Trong bối cảnh đó, mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là nghiên cứu các cơ sở lý luận, cơ sở phương pháp luận, và theo đó, đề xuất một hệ thống các khuyến nghị về giải pháp đối với cơ cấu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ _
LÊ THỊ THU HƯƠNG
CƠ CẤU HỆ THỐNG CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội – 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ _
LÊ THỊ THU HƯƠNG
CƠ CẤU HỆ THỐNG CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.72
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Hồ Ngọc Luật
Hà nội – 2009
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ……….5
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……… 9
1.1 Quản lý và Quản lý hành chính nhà nước 9
1.1.1.Quản lý và Quá trình quản lý 9
1.1.1.1 Quản lý……….9
1.1.1.2 Quá trình quản lý……… 10
1.1.1.3 Quản lý từ góc độ tiếp cận hệ thống……… 10
1.1.2.Hành chính nhà nước và Quản lý hành chính nhà nước 12
1.1.2.1 Hành chính và hành chính nhà nước……… 12
1.1.2.2 Quản lý hành chính nhà nước……… 12
1.2 Chức năng quản lý hành chính Nhà nước 13
1.2.1 Khái niệm 13
1.2.2 Chức năng quản lý hành chính nhà nước và Chức năng hoạt động quản lý của cơ quan quản lý hành chính nhà nước ………14
1.2.2.1 Chức năng quản lý hành chính nhà nước………15
1.2.2.2 Chức năng hoạt động quản lý của cơ quan hành chính nhà nước……… 16
1.2.3 Hiệu lực và hiệu quả hành chính 17
1.3 Chức năng vận hành của quản lý hành chính nhà nước 18
1.3.1 Chức năng kế hoạch 18
1.3.2 Chức năng tổ chức bộ máy hành chính 19
1.3.3 Chức năng quản lý phát triển nguồn nhân lực 20
1.3.4 Chức năng ra các quyết định hành chính 21
1.3.5 Chức năng phối hợp và giám sát 22
Trang 41.4 Cơ cấu tổ chức quản lý 23
1.4.1 Khái niệm 23
1.4.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức quản lý 25
1.4.3 Những yêu cầu đối với cơ cấu tổ chức quản lý 25
1.4.4 Các giai đoạn và phương pháp xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý……… 26
1.4.4.1 Các giai đoạn hình thành cơ cấu tổ chức quản lý……… 26
1.4.4.2 Các phương pháp xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý……… 27
1.5 Nghiên cứu khoa học với tư cách là đối tượng quản lý 28
1.5.1 Nghiên cứu và Triển khai……… 28
1.5.2 Nghiên cứu khoa học……… 30
1.5.2.1 Nghiên cứu cơ bản……… 30
1.5.2.2 Nghiên cứu ứng dụng……… 31
1.5.2.3 Triển khai thực nghiệm……… 31
CHƯƠNG 2 - HIỆN TRẠNG CƠ CẤU CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA BỘ KH&CN ……….33
2.1 Quá trinh phát triển của Bộ KH&CN 33
2.1.1 Hệ thống quản lý quản lý KH&CN 33
2.1.1.1 Chính phủ………34
2.1.1.2 Bộ và cơ quan ngang bộ……… 35
2.1.1.3 Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương……… 36
2.1.1.4 Bộ Khoa học và Công nghệ………37
2.1.1.5 Sở Khoa học và Công nghệ ………37
2.1.2 Quá trình phát triển của Bộ KH&CN 38
2.1.2.1 Về chức năng quản lý nhà nước……….38
2.1.2.2 Về cơ cấu tổ chức………42
2.2 Hiện trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học hiện nay 48
Trang 52.2.1 Hiện trạng của hoạt động nghiên cứu khoa học 48
2.2.2 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học từ góc độ các chức năng hành chính 55
2.2.2.1 Chức năng lập kế hoạch……… 55
2.2.2.2 Lập kế hoạch trong lĩnh vực khoa học và công nghệ……….57
2.2.2.3 Nguyên tắc và căn cứ lập kế hoạch khoa học và công nghệ……… 60
2.2.2.4 Nội dung của kế hoạch khoa học và công nghệ……… 61
2.2.2.5 Quá trình xây dựng, tổng hợp và xét duyệt kế hoạch KH&CN………… 63
2.2.2.6 Một số nhận xét về thực trạng cơ chế kế hoạch hoá KH&CN hiện nay….64 2.2.3 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học từ góc độ Tổ chức học 67
2.2.3.1 Thiết kế tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước………67
2.2.3.2 Cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học………71
2.2.3.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ KH&CN ……… 71
2.2.3.2.2 Hiện trạng về quản lý hoạt động nghiên cứu KH từ góc độ tổ chức học
……… 74
2.2.4 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học từ góc độ Hệ thống đổi mới 80
2.2.4.1 Đổi mới và hoạt động khoa học và công nghệ………83
2.2.4.2 Sự khác nhau giữa quản lý đổi mới và quản lý khoa học và công nghệ….84 2.2.5 Thực trạng quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động nghiên cứu KH… 88
CHƯƠNG 3 – GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAY……… 91
3.1 Vấn đề toàn cầu hoá và hoạt động quản lý nhà nước 91
3.1.1 Toàn cầu hoá dẫn đế những thay đổi về quan điểm quản lý nhà nước 92
3.1.1.1 Toàn cầu hoá đòi hỏi các chính phủ thực hiện chuyển biến từ quan điểm quan liêu sang quan điểm trách nhiệm……… 92
Trang 63.1.1.2 Toàn cầu hoỏ đũi hỏi chớnh phủ phải thực hiện sự chuyển biến từ quan niệm quản chế sang quan điểm phục vụ……… 92 3.1.1.3 Toàn cầu hoỏ đũi hỏi chớnh phủ phải sử dụng rộng rói cụng nghệ thụng tin, xõy dựng chớnh phủ điện tử……… 93 3.1.2 Toàn cầu hoỏ dẫn đế những thay đổi về chức năng cụng cộng của QLNN…… 93
3.1.3 Toàn cầu hoá dẫn đến việc có nhiều chủ thể tham gia quyết sách và phức tạp hoá hoạt động quyết sách……… 94
3.2 Cỏc điều chỉnh chớnh sỏch quản lý trong lĩnh vực KH&CN ở cỏc nước… 95 3.2.1 Một số xu thế chủ yếu của quỏ trỡnh phỏt triển KH&CN 953.2.2 Cỏc điều chỉnh chớnh sỏch KH&CN gần đõy – Kinh nghiệm của cỏc nước OECD 96
3.3 Giải phỏp đổi mới quản lý nhà nước về hoạt động nghiờn cứu khoa học trong tiến trỡnh cải cỏch hành chớnh và trong bối cảnh toàn cầu hoỏ hiện nay 99
3.3.1 Xu hướng cải cỏch hành chớnh và những yờu cầu đổi mới quản lý nhà nước
……… 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 7Phần mở đầu
Nội dung nghiên cứu của Luận văn được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo quan điểm: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ
Hơn nữa, công cuộc cải cách nền hành chính Nhà nước đang được tiến hành hiện nay là một chủ trương mang tính chiến lược - trọng tâm của quá trình xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước CHXHCN Việt Nam - để đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới của đất nước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá Theo đó, nghiên cứu về cải cách hành chính trong QLNN nói chung và QLNN về KH&CN là những chủ đề được quan tâm trong nhiều giới nghiên cứu trong giai đoạn phát triển hiện nay
Hệ thống quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ (KH&CN), trong đó có
cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương - Bộ Khoa học và Công nghệ - được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, gắn liền với những biến động trong hệ thống kinh tế xã hội, bắt đầu từ năm 1959, và đã qua nhiều thay đổi, bổ sung về chức năng và cơ cấu tổ chức
Hiện nay tình hình kinh tế và xã hội nước ta đã có nhiều thay đổi, với đặc trưng cơ bản là hình thành một nền kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự điều tiết của Nhà nước Trong cơ chế mới, mô hình quản lý khoa học và công nghệ ngày càng tỏ ra không còn thích hợp nữa, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và trong tiến trình toàn cầu hoá như hiện nay
Trong bối cảnh đó, mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là nghiên cứu các cơ
