103/2006/NĐ-CP đã quy định “Bộ Khoa hoc và Công nghệ có trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý các kho thông tin sở hữu công nghiệp, xây dựng các công cụ phân loại, tra cứu, hướng dẫn các
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 11
9 Kết cấu của Luận văn 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ CHO CÁC DOANH NGHIỆP 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản 13
1.1.1 Thông tin 13
1.1.2 Sản phẩm và dịch vụ thông tin 14
1.1.2.1 Sản phẩm thông tin 15
1.1.2.2 Dịch vụ thông tin 16
1.1.2.3 Tính khác biệt về sản phẩm thông tin và dịch vụ thông tin 17
1.1.2.4 Đặc tính giống nhau giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin 17
1.1.2.5 Mối liên hệ giữa sản phẩm thông tin và dịch vụ thông tin 18
1.2 Thông tin sở hữu công nghiệp 18
1.2.1 Khái niệm về sở hữu công nghiệp 18
1.2.1.1 Khái niệm về sáng chế 19
1.2.1.2 Khái niệm về nhãn hiệu 20
1.2.1.3 Khái niệm về kiểu dáng công nghiệp 22
1.2.2 Khái niệm về thông tin sở hữu công nghiệp 24
1.2.2.1 Thông tin sáng chế 24
1.2.2.2 Thông tin nhãn hiệu 27
1.2.2.3 Thông tin kiểu dáng công nghiệp 28
1.3 Doanh nghiệp và vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp đối với các doanh nghiệp 29
1.3.1 Khái niệm về doanh nghiệp và một số đặc điểm của doanh nghiệp 29
1.3.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp 29
Trang 21.3.1.2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp 32
1.3.2 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp đối với các doanh nghiệp 33
1.3.2.1 Vai trò của thông tin sáng chế đối với các doanh nghiệp 34
1.3.2.2 Vai trò của thông tin nhãn hiệu đối với doanh nghiệp 37
1.3.2.3 Vai trò của thông tin kiểu dáng công nghiệp đối với doanh nghiệp 39
* Kết luận Chương 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ CHO CÁC DOANH NGHIỆP 43
2.1 Khái quát về hệ thống cung cấp thông tin sở hữu công nghiệp 43
2.2 Tiêu chí khảo sát thực trạng về sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp phục vụ cho các doanh nghiệp 45
2.3 Kết quả khảo sát về nhu cầu sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp 47
2.3.1 Kết quả khảo sát về mục đích sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp 47
2.3.2 Kết quả khảo sát về thực tiễn sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp 48
2.4 Kết quả khảo sát về thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp và đánh giá chất lượng của các doanh nghiệp đối với các sản phẩm và dịch vụ này 52
2.4.1 Về sản phẩm thông tin sở hữu công nghiệp 52
2.4.1.1 Ấn phẩm thông tin 52
2.4.1.2 Cơ sở dữ liệu 56
2.4.1.3 Trang tin điện tử 58
2.4.1.4 Tài liệu dùng cho việc tra cứu thông tin 60
2.4.2 Về dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp 64
2.4.2.1 Dịch vụ cung cấp thông tin 64
2.4.2.2 Dịch vụ trao đổi thông tin 66
2.4.2.3 Dịch vụ tư vấn về sở hữu công nghiệp 66
2.4.2.4 Huấn luyện đào tạo nâng cao nhận thức và kỹ năng khai thác thông tin sở hữu công nghiệp 67
2.5 Phân tích, đánh giá về chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp phục vụ cho các doanh nghiệp 68
Trang 32.5.1 Điểm mạnh 69
2.5.2 Điểm yếu 70
* Kết luận Chương 2 74
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM VÀ DICH VỤ THÔNG TIN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ CHO CÁC DOANH NGHIỆP 75
3.1 Nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp 75
3.1.1 Về sản phẩm thông tin 75
3.1.1.1 Cơ sở dữ liệu 76
3.1.1.2 Tài liệu dùng cho viêc tra cứu 76
3.1.1.3 Ấn phẩm thông tin 76
3.1.1.4 Trang tin điện tử 77
3.1.2 Về dịch vụ thông tin 77
3.1.2.1 Dịch vụ đọc tại chỗ 78
3.1.2.2 Dịch vụ cung cấp bản sao 78
3.1.2.3 Dịch vụ tra cứu tin 78
3.1.2.4 Dịch vụ trao đổi thông tin 79
3.1.2.5 Dịch vụ đào tạo kỹ năng khai thác thông tin sở hữu công nghiệp 79 3.2 Phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp theo mô hình hiện đại hóa và đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp 80
3.2.1 Về sản phẩm thông tin 80
3.2.1.1 Ấn phẩm thông tin 80
3.2.1.2 Cơ sở dữ liệu điện tử 81
3.2.1.3 Trang tin điện tử 82
3.2.2 Về dịch vụ thông tin 82
3.2.2.1 Dịch vụ tra cứu trực tuyến 82
3.2.2.2 Dịch vụ phổ biến thông tin chọn lọc 82
3.2.2.3 Dịch vụ phân tích, tổng hợp, chuyển giao thông tin 83
3.2.2.4 Dịch vụ đào tạo 83
3.2.2.5 Dịch vụ tư vấn 83
3.2.2.6 Dịch vụ dịch thuật 84
3.3 Một số giải pháp hỗ trợ 84
3.3.1 Tạo lập và phát triển nguồn lực thông tin 84
3.3.1.1 Củng cố và khai thác nguồn lực thông tin hiện có 84
Trang 43.3.1.2 Tăng cường nguồn lực thông tin 85
3.3.2 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thông tin 87
3.3.3 Đào tạo người dùng thông tin 89
3.3.4 Đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị cho hoạt động thông tin 90
3.3.5 Tăng cường marketing thông tin 90
3.3.6 Hình thành mạng lưới thông tin sở hữu công nghiệp trong cả nước 91
3.3.7 Xây dựng thư viện điện tử 92
3.3.8 Cơ chế chính sách của nhà nước 93
* Kết luận chương 3 94
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 102
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu số doanh nghiệp theo loại hình doanh nghiệp 31
Biểu đồ 2.1: Số lượng yêu cầu tra cứu thông tin sáng chế nộp trực tiếp tại Cục Sở hữu trí tuệ 2006-2010 Error! Bookmark not defined. Biểu đồ 2.2: Nhu cầu sử dụng thông tin sáng chế của các doanh nghiệp theo số liệu có tại Cục Sở hữu trí tuệ năm 2010 Error! Bookmark not defined. Biểu đồ 2.3: Đánh giá chung về chất lượng của các sản phẩm thông tin sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp 63
Biểu đồ 2.4: Đánh giá chung của các doanh nghiệp về chất lượng của các dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp 68
Hình 2.1: Minh họa CD-ROM công báo sở hữu công nghiệp 53
Hình 2.2 : Màn hình giao diện cơ sở dữ liệu sáng chế Việt Nam 57
Hình 2.3 : Màn hình giao diện cơ sở dữ liệu nhãn hiệu Việt nam 57
Hình 2.4 : Màn hình giao diện cơ sở dữ liệu kiểu dáng công nghiệp Việt Nam 58
Hình 2.5: Minh hoạ trang tin điện tử của Cục Sở hữu trí tuệ 60
Bảng 2.1: Tỷ lệ phản hồi phiếu điều tra 47
Bảng 2.2: Nhu cầu sử dụng và đánh giá chất lượng đối với các sản phẩm thông tin sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp 62
Bảng 2.3: Nhu cầu sử dụng và đánh giá chất lượng dịch vụ cung cấp thông tin sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp 67
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đất nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng và bước vào thời kỳ phát triển trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Cùng với xu thế chung đó, trong những năm vừa qua các doanh nghiệp Việt Nam đã nhanh chóng thích nghi và phát triển cả về số lượng và chất lượng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của đất nước Song nhìn chung, thực trạng năng suất lao động của các doanh nghiệp còn thấp, chất lượng hàng hoá và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường còn yếu Quy mô và năng lực hạn chế làm cho các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư phát triển sản xuất, ít chú trọng đến đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm
