chính sách hiện có liên quan đến phát triển nguồn nhân lực CNTT của
TW và địa phương
6 Vấn đề nghiên cứu:
Những giải pháp chính sách nào nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực CNTT cho khối CQNN tỉnh Thanh Hoá?
7 Giả thuyết nghiên cứu:
Nhóm giải pháp ngắn hạn: Ban hành chính sách tạm thời về CIO ; Tạo môi
trường làm việc đòi hỏi sự cống hiến của nhân lực CNTT, trả công thoả đáng, được đào tạo bổ sung nâng cao trình độ và bồi dưỡng kỹ năng làm việc, có cơ hội bổ nhiệm để thăng tiến trong nghề nghiệp; Thực hiện liên kết nhà nước , nhà doanh nghiệp, nhà trường và hỗ trợ các chương trình đào tạo ngắn hạn bổ sung kiến thức thực tiễn cho các trường Đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh
Nhóm giải pháp dài hạn: Thực hiện tốt công tác thống kê , dự báo; Thu hút
đầu tư vào ngành CNTT ; Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo , thực hiện xã hội hóa công tác đào tạo nhân lực CNTT; Mở rộng quy mô và các loại hình đào tạo
8 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp chứng minh giả thuyết:
- Khảo sát, quan sát, điều tra thu thập thông tin để có nguồn thông tin sơ cấp
- Nghiên cứu, tổng kết tài liệu để có nguồn thông tin thứ cấp
- Phương pháp kiến tạo xã hội: dựa trên các số liệu báo cáo của cơ quan QLNN về các thực trạng đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ đối với nguồn nhân lực CNTT Thanh Hoá; dựa trên những khảo sát về thực trạng biến đổi xã hội liên quan đến nhân lực CNTT để từ đó đưa ra những phán đoán về chính sách và các hệ luỵ của chính sách
Trang 11- Tiếp cận về kinh tế: Phân tích, dự báo các điều kiện để thu hút và sử dụng
nhân lực CNTT về phục vụ cho các CQNN của tỉnh
Ngoài ra, Chương này còn cung cấp thông tin về kinh nghiệm đào tạo và phát triền nhân lực CNTT tại một số quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Ấn độ, Hàn Quốc và Mỹ Từ đây có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quan trọng khi xây dựng chính sách thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam cũng như tại các địa phương
Trang 12Chương 2 Thực trạng về thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT tỉnh Thanh Hóa
Nội dung Chương này trình bày các yếu tố như đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Thanh Hoá và tình hình nhân lực lao động của tỉnh, thực trạng ứng dụng CNTT
ở Thanh Hoá, thực trạng đào tạo, cung ứng nhân lực CNTT giai đoạn 2006-2010 Đây là những yếu tố có liên quan đến tình hình thu hút và sử dụng nhân lực CNTT của Thanh Hóa
Trọng tâm của Chương Hai là đánh giá việc triển khai thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển nguồn nhân lực CNTT tại Thanh Hóa Chỉ ra những tồn tại hạn chế trong quá trình thực thi chính sách chính là cơ sở để đề xuất những giải pháp cho việc xây dựng chính sách thu hút và sử dụng nhân lực CNTT trên địa địa bàn tỉnh
Chương 3 Giải pháp chính sách thu hút và sử dụng nhân lực CNTT ở Thanh Hóa
Trước hết, Chương này xác định 5 quan điểm để trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT cho tỉnh Thanh Hóa
Có 2 nhóm giải pháp được đề xuất Nhóm giải pháp ngắn hạn: nhằm kịp thời thu hút, bổ sung và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực CNTT trong các CQNN, đáp ứng việc ứng dụng CNTT trong các CQNN từ nay đến 2015 Nhóm giải pháp dài hạn, sẽ có sự đầu tư, hợp tác chiến lược hơn để chủ động xây dựng Thanh Hóa không chỉ là nơi thu hút nhân lực mà còn là nơi cũng ứng, phát triển nguồn nhân lực CNTT Đây mới thực sự là những giải pháp bền vững, chủ động khi xây dựng chính sách thu hút và sử dụng nhân lực CNTT ở Thanh Hóa đến năn 2020
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THU HÚT VÀ SỬ
DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CNTT 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 CNTT và các khái niệm liên quan
CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số [9]
Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số
Phát triển CNTT là hoạt động nghiên cứu - phát triển liên quan đến quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; phát triển nguồn nhân lực CNTT; phát triển công nghiệp CNTT và phát triển dịch vụ CNTT
CNTT được cấu thành bởi 4 lĩnh vực:
- Cơ sở hạ tầng CNTT là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu
- Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này
- Công nghiệp CNTT là ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao sản xuất và cung cấp sản phẩm CNTT, bao gồm sản phẩm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số (tương ứng là các tên gọi công nghiệp phần cứng, công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung số)
- Nguồn nhân lực CNTT bao gồm nhân lực làm công tác đào tạo về CNTT, điện tử, viễn thông; nhân lực chuyên nghiệp về CNTT, điện tử, viễn thông làm trong các doanh nghiệp và công nghiệp; nhân lực cho ứng dụng CNTT của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; cán bộ, viên chức và mọi người dân sử dụng, ứng dụng CNTT [2]
1.1.2 Nguồn nhân lực CNTT
Nguồn nhân lực KH&CN
Theo UNESCO (United Nations' Educational, Scientific and Cultural Organization -Tổ chức Văn hóa và Khoa học, Giáo dục Liên hiệp quốc), nguồn
nhân lực KH&CN là "những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN
Trang 14trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ …" [11]
Theo OECD (Organization for Economic Cooperation and Development - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), nguồn nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau [11]:
- Đã tốt nghiệp trường đào tạo nhất định nào đó về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có tay nghề trở lên)
- Không được đào tạo chính thức như đã nói ở trên, nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc
Ở Việt Nam chưa đưa ra một định nghĩa chính thức về nhân lực KH&CN hay nguồn nhân lực KH&CN Tuy nhiên, trên thực tế, khi thống kê nhân lực KH&CN chúng ta đã đưa ra định nghĩa như sau [11]:
“Nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia thường xuyên vào hoạt động KH&CN.”
