Đến thế kỉ 19 hoạt động bao thanh toán đã phát triển hoàn thiện và được sử dụng phổ biến tại các đại lý thanh toán ngành dệt may của Mỹ, ngành công nghiệp điện, hóa chất, sợi tổng hợp… D
Trang 1MỤC LỤC
Nhận xét của người hướng dẫn khoa học
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BAO THANH TOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 4
1.1 Tổng quan về nghiệp vụ bao thanh toán 4
1.1.1.Cơ sở ra đời của hoạt động bao thanh toán 4
1.1.2.Các khái niệm về bao thanh toán 4
1.1.3.Chức năng của bao thanh toán 6
1.1.4.Các loại hình bao thanh toán 7
1.1.5.Phân biệt bao thanh toán và các hình thức tín dụng khác 9
1.1.6.Lợi ích và hạn chế khi sử dụng bao thanh toán 11
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến bao thanh toán 14
1.2.1.Hành lang pháp lý 14
1.2.2.Nguồn lực của NHTM 14
1.2.3.Sự phát triển dịch vụ bảo hiểm tín dụng 15
1.2.4.Hệ thống thông tin tín dụng 15
1.2.5.Tham gia các hiệp hội bao thanh toán 16
1.2.6.Nhận thức của các doanh nghiệp về hoạt động bao thanh toán 16
1.2.7.Các sản phẩm tài trợ khác dành cho doanh nghiệp của các NHTM 16
1.3 Sự cần thiết phát triển bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam 17
1.4 Kinh nghiệm về hoạt động bao thanh toán trên thế giới 19
1.4.1.Xây dựng mô hình bao thanh toán độc lập 19
1.4.2.Nhận thức về hoạt động bao thanh toán 20
1.4.3.Tập trung vào nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ 20
1.4.4.Hoàn thiện hành lang pháp lý 21
1.4.5.Phát triển dịch vụ bảo hiểm tín dụng 21
Trang 2CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM, KHẢO SÁT THỰC TẾ TẠI VIETCOMBANK GIAI
ĐOẠN 2007 – 2011 23
2.1 Môi trường pháp lý cho hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam 23
2.1.1.Các văn bản pháp quy hiện hành 23
2.1.2.Rào cản pháp lý đối với hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam 25
2.2 Tình hình triển khai hoạt động bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011 27
2.2.1.Số lượng các Ngân hàng cung cấp bao thanh toán 27
2.2.2.Mặt hàng bao thanh toán 28
2.2.3.Các thị trường bao thanh toán chủ yếu 28
2.2.4.Doanh số bao thanh toán tại Việt Nam 28
2.3 Tình hình triển khai hoạt động bao thanh toán tại Vietcombank giai đoạn 2007 – 2011 31
2.3.1.Giới thiệu chung về Vietcombank 31
2.3.2.Kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank từ năm 2007 – 2011 32 2.3.3.Thực trạng bao thanh toán tại Vietcombank 33
2.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam 41
2.4.1.Hành lang pháp lý cho hoạt động bao thanh toán còn chưa hoàn thiện 41 2.4.2.Các nguồn lực của ngân hàng thương mại còn hạn chế 42
2.4.3.Bảo hiểm tín dụng trong bao thanh toán còn chưa phát triển 44
2.4.4.Hệ thống thông tin tín dụng chưa hoạt động hiệu quả 45
2.4.5.Chưa có hiệp hội bao thanh toán quốc gia 46
2.4.6.Nhận thức về bao thanh toán còn chưa đầy đủ 46
2.4.7.Bao thanh toán chưa đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm tài trợ khác 47 2.5 Đánh giá kết quả hoạt động bao thanh toán tại các NHTM giai đoạn 2007 – 2011 48
2.5.1.Những thành tựu đạt được 48
2.5.2.Nguyên nhân của thành tựu 50
2.5.3.Những hạn chế còn tồn tại 51
Trang 32.5.4.Nguyên nhân dẫn đến hạn chế 53
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CẢI THIỆN HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 57
3.1 Cơ hội và thách thức của NHTM Việt Nam trong phát triển sản phẩm bao thanh toán 57
3.1.1.Cơ hội 57
3.1.2.Thách thức 59
3.2 Định hướng phát triển nghiệp vụ bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam 60
3.3 Giải pháp phát triển bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam 61
3.3.1.Hoàn thiện sản phẩm bao thanh toán 61
3.3.2.Nâng cao nhận thức về nghiệp vụ bao thanh toán 64
3.3.3.Nâng cao năng lực tài chính của các NHTM 65
3.3.4.Phát triển bộ phận bao thanh toán độc lập 66
3.3.5.Gia nhập hiệp hội bao thanh toán quốc tế, mở rộng quan hệ đại lý với các Ngân hàng nước ngoài 67
3.3.6.Các ngân hàng cần thúc đẩy hợp tác và thành lập hiệp hội bao thanh toán quốc gia 68
3.4 Một số kiến nghị 69
3.4.1.Đối với NHNN 69
3.4.2.Đối với các doanh nghiệp 74
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 83
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
NHTM CP Ngân hàng thương mại cổ phần
CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
BIDV Bank for Investment and
Habubank Housing development
Commercial Joint Stock Bank
Trang 5Bank Stock Bank Nam
Military Bank Military Commercial Joint Stock
OCB Orient Commercial Joint Stock NHTM CP Phương Đông
SeABank Southeast Asia Commercial Joint
Stock Bank
NHTM CP Đông Nam Á
Techcombank Vietnam Technological and
Commercial Joint Stock Bank
NHTM CP Kỹ thương Việt Nam
VCB Joint Stock Commercial Bank for
Foreign Trade of Vietnam
NHTM CP Ngoại thương Việt Nam
VIB Vietnam International
Commercial Joint Stock Bank
NHTM CP Quốc Tế Việt Nam
VietABank Viet A Commercial Joint Stock
Bank
NHTM CP Việt Á
Vietinbank Vietnam Joint Stock Comercial
Bank for Industry and Trade
NHTM CP Công thương Việt Nam
D/A Document against Acceptant Chấp nhận thanh toán đổi lấy
chứng từ D/P Document against Payment Thanh toán đổi lấy chứng từ
HSBC
Hongkong and Shanghai Banking Corporation
Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam)
FCI Factors Chain International Hiệp hội các nhà bao thanh
toán quốc tế GRIF General Rules for International Các quy tắc chung về bao
Trang 6Factoring thanh toán quốc tế
IFG International Factors Group Hiệp hội các nhà cung ứng
dịch vụ bao thah toán quốc tế
T/ T Telegraphic transfer remittance Chuyển tiền bằng điện
UNIDROIT International Institute for the
Unification of Private Law
Viện quốc tế về nhất thể hóa Pháp luật tư
USD United States dollar
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế
giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1: So sánh khả năng cạnh tranh của một số phương thức thanh toán 18 Bảng 2.1: Doanh số bao thanh toán tại Việt Nam (2007 – 2011) 29 Bảng 2.2: Doanh số bao thanh toán của một số quốc gia châu Á (2007 – 2011) 31 Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh của VCB (2007 – 2011) 32 Bảng 2.4: Biểu phí/lãi suất dịch vụ bao thanh toán của VCB 38 Bảng 2.5: Doanh số bao thanh toán của VCB (2007 – 2011) 39 Bảng 2.6: Doanh số bao thanh toán XNK của VCB (2007 – 2011) 40 Bảng 2.7: Vốn điều lệ của một số ngân hàng thương mại năm 2011 43 Bảng 2.8: Số lượng đơn vị cung cấp dịch vụ bao thanh toán tại Việt Nam 49
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Doanh số bao thanh toán tại Việt Nam (2007 – 2011) 30 Biểu đồ 2.2: Doanh số bao thanh toán của VCB (2007 – 2011) 39
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bao thanh toán tại hội sở chính 34
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bao thanh toán tại chi nhánh 35
