Tên đề tài Giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường đại học Lao động – Xã hội được ứng dụng vào thực tiễn 2.. Mặc dù vậy, từ trước tới nay số lượng các k
Trang 1Đại học quốc gia hà nội Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa khoa học quản lý -* -
Phạm Hồng Trang
Giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên trường đại học lao động – xã hội
được ứng dụng vào thực tiễn
Luận văn thạc sỹ khoa học Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số 60.34.72 Khoá 2005 - 2008
Trang 2Mục lục
LỜI CẢM ƠN 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu 5
3 Mục tiêu nghiên cứu 8
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Mẫu khảo sát 9
6 Vấn đề nghiên cứu 9
7 Giả thuyết khoa học 9
8 Phương pháp nghiên cứu 10
9 Kết cấu của Luận văn 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Một số khái niệm được sử dụng trong luận văn 11
1.1.1 Khái niệm giảng viên 11
1.1.2 Khái niệm kết quả nghiên cứu khoa học 16
1.2 Khái niệm về hệ thống đổi mới quốc gia và chính sách đổi mới 17
1.2.1 Hệ thống đổi mới quốc gia 17
1.2.2 Chính sách đổi mới 20
1.3 Lý thuyết liên kết……….22
1.3.1 Tam giác liên kết……….22
1.3.2 Lợi ích của việc áp dụng tam giác liên kết trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường đại học………24
1.4 Kinh nghiệm của một số trường đại học về đảm bảo việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học……….26
Trang 31.4.1 Kinh nghiệm của trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
1.4.2 Trường đại học Kinh tế quốc dân……….28
1.4.3 Đại học Đà Nẵng………30
1.5 Kết luận Chương 1 32
CHƯƠNG 2 Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên vào thực tiễn ở trường đại học lao động – Xã hội 35
2.1 Khái quát về cơ cấu tổ chức và đội ngũ giảng viên của trường 35
2.2 Tình hình ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên trường đại học Lao động – Xã hội 44
2.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên 50
2.4 Kết luận chương 2 58
2.4.1 Về cơ cấu tổ chức 58
2.4.2 Về mức độ ứng dụng của các kết quả nghiên cứu 58
2.4.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng 59
CHƯƠNG 3 Đề xuất giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên được ứng dụng vào thực tiễn 61
3.1 Các giải pháp đã thực hiện ở trường 61
3.2 Đề xuất phương án đảm bảo kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên trường đại học Lao động – Xã hội được ứng dụng vào thực tiễn 62
3.2.1 Nhóm giải pháp đảm bảo cầu về vấn đề nghiên cứu 63
3.2.2 Nhóm giải pháp đảm bảo chất lượng nghiên cứu 72
3.3 Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Phụ lục 95
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tên đề tài
Giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên
Trường đại học Lao động – Xã hội được ứng dụng vào thực tiễn
2 Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hóa của đất nước ta Các kết quả nghiên cứu khoa học được ứng dụng trong thực tế đã đem lại nhiều lợi ích trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nhiều vấn đề đơn giản đến phức tạp, vi mô đến vĩ mô đều được giải quyết một cách hiệu quả nhờ có khoa học Trong quan hệ với giáo dục, nghiên cứu khoa học cũng đóng vai trò đáng kể Qua nghiên cứu, kiến thức của giảng viên được mở rộng, có điều kiện để tăng cường hiểu biết chuyên môn một cách sâu sắc hơn Mặt khác, nghiên cứu khoa học còn có tác dụng giúp giảng viên lựa chọn và tìm được phương pháp giảng dạy hợp lý, cuốn hút và hiệu quả Đồng thời, nó cũng làm cho chất lượng bài giảng, lòng yêu nghề và sự năng động, sáng tạo của các nhà giáo tăng lên do mong muốn được truyền đạt những điều bản thân nhận thức được Như vậy, có thể nói nghiên cứu khoa học đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng một đội ngũ nhà giáo có trình độ cao, với chất lượng giảng dạy hợp chuẩn
Là một cơ sở đào tạo chuyên về lĩnh vực lao động – xã hội, Trường đại học Lao động – Xã hội có chức năng, nhiệm vụ không chỉ bó hẹp trong phạm vi nội bộ mà còn đáp ứng các nhu cầu bên ngoài Những đề tài nghiên cứu khoa học do cán bộ, giảng viên của trường thực hiện một mặt phục vụ nhiệm vụ giảng dạy và nâng cao năng lực giảng viên mặt khác còn giải quyết những vấn
đề của các tổ chức, cá nhân trong cộng đồng Được nâng cấp lên thành trường đại học vào năm 2005, Trường đại học Lao động – Xã hội đang còn phải đối
Trang 5mặt với nhiều khó khăn trong bước đường phấn đấu trở thành một cơ sở đào tạo
có uy tín của đất nước Cùng với việc nâng cao chất lượng đào tạo, Nhà trường còn xác định nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ cần được đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu trên Việc tạo cơ chế khuyến khích các cán bộ, giảng viên tham gia nghiên cứu là cần thiết song vấn đề quản lý, nghiên cứu nói chung và ứng dụng các kết quả nghiên cứu nói riêng cũng không kém phần quan trọng Bởi
vì, nó phản ánh rõ nét nhất ý nghĩa thực sự của một công trình khoa học, đồng thời là sự thể hiện và thực hiện chức năng phục vụ xã hội của một cơ sở đào tạo Mặc dù vậy, từ trước tới nay số lượng các kết quả nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên Trường đại học Lao động – Xã hội được ứng dụng vào thực tiễn rất hạn chế Nhiều nguyên nhân dẫn đến điều này cần được nghiên cứu và phân tích, rút ra các bài học nhằm tránh những lãng phí rất lớn về tài lực và trí lực
Với các lý do trên đây cộng với tầm quan trọng của việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, căn cứ vào đặc điểm và nhu cầu của Trường đại
học Lao động – Xã hội, tôi đã chọn các “Giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Lao động – Xã hội được ứng dụng vào thực tiễn” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình
3 Lịch sử nghiên cứu
Xét về bản chất, việc ứng dụng kết quả nghiên cứu của trường đại học vào sản xuất và đời sống là vấn đề liên kết giữa đào tạo với nghiên cứu và sản xuất Do vậy, câu hỏi thường nhật của việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu, vấn đề làm thế nào để đẩy mạnh việc sử dụng kết quả nghiên cứu phục vụ thực tiễn luôn là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách
Liên kết giữa nghiên cứu và triển khai với đào tạo sau đại học ở Việt
Trang 6cứu và đào tạo sau đại học ở nước ta Cuốn sách tập trung phân tích hiện trạng của hệ thống nghiên cứu và triển khai và hệ thống đào tạo sau đại học của Việt Nam trên các khía cạnh nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, kết quả hoạt động, mối liên kết giữa hai hệ thống này với nhau và với khu vực sản xuất, kinh doanh Trên cơ sở phân tích hiện trạng, rút ra những điểm mạnh, yếu, các tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện, phát triển hệ thống nghiên cứu và triển khai, hệ thống đào tạo sau đại học ở Việt Nam
Các khuyến nghị chủ yếu tập trung vào vấn đề tăng nguồn lực tài chính cho các trường đại học nhằm phát triển cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, kinh phí nghiên cứu và đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ Tuy nhiên, các tác giả chưa đề cập nhiều đến vấn đề ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, thuần tuý chỉ đề cập đến liên kết đào tạo với nghiên cứu
Vấn đề ứng dụng kết quả nghiên cứu cũng được nhiều tác giả lấy làm đề
tài khoa học, ví dụ như CN Nguyễn Lan Anh với đề tài Nghiên cứu cơ chế,
biện pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển sau nghiệm thu [44;34] Tác giả cho rằng có rất nhiều nguyên nhân quyết định đến việc ứng
dụng kết quả nghiên cứu như việc xác định vấn đề nghiên cứu, chất lượng nghiên cứu, năng lực người thực hiện, chất lượng hội đồng đánh giá, vấn đề thị trường công nghệ Tuy nhiên, đề tài tiếp cận từ phía các chủ thể (cơ quan quản