Không những thế, khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội hơn song cũng phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, với những định chế thương mại và pháp luật quốc tế, mà một trong số những vấn đề đó là quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn hết sức mới mẻ đối với nhiều doanh nghiệp Nhận thức của doanh nghiệp về sở hữu trí tuệ nói chung, sở hữu công nghiệp nói riêng cũng như khía cạnh kinh tế của việc khai thác thông tin sở hữu công nghiệp còn chưa cao Nếu như các doanh nghiệp biết sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thông tin này như một công cụ hoạch định chiến lược nghiên cứu, kinh doanh
sẽ giúp cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế, tránh những rủi ro không đáng có trong quá trình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa và triển khai công nghệ
Mặc dù hoạt động thông tin sở hữu công nghiệp ở nước ta được bắt đầu khá sớm từ những năm 1980 của thế kỷ trước và ngay trong Nghị định số
Trang 7103/2006/NĐ-CP đã quy định “Bộ Khoa hoc và Công nghệ có trách nhiệm tổ
chức xây dựng, quản lý các kho thông tin sở hữu công nghiệp, xây dựng các công cụ phân loại, tra cứu, hướng dẫn cách tra cứu và sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp trong và ngoài nước; tổ chức việc cung ứng thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác, bảo đảm khả năng tiếp cận các kho thông tin cho các đối tượng
có nhu cầu dùng tin phục vụ hoạt động xác lập và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, nghiên cứu, phát triển và kinh doanh” [2; điều 31] song hoạt động thông
tin sở hữu công nghiệp nhìn chung vẫn chưa được như mong muốn, thông tin sở hữu công nghiệp chưa thực sự trở thành nguồn lực quan trọng nhằm làm tăng năng lực, tăng hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Vậy làm thế nào để tăng cường hoạt động thông tin sở hữu công nghiệp
và để đáp ứng tốt nhất các nhu cầu thông tin đa dạng của các doanh nghiệp Đây là một vấn đề ngày càng được các cơ quan thông tin sở hữu công nghiệp quan tâm và tìm cách giải quyết Các cơ quan thông tin phải tìm mọi biện pháp để tăng cường nguồn lực thông tin của mình cũng như đưa ra các công
cụ khả thi để làm sao nguồn tin đó đến được với người dùng tin một cách hữu dụng nhất Nhận thức được điều đó, các cơ quan thông tin, trong đó có Cục
Sở hữu trí tuệ và một số đơn vị thông tin khác trong hệ thống cung cấp thông tin sở hữu công nghiệp đã tạo lập và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp cho người dùng tin Tuy nhiên, các sản phẩm và dịch
vụ thông tin này còn đơn điệu, chưa thực sự quan tâm và chưa có sự nghiên cứu đầy đủ khách hàng mà cụ thể ở đây là các doanh nghiệp nên các sản phẩm và dịch vụ hiện nay chưa đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu của doanh nghiệp dẫn tới sự suy giảm tiềm năng và mất tính cạnh tranh của thông tin sở hữu công nghiệp so với các dạng thông tin khác Đó cũng chính là nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp thờ ơ với nguồn thông tin quý giá này và dẫn
Trang 8đến tình trạng như ông Phạm Phi Anh, phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ phát
biểu “kho thông tin sở hữu công nghiệp vẫn còn trùm chăn”
Từ thực tế này cùng với suy nghĩ, trăn trở trong công tác hiện nay của mình, chúng tôi mong muốn nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp, nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động thông tin nói chung và cũng để thông tin sở hữu công nghiệp thực sự trở thành công cụ đắc lực hỗ trợ cho các doanh nghiệp, đồng thời góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển
Đó cũng chính là lý do để chúng tôi chọn vấn đề “Nghiên cứu đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp phục vụ cho các doanh nghiệp” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách
Khoa học & Công nghệ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tại Việt Nam, vấn đề đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu Có thể kể đến Giáo
trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện” của Ths Trần Mạnh Tuấn đã
đề cập đến khái niệm và quy trình để tạo lập các dạng sản phẩm và dịch vụ
thông tin cơ bản hay bài viết của PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng “Một số vấn đề
về chính sách phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Việt Nam” cũng có
đưa ra một số khái niệm về chính sách trong hoạt động thông tin và phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin cũng như đề xuất nội dung của chính sách này
Ngay trong một số luận văn như của tác giả Lê Thị Hoa “Giải pháp đa dạng
hoá sản phẩm và dịch vụ thông tin trong các cơ quan thông tin bộ/ngành trong bối cảnh hội nhập” (năm 2010), Phùng Thị Bình “Nghiên cứu và hoàn thiện sản phẩm và dịch vụ thông tin tại các thư viện thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam” (năm 2007) cũng chủ yếu nghiên cứu về các sản phẩm và dịch
vụ thông tin nói chung mà chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về
Trang 9thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp cũng như vai trò của nó đối với các doanh nghiệp và chưa đưa ra được các giải pháp để phát triển các sản phẩm và dịch vụ này phù hợp với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Còn trên thế giới, theo chúng tôi tìm hiểu cũng chỉ có những bài viết đề cập đến hoạt động khai thác thông tin và lợi ích kinh tế của việc khai thác và
sử dụng thông tin này trong các doanh nghiệp mà chưa có bài viết nào bàn về các giải pháp tăng cường năng lực khai thác và sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp Có thể kể đến đến tác giả Hanna Timonen, Eila Jarvenpaa của Trường đại học công nghệ Helsinki với công trình nghiên cứu
“Knowledge Acquisition Models of SMEs’ New Product Development Processes
and the Role of Patent Information” hay “Patent information to stimulate innovation in small and medium sized companies” của học giả Koch
Như vậy, có thể nói cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn
đề đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp này và đặc biệt là nhằm mục đích phục vụ cho các doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh của mình
3 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định nhu cầu sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp Đánh giá thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp của các cơ quan thông tin cung cấp cho các doanh nghiệp
Đề xuất những giải pháp để đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ thông tin
sở hữu công nghiệp đáp ứng nhu cầu thông tin của các doanh nghiệp
4 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về nhu cầu sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam (số lượng 40 mẫu)
Trang 10Thực trạng về các sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp ở Việt Nam trong 5 năm (nghiên cứu trường hợp Cục Sở hữu trí tuệ) (2006-2010)
5 Mẫu khảo sát
Các doanh nghiệp được chọn để khảo sát nằm trong số các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp hoặc
có đơn đăng ký sáng chế, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp
Cơ quan thông tin được chọn để khảo sát thực trạng về các sản phẩm và dịch
vụ thông tin sở hữu công nghiệp là Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2006-2010
6 Câu hỏi nghiên cứu
Các doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp nhằm mục đích gì?
Thực trạng về các sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp Việt Nam như thế nào?