Trong khuôn khổ của Luận văn, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa trên cho nguồn nhân lực KH&CN nói chung và làm cơ sở để định nghĩa nguồn nhân lực CNTT nói riêng
Khái niệm nguồn nhân lực CNTT
Trên cơ sở định nghĩa về nguồn nhân lực KH&CN được sử dụng trên, nguồn nhân lực CNTT được định nghĩa như sau:
Nguồn nhân lực CNTT là nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực CNTT, gồm toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn về CNTT và những người có trình độ
kỹ năng CNTT thực tế tương đương mà không có bằng cấp về CNTT và tham gia thường xuyên vào hoạt động CNTT
Theo Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT, ngày 26/10/2007 của Bộ TT&TT, nguồn nhân lực CNTT được chia thành 3 nhóm là:
- Nhân lực CNTT trong quản lý nhà nước;
- Nhân lực CNTT trong công nghiệp CNTT;
Trang 15- Nhân lực phục vụ ứng dụng, đào tạo CNTT
Nguồn nhân lực CNTT là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực KH&CN, vì vậy cũng có thể được phân loại như sau:
Phân loại theo trình độ kỹ năng, gồm hai loại chính:
- Nhân lực phần cứng
- Nhân lực phần mềm
Phân loại theo trình độ đào tạo, bao gồm:
- Tin học văn phòng (chứng chỉ A,B,C)
- Trung cấp, kỹ thuật viên CNTT, Lập trình viên CNTT (chứng chỉ)
- Cao đẳng CNTT
- Đại học CNTT
- Sau đại học CNTT
Phân loại nguồn nhân lực CNTT theo tính chuyên nghiệp, bao gồm:
- Nhân lực chuyên ngành CNTT: Lực lượng nhân lực có bằng cấp chuyên môn
về CNTT
- Nhân lực CNTT không chuyên: Lực lượng nhân lực có trình độ kỹ năng thực
tế tương đương thường xuyên tham gia vào hoạt động CNTT, nhưng không có bằng cấp về CNTT Không được đào tạo chuyên ngành CNTT, chỉ được đào tạo bổ sung hoặc tự đào tạo để sử dụng CNTT phục vụ công tác chuyên môn nghiệp vụ của mình
Ngoài ra còn có thể được phân loại theo độ tuổi, giới tính
Trong giới hạn nghiên cứu, đề tài này chỉ tập trung vào nhóm nhân lực CNTT trong quản lý nhà nước
Khái niệm CIO (Chief Information Officer) – Giám đốc Công nghệ thông tin [7]
Ngày nay, khái niệm thông tin phải được hiểu là thông tin điện tử, được sinh
ra, lưu trữ, xử lý và phân phối trong mọi hoạt động của một tổ chức bằng công cụ của CNTT là máy tính, phần mềm, mạng viễn thông, Sự phát triển của CNTT đã xâm nhập và tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của xã hội, làm thay đổi cả về công tác quản lý và lãnh đạo Do vậy đã xuất hiện một vai trò lãnh đạo mới: lãnh đạo về thông tin trong các tổ chức Ứng với vai trò lãnh đạo này là Giám đốc Công
Trang 16nghệ thông tin (CIO) là một nhà lãnh đạo chiến lược dùng CNTT để phụ trách toàn diện về vấn đề thông tin trong tổ chức Khi thông tin được nhìn nhận là nguồn lực quan trọng trong các tổ chức thì CIO là người chịu trách nhiệm về việc sử dụng hiệu quả nguồn lực này phục vụ cho quá trình phát triển của tổ chức mình
Như vậy CIO trong một tổ chức sẽ là người thay mặt lãnh đạo tổ chức để nắm bắt mọi diễn biến về mặt thông tin của tổ chức cũng như bên ngoài, thâu tóm mọi tiến bộ công nghệ và những khả năng ứng dụng của công nghệ vào quản lý và tổ chức Vai trò của CIO càng ngày càng được tăng cao khi cơ sở hạ tầng CNTT và truyền thông của tổ chức được hình thành, phát triển và trở thành nền móng làm việc mới cho mọi hoạt động của tổ chức
1.2 Đặc điểm của ngành CNTT
1.2.1 Ngành công nghệ có tốc độ phát triển cao
CNTT bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1970, tuy nhiên đến thập niên 1990 ngành CNTT mới thật sự phát triển và phát triển với tốc độ rất nhanh Những tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực CNTT diễn tiến liên tục, có thể nói là nhanh đến chóng mặt Thế giới ghi nhận từ sau thập niên 1990, tốc độ phát triển trung bình hàng năm của ngành duy trì từ 8%-10% và cao gấp 1,5 lần sự phát triển kinh tế của thế giới [12]
Trong ngành CNTT lưu truyền Định luật Moore nổi tiếng với phát biểu tổng quát về khả năng chế tạo ra CPU (Central Processing Unit- Bộ vi xử lý) : "Số lượng transistor trên mỗi đơn vị inch vuông sẽ tăng lên gấp đôi sau mỗi năm" [13] (CPU được xem như “bộ não” của máy vi tính, như vậy cũng có thể hiểu nôm na rằng máy vi tính chế tạo năm sau sẽ có tốc độ nhanh gấp đôi so với năm trước) Điều này giải thích tại sao nhà sản xuất có thể giảm giá thành trong khi vẫn tiếp tục nâng cao hiệu suất của phần cứng Hãy xem sự phát triển của ngành công nghiệp phần cứng
CNTT qua ví dụ sau:
Năm 1946: chiếc máy tính điện tử đầu tiên có tên là ENIAC (Electronic Nummerical Intgrator and Calculator) ra đời tại Mỹ ENIAC có 18.000 bóng đèn điện tử, chiếm diện tích sàn: 167 m2, cân nặng 30 tấn, tiêu thụ điện 160 KW/h Trong 1 giây, ENIAC chỉ có thể thực hiện 5.000 phép tính cộng, 357 phép tính nhân hoặc 38 phép tính chia
Trang 17Năm 2010: Máy vi tính sử dụng chip corei7 của Intel, có khoảng 200 triệu transistor, công nghệ 45-nanometer, có khối lượng đủ để xách tay, điện năng tiêu thụ chỉ bằng 1 bóng đèn điện thắp sáng nhưng có thể thực hiện được 2 nghìn tỉ phép tính trong một giây [14]
1.2.2 Vòng đời sản phẩm ngắn
Bắt nguồn từ sự phát triển với tốc độ cao, sản phẩm CNTT thường có vòng đời rất ngắn Theo Hiệp hội Nghiên cứu Máy tính của Mỹ [11], vòng đời của sản phẩm CNTT thường chỉ có 2 năm và tối đa là 4 năm thì các sản phẩm CNTT đã bị xem là lạc hậu
1.2.3 Chi phí nghiên cứu và phát triển ngành cao
Phát minh và cải tiến thường xuyên là một trong những đặc điểm quan trọng của ngành Tuy nhiên chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển của ngành lại rất cao Theo số liệu báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Thượng Hải, chi phí nghiên cứu và phát triển có thể chiếm đến 15%-20% doanh thu hàng năm [12]
1.2.4 Tính tích hợp cao
Ngày nay CNTT đã thâm nhập và tích hợp vào sâu trong các ngành khác như
cơ khí, sản xuất ô tô, năng lượng, giao thông, dệt, luyện kim, điện tử…làm cho các ngành này nhanh chóng phát triển Mạng viễn thông, mạng truyền hình và mạng máy tính đã dần tích hợp vào nhau, chia sẽ thông tin, tài nguyên của nhau
và giúp cho các nước trên thế giới xích lại gần nhau hơn
1.2.5 Tập trung đầu tư vào máy tính và thiết bị viễn thông
Bắt đầu từ năm 2001, sản xuất thiết bị điện tử tăng khoảng 28.9% và sản xuất máy tính cá nhân tăng hàng năm vào khoảng 26.9% [12]
1.2.6 Sự phát triển của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Thế giới trong những năm gần đây ghi nhận sự phát triển CNTT của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Trong báo cáo xếp hạng chỉ số cạnh tranh CNTT toàn cầu năm 2010 do website Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố, gồm 139 nước được xếp hạng; khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có 7 nước nằm trong top 20 nước đứng đầu Cụ thể là Singapore(2), Đài Loan (6), Hàn Quốc (10), Hồng Kông (12),
Úc (17), New Zealand (18), và Nhật Bản (19) Ngoài ra còn có hai nước của khu
Trang 18vực này được báo cáo đánh giá có sự phát triển nhanh nhất là Trung Quốc (27) và Việt Nam (59) kể từ năm 2006 Hiện tại, CNTT thế giới chia làm bốn khu vực là
Mỹ, Nhật, Châu Á – Thái Bình Dương và Tây Âu [15]
1.3 Xu hướng ứng dụng và phát triển CNTT trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 CNTT phục vụ phát triển toàn diện của xã hội
Các nhà kinh tế học từ lâu đã nhận thức rằng CNTT và sự phát triển kinh tế