lý, tác giả, người môi giới trung gian) và những cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước có liên quan tới hoạt động nghiên cứu và triển khai Tác giả cho rằng vai trò của các chủ thể trên đều rất quan trọng và mỗi chủ thể đó cần làm tốt nhiệm vụ của mình trong việc thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu
Nguyễn Lan Anh (2008) đã nghiên cứu một số loại hình tổ chức chuyển giao công nghệ trong viện nghiên cứu và phát triển và các trường đại học Tác
Trang 7giả nhấn mạnh đến sự hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, sự ra đời của các tổ chức chuyển giao công nghệ Mối liên kết giữa khu vực nghiên cứu và khu vực doanh nghiệp được xem là mối liên kết cùng có lợi Những đổi mới về công nghệ là nhân tố dẫn đường cho phát triển kinh tế Tuy nhiên, mục tiêu hoạt động của trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp
là rất khác nhau Trường đại học, viện nghiên cứu chú trọng vào thông tin tri thức còn khu vực doanh nghiệp chú trọng vào kinh doanh, lợi nhuận Vì vậy, để thúc đẩy mối quan hệ giữa hai khu vực này cần có một tổ chức cầu nối, đó là các tổ chức chuyển giao công nghệ
Theo tác giả, một số hình thức chuyển giao công nghệ trong viện nghiên cứu và trường đại học có thể thiết lập là : Chuyển giao công nghệ trên cơ sở đặt hàng ; liên kết viện nghiên cứu – trường đại học – nhà nước – doanh nghiệp ; người tạo ra công nghệ tự chuyển giao ; chuyển giao công nghệ theo mô hình khép kín từ nghiên cứu, triển khai, chuyển giao khoa học và công nghệ (KH&CN) đến thị trường ; chuyển giao thông qua hội chợ, hội nghị ; chuyển giao thông qua các tổ chức tư vấn, dịch vụ môi giới trung gian ; thông qua các
tổ chức chuyển giao công nghệ của viện, trường như xưởng thực nghiệm, doanh nghiệp spin-off, trung tâm chuyển giao công nghệ v.v
Trong luận văn tốt nghiệp, tác giả Nguyễn Thanh Duy đã chọn hướng
nghiên cứu là Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và triển khai
trong đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ở Bình Định [10] Trong nghiên
cứu của mình, tác giả đã phân tích vai trò của đổi mới công nghệ, nghiên cứu triển khai với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tìm hiểu về các chính sách khuyến khích phát triển nghiên cứu và triển khai của Nhà nước, mục tiêu phát triển hoạt động khoa học và công nghệ ở Bình Định Các giải pháp mà tác giả đưa ra nhằm thúc đẩy việc ứng dụng kết quả nghiên cứu gồm :
Trang 8- Nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai của các tổ chức nghiên cứu
và triển khai theo hướng đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ : Hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu và triển khai chuyển đổi sang cơ chế hoạt động tự chủ và định hướng phát triển liên kết với các tổ chức của Trung ương ; hỗ trợ phát triển nhân lực, thông tin, tài chính cho các tổ chức ; khuyến khích thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và triển khai ở địa phương
- Nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai và ứng dụng kết quả nghiê cứu thông qua khuyến khích hoạt động trên một số lĩnh vực ưu tiên
- Tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu và triển khai với đổi mới công nghệ thông qua đổi mới các chính sách và vai trò quản lý Nhà nước về lĩnh vực này ở địa phương hướng vào hỗ trợ doanh nghiệp
Như vậy, trong luận văn của mình tác giả chủ yếu tập trung vào các giải pháp nhằm khuyến khích khả năng tự chủ của các tổ chức nghiên cứu và triển khai, đồng thời khuyến nghị với Nhà nước và tỉnh Bình Định về sự hỗ trợ nhằm phát triển nhân lực, thông tin, tài chính cho các tổ chức này Khách thể nghiên cứu của luận văn là các doanh nghiệp ở Bình Định
Trong một số nghiên cứu khác liên quan đến ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học ở trường đại học, các tác giả đã đề cập đến việc xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường – viện nghiên cứu và doanh nghiệp hay mô hình doanh nghiệp spin-off Tuy nhiên, do đặc thù của mỗi đơn vị khảo sát là khác nhau, do
đó những giải pháp được đưa ra phân tích và triển khai tại Trường đại học Lao động – Xã hội trong luận văn này là chưa từng được thực hiện
4 Mục tiêu nghiên cứu:
Trang 9Nghiên cứu đề xuất giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường đại học Lao động – Xã hội được ứng dụng vào thực tiễn Điều đó có nghĩa là tìm giải pháp để các kết quả nghiên cứu của giảng viên được sử dụng phục vụ nhiệm vụ đào tạo của nhà trường và giải quyết những vấn đề cụ thể do xã hội đặt ra
5 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung nghiên cứu:
+ Nghiên cứu thực trạng việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường đại học Lao động – Xã hội, qua đó rút ra những kết luận phục vụ việc đề xuất giải pháp
+ Đề xuất giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu ứng dụng của giảng viên Nhà trường được ứng dụng vào thực tiễn trong nhà trường và ngoài xã hội
- Phạm vi thời gian nghiên cứu:
+ Khảo sát thực trạng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên từ năm 2001 - 2008
6 Mẫu khảo sát:
Việc nghiên cứu được thực hiện ở trường đại học Lao động – Xã hội, khảo sát 150 giảng viên và giảng viên kiêm chức của Trường (phỏng vấn bằng bảng hỏi) và phỏng vấn sâu 10 cán bộ quản lý khoa học, gồm có Ban giám hiệu, lãnh đạo phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, trưởng các khoa, bộ môn trực thuộc trường (khoa Quản lý lao động, khoa Công tác xã hội, Kế toán, Bảo hiểm, bộ môn Luật, bộ môn Quản trị doanh nghiệp) Tất cả những người được phỏng vấn sâu đều là thành viên của Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường
Trang 10Hiện nay hầu hết các đề tài nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên Trường đại học Lao động – Xã hội sau khi nghiệm thu không được triển khai hay áp dụng vào thực tế Đây là một sự lãng phí cả về tài lực và trí lực Vì thế, vấn đề đặt ra là:
“Làm thế nào để các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên trường đại học Lao động – Xã hội được ứng dụng vào thực tiễn (trong Nhà trường và ngoài xã hội) ?”
8 Giả thuyết khoa học :
Các kết quả nghiên cứu của giảng viên có thể được ứng dụng vào thực
tiễn khi đảm bảo chất lượng nghiên cứu và nhu cầu về kết quả nghiên cứu
Nhóm giải pháp đảm bảo cầu về vấn đề nghiên cứu gồm xây dựng định hướng nghiên cứu, tìm đầu ra cho sản phẩm nghiên cứu và quảng bá kết quả nghiên cứu khoa học của Nhà trường
Nhóm giải pháp đảm bảo chất lượng nghiên cứu gồm nâng cao năng lực nghiên cứu cho giảng viên, tạo quỹ thời gian nghiên cứu, tạo động cơ nghiên cứu, hợp tác quốc tế và đổi mới công tác quản lý nghiên cứu khoa học
Nhiệm vụ của luận văn là minh chứng giả thuyết khoa học trên và phân tích các giải pháp một cách cụ thể
9 Phương pháp nghiên cứu:
Các giải pháp được xây dựng trên cơ sở tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia và quan điểm về chính sách đổi mới Đề tài đã vận dụng các phương pháp sau để chứng minh giả thuyết nghiên cứu:
- Phỏng vấn sâu cá nhân các nhà quản lý khoa học (10 người) của trường
Trang 11- Nghiên cứu tư liệu và thống kê về danh mục các đề tài nghiên cứu của giảng viên trong trường
- Nghiên cứu tư liệu thống kê về cơ cấu việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp những năm gần đây để phân tích cầu của xã hội về ngành đào tạo và lĩnh vực cần nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu về cơ cấu tổ chức của trường, đặc điểm cán bộ về chuyên môn, trình độ,
10 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm có 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và khuyến nghị Phần nội dung của luận văn được chia thành 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên vào thực tiễn ở Trường đại học Lao động – Xã hội