Cần có những giải pháp nào để đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Các doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu sử dụng thông tin sở hữu công nghiệp nhằm các mục đích sau: đổi mới công nghệ, đăng ký và xác lập quyền
sở hữu công nghiệp, tìm hiểu thị trường, đối tác kinh doanh, xác định tình trạng pháp lý, khai thác tài sản trí tuệ,v.v
Các sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp hiện nay còn nghèo nàn về hình thức và nội dung, chất lượng chưa cao, chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của khoa hoc và công nghệ, cụ thể là công nghệ thông tin và truyền thông, vẫn dừng ở mức thụ động, chưa linh hoạt đáp ứng được nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng của các doanh nghiệp
Trang 11Để đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp cần
có những giải pháp:
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện có;
+ Phát triển các loại sản phẩm và dịch vụ thông tin mới như các đĩa quang tra cứu thông tin sở hữu công nghiệp, đĩa quang toàn văn, dịch vụ tra cứu trực tuyến, dịch vụ tư vấn, dịch vụ marketing, đào tạo trực tuyến,v.v một cách linh hoạt phù hợp với nhu cầu thực tế và đáp ứng hữu hiệu nhất nhu cầu của doanh nghiệp;
+ Ngoài ra cần có một số giải pháp hỗ trợ như tạo lập và phát triển nguồn tin, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ chế chính sách,v.v
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu: phân tích, thống kê, tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu như các văn bản pháp luật, tài liệu về sở hữu công nghiệp, vai trò của thông tin sở hữu công nghiệp đối với các doanh nghiệp, về công tác thông tin thư viện, chính sách định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
Phương pháp nghiên cứu thực tế: Nghiên cứu thực trạng về các sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp (Nghiên cứu trường hợp Cục
Sở hữu trí tuệ)
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu điều tra và thực hiện điều tra tại một số doanh nghiệp Dung lượng mẫu: 40 doanh nghiệp
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các bảng, biểu đồ, hình, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công
nghiệp phục vụ cho các doanh nghiệp
Trang 12Chương 2: Thực trạng về sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công
nghiệp phục vụ cho các doanh nghiệp
Chương 3: Một số giải pháp đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ thông
tin sở hữu công nghiệp phục vụ cho các doanh nghiệp
Trang 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ CHO
CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Thông tin
Chúng ta đang sống trong một thời đại thông tin, tri thức trở thành một
tài sản có giá trị nhất của nhân loại, mà ở đó “thông tin được sử dụng như một
nguồn lực kinh tế, các tổ chức sử dụng nhiều thông tin hơn để làm tăng năng lực của họ, khuyến khích việc đổi mới và làm tăng hiệu quả và khả năng cạnh tranh của họ, thường là thông qua những cải tiến về chất lượng hàng hoá và dịch vụ do họ tạo ra Đây cũng là xu hướng phát triển đối với các tổ chức sử dụng hàm lượng thông tin cao nhằm làm tăng giá trị sản phẩm và do đó mang lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế đất nước” [34; pg.9] Thông tin là một nhân
tố không thể thiếu được để thúc đẩy sự phát triển của xã hội Có người nói rằng thông tin là nhu cầu cần thiết của con người chỉ sau không khí, nước, thức ăn và chỗ ở
Vậy thông tin là gì? Thông tin theo gốc tiếng Latinh “informatio” có hai nghĩa:
Một là, nó chỉ một hành động rất cụ thể tạo ra một hình dạng (forme) Hai là, tuỳ theo tình huống, có nghĩa là truyền đạt một ý tưởng, một
khái niệm hay một biểu tượng Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo
Theo nghĩa chung nhất thì thông tin được hiểu là những tri thức dùng
để định hướng, tác động tích cực và để điều khiển nhằm duy trì tính đặc thù
về chất, hoàn thiện và phát triển hệ thống Trong tiêu chuẩn Việt Nam TCVN
5453-1991 có đưa ra định nghĩa về thông tin: “Thông tin là nội dung con
Trang 14người gán cho dữ liệu với các quy ước (ký hiệu) đã biết, được sử dụng trong việc trình bày chúng”
Thông tin là một loại hàng hoá đặc biệt và quan trọng, giá trị của thông tin chỉ có khi nó được khai thác và sử dụng
Chất lượng của thông tin được thể hiện ở nội dung, thời gian và hình
thức của thông tin Nội dung thông tin phải chính xác, phù hợp với nhu cầu
của người dùng tin và phải đồng bộ có nghĩa là thông tin phải đầy đủ các vấn
đề mà người dùng tin muốn biết Về thời gian của thông tin bao gồm hai yếu
tố là kịp thời, đúng lúc người dùng tin cần và mang tính thời sự, tức là thông
tin phải được cập nhật kịp thời, nếu không thông tin sẽ trở nên lạc hâu và không còn giá trị sử dụng Tiếp theo, về mặt hình thức của thông tin yêu cầu
phải đáp ứng tính chi tiết và tính hấp dẫn Tính chi tiết yêu cầu thông tin đưa
ra phải cụ thể tới mức thích hợp Hình thức trình bày phải hấp dẫn để tạo thêm giá trị cho thông tin
Song giá trị của thông tin không nằm ở bản thân nó mà phải do kết quả của quá trình lao động khoa học, quá trình xử lý để thông tin trở thành các sản phẩm có chất lượng đáp ứng nhu cầu sử dụng của con người
Căn cứ vào đặc điểm nội dung của tin tức, thông tin có thể chia thành nhiều loại: thông tin kinh tế, thông tin quản lý, thông tin khoa học và công nghệ, thông tin sở hữu công nghiệp,v.v Trong phạm vi của luận văn, khái niệm thông tin sở hữu công nghiệp được hiểu không chỉ là thông tin về công nghệ mà còn bao gồm cả thông tin về pháp lý và thông tin thương mại
Trang 15cung cấp thông tin Sản phẩm và dịch vụ thông tin là do con người tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người dùng thông tin
một cách đơn giản “sản phẩm thông tin là bất kỳ một phân đoạn tri thức nào
có thể được ghi lại trong một số hình thức như dạng chữ viết, dạng âm thanh hoặc dạng hình ảnh và do vậy có thể chuyển từ dạng này sang dạng khác”
[33;pg.1] “Sản phẩm do cơ quan thông tin thư viện tạo ra không mang tính
tự thân, tức là sự phát triển của hệ thống sản phẩm này là nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và phát triển của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia”
Một số đặc tính của sản phẩm thông tin
- Tính hữu hình: Sản phẩm thông tin tồn tại dưới dạng vật phẩm cụ thể,
có thể sản xuất được, lưu trữ được hay có thể mua, bán được và có thể nhận diện được bằng giác quan1
Trang 16
- Tính không thể tách rời: Sản phẩm thông tin là sự kết hợp của hai
thành phần không thể tách rời là nội dung thông tin và hình thức thể hiện
- Tính đổi mới: Sản phẩm thông tin là một dạng hàng hoá đặc biệt cho nên
cũng phải luôn đổi mới để đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của người dùng thông tin
1.1.2.2 Dịch vụ thông tin
Dịch vụ thông tin được xem như là hoạt động xảy ra tiếp theo sau khi thông tin đã được lưu trữ như một sản phẩm cuối trong cơ sở dữ liệu bao gồm: việc chọn lọc, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin ở tất cả các dạng có thể như bằng lời nói, chữ viết, âm thanh, hình ảnh,v.v và bản chất của dịch vụ thông tin
là cung cấp, là phổ biến thông tin2 “Dịch vụ thông tin tạo nên sự gắn bó hữu
cơ giữa chuyên gia thông tin với người cung cấp, thực hiện dịch vụ với người dùng tin, và được ra đời đáp ứng nhu cầu người dùng tin” [6;tr.41]
Đặc tính của dịch vụ thông tin
Theo Nguyễn Vĩnh Hà, dịch vụ thông tin có một số đặc tính sau:
- Tính vô hình: Khác với sản phẩm, dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật
phẩm cụ thể, không nhìn thấy được, nắm bắt được hay nhận diện được bằng các giác quan Chính vì vậy mà khi muốn marketing cho các dịch vụ, cần phải tạo cho người dùng tin biết tiềm năng của nó bằng cách cung cấp cho họ một cảm giác hữu hình về các dịch vụ đó
- Tính không đồng nhất: Dịch vụ gắn chặt với người cung cấp dịch vụ
Chất lượng của dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào cá nhân thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng,v.v ) và hơn thế nữa đối với cùng một cá nhân, chất lượng dịch vụ nhiều khi cũng thay đổi theo thời gian
- Tính không thể tách rời: Thông thường để thực hiện một dịch vụ,
người cung cấp dịch vụ thường phải tiến hành một số bước hoặc thao tác đi liền với nhau, không thể tách rời nhau để thu được kết quả mà người mua
Trang 17
dịch vụ mong muốn Ví dụ, trong dịch vụ tra cứu thông tin, nguời cung cấp thông tin cần phải thực hiện một số bước sau:
Bước 1: Phân tích nhu cầu tra cứu tin
Bước 2: Xác định nguồn tin
Bước 3: Tiến hành tra cứu thông tin
Bước 4: Trả kết quả tra cứu3
Các hoạt động dịch vụ thông tin :
Cho mượn tài liệu;
Dịch vụ tài liệu tham khảo;
Dịch vụ dịch thuật;
Dịch vụ Internet;
Phổ biến thông tin;
Dịch vụ trao đổi thông tin;
Dịch vụ tra cứu tin;
Đào tạo
1.1.2.3 Tính khác biệt về sản phẩm thông tin và dịch vụ thông tin
Sản phẩm thông tin và dịch vụ thông tin được cung cấp và chuẩn bị trong hoạt động thông tin và được đưa vào sử dụng nhằm tăng giá trị của thông tin song chúng cũng có sự khác biệt cơ bản Chất lượng của sản phẩm thông tin mang nét đặc trưng của sản phẩm và được nhận diện một cách hữu hình về nội dung của sản phẩm bao gồm tính chính xác, đầy đủ, hoàn thiện và không sai sót Chất lượng của dịch vụ thông tin bao gồm các khía cạnh liên quan đến quá trình phân phối dịch vụ cũng như tính vô hình của việc xử lý, an ninh thông tin và làm tăng giá trị của thông tin đối với người dùng tin
1.1.2.4 Đặc tính giống nhau giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin
Trang 18
Chu kỳ sống của sản phẩm/dịch vụ thông tin Cả sản phẩm và dịch vụ thông tin đều cùng có đặc tính này và là một khái niệm hết sức quan trọng khi
nghiên cứu về sản phẩm và dịch vụ thông tin “Các sản phẩm và dịch vụ
thông tin đều trải qua 4 thời kỳ: Thời kỳ hình thành, thời kỳ tăng trưởng, thời
kỳ sung mãn, thời kỳ suy thoái” [13;tr.23]
1.1.2.5 Mối liên hệ giữa sản phẩm thông tin và dịch vụ thông tin
Sản phẩm thông tin và dịch vụ thông tin có mối quan hệ hữu cơ hỗ trợ nhau nhằm một mục đích khai thác tối đa và có hiệu quả nguồn thông tin Sản phẩm thông tin là cơ sở để phát triển dịch vụ thông tin Các cơ quan thông tin muốn phát triển dịch vụ thông tin thì phải dựa vào sản phẩm thông tin của mình như hệ thống các ấn phẩm, các cơ sở dữ liệu, trang tin điện tử Nhưng
để đưa được các sản phẩm thông tin đến được người sử dụng thì phải có một
hệ thống dịch vụ thông tin hoàn hảo như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ
tư vấn thông tin, dịch vụ marketing thông tin,v.v Không những thế, dịch vụ thông tin còn là kênh phản hồi ý kiến của người tìm tin đối với chất lượng và hình thức của sản phẩm thông tin để cơ quan thông tin có cơ sở đánh giá nhằm hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin của mình nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của người dùng tin
Sản phẩm và dịch vụ thông tin là kết quả hoạt động và xử lý thông tin tác động vào các nguồn tin đề biến đổi chúng trở thành các dạng sản phẩm và dịch vụ thông tin (cơ sở dữ liệu, ấn phẩm thông tin, bảng tra cứu, danh mục, tổng luận, tìm tin, đánh giá thông tin,v.v ) Có thể nói rằng sản phẩm và dịch vụ thông tin là phương thức để tạo lập hàng hoá và tài nguyên thông tin trong xã hội
1.2 Thông tin sở hữu công nghiệp
1.2.1 Khái niệm về sở hữu công nghiệp
Sở hữu công nghiệp là khái niệm chỉ lĩnh vực pháp lý bảo hộ quyền sở hữu đối với các thành quả nghiên cứu triển khai của con người mà có thể
Trang 19được áp dụng trong công nghiệp Theo ông Shahid Alikhan “Sở hữu công
nghiệp liên quan đến những sáng tạo ra đời từ những sáng chế, tức là những giải pháp cho những vấn đề kỹ thuật hoặc liên quan đến những kiểu dáng công nghiệp, tức là những sáng tạo mang tính thẩm mỹ và định hình dáng bên ngoài của những sản phẩm công nghiệp Nó cũng liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ, tên và chỉ dẫn thương mại, chỉ dẫn địa lý (chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ hàng hoá ) cũng như liên quan đến bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh” [1;tr.10]
Như vậy, các đối tượng chính được bảo hộ sở hữu công nghiệp là sáng chế, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm về sáng chế
Sáng chế được hiểu theo quy định của pháp luật là giải pháp kỹ thuật mới
so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả áp dụng công
nghiệp Đối tượng của sáng chế có thể là cơ cấu, chất và phương pháp “Sáng
chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”[15;điều 4]
Một giải pháp được công nhận là mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới nếu trước ngày nộp đơn hợp lệ hoặc trước ngày ưu tiên của đơn sáng chế, giải pháp đó chưa được bộc lộ công khai ở bất kỳ đâu, dưới bất kỳ hình thức nào Ngoài ra, giải pháp này không được trùng với giải pháp đã được nộp đơn đăng ký sáng chế có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn hợp lệ sớm hơn
“Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế”
[15; điều 58] Hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế có trong một thời hạn nhất định không quá 20 năm kể từ ngày nộp đơn hợp lệ và chỉ có hiệu lực trong lãnh thổ một nước hoặc một số nước nhất định
“Tại một số ít quốc gia, sáng chế cũng có thể được bảo hộ thông qua
việc đăng ký dưới tên gọi là “mẫu hữu ích” [21;tr.170], hoặc giải pháp hữu
Trang 20ích Những tiêu chuẩn bảo hộ đối với mẫu hữu ích so với sáng chế dễ dàng hơn, thời hạn bảo hộ đối với mẫu hữu ích cũng ngắn hơn
1.2.1.2 Khái niệm về nhãn hiệu
Nhãn hiệu đã có từ thời cổ xưa nhưng chỉ thực sự có một vai trò quan trọng bắt đầu từ thời kỳ công nghiệp hoá và trong thế giới hiện đại của thương mại quốc tế và nền kinh tế thị trường Công nghiệp hoá và nền kinh tế thị trường đã sản xuất nhiều loại hàng hoá và cung cấp dịch vụ cùng chủng loại, chúng chỉ khác nhau về chất lượng, giá cả và do vậy để người tiêu dùng có thể phân biệt được thì người sản xuất hàng hoá và cung cấp dịch vụ phải đặt
tên cho chúng “Phương tiện để đặt tên hàng hoá, dịch vụ trên thị trường
chính là nhãn hiệu” [21;tr.66]
“Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ
chức, cá nhân khác nhau” [15;điều 4] Như vậy, nhãn hiệu là dấu hiệu hay tên
gọi có tính phân biệt hoặc nhận dạng nguồn gốc sản phẩm hoặc dịch vụ giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hoá và dịch vụ cùng loại có các nguồn gốc khác nhau Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc từ ngữ kết hợp với hình ảnh được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
Một nhãn hiệu mang lại cho chủ sở hữu của nó sự bảo hộ thông qua việc ngăn ngừa sự nhầm lẫn về nguồn gốc trong quá trình phân phối sản phẩm, dịch
vụ hoặc thông qua việc cấp li-xăng cho người khác sử dụng nhãn hiệu đó
Thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu là không xác định, hiệu lực của nhãn hiệu có thể được giữ mãi mãi thông qua việc đăng ký, duy trì gia hạn và sử dụng liên tục trong thương mại
Các chức năng chính của nhãn hiệu là:
Giúp khách hàng nhận ra sản phẩm (dù là hàng hoá hoặc dịch vụ) của một công ty cụ thể nhằm phân biệt chúng với các sản phẩm trùng hoặc tương tự do các đối thủ cạnh tranh cung cấp Khách hàng hài lòng với với một sản phẩm cụ
Trang 21thể rất có khả năng lại mua hoặc sử dụng sản phẩm đó trong tương lai Do vậy,
họ cần phân biệt được một cách dễ dàng giữa các sản phẩm trùng hoặc tương tự
Giúp cho doanh nghiệp phân biệt sản phẩm của họ với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Do vậy, nhãn hiệu có một vai trò then chốt trong chiến lược quảng cáo và tiếp thị của công ty nhằm xây dựng hình ảnh và uy tín về các sản phẩm của công ty trong mắt người tiêu dùng
Tạo động lực cho các công ty đầu tư vào việc duy trì hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm bảo đảm rằng sản phẩm mang nhãn hiệu có uy tín tốt
Các loại nhãn hiệu có trên thị trường:
Nhãn hiệu hàng hoá là dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá cùng
loại của các doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác
Nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu dùng để phân biệt dịch vụ của doanh
nghiệp này với doanh nghiệp khác
“Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ
của các thành viên của tổ chức, là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”
[15;điều 4] “Nhãn hiệu tập thể là một phương thức có hiệu quả để cùng tiếp
thị các sản phẩm của một nhóm doanh nghiệp mà nếu thực hiện riêng lẻ sẽ gặp khó khăn hơn để các nhãn hiệu riêng lẻ của họ được người tiêu dùng thừa nhận hoặc/và được những người bán lẻ phân phối” [22;tr.38]
“Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu cho phép tổ chức,
cá nhân khác sử dụng trên hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liêu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.” [15;điều 4]
“Nhãn hiệu chứng nhận thường được tìm thấy trên các sản phẩm hoặc bao bì