Sơ đồ 2.3: Quy trình thực hiện bao thanh toán trong nước tại VCB 35
Sơ đồ 2.4: Quy trình thực hiện bao thanh toán xuất khẩu tại VCB 36
Sơ đồ 2.5: Quy trình thực hiện bao thanh toán nhập khẩu tại VCB 37
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang gặp nhiều bất ổn, để tồn tại và phát triển là một bài toán khó cho tất cả các chủ thể trong nền kinh tế Nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ có tốc độ phát triển cao sẽ đối mặt với khó khăn về nhu cầu vốn, vì các phương thức vay truyền thống luôn yêu cầu tài sản đảm bảo Trong khi xu thế gia tăng giao dịch ngoại thương trên thế giới bằng phương thức ghi sổ thì
áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chỉ quen với các phương thức thanh toán D/P, L/C… càng nặng nề hơn với khó khăn về vốn
Ngành Tài chính – Ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu đó bằng cách cung cấp sản phẩm “bao thanh toán”, hoạt động dựa trên “Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng” theo Quyết định số 1096/2004/QĐ – NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 06/09/2004 Sản phẩm này giúp giải quyết khó khăn
về nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể rút ngắn vòng quay vốn lưu động; cũng như doanh nghiệp xuất khẩu có thể bán hàng cho nhà nhập khẩu theo điều kiện thanh toán ghi sổ lại vừa thu được tiền mặt ngay sau khi giao hàng, do đó không bị người mua chiếm dụng vốn, vẫn duy trì sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
Tuy bao thanh toán đã có mặt hầu hết các ngân hàng nhưng vẫn là sản phẩm
bổ sung sự phong phú cho chính sách sản phẩm tài trợ của ngân hàng đối với các doanh nghiệp Nhằm làm hướng tới một sản phẩm bao thanh toán hoàn thiện, người viết chọn đề tài: “Hoạt động bao thanh toán tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam, khảo sát thực tế tại Vietcombank” để nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp hướng tới ba mục tiêu chính:
Thứ nhất, nêu ra những vấn đề lý luận cơ bản và mô hình các nhân tố ảnh
hưởng đến hoạt động bao thanh toán tại các Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam Đồng thời giải thích sự cần thiết phát triển bao thanh toán tại Việt Nam và tổng hợp các bài học kinh nghiệm hữu ích trong triển khai nghiệp vụ bao thanh toán tại các thị trường phát triển trên thế giới
Trang 9Thứ hai, đi sâu vào nghiên cứu thực trạng triển khai hoạt động bao thanh
toán tại các NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) nói riêng Đồng thời đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bao thanh toán để từ đó rút ra những hạn chế và nguyên nhân làm tiền đề cho cho các giải pháp và kiến nghị ở chương 3
Thứ ba, Nêu ra những cơ hội và thách thức cũng như định hướng phát triển
hoạt động bao thanh toán Từ đó, đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm cải thiện nghiệp vụ bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: nghiệp vụ bao thanh toán
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiệp vụ bao thanh toán tại các NHTM nói chung (không kể các Công ty Tài chính, Ngân hàng liên doanh và Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam được NHNN cấp phép bao thanh toán) và khảo sát thực tế tại VCB trong giai đoạn 2007 – 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp được nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu mô
tả nghiệp vụ bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam, kết hợp phân tích, tổng hợp,
so sánh số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo của các ngân hàng, hiệp hội bao thanh toán quốc tế Factors Chain International (FCI) và các tài liệu tham khảo hàn lâm khác nhằm làm sáng tỏ nội dung cần nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp còn được nghiên cứu dựa trên sự hướng dẫn và trao đổi
ý kiến với chuyên gia thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán tại VCB và với các nhân viên kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ giao nhận Nguyệt Minh
5 Bố cục của khóa luận tốt nghiệp
Nội dung cơ bản của khóa luận tốt nghiệp được thể hiện qua ba chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bao thanh toán và sự cần thiết phát triển bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam
Chương 2: Thực trạng hoạt động bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam, khảo sát thực tế tại VCB giai đoạn 2007 – 2011
Chương 3: Giải pháp cải thiện hoạt động bao thanh toán tại các NHTM Việt
Trang 10Nam
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tác giả xin cảm ơn nền tảng kiến thức Tài chính – Ngân hàng được tiếp thu từ các Thầy/Cô đang công tác giảng dạy tại Trường Đại học Ngoại thương cơ sở II tại Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là
Cô – ThS Vũ Thị Đan Trà đã tận tình hướng dẫn người viết thực hiện khóa luận tốt nghiệp trong thời gian qua Đồng thời tác giả cũng cảm ơn các Anh/Chị công tác tại
bộ phận khách hàng doanh nghiệp thuộc Chi nhánh Hồ Chí Minh – Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, cùng các Anh/Chị đang làm việc tại Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ giao nhận Nguyệt Minh đã đóng góp ý kiến
và những tài liệu quý giá giúp người viết có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trong phạm vi kiến thức trong nhiều lĩnh vực còn chưa hoàn thiện, kinh nghiệm thực tiễn còn thiếu, người viết khó tránh khỏi những sai sót trong bài viết Kính mong sự góp ý từ hội đồng, cùng các Thầy/Cô để tác giả có thể hoàn thiện đề tài này
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Ngọc Định
Trang 11CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BAO THANH TOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về nghiệp vụ bao thanh toán
1.1.1 Cơ sở ra đời của hoạt động bao thanh toán
Nghiệp vụ bao thanh toán có lịch sử phát triển lâu dài, xuất phát từ hoạt động đại lý hưởng hoa hồng khoảng 2000 năm trước dưới thời đế chế La Mã, phát triển ở Anh vào thế kỉ 15 dưới hình thức ứng trước một phần cho người ủy nhiệm (nhà cung ứng sản phẩm) Đến thế kỉ 19 hoạt động bao thanh toán đã phát triển hoàn thiện và được sử dụng phổ biến tại các đại lý thanh toán ngành dệt may của Mỹ, ngành công nghiệp điện, hóa chất, sợi tổng hợp… Do đó, có thể khẳng định rằng cơ
sở ra đời của bao thanh toán chính là các khoản phải thu phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các bên Chỉ khi đã phát sinh hoặc sẽ phát sinh các khoản phải thu giữa bên mua và bên bán thì bao thanh toán mới có thể ra đời
1.1.2 Các khái niệm về bao thanh toán
1.1.2.1 Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ – NHNN
Nghiệp vụ bao thanh toán ở Việt Nam theo Quyết định
1096/2004/QĐ-NHNN được định nghĩa là: “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng.”