Chương 3: Đề xuất giải pháp đảm bảo các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên được ứng dụng vào thực tiễn
Trang 12Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1 Một số khái niệm được sử dụng trong luận văn
.1.1 Khái niệm giảng viên
Giảng viên là viên chức trực tiếp thực hiện công tác giảng dạy và đào tạo tại các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng trên toàn quốc Với tư cách là những người giảng dạy trong nhà trường và các cơ sở giáo dục, giảng viên trước hết
phải hoàn thành những nhiệm vụ của nhà giáo được quy định tại điều 63 Luật
Giáo dục [30;đ63], cụ thể là:
- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý, chương trình giáo dục;
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và
điều lệ của nhà trường;
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách
người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người học;
- Không ngừng học tập rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, nêu gương tốt cho người học
Bên cạnh đó, với tư cách là chuyên môn đảm nhận công tác giảng dạy ở bậc đại học, cao đẳng, giảng viên phải hoàn thành các nhiệm vụ chính sau:
- Giảng dạy đại học, bồi dưỡng sau đại học, hướng dẫn nghiên cứu sinh,
thực tập sinh và bồi dưỡng cán bộ giảng dạy;
- Nghiên cứu và thực nghiệm khoa học kỹ thuật;
- Học tập bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ và chuyên môn;
- Tham gia quản lý công tác đào tạo của nhà trường;
- Thực hiện những công tác chung của xã hội theo chức trách của một cán
bộ nhà nước (lao động nghĩa vụ, luyện tập quân sự)
Trang 13Ngày 28 tháng 11 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định
số 64/2008 quy định về chế độ làm việc đối với giảng viên Theo đó, nhiệm vụ của giảng viên được quy định tại chương 2 của Quyết định, gồm: Nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ và nhiệm vụ tham gia công tác quản lý đào tạo, quản lý hoạt động khoa học và công nghệ
Những hoạt động sau đây được xếp vào nhiệm vụ nghiên cứu khoa học
và chuyển giao công nghệ [2;tr.6]:
- Chủ trì hoặc tham gia tổ chức, chỉ đạo, thực hiện các chương trình, đề
án, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
- Nghiên cứu KH&CN để phục vụ xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng, biên soạn giáo trình, sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo, đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra, đánh giá môn học
- Công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
- Viết chuyên đề, tham luận tại các hội nghị, hội thảo khoa học ở trong
- Tham gia các cuộc thi sáng tạo và các hoạt động khác về KH&CN
- Thâm nhập thực tiễn, phổ biến kiến thức khoa học phục vụ đời sống
Trang 14Như vậy, có thể thấy các nhiệm vụ trên có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó nghiên cứu khoa học và thực nghiệm là một trong những nhiệm
vụ cơ bản của giảng viên, luôn đi đôi với hoạt động giảng dạy
Theo quy định mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổng quỹ thời gian làm việc của giảng viên bình quân trong một năm học là 1760 giờ sau khi trừ các ngày được nghỉ Tết, nghỉ học kỳ Tổng quỹ thời gian này được phân chia theo chức danh giảng viên cho từng nhiệm vụ cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Bảng định mức giờ làm việc của giảng viên trong một năm học
Nhiệm vụ Giảng viên
Phó giáo sƣ và giảng viên chính
Giáo sƣ và giảng viên cao cấp
Nghiên cứu khoa học 500 giờ 600 giờ 700 giờ
Hoạt động chuyên
môn và các nhiệm vụ
khác
Nguồn: Trường Đại học Lao động – Xó hội: Quy định tạm thời về chế độ cụng tỏc của giảng viờn ngày 7/4/2006
Quỹ thời gian làm việc trên được quy đổi ra mức giờ chuẩn Giờ chuẩn giảng dạy là đơn vị thời gian quy đổi từ số giờ lao động cần thiết để hoàn thành một khối lượng công việc nhất định thuộc nhiệm vụ giảng dạy của giảng viên tương đương với việc thực hiện một tiết giảng lý thuyết trực tiếp trên lớp Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy của giảng viên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo là:
Bảng 1.2 Định mức giờ giảng tính theo giờ chuẩn của giảng viên đại học Chức danh giảng viên Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy
Quy định chung cho Môn Giáo dục thể
Trang 15các môn chất, giáo dục quốc
phòng ở trường không chuyên
Giáo sư và giảng viên
cao cấp
360 giờ chuẩn 500 giờ chuẩn
Phó giáo sư và giảng
viên chính
320 giờ chuẩn 460 giờ chuẩn
Nguồn: Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT - Bộ Giỏo dục và Đào tạo
Căn cứ vào các quy định trước đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường đại học Lao động – Xã hội đã xây dựng mức chuẩn cho giảng viên của mình theo thâm niên công tác như sau:
Bảng 1.3 Định mức giờ giảng tính theo giờ chuẩn trong một năm học áp dụng cho giảng viên Trường đại học Lao động – Xã hội
ST
T
Các loại công việc
Giáo sư, giảng viên cao cấp
Giản
g viên chính
Giảng viên từ
5 năm trở lên
Giảng viên dưới 5 năm
Giản
g viên tập
sự
1 Công tác chuyên môn (Soạn
bài, giảng bài, hướng dẫn
Trang 16kỹ thuật, ngoại ngữ, khoa
học tự nhiên
- Giáo viên Giáo dục thể
chất
2 Tự bồi dưỡng kiến thức
4 Sinh hoạt chuyên môn và
Tuỳ vào chuyên ngành giảng dạy mà định mức cao áp dụng cho các môn khoa học tự nhiên, kỹ thuật cơ sở và ngoại ngữ trong các trường không chuyên ngữ, định mức thấp áp dụng cho các môn khoa học xã hội, chính trị và chuyên ngành, ngoại ngữ trong các trường chuyên ngữ
Nếu cán bộ không làm nghĩa vụ lao động, không luyện tập quân sự, không tham gia nghiên cứu khoa học thì hiệu trưởng sẽ bố trí làm thêm công tác giảng dạy với khối lượng tương đương với thời gian dành cho các công việc trên quy ra giờ chuẩn Trường hợp cán bộ được biệt phái đến tham gia giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học ở một cơ sở ngoài trường thì khối lượng công tác cần đảm nhiệm ở trường (giảng dạy, nghiên cứu khoa học, lao động nghĩa vụ,
Trang 17luyện tập quân sự) được tính theo thời gian làm việc còn lại trong 46 tuần lễ của năm học
Với quy định về chế độ công tác của giảng viên như trên chắc chắn có ảnh hưởng tới qũy thời gian và khả năng nghiên cứu khoa học của giảng viên Đây cũng là vấn đề cần xem xét khi tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hạn chế việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu của giảng viên vào thực tiễn
.1.2 Khái niệm kết quả nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi
sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người
Kết quả nghiên cứu khoa học là những sản phẩm thu được sau một quá trình nghiên cứu Đó có thể là một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học, một sản phẩm mẫu thu được sau quá trình thực nghiệm, cũng có thể là một mô hình tổ chức và quản lý, mô hình phương pháp giảng dạy hoặc một giải pháp
xã hội nào đó [16;tr.8] Nói cách khác, kết quả nghiên cứu khoa học là những
thông tin – tri thức Có thể đó là tri thức mới về các quy luật của sự vật hoặc hiện tượng; có thể đó là tri thức mới về các giải pháp mới, công nghệ mới hoặc vật liệu mới, vv
Có nhiều cách phân loại khoa học, ở đây chúng tôi đề cập đến cách phân loại nghiên cứu khoa học theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu Theo đó, nghiên cứu khoa học có ba hình thức cơ bản là: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai
Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa
sự vật với các sự vật khác Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản có thể dẫn đến việc
Trang 18hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, có khả năng ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau
Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống Tuy nhiên, để các kết quả của nghiên cứu ứng dụng có thể ứng dụng được vào thực tế thì cần có hoạt động triển khai