sở lý luận, cơ sở phương pháp luận, và theo đó, đề xuất một hệ thống các khuyến nghị về giải pháp đối với cơ cấu hệ thống chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt đông nghiên cứu khoa học ở nước ta trong giai đoạn phát triển hiện
nay
Trang 8Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu của Luận văn, nội dung nghiên cứu không nhằm trực tiếp vào việc cải cách tổ chức và hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghệ, mà nhằm chủ yếu vào việc xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn cho những biện pháp cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ nói chung, và trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học hiện nay ở nước ta nói riêng
Những nghiên cứu trong Đề tài này được thực hiện trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu mà các đồng nghiệp đã tích luỹ; đồng thời phát triển những khía cạnh khác nhau trên cơ sở quán triệt các quan điểm của Đảng và Nhà nước về CCHC và
tổ chức bộ máy QLNN nói chung và QLNN về KH&CN nói riêng
Nội dung nghiên cứu được tiến hành xây dựng trên cơ sở một số phương pháp nghiên cứu và các cách tiếp cận chủ yếu được thực hiện trong khuôn khổ của Luận văn bao gồm:
1) Phương pháp phân tích hệ thống: trong đó xem xét tổ chức QLNN về KH&CN như một hệ thống trong mối quan hệ với môi trường kinh tế và xã hội
2) Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình tìm kiếm các cơ sở lý luận và nhận dạng những diễn biến của xu thế phát triển, những yêu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu về quản lý khoa học và công nghệ qua các giai đoạn phát triển và trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo quan điểm phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ
3) Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, dựa trên việc tổng kết những bài học kinh nghiệm của lịch sử 40 năm QLNN về KH&CN, khởi đầu từ Uỷ ban Khoa học Nhà nước năm 1959
Theo quan điểm như vậy, nội dung cơ bản của Luận văn được nghiên cứu xây dựng trên cơ sở kế thừa cao nhất những kết quả nghiên cứu hiện có (cả ở trung ương, địa phương và quốc tế), bởi tôi luôn ý thức rằng, những gì được trình bầy tại đây là trí tuệ tập thể của nhiều tập thể nghiên cứu đã từng quan tâm tới chuyên đề
Trang 9nghiên cứu, của nhiều cán bộ chỉ đạo và hoạt động thực tiến ở địa phương và trung ương Phần đóng góp khiêm tốn của Luận văn chỉ là tập hợp, hệ thống hoá, xử lý, lựa chọn và nâng cấp những nội dung liên quan tới chuyên đề nghiên cứu
Do thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế, chắc chắn rằng nội dung nghiên cứu của Luận văn không tránh khỏi những mặt khiếm khuyết Rất mong nhận được
sự góp ý, nhận xét, và rất mong sự giúp đỡ, hợp tác chân thành, cởi mở của các đồng nghiệp, các cơ sở, các tổ chức quản lý, nghiên cứu và đào tạo, các chuyên gia, trong quá trình hoàn thiện nội dung nghiên cứu của Luận văn trong thời gian tới./
Trang 10CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Kết luận
Trang 11Ngày nay, quản lý hiện diện trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, và hơn thế nữa, là nhân tố cần thiết, tất yếu để duy trì sự tồn tại và phát triển của các loại hình tổ chức của con người với mọi quy mô và phạm vi khác nhau
Trong thực tế, có nhiều cách tiếp cận khác nhau để giải thích về khái niệm, về bản chất, về lý luận và về các kỹ thuật làm cơ sở cho thực hành quản lý:
- Theo Học thuyết quản lý theo khoa học (Frederick Winslow Taylor,
1856 - 1915), Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm,
và sau đó, hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
- Theo Thuyết quản lý hành chính (Henry Fayol, 1841 - 1925), Quản lý
hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp với kiểm tra
- Theo Thuyết quản lý tổ chức (Chester Irwing Barnard, 1886 - 1961),
Quản lý bao giờ cũng là việc quản lý một hệ thống tổ chức nhất định; nó có tính hệ thống và mục đích của nó là làm tăng sức mạnh hệ thống của một tổ chức
- Theo các thuyết văn hoá quản lý (từ cuối những năm 70), quản lý
không những là việc tạo ra cơ cấu và công nghệ, mà còn là việc sáng tạo ra
Trang 12những biểu tượng, hệ tư tưởng, ngôn ngữ, tín ngưỡng, nghi lễ và những huyền thoại
Và như vậy - để có thể trả lời câu hỏi Quản lý là gì? - từ các điểm chung
nhất của các cách tìm hiểu khác nhau về quản lý như đã nêu trên, có thể hiểu:
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Với cách hiểu như vậy, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau:
- Phải hướng tới một mục tiêu;
- Thông qua con người;
- Với kỹ thuật, công nghệ;
- Hoạt động bên trong của một tổ chức
1.1.1.2 Quá trình quản lý
Quản lý là quá trình thực hiện những hoạt động (chức năng) riêng biệt nhưng có liên hệ mật thiết với nhau và theo một trình tự nhất định, hướng tới việc phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin) để đạt được mục tiêu với hiệu quả cao nhất (Hình 1) Đó là các hoạt động: 1) Lập kế hoạch (Phải làm gì); 2) Tổ chức (ai làm và làm cách nào); 3) Điều khiển (gây ảnh hưởng lên cách làm) và 4) Kiểm tra (bảo đảm kế hoạch được thực thi)
Tuy nhiên, trong thực tế, các chức năng quản lý nói trên cũng không được thực hiện một cách riêng biệt và theo một trình tự như vậy Bởi lẽ, tại mọi thời điểm, người quản lý bao giờ cũng đồng thời thực hiện nhiều hoạt động Và hơn thế nữa, một biến cố phát sinh trong quá trình thực hiện cũng có thể làm thay đổi cách thức phối hợp giữa các chức năng này
1.1.1.3 Quản lý từ góc độ tiếp cận hệ thống
Đây là một trong những cách tiếp cận được quan tâm và nhấn mạnh để nghiên cứu và phân tích các tư tưởng quản lý trong những năm gần đây
Trang 13Về cơ bản, hệ thống là một tập hợp các sự vật (có thể mang tính chất vật
lý, tính chất sinh học, hoặc tính chất lý thuyết) có liên hệ tương hỗ hoặc phụ thuộc lẫn nhau để tạo nên một thể thống nhất nhất hoàn chỉnh Và các hệ thống này, đều tương tác với môi trường và chịu ảnh hưởng bởi môi trường
Với cách tiếp cận như vậy, quản lý - được xem xét với tư cách là một hệ thống và là một hệ thống mở đối với môi trường tuy có những giới hạn nhằm thuận tiện cho việc nghiên cứu Điều đáng chú ý là, trong nội bộ bản thân phạm vi quản lý cũng có các hệ thống: hệ thống lập kế hoạch, hệ thống tổ chức, hệ thống kiểm tra Và bên trong các hệ thống này, vẫn còn có các hệ thống con khác (hệ thống uỷ thác, lập kế hoạch theo mạng, các hệ thống ngân quỹ )
Việc nghiên cứu có ý thức về các hệ thống cũng như sự chú trọng tới chúng đã buộc nhiều nhà quản lý và nhiều nhà khoa học xem xét một cách sâu sắc hơn các yếu tố tương tác khác nhau có ảnh hưởng tới lý thuyết và thực hành quản lý Tuy vậy, cũng có quan điểm cho rằng, khó có thể xem tiếp cận
hệ thống là một cách tiếp cận mới đối với tư tưởng quản lý, bởi trong thực tế, các nhà quản lý thực hành thông minh và có kinh nghiệm vẫn có thói quen xem xét các vấn đề như một mạng lưới các phần tử có liên hệ lẫn nhau với sự tương tác thường xuyên giữa các môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức
Hình 1 Sơ đồ khái quát về quá trình quản lý
Những việc
khởi đầu
Những việc trù bị
Những việc thực hiện
Những việc định lượng
LẬP
KẾ HOẠCH
(Phải làm gì?)
TỔ CHỨC PHỐI HỢP
(Ai làm?
Làm cách nào?)
ĐIỀU KHIỂN, KIỂM TRA
(Gây ảnh hưởng lên cách làm, và bảo đảm thực thi?)