Đến năm 2008, lĩnh vực hoạt động của bao thanh toán được bổ sung thêm ngành cung ứng dịch vụ theo Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước
1.1.2.2 Theo Quan điểm của FCI
Theo hiệp hội Bao thanh toán quốc tế (FCI), bao thanh toán là một dịch vụ tài chính trọn gói, kết hợp việc tài trợ vốn lưu động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi công nợ và thu hồi nợ Đó là thỏa thuận giữa đơn vị bao thanh toán và người bán, trong đó đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại khoản phải thu của người bán, thường là không truy đòi, đồng thời có trách nhiệm đảm bảo khả năng chi trả của người mua Nếu người mua phá sản hay mất khả năng chi trả vì những lý do tín
Trang 12dụng thì đơn vị bao thanh toán sẽ thay người mua trả tiền cho người bán Khi người mua và người bán ở hai nước khác nhau thì dịch vụ này được gọi là bao thanh toán quốc tế
Theo điều 1 – Những quy định chung về hoạt động bao thanh toán quốc tế ấn bản tháng 06/2010 của FCI (General Rules for International Factoring Version June 2010): hợp đồng bao thanh toán là hợp đồng, theo đó nhà cung cấp sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu (hay một phần của các khoản phải thu) cho một đơn vị bao thanh toán, có thể vì mục đích tài trợ hoặc không, để nhận ít nhất một trong các chức năng sau: kế toán sổ sách các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, phòng ngừa rủi ro nợ xấu
1.1.2.3 Theo quan điểm tác giả
Định nghĩa bao thanh toán ở Việt Nam chỉ dừng lại là một hình thức cấp tín dụng dựa trên việc mua lại các khoản phải thu phát sinh trong quan hệ thương mại,
mà vẫn chưa xét đến các chức năng: tài trợ cho doanh nghiệp, kế toán sổ sách các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, phòng ngừa rủi ro nợ xấu… của hoạt động bao thanh toán Mặc dù còn nhiều khác biệt trong cách diễn đạt của các tổ chức trong và ngoài nước, nhưng ta có thể hiểu bản chất của nghiệp vụ bao thanh toán như sau:
Thứ nhất, bao thanh toán là hình thức cho vay ngắn hạn, trong đó người cho
vay được đảm bảo bằng cách nắm giữ quyền được đòi khoản phải thu của người đi vay
Thứ hai, bao thanh toán là sự chuyển nhượng nợ của người mua (con nợ) từ
người bán hay cung cấp dịch vụ (chủ nợ cũ) sang đơn vị bao thanh toán (chủ nợ mới) Thông thường bao thanh toán là không truy đòi, đơn vị bao thanh toán phải đảm bảo việc thu nợ, khách hàng tránh các rủi ro không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của người mua, mọi rủi ro không thu được tiền hàng đều do người tài trợ gánh chịu Đơn vị bao thanh toán có thể trả trước toàn bộ hay một phần các khoản nợ của người mua cùng với một khoản hoa hồng tài trợ và phí thu nợ Ngoài
ra, nghiệp vụ bao thanh toán còn cung cấp một số dịch vụ như quản lý tài khoản phải thu của khách hàng, cung cấp các thông tin kinh tế, tiền tệ, tín dụng, thương mại… nhằm tăng thu và giữ tốt quan hệ với khách hàng lâu dài
Trang 131.1.3 Chức năng của bao thanh toán
1.1.3.1 Tài trợ cho Doanh nghiệp
Nghiệp vụ bao thanh toán có tính chất của cả hai hình thức cấp tín dụng và chiết khấu chứng từ thương mại Tiền từ các khoản phải thu có thể thu hồi sớm hơn bằng cách bán lại các khoản phải thu cho ngân hàng, điều này giúp doanh nghiệp kết thúc sớm hơn vòng quay tiền và có vốn lưu động bổ sung cho hoạt động sản xuất kinh doanh Hơn nữa, trong hợp đồng bao thanh toán, đơn vị bao thanh toán sẽ phải thẩm định khả năng thanh toán của bên mua trước khi ứng trước tiền hàng cho bên bán Đồng thời người mua cũng đã cam kết thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán cho nên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được bao thanh toán được diễn ra suôn sẻ hơn
1.1.3.2 Theo dõi sổ sách các khoản phải thu
Theo dõi sổ sách các khoản phải thu là dịch vụ bổ sung nhằm tối ưu hóa sản phẩm bao thanh toán cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Sau khi hợp đồng bao thanh toán được ký kết, ngân hàng có trách nhiệm theo dõi các khoản phải thu và thông báo hình thức thanh toán cho cả người bán và người mua khi các khoản nợ đến hạn thanh toán Ngoài các khoản phải thu được bao thanh toán, khi được yêu cầu ngân hàng còn giúp theo dõi toàn bộ các khoản phải thu và
tư vấn cho các doanh nghiệp về các sản phẩm phù hợp
1.1.3.3 Thu hộ các khoản phải thu
Thu hộ các khoản phải thu là chức năng cơ bản của nghiệp vụ bao thanh toán Sau khi ứng trước cho người bán một khoản tiền ứng trước, ngân hàng nhận
bộ chứng từ liên quan đến các khoản phải thu và nắm giữ quyền đòi nợ người mua Bằng mối quan hệ tín dụng rộng rãi và nghiệp vụ tài chính chuyên nghiệp, ngân hàng sẽ thu hồi nợ bằng mọi cách Kể từ thời điểm này trách nhiệm theo dõi và thu hồi nợ được chuyển giao cho đơn vị bao thanh toán và doanh nghiệp sẽ giảm bớt được các chi phí liên quan
1.1.3.4 Đảm bảo rủi ro tín dụng
Bán hàng theo phương thức trả chậm là một hình thức tài trợ tín dụng của người bán dành cho người mua, thời gian trả chậm càng dài thì mối lo ngại người mua mất khả năng thanh toán càng lớn Các doanh nghiệp sẽ được bảo đảm tối đa
Trang 14rủi ro tín dụng này nếu chiết khấu các khoản phải thu lại cho ngân hàng bằng hình thức bao thanh toán miễn truy đòi Dù bao thanh toán có quyền truy đòi hay không thì ngân hàng sẽ tìm mọi phương pháp nghiệp vụ để thu hồi nợ mà người mua đã cam kết thanh toán Như vậy, bao thanh toán sẽ giảm thiểu rủi ro tín dụng cho người bán hàng trả chậm
1.1.4 Các loại hình bao thanh toán
1.1.4.1 Bao thanh toán tương đối và tuyệt đối
Có một số quan điểm cho rằng thuật ngữ “bao thanh toán” bao gồm cả hai đối tượng: factoring (bao thanh toán tương đối) và forfaiting (bao thanh toán tuyệt đối)