Triển khai là sự vận dụng các quy luật thu được từ nghiên cứu cơ bản và các nguyên lý thu được từ nghiên cứu ứng dụng để đưa ra các hình mẫu và quy trình sản xuất với những tham số khả thi về kỹ thuật Để các kết quả của triển khai có thể triển khai trong thực tế thì cần nghiên cứu các điều kiện đảm bảo khác như tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất, vv
Trường đại học Lao động – Xã hội có nhiệm vụ đào tạo, cung cấp cho xã hội các cán bộ làm việc trong lĩnh vực lao động, xã hội Với đặc điểm là một trường đại học còn trẻ, trong giai đoạn hiện nay nhiệm vụ khoa học của trường chủ yếu tập trung hoàn thiện chương trình học, xây dựng giáo trình bài giảng và các giải pháp hữu ích phục vụ công tác đào tạo Vì thế, các đề tài nghiên cứu khoa học của nhà trường chủ yếu thuộc loại hình nghiên cứu ứng dụng và triển khai Do đó, việc các kết quả nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên trong trường sử dụng để phục vụ thực tiễn được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết Điều đó thể hiện ngay trong mục tiêu của mỗi đề tài cũng như phương hướng, nhiệm vụ đặt ra cho nghiên cứu khoa học do nhà trường quy định
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi tập trung phân tích các đề tài mang
mục tiêu ứng dụng do cán bộ, giảng viên nhà trường thực hiện Mặc dù kết quả
của nghiên cứu ứng dụng chưa ứng dụng ngay được song mục đích của luận
văn là tìm ra cơ chế, các điều kiện đảm bảo để những kết quả nghiên cứu đó không bị lãng phí khi chỉ mãi mãi nằm trên giấy vở
Trang 191.2 Khái niệm về hệ thống đổi mới quốc gia và chính sách đổi mới
1.2.1 Hệ thống đổi mới quốc gia
Khái niệm “hệ thống đổi mới quốc gia” trong một vài năm gần đây đã trở nên phổ biến tại một số quốc gia tiên tiến và tổ chức OECD (tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) thay cho khái niệm lâu nay vẫn hay dùng là “hệ thống KH&CN quốc gia” hay “hệ thống nghiên cứu và phát triển” Theo OECD, khái niệm “hệ thống đổi mới quốc gia” đã và đang thu hút một số lượng lớn các nghiên cứu trong giới nghiên cứu về cách tiếp cận hệ thống đổi mới
Xét về mặt lịch sử, theo C.Freeman, B-A, Lundvall là người đầu tiên sử dụng khái niệm hệ thống đổi mới quốc gia vào cuối thập kỷ 80 Tuy nhiên, dưới dạng sách được xuất bản thì chính C.Freeman là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này khi ông mô tả về chính sách công nghệ và phát triển kinh tế của Nhật Bản Năm 1991, lần đầu tiên các cách tiếp cận khác nhau về hệ thống đổi mới quốc gia đã được Mc Kelvey so sánh Năm 1993, R.Nelson xuất bản cuốn sách nổi tiếng của mình trong đó so sánh các hệ thống quốc gia về đổi mới của 14 nước
Trên thực tế đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau để khảo sát và làm rõ quan hệ tương tác giữa các hoạt động KH&CN và các hoạt động kinh tế – xã hội trong một quốc gia Tuy nhiên, không một cách tiếp cận nào cho phép quan sát các tương tác này trong khuôn khổ vừa bao quát vừa tiếp cận đến mục đích cuối cùng của các hoạt động KH&CN là đưa ra sản phẩm mới
Xét về bản chất, nhiều nghiên cứu nhấn mạnh hệ thống đổi mới quốc gia bao gồm mạng lưới hoặc là hệ thống hoặc là tập hợp các yếu tố và tương tác giữa các yếu tố, các hoạt động, tổ chức và thiết chế liên quan trong quá trình tạo ra, áp dụng và phổ biến các tri thức mới trong một quốc gia [44;tr.102]
Tóm lại, có thể hình dung hệ thống đổi mới quốc gia bao gồm các yếu tố sau:
Trang 20- Các loại hoạt động: Gồm có nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ, thương mại hoá sản phẩm mới, các hoạt động đào tạo nhân lực KH&CN, các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng KH&CN…
- Các tổ chức: Chính phủ, công ty, đại học, viện nghiên cứu, các tầng lớp dân cư có liên quan hoặc chịu ảnh hưởng của các chính sách và thành quả KH&CN
- Các chính sách: Công nghiệp, thương mại, khoa học, công nghệ, tài chính, môi trường…
- Các liên kết và tương tác giữa các yếu tố, tổ chức và chính sách trong quá trình đổi mới
Hệ thống đổi mới quốc gia bao gồm tất cả các yếu tố, các tổ chức và chính sách trực tiếp và gián tiếp tham gia vào quá trình đổi mới sản phẩm, đổi mới công nghệ trong phạm vi quốc gia Các hệ thống đổi mới quốc gia khác nhau chính là ở mối quan hệ và vai trò của từng loại tổ chức trong hệ thống, đặc biệt là vai trò của các doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu và triển khai do các thiết chế của chính phủ quy định
Xét riêng trong lĩnh vực KH&CN, hệ thống đổi mới quốc gia không chỉ bao gồm các tổ chức KH&CN với tư cách là nhà cung cấp các giải pháp KH&CN mà còn bao gồm cả các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội dân sự, các
cơ quan chính phủ đại diện cho phía cầu với tính cách là bên sử dụng giải pháp KH&CN Trên quan điểm tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia, đầu ra của hoạt động KH&CN là các sản phẩm mới, dịch vụ mới được thị trường chấp nhận Để đạt được điều này, tri thức KH&CN phải được gắn kết và tham gia trực tiếp vào hoạt động làm ra sản phẩm mới, dịch vụ mới tại các doanh nghiệp và tạo ra những giá trị mới được thị trường chấp nhận và chi trả (mua) Như vậy, tiếp cận
hệ thống đổi mới quốc gia đòi hỏi hệ thống KH&CN, với nghĩa rộng nhất của
từ này, phải gắn kết với hệ thống các doanh nghiệp Nói cách khác, các tri thức
Trang 21về KH&CN phải được hiện thực hoá thành sản phẩm, dịch vụ hữu ích mang tính thương mại, có thể trao đổi trên thị trường và phục vụ xã hội
Với cách tư duy mới này, chính sách phát triển của các nước công nghiệp phát triển đã chú trọng đến các chính sách thúc đẩy đổi mới như chính sách về sản phẩm, dịch vụ, công nghệ, quản lý, tổ chức… Các chính sách này được nghiên cứu và xây dựng trên cơ sở gắn với yếu tố cạnh tranh trên thị trường sao cho cả một hệ thống của quốc gia bao gồm hệ thống nghiên cứu và triển khai, các doanh nghiệp, các trường đào tạo, chính phủ và các yếu tố thị trường được kết hợp với nhau để hướng tới mục tiêu chung Mục tiêu chung đó là tạo ra những sản phẩm, quy trình và dịch vụ mới được thị trường và xã hội chấp nhận
Trong một nghiờn cứu về chính sách đổi mới và cỏch tiếp cận hệ thống đổi m, Edquist (2001) cho rằng chính sách đổi mới là những can thiệp của nhà nước nhằm đến sự thay đổi kỹ thuật và cỏc hỡnh thức đổi mới khỏc, bao gồm: Chớnh sỏch nghiờn cứu và triển khai, chớnh sỏch cụng nghệ, chính sách cơ sở
hạ tầng, chớnh sỏch vựng và chớnh sỏch giỏo dục Điều này cú nghĩa rằng chính sách đổi mới vượt ra khỏi phạm vi của chớnh sỏch KH&CN (ảnh hưởng đến đổi mới từ bên cung) và như vậy chính sách đổi mới bao gồm cả hoạt động cụng ảnh hưởng đến đổi mới từ bờn cầu (Edquist, 2001)
Trang 22Khi nghiờn cứu về chính sách đổi mới trong nền kinh tế tri thức (Cowan and van de Paal, 2000) cỏc tỏc giả đó đưa ra cách xác định chính sách đổi mới như một tập hợp cỏc hoạt động chớnh sỏch nhằm gia tăng số lượng và hiệu quả
của cỏc hoạt động đổi mới Cỏc hoạt động đổi mới ở đây đề cập đến sự sỏng
tạo, sự thớch nghi và chấp nhận cỏc sản phẩm, qui trỡnh hoặc dịch vụ mới hoặc được cải tiến Ở phạm vi doanh nghiệp hay tổ chức thỡ cỏc hoạt động này
diễn ra nhằm giới thiệu cỏc sản phẩm, qui trỡnh hoặc dịch vụ mới hoặc được cải tiến nhằm tăng năng suất, lợi nhuận hoặc thị phần, với mục tiờu cuối cùng là tăng tính cạnh tranh của tổ chức mỡnh trong khoảng thời gian dài
Trong nghiờn cứu của Uỷ ban chõu Âu về Đổi mới thỡ cho rằng “chính
sách đổi mới không đơn thuần chỉ tập trung vào nghiờn cứu và triển khai mà tập trung vào cỏc biện phỏp tốt nhất để thúc đẩy một môi trường cú lợi cho đổi mới, đó là một môi trường mà tạo điều kiện cho việc truyền bỏ tri thức và cụng nghệ trong hệ thống Môi trường thể chế thuận lợi bao gồm “nhu cầu” cho đổi mới: môi trường kinh tế vĩ mụ, cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả, liờn kết khoa học-cụng nghệ tốt, tiếp cận đến nguồn vốn mạo hiểm và quản lý chuyờn mụn cho cho việc hỡnh thành doanh nghiệp, điều kiện hỡnh thành mạng lưới, cơ cấu