là hai yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ Nhà kinh tế người Mỹ Thomas Friedman trong tác phẩm “Thế giới là phẳng” đã khẳng định “CNTT là một trong những yếu tố then chốt tạo nên làn sóng toàn cầu hóa thứ ba và làm cho thế giới trở nên phẳng” [6]
Trong những thập niên gần đây, CNTT đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ cấu xã hội CNTT góp phần tạo ra nhiều ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện đại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp truyền thống, thông qua một hệ thống hỗ trợ như viễn thông, thương mại điện tử, dịch vụ truyền thông đa phương tiện
Nhiều nước đang phát triển, sớm biết tận dụng cơ hội ứng dụng và phát triển CNTT, nên đã tạo được những bước phát triển vượt bậc Tiêu biểu trong nhóm nước này phải kể tới là Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc …
Các tổ chức quốc tế đã đánh giá cao vai trò của CNTT đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các nước, do đó đã tổ chức nhiều diễn đàn, hội nghị, hội thảo để tuyên truyền, quảng bá, tổng kết kinh nghiệm, nêu bài học, khuyến cáo chương trình hành động, hướng dẫn và hỗ trợ các nước hoạch định chiến lược ứng dụng và phát triển CNTT
1.3.2 Xu hướng khai thác và phát triển phần mềm mã nguồn mở
Một trong những xu hướng phát triển ứng dụng CNTT đó là khai thác và phát triển mã nguồn mở Đặc biệt là ở các nước đang phát triển tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương Phần mềm mã nguồn mở là phần mềm với mã nguồn được công
bố và sử dụng một giấy phép nguồn mở Giấy phép này cho phép bất cứ ai cũng có
Trang 19thể nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phần mềm, và phân phối phần mềm ở dạng chưa thay đổi hoặc đã thay đổi Phần mềm mã nguồn mở cho phép thay đổi và phát triển theo ý muốn để thực hiện mọi nội dung công việc đặt ra với chi phí thấp nhất Mã nguồn mở mang lại cho các nhà phát triển phần mềm nhiều đặc tính ưu việt, ví dụ như: Tính tự do khai thác, tính phát triển liên tục, tính mở Lợi ích cho các quốc gia đang phát triển là có thể sử dụng mã nguồn mở để đáp ứng hầu hết các nhu cầu của
họ Mã nguồn mở cho phép các nước đang phát triển đi tắt vào kỷ nguyên thông tin Trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu, mã nguồn mở có vai trò rất quan trọng Tuy nhiên, nhiều tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia trên thế giới đã khuyến cáo sử dụng mã nguồn mở và đầu tư cho phát triển mã nguồn mở: trong năm 2003, Malayxia đã đầu tư 30 triệu USD; Nhật Bản cũng dành 10 triệu USD cho phần mềm
mã nguồn mở Nhiều công ty đa quốc gia như Oracle, IBM, HP cũng đang phát triển mã nguồn mở Trung Quốc đã phát triển hệ điều hành Linux và các giải pháp
mã nguồn mở khác trong Chính phủ của họ và tới người dân Việt Nam cũng đang quan tâm phát triển chương trình mã nguồn mở và cho ra đời những Linux Distro như VNLinux, CMC-Linux, Vietkey-Linux, Hacao-Linux
1.3.3 Xu hướng phát triển và sử dụng mạng không dây
Kết nối mạng không dây đang dần trở thành một xu hướng ứng dụng phổ biến, bên cạnh mạng truyền thống dùng dây cáp Chất lượng tin cậy, hoạt động ổn định, thủ tục cài đặt đơn giản, giá cả thích hợp là những yếu tố đặc trưng, chứng tỏ kết nối không dây đã sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu trao đổi thông tin khác nhau; từ sản xuất, kinh doanh đến nhu cầu giải trí Động lực chủ yếu cho sự tăng trưởng này là những công nghệ thế hệ mới đem tới thông lượng cao hơn, phạm vi kết nối xa hơn
và công suất mạnh hơn Nhiều chuyên gia cho rằng Wi-Fi, WiMax, 3G, 4G… sẽ phát triển, cho phép triển khai nhiều loại hình dịch vụ mới Công nghệ truyền thông không dây phát triển đã cho phép các máy tính cá nhân (laptop), điện thoại di động (smart phone), máy tính bảng (tablet)… đếu có khả năng truy cập Internet dễ dàng ở mọi nơi, mọi lúc Điều đó đã mở ra một triển vọng lớn ứng dụng CNTT vào trong đời sống kinh tế xã hội
Trang 201.3.4 Xu hướng phát triển truyền thông đa phương tiện và hội tụ CNTT - viễn thông - phát thanh và truyền hình
CNTT được phát triển và ứng dụng mạnh mẽ trên nền cơ sở hạ tầng viễn thông Đồng thời cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển ngành viễn thông trên thế giới thông qua sự bùng nổ của lưu lượng thông tin truyền dẫn trên các mạng viễn thông, dịch vụ đa phương tiện mới, sự tăng nhanh của thông tin di động Mạng số liệu và mạng điện thoại được hợp nhất, cho phép tích hợp các dịch
vụ đòi hỏi băng thông lớn, kéo theo sự hội tụ của truyền hình, đa phương tiện
Xu hướng hội tụ viễn thông - tin học - truyền thông - phát thanh truyền hình đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, hình thành những loại hình dịch vụ mới, khả năng mới, cách tiếp cận mới đối với phát triển kinh tế - xã hội Truyền thanh, truyền hình ngày càng được số hóa mạnh mẽ hơn và sử dụng ngày càng nhiều công nghệ mới nhất của CNTT Các công nghệ số hóa hình ảnh, âm thanh vốn chỉ được sử dụng trên nền máy vi tính cá nhân (PC), nay đã trở nên rất thông dụng, dẫn tới việc sản xuất các thiết bị truyền thông đa phương tiện mới Mạng lưới viễn thông với băng thông rộng, tốc độ lớn, đã tạo điều kiện cho các dịch vụ video theo yêu cầu phát triển mạnh Internet đang từng bước trở thành phương tiện đưa các chương trình truyền thanh, truyền hình, các xuất bản sản phẩm điện tử đến với người sử dụng ở khắp mọi nơi trên thế giới Ngược lại, hệ thống truyền hình cáp đã
có khả năng cung cấp dịch vụ Internet và truyền số liệu; Màn hình TiVi có thể vừa xem truyền hình vừa truy cập Internet Sự hội tụ của CNTT, viễn thông và phát thanh, truyền hình đang tạo ra một thị trường rất rộng lớn cho công nghiệp nội dung
số
1.4 Đặc điểm nguồn nhân lực CNTT
Với những đặc thù riêng của ngành CNTT, nguồn nhân lực CNTT có các đặc điểm chính sau:
1.4.1 Nguồn nhân lực trẻ
Do ngành CNTT là ngành mới so với các ngành khác và cho đến thời điểm hiện tại, CNTT mới chỉ bắt đầu phát triển ở một số nước đang phát triển
vì vậy mà ngành CNTT được xem là ngành công nghiệp còn non trẻ Bên cạnh
đó, CNTT là ngành công nghệ cao, phát triển liên tục vì vậy nguồn nhân lực
Trang 21CNTT chủ yếu là nhân lực trẻ Ở Mỹ, khoảng 75% nhân lực CNTT dưới tuổi 45 [16] Ở Việt Nam, trên 50% lao động CNTT tuổi dưới 40 [3]
1.4.2 Nguồn nhân lực có trình độ cao
Đặc điểm của ngành CNTT là ngành thường xuyên cải tiến và thay đổi công nghệ do đó đội ngũ lao động trong ngành này đòi hỏi phải có trình độ cao và luôn luôn được đào tạo cập nhật để theo kịp sự phát triển của ngành Theo thống kê của Cục Thống kê Lao động của Mỹ, năm 2002 ở Mỹ có 66% lao động có trình
độ cử nhân trở lên [16] Riêng ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ TT&TT, trên 80% lao động trong ngành công nghiệp phần mềm và nội dung số có trình độ CNTT từ cao đẳng trở lên [3]
1.4.3 Nguồn nhân lực có tư duy toán học tốt
Nền tảng của CNTT dựa trên tư duy toán học, vì vậy, lao động trong ngành CNTT đòi hỏi phải có tư duy toán học giỏi Tại Việt Nam, nhiều cơ sở đào tạo CNTT hiện vẫn duy trì khoa toán tin hay bộ môn toán tin
1.4.4 Nguồn nhân lực năng động, sáng tạo và lòng say mê nghiên cứu
CNTT là ngành có tính tích hợp cao, bản thân ngành CNTT đã thâm nhập vào hầu hết các ngành công nghiệp khác vì vậy lao động CNTT cũng không có biên giới Các lao động CNTT hầu như có mặt ở hầu hết các lĩnh vực từ nông nghiệp, du lịch, văn hóa, dịch vụ, đến công nghiệp