Tại điều 1 – General Rules for International Factoring Version June 2010 –
ấn bản tháng 06/2010 của FCI có nêu định nghĩa: hợp đồng factoring là hợp đồng, theo đó nhà cung cấp sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu (hay một phần của các khoản phải thu) cho một đơn vị bao thanh toán, có thể vì mục đích tài trợ hoặc không, để nhận ít nhất một trong các chức năng sau: kế toán sổ sách các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, phòng ngừa rủi ro nợ xấu
Trong cuốn “Nghiệp vụ bao thanh toán” – ThS Nguyễn Quỳnh Lan – tác giả
có nêu khái niệm: “Forfaiting là một dạng tài trợ thương mại quốc tế liên quan tới việc người xuất khẩu bán miễn truy đòi với mức giá chiết khấu cho đơn vị bao thanh toán (forfaiter) các khoản phải thu trung và dài hạn có nguồn gốc từ các hợp đồng mua bán hàng hóa với điều kiện các khoản phải thu phải có bảo lãnh thanh toán của một ngân hàng có uy tín”
Nhìn chung, hai nghiệp vụ factoring và forfaiting khác nhau cơ bản ở hai điểm: thời hạn tín dụng và phạm vi trách nhiệm đối với rủi ro của đơn vị bao thanh toán Tuy nhiên, tại khoản 5 điều 19 Quyết định 1096/2004/QĐ – NHNN thì các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng có thời hạn thanh toán còn lại dài hơn 180 ngày thì không phải là đối tượng được áp dụng bao thanh toán Vì chưa
có khung pháp lý điều chỉnh nên chưa có đơn vị nào triển khai nghiệp vụ forfaiting tại Việt Nam
Trong đoạn sau của khóa luận tốt nghiệp này, tác giả sử dụng thuật ngữ “bao thanh toán” để chỉ khái niệm “factoring” mà không bao gồm nghiệp vụ forfaiting
Trang 151.1.4.2 Phân loại theo phạm vi trách nhiệm đối với rủi ro
Căn cứ vào mức độ trách nhiệm của người bán, bao thanh toán được chia làm hai loại: bao thanh toán có truy đòi và bao thanh toán miễn truy đòi
Bao thanh toán có truy đòi là hình thức bao thanh toán, trong đó đơn vị bao
thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho khoản phải thu
Bao thanh toán miễn truy đòi là hình thức bao thanh toán, trong đó đơn vị
bao thanh toán chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu
Đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên mua hàng trong trường hợp bên mua từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán hàng giao hàng không đúng hợp đồng hoặc vì lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng
1.1.4.3 Phân loại theo phạm vi giao dịch
Căn cứ theo phạm vi giao dịch, bao thanh toán gồm có: bao thanh toán trong nước và bao thanh toán quốc tế
Bao thanh toán trong nước là hình thức cấp tín dụng của một NHTM hay
một công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản thu phát sinh từ việc mua lại các khoản thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng hóa thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa Trong đó, bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú trong phạm vi một quốc gia
Bao thanh toán quốc tế là hình thức cấp tín dụng của NHTM hay một công
ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng hóa thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, mà việc mua bán hàng hóa vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia
1.1.4.4 Phân loại theo phương thức bao thanh toán
Theo cách phân loại này, bao thanh toán có ba loại: bao thanh toán từng lần, bao thanh toán hạn mức và đồng bao thanh toán
Bao thanh toán từng lần là hình thức đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng
Trang 16thực hiện các thủ tục cần thiết và kí kết hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải thu của bên bán hàng
Bao thanh toán hạn mức là hình thức đơn vị bao thanh toán và bên bán
hàng thỏa thuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời gian xác định
Đồng bao thanh toán là hình thức hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng
thực hiện hoạt động bao thanh toán cho một hợp đồng mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, trong đó một đơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh toán
1.1.4.5 Phân loại theo cách thức thực hiện
Bao thanh toán có thể được thực hiện theo hai cách: bao thanh toán truyền thống và bao thanh toán phi truyền thống
Bao thanh toán theo phương thức truyền thống là hình thức bên bán và bên
mua sẽ liên hệ với đơn vị bao thanh toán để biết chắc rằng đơn vị bao thanh toán có mua lại các khoản phải thu cho bên bán hàng hay không trước khi thực hiện mua bán theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán
Bao thanh toán theo phương thức phi truyền thống là hình thức đơn vị bao
thanh toán sẽ tiến hành xây dựng những tiêu chuẩn chung cho bên mua và bên bán
đủ điều kiện thực hiện bao thanh toán sẽ cấp hạn mức bao thanh toán cho cả bên bán và bên mua Nếu những quan hệ giao dịch mua bán phát sinh mà bên mua và bên bán nằm trong tiêu chuẩn chung thì đơn vị này sẽ tiến hành thực hiện bao thanh toán, miễn là tổng số tiền ứng trước không vượt quá hạn mức bao thanh toán đã được cấp cho bên bán
1.1.5 Phân biệt bao thanh toán và các hình thức tín dụng khác
1.1.5.1 Phân biệt bao thanh toán với cho vay thông thường
Có 2 chủ thể gắn liền với khoản tín
dụng: bên bán và bên mua
Cấp hạn mức dựa trên uy tín và năng
lực bên bán và bên mua
ng trước cho bên bán hàng (dựa
Chỉ có 1 chủ thể gắn liền với khoản tín dụng: bên vay vốn
Cấp hạn mức dựa trên uy tín và năng lực bên vay vốn
Cấp vốn cho bên vay (dựa trên tài
Trang 17trên hóa đơn bán hàng)
Thu nợ từ bên mua hàng
Theo dõi bán hàng và các khoản phải
thu từ bên mua
Thời gian tín dụng từ 180 ngày trở
lại
Không cần phương án kinh doanh từ
bên bán