Cũng cần phải nhấn mạnh rằng “chính sách đổi mới” khụng phải là một chớnh sỏch mới, độc lập như chính sỏch giỏo dục, chính sách đầu tư và tài chính,… mà nó là hệ thống cỏc chớnh sỏch Điều quan trọng là căn cứ vào tỡnh hỡnh cụ thể của mỗi tổ chức mà nhà quản lý, hoạch định phải tỡm được cỏch
Trang 23thức để tập hợp cỏc chớnh sỏch thành phần thành chính sách đổi mới nhằm phục vụ nhu cầu đổi mới và cạnh tranh của tổ chức mỡnh
Như vậy, mục đích cuối cùng của chính sách đổi mới là tạo ra sản phẩm
có tính cạnh tranh, có khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và được thị trường chấp nhận chi trả Theo quan điểm của chính sách đổi mới, chính sách giáo dục là bộ phận hợp thành của chính sách đổi mới Cũng theo quan điểm này, trường đại học cần tạo lập được một hệ thống giải pháp thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, tạo ra được những sản phẩm khoa học có chất lượng, đến được tay “người tiêu dùng” Muốn vậy, hệ thống giải pháp đổi mới
đó phải bao gồm các giải pháp tạo ra năng lực nghiên cứu cho tập thể giảng viên, sinh viên, đảm bảo chất lượng nghiên cứu, thu hút nhu cầu của xã hội Đây là vấn đề được tập trung nghiên cứu và phân tích trong chương 3 của luận văn theo quan điểm của chính sách đổi mới
1.3 Lý thuyết liên kết
1.3.1 Tam giác liên kết
Khái niệm tam giác liên kết được sử dụng khi xem xét mối quan hệ giữa nghiên cứu lý thuyết với sản xuất, ứng dụng được thực hiện chủ yếu tại các trường đại học hoặc tại các viện hàn lâm Mối quan hệ này có thể hình dung qua tam giác liên kết dưới đây:
SX
NC ĐT
Hình 1.1 Tam giác liên kết NC - ĐT - SX
Hầu hết các xí nghiệp công nghiệp tại các nước công nghiệp mới và đang phát triển hiện nay đều có quy mô vừa và nhỏ Năng lực công nghệ của họ (tự
Trang 24tạo hoặc thích nghi) trên thực tế phụ thuộc vào sự hỗ trợ của hạ tầng công nghệ quốc gia Công nghệ nào cần mua, công nghệ nào có thể tự tạo cũng phụ thuộc vào thiết chế của hạ tầng cơ sở đó Hạ tầng cơ sở này được thiết lập nhằm tạo ra
sự đổi mới thông qua tam giác liên kết giữa các viện nghiên cứu hàn lâm (đào tạo công nghệ và nghiên cứu lý thuyết), các tổ chức KH&CN và các xí nghiệp công nghiệp Sự kết hợp này được gọi là tam giác nghiên cứu công nghiệp và bản thân nó có vai trò cực kỳ to lớn trong sự nghiệp thúc đẩy KH&CN
Tuỳ thuộc vào mục tiêu phân tích, ta có thể gọi đó là tam giác liên kết (Triangular linkages) hoặc tam giác đổi mới (Innovation triangle) hoặc tam giác công nghiệp (Industrial triangle)
Kết quả (xét theo phương diện đổi mới công nghệ) do có sự liên kết chặt chẽ trong tam giác nghiên cứu giữa khoa học và sản xuất bao gồm các dạng sau đây:
- Đổi mới quá trình - sản phẩm;
- Đổi mới tri thức - kỹ năng;
- Đổi mới phương pháp - đóng gói
Trong tam giác liên kết, sự tham gia của các tổ chức hỗ trợ như tổ chức tài chính (cơ quan hỗ trợ đầu tư, ngân hàng đầu tư mạo hiểm), các tổ chức kỹ thuật (đánh giá, kiểm định và bảo hộ chất lượng, tiêu chuẩn hoá v.v ) hoặc các
tổ chức dịch vụ thông tin, tư vấn) là rất cần thiết để hỗ trợ cho các quá trình đổi mới trên Các tổ chức hỗ trợ này có thể là tổ chức thuộc khu vực Nhà nước hoặc khu vực tư nhân
Mối quan hệ giữa ba khu vực nghiên cứu, đào tạo và sản xuất thường ược thể hiện thông qua các hoạt động như:
đ Hợp tác nghiên cứu;
- Tài trợ nghiên cứu;
- Hợp đồng nghiên cứu;
Trang 25- Các hoạt động hỗ trợ: Dịch vụ tư vấn; hỗ trợ kỹ thuật; kiểm định; chuyển giao đội ngũ và hợp đồng trực tiếp với cá nhân; dùng chung phương tiện, thiết bị; tặng, biếu thiết bị
- Các hoạt động đào tạo: Thực tập; nâng cao; hội thảo, hội nghị v.v Mối quan hệ giữa ba khu vực trên cũng có thể tồn tại dưới dạng các hình thức tổ chức như: Các liên hiệp khoa học - sản xuất; viện tổng hợp; các tổ chức phối thuộc giữa khoa học - đào tạo - sản xuất; công viên khoa học, công viên công nghệ, công viên công nghiệp; các viện liên hợp (một dạng của công viên khoa học – science park)
Thể loại liên kết có thể được phân chia tương ứng với mức độ phức tạp của các quan hệ trong tập hợp hoặc quan hệ theo cặp Tuy nhiên, các mối liên kết có thể là chính thức và phi chính thức Liên kết chính thức thường là các liên kết dẫn đến xây dựng tổ chức Mọi hành động sau đó thường được thực hiện trên cơ sở "hợp đồng hoặc thoả thuận chung" Liên kết phi hình thức thư-ờng là các liên kết cá nhân, đơn hành dựa trên cơ sở lòng tin lẫn nhau và tiếp cận cá nhân
1.3.2 Lợi ích của việc áp dụng tam giác liên kết trong hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường đại học
Trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức sản xuất, kinh doanh là ba khu vực trong tam giác liên kết Tuy nhiên, mỗi khu vực này lại có đặc thù riêng
Trường đại học có chức năng chính là đào tạo, nghiên cứu và phục vụ xã hội Hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ xã hội, đồng thời đem lại nguồn thu cho trường Nhân lực KH&CN với những tập thể nghiên cứu mạnh là hạt nhân tích cực trong việc thúc đẩy hoạt động KH&CN và góp phần hoàn thành tốt chức năng trên của trường
Trang 26Viện nghiên cứu có chức năng chính là nghiên cứu, đào tạo, hoạch định các chính sách và phục vụ xã hội Như vậy, nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ được chú trọng hàng đầu, là hoạt động được đầu tư chủ yếu cả về nhân lực, vật lực, tin lực và tài lực
Chức năng của doanh nghiệp là sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Để có được các sản phẩm có tính cạnh tranh, được thị trường chấp nhận thì doanh nghiệp phải đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và triển khai
Như vậy, các tổ chức KH&CN cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng và các bí quyết kỹ thuật (know - how), trong khi các tổ chức kỹ thuật và sản xuất đáp ứng phương tiện và cơ hội cho việc sử dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, tạo ra sản phẩm xã hội cần với giá cả hợp lý
Đối với các tổ chức KH&CN trong đó có trường đại học, mối liên kết trên có thể nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ nguồn vốn nghiên cứu mà tổ chức
kỹ thuật và sản xuất hỗ trợ Mối quan hệ đó cũng giúp cho các định hướng nghiên cứu mang tính lý thuyết hướng vào thực tiễn nhiều hơn, nhằm phục vụ nhu cầu thực tiễn Điều này rất quan trọng cho việc phát triển đội ngũ, nâng cao nguồn lực thông qua giảm giá công nghệ chuyển giao, đồng thời cũng hướng các nghiên cứu tập trung hơn nữa tới nhu cầu của thị trường nhằm tạo ra các công nghệ có thể chuyển giao được
Mối liên kết có hiệu quả trong tam giác nghiên cứu sẽ giúp ích nhiều cho những nhà hoạch định chính sách sản xuất kinh doanh Lợi ích mà khu vực sản xuất có được trong mối liên kết với trường đại học, viện nghiên cứu được thể hiện qua việc doanh nghiệp được cung cấp nhân lực có trình độ chuyên môn, đ-ược đào tạo thêm để nâng cao năng lực Bởi vì, chính những nhu cầu của doanh nghiệp lại do phía trường đại học, viện nghiên cứu phát hiện và giải quyết Điều
đó là một trong các biện pháp để thu được know-how và tăng cường nguồn lực thông qua việc cấp vốn, dùng chung thiết bị và chia sẻ kinh nghiệm
Trang 27Mối liên kết chặt chẽ giữa ba khu vực trên có thể tạo ra năng lực phát triển công nghệ nội sinh cho đất nước, sử dụng một cách có hiệu quả công nghệ nhập, đồng thời tạo ra năng lực mới cho các tổ chức KH&CN và cuối cùng dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế của đất nước