Ngoài ra, với sự thay đổi liên tục của công nghệ, đòi hỏi các lao động tồn tại trong ngành CNTT phải có sự say mê với nghề nghiệp để nghiên cứu và sáng tạo không ngừng
1.4.5 Nguồn nhân lực có năng suất lao động cao
Lao động CNTT có năng suất cao, tuy nhiên năng suất này lại rất khác nhau giữa những lao động có tay nghề khác nhau, đặt biệt là những lao động trong lĩnh vực phần mềm Trong công nghiệp phần mềm, một lập trình viên giỏi có thể cho năng suất gấp 10 lần một lao động trung bình[14] Do đó, một công ty
có thể có nhiều lao động trung bình nhưng năng suất có thể không bằng một công
ty có ít lao động nhưng lại là lao động giỏi Vì vậy, các doanh nghiệp phần mềm thường chạy đua trong việc tuyển chọn những lập trình viên giỏi và có kinh nghiệm
Trang 221.4.6 Sự thống trị của lao động nam giới trong nguồn nhân lực CNTT
Ở Mỹ lao động nam giới trong ngành CNTT chiếm 65% [16] Ở Nepal tỷ lệ nam giới ngành CNTT chiếm 86% [17]
Nam giới không chỉ chiếm tỷ lệ lớn lao động trong ngành mà còn đảm nhiệm các vị trí quan trọng như kỹ sư điện tử, chuyên gia phân tích hệ thống máy tính, lập trình viên Trong khi đó, nữ giới chỉ đảm nhận các công việc khiêm tốn như nhập dữ liệu, điều khiển máy, trực tổng đài Theo các nhà khoa học, việc thiếu cơ hội học tập, thiếu tính sáng tạo đã làm cho phụ nữ trở nên yếu thế trong ngành CNTT
1.4.7 Nguồn nhân lực có trình độ ngoại ngữ (tiếng Anh) cao
Do CNTT bắt nguồn từ Mỹ và phát triển mạnh tại các nước phương Tây, nên
để có thể học tập, sử dụng và làm việc với CNTT đòi hỏi người lao động phải
có trình độ Anh văn tối thiểu Ngày nay, có một số nước phát triển CNTT mạnh như Nhật, Hàn Quốc Tuy nhiên, hầu hết các công nghệ mới đều được hướng dẫn bằng tiếng Anh
1.5 Vai trò của CNTT, nguồn nhân lực CNTT trong phát triển kinh tế xã hội
Trước đây khi nói đến CNTT, người ta thường nghĩ đến chiếc máy vi tính, nhưng giờ đây bao gồm Internet, Web, thư điện tử, chữ ký số, thương mại điện tử, chính phủ điện tử, truyền hình trực tuyến, họp trực tuyến, học trực tuyến … và rất nhiều thứ khác nữa Chúng đã làm thay đổi căn bản bộ mặt của nhiều ngành sản xuất kinh doanh, cải tiến phương pháp đào tạo, nghiên cứu, cách thức chữa bệnh và
Trang 23cách thức giao tiếp hàng ngày giữa các doanh nghiệp, tổ chức, công sở và cộng đồng
Lấy sự xuất hiện của thư điện tử (email) làm ví dụ: Thay vì một bức thư được viết lên giấy, cho vào phong bì, dán tem và chuyển qua đường bưu điện đến người nhận; thư điện tử được lưu dưới dạng các tệp văn bản trong máy tính và được chuyển đi qua mạng Internet Chính vì vậy, thư điện tử đã trở nên được ưa chuộng bởi các lợi thế so với thư gửi qua đường Bưu điện là: tốc độ nhanh, chi phí rẻ, không có khoảng cách…Với những thế mạnh và tiện ích đó, thư điện tử đã nhanh chóng thay thế cho thư truyền thống
Xu thế bao trùm xuyên suốt nửa đầu thế kỷ 21 là cuộc cách mạng CNTT tiếp tục phát triển nhanh chóng, tạo nên những bước nhảy vọt chưa từng có trên thế giới, tác động đến mọi lĩnh vực của xã hội, đời sống kinh tế; tạo nên những nét đặc trưng chủ yếu cho một giai đoạn phát triển mới Sự hình thành một cơ cấu xã hội, mà CNTT như một nguồn lực kinh tế, được sử dụng để khuyến khích đổi mới, tăng hiệu quả, tăng năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế; mạng thông tin trở nên phổ cập; mọi người sử dụng thông tin, tri thức như một nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống; việc học tập trở thành thường xuyên và suốt đời thông qua mạng máy tính; mọi hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính, hầu hết mọi giao dịch thương mại đều thông qua mạng - đó là kinh tế tri thức
1.5.2 CNTT với quá trình hội nhập và toàn cầu hoá
Một ứng dụng quan trọng của CNTT là mạng Internet, nó đang làm cho thế giới ngày càng trở nên nhỏ bé CNTT đã xóa đi khoảng cách địa lý, không biên giới
sẽ đưa hoạt động kinh tế vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu Vốn sản xuất, hàng hóa, sức lao động, thông tin và công nghệ đều có xu hướng trao đổi, sử dụng và được điều phối xuyên quốc gia Mối quan hệ kinh tế thương mại, công nghệ và hợp tác giữa các nước, các doanh nghiệp ngày càng được tăng cường nhưng đồng thời tính cạnh tranh cũng trở nên mạnh mẽ Cạnh tranh tiến hành trên phạm vi toàn cầu, không chỉ có các công ty xuyên quốc gia mà ngay cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Mạng Internet, nối hàng trăm triệu máy tính của người dùng, có thể truy cập đến hàng triệu nguồn cung cấp thông tin trên khắp thế giới, không còn chỉ là một
Trang 24phương tiện kỹ thuật đơn thuần, mà đã trở thành một môi trường mới của mọi hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục có tác động rất lớn đến các chuyển biến nhanh chóng của đời sống con người trên khắp hành tinh
Việc truyền tải nhanh chóng thông tin làm cho nhịp điệu cuộc sống sản xuất kinh doanh càng nhanh hơn, do vậy mà chu kỳ tồn tại của kỹ thuật và sản phẩm ngày càng ngắn lại Các khâu như sản xuất, cung ứng và tiêu thụ đều phải thay đổi phù hợp với điều kiện thông tin nhanh chóng, có thể phải giảm hoặc huỷ bỏ chức năng của nhà kho, làm cho các xí nghiệp chuyển từ sản xuất với quy mô lớn sang sản xuất theo đơn "đặt hàng" thông qua mạng Internet; làm cho khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng ngày càng thu hẹp lại và dần dần mất đi, không những người sản xuất có thể kịp thời hiểu được nhu cầu của khách hàng, mà người tiêu dùng còn có thể tham gia quá trình sản xuất thực tế, lựa chọn, thiết kế và sản xuất ra những sản phẩm thích hợp nhất cho mình
Với sự hỗ trợ của thành quả CNTT, xu thế hội nhập và toàn cầu hoá trong mọi lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại (hàng hoá và dịch vụ) và hoạt động tài chính, chứng khoán là các lĩnh vực đang được quan tâm phát triển mạnh nhất
1.5.3 CNTT đóng vai trò động lực phát triển của nền kinh tế
Trong nền kinh tế mới, tri thức và sức lao động tri thức là yếu tố sản xuất quan trọng nhất Chức năng chủ yếu của nền kinh tế hiện đại là sản xuất và phân phối tri thức, thông tin chứ không phải là sản xuất và phân phối vật chất Tri thức trở thành nguồn gốc và động lực của tăng trưởng kinh tế
CNTT sẽ giúp thông tin và tri thức phát huy được những mặt mạnh của mình, như: con người thâm nhập tới mọi nguồn tri thức một cách dễ dàng và kịp thời, thậm chí tức thời; tạo ra những khả năng hợp tác vượt qua các giới hạn về không gian, thời gian và khác biệt văn hoá; làm tăng giá trị của các nguồn tri thức do được nhân bản, cung cấp và trao đổi thuận tiện Thông tin, tri thức là yếu tố có giá trị và
có thể sản xuất thông tin để trao đổi, và sau khi sử dụng không những không mất đi,
mà càng sử dụng càng được hoàn thiện để tăng thêm giá trị Các sản phẩm của CNTT như máy tính, các thiết bị truyền thông, các loại phần mềm, v.v chứa hàm lượng tri thức rất phong phú đã được tích luỹ, để từ đó giúp cho con người tạo ra tri
Trang 25thức mới, và làm cho tri thức có hiệu quả trong đời sống Vì vậy, ý nghĩa của "tri thức tạo tri thức" còn được thể hiện rõ ràng trong chính các sản phẩm của CNTT Giá trị thông tin và tri thức có thể biểu thị thông qua lợi nhuận kinh tế và có thể tạo ra lợi nhuận bằng cách sử dụng thông tin, mang lại những "tỷ suất lợi nhuận tăng" cho các ngành kinh tế tri thức, đồng thời với tính năng động, dễ đổi thay và biến động của mình, chúng cũng có thể mang lại nhiều khả năng linh hoạt thúc đẩy phát triển nhanh chóng đời sống kinh tế