Lượng giá
Trang 141.1.2 Hành chính nhà nước và Quản lý hành chính nhà nước
1.1.2.1 Hành chính và Hành chính nhà nước
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “Hành chính” Trong đó:
Theo nghĩa rộng, Hành chính được hiểu là hoạt động hoặc tiến trình chủ
yếu có liên quan tới những biện pháp để thực thi những nhiệm vụ và mục tiêu
đã được vạch sẵn Hay nói theo cách khác, Hành chính là những biện pháp tổ chức và điều hành của các tổ chức, các nhóm, các đoàn thể hợp tác trong hoạt động của mình để đạt được mục tiêu chung
Theo nghĩa hẹp, Hành chính được xem là hoạt động quản lý các công
việc của Nhà nước, được ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước Theo cách hiểu này, Hành chính đồng nghĩa với Hành chính nhà nước
Hành chính Nhà nước là một dạng hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện quyền lực Nhà nước Đó là hoạt động hành chính của các
cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo luật pháp
Điều chú ý ở đây là, nếu xét về mặt nhà nước, Hành chính không bao hàm toàn bộ nội dung của quản lý nhà nước Nếu nội dung toàn diện của quản
lý nhà nước bao gồm tất cả các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thì hành chính chỉ là quyền hành pháp trong hành động, là hoạt động cụ thể của bộ máy hành pháp
Vấn đề quan trọng ở đây là, tổ chức và quy chế hoạt động của Nhà nước
ta được nghiên cứu và thiết kế theo thuyết quyền lực Nhà nước là thống nhất, không phân chia, nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ba quyền (lập pháp, tư pháp và hành pháp) Và ở đây, các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện quyền hành pháp,
(Khâu hoạch định) (Khâu kiểm định)
Trang 15không có quyền lập pháp và tư pháp, nhưng góp phần quan trọng vào các quy trình lập pháp và tư pháp
hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, do các cơ quan trong hệ thống hành chính
từ trung ương đến cơ sở tiến hành
Hiểu một cách tương đối, Quản lý hành chính nhà nước là dạng quản lý
mà trong đó, chủ thể quản lý chính là Nhà nước Đó là dạng quản lý xã hội
mang tính quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước của bộ máy hành chính nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động
của con người
Theo quy định của Hiến pháp 1992, Chính phủ (cơ quan chấp hành của Quốc hội) là cơ quan hành pháp cao nhất Tuy nhiên, việc thực hiện chức năng của Chính phủ cần phải thông qua hệ thống thể chế hành chính của nền hành chính Nhà nước Do vậy, cũng theo quy định của Hiến pháp, Chính phủ còn là
cơ quan quản lý hành chính nhà nước cao nhất của Nhà nước ta
1.2 CHỨC NĂNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm
Nội dung của quản lý hành chính nhà nước với tư cách như một quá trình được thể hiện qua chức năng quản lý hành chính nhà nước
(*) Tổ chức - được hiểu là tổ chức hành chính nhà nước Đó là sự thiết lập các mối quan hệ xã hội
giữa con người và giữa các tập thể, để thực hiện quản lý hành chính nhà nước một quá trình xã hội
Trang 16(**) Điều chỉnh - là sự quy định về mặt pháp lý, được thể hiện bằng các quyết định quản lý về các
quy tắc, tiêu chuẩn, biện pháp nhằm tạo ra sự phù hợp giữa chủ thể và khách thể, tạo sự cân bằng, cân đối các mặt hoạt động của các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
hành chính nhà nước đối với các dạng quản lý xã hội con người của các chủ thể khác (Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ ), bởi các chủ thể này không sử dụng quyền lực Nhà nước, mà sử dụng các phương thức giáo dục, vận động quần chúng trong việc điều chỉnh các quan hệ quản lý
Chức năng quản lý hành chính nhà nước phản ánh vai trò hoạt động của các cơ quan thực thi quyền hành pháp đối với các lĩnh vực đời sống xã hội Đó
là sản phẩm của quá trình phân công, chuyên môn hóa, tổng hợp hóa lao động trên lĩnh vực thực thi quyền hành pháp; là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thiết lập hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước và cũng là lý do chính đáng cho sự tồn tại của một chủ thể hành chính nào đó Chính vì vậy, trong thực tế, chức năng quản lý hành chính nhà nước được cụ thể hóa cho các khâu, các cấp, các nhiệm vụ và các chức danh hành chính, là một phương tiện quan trọng để góp phần thực hiện đường lối tổ chức và đườcg lối cán bộ của Đảng và Nhà nước
1.2.2 Chức năng quản lý hành chính nhà nước và Chức năng hoạt động quản lý của cơ quan hành chính nhà nước
Mỗi một chức năng quản lý hành chính nhà nước bao gồm nhiều vấn đề,
và mỗi một cơ quan hành chính nhà nước chỉ thực hiện một số vấn đề nhất định Do vậy, không thể có một chức năng quản lý hành chính nào lại do một
cơ quan hành chính nào đó thực hiện một cách biệt lập Hay nói cách khác, các chức năng quản lý hành chính nhà nước đều được thực hiện với sự tham gia của nhiều cơ quan khác nhau
Vấn đề đặt ra ở đây, là sự phân biệt giữa Chức năng quản lý hành chính nhà nước (hay chức năng của toàn bộ hệ thống quản lý hành chính nhà nước)
và Chức năng hoạt động quản lý của cơ quan hành chính nhà nước Cụ thể:
- Chức năng quản lý hành chính nhà nước:
Trang 171) Được bắt nguồn từ bản chất của Nhà nước và mang tính khách quan;
2) Thể hiện một cách tổng hợp, toàn diện các tác động quản lý của Nhà nước lên toàn bộ các quá trình xã hội;
3) Có quy mô tác động và ảnh hưởng rộng lớn (lên tất cả các khách thể quản lý các cấp và nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội); 4) Được thực hiện bằng các phương tiện của quản lý hành chính nhà nước
- Chức năng hoạt động quản lý của cơ quan hành chính nhà nước: 1) Do Nhà nước quy định cụ thể cho từng cơ quan, mang tính chủ quan và có thể thay đổi;
2) Thể hiện các tác động trực tiếp của chính cơ quan lên một số quá trình hay một mặt của một quá trình xã hội;
3) Chỉ có tác dụng và ảnh hưởng đến một số lĩnh vực của đời sống xã hội);
4) Chỉ được thực hiện bằng thẩm quyền nhất định, bằng các khả năng tổ chức và cơ sở vật chất của mình
1.2.2.1 Chức năng quản lý hành chính nhà nước
Chức năng của nhà nước được thực hiện bởi toàn bộ bộ máy nhà nước Còn chức năng quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành, chủ yếu do bộ máy hành chính nhà nước thực hiện Trong đó, để thực hiện chức năng chung, mỗi cơ quan hành chính nhà nước - tùy thuộc vào địa vị chính trị-pháp lý của mình - mà có nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau: quản lý theo ngành, theo lĩnh vực hoặc theo lãnh thổ Điều chú ý là, ở đây, các yếu tố ngành và lãnh thổ có quan hệ chặt chẽ, mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau: yếu tố ngành không tồn tại ngoài lãnh thổ và ngược lại
Tùy thuộc theo các góc độ khác nhau, các cách tiếp cận khác nhau, chức năng quản lý hành chính nhà nước có thể được phân chia theo các loại hình như sau:
Trang 18- Từ góc độ tác dụng của sự quản lý hành chính trong toàn bộ cuộc sống
xã hội, có thể được chia thành: chức năng chính trị, chức năng kinh tế, chức
năng xã hội, chức năng văn hóa Những chức năng này còn được gọi là chức năng tổng thể của hành chính, hay chức năng cơ bản của quản lý hành chính
- Từ quá trình và phương thức quản lý, thể được chia thành: chức năng
kế hoạch; chức năng tổ chức; chức năng quản lý, phát triển nguồn nhân lực; chức năng ra các quyết định hành chính; chức năng điều hành, hướng dẫn thi hành; chức năng phối hợp; và chức năng giám sát Đây là những chức năng chủ
yếu của quá trình quản lý hành chính, và còn được gọi là những chức năng vận hành của hành chính