Tuy nhiên, mối quan hệ trên tại nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) thực tế không mạnh Thói quen hàn lâm đối lại với thói quen thương mại cũng là một trong các vấn đề cần giải quyết để tạo được mối liên kết tốt Tình trạng thường thấy ở các nước đang phát triển là phần lớn các công nghệ được tạo ra trong các tổ chức KH&CN để có thể chuyển giao cho công nghiệp hoặc ngược lại công nghiệp không có sự chuẩn bị để lựa chọn áp dụng đầu ra của tổ chức KH&CN do khả năng kỹ thuật và các tính toán kinh tế Sự yếu kém trong liên kết đã tạo ra xu thế phát triển biệt lập, cát cứ và sự đóng góp yếu kém cho nền kinh tế Kết quả là sự hụt hẫng kỹ năng có liên quan tại các cơ sở sản xuất
và tổ chức KH&CN, còn các cơ sở đào tạo thì không tận dụng được các nguồn nhân lực
Mặc dù vậy, không thể phủ nhận vai trò to lớn của tam giác liên kết trong việc phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học nói riêng và sự phát triển của trường đại học nói chung Nhờ có mối liên kết này, nhân lực KH&CN của trường đại học được nâng cao về năng lực nghiên cứu, đồng thời nhà trường cũng thực hiện được chức năng của mình là phục vụ nhu cầu xã hội, dần dần có thể trở thành một tổ chức KH&CN độc lập, tự chủ về tài chính
1.4 Kinh nghiệm của một số trường đại học về đảm bảo việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học
1.4.1 Kinh nghiệm của trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh là sự phát triển kế thừa của Đại học Văn khoa Sài Gòn và các khoa học xã hội và nhân văn của Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay trường có hơn 550
Trang 28cán bộ, trong đó cán bộ giảng dạy gần 400 người với 22 giáo sư và phó giáo sư,
70 tiến sỹ và 136 thạc sỹ Cũng như ở các trường đại học khác của Việt Nam, giảng viên trong trường thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chính trị chuyên môn
là giảng dạy - đào tạo và nghiên cứu khoa học [25;tr.1]
Để đảm bảo các kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên được ứng dụng vào thực tiễn, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố
Hồ Chí Minh đã áp dụng các biện pháp sau:
Thứ nhất, nhà trường chú trọng đến việc nâng cao nhận thức của xã hội nói chung và các tổ chức kinh tế – xã hội nói riêng về vai trò, ý nghĩa của khoa học xã hội trong sản xuất và đời sống Đại hội Đảng IX của nước ta (2001) đã
chỉ rõ: “Khoa học xã hội và nhân văn hướng vào việc giải đáp các vấn đề lý
luận và thực tiễn, dự báo các xu thế phát triển, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng con người, phát huy những di sản văn hoá dân tộc, sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới của Việt Nam” [11]
Thứ hai, phải xác định được định hướng nghiên cứu cho giảng viên của trường Định hướng nghiên cứu làm rõ tính mục đích thực tiễn của nghiên cứu
và khung phạm vi nghiên cứu, tránh tình trạng tự phát, kém hiệu quả trong nghiên cứu Nhà trường đã xây dựng định hướng nghiên cứu dựa trên định hướng do Bộ Khoa học và Công nghệ đưa ra, đó là:
- Những vấn đề cơ bản về xây dựng chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam dưới sự tác động của xu thế toàn cầu hoá và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
- Xây dựng và phát triển con người Việt Nam và văn hoá Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 29- Khoa học và công nghệ thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm; các cơ chế chính sách, giải pháp phục vụ cho sự phát triển toàn diện và bền vững kinh
tế trọng điểm
Thứ ba, xây dựng đội ngũ và tổ chức quản lý nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, đào tạo một nhà khoa học về khoa học xã hội và nhân văn khó hơn và lâu dài hơn so với khoa học tự nhiên vì ngoài kiến thức trong tài liệu, khoa học xã hội còn đòi hỏi một kinh nghiệm và vốn sống phong phú Hơn nữa, ngay việc tích luỹ kiến thức thuần tuý trong khoa học xã hội và nhân văn cũng không thể một sớm một chiều Vì thế, theo ý kiến của Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh thì cần có một chính sách cụ thể, hợp lý hơn trong quy định về tuổi quản lý và tuổi về hưu đối với các cán bộ có học hàm, học vị cao, cống hiến lớn trong ngành.Về công tác quản lý, cần “công nghệ hoá” hoạt động của phòng Quản lý khoa học Phòng này phải có chức năng xây dựng kế hoạch nghiên cứu, thực hiện triển khai và quản lý quá trình nghiên cứu, tổ chức đánh giá nghiệm thu và tổ chức sử dụng, chuyển giao kết quả nghiên cứu có hiệu quả
Thứ tư, cần tăng cường nghiên cứu liên ngành và hợp tác quốc tế trong nghiên cứu Hiện nay, sự liên kết và hợp tác trong nghiên cứu chủ yếu mang tính cá nhân và có phần ngẫu nhiên, tự phát Vì vậy, cần phải có một cơ chế hợp tác giữa các trường đại học, viện và cơ quan nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn ở cả trong và ngoài nước
1.4.2 Trường đại học Kinh tế Quốc dân
Trường Đại học Kinh tế quốc dân là cơ sở đào tạo lớn nhất cả nước về lĩnh vực kinh tế Hiện nay, hệ thống nghiờn cứu của trường Đại học Kinh tế
Quốc dõn bao gồm “4 viện, 6 trung tõm, 28 khoa và cỏc bộ mụn trực thuộc với
đội ngũ gồm 1167 cỏn bộ, giáo viên, công nhân viên, trong đó có 697 giáo viên,
19 giáo sư, 105 PGS, 107 tiến sỹ và 398 thạc sĩ Tỷ lệ giỏo viờn tham gia vào
Trang 30các đề tài cấp nhà nước và cấp bộ hàng năm chiếm 50% 80% số giáo viên cơ hữu cú cỏc bài viết và cụng trỡnh nghiờn cứu trong năm” [48]
Về kinh nghiệm trong việc đảm bảo kết quả nghiờn cứu được ứng dụng vào thực tiễn, Trường Đại học Kinh tế quốc dân đó rất chỳ trọng việc tạo lập mối quan hệ với cỏc tổ chức, doanh nghiệp và quảng bỏ hoạt động nghiờn cứu khoa học của mỡnh
Với đặc thù là đơn vị chuyờn mụn nghiờn cứu và giảng dạy về lĩnh vực kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đó được Nhà nước trực tiếp giao
nhiều đề tài lớn như: “Xõy dựng chiến lược ổn định và phỏt triển kinh tế xó hội
của Việt nam đến năm 2000”; Dự thảo phần kinh tế cho Văn kiện hội nghị giữa
nhiệm kỳ Đại hội VII; Dự thảo Bỏo cỏo chớnh trị trỡnh Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam và nhiều chớnh sỏch kinh tế vĩ mô khác Trường đó chủ trỡ chương trỡnh khoa học cụng nghệ cấp Nhà nước KX 02 giai đoạn 2001 - 2005
về cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ ở Việt Nam
Cụng tỏc nghiờn cứu, tư vấn cho các địa phương cũng được trường chỳ trọng Trong những thời kỳ chuyển đổi cơ chế quản lý, trường luôn là cơ quan khoa học được các địa phương đặt hàng nghiờn cứu những đề tài mang tớnh thực tiễn Nhờ vậy, uy tớn của nhà trường đối với xó hội ngày càng tăng; đồng thời, nội dung đào tạo ngày càng gắn với thực tiễn của đời sống kinh tế của đất nước
Đại học Kinh tế Quốc dân có đủ năng lực tư vấn quản trị kinh doanh cho
cỏc doanh nghiệp, vỡ vậy đây là một hoạt động được nhà trường rất chỳ tõm phỏt triển Trường đó thực hiện nhiều hợp đồng tư vấn cho cỏc doanh nghiệp lớn trong cả nước như việc tổ chức những khoỏ bồi dưỡng cho cỏn bộ lónh đạo cỏc doanh nghiệp, cỏc cuộc điều tra thị trường, xõy dựng dự ỏn… Hoạt động hợp tỏc, tỡm kiếm “đầu ra” cho sản phẩm nghiờn cứu cũng là một biện pháp đảm bảo kết quả nghiờn cứu được sử dụng, phục vụ xó hội Hiện nay, trường đó
Trang 31thiết lập quan hệ với cỏc tổ chức lớn như Cụng ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt), Tổng công ty xăng dầu (Petrolimex), Ngõn hàng Nụng nghiệp và Phỏt triển nụng thụn và một số cỏc Tổng cụng ty 90, 91 …
Túm lại, cú thể thấy Trường Đại học Kinh tế quốc dõn với đặc thự về lĩnh vực đào tạo đó cú những lợi thế nhất định trong việc tỡm kiếm “đầu ra” cho sản phẩm nghiờn cứu Nhà trường đó và đang chú trọng tạo lập mối quan
hệ với cỏc tổ chức, doanh nghiệp và quảng bỏ hoạt động nghiờn cứu khoa học của mỡnh
1.4.3 Đại học Đà Nẵng
Đại học Đà Nẵng là đại học duy nhất ở Miền Trung – Tây Nguyên đào tạo kỹ sư đa ngành và cán bộ quản lý kinh tế khu vực miền trung Trường được thành lập từ năm 1975, sau hơn 30 năm phát triển Đại học Đà Nẵng đó