Việc liên kết mạng và ứng dụng CNTT rộng khắp đã làm cho tính tri thức trong nền kinh tế ngày càng rõ rệt, tri thức trở thành yếu tố và nguồn sản xuất quan trọng nhất; tài sản quý giá nhất trong xí nghiệp không phải là vốn mà là trí lực Sự phát triển và phồn vinh của nền kinh tế, một đất nước sẽ không chỉ dựa vào số lượng mà chủ yếu dựa vào năng lực và trình độ công nghệ và sự sáng tạo tri thức
1.5.4 Nguồn nhân lực CNTT đóng vai trò trọng tâm trong phát triển CNTT
và nền kinh tế tri thức
Trong CNTT cũng như nền kinh tế tri thức, yếu tố nhân lực đóng vai trò sống còn và là yếu tố quyết định mọi thành công của các tổ chức, doanh nghiệp Để có đủ nhân lực đáp ứng được yêu cầu của phát triển CNTT, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đặt yếu tố con người vào địa vị trọng tâm của chiến lược phát triển CNTT, coi vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực CNTT là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu Hầu hết các quốc gia đều xem yếu tố con người giữ vị trí trung tâm của chiến lược phát triển CNTT và đều dành cho công tác giáo dục - đào tạo CNTT những ưu tiên to lớn Đối với các nước đứng đầu thế giới về thành tựu ứng dụng và phát triển CNTT như Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Singapore việc hình thành đội ngũ cán bộ quản lý,
kỹ thuật, chuyên gia CNTT đông đảo, giàu năng lực, có tư duy sáng tạo, được coi là nhiệm vụ quan trọng nhất Ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng luôn chăm lo đến sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng nguồn lực con người, trong đó chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và chuyên gia CNTT Đảng ta đã khẳng định, phát triển nguồn nhân lực cho CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với
việc ứng dụng và phát triển CNTT Thực hiện chủ trương của Đảng, trong giai đoạn
2005- 2010, Chính phủ và các bộ ngành, địa phương cũng đã tập trung quan tâm
Trang 26công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao này, đến nay chúng ta cũng đã có một trình độ CNTT tương xứng với các nước trong khu vực
1.6 Thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao trong các CQNN
1.6.1 Tầm quan trọng của thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao (nhân tài)
Khi nền kinh tế thị trường phát triển, các quốc gia, tập đoàn, tổ chức muốn giành lợi thế đều phải tính đến việc thu hút nhân tài Thu hút nhân tài ngày nay được coi trọng như đào tạo, một số nước còn nâng việc thu hút nhân tài lên thành quốc sách bởi nó có tầm quan trọng đặc biệt:
- Khi tổ chức phát triển luôn thiếu hụt nhân tài: Bất kỳ tổ chức nào, khi phát triển đều đòi hỏi nguồn nhân lực có số lượng lớn, chất lượng cao, nhất là nhân tài
Sự phát triển luôn đi kèm với nó là thiếu hụt nhân tài, bản thân tổ chức có nỗ lực đến mấy cũng không thể đào tạo kịp cho nên cần phải thu hút từ các tổ chức khác, nơi khác những nhân tài cần cho sự phát triển của tổ chức mình
- Khi nảy sinh những vấn đề mới, không có người đảm nhận, bắt buộc phải thu hút nhân tài: ở bất kỳ lĩnh vực nào, cấp nào cũng luôn xuất hiện những vấn đề mới thường ở đó thấy ngay sự thiếu chuẩn bị về nhân lực, nhất là những nơi cần trình độ cao Cho nên ở đâu cũng có nhu cầu thu hút nhân tài để giải quyết những vấn đề mới nảy sinh
- Thu hút nhân tài tạo ra đột phá: Khi lâm vào trì trệ, tổ chức muốn thoát ra thì cần thu hút nhân tài để tạo đột phá đưa tổ chức vào chu kỳ phát triển mới Hiện nay, khi bước vào nền kinh tế thị trường, trong điều kiện hội nhập, không ít tổ chức của
ta rất lúng túng trong hoạt động vì tư duy cũ còn nặng nề, lại thêm bị gò bó bởi cấu trúc cũ nên gặp không ít khó khăn, bế tắc thì việc thu hút nhân tài mới có tư duy mới sẽ làm tổ chức thay đổi hẳn
- Thu hút nhân tài nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Thu hút nhân tài làm thay đổi phong cách làm việc, tạo ra phong cách mới, khiến
tổ chức hoạt động hiệu quả hơn Nhân tài thường ở vị trí cao nên tác động rất lớn đến nguồn nhân lực và thường là những tác động tích cực, khiến cho nguồn nhân lực hoạt động hiệu quả hơn Thu hút nhân tài làm những tài năng tiềm ẩn của mỗi cá
Trang 27nhân trong tổ chức được dịp bộc phát và có thể xuất hiện thêm nhiều nhân tài nữa
Từ đó, chất lượng nguồn nhân lực cũng được nâng lên
- Thu hút nhân tài mang lại hiệu quả kinh tế cao: Thu hút nhân tài không mất công đào tạo, lại kịp thời khi tổ chức cần, nên những đãi ngộ dù cao vẫn còn rẻ hơn đào tạo Vì vậy, ngày nay các nước phát triển thường dùng những chế độ hấp dẫn về lương, điều kiện sinh hoạt, làm việc để thu hút nhân tài từ các nước kém phát triển
1.6.2 Tình hình thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao trong các CQNN
- Việc thu hút nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao hiện nay cũng có những đặc điểm và tầm quan trọng như thu hút nhân tài trình bày ở trên Bởi lẽ, CNTT là một ngành công nghệ mới, có tốc độ phát triển cao, đòi hỏi nguồn nhân lực trẻ, trình
độ cao, năng động, sáng tạo và năng suất lao động cao
- Xu hướng di động nhân lực CNTT từ khu vực công sang các khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn nước ngoài hiện nay khá phổ biến cho nên càng gây nên hiện tượng “khan hiếm” nhân lực CNTT trong khối các CQNN Do nhu cầu về nguồn nhân lực CNTT ở các khối đều tăng mạnh hiện nay, nên việc tuyển dụng nhân lực CNTT có trình độ năng lực khá giỏi trở nên rất khó khăn Vì vậy đòi hỏi Nhà nước phải có các chính sách ưu đãi để thu hút nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao vào làm việc trong khối các CQNN
- Thời gian qua, một số địa phương có đưa ra chính sách riêng để thu hút nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao theo hình thức tuyển thẳng vào công chức, cấp cho một số tiền “thu hút nhân tài” ban đầu, cho hưởng thêm tiền phụ cấp hàng tháng và một số ưu đãi khác… Tuy nhiên, lương thu nhập trong khối CQNN không thể cạnh tranh với các khối doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài Mặt khác việc bố trí công việc chưa họp lý, đánh giá hiệu quả công việc của nhân lực CNTT thường bị xem nhẹ là bộ phận phụ trợ… dẫn đến tâm lý chán nản và rời bỏ khối CQNN
- Như vậy có thể thấy việc thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT trong khối CQNN nói chung, có rất nhiều bất cập Biệt đãi người tài không chưa đủ, mà cần tạo niềm tin ở nơi họ Những người tài ngoài thu nhập, nhu cầu được cống hiến, được tôn trọng và được vinh danh là rất lớn Vì vậy, đòi hỏi phải có những chủ
Trang 28trương và chính sách đồng bộ hơn nữa để giúp cho việc có thể tuyển dụng và giữ chân được nhân lực CNTT có trình độ cao ở lại công tác trong khối CQNN
1.7 Mục tiêu của Chính phủ về phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005) và phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 (Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009) Từ các Quyết định này cho thấy mục tiêu và định hướng của Chính phủ đối với phát triển nguồn nhân lực CNTT đến 2015 và tầm nhìn đến 2020 như sau:
1.7.1 Mục tiêu phát triển đến năm 2015
Mục tiêu chung
- Phát triển mạnh nguồn nhân lực CNTT (nhân lực làm công tác đào tạo về CNTT, điện tử, viễn thông; nhân lực chuyên nghiệp về CNTT, điện tử, viễn thông làm trong các doanh nghiệp và công nghiệp; nhân lực cho ứng dụng CNTT của các