Trang 22sản phẩm và chúng có thể xuất hiện trên một chứng chỉ được cấp bới cơ quan chứng nhận sản phẩm” [22;tr.151]
“Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng
rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” [15;điều 4] Sự bảo hộ của nhãn hiệu nổi
tiếng là rất mạnh, thậm chí được bảo hộ kể cả khi không đăng ký ở một quốc gia nhất định Mục đích chính của việc bảo hộ mạnh này nhằm ngăn chặn các công ty, doanh nghiệp lợi dụng uy tín và sự nổi tiếng của nhãn hiệu để gây ra
sự mất uy tín và sự tín nhiệm của người tiêu dùng đối với nhãn hiệu đó
“Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký,
trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm và dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau” [15;điều 4]
Như vậy, có thể nói nhãn hiệu là chức năng của công cụ marketing, truyền đạt đến người tiêu dùng uy tín của sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu
Do đó, nhãn hiệu chủ yếu liên quan đến thương mại, đến chiến lược kinh doanh và là tài sản vô giá của một doanh nghiệp
1.2.1.3 Khái niệm về kiểu dáng công nghiệp
Trong cuộc sống hằng ngày kiểu dáng công nghiệp được hiểu là hình
dáng bên ngoài của sản phẩm “Theo nghĩa rộng, kiểu dáng công nghiệp đề
cập đến những hoạt động sáng tạo nhằm tạo ra một hình dáng trang trí bên ngoài cho những hàng hoá được sản xuất hàng loạt” mà “mặt hàng đó phải hấp dẫn người tiêu dùng về thị giác và phải thể hiện một cách hiệu quả chức năng kỹ thuật đã định trước” [21;tr.111] còn theo Luật sở hữu trí tuệ Việt
Nam thì “kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được
thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này” [15;điều 4]
Trang 23Sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp được hiểu là đồ vật, dụng cụ, thiết bị, phương tiện,v.v thuộc mọi lĩnh vực, có kết cấu và chức năng nhất định, được sản xuất và lưu thông độc lập
Kiểu dáng công nghiệp có vai trò quan trọng đối với “nhiều loại sản
phẩm được sản xuất hàng loạt như các sản phẩm thủ công riêng lẻ: từ các dụng cụ kỹ thuật và y tế đến đồng hồ, đồ trang sức và các sản phẩm xa xỉ khác; từ các đồ dùng gia dụng, đồ chơi, đồ gỗ và thiết bị điện đến xe hơi và các tác phẩm kiến trúc” [22;tr.49]
Kiểu dáng công nghiệp chỉ được bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Có tính mới trên phạm vi thế giới, nghĩa là chưa từng được bộc lộ công
khai ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, dưới hình thức công bố hoặc sử dụng trước ngày nộp đơn
- Có tính sáng tạo, nghĩa là kiểu dáng đó không thể được tạo ra một
cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực tương ứng
- Có khả năng áp dụng công nghiệp được hiểu là có khả năng dùng làm
mẫu để chế tạo lặp đi lặp lại hàng loạt sản phẩm có kiểu dáng giống hệt bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp
Ở hầu hết các nước, kiểu dáng công nghiệp phải đăng ký để được bảo
hộ và khi đó chủ sở hữu được cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp
“Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài
đến hết năm năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần năm năm” [15;điều 93]
Các chức năng của kiểu dáng công nghiệp
Tạo ra sự hấp dẫn hoặc cuốn hút hữu hình đối với khách hàng và đó là yếu tố chính để người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm này thay vì sản phẩm khác nhất là các sản phẩm cùng chủng loại, cùng chức năng kỹ thuật được bày bán
Trang 24hàng loạt trên thị trường Sự thành công của một sản phẩm ngoài việc phụ thuộc vào hàm lượng chất xám của sản phẩm, uy tín của nhãn hiệu còn phụ thuộc vào kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm đó
Là tài sản của doanh nghiệp, cái mà có thể làm tăng giá trị thương mại của công ty và sản phẩm của họ
Là nhân tố chính trong chiến lược tiếp thị hình ảnh thương hiệu của công ty
Tạo nguồn thu nhập cho công ty thông qua việc thu phí chuyển giao quyền sử dụng kiểu dáng công nghiệp cho người khác hoặc chuyển nhượng
1.2.2 Khái niệm về thông tin sở hữu công nghiệp
Thông tin sở hữu công nghiệp là các thông tin kỹ thuật, thông tin pháp
lý và thông tin thương mại do các Cơ quan Sở hữu công nghiệp quốc gia và các Tổ chức Sở hữu công nghiệp quốc tế công bố theo định kỳ về các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ hoặc các đối tương sở hữu công nghiệp đã được cấp Văn bằng bảo hộ Đó cũng chính là đặc điểm đặc biệt của thông tin sở hữu công nghiệp so với các loại thông tin khác
Các loại thông tin sở hữu công nghiệp chủ yếu:
- Thông tin sáng chế và giải pháp hữu ích (gọi chung là thông tin sáng chế)
- Thông tin nhãn hiệu
- Thông tin kiểu dáng công nghiệp
1.2.2.1 Thông tin sáng chế
Thông tin sáng chế là nguồn thông tin khoa học công nghệ, thông tin thương mại và thông tin pháp lý chứa đựng trong các tư liệu sáng chế hoặc thu được từ việc phân tích các số liệu thống kê về sáng chế được cơ quan sáng
Trang 25
chế công bố theo định kỳ “Một tài liệu sáng chế có chứa bản mô tả đầy đủ về
cách thức hoạt động của sáng chế được bảo hộ và yêu cầu bảo hộ để xác định phạm vi bảo hộ của sáng chế Tài liệu sáng chế cũng bao gồm các thông tin
về tác giả và thời điểm được bảo hộ của sáng chế và cung cấp chỉ dẫn đến các tài liệu tham khảo có liên quan” [22;tr.27]
Tài liệu sáng chế có cấu trúc tương đối giống nhau trên toàn thế giới và nhìn chung được bố trí như sau:
Trang thứ nhất bao gồm các thông tin thư mục như thông tin về ngày
nộp đơn, ngày ưu tiên, ngày công bố và ngày cấp bằng (nếu sáng chế được bảo hộ); tiếp đó là các thông tin về số đơn, số đơn ưu tiên, số công bố, số bằng , thông tin về tác giả sáng chế, người nộp đơn, và đại diện sở hữu công nghiệp nếu có Một phần nữa trong trang đầu tiên là các thông tin về nội dung như ký hiệu phân loại sáng chế quốc tế, tóm tắt sáng chế và hình vẽ
Bản mô tả sáng chế: mô tả chi tiết về sáng chế đến mức người có trình
độ trung bình trong cùng lĩnh vực có thể thực hiện được sáng chế theo bản mô
tả, hình vẽ
Yêu cầu bảo hộ, đây được coi là nội dung quan trọng nhất của sáng chế
nhằm xác định phạm vi bảo hộ Yêu cầu sáng chế bao gồm các điểm yêu cầu bảo hộ và thường được đánh số trong đó điểm yêu cầu bảo hộ số 1 thường là điểm yêu cầu bảo hộ rộng nhất và sau đó là các điểm yêu cầu bảo hộ phụ thuộc
Hình vẽ nếu cần thiết để minh hoạ các chi tiết kỹ thuật của sáng chế Báo cáo tra cứu bao gồm các tài liệu sáng chế, sách báo, v.v có liên
quan đến sáng chế đang được thẩm định nội dung Đây có thể nói là thông tin rất cần thiết cho người sử dụng5
Không có một số liệu thống kê chính xác về tổng số tư liệu sáng chế đã được công bố từ trước đến nay, nhưng theo Cơ quan Sáng chế châu Âu ước
Trang 26
tính có thể có trên 60 triệu Đây là tập hợp đầy đủ và có hệ thống các giải pháp công nghệ mà loài người đã tạo ra trong hai thế kỷ qua và là nguồn thông tin khoa học công nghệ lớn nhất, mới nhất, được công bố sớm nhất và
có độ tin cậy cao
“Thông tin sáng chế bao gồm toàn bộ thông tin được công bố trong tư liệu
sáng chế hoặc thu được từ việc phân tích các số liệu thống kê về sáng chế gồm:
Thông tin kỹ thuật chứa đựng trong bản mô tả và hình vẽ của sáng chế Thông tin pháp lý chứa đựng trong các điểm yêu cầu bảo hộ sáng chế nhằm xác định phạm vi độc quyền sáng chế và tình trạng pháp lý hoặc hiệu lực ở các nước cụ thể
Thông tin liên quan đến thương mại chứa trong dữ liệu tham chiếu nhằm xác định tác giả sáng chế, ngày nộp đơn, nước xuất xứ,v.v
Thông tin liên quan đến chính sách công có từ việc phân tích xu hướng nộp đơn mà các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng, ví dụ, trong chiến lược công
Cụ thể hơn, thông tin chứa đựng trong tư liệu sáng chế còn bao gồm thông tin về:
- Người nộp đơn: tên của cá nhân hoặc công ty nộp đơn đăng ký để bảo
hộ một công nghệ cụ thể;
- Tác giả sáng chế: tên của một hoặc nhiều người đã sáng tạo và phát triển sáng chế;
- Bản mô tả sáng chế: tài liệu giải thích một cách rõ ràng và súc tích về
các công nghệ hiện có đã được biết đến và những vấn đề liên quan đến những công nghệ đó và cách thức mà công nghệ mới áp dụng để giải quyết những vấn
đề đó: những ví dụ cụ thể về công nghệ mới thường cũng được nêu ra;
- Yêu cầu bảo hộ: một tuyên bố nhằm xác định phạm vi bảo hộ được yêu cầu và được chấp nhận thông qua bằng độc quyền sáng chế;