mở rộng và có các đơn vị thành viờn sau: Trường Đại học Bỏch khoa, Trường Đại học Kinh tế, Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Ngoại ngữ, Trường Cao đẳng Cụng nghệ, Trường Cao đẳng Cụng nghệ thụng tin, Phõn hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum [49]
Hiện tại Đại học Đà Nẵng cú 1600 cỏn bộ giảng dạy và phục vụ giảng dạy, thực hiện đào tạo 12 chuyờn ngành tiến sỹ, 20 chuyờn ngành thạc sỹ, 70 chuyên ngành đại học và 20 chuyên ngành cao đẳng và trung cấp chuyờn nghiệp Bờn cạnh công tác đào tạo nguồn nhõn lực, với tư cách là một trung tõm khoa học, kỹ thuật, cụng nghệ ở miền Trung, Đại học Đà Nẵng đóng vai trũ quan trọng trong nghiờn cứu khoa học, chuyển giao cụng nghệ, tư vấn chuyờn mụn kịp thời giải quyết về những vấn đề nảy sinh trong sản xuất và đời sống ở khu vực miền Trung và Tõy Nguyờn [49]
Về giải pháp đảm bảo ứng dụng kết quả nghiờn cứu khoa học của giảng viên, trước hết Đại học Đà Nẵng nhận định việc xõy dựng định hướng trong cụng tỏc nghiờn cứu khoa học đóng một vai trũ vụ cựng quan trọng Định
Trang 32hướng nghiờn cứu là một khõu then chốt, bởi vỡ phỏt hiện được vấn đề để nghiờn cứu đôi khi cũn khú hơn giải quyết vấn đề đó Trong khi đó, vấn đề của khoa học và thực tiễn là vô cùng phong phú Để xác định cho mỡnh một vấn
đề để nghiờn cứu khụng phải là một việc làm đơn giản, đặc biệt là đối với giảng viờn trẻ Tuy nhiờn, hiện nay vấn đề xác định được định hướng nghiờn cứu ở Đại học Đà Nẵng chưa thực hiện được
Bờn cạnh định hướng nghiờn cứu, việc trang bị phương pháp nghiờn cứu khoa học cho giảng viờn cũng là một yếu tố giỳp cho cỏc kết quả nghiờn cứu được ứng dụng trong thực tiễn Bởi vỡ, phương pháp nghiên cứu giỳp cho chất lượng của nghiờn cứu được tốt hơn, gúp phần quyết định thành cụng của mọi quỏ trỡnh nghiờn cứu khoa học Nếu lựa chọn được phương pháp chính xác, phù hợp thỡ sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn và đôi khi vượt qua cả yờu cầu mà mục đích đó dự kiến ban đầu
Vấn đề môi trường và động lực nghiờn cứu cũng được nhà trường đề cập khi núi tới biện phỏp nõng cao khả năng ứng dụng của đề tài khoa học Hiện nay tại Đại học Đà Nẵng ở cỏc giảng viờn trẻ đang tồn tại một tõm lý là coi cụng tỏc nghiờn cứu khoa học là cụng việc của cỏc giảng viên lâu năm Điều này cũng bắt nguồn từ thúi quen ớt nghiờn cứu khoa học từ lỳc cũn là sinh viờn Thờm vào đó, công tác nghiên cứu khoa học chỉ được xem xột ở bề nổi, chưa thực sự gắn liền với cụng tỏc giảng dạy và nõng cao chất lượng đào tạo
Quy mô đào tạo tăng nhanh nhưng số lượng giảng viên chưa tăng đến mức tương ứng nờn dẫn đến tỡnh trạng bị quỏ tải giờ dạy, khiến cho giảng viờn cú ớt, thậm chớ khụng cú thời gian dành cho nghiờn cứu khoa học Mặt khỏc, vai trũ hỗ trợ của các cơ quan quản lý khoa học và cụng nghệ, của nhà trường trong việc triển khai cỏc kết quả nghiờn cứu nhỡn chung cũn hạn chế Ngay cả những đề tài khoa học cú tớnh ứng dụng thực tiễn cao cũng chưa nhận
Trang 33được sự hỗ trợ thích đáng Cán bộ nghiờn cứu phải tự mỡnh tổ chức triển khai
và tiếp thị cỏc sản phẩm nghiờn cứu
Trờn một bỡnh diện khỏc, tớnh ứng dụng thực tiễn trong việc nghiờn cứu về khoa học xó hội và nhân văn chưa được thể hiện rừ rệt Các đề tài nghiờn cứu chỉ phục vụ mục đích “nghiên cứu” (trừ một số trường hợp nghiờn cứu về phương pháp giảng dạy) mà khụng ứng dụng được trong thực tiễn để phục vụ kinh tế xó hội, do vậy chưa tạo được động lực thúc đẩy việc nghiờn cứu khoa học của cỏc giảng viờn trẻ
Bồi dưỡng đội ngũ giảng viờn trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phỏt triển giỏo dục đại học của Việt Nam núi chung và của Đại học
Đà Nẵng nói riêng Đa số giảng viờn trẻ cũn “mơ hồ” đối với chớnh sỏch và
kế hoạch của Đại học Đà Nẵng trong việc bồi dưỡng nâng cao năng lực giảng dạy và nghiờn cứu khoa học Đại học Đà Nẵng hiện chưa có cơ chế bồi dưỡng nâng cao năng lực giảng dạy và nghiờn cứu khoa học một cách thường xuyờn cho giảng viờn trẻ Cỏc hoạt động bồi dưỡng năng lực nghiờn cứu của giảng viên đại học nhằm xõy dựng phong cỏch nghiờn cứu trong giảng dạy chưa được triển khai kịp thời và thường xuyên để từng bước thực hiện việc gắn kết mang tớnh bắt buộc giữa giảng dạy và nghiờn cứu khoa học
Trước mắt, để tự nâng cao năng lực nghiờn cứu của bản thõn, cỏc giảng viên, đặc biệt là giảng viờn trẻ của Đại học Đà Nẵng bờn cạnh việc tự trau dồi kiến thức đó thành lập nhúm “nghiờn cứu trẻ” Đây là môi trường để cỏc giảng viờn trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, tổ chức tự bồi dưỡng, đồng thời để thực hiện một số đề tài chung
Như vậy, là một đại học lớn, gồm nhiều ngành đào tạo, Đại học Đà Nẵng bước đầu đó tỡm được những hướng đi cho mỡnh trên con đường đẩy mạnh hoạt động nghiờn cứu khoa học, tăng khả năng ứng dụng của các đề tài khoa học vào thực tiễn
Trang 341.5 Kết luận chương 1
Khoa học và nghiờn cứu khoa học đóng vai trũ quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xó hội Đặc biệt, trong cụng tỏc giảng dạy ở các trường đại học, nghiờn cứu khoa học được đặt ngang với đào tạo - một trong hai nhiệm vụ chớnh yếu của bất kỳ một cơ sở giỏo dục nào Sở dĩ như vậy vỡ nghiờn cứu khoa học cung cấp cơ sở lý luận, phương pháp luận, những tri thức hữu ớch phục vụ hoạt động giảng dạy Việc triển khai ứng dụng kết quả nghiờn cứu khoa học cũn mang lại nguồn thu cho nhà trường để phỏt triển cỏc hoạt động chuyờn mụn khỏc
Xét về bản chất, hệ thống đổi mới quốc gia bao gồm tập hợp các yếu tố
và tương tác giữa các yếu tố, các hoạt động, tổ chức và thiết chế liên quan trong
quá trình tạo ra, áp dụng và phổ biến các tri thức mới trong một quốc gia Hệ
thống KH&CN (trong đó có các trường đại học) là bộ phận hợp thành của hệ thống đổi mới quốc gia, yếu tố quan trọng của cơ sở hạ tầng cho đổi mới Với ý nghĩa đó, không thể xem xét phân hệ các trường đại học bên ngoài hệ thống đổi mới quốc gia với các tương tác nhân quả chặt chẽ
Theo cách tiếp cận mới này, đầu ra của hoạt động KH&CN là các sản phẩm mới, dịch vụ mới được thị trường chấp nhận Như vậy, trong lĩnh vực KH&CN, hệ thống đổi mới quốc gia đòi hỏi hệ thống KH&CN phải gắn kết với
hệ thống các doanh nghiệp để các tri thức về KH&CN được hiện thực hoá thành sản phẩm, dịch vụ hữu ích mang tính thương mại, có thể trao đổi trên thị trường
và phục vụ xã hội
Chính sách đổi mới là “phần mềm” vận hành hệ thống đổi mới Đó là tập hợp có hệ thống các chính sách để điều hành hoạt động đổi mới nhằm tạo ra các tri thức, kỹ năng – công cụ quan trọng để đổi mới kinh tế – xã hội Đó là mục tiêu cao nhất của chính sách đổi mới Trường đại học là tác nhân quan trọng để tạo ra các công cụ đó
Trang 35Theo quan điểm của chính sách đổi mới, để các trường đại học tạo ra những sản phẩm khoa học có chất lượng, đến được tay “người tiêu dùng” thì đồng thời với việc nâng cao chất lượng đào tạo cần có một hệ thống các chính sách tạo ra năng lực nghiên cứu, đảm bảo chất lượng kết quả nghiên cứu, liên kết trường đại học và doanh nghiệp (nơi tiêu thụ sản phẩm) Những phân tích trong các chương sau đều được thực hiện theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới
và quan điểm của chính sách đổi mới nói trên
Kinh nghiệm của các trường đại học (có lĩnh vực đào tạo gần giống với Trường đại học Lao động – Xã hội) cho thấy việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu (hướng nghiên cứu), củng cố các quan hệ với doanh nghiệp (nơi tiêu thụ)
và với các viện nghiên cứu khác là rất cần thiết để đẩy nhanh các kết quả vào thực tế
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