sản đảm bảo bên vay)
Thu nợ từ bên vay
Theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn bên vay
Thời hạn tín dụng: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
Thẩm tra phương án kinh doanh bên vay vốn
1.1.5.2 Phân biệt bao thanh toán và chiết khấu giấy tờ có giá
Bao thanh toán Chiết khấu giấy tờ có giá
Đối tượng của bao thanh toán: Là các
khoản phải thu thương mại chưa đến
hạn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán
Là kết hợp của hình thức tài trợ vốn,
dịch vụ giữ sổ sách và thu nợ
Món nợ luôn gắn với 1 giao dịch
hàng hóa cụ thể, có 2 chủ thể liên đới
chịu trách nhiệm trả nợ (người mua và
người bán)
Phương thức thực hiện: từng lần, hạn
mức, đồng bao thanh toán
Có thể truy đòi hoặc miễn truy đòi
tùy thỏa thuận hợp đồng
Đối tượng chiết khấu: Là các giấy
tờ có giá, đó có thể là thương phiếu, là một bản hợp đồng hoặc một sổ tiết kiệm
Là hình thức tài trợ vốn thuần túy thông qua hành vi mua bán khoản nợ
Khoản nợ thoát ly khỏi giao dịch
cơ sở ban đầu, có thể có nhiều người liên đới chịu trách nhiệm trả nợ
Phương thức thực hiện: từng giao dịch
Được quyền truy đòi theo pháp luật
1.1.5.3 Phân biệt bao thanh toán với cho vay bảo đảm bằng khoản phải thu
Bao thanh toán Cho vay bảo đảm bằng khoản phải thu
Có 2 chủ thể gắn liền với khoản tín
dụng: bên bán và bên mua
Với tư cách là chủ nợ mới đơn vị bao
thanh toán có trách nhiệm theo dõi, thu
Chỉ có 1 chủ thể gắn liền với khoản tín dụng: bên vay vốn
Bên bán thu nợ và chịu trách nhiệm hoàn trả khoản vay cho ngân hàng khi
Trang 18 Tỷ lệ cho vay có thể lên đến 100% khoản phải thu
Chí phí: lãi suất tín dụng
Tài sản đảm bảo là khoản phải thu 1.1.6 Lợi ích và hạn chế khi sử dụng bao thanh toán
1.1.6.1 Đối với đơn vị bao thanh toán
Thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán, các đơn vị bao thanh toán thu được nhiều tiện ích:
Doanh thu hoạt động kinh doanh của đơn vị bao thanh toán sẽ tăng lên nhờ các khoản tiền thu được khi thực hiện nghiệp vụ này như phí, lãi suất…
Việc thực hiện bao thanh toán giúp đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cho đơn vị bao thanh toán
Bao thanh toán cho phép ngân hàng sử dụng tốt hơn các nguồn vốn huy động được
Các đơn vị bao thanh toán có thể loại trừ được các khoản nợ xấu thông qua thực hiện bao thanh toán có truy đòi Trong quy trình thực hiện, đơn vị bao thanh toán xem xét đến khả năng tài chính của bên mua và bên bán, hoạt động mua bán phải thực hiện đúng những thỏa thuận và không trái pháp luật, đây là cơ sở vững chắc trong việc thu hồi các khoản phải thu sau khi đơn vị bao thanh toán đã mua lại
từ bên bán Còn đối với sản phẩm tài trợ tượng tự khác như: cho vay bảo đảm bằng khoản phải thu, chiết khấu hóa đơn thương mại, chiết khấu L/C… ngân hàng không tham gia vào quá trình giao dịch giữa các bên nên rủi ro nhận nợ xấu của ngân hàng
là cao hơn
Tuy nhiên, đơn vị bao thanh toán cũng là chủ thể chịu nhiều rủi ro nhất, những rủi ro này có thể bắt nguồn từ phía người bán, người mua và ngay cả từ chính đơn vị bao thanh toán Những rủi ro đó có thể là do:
Đơn vị bao thanh toán không nắm rõ thông tin về phía người bán như tình
Trang 19hình tài chính, khả năng thu hồi các khoản tài trợ, cũng như quá trình giao thương trong quá khứ nên người bán có thể không thể không hoàn trả được khoản tài trợ
Đơn vị bao thanh toán thẩm định khách hàng còn chưa chính xác, còn nhiều thiếu sót do trình độ của đội ngũ nhân viên còn hạn chế, chưa nắm rõ thông tin khách hàng…
Đơn vị bao thanh toán chưa có sự quản lý sát sao trong quá trình bao thanh toán hoặc cũng có thể do người bán và người mua cố tính thông đồng với nhau để lừa đảo đơn vị bao thanh toán
1.1.6.2 Đối với người bán
Sử dụng sản phẩm bao thanh toán người bán/nhà xuất khẩu nhận được nhiều lợi ích:
Cải thiện dòng lưu chuyển tiền tệ nhờ thu được tiền hàng nhanh hơn: Người bán thậm chí có thể nhận được tiền ngay trong ngày đề nghị bao thanh toán Điều này giúp người bán lấp được lỗ hổng thiếu hụt tiền mặt trong khoảng thời gian từ khi giao hàng đến khi được người mua thanh toán Lượng tiền mặt sẵn có tại doanh nghiệp tăng lên, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển
Nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ chuyên môn hóa sản xuất: bên cạnh việc sản xuất kinh doanh mặt hàng chính yếu, người bán còn phải mất thời gian quản lý các khoản phải thu từ người mua Nếu người bán sử dụng bao thanh toán, công việc này sẽ được chuyển cho đơn vị bao thanh toán Người bán không còn phải tốn chi phí để duy trì và điều hành một bộ phận chuyên trách việc xem xét khách hàng có
đủ điều kiện mua chịu hay không, cũng như phải kiểm tra và thu hồi các khoản nợ này nữa
Giảm rủi ro trong thanh toán: khi cho người mua trả chậm, người bán thường lo ngại về việc người mua mất khả năng thanh toán Với dịch vụ bao thanh toán miễn truy đòi, rủi ro này sẽ được chuyển giao cho đơn vị bao thanh toán Dịch
vụ này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà nhập khẩu do khoảng cách địa lý giữa các quốc gia và sự thiếu thông tin về nhà nhập khẩu Bằng sự chuyên nghiệp và mạng lưới thông tin đáng tin cậy trên toàn thế giới, các đơn vị bao thanh toán quốc
tế sẽ góp phần giảm rủi ro về thanh toán trong giao dịch thương mại toàn cầu Từ
đó, doanh nghiệp sẽ tránh được bị chiếm dụng vốn hay rơi vào tình trạng nợ xấu
Trang 20Ngoài ra, việc nhận được các khoản tiền ứng trước cũng giảm rủi ro tỷ giá cho nhà xuất khẩu