Trang 27- Trích dẫn và các chỉ dẫn: các tài liệu sáng chế nhất định cũng bao gồm các chỉ dẫn đến các thông tin công nghệ có liên quan do người nộp đơn hoặc thẩm định viên tìm ra trong quá trình thẩm định đơn đăng ký sáng chế; những chỉ dẫn và trích dẫn bao gồm tư liệu sáng chế và tư liệu khác” [23;tr.2-3]
Thông tin có trong tư liệu sáng chế có thể được tổng hợp để tạo ra các con số thống kê về mức độ hoạt động bảo hộ sáng chế trong hoặc giữa các nước và các khu vực
Như vậy, có thể thấy thông tin sáng chế có những ưu điểm hơn hẳn so
với các thông tin khác vì thứ nhất, thông tin sáng chế bao gồm những thông tin chưa được bộc lộ ở bất kỳ một dạng nào khác, thứ hai, là theo một mẫu
tương đối chuẩn gồm các thông tin thư mục, tóm tắt sáng chế, bản mô tả chi
tiết sáng chế có kèm theo hình vẽ nếu cần thiết, thứ ba, là tất các các sáng chế
đều được phân theo các lĩnh vực kỹ thuật như nông nghiệp, cơ khí, điện, điện
tử, hoá học, luyện kim,v.v , thứ tư, là gồm các ví dụ về các khả năng áp dụng công nghiệp cụ thể của sáng chế và cuối cùng, thông tin sáng chế bao trùm
hầu hết mọi lĩnh vực công nghệ trên thế giới từ các nhu cầu đơn giản nhất của đời sống con người đến các công nghệ mới nhất, tiên tiến nhất như công nghệ nano, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới,v.v
1.2.2.2 Thông tin nhãn hiệu
Thông tin nhãn hiệu được hiểu là thông tin về Đơn yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu và thông tin về Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đã được cấp
Thông tin nhãn hiệu cụ thể bao gồm thông tin thư mục liên quan đến:
Số Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu;
Ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu;
Số đơn, Ngày nộp đơn;
Thời hạn hiệu lực, Ngày hết hạn hiệu lực;
Trang 28Ngày đăng bạ quốc tế, Số Đăng bạ quốc tế;
Danh mục sản phẩm và dịch vụ;
Mẫu nhãn hiệu/Màu sắc bảo hộ;
Chỉ dẫn về hiệu lực của nhãn;
Phân loại quốc tế về sản phẩm và dịch vụ;
Phân loại quốc tế về các yếu tố hình của nhãn hiệu;
Tên và địa chỉ của người nộp đơn;
Tên và địa chỉ của chủ nhãn hiệu;
Tên và địa chỉ của Người đại diện sở hữu công nghiệp
1.2.2.3 Thông tin kiểu dáng công nghiệp
Thông tin kiểu dáng công nghiệp được hiểu là thông tin về đơn yêu cầu cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp
Thông tin kiểu dáng công nghiệp bao gồm các thông tin thư mục liên quan đến
Số đơn/Ngày nộp đơn;
Số công bố đơn/Số bằng;
Ngày công bố đơn /cấp bằng;
Ngày hết hạn hiệu lực của bằng;
Số phương án yêu cầu bảo hộ;
Tên sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp;
Phân loại quốc tế về kiểu dáng công nghiệp;
Ảnh chup/hình vẽ kiểu dáng công nghiệp;
Yêu cầu bảo hộ kiểu dáng công nghiệp;
Tên và địa chỉ của người nộp đơn;
Tên của Tác giả kiểu dáng công nghiệp;
Tên, địa chỉ của Chủ Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp;
Trang 29Tên của Người đại diện sở hữu công nghiệp
1.3 Doanh nghiệp và vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp đối với các doanh nghiệp
Trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, thông tin sở hữu công nghiệp có một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ định hướng nghiên cứu, phát triển sản xuất và kinh doanh trong các công ty, doanh nghiệp Hệ thống thông tin sở hữu công nghiệp là một nguồn thông tin phong phú, chính xác, tiện dụng, chi phí thấp Sản phẩm và dịch vụ thông tin sáng chế chính là kết quả của quá trình xử lý, chọn lọc, khai thác, phổ biến,v.v khối thông tin sở hữu công nghiệp của các chuyên gia thông tin nhằm đưa ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ nhu cầu của người dùng tin cũng như tạo điều kiện thuận lợi để người dùng tin có thể dễ dàng tiếp cận nguồn thông tin này Sản phẩm và dịch vụ thông tin càng có chất lượng cao, càng đa dạng thì người dùng tin càng có nhiều cơ hội để khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn thông tin này Hay nói cách khác, sản phẩm và dịch vụ thông tin chính là phương tiện để người dùng tin tiếp cận dễ dàng tới nguồn thông tin Sản phẩm và dịch vụ thông tin đem lại cho khách hàng chính là nội dung thông tin có trong sản phẩm thông tin Vì vậy, khi nói tới vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp là nói tới vai trò của thông tin sở hữu công nghiệp
1.3.1 Khái niệm về doanh nghiệp và một số đặc điểm của doanh nghiệp
1.3.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp
Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp Nếu nhìn
ở góc độ tổ chức, doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc, thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm một mục đích, còn nếu nhìn ở góc
độ lợi nhuận thì doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, mà qua đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau với mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường và
Trang 30thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm Dưới góc độ chức năng, doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi Theo quan điểm lý thuyết hệ thống, doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội Theo Khoản 1 Điều 4 của Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29/11/2005 đưa ra khái
niệm “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh” [16;điều 4] Doanh
nghiệp là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Trên thực tế, doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: cửa hàng, nhà máy, xí nghiệp, hãng, công ty,v.v
Cũng theo luật trên, ta có thể phân loại các doanh nghiệp thành:
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp mà trong đó, tài sản của nó
thuộc sở hữu một cá nhân duy nhất
Doanh nghiệp chung vốn hay Công ty Đây là loại hình doanh nghiệp
mà các thành viên sẽ cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty Có hai hình thức công ty chính là công ty TNHH và công ty cổ phần
Công ty TNHH là doanh nghiệp, trong đó các thành viên cùng góp vốn,
cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình
Trang 31“Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lượng tối đa;
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của
Luật này.” [16;điều 77]
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội do nhà nước giao
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư
nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc doanh
nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại
Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tự chủ do người lao động có nhu cầu
và lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn đầu tư, góp sức lập ra theo quy định
của pháp luật để phát huy sức mạnh tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp
nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu số doanh nghiệp theo loại hình doanh nghiệp [24;tr.3]
Trang 32
1.3.1.2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp
- Trình độ công nghệ thấp
Đối với các doanh nghiệp, trình độ công nghệ là một yếu tố cực kỳ quan trọng đối với sự suy tàn hay hưng thịnh của một doanh nghiệp Phần lớn
các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng “công nghệ lạc hậu so với mức trung
bình của thế giới từ 2 đến 3 thế hệ, 76% máy móc, dây chuyền công nghệ được sản xuất từ những năm 1950-1960, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% số thiết bị là đồ tân trang” [14;tr.2] Như vậy có thể nói các doanh
nghiệp Việt Nam đang sử dụng máy móc, thiết bị chủ yếu là trung bình và lạc hậu và rất lạc hậu trong khi đó chi phí đầu tư cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp chỉ khoảng 0,2%-0,3% tổng doanh thu Công nghệ thấp dẫn đến sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam có yếu tố cấu thành của tri thức không cao trong khi yếu tố sức lao động và nguyên vật liệu cao,v.v Điều đó làm cho sức cạnh tranh thấp, chất luợng sản phẩm không có ưu thế rõ rệt trên thị trường
- Năng lực cạnh tranh hạn chế
“Theo điều tra mới nhất hiện có 51,3% doanh nghiệp có dưới 10 lao
động, 44% doanh nghiệp có từ 10 đến 200 lao động , chỉ có 1,43% doanh nghiệp có từ 200 đến 300 lao động Nếu xét theo quy mô vốn đăng ký kinh doanh thì 42% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng, 37% doanh nghiệp có vốn từ 1 tỉ đến 5 tỉ đồng và chỉ có 8,18% doanh nghiệp có vốn từ 5 tỉ đến 10
tỉ đồng” [14;tr.1] Như vậy, đa số các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ và ít
vốn, hơn nữa chất lượng doanh nghiệp lại thấp, cán bộ quản lý còn thiếu kiến thức quản trị và kinh nghiệm kinh doanh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, khả năng đầu tư nghiên cứu đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm mới của các doanh nghiệp là rất khó khăn do thiếu vốn, trình độ nhân lực yếu và hậu quả tất yếu là làm cho chất lượng sản phẩm không có ưu thế trên thị trường và sức cạnh trạnh thấp