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; cán bộ, viên chức và mọi người dân sử dụng, ứng dụng CNTT) nhằm đảm bảo đủ nhân lực CNTT phục vụ nhu cầu phát triển và ứng dụng CNTT điện tử, viễn thông, phục vụ công cuộc xây dựng kinh tế tri thức và xã hội thông tin, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
- Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hệ thống đào tạo nhân lực CNTT, để trình độ đào tạo nhân lực CNTT của nước ta tiếp cận trình độ và có khả năng tham gia thị trường đào tạo nhân lực CNTT quốc tế, từng bước trở thành một trong những nước cung cấp nhân lực CNTT chất lượng cao cho các nước trong khu vực và trên thế giới
Mục tiêu cụ thể
- Tạo được bước chuyển biến đột phá về chất lượng trong đào tạo nguồn nhân lực CNTT Đào tạo CNTT, điện tử, viễn thông ở các trường đại học đạt trình độ và chất lượng tiên tiến trong khu vực các nước Đông Nam Á; có khoảng 30% số lượng
Trang 29sinh viên CNTT, điện tử, viễn thông sau khi tốt nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để có thể tham gia thị trường lao động quốc tế
- Đảm bảo 100% học sinh trung cấp chuyên nghiệp và học nghề được đào tạo các kiến thức và kỹ năng ứng dụng về CNTT Đến năm 2010, 100% sinh viên đại học, cao đẳng, học sinh trung học phổ thông, 50% học sinh trung học cơ sở và 20% học sinh tiểu học được học tin học và đến năm 2015 đạt 100% đối với học sinh trung học cơ sở, 80% học sinh tiểu học được học tin học;
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ giáo viên dạy tin học cho các cơ sở giáo dục phổ thông, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giảng dạy và trong quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học 65% số giáo viên có đủ khả năng ứng dụng CNTT để hỗ trợ cho công tác giảng dạy, bồi dưỡng;
- Tăng cường xây dựng đội ngũ giảng viên, giáo viên CNTT, điện tử, viễn thông ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các cơ sở dạy nghề, nâng cao chất lượng và tăng nhanh về số lượng Ở các trường đại học, cao đẳng bảo đảm đạt tỷ lệ trung bình 15 – 20 sinh viên/giảng viên trong đào tạo CNTT; 70% số giảng viên CNTT ở đại học và trên 50% giảng viên CNTT ở cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên; tăng nhanh số giảng viên có trình độ tiến sĩ; đến cuối năm
2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng, giáo viên trung học phổ thông, giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, sinh viên có máy tính riêng để dùng
- Đảm bảo đủ nhân lực, đáp ứng được sự phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT và truyền thông Từ nay đến năm 2015, cung cấp cho các doanh nghiệp 250.000 lao động chuyên môn về CNTT, điện tử, viễn thông có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp và sơ cấp nghề (đào tạo 1 năm) trở lên, trong đó có 50% lao động có trình độ cao đẳng, đại học và 5% có trình độ thạc sĩ trở lên;
- Đẩy mạnh việc phổ cập kiến thức và kỹ năng ứng dụng CNTT Đảm bảo đa
số cán bộ, công chức, viên chức; được đào tạo về ứng dụng CNTT trong công việc của mình;
- Đào tạo cán bộ chuyên trách CNTT có trình độ cao đẳng hoặc tương đương trở lên đáp ứng đủ cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ
sở nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng và cán bộ chuyên trách trình độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên ở các cơ sở giáo dục tiểu học, giáo dục trung học Bồi dưỡng
Trang 30chuyên môn về CNTT cho các cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đáp ứng yêu cầu trình độ được quy định tại Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ
1.7.2 Định hướng phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2020
- Xây dựng nguồn nhân lực CNTT đủ phẩm chất, năng lực làm chủ công nghệ,
kỹ thuật hiện đại, với cơ cấu hợp lý, đáp ứng kịp thời và thường xuyên nhu cầu xây dựng và phát triển xã hội thông tin và kinh tế tri thức Đảm bảo đủ nhân lực CNTT phục vụ nhu cầu của thị trường trong nước và một phần thị trường nước ngoài Không ngừng nâng cao nhận thức, phổ cập kiến thức và kỹ năng sử dụng các ứng dụng và dịch vụ CNTT cho toàn xã hội Đến năm 2020, 70% lao động trong các doanh nghiệp được đào tạo về CNTT
- Nâng cao chất lượng và tăng số lượng giảng viên, giáo viên CNTT, điện tử, viễn thông ở các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Đến năm 2020, trên 90% giảng viên đại học và trên 70% giảng viên cao đẳng
về CNTT có trình độ thạc sĩ trở lên, trên 30% giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ giáo viên dạy tin học cho các cơ sở giáo dục phổ thông Đến năm 2020, toàn bộ học sinh các cơ sở giáo dục phổ thông và các cơ sở giáo dục khác được học ứng dụng CNTT
1.8 Nhu cầu nguồn nhân lực CNTT của tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn
2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020
CNTT là một ngành đang phát triển với tốc độ khá nhanh Theo số liệu của Cục thống kê Thanh Hoá, tốc độ tăng trưởng của ngành CNTT - Truyền thông giai đoạn 2001-2005 đạt 10% (cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của các ngành dịch
vụ, chỉ đạt 8,1%); giai đoạn 2006-2010 đạt 13,5% (cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của các ngành dịch vụ, chỉ đạt 12,3%) Từ đó cho thấy, trong những năm tới nhu cầu nhân lực CNTT hay nói cách khác là nhân lực KH&CN trong lĩnh vực CNTT là rất lớn, đặc biệt là nhân lực có trình độ đại học và sau đại học
Với những đặc điểm, xu hướng phát triển của ngành CNTT và những quan điểm, định hướng của chính phủ về phát triển nguồn nhân lực CNTT trong giai đoạn tới như đã nói ở các phần trên, đòi hỏi cần phải có sự chuẩn bị một nguồn nhân lực đủ về số lượng và mạnh về chất lượng Nguồn nhân lực này không chỉ để
Trang 31đáp ứng nhu cầu lao động hiện tại mà còn phải chuẩn bị để đáp ứng cho nhu cầu phát triển của ngành CNTT trong tương lai
Căn cứ quy hoạch ứng dụng và phát triển CNTT tỉnh Thanh Hoá giai đoạn
2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020, dự báo về nhu cầu phát triển nguồn nhân lực CNTT riêng đối với khối cơ quan nhà nước là như sau:
- Đến năm 2015: Số lượng cán bộ chuyên trách CNTT trong các cơ quan Nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp xã phường: 815 cán bộ (chiếm tỷ lệ 100% cơ quan quản lý hành chính nhà nước có cán bộ chuyên trách CNTT) Số lượng cán bộ CIO trong các
cơ quan Nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp huyện/thị, thành phố: 48 cán bộ (chiếm tỷ lệ 100% cơ quan quản lý hành chính nhà nước có cán bộ CIO)
- Đến năm 2020: Số lượng cán bộ chuyên trách CNTT trong các đơn vị cơ quan Nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp xã phường: 1.729 cán bộ (chiếm tỷ lệ 100% CQNN có cán bộ Quản trị mạng, QLNN và hỗ trợ ứng dụng CNTT) Số lượng cán
bộ CIO trong các đơn vị cơ quan Nhà nước: 91 cán bộ (chiếm tỷ lệ 100% CQNN có cán bộ CIO)
Bảng 1.1 Dự báo nguồn nhân lực CNTT trong các CQNN
637 CQNN cấp xã, phường
91 CQNN cấp tỉnh, cấphuyện
637 CQNN cấp xã, phường
1
sau đại học, chứng chỉ CIO
Nguồn: Sở TT&TT Thanh Hoá
Trang 32Theo báo cáo của Sở TT&TT, tính đến thời điểm tháng 12/2010, trong các CQNN trên toàn tỉnh chưa có chức danh CIO; tổng số cán bộ chuyên trách về CNTT là 201 người (trình độ chuyên ngành CNTT từ Cao đẳng trở lên) Như vậy theo dự báo nhu cầu ở Bảng 1.1, trong giai đoạn 2011-2015, cần phải thu hút, tuyển dụng được số nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học chuyên ngành CNTT là 614 người Cần 48 cán bộ đang là chức vụ lãnh đạo cơ quan, trình độ đại học hoặc trên đại học, đưa đi bồi dưỡng các chương trình đào tạo CIO do Bộ nội vụ phối hợp với