Nâng cao năng lực cạnh tranh: các nhà cung cấp lớn thường rơi vào cảnh phải bán chịu hàng hóa cho khách hàng, đồng thời thanh toán ngay cho lượng nguyên liệu đầu vào Tình thế nguy hiểm này có thể được giải quyết bằng sản phẩm bao thanh toán; các đơn chào hàng trả chậm hay bằng hình thức ghi sổ sẽ có sức thuyết phục khách hàng hơn, đồng thời doanh nghiệp cũng không phải lo lắng về rủi thanh khoản khi thanh toán chi phí đầu vào Ngoài ra, việc cải thiện các chỉ tiêu thanh khoản sẽ dẫn đến hệ quả doanh nghiệp được nâng hạng tín nhiệm đối với các
tổ chức tín dụng (TCTD) Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
Mặc dù mang đến nhiều tiện ích cho người bán, nhưng bao thanh toán được xem là một hình thức tài trợ có chi phí cao Ngoài lãi suất chiết khấu, chi phí hành chính được quy định cho mỗi hóa đơn liên quan đến khoản phải thu; chi phí hoa hồng trong dịch vụ bao thanh toán XNK thực tế thường là 2% – 5% doanh số (ThS Nguyễn Thị Thanh Hương, 2011 A, trang 35) Đối với doanh nghiệp có doanh thu quá nhỏ thì bao thanh toán không phải là lựa chọn tối ưu Ngoài ra, vì áp dụng bao thanh toán nên người mua có thể sẽ nghĩ rằng người bán kém năng lực hoạt động hay đang rơi vào tình trạng bất ổn tài chính Mối lo ngại này giờ đây đang dần được xóa bỏ vì xã hội đang phát triển theo chiều hướng chuyên môn hóa sản xuất và dịch
vụ bao thanh toán đã phổ biến trên toàn thế giới
1.1.6.3 Đối với người mua
Người mua/nhà nhập khẩu ít có vai trò trong nghiệp vụ bao thanh toán, nhưng cũng nhận được nhiều tiện ích:
Giảm gánh nặng tài chính: do việc nhà nhập khẩu không phải mở thư tín dụng, không phải trả phí mở thư tín dụng, hay không phải ký quỹ…
Mua hàng với điều kiện tài khoản ghi sổ như: mua giao hàng ngay, mua trả chậm, và nhà nhập khẩu có cơ hội đàm phán điều khoản mua hàng tốt hơn Hình thức này hỗ trợ rất lớn cho các nhà nhập khẩu về khả năng thanh khoản cũng như hoạt động ngân quỹ
Giảm công sức và chi phí trong việc quản lý sổ sách kế toán, quản lý khoản
Trang 21nợ: vì khi ngân hàng đã kí hợp đồng bao thanh toán với nhà xuất khẩu thì ngân hàng phải có trách nhiệm trong việc theo dõi, giám sát khoản phải thu từ phía nhà nhập khẩu Vậy khi đó nhà nhập khẩu có thể thỏa thuận với ngân hàng trong việc quản lý
sổ sách kế toán cũng như khoản nợ của mình
1.1.6.4 Đối với nền kinh tế
Đối với những quốc gia còn tồn tại nhiều hạn chế về pháp luật, hành lang pháp luật chưa vững chắc và trình độ quản lý yếu kém là trở ngại lớn cho hoạt động giao thương trong và ngoài nước Điều này cũng đồng nghĩa với sự phát triển của quốc gia đó có nhiều hạn chế, sự hấp dẫn đầu tư cũng giảm sút Dựa vào uy tín của các đơn vị bao thanh toán (thường là các ngân hàng hoặc công ty tài chính chuyên nghiệp) các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển có thể tiếp cận dễ dàng với khách hàng tiềm năng tại các thị trường mới trên thế giới
Thông qua việc thực hiện bao thanh toán, các đơn vị bao thanh toán có trách nhiệm tư vấn, kiểm tra các nghiệp vụ mua bán nhằm bảo đảm có thể kiểm soát khoản phải thu trong tương lai được chặt chẽ và loại trừ được nợ xấu Từ đó, tạo tâm lý yên tâm, sự tự tin cho doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh
Tóm lại, lợi ích mà bao thanh toán mang lại cho nền kinh tế:
Xóa bỏ rào cản thương mại quốc tế và thúc đẩy ngoại thương phát triển
Tạo ra môi trường kinh doanh ổn định cho nền kinh tế
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến bao thanh toán
1.2.1 Hành lang pháp lý
Môi trường pháp lý là yếu tố rất quan trọng cho phép các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán Môi trường pháp lý có thông thoáng thì nghiệp vụ này mới được thực hiện một cách trôi chảy Do đó, mỗi quốc gia khi triển khai hoạt động bao thanh toán cần phải ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến nghiệp
vụ để tạo môi trường pháp lý cho các ngân hàng hoạt động Theo đó, các văn bản pháp luật này cần được ngày càng hoàn thiện nhằm tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng, phù hợp cho nghiệp vụ này phát triển Các quy định của quốc gia phải được nghiên cứu, sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của quốc gia mình mà không trái với thông lệ quốc tế
1.2.2 Nguồn lực của NHTM
Trang 22Vốn và nguồn nhân lực là hai vấn đề quan trọng đối với tất cả các ngân hàng Các NHTM muốn triển khai hoạt động bao thanh toán cần có nguồn vốn ngắn hạn dồi dào và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao vững vàng về nghiệp vụ tài chính, tín dụng ngân hàng, hoạt động xuất nhập khẩu Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn tại các NHTM thường rất cao, cung cấp nguồn vốn dồi dào cho hoạt động bao thanh toán Ngoài ra, ngân hàng cần sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức bên ngoài để bảo hiểm cho khoản tiền ứng trước cho khách hàng Trong lịch sử phát triển có rất nhiều đơn vị bao thanh toán gặp khó khăn về nguồn nhân lực khi mới triển khai hoạt động bao thanh toán Nhân lực thiếu trình độ chuyên môn sẽ mang đến những rủi ro bị lừa đảo cho đơn vị bao thanh toán Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với các nhà cung cấp sản phẩm bao thanh toán cần có những phòng ban, cán bộ chuyên trách để thực hiện tốt việc triển khai áp dụng và phát triển sản phẩm mới này
1.2.3 Sự phát triển dịch vụ bảo hiểm tín dụng
Khi sử dụng bao thanh toán miễn truy đòi khách hàng thường phải trả chi phí dịch vụ cao hơn so với các hình thức tài trợ khác của ngân hàng Điều đó cũng có nghĩa là trách nhiệm của ngân hàng và rủi ro không thu hồi được khoản cho vay cao hơn Ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn trong quyết định hạn mức bao thanh toán đối với các doanh nghiệp nếu chỉ dựa vào các báo cáo tài chính thiếu trung thực của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có ít thông tin tín dụng trên hệ thống Nghiệp vụ bao thanh toán tại các quốc gia phát triển đều yêu cầu bảo hiểm tín dụng đối với khoản tiền ứng trước cho người bán Đây cũng là điều kiện đảm bảo cho ngân hàng triển khai bao thanh toán miễn truy đòi, đồng thời cũng đảm bảo nguồn thu cho ngân hàng