- Từ góc độ của các lĩnh vực và các mặt hoạt động, có thể được phân
chia thành các chức năng quản lý hành chính nhà nước về: kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh quốc phòng, tài chính, khoa học và công nghệ, môi trường
- Từ góc độ của các ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ, có thể được phân
chia thành các chức năng quản lý hành chính nhà nước về: xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, nông nghiệp, lâm nghiệp, thương mại, du lịch
- Từ góc độ của phạm vi điều phối, có thể được phân chia thành: chức
năng hành chính bậc cao, chức năng hành chính bậc trung và chức năng hành chính bậc thấp
- Từ góc độ của phạm vi thực hiện chức năng, có thể được phân chia
thành: chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
- Từ góc độ của đối tượng tác động, thể được phân chia thành: chức
năng đối với dân, chức năng đối với nền kinh tế thị trường, chức năng đối với
xã hội và chức năng đối với bên ngoài
1.2.2.2 Chức năng hoạt động quản lý của cơ quan hành chính nhà nước Chức năng hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước có các đặc điểm:
Trang 19- Mỗi chức năng hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước đều mang tính ổn định Bởi vậy, trong thực tế, cần tránh các tình trạng là một chức năng quản lý nào đó lại do nhiều cơ quan thực hiện, hoặc lúc do cơ quan này thực hiện, lúc do cơ quan khác thực hiện
- Mỗi một chức năng quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước phải
1.2.3 Hiệu lực và Hiệu quả hành chính
Quyền lực Nhà nước và Năng lực tổ chức thực hiện của Bộ máy quản lý hành chính nhà nước được phản ánh và biểu thị thông qua các chuẩn mực Đó
là Hiệu lực và Hiệu qủa hành chính
Hiệu lực hành chính nhà nước - nói một cách đơn giản - chính là việc hoàn thành đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền quy định, đạt kết quả dự kiến của Bộ máy quản lý hành chính nhà nước
Hiệu quả hành chính nhà nước là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí thực hiện kết quả đó ở đây, các chi phí thực hiện kết quả có thể
Trang 20được biểu hiện bằng chi phí về các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực) và thời gian thực hiện
Trong công cuộc cải cách hành chính của Nhà nước ta hiện nay - theo tinh thần của Nghị quyết trung ương Đảng lần thứ VIII (Khoá X) - nền hành chính nhà nước phải được hướng theo các mục tiêu:
- Gần dân, gần cấp dưới, gần cơ sở
- Tập trung, thống nhất, trật tự, kỷ cương
- Trong sạch và sử dụng có hiệu quả tài sản công
- Cơ cấu bộ máy gọn, nhẹ, vận hành thông suốt
- Đội ngũ cán bộ, công chức có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và có phẩm chất đạo đức
1.3 CHỨC NĂNG VẬN HÀNH CỦA QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.3.1 Chức năng kế hoạch
Nếu xét nội dung của quản lý hành chính nhà nước với tư cách như một quá trình, thì chức năng kế hoạch là chức năng hàng đầu Việc thực hiện chức năng này là căn cứ vào những dữ liệu thực tế, khách quan để đưa ra mục tiêu tối ưu, cùng những bước đi, những phương pháp tối ưu để thực hiện mục tiêu
đã đề ra Cụ thể hơn, nó được dùng để chỉ sự lựa chọn các phương án hành động, sắp xếp các bước đi, các phương pháp, các khâu nhằm đạt tới mục tiêu
và mục đích hành chính nhất định
Cũng xét từ góc độ vận hành, chức năng kế hoạch có thể được cấu thành bởi các chức năng nhỏ hơn và có quan hệ tương hỗ như sau:
- Xác lập hệ thống mục tiêu: Đây chính là những mục đích và kết quả mà
chủ thể quản lý hành chính đạt cho được ở một thời kỳ nhất định Và để xác lập hệ thống mục tiêu, cần phải: 1) Xác định thứ bậc và thứ tự ưu tiên của các mục tiêu; 2) Xác lập giới hạn thời gian để thực hiện mục tiêu; và 3) Xác lập cơ cấu của mục tiêu để cho các bộ phận chức năng cân nhắc các mục tiêu của mình trong hệ thống mục tiêu tổng thể
Trang 21- Tiến hành dự báo: Là việc phân tích, đánh giá và suy đoán xu hướng
phát triển của các mục tiêu có thể đưa ra để lựa chọn trên cơ sở các dữ liệu và các phương pháp khoa học Trong thực tế, việc dự báo thường phải giải quyết vác vấn đề: 1) Các nhiệm vụ thực hiện mục tiêu có thể hoàn thành tới mức độ nào; 2) Các loại nguồn lực cần thiết phải sử dụng; 3) Các khó khăn và trở ngại
có thể gặp phải; và 4) Những hậu quả nào có thể xảy ra khi mục tiêu đã được thực hiện
- Dự toán: Là việc thông qua các phân tích, tính toán về các tiêu chuẩn
đầu tư trong các mục tiêu kế hoạch Trên cơ sở đó, đưa ra các phương án về sử dụng nguồn lực trong quá trình thực hiện mục tiêu
- Lựa chọn các phương án: Là việc tiến hành phân tích, so sánh các
phương án trên cơ sở của việc xác lập mục tiêu, dự báo và dự toán để đưa ra quyết định cuối cùng, xác định một phương án chính để thực hiện
1.3.2 Chức năng tổ chức bộ máy hành chính
Đây là chức năng then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu quản lý hành chính, là hoạt động nhằm tạo lập hệ thống quản lý và các khách thể của quản lý Đó là việc xác lập một sự phân chia quyền hạn, bao gồm các việc như sắp xếp bộ máy tổ chức, tổ chức hệ thống điều hành, tổ chức nội bộ, việc xây dựng một thể chế tổ chức hành chính hiệu quả
Chức năng tổ chức bộ máy hành chính có thể được cấu thành bởi những chức năng nhỏ hơn và chế ước lẫn nhau:
- Chức năng xây dựng một thể chế tổ chức hành chính hợp lý: Là việc
xây dựng một bộ máy quản lý hành chính có hiệu quả trên cơ sở: 1) Phân chia các nhiệm vụ chung để thực hiện mục tiêu thành những nhiệm vụ cụ thể, theo thứ bậc, làm cơ sở cho việc xác định các bộ phận chức năng tương ứng; 2) Căn
cứ theo yêu cầu của nhiệm vụ để xác lập các chức vị, quyền lực, trách nhiệm
và nghĩa vụ của những người thực hiện trong các tổ chức hành chính các cấp
- Chức năng chỉ đạo: Là chức năng không thể thiếu để đảm bảo sự ổn
định và trật tự của hệ thống quản lý hành chính Đó là việc xây dựng một hệ
Trang 22thống chỉ đạo mạnh, có thể xử lý đúng đắn mọi quan hệ giữa tập quyền và phân quyền Đống thời, có thể huy động được tính tích cực và tính sáng tạo của cấp dưới
- Chức năng hiệp đồng: Là việc xây dựng một mối quan hệ hài hòa, thúc
đẩy lẫn nhau giữa các nhân tố trong nội bộ tổ chức hành chính, và giữa các tổ chức hành chính với nhau Các phương pháp để thực hiện chức năng này rất phong phú và đa dạng, trong đó, chủ yếu là thống nhất mục tiêu, thống nhất chính sách, thống nhất lãnh đạo, tăng cường sự đoàn kết trong tổ chức, sự giám sát chặt chẽ và sự liên kết đầy đủ
- Chức năng liên kết: Là sự truyền đạt và trao đổi thông tin, ý kiến, quan
điểm, tư tưởng, tình cảm mà hệ thống quản lý hành chính tiến hành để đạt tới
sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các tổ chức trong nội bộ hệ thống, hình thành mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và con người, tạo sức mạnh liên kết trong quá trình thực hiện mục tiêu
Trong thực tế, các phương thức liên kết cũng hết sức phong phú và đa dạng: liên kết chính thức và phi chính thức, liên kết song phương và đa phương, liên kết cấp trên và cấp dưới, liên kết ngang cấp Việc sử dụng các phương thức này cũng cần phải hết sức linh hoạt vì mỗi phương thức đều có những đặc điểm riêng và có những tác dụng riêng của mình
1.3.3 Chức năng quản lý, phát triển nguồn nhân lực
Đây là chức năng có yếu tố mang tính quyết định của quản lý hành chính nhà nước, bởi con người là yếu tố cơ bản vừa của cả chủ thể quản lý, vừa của