và Đại học Đà Nẵng đã nói tới xác định hướng nghiên cứu như là một hoạt động thiết thực để nâng cao tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng định hướng nghiên cứu dựa trên định hướng do Bộ Khoa học và Công nghệ đưa ra Tuy nhiên, Đại học Đà Nẵng chưa tìm được định hướng nghiên cứu cho Trường mình
Bên cạnh giải pháp trên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn còn thực hiện những hoạt động sau để phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học gắn với thực tiễn: Nâng cao nhận thức của xã hội nói chung và các tổ chức kinh tế – xã hội nói riêng về vai trò, ý nghĩa của khoa học xã hội trong sản xuất
và đời sống; Đổi mới công tác tổ chức và quản lý nghiên cứu; Tăng cường công tác liên kết nghiên cứu và hợp tác quốc tế
Trang 36Đại học Đà Nẵng cũng thực hiện các biện pháp khác như trang bị phương pháp nghiên cứu, quan tâm động cơ nghiên cứu, bồi dưỡng năng lực nghiên cứu cho giảng viên, đặc biệt là giảng viên trẻ
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân với đặc thù về chuyên ngành đào tạo
đã tiến hành thiết lập mối quan hệ với các doanh nghiệp để tìm nguồn cầu về sản phẩm nghiên cứu và tăng cường quảng bá về trường
Trang 37Chương 2 Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên vào thực tiễn
ở Trường Đại học Lao động - Xã hội
2.1 Khái quát về cơ cấu tổ chức và đội ngũ giảng viên của trường
Trường đại học Lao động – Xã hội kể từ khi ra đời cho đến nay đã có 47 năm truyền thống Từ tiền thân là Trường trung học Lao động Tiền lương thuộc
Bộ Lao động được thành lập từ năm 1961 có nhiệm vụ đào tạo cán bộ lao động tiền lương cho toàn miền bắc, đến năm 1991 được hợp nhất với Trường Quản lý Cán bộ Thương binh Xã hội và lấy tên là trường Cán bộ Lao động- Xã hội Tháng 1/1997, Trường được nâng cấp lên thành Trường cao đẳng Lao động -
Xã hội có nhiệm vụ đào tạo cán bộ lao động xã hội trình độ cao đẳng lao động -
xã hội và nghiên cứu khoa học phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đến tháng 1/2005, Trường chính thức trở thành Trường đại học Lao động – Xã hội, có sứ mệnh:
- “Đào tạo cán bộ Lao động - Xã hội có trình độ Đại học, Cao đẳng cho ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và các thành phần kinh tế khác trong
cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ cán bộ ngành Lao động – Thương binh
và Xã hội theo yêu cầu chuẩn hoá đội ngũ, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn để đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của công việc
- Nghiên cứu triển khai và thực hiện các dịch vụ chuyển giao khoa học công nghệ, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của các địa phương
- Tham gia thực hiện mở rộng chương trình giáo dục thường xuyên và nâng cao dân trí
Trang 38- Tham gia hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu nguồn nhân lực”[38;tr.31].
Trường đại học Lao động - Xã hội hoạt động theo điều lệ Trường đại học do Thủ tướng Chính phủ ban hành và được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo qui định của pháp luật về các lĩnh vực sau:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch giảng dạy và giáo trình đối với các ngành và chuyên ngành được phép đào tạo
- Tuyển sinh theo chỉ tiêu được giao, tổ chức và quản lý các hoạt động giáo dục - đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng
- Tổ chức bộ máy của Nhà trường
- Quản lý sử dụng các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đào tạo
- Hợp tác với các cơ sở giáo dục - đào tạo, đơn vị nghiên cứu, đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong và ngoài nước theo qui định hiện hành của pháp luật
- Thực hiện chế độ tài chính cho đơn vị sự nghiệp có thu theo tinh thần Nghị định 10/2002/NĐ-CP của Chính Phủ
Qui mô, cơ cấu đào tạo của Trường Đại học Lao động – Xã hội được xác định trước hết xuất phát từ yêu cầu đảm bảo đáp ứng những nhu cầu thiết yếu
về số lượng cán bộ Lao động - Xã hội cho toàn quốc Tuy nhiên việc mở các ngành nghề đào tạo và qui mô đào tạo cần chú ý tới điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo
Kế hoạch phát triển đào tạo được xây dựng trên cơ sở phân tích các tính toán, dự báo nhu cầu nhân lực có trình độ chuyên môn về Lao động - Xã hội
của các ngành, các điạ phương trong cả nước và nhu cầu học tập của nhân dân
Cơ cấu tổ chức của Trường được thiết kế khoa học, đảm bảo tốt khả
năng vận hành để thực hiện nhiệm vụ chung của một trường đại học
Trang 39Ban giám hiệu gồm hiệu trưởng , giúp việc cho hiệu trưởng có 3 phó hiệu
trưởng, phụ trách công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế
Các phòng chức năng gồm: Phòng Đào tạo, Phòng Tổ chức Cán bộ,
Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Phòng Công tác Sinh viên, Phòng Hành chính tổng hợp, Phòng Kế toán-Tài vụ, Phòng Quản trị thiết bị, Phòng Khảo thí
và kiểm định chất lượng
Các Trung tâm, Trạm trực thuộc Trường gồm: Trung tâm thực hành
Công tác Xã hội; Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành; Trung tâm thông tin thư viện; TrạmY tế; Ban Xây dựng cơ bản và Tổ văn thư
Các Khoa và Bộ môn trực thuộc Trường:
1 Khoa Quản lý Lao động gồm có các Bộ môn: Bộ môn Quan hệ lao động; Bộ môn Dân số - Nguồn nhân lực; Bộ môn Quản trị nhân lực; Bộ môn Bảo hộ Lao động
Khoa hiện có 25 giảng viên, trong đó có 03 tiến sỹ, 13 Thạc sỹ, 09 học viên cao học Các giảng viên của Khoa chủ yếu tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Tài chính, Đại học Thương mại Tỷ lệ giảng viên có trình
độ sau đại học là 64% trên tổng số giảng viên của Khoa
2 Khoa Công tác Xã hội gồm các Bộ môn: Bộ môn tâm lý học – dân tộc học; Bộ môn xã hội học; Bộ môn Công tác xã hội; Bộ môn An sinh xã hội; Tổ quản lý thực hành thực tập
Khoa Công tác Xã hội hiện nay có 29 giảng viên, trong đó có 02 tiến sỹ,
16 thạc sỹ và 11 học viên cao học Chuyên ngành chính mà các giảng viên của Khoa được đào tạo là Công tác xã hội, Quản lý xã hội, Xã hội học, Tâm lý học, Lịch sử, Địa lý Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 62% trên tổng số giảng viên của Khoa
3 Khoa Kế toán gồm các Bộ môn: Kế toán, Kiểm toán Khoa gồm 45 người, trong đó có 01 PGS, 2 tiến sỹ, 18 thạc sỹ Các giảng viên chủ yếu tốt
Trang 40nghiệp ở Học viện Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 47% trên tổng số giảng viên của Khoa
4 Khoa Kỹ thuật Chỉnh hình gồm 22 người, trong đó có 01 tiến sỹ, 02 thạc sỹ Chuyên môn chính của các giảng viên là kỹ thuật chỉnh hình, bác sỹ chuyên khoa cấp I Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 14% trên tổng số giảng viên của Khoa
5 Khoa Bảo hiểm có 13 giảng viên, trong đó 01 người là tiến sỹ, 04 thạc
sỹ và 08 học viên cao học Chuyên môn chính là bảo hiểm, tài chính bảo hiểm
Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 38% trên tổng số giảng viên của Khoa
6 Bộ môn Lý luận Mác - Lê Nin có 15 giảng viên, trong đó 10 người là thạc sỹ, 05 học viên cao học Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 67% trên tổng số giảng viên của Bộ môn
7 Bộ môn Giáo dục Thể chất - Giáo dục Quốc phòng có 09 giảng viên, trong đó 01 người là thạc sỹ Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 11% trên tổng số giảng viên của Bộ môn
8 Bộ môn Toán có 11 giảng viên, trong đó 05 người là thạc sỹ Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 46% trên tổng số giảng viên của Bộ môn
9 Bộ môn Tin học gồm 12 giảng viên, trong đó 07 người là thạc sỹ Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 58% trên tổng số giảng viên của Bộ môn
10 Bộ môn Ngoại ngữ có 20 người, trong đó 05 giảng viên là thạc sỹ
Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 25% trên tổng số giảng viên của Bộ môn
11 Bộ môn Luật gồm 15 giảng viên, trong đó 01 người là tiến sỹ, 7 thạc
sỹ và 7 học viên cao học Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 53% trên tổng số giảng viên của Bộ môn