1.2.4 Hệ thống thông tin tín dụng
Hệ thống thông tin tín dụng có chức năng thu nhận, lưu trữ, phân tích, xử lý,
dự báo thông tin tín dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý Nhà nước; thực hiện các dịch vụ thông tin ngân hàng Hệ thống này nếu hoạt động tốt thì sẽ đóng góp tích cực trong công tác quản lý của NHNN cũng như bảo đảm hoạt động kinh doanh tín dụng an toàn, hiệu quả, góp phần vào việc ổn định hệ thống ngân hàng thông qua
hệ thống này các ngân hàng sẽ thuận tiện trong công tác thu thập thông tin và đánh giá rủi ro tín dụng khi cung cấp cho khách hàng dịch vụ bao thanh toán Do vậy, các
Trang 23NHTM sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức nếu có sự hỗ trợ từ hệ thống thông tin tín dụng, cũng như các doanh nghiệp dễ dàng nhận được sự tài trợ của ngân hàng
1.2.5 Tham gia các hiệp hội bao thanh toán
Việc gia nhập vào các hiệp hội bao thanh toán sẽ đem lại sự hỗ trợ tích cực cho hoạt động của các đơn vị thành viên và góp phần đẩy mạnh hoạt động bao thanh toán phát triển rộng rãi Các ngân hàng có điều kiện thuận lợi để học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, chia sẻ thông tin khách hàng, phối hợp thực hiện đồng bao thanh toán đối với các hợp đồng có giá trị lớn Nhất là trong bao thanh toán quốc tế, việc thiếu thông tin hoạt động kinh doanh của nhà nhập khẩu đem lại nhiều rủi ro cho đơn vị bao thanh toán; bằng hệ thống thông tin chuyên nghiệp, các đơn vị thành viên của các hiệp hội bao thanh toán quốc tế sẽ giảm thiểu được các rủi ro này Từ
đó hoạt động bao thanh toán mới ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn
1.2.6 Nhận thức của các doanh nghiệp về hoạt động bao thanh toán
Doanh nghiệp có tiếp cận sản phẩm bao thanh toán hay không phụ thuộc rất lớn vào nhận thức về vai trò và các lợi ích mà sản phẩm bao thanh toán mang lại Dựa trên cơ sở tính toán các quyền lợi và nghĩa vụ của mình, các doanh nghiệp mới
sử dụng rộng rãi Còn các NHTM là những người đi tiên phong triển khai dịch vụ bao thanh toán, cũng là người chịu trách nhiệm phổ biến dịch vụ này đến các khách hàng tiềm năng Dựa vào thực tế nhu cầu sử dụng sản phẩm bao thanh toán hình thành sự cần thiết phát triển và hoàn thiện nghiệp vụ này tại các NHTM Như vậy nhận thức của doanh nghiệp là điều kiện cơ sở và luôn phát triển song song cùng nghiệp vụ bao thanh toán
1.2.7 Các sản phẩm tài trợ khác dành cho doanh nghiệp của các NHTM
Chính sách sản phẩm tài trợ của ngân hàng dành cho nhóm khách hàng doanh nghiệp luôn rất đa dạng; có không ít sản phẩm là đối thủ cạnh tranh với bao thanh toán gồm có: chiết khấu hóa đơn thương mại, cho vay bảo đảm bằng khoản phải thu, cho vay vốn lưu động, tín dụng chứng từ, chiết khấu tín dụng chứng từ, bảo lãnh thanh toán/thư tín dụng dự phòng… Mỗi sản phẩm đều có những đặc điểm riêng, nhóm sản phẩm bao thanh toán có ưu điểm là chuyển nhượng quyền thu hồi các khoản phải thu cho ngân hàng, việc đòi nợ sẽ diễn ra thuận lợi hơn nhờ vào
Trang 24nghiệp vụ chuyên môn của nhân viên ngân hàng và cam kết trả nợ của người mua Ngoài lợi thế này, ngân hàng cần đơn giản hóa thủ tục, giảm các loại phí, nâng cao
tỷ lệ ứng trước… nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm bao thanh toán
1.3 Sự cần thiết phát triển bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của đất nước đã có sự thay đổi lớn
Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu và dịch vụ… đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế của đất nước Sự phát triển đa dạng hoá các doanh nghiệp, công ty thuộc các thành phần kinh tế khác nhau là điều đất yếu
Đối với nền kinh tế Việt Nam, đây là điều lạc quan nhưng đồng thời cũng là thách thức đối với các nhà quản lý trong việc ổn định thị trường tài chính Các doanh nghiệp mới xuất hiện đều có nhu cầu rất lớn về vốn và vốn tài trợ từ ngân hàng là một kênh không thể thiếu Bên cạnh đó, việc mở cửa thị trường trong lĩnh vực ngân hàng trong nước cũng là điều tất yếu Các NHTM trong nước sẽ phải cạnh tranh bình đẳng với các Ngân hàng nước ngoài trong bối cảnh họ có nhiều lợi thế hơn về mặt tài chính, kinh nghiệm quản lý, công nghệ hiện đại Do đó, các TCTD trong nước sẽ phải chấp nhận cuộc cạnh tranh quyết liệt để tồn tại và phát triển thông qua nâng cao và đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ
Trong bối cảnh như vậy, sản phẩm bao thanh toán được sẽ là một kênh phân phối nguồn vốn quan trọng, nhằm giúp các doanh nghiệp phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và NHTM
Sở dĩ sản phẩm này quan trọng như vậy bởi những ưu điểm cơ bản của nó:
Giúp doanh thu hoạt động hàng năm của đơn vị thực hiện bao thanh toán tăng lên nhanh chóng
Củng cố luồng tiền mặt của các đơn vị tham gia, khả năng đầu tư kinh doanh
và tính thanh khoản được cải thiện giúp đơn vị bao thanh toán chủ động trong kinh doanh
Loại trừ các khoản nợ xấu trong quá trình hoạt động Hạn chế những rủi ro tín dụng đến mức có thể
Kiểm soát chặt chẽ họat động kinh doanh của các khách hàng hiện có, mở rộng quy mô họat động và có thể tiếp thị được những khách hàng tiềm năng trong
Trang 25tương lai
Giảm thiểu chi phí theo dõi sổ sách công nợ
Tạo những lợi thế nhất định trong kinh doanh và quan hệ thương mại
Đáp ứng nhu cầu cấp bách về vốn nhưng không bị hạn chế về tài sản đảm bảo