cả khách thể quản lý Chính vì vậy, quá trình quản lý con người và tối ưu hóa nguồn nhân lực đòi hỏi nhiều hoạt động hành chính cụ thể Đó là việc sắp xếp cán bộ, công chức theo tiêu chuẩn, chức danh; tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức hành chính; tổ chức hệ thống công việc theo số lượng định liệu thích hợp và tổ chức hệ thống quản lý, đánh giá công chức
Hiện nay, nền hành chính quốc gia đang đòi hỏi phải có một độ ngũ công chức được đào tạo ngang với tầm nhiệm vụ và phù hợp với nền kinh tế
Trang 23hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bởi xét cho cùng, hiệu lực của bộ máy nhà nước nói chung và hiệu lực của hệ thống hành chính nhà nước nói riêng đều được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu xuất công tác của đội ngũ công chức
Vấn đề đặt ra là phải có một quy chế công chức hoàn chỉnh, quy định các ngạch, bậc công chức, chế độ tuyển dụng, công vụ, quyền và nghĩa vụ của công chức hành chính Bên cạnh đó, trên cơ sở một bộ máy tổ chức được chấn chỉnh, biên chế gọn nhẹ, phải có chế độ đào tạo và đào tạo lại đội ngũ công chức hành chính nhà nước Cần có chế độ thi tuyển và bổ nhiệm công chức và chế độ đãi ngộ thích đáng công vụ
Ý nghĩa của chức năng này từ xưa đến nay đã quan trọng, và từ nay về sau còn ngày quan trọng hơn bởi việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, sử dụng và bồi dưỡng nhân tài hiện đang được xem là quốc sách hàng đầu, là cội nguồn của sự hưng thịnh của một quốc gia Chính vì vậy, việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, phân bổ, sử dụng và đánh giá công chức không những chỉ được tiến hành chỉ trong nội bộ của một cơ quan hành chính mà còn phải được thực hiện trong toàn bộ hệ thống hành chính nhà nước
1.3.4 Chức năng ra các quyết định hành chính
Trong quản lý hành chính nhà nước, Quyết định hành chính nhà nước là phương tiện đặc quyền, bởi nó là sản phẩm biểu thị ý chí của nhà nước, thể hiện tính mệnh lệnh đơn phương của quyền hành pháp mà mọi đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh phải tuân theo Chính vì vậy, việc ra các quyết định quản lý hành chính là chức năng quan trọng nhất trong quản lý hành chính nhà nước,
và là hành vi quan trọng nhất của công chức lãnh đạo, quản lý hành chính nhà nước
Mục tiêu của quyết định hành chính là định ra chính sách; đặt ra, sửa đổi hoặc bãi bỏ các quy phạm pháp luật hành chính; làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của quyền hành pháp nhà nước Hay nói cách khác, việc ra các
Trang 24quyết định hành chính là hành vi của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm đưa ra các quy định chung hoặc tình trạng pháp lý cụ thể, cá biệt cho công dân hoặc tập thể công dân
Việc thực hiện chức năng ra quyết định quản lý hành chính nhà nước là quá trình tập hợp thông tin, xử lý thông tin, nghiên cứu để đề xuất các phương
án, thẩm định các phương án và ban hành quyết định quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở phương án đã được lựa chọn Quá trình này, bao gồm các bước:
1) Xác định cơ sở để ra quyết định (các căn cứ, nguồn thông tin);
2) Xác định việc đảm bảo yêu cầu của việc ra quyết định:
- Bảo đảm yêu cầu về chính trị và pháp luật;
- Bảo đảm yêu cầu về tính quần chúng;
- Bảo đảm yêu cầu về tính khoa học;
- Bảo đảm yêu cầu về tính thẩm quyền của cơ quan ra quyết
định; và,
- Bảo đảm yêu cầu tính kịp thời
3) Thực hiện quá trình dân chủ hóa trước khi ban hành quyết định
4) Bảo đảm quy trình khoa học của việc ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định theo trình tự:
- Phân tích, dự báo, lập phương án và lựa chọn phương án
- Soạn thảo quyết định
- Thông qua quyết định
- Ra văn bản
- Tổ chức các điều kiện thực hiện quyết định
- Điều tra phản hồi và điều chỉnh kịp thời trong các tình huống cần thiết
- Kiểm tra quá trình thực hiện quyết định (định kỳ và đột xuất)
- Tổng kết, rút kinh nghiệm và đúc kết thành lý luận
Trang 251.3.5 Chức năng phối hợp và giám sát
Chức năng phối hợp và giám sát được sử dụng để đảm bảo sự thực hiện các mục tiêu kế hoạch hành chính, là biện pháp để điều chỉnh các sai lệch giữa thực hiện với mục tiêu và giữa hiệu quả thực tế với tiêu chuẩn trong quá trình chấp hành hành chính
Việc thực hiện chức năng này bao gồm một số khâu có mối liên quan tương hỗ như sau:
- Xác lập tiêu chuẩn điều phối: Đây chính là cơ sở của toàn bộ quá trình
điều phối Bởi việc xác lập được một tiêu chuẩn điều phối cụ thể, hoàn chỉnh,
sẽ có thể định lượng và kiểm tra được những kết quả, những sai lệch của quá trình thực hiện, để từ đó, có được những biện pháp điều chỉnh phù hợp
Tiêu chuẩn điều phối là sự quy định cụ thể của kế hoạch, là những điểm mấu chốt mà toàn bộ quá trình kế hoạch cần phải chọn ra để đánh giá các kết quả công việc Trong thực tế, tiêu chuẩn điều phối hết sức đa dạng, hay nói cách khác, có những tiêu chuẩn khác nhau ở các lĩnh vực hành chính khác nhau
- Lấy được thông tin về những sai sót: Đây chính là việc dựa trên những
tiêu chuẩn điều phối để kiểm tra và dự báo những sai sót trong hành vi quản lý nhằm có được thông tin về những sai lệch giữa kết quả của quá trình thực hiện
so với tiêu chuẩn đã được đặt ra
Trình tự của quá trình này bao gồm các bước: 1) Phân tích dự báo để đưa ra những dự báo nhất định trước khi xuất hiện các sai lệch; 2) Điều tra hiện trạng, tìm hiểu các hành vi của đối tượng bị điều phối và hiệu quả của công việc; 3) So sánh giữa kết quả điều tra với các tiêu chuẩn điều phối tương ứng để phát hiện các sai lệch; và 4) Đưa ra các căn cứ để sử dụng các biện pháp điều chỉnh
- Tiến hành các biện pháp điều phối: Đây là quá trình điều chỉnh các
hành vi và quá trình hành chính thông qua các nhiệm vụ cụ thể:
+ Phân định tính chất, thức bậc, mức độ và phạm vi của các sai lệch + Xác định các nguyên nhân gây ra sai lệch và sắp xếp theo thứ tự lớn, nhỏ
Trang 26+ Định ra các biện pháp cụ thể để sửa chữa các sai lệch và thực thi sự điều phối
1.4 CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ
1.4.1 Khái niệm
Cơ cấu tổ chức quản lý là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được bố trí thành từng cấp, từng khâu, thực hiện các chức năng quản lý nhất định nhằm đạt mục tiêu định trước
Mỗi cơ cấu tổ chức quản lý bao giờ cũng gồm nhiều bộ phận hợp thành, có mục tiêu riêng, đồng thời đều nhằm vào mục tiêu chung, mục tiêu cuối cùng của
lý nhất định Giữa các khâu là quan hệ hợp tác trong sự phân công lao động quản
lý Theo quan hệ dọc, cơ cấu tổ chức quản lý được chia thành các cấp quản lý
Cấp quản lý là một thể thống nhất các khâu quản lý ở cùng một bậc trong
hệ thống cấp bậc quản lý: như cấp Trung ương, cấp địa phương, cấp cơ sở Cấp
quản lý chỉ rõ mối quan hệ phục tùng bởi quyền uy của cấp trên và bởi tính chất nhiệm vụ to lớn, bao quát của cấp cao
Cơ cấu tổ chức quản lý là hình thức thể hiện sự phân công lao động trong lĩnh vực quản lý, vì bản thân hoạt động quản lý đã trở thành một chức năng xã hội, mỗi bộ phận trong cơ cấu tổ chức quản lý được chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý
Trang 27Những chuyên gia quản lý nổi tiếng đồng tình với kết luận cho rằng: nhiều khó khăn, cản trở, yếu kém, hạn chế trong hoạt động quản lý có đến gần 90% do
sự “trục trặc” của bộ máy quản lý
Cơ cấu tổ chức quản lý càng được hoàn thiện càng có tác động tích cực, hiệu quả tới các quá trình kinh tế - xã hội
Tiền đề khách quan của sự hình thành và hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý
là sự phân công lao động xã hội Đó là sự thể hiện mối quan hệ qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa cơ cấu tổ chức quản lý và cơ cấu các đối tượng quản lý, trong