Trang 33- Chiến lược phát triển đầu tư theo chiều sâu chưa thực sự là mối quan tâm của doanh nghiệp
Sự lựa chọn đầu tiên của doanh nghiệp là theo hướng mở rộng mặt bằng sản xuất, liên doanh với các đối tác mà không chú trọng tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm đã có bằng cách đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm mới Theo số liệu điều tra của Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội thực hiện năm 2005 cho thấy chỉ có 30,3% doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm bằng đổi mới công nghệ, trong khi đó 56,4 % doanh nghiệp chú trọng tới việc mở rộng mặt bằng sản xuất Do đó, các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam có hàm lượng tri thức và công nghệ không cao, hơn nữa tính độc đáo của sản phẩm còn kém, hầu như luôn đi sau các nước khác cả về kiểu dáng và công nghệ, thậm chí nhiều sản phẩm tiêu dùng và công nghiệp lạc hậu so với thế giới nhiều thế hệ Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa có chiến lược xây dựng thương hiệu mạnh cũng như việc quản
lý và khai thác tài sản trí tuệ này Theo kết quả điều tra của Cục xúc tiến thương mại – Bộ Thương mại cho thấy chỉ có một số doanh nghiệp quan tâm đến việc xây dựng và bảo hộ thương hiệu, cụ thể chỉ có 4,2% doanh nghiệp cho rằng thương hiệu là vũ khí cạnh tranh, 5,4% cho rằng thương hiệu là tài sản doanh nghiệp, còn 30% cho rằng thương hiệu sẽ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp do bán được hàng với giá cao hơn và đem lại vinh dự và đẳng cấp cho người tiêu dùng Mặc dù vậy, chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp có bộ phận quản lý thương hiệu, và sự đầu tư cho xây dựng và phát triển thương
1.3.2 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp đối với các doanh nghiệp
Trang 34
Thông tin sở hữu công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc
hỗ trợ định hướng nghiên cứu, phát triển sản xuất và kinh doanh trong các công ty, doanh nghiệp Sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp chính là kết quả của quá trình lao động của cán bộ thông tin nhằm tăng giá trị thông tin sở hữu công nghiệp đáp ứng nhu cầu của người dùng thông tin Thông tin là cốt lõi của sản phẩm và dịch vụ thông tin7 Vì vậy, khi nói tới vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp là nói tới vai trò của thông tin sở hữu công nghiệp chứa đựng trong sản phẩm và dịch vụ thông tin mang lại cho người sử dụng Trong phạm vi của luận văn, tác giả tập trung bàn luận vai trò của thông tin sáng chế, thông tin nhãn hiệu và thông tin kiểu dáng công nghiệp đối với các doanh nghiệp
1.3.2.1 Vai trò của thông tin sáng chế đối với các doanh nghiệp
Thông tin sáng chế có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh nghiệp do trước hết thông tin sáng chế là nguồn thông tin kỹ thuật duy nhất mà các doanh nghiệp có thể thấy rằng rất có lợi cho kế hoach kinh doanh của họ Vì vậy, thông tin sáng chế là nguồn thông tin quan trọng trong:
* Nghiên cứu, đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm mới
Đổi mới công nghệ là chìa khoá then chốt đối với sự phát triển của các doanh nghiệp Một thực tế khách quan hiện nay là các doanh nghiệp đang phải đương đầu với điều kiện kinh doanh ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn
Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ làm nảy sinh thêm những nhu cầu mới;
Đòi hỏi và lựa chọn ngày càng khắt khe của khách hàng đối với các loại sản phẩm khác nhau;
Khả năng thay thế nhau của các sản phẩm;
Tính cạnh tranh tranh thị trường ngày càng gay gắt
Trang 35
Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trong mọi lĩnh vực, đặc biệt về phương diện công nghệ, đổi mới sản phẩm nhằm thích ứng với sự thay đổi của môi trường, nhu cầu của thị trường, của khách hàng Một doanh nghiệp có thể phát triển sản phẩm mới theo hai cách, hoặc tự nghiên cứu tạo ra sản phẩm mới, hoặc liên kết phối hợp với viện nghiên cứu để thực hiện quá trình nghiên cứu này Đó là cách thứ nhất, cách thứ hai là tiến hành mua lại bằng độc quyền sáng chế hoặc ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp khác hay từ viện nghiên cứu
Thông tin sáng chế là một nguồn thông tin về tình trạng kỹ thuật hiện thời trong công nghệ và vô giá đối với việc phát triển công nghệ mới có tính sáng tạo, những công nghệ có thể giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, giữ vững thị trường, duy trì doanh thu trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay
Thông tin sáng chế được hiểu là thông tin được các cơ quan sáng chế
quốc gia công bố trong tư liệu sáng chế Hiện nay, trên thế giới “có trên 30
triệu bằng độc quyền sáng chế và mỗi năm trung bình có 1 triệu tư liệu sáng chế mới được nộp và công bố” [10;tr.86] Ở cấp kinh tế vĩ mô, số liệu thống
kê rút ra từ tài liệu sáng chế là những dữ liệu quan trọng về hoạt động công nghệ trong các ngành, công ty và đồng thời với vai trò như vậy, chúng là công
cụ hữu ích cho các nhà quản lý doanh nghiệp hoạch định chính sách phát triển công nghệ, định hướng trong nghiên cứu và triển khai Việc khai thác dữ liệu sáng chế để thu được các thông tin kỹ thuật cần thiết giúp cho các nhà nghiên cứu, nhà sáng chế của doanh nghiệp nảy sinh các ý tưởng sáng tạo tìm ra các giải pháp mới cho vấn đề kỹ thuật cần phải giải quyết8, tìm kiếm ý tưởng để tiếp tục đổi mới công nghệ Đồng thời, thông tin mới nhất trong các tài liệu sáng chế có thể giúp các doanh nghiệp tránh được các sai lầm trong đầu tư khi
Trang 36
lặp lại những nghiên cứu đã được hoàn tất Việc sử dụng không đầy đủ thông tin sáng chế gây lãng phí lớn trong đầu tư cho nghiên cứu và triển khai
(R&D) Theo ước tính của Cơ quan Sáng chế châu Âu “ngành công nghiệp
châu Âu đang mất 20 tỷ USD mỗi năm vì thiếu thông tin sáng chế” do “sáng chế lại những sáng chế hiện có, giải quyết lại những vấn đề đã được giải quyết và phát triển lại những sản phẩm đã có trên thị trường” [10;tr.88]
Trong một số trường hợp có thể sử dụng thông tin sáng chế để “Khai thác
công nghệ từ đơn không được cấp bằng độc quyền sáng chế và bằng độc quyền sáng chế không được bảo hộ ở một số nước nhất định hoặc không còn hiệu lực” [23;tr.4] Ngoài ra, thông qua việc sử dụng thông tin sáng chế các
doanh nghiệp có thể “xác định và đánh giá công nghệ để li-xăng hay chuyển
giao công nghệ” [22;tr.27] Việc mua li-xăng đặc biệt hữu ích đối với các
doanh nghiệp có vốn đầu tư thấp vì chi phi phí cho các nghiên cứu để phát triển sản phẩm mới nhiều khi vượt quá khả năng của nhiều doanh nghiệp
* Chiến lược kinh doanh
Thông tin sáng chế có thể giúp cho các doanh nghiệp:
“Tìm kiếm đối tác kinh doanh;
Tìm kiếm nhà cung cấp và nguyên liệu;
Xác định thị trường thích hợp” [22;tr.27]
Theo dõi các hoạt động nghiên cứu, xu hướng công nghệ của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng Các doanh nghiệp có hiểu biết có thể đánh giá được trọng tâm kỹ thuật và sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh với mình qua việc theo dõi các đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế đã nộp và bằng độc quyền sáng chế đã cấp Có thể thu thập thông tin về xu hướng công nghệ và những quyết định đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D) của các công ty
từ những tư liệu này
Trang 37Tìm kiếm chuyên gia công nghệ Tên của các nhà sáng chế thường là thông tin quan trọng đối với các đối thủ cạnh tranh có ý muốn thu hút và thuê nhân tài
Định giá tài sản thuộc bằng độc quyền sáng chế của doanh nghiệp đầu
tư hoặc mua lại
* Xác định tình trạng pháp lý:
- Tránh xâm phạm độc quyền sáng chế của người khác
Tra cứu thông tin sáng chế giúp cho các doanh nghiệp tránh được các tranh chấp pháp lý tốn kém trước khi quyết định sản xuất hoặc nhập khẩu một sản phẩm
- Đánh giá khả năng bảo hộ đối với sáng chế của mình trước khi nộp đơn đăng ký sáng chế
Các doanh nghiệp cần tra cứu thông tin sáng chế để xác định được khả năng bảo hộ sáng chế của mình, tức là liệu có đáp ứng được các tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế hay không (ví dụ, tính mới, tính sáng tạo,v.v ) và trên cơ sở những tài liệu sáng chế đối chứng tìm được sẽ xem xét và quyết định xem có nên nộp đơn đăng ký sáng chế hay không?