Bộ TT&TT tổ chức để đảm nhiệm chức danh CIO của các cơ quan (48 cơ quan thuộc khối cơ quan quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện) Trong giai đoạn 2016-2020, số nhân lực CNTT cần bổ sung thêm cho các CQNN là 914 người ( đảm bảo 100% CQNN có cán bộ Quản trị mạng, QLNN và hỗ trợ ứng dụng CNTT) Cần thêm 43 cán bộ đảm nhiệm chức danh CIO (đảm bảo 100% CQNN có CIO)
Để giải quyết những tồn tại, bất cập cũng như tạo được sự đồng bộ, thống nhất giữa các cơ quan có liên quan về đào tạo, cung ứng nhân lực CNTT với các cơ quan
có nhu cầu sử dụng, tuyển dụng nhân lực CNTT trên địa bàn tỉnh; qua quá trình thực hiện quản lý nhà nước và cũng như tham khảo các tài liệu, chính sách có liên quan, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu các giải pháp thu hút và sử dụng nguồn nhân lực CNTT trong khối các cơ quan nhà nước tỉnh Thanh Hoá nhằm thúc đẩy phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT đối với tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới
1.9 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực CNTT của một số nước
1.9.1 Phát triển nguồn nhân lực CNTT của Mỹ
Mỹ được xem là một nước có ngành CNTT phát triển nhất thế giới Cục Thống kê Lao động của Mỹ dự đoán từ năm 1996-2006, Mỹ cần 1,3 triệu lao động CNTT [18] Để giải quyết cho bài toán này, chính phủ Mỹ đã có các chính sách sau:
Thứ nhất, từ năm 1998, Mỹ đã xác định 20 chuyên ngành CNTT để đào tạo chính thức Việc xác định được các chuyên ngành CNTT đã tạo điều kiện thuận lợi cho cả người học và cả nhà tuyển dụng Thêm vào đó, Mỹ còn xác định được các chuẩn chương trình đào tạo CNTT Ưu điểm của các chương trình chuẩn này cho phép cập nhật những công nghệ mới và nhanh nhất
Trang 33Thứ hai, hệ thống đào tạo CNTT của Mỹ chia làm hai bộ phận Hệ thống đào tạo chính quy gồm các trường cao đẳng, đại học và viện khoa học, đào tạo những kỹ sư CNTT Hệ thống đào tạo phi chính quy gồm các khóa học ngắn hạn, chuyên ngành được cung cấp bởi các trường học, trung tâm, và hiệp hội
Thứ ba, do đặc thù của ngành CNTT là phát triển nhanh và phục vụ cho nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy, người Mỹ đã tổ chức đào tạo lại lao động CNTT trong quá trình làm việc để củng cố và cập nhật công nghệ mới cũng như bổ sung các kiến thức ngoài CNTT
Thứ tư, bên cạnh phát triển hệ thống đào tạo, Mỹ còn thu hút lao động CNTT qua chính sách nhập khẩu lao động Mỗi năm gần 60.000 lao động CNTT của
Ấn Độ đến Mỹ làm việc [8]
1.9.2 Phát triển nguồn nhân lực CNTT của Hàn Quốc
Vào những năm 1990, CNTT-TT của Hàn Quốc bắt đầu phát triển, đặc biệt là
từ năm 1996-1999, CNTT-TT đã đóng góp cho nền kinh tế Hàn Quốc từ 8.1% đến 9.9% GDP Doanh thu của ngành CNTT-TT hàng năm tăng 14% Ngành công nghiệp phần mềm phát triển với tốc độ là 30% mỗi năm [19]
Với tốc độ phát triển của CNTT-TT, dự báo nhu cầu cho nhân lực CNTT cho quốc gia được xác định vào khoảng 1 triệu lao động CNTT vào năm 1998, năm 2003 khoảng 1,4 triệu lao động CNTT và đến năm 2010 khoảng gần 2 triệu lao động lao động CNTT
Bên cạnh đó, Hàn Quốc đã dự báo khủng hoảng nhân lực CNTT trình độ kỹ
sư hoặc cao hơn sẽ xảy ra vào giai đoạn 2000-2004 G iai đoạn này, riêng ngành công nghiệp phần mềm cần hơn 20.000 lao động có trình độ kỹ sư và hơn 3.000 lao động có trình độ tiến sĩ [19]
Trang 34Biểu đồ 1.1 Nhu cầu nhân lực CNTT cho ngành CNTT và truyền thông
của Hàn Quốc giai đoạn 1998-2010
127,888 158,394 70,664 83,259 138,607
440,501
176,403
280,072 118,573
78,958 169,962
610,399
83,199
235,213
553,303 245,388
Nguồn: Kwon et al., 1999, trích trong UN, 2001 [19]
Để giải quyết bài toán nhân lực CNTT, Hàn Quốc đã có các chính sách sau: Trước tiên, là mở rộng hệ thống đào tạo CNTT ở bậc đại học và tiến sĩ,
chính quyền Hàn Quốc đã hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT, mở rộng quy mô cho các trường đào tạo CNTT
Thứ hai, để nâng cao chất lượng đào tạo CNTT, chính quyền Hàn Quốc còn
hỗ trợ xây dựng các chương trình đào tạo CNTT tiên tiến, đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển về CNTT, và đào tạo giáo viên CNTT cho hệ thống giáo dục đại học
Thứ ba, chính quyền hỗ trợ cho việc đào tạo lại lao động CNTT hiện có để tăng năng suất và hiệu quả làm việc của họ
Thứ tư, tuyên truyền về CNTT, hỗ trợ cho việc ứng dụng CNTT trong cộng đồng để chuẩn bị các kiến thức CNTT cho cộng đồng nhằm phát triển nguồn nhân lực CNTT lâu dài
Thứ năm, xây dựng các chương trình phát triển nhân lực CNTT, bố trí ngân sách dồi dào cho việc đào tạo nhân lực CNTT và giao trách nhiệm cho Bộ TT&TT thực hiện
Trang 35Bảng 1.2 Đầu tư của chính phủ Hàn Quốc cho phát triển
nhân lực CNTT
Đơn vị tính: won
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Tổng Đầu tư 3,5 4,5 4,0 6,5 59,4 116,0 105,0 79,5 378,4
Nguồn: Kwon et al., 1999, trích trong UN, 2001 [19]
Cuối cùng, Hàn Quốc đã kêu gọi đầu tư của xã hội vào công tác phát triển nguồn nhân lực
Như vậy, nhờ vào những dự báo chính xác, Hàn Quốc đã có thể lập kế hoạch
và xây dựng các chương trình đào tạo CNTT hợp lý để phát triển nguồn nhân lực này Với đội ngũ nhân lực mạnh mẽ, Hàn Quốc đã phát triển mạnh ngành CNTT và trở thành một quốc gia phát triển như hiện nay
1.9.3 Phát triển nguồn nhân lực CNTT của Ấn Độ
Kể từ thập niên 1990, Ấn Độ đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao cho thế giới Để có nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao, Ấn Độ đã thành lập Hội Doanh nghiệp Dịch vụ và Phần mềm (The Association of Software and Services companies – NASSCOM) có nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển ngành CNTT quốc gia
NASSCOM đã lập dự án phát triển nguồn nhân lực quốc gia và chỉ ra rằng các nước có nhu cầu lao động CNTT của Ấn Độ là Mỹ, Nhật, Đức và Anh Dự án dự đoán từ năm 1999-2008, Ấn Độ cần 2,2 triệu lao động CNTT, trong đó có 1,1 triệu lao động CNTT có bằng chính quy, trong khi hệ thống đào tạo chính quy lúc bấy giờ chỉ có thể cung cấp khoảng 1,06 triệu lao động
Đáp ứng cho nhu cầu nhân lực như dự báo, hệ thống giáo dục và đào tạo CNTT được mở rộng gồm 2.579 đơn vị đào tạo chính quy và 2.300 đơn vị đào tạo phi chính quy Chính phủ Ấn Độ còn khuyến khích tư nhân tham gia vào hệ thống đào tạo CNTT quốc gia Ước tính đến năm 2008, Ấn Độ đào tạo được hơn 2 triệu lao động [19]
Trang 36Biểu đồ 1 2 Tỉ lệ số lao động CNTT được đào tạo đến năm 2008
Trình độ Số lượng (người)
Cao đẳng,
học, 12%
Cử nhân, 53%
Nguồn: Kwon et al., 1999, trích trong UN, 2001 [19]
Bên cạnh đó, chính phủ Ấn Độ còn phân rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc phát triển nguồn nhân lực:
Thứ nhất, Bộ Phát triển nguồn nhân lực có trách nhiệm liên kết các bộ phận có liên quan trong hệ thống giáo dục để đào tạo CNTT
Thứ hai, Bộ CNTT có trách nhiệm liên kết các doanh nghiệp với nhà trường trong việc đào tạo CNTT
Thứ ba, Hội đồng Giáo dục công nghệ có trách nhiệm làm việc với các ban ngành để xây dựng chương trình đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo CNTT Cuối cùng, các trường có trách nhiệm quản lý chương trình đào tạo CNTT tại trường theo đúng định hướng của chính phủ
Hệ thống giáo dục và đào tạo CNTT của Ấn Độ được mở rộng đã thật sự phát huy có hiệu quả trong việc đào tạo và phát triển nhân lực CNTT Ấn Độ