đó đối tượng quản lý quyết định cơ cấu tổ chức quản lý Cơ cấu kinh tế - xã hội nước ta là một hệ thống phân công và hiệp tác lao động trên quy mô toàn xã hội: phân công theo ngành, theo lãnh thổ, theo các giai đoạn của quá trình kinh tế - xã hội, theo mức độ mở cửa, hội nhập khu vực, hội nhập quốc tế và theo các thành phần kinh tế Cơ cấu tổ chức quản lý phải được xây dựng tương ứng với cơ cấu kinh tế - xã hội đó Sự thống nhất giữa cơ cấu tổ chức quản lý với cơ cấu kinh tế -
xã hội và sự độc lập tương đối của chúng là điều kiện phát triển của cả hệ thống quản lý
Việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý không mang mục đích tự thân, mà
là phương tiện để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế - xã hội của toàn bộ nên kinh tế quốc dân, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội, an ninh, quốc phòng
1.4.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức quản lý
Sự phát triển ngày càng cao của đối tượng quản lý là nguyên nhân cơ bản làm tăng vai trò của các quan hệ tổ chức Nói cách khác, quan hệ tổ chức phù thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, phụ thuộc vào trình độ của nền kinh tế, trình độ của đối tượng quản lý, vào quan hệ sở hữu ngày càng đa dạng trên tất cả các lĩnh vực Có thể khái quát nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức quản lý
Nhóm thứ nhất bao gồm những thay đổi của đối tượng quản lý:
Trang 28- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của tiến bộ kỹ thuật, khoa học
và công nghệ, sự phát triển của phân công lao động xã hội
- Trình độ phát triển của mối quan hệ sở hữu (sở hữu tài sản, trí tuệ ) của đối tượng quản lý;
- Tính chất và đặc điểm của ngành, của lĩnh vực quản lý, trình độ trang bị của các quá trình lao động quản lý
Nhóm thứ hai bao gồm những biến đổi trong lĩnh vực hoạt động quản lý và
hoàn thiện cơ chế quản lý, công cụ quản lý:
- Chức năng quản lý
- Quan hệ giữa tập trung thống nhất và phân cấp quản lý;
- Dân chủ hoá quá trình kinh tế - xã hội,
- Quan hệ giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ;
- Cơ sở kỹ thuật của hoạt động quản lý và trình độ của cán bộ quản lý
Nhóm thứ ba gồm thiết chế, thể chế chính trị, xã hội và tổ chức Nhà nước
- Chế độ chính trị của quốc gia
- Cơ cấu quyền lực của Nhà nước
- Quan hệ Trung ương, địa phương,
1.4.3 Những yêu cầu đối với cơ cấu tổ chức quản lý
Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý phải bảo đảm những yêu cầu:
- Số lượng cấp quản lý hợp lý nhằm bảo đảm tính linh hoạt của cơ cấu tổ chức và phù hợp với thực tế
- Xác định rõ phạm vi, chức năng và nhiệm vụ quản lý, trên cơ sở đó có sự phân công hợp lý giữa các bộ phận, loại trừ những hiện tượng chồng chéo trùng lặp hoặc không có người phụ trách
- Về nguyên tắc, một bộ phận của cơ cấu tổ chức có thể đảm nhiệm một hoặc một số chức năng, nhiệm vụ
- Xác định rõ mối quan hệ dọc, quan hệ ngang, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ về nhiệm vụ và hoạt động của các bộ phận trong cơ cấu tổ chức;
Trang 29- Bảo đảm tính thiết thực, tính kinh tế và tính hiệu quả của hoạt động quản lý
- Tương đối ổn định, song không bảo thủ, trì trệ, linh hoạt song không thay đổi liên tục cơ cấu tổ chức quản lý
1.4.4 Các giai đoạn và phương pháp xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý
1.4.4.1 Các giai đoạn hình thành cơ cấu tổ chức quản lý
Quá trình hình thành cơ cấu tổ chức quản lý có ba giai đoạn kế tiếp nhau:
Giai đoạn phân tích, đó là giai đoạn rất quan trọng, vì việc phân tích, tổng
hợp những mối liên hệ của hệ thống là cơ sở xuất phát của việc thiết kế cơ cấu tổ chức quản lý
Khi phân tích phải chú ý:
- Xác định hoặc làm rõ trước hết là các chức năng, mục tiêu và nhiệm vụ hoạt động của hệ thống
- Kiểm tra một cách chi tiết cơ cấu hiện hành
- Xây dựng chức năng, nhiệm vụ mà cơ cấu đó phải hoàn thành, đồng thời xác định phương pháp và phương tiện thực hiện
Những vấn đề cần phân tích:
- Số lượng các cấp, các khâu và số lượng các bộ phận của từng cấp, từng khâu
- Các bộ phận nghiệp vụ với chức năng, trách nhiệm và quyền hạn của chúng
- Số lượng và thành phần nghề nghiệp của cán bộ, nhân viên ở từng cấp, từng bộ phận
- Tính chất các mối liên hệ giữa các bộ phận và giữa các cá nhân riêng biệt
Giai đoạn thiết kế, bao gồm những công việc chuẩn bị và tính toán các
thông số của cơ cấu tổ chức quản lý được thiết kế (số lượng các bộ phận, số lượng cán bộ, viên chức, khối lượng công việc của những người lãnh đạo )
Giai đoạn hình thành cơ cấu mới
Trang 30Trong cơ cấu mới, phải đặc biệt chú ý đến việc xác định chính xác quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận, từng nhân viên của cơ cấu tổ chức quản lý Việc tạo ra cơ cấu tổ chức quản lý mới và sự thay đổi cơ cấu tổ chức thực hành là thẩm quyền của lãnh đạo cấp cao Sự lãnh đạo này không chỉ phối hợp điều hoà hoạt động quản lý của cấp dưới, mà còn dự đoán khả năng biến động trong việc phân bổ những chức năng, trách nhiệm và quyền hạn của họ
1.4.4.2 Các phương pháp xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý
Trong những năm gần đây, người ta đã áp dụng rộng rãi các phương pháp nghiên cứu để xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý như phương pháp ngoại suy, phương pháp giám định, phương pháp dựa trên quy trình công nghệ thực hiện các nhiệm vụ quản lý
Việc lựa chọn phương pháp thiết kế cơ cấu tổ chức quản lý là tuỳ thuộc vào khối lượng thông tin có được; vào trình độ chuyên môn của cán bộ và thời gian dành cho nghiên cứu đề án để hình thành cơ cấu tổ chức quản lý
- Phương pháp ngoại suy: dựa trên cơ sở tìm tòi những mô hình mẫu,
chuẩn mực cho cơ cấu quản lý được xây dựng
- Phương pháp giám định: dựa vào các chuyên gia có trình độ chuyên môn
để lựa chọn các quyết định hợp lý nhất về cơ cấu tổ chức quản lý trên cơ sở những thành tựu và những xu hướng tiến bộ trong lĩnh vực tổ chức quản lý hiện đại
- Phương pháp hình thành cơ cấu tổ chức quản lý dựa trên cơ sở quá trình công nghệ thực hiện các nhiệm vụ quản lý, đòi hỏi phải thực hiện các công việc
theo trình tự sau:
+ Xác định mục tiêu và nhiệm vụ cũng như các chức năng mà hệ thống quản lý phải thực hiện; phát hiện khối lượng thông tin cần thiết và tính chất của vật mang thông tin;
+ Xác định danh mục tiêu chuẩn cho các công việc và các thao tác cho mỗi chức năng quản lý cũng như các phương pháp tính toán việc thực hiện các chức năng ấy;
Trang 31+ Dựa trên cơ sở các định mức được xác định, tính toán lượng hao phí lao động cho việc thực hiện các công việc quản lý theo các chức năng riêng biệt;
+ Phân định các cấp quản lý và các đơn vị bộ phận của cơ cấu; phân định chức năng và quy định nhiệm vụ giữa các đơn vị bộ phận của cơ cấu quản lý
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt
là công nghệ thông tin, một mặt đòi hỏi cơ cấu tổ chức quản lý mới, thích hợp, hiệu quả, nhanh nhạy Mặt khác, cũng mở ra khả năng to lớn và cho phép mô hình hoá các cơ cấu tổ chức quản lý cũng như lựa chọn mô hình cơ cấu tổ chức quản lý tối ưu nhất
Phương châm hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý - như một nhà quản lý tài
ba của Nhật đã khái quát - phải nghĩ và cải tiến bộ máy quản lý ngay khi nó đang hoạt động tốt
1.5 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI TƯ CÁCH LÀ ĐỐI TƯỢNG QUẢN
LÝ
1.5.1 Nghiên cứu và triển khai