- “Phản đối việc cấp bằng độc quyền sáng chế có thể xung đột với
sáng chế của bạn” [22;tr.28] Thông qua việc cập nhật thông tin về bằng độc
quyền sáng chế được cấp có thể xác định liệu bằng độc quyền sáng chế này có xung đột quyền đối với sáng chế của doanh nghiệp mình hay không để có những biện pháp xử lý cụ thể như phản đối việc cấp bằng chẳng hạn
1.3.2.2 Vai trò của thông tin nhãn hiệu đối với doanh nghiệp
- Tìm kiếm ý tưởng để xây dựng nhãn hiệu cho các sản phẩm hoặc dịch
vụ của công ty Từ thông tin thu được trong tài liệu nhãn hiệu, các doanh nghiệp có thể học được kinh nghiệm để tạo dựng cho các sản phẩm hoặc dich
vụ của doanh nghiệp mình một nhãn hiệu không bị trùng hoặc tương tự với
Trang 38các nhãn hiệu đã được đăng ký và nảy sinh các ý tưởng sáng tạo thiết kế nhãn hiệu thích hợp, có tính phân biệt cao thể hiện ý đồ kinh doanh của doanh nghiệp mình
- Đánh giá khả năng bảo hộ của nhãn hiệu dự định đăng ký vào một
quốc gia cụ thể Trước khi tiến hành nộp đơn đăng ký nhãn hiệu, doanh nghiệp cần tiến hành tra cứu thông tin nhãn hiệu của quốc gia đó để xác định xem liệu nhãn hiệu của mình có trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với cùng nhóm sản phẩm và dịch vụ của các doanh nghiệp khác không? Nếu kết quả tra cứu cho thấy đối tượng có khả năng đăng ký thì khi đó mới nộp đơn vào Cơ quan Sở hữu trí tuệ quốc gia
- Xác định tình trạng pháp lý của nhãn hiệu Việc sử dụng thông tin nhãn hiệu giúp doanh nghiệp “tránh không xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp của người khác và ngược lại biết được người khác có xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của mình hay không” [11;tr.205] nếu doanh nghiệp
là chủ sở hữu đích thực Đồng thời, việc tra cứu thông tin nhãn hiệu giúp cho doanh nghiệp kiểm tra tính hợp pháp của nhãn hiệu được cấp giấy phép chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có được bảo hộ hay không, có còn trong thời hạn hiệu lực không, có đang bị tranh chấp hay không,v.v để đảm bảo cho sự thành công của việc chuyển giao quyền sử dụng
- Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Tìm kiếm thông tin nhãn hiệu
giúp cho doanh nghiệp tìm kiếm các nhãn hiệu có tiềm năng trong kinh doanh
để tiến hành ký kết Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho phép bên nhận được quyền sử dụng nhãn hiệu thậm chí cả trang trí thương mại, cách thức kinh doanh, phương pháp và quy trình của bên giao dưới nhãn hiệu này đối với nhượng quyền thương mại và như vậy bên nhận sẽ rất thuận lợi trong kinh doanh mà không cần phải mất
Trang 39thời gian để tạo lập uy tín cho nhãn hiệu của sản phẩm hoặc dịch vụ của mình Tất nhiên, để đổi lấy quyền lợi này, bên nhận trả một khoản phí cố định đồng thời quản lý doanh nghiệp theo cách thức nhằm duy trì uy tín gắn liền với nhãn hiệu đó
- Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đã được xác lập Sau khi đã hoàn
thành việc đăng ký nhãn hiệu, công việc của các doanh nghiệp chưa phải là kết thúc Bằng việc khai thác thông tin về đơn và/hoặc đăng ký nhãn hiệu mới, doanh nghiệp có thể xác định liệu có doanh nghiệp nào có hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu đã đăng ký của mình hay không để có biện pháp bảo vệ hợp lý theo đúng pháp luật tuỳ từng trường hợp cụ thể
1.3.2.3 Vai trò của thông tin kiểu dáng công nghiệp đối với doanh nghiệp
- Tìm kiếm ý tưởng để thiết kế kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm của
doanh nghiệp Từ thông tin tìm kiếm được trong tài liệu kiểu dáng công nghiệp, các doanh nghiệp có thể học được kinh nghiệm để tạo dựng cho các sản phẩm của doanh nghiệp mình một kiểu dáng bên ngoài vừa đáp ứng được tiêu chuẩn bảo hộ vừa tạo được sự hấp dẫn đối với khách hàng mà không ảnh hưởng đến chức năng kỹ thuật của sản phẩm
- Đánh giá khả năng bảo hộ của kiểu dáng công nghiệp dự định đăng
ký vào một quốc gia cụ thể Trước khi tiến hành nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, doanh nghiệp cần tiến hành tra cứu thông tin kiểu dáng công nghiệp để xác định xem liệu kiểu dáng công nghiệp của mình có đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ như tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp hay không để đưa ra quyết định có nên đăng ký kiểu dáng công nghiệp hay không
- Xác định tình trạng pháp lý của kiểu dáng công nghiệp Việc sử dụng
thông tin kiểu dáng công nghiệp giúp doanh nghiệp tránh xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của các tổ chức, cá nhân khác đồng thời cũng biết được liệu
Trang 40có ai xâm phạm quyền kiểu dáng công nghiệp của doanh nghiệp mình đã được bảo hộ hay không, nếu doanh nghiệp là chủ sở hữu đích thực Đồng thời, việc tra cứu thông tin kiểu dáng công nghiệp giúp cho doanh nghiệp kiểm tra tính hợp pháp của kiểu dáng công nghiệp được cấp Giấy chứng nhận chuyển giao quyền sử dụng có được bảo hộ hay không, có còn trong thời hạn hiệu lực hay không, có đang bị tranh chấp hay không,v.v để đảm bảo cho sự thành công của việc chuyển giao quyền sử dụng
- Chuyển giao quyền sử dụng kiểu dáng công nghiệp Việc tìm kiếm
thông tin kiểu dáng công nghiệp giúp cho doanh nghiệp tìm kiếm các kiểu dáng có tiềm năng trong kinh doanh để tiến hành ký kết Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu đối với kiểu dáng công nghiệp Chuyển giao quyền sử dụng kiểu dáng công nghiệp hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu kiểu dáng công nghiệp cho phép bên nhận quyền sử dụng kiểu dáng hoặc quyền sở hữu kiểu dáng công nghiệp và như vậy bên nhận sẽ rất thuận lợi trong kinh doanh mà không cần phải mất thời gian và chi phí để tạo lập kiểu dáng và tạo dựng uy tín cho sản phẩm Tất nhiên để đổi lấy quyền lợi này, bên nhận trả một khoản phí cố định
- Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đã được xác lập Cũng như nhãn
hiệu và sáng chế sau khi đã hoàn thành việc đăng ký kiểu dáng công nghiệp, công việc của các doanh nghiệp chưa phải là kết thúc Bằng việc khai thác thông tin về đơn và/hoặc đăng ký kiểu dáng công nghiệp mới, doanh nghiệp
có thể xác định liệu có doanh nghiệp nào có hành vi xâm phạm quyền với kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký của mình hay không để có biện pháp bảo
vệ kịp thời