Để tránh tình trạng chảy máu chất xám, chính phủ Ấn Độ còn thực hiện chính sách di cư theo từng ngành, từng giai đoạn khác nhau để giữ được người giỏi Bên cạnh đó, chính phủ Ấn Độ còn khuyến khích phát triển các trung tâm CNTT của người nước ngoài tại Ấn Độ
Chính vì những chính sách thông thoáng, tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài vào Ấn Độ, cũng như chính sách phát triển công nghiệp phần mềm đã tạo điều kiện cho thị trường CNTT Ấn Độ phát triển mạnh Kết quả, Ấn Độ không chỉ giữ
Trang 37được người giỏi tại quốc gia mà còn tạo ra sự cạnh tranh gay gắt với các nước trong việc đào tạo và phát triển nhân lực CNTT
1.9.4 Phát triển nguồn nhân lực CNTT của Trung Quốc
Ở Trung Quốc, phát triển công nghệ cao, đặt biệt là CNTT là một trong những yếu tố then chốt để phát triển nền kinh tế Đặc điểm của ngành CNTT
là thâm dụng lao động có kiến thức cao Do vậy, là một nước đang phát triển, dân
số đông, nhưng nền giáo dục lại xuất phát điểm lạc hậu, Trung Quốc thật sự gặp khó khăn trong việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho CNTT
Để giải quyết cho bài toán nhân lực CNTT, Trung Quốc đã đưa tin học vào chương trình chính khóa bắt đầu từ giáo dục phổ thông
Trong các trường cao đẳng, đại học, 62% sinh viên theo học khoa học tự nhiên và kỹ thuật, tất cả các sinh viên này đều được học môn tin học và môn tin học cũng là môn bắt buộc Tại Trung Quốc, năm 2001, có khoảng 468 khoa
từ các trường Cao đẳng hoặc Đại học có chuyên ngành CNTT Hàng năm,
có khoảng 30.000 sinh viên tốt nghiệp ngành CNTT [19]
Bên cạnh đó, kiến thức cơ bản về máy tính còn trở thành nội dung mà các chuyên gia bắt buộc phải vượt qua trong kỳ kiểm tra quốc gia dành cho những chuyên gia trong lĩnh vực khoa học tự nhiên hoặc công nghệ nếu như người đó muốn thăng chức trong nghề nghiệp Ngoài ra, Trung Quốc còn tổ chức
xã hội hóa đào tạo CNTT, đặc biệt khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đào tạo CNTT
Nhìn chung, với những chính sách mở rộng giáo dục và đào tạo CNTT, Trung Quốc đã phần nào giải quyết được nhu cầu nhân lực CNTT, giúp cho ngành CNTT thật sự phát triển và trở thành một trong những ngành quan trọng của Trung Quốc
Kết luận
Như vậy trong Chương một chúng ta đã thấy, CNTT ngày nay đã thâm nhập vào hầu hết mọi hoạt động kinh tế, xã hội của đời sống con người Do đó, việc ứng dụng và phát triển CNTT sẽ là mục tiêu hàng đầu cho việc phát triển kinh tế xã hội
và tiến tới xây dựng nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, cũng giống như mọi lĩnh vực khác, con người luôn là yếu tố quan trọng nhất và mang tính quyết định trong
Trang 38việc phát triển và ứng dụng CNTT
Qua tìm hiểu kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực CNTT tại một số nước,
có thể rút ra bài học cho việc thu hút và sử dụng nhân lực CNTT như sau:
Thứ nhất, thực hiện tốt công tác thống kê dự báo sự phát triển của ngành và nhu cầu nhân lực phục vụ cho sự phát triển đó
Thứ hai, xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, yêu cầu tiêu chuẩn chức danh của nhân lực CNTT để làm cơ sở thu hút, tuyển dụng phù hợp nhu cầu thực tế của cơ quan, đơn vị
Thứ ba, bố trí sử dụng nhân lực CNTT đúng chức năng, đúng nhiệm vụ; có chế
độ đãi ngộ, khuyến khích động viên để nhân lực CNTT yên tâm công tác lâu dài Thứ tư, mở rộng quy mô và đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cho phù hợp với sự phát triển của ngành Có chính sách xã hội hóa đào tạo CNTT, thực hiện liên kết giữa đơn vị tuyển dụng với nhà trường trong đào tạo nhân lực CNTT Thứ năm, triển khai đào tạo lại nguồn nhân lực CNTT hiện có để việc sử dụng hiệu quả, khắc phục tình trạng “yếu” chuyên môn của nhân lực CNTT
Trong Chương hai, tác giả sẽ trình bày thực trạng về công tác đào tạo và thu hút, sử dụng nguồn nhân lực CNTT ở Thanh Hoá, đối chiếu với các bài học kinh nghiệm của các nước để thấy được các vần đề còn tồn đọng trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Thanh Hoá hiện nay
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN
LỰC CNTT TỈNH THANH HOÁ 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Thanh Hoá và tình hình nhân lực lao động của tỉnh
2.1.1 Đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội Thanh Hoá
Tỉnh Thanh Hoá thuộc vùng Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 150
km về phía Nam; phía Bắc giáp 3 tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của nước CHDC nhân dân Lào; phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ Diện tích tự nhiên trên 11.000 km2, dân số trên 3,4 triệu người; có 27 huyện, thị xã, thành phố trực thuộc, tổng số có 637 xã, phường, thị trấn (trong đó có 11 huyện miền núi, với hơn 1 triệu dân, chiếm 72,3% diện tích
cả tỉnh); có 21 sở, ban, ngành cấp tỉnh Tổng số có trên 3.600 cán bộ công chức cấp tỉnh, cấp huyện; trên 6.000 công chức cấp xã; hơn 60.000 cán bộ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp Cho đến hết tháng 12/2010 có trên 6.500 doanh nghiệp Tốc
độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001-2005 đạt 9,1%, giai đoạn 2006-2010 đạt 11,3% Dịch vụ Viễn thông – CNTT có tốc độ tăng trưởng cao, giai đoạn 2001-2005 đạt 10%, giai đoạn 2006-2010 đạt 13,5% Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 1,7 lần so với giai đoạn 2001-2005; năm 2010 GDP bình quân đầu người ước đạt 810 USD; các ngành kinh tế phát triển khá toàn diện Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; cơ cấu trong nội bộ từng ngành cũng chuyển dịch theo hướng phát huy các lợi thế so sánh của tỉnh Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 38,5% năm 2001 xuống còn 24,1% năm 2010; công nghiệp - xây dựng tăng từ 27,9% lên 41,4%; dịch vụ tăng từ 33,6% lên 34,4% [4]
Trang 40Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế đáng lưu ý của tỉnh
Cân đối ngân sách
Nguồn: Niên giám thống kê; Báo cáo của Sở KH&ĐT, Sở LĐ- TB&XH
2.1.2 Tình hình nhân lực lao động của tỉnh Thanh Hóa
Xu hướng biến động dân cư
Dân số của tỉnh năm 2010 là 3.406,8 nghìn người, đứng thứ 3 cả nước sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, trong đó dân số nông thôn chiếm 89,2%, dân số thành thị chiếm 10,8% So với năm 2001, dân số giảm trên 57 nghìn người, bình quân giảm 0,2%/năm Dân số giảm là do lao động di cư ra ngoài tỉnh, chủ yếu là đi làm ăn ở
Hà Nội, các tỉnh phía nam và xuất khẩu lao động (từ 1999 - 2009 số người di cư ra tỉnh ngoài là 542 nghìn người, nhập cư là 180 nghìn người)
Thanh Hoá hiện đang ở thời kỳ cơ cấu dân số vàng, tỷ lệ người phụ thuộc giảm
từ 73,4% năm 1999 xuống 45,5% năm 2009 Đây là lợi thế về nguồn cung lao động nhưng lại tạo ra sức ép lớn về đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động trong những năm tới [5]
Cơ cấu nhân lực
- Cơ cấu nhân lực theo nhóm tuổi: Nhóm lao động trẻ từ 15 - 34 tuổi chiếm
tỷ lệ cao khoảng 54,6%, nhóm lao động từ 35 - 54 tuổi chiếm 41,3%, nhóm lao
động từ 55 tuổi trở lên chiếm 4,1% dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh
- Cơ cấu nhân lực theo giới tính: Lao động nữ đang làm việc trong nền kinh
tế chiếm 50,6%, chủ yếu hoạt động trong ngành nông nghiệp, công nghiệp may mặc, da giày và các ngành dịch vụ; tỷ lệ lao động qua đào tạo, chuyển đổi ngành nghề phù hợp với nhu cầu thị trường còn thấp
- Cơ cấu nhân lực theo khu vực: Lao động ở khu vực thành thị chiếm 11,3%,