Trong hệ thống thống kê của UNESCO, hoạt động KH&CN (S&T Acivities) bao gồm: Hoạt động R&D (nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm), Chuyển giao tri thức (bao gồm chuyển giao công nghệ) và Dịch vụ KH&CN
Theo Vũ Cao Đàm (1998)1, nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm, gọi tắt là nghiên cứu và triển khai (NC&TK) là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội, nhằm sử dụng các kiến thức đó để tạo ra những ứng dụng mới
Định nghĩa trên cho thấy nhân tố quyết định để định nghĩa NC&TK là sự có mặt của yếu tố sáng tạo và đổi mới Thuộc tính này là chung cho cả nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm
Những nhân tố cơ bản đặc trưng cho hai hoạt động trên, nhằm nhận diện chúng một cách đúng đắn, là như sau:
1
Vũ Cao Đàm - PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, Nhà xuất bản Khoa học
và Kỹ thuật (xuất bản lần thứ tư), 1998
Trang 32- Tính sáng tạo
- Tính mới hoặc đổi mới
- Sử dụng các phương pháp khoa học
- Sản xuất ra các kiến thức mới
Theo đó, một hoạt động khoa học chỉ được coi là nghiên cứu khoa học nếu như bốn yếu tố trên đây được tập hợp đầy đủ
Ví dụ, hội hoạ, sáng tác, âm nhạc, v.v không thuộc nghiên cứu khoa học, cho dù
nó đòi hỏi phải có một phần sáng tạo to lớn và tạo nên một bức tranh hoặc một nhạc phẩm về cơ bản là mới, nhưng nó không đóng góp vào làm phát triển kho tàng kiến thức khoa học và không dùng phương pháp khoa học, mà là dùng phương pháp của nghệ thuật
Cũng trong hệ thống thống kế của UNESCO, hoạt động R&D nằm trọn trong khu vực “Nghiên cứu khoa học” (Hình 2)
Hình 2 Hoạt động KH&CN theo UNESCO
Cụ thể, theo Hình trên, khu vực nghiên cứu khoa học bao gồm: FR, AR và D
Trong đó:
FR - nghiên cứu cơ bản - tạo ra các lý thuyết
AR - nghiên cứu ứng dụng - tạo ra các nguyên lý ứng dụng
D - triển khai - tạo ra các vật mẫu
TT - chuyển giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ
T - phát triển công nghệ
STS - dịch vụ KH&CN , cung ứng các dịch vụ KH&CN
STS
Trang 331.5.2 Nghiên cứu khoa học
Như vậy, Nghiên cứu khoa học có thể được hiểu là tập hợp toàn bộ các hoạt
động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng trí thức khoa học và nhằm áp dụng chúng vào thực tiễn
Hoạt động nghiên cứu khoa học trong các khoa học chính xác, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ, khoa học engineering, y học và khoa học nông nghiệp có thể được định nghĩa là tập hợp các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm xác định các mối liên hệ và bản chất của các hiện tượng tự nhiên, nhằm phát hiện các quy luật của tự nhiên và xã hội, đóng góp vào việc áp dụng thực tiễn
Nghiên cứu khoa học, trong khoa học chính xác và tự nhiên cũng như khoa học xã hội và nhân văn có thể xếp thành ba loại hoạt động:
- Nghiên cứu cơ bản
- Nghiên cứu ứng dụng
- Triển khai
1.5.2.1 Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu được tiến hành chủ yếu nhằm đạt
được những kiến thức mới về bản chất sự vật mà không cần nghiên cứu một ứng
dụng hoặc một vận dụng đặc biệt nào
Một nghiên cứu nên được coi là cơ bản khi nó nhằm tìm hiểu bản chất theo nghĩa rông nhất trong khoa học chính xác, khoa học tự nhiên cũng như trong khoa học xã hội và nhân văn và/hoặc nhằm phát hiện những lĩnh vực nghiên cứu mới nhưng chưa có mục đích áp dụng
Nghiên cứu cơ bản được đặc trưng bởi mức độ tự do cao Kết quả của nghiên cứu cơ bản thường có ảnh hưởng tới một lĩnh vực khoa học rộng lớn, chúng thường được biểu hiện dưới dạng các nguyên lý, lý thuyết họăc những quy luật có một giá trị tổng quát và có thể được truyền bá thông qua các ấn phẩm khoa học hoặc tham luận trình bày tại các hội nghị khoa học, v.v
Trang 341.5.2.2 Nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu ứng dụng là những nghiên cứu đầu tiên được tiến hành nhằm đạt
được những kiến thức về một giải pháp mới; có một mục đích hoặc một mục tiêu ứng
dụng thực tiễn riêng biệt
Nghiên cứu ứng dụng có mục đích hoặc khai thác các kết quả của nghiên cứu
cơ bản nhằm áp dụng chúng vào thực tiễn, hoặc xác định những phương pháp mới hay những thủ pháp mới để đạt được một mục đích thực tiễn riêng đã tính trước
Như vậy, một cách tổng quát ta có thể nói rằng, nghiên cứu ứng dụng là sự chuyển vị lý thuyết sang một dạng tác nghiệp
1.5.2.3 Triển khai thực nghiệm
Triển khai thực nghiệm là một hoạt động có hệ thống nhằm vận dụng các kiến thức đã đạt được nhờ nghiên cứu và/hoặc thực nghiệm nhằm đưa ra những mẫu giải pháp mới, mẫu vật liệu mới, mẫu công nghệ mới, những mẫu hệ thống và dịch vụ mới
Ba loại hình nghiên cứu khoa học trình bày trên đây, có mối liên hệ logic như chỉ trên hình vẽ (Hình 3)
Hình 3: Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, theo quy định của Luật khoa học và công nghệ (được Quốc Hội
thông qua vào tháng 6/2000), hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm các loại
hình hoạt động như sau: 1) Nghiên cứu khoa học; 2) Nghiên cứu và phát triển công
Nghiên cứu cơ bản thuần tuý
Nghiên cứu cơ bản định hướng
Triển khai trong phòng thí nghiệm
Triển khai bán đại trà
Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu ứng dụng
Triển khai
Nghiên cứu nền tảng
Nghiên cứu Chuyên đề
Trang 35nghệ; 3) Dịch vụ khoa học và công nghệ; và, 4) Các hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ Trong đó:
- Hoạt động nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện
tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
- Hoạt động nghiên cứu phát triển công nghệ: là hoạt động nhằm tạo ra và
hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới Nghiên cứu phát triển công nghệ bao gồm các hoạt động triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm
- Hoạt động triển khai thực nghiệm: là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên
cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới
- Hoạt động sản xuất thử nghiệm: là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai
thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống
- Hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ: là các hoạt động phục vụ việc
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn
Với những định nghĩa này, thì cụm từ “Phát triển công nghệ” trong Luật KH&CN thực chất là “D” theo UNESCO Và như vậy, với tư cách là đối tượng quản
lý, nghiên cứu khoa học - theo Luật Khoa học và Công nghệ - bao gồm các hoạt động: 1) Nghiên cứu cơ bản; 2) Nghiên cứu ứng dụng; 3) Triển khai thực nghiệm;
Chương 2
HIỆN TRẠNG CƠ CẤU HỆ THỐNG CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
2.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 362.1.1 Hệ thống quản lý khoa học và công nghệ
Các chức năng, nhiệm vụ hành chính nhà nước được thực hiện thông qua
bộ máy hành chính nhà nước
Bộ máy hành chính nhà nước được thiết lập bởi các cơ quan, tổ chức nhà nước, đông đảo về số lượng, đa dạng về tổ chức và cơ cấu, ở các cấp, các ngành khác nhau Mỗi cơ quan, tổ chức này đều có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn độc lập, nhưng được hợp thành một hệ thống thống nhất
và được hoạt động theo những nguyên tắc chung để nhằm đạt được mục tiêu của toàn hệ thống
Trong thực tế, Bộ máy hành chính vận hành theo nhiều mô hình và phương
thức khác nhau Trong đó, mô hình phân cấp và phối hợp giữa các bộ phận cấu thành bộ máy hành chính được coi như là mô hình cơ bản Theo đó, mỗi cơ quan, tổ
chức được xác định một cách cụ thể, rõ ràng, không chồng chéo nhiệm vụ phải thực hiện nhằm bảo đảm pháp luật có hiệu lực Đồng thời, để thực thi nhiệm vụ một cách tốt nhất, phải trao cho các cơ quan đó quyền và nguồn lực nhất định và đòi hỏi họ phải chịu trách nhiệm với nhiệm vụ được giao
Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, hệ thống các cơ quan quản lý
hành chính nhà nước - bao gồm:
Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất - Chính phủ;
- Cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc Chính phủ - các bộ, các cơ quan khác của Chính phủ;
- Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương - ủy ban nhân dân các cấp, các sở, phòng, ban của ủy ban nhân dân
2.1.1.1 Chính phủ
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Cơ cấu tổ chức của Chính phủ bao gồm các bộ, các cơ quan ngang bộ, do Quốc hội quyết định thành lập theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ
Trang 37Với tư cách là cơ quan hành pháp cao nhất của đất nước, Chính phủ trực tiếp tổ chức thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước trong tất cả các các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, an ninh quốc phòng, và đối ngoại Việc lãnh đạo hoạt động của các bộ, của chính quyền địa phương của Chính phủ được thể hiện trên các phương diện:
Một là, Chính phủ thực hiện quyền lập quy (với tư cách là cơ quan chấp
hành cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - Quốc hội) bằng cách ban hành các văn bản pháp quy dưới luật (Nghị quyết, Nghị định, Quyết định),
có tính bắt buộc trên phạm vi cả nước, nhằm thực hiện các đạo luật, các pháp lệnh và các nghị quyết của Quốc hội và ủy ban thường vụ Quốc hội
Hai là, Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất
của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - là cấp trên cao nhất của toàn bộ hệ thống hành chính Nhà nước, từ bộ máy hành chính Trung ương đến các ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan, công sở hành chính, sự nghiệp trong cả nước Chính phủ lãnh đạo UBND các cấp một cách trực tiếp trong việc thực hiện các nhiệm vụ điều hành của bộ máy hành chính Nhà nước
Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ bao gồm2:
1 Thống nhất quản lý và phát triển hoạt động khoa học và công nghệ; chỉ đạo thực hiện chính sách, kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ;
2 Quyết định chính sách cụ thể về khoa học và công nghệ để bảo đảm phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, ưu tiên đầu tư cho những hướng khoa học công nghệ hiện đại, công nghệ cao, chú trọng công nghệ
thông tin, công nghệ sinh học; đa dạng hoá và sử dụng có hiệu quả các nguồn
đầu tư phát triển khoa học và công nghệ;
3 Thống nhất quản lý các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hệ thống thông tin khoa học và công nghệ; sử dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ ;
2
Theo Luật tổ chức Chính phủ (được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá X, kỳ
họp thứ 10, thông qua ngày 25-12-2001)
Trang 384 Thống nhất quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ;
2.1.1.2 Bộ và cơ quan ngang Bộ
Bộ, cơ quan ngang Bộ (bộ) là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước
Bộ quản lý ngành, là cơ quan Nhà nước Trung ương của Chính phủ có
trách nhiệm quản lý những ngành kinh tế - kỹ thuật, văn hóa, xã hội: (như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thương mại, văn hóa, giáo dục, y tế), có thể tập hợp với nhau thành một hay một nhóm liên ngành rộng
Nó có trách nhiệm chỉ đạo toàn diện các cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp, kinh doanh do mình quản lý về mặt Nhà nước
Bộ quản lý theo lĩnh vực là cơ quan Nhà nước Trung ương của Chính
phủ thực hiện sự quản lý Nhà nước theo từng lĩnh vực lớn (kế hoạch, tài chính, khoa học, công nghệ, lao động, giá, nội vụ, ngoại giao, tổ chức và công vụ v.v ) liên quan đến hoạt động của tất cả các Bộ, các cấp quản lý Nhà nước, các tổ chức trong xã hội và công dân
Bộ quản lý theo lĩnh vực có nhiệm vụ giúp Chính phủ nghiên cứu và xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội chung; xây dựng các dự án kế hoạch tổng hợp
và cân đối liên ngành; xây dựng các qui định chính sách, chế độ chung (tham mưu cho Chính phủ), hoặc tự mình ra những pháp quy về lĩnh vực mình phụ trách, và hướng dẫn các cơ quan Nhà nước và các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội thi hành; kiểm tra và bỏa đảm sự chấp hành thống nhất pháp luật Nhà nước trong hoạt động của các Bộ và các cấp về lĩnh vực mình quản lý, đồng thời có trách nhiệm phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho Bộ quản lý ngành hoàn thành nhiệm vụ
Trang 39Theo Luật tổ chức Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, trong lĩnh
vực khoa học và công nghệ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ
- Quyết định các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành thuộc thẩm quyền;
2.1.1.3 Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Ủy ban nhân dân (UBND) là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân (HĐND) ủy ban nhân dân do HĐND bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND Do vậy, về hoạt động, UBND vừa thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước do Hội đồng nhân dân giao cho, vừa thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước do UBND cấp trên giao cho và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ
Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
:
1 Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch cụ thể phát triển khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường; thực hiện các biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống;
2 Quản lý các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh hoặc được cấp trên giao; quản lý hoạt động chuyển giao công nghệ, tham gia giám định nhà nước
về công nghệ đối với các dự án đầu tư quan trọng ở địa phương;
3 Chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm; an toàn và kiểm soát bức xạ; sở hữu công
3
Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (đã được Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, và công bố theo Lệnh của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam số 21/2003/L-CTN ngày 10/12/2003)
Trang 40nghiệp; việc chấp hành chính sách, pháp luật về khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường ở địa phương; ngăn chặn việc sản xuất, lưu hành hàng giả và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng
Về khoa học và công nghệ, Uỷ ban Nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1 Thực hiện các biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống ở địa phương;
2 Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm; kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hóa trên địa bàn huyện; ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành hàng giả tại địa phương
2.1.1.4 Bộ Khoa học và Công nghệ
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng sản phẩm, hàng hoá; sở hữu trí tuệ; năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân, quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Bộ quản lý theo quy định của pháp luật
2.1.1.5 Sở khoa học và Công nghệ
Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi là tỉnh) giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội; tiêu chuẩn đo lường chất lượng sản phẩm; sở hữu trí tuệ (không bao gồm quyền tác giả về văn học, nghệ thuật và nhãn hiệu hàng hoá);
an toàn bức xạ và hạt nhân trên địa bàn tỉnh theo qui định của pháp luật
Sở Khoa học và Công nghệ chịu sự quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Khoa học và Công nghệ