Mở rộng những cơ hội giao thương quốc tế mới, tạo ra lợi thế cạnh tranh Đứng trên quan điểm của người bán hàng, những ưu điểm nói trên có thể không hoàn toàn cần thiết; nhưng bất kỳ doanh nghiệp nào khi lựa chọn một phương thức tài trợ và quản lý tín dụng thương mại đều quan tâm đến các yếu tố là:
Bảng 1.1: So sánh khả năng cạnh tranh của một số phương thức thanh toán
Phương thức Chi phí Rủi ro tín
(Nguồn: Tạp chí Ngân hàng, số 7/2006, trang 38)
Như vậy, đối với người bán hàng, bao thanh toán là sự tổng hợp của bảo hiểm rủi ro tín dụng và tài trợ vốn, nhưng vẫn mang lại cho người bán khả năng cạnh tranh cao và cho người mua một phương thức thanh toán dễ chịu Tuy việc lựa chọn một phương thức thanh toán phù hợp còn phụ thuộc vào đặc điểm của thị trường, đặc điểm của sản phẩm và thái độ của người bán đối với rủi ro nhưng bao
Trang 26thanh toán là sản phẩm giúp người bán đáp ứng tối đa yêu cầu của khách hàng, đồng thời đảm bảo rủi ro cho mình Vì vậy, khách hàng sẽ mua hàng nhiều hơn cũng như người mua sẽ mở rộng thị phần tại các thị trường mới
Bên cạnh đó, hình thức bao thanh toán phi truyền thống là sự phát triển quan trọng; sản phẩm này hướng đến sự nhanh chóng, tiện lợi, an toàn, đơn giản và các đơn vị bao thanh toán có thể kiểm soát tốt các khoản phải Trong khi đó, cho vay thế chấp bằng tài sản dần sự xuất hiện nhiều hạn chế sự chậm chập, thủ tục rườm rà
và có nhiều điều kiện về tài sản đảm bảo… Việc xây dựng tiêu chuẩn chung cho bên mua và bên bán ở mỗi hạn mức bao thanh toán khác nhau sẽ giúp các ngân hàng quản lý rủi ro một cách hiệu quả mà không cần nhiều thông tin tín dụng và thẩm định hoạt động kinh doanh cho số lượng lớn khách hàng riêng lẻ Tại Việt Nam, trong điều kiện hạ tầng thông tin tín dụng còn nhiều hạn chế thì áp dụng bao thanh toán phi truyền thống là phù hợp Với cách thức này, các ngân hàng thương mại và công ty tài chính có thể tiếp cận đến các doanh nghiệp có nhu cầu về vốn mà vẫn đảm bảo được sự an toàn cần thiết tại hệ thống (ThS Nguyễn Thị Thanh Hương, 2011 A, trang 36)
Như vậy, với vai trò quan trọng của mình, sự tồn tại và phát triển hoạt động bao thanh toán là rất cần thiết không những đối với các doanh nghiệp, các NHTM
và cả nền kinh tế Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, thực hiện bao thanh toán theo phương thức phi truyền thống là một hướng đi tốt, giúp các đơn vị bao thanh toán thực hiện sản phẩm này một cách hiệu quả mà vẫn đảm bảo được sự
an toàn
1.4 Kinh nghiệm về hoạt động bao thanh toán trên thế giới
1.4.1 Xây dựng mô hình bao thanh toán độc lập
Trên các thị trường bao thanh toán phát triển, các đơn vị bao thanh toán xuất phát từ ba nhóm: nhóm ngân hàng, nhóm công nghiệp và nhóm độc lập Dù xuất phát từ nguồn gốc nào thì đơn vị bao thanh toán tại các thị trường này đều có một đặc điểm chung là một công ty factoring tách biệt với công ty mẹ Các công ty factoring tại Đức hoạt động khá thành công; quốc gia này là thị trường bao thanh toán lớn thứ tư trên thế giới Theo luật của Đức, bao thanh toán chỉ được áp dụng hình thức miễn truy đòi Sự phát triển của nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế không
Trang 27liên quan tới sự tăng trưởng của thị trường xuất nhập khẩu, mà gắn liền với mối quan hệ khăng khít giữa công ty bao thanh toán và các khách hàng của họ Trong khi đó, tại thị trường Bỉ, một thị trường được nhận định có tính cạnh tranh cao, các đơn vị bao thanh toán phải chấp nhận hy sinh lợi nhuận trong giai đoạn thâm nhập thị trường Còn tại Hy Lạp và Hồng Kông, mô hình bao thanh toán độc lập thành công nhờ chính sách sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu nghiêm ngặt của thị trường xuất khẩu (Nguyễn Thị Nhàn, 2007, trang 73 & 76) Mô hình bao thanh toán độc lập mang lại nhiều lợi ích cho đơn vị bao thanh toán: đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, chính sách sản phẩm đa dạng, chính sách marketing hiệu quả
1.4.2 Nhận thức về hoạt động bao thanh toán
Thực tế từ một số nước trên thế giới như: Hà Lan, Rumani, Đan Mạch, Ấn
Độ đã cho thấy sự nhận thức của các thành phần kinh tế đối với nghiệp vụ bao thanh toán là một yếu tố mang tính quyết định đến sự thành bại của việc phát triển nghiệp vụ này Các biện pháp tuyên truyền phổ biến cho các thành phần kinh tế hiểu
rõ và nhận thức được lợi ích của bao thanh toán là điều cần thiết
Tại Hà Lan hay Rumani, factoring đang phát triển mạnh mẽ và thực sự là tâm điểm chú ý trên cả thị trường Các khách hàng ở Rumani nhận thức được những lợi ích về chi phí thấp hơn; đồng thời ngân hàng cũng cảm thấy đây là giao dịch đơn giản Tại Hà Lan, dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về nghiệp vụ này, các doanh nghiệp không ngừng tương tác với các công ty factoring để đổi mới sản phẩm bao thanh toán thường xuyên Từ đó, mối quan hệ giữa doanh nghiệp, công ty factoring và ngân hàng mẹ ngày càng được củng cố, tạo đà phát triển cho dịch vụ này (Nguyễn Thị Nhàn, 2007, trang 64)
Tuy nhiên dịch vụ này lại không thành công mấy tại ấn độ, dịch vụ bao thanh toán được giới thiệu lần đầu tiên năm 1992, thế nhưng lúc đó phần lớn các nhà xuất khẩu chẳng mấy quan tâm và nhận thức đầy đủ vê dịch vụ này Cho đến nay thị trường bao thanh toán ấn độ vẫn kém phát triển
1.4.3 Tập trung vào nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn có vai trò quan trọng và đóng góp to lớn vào
sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Vì vậy, cần chú trọng các biện pháp hỗ trợ
để khuyến khích loại hình doanh nghiệp này phát triển Bangladesh là quốc gia châu
Trang 28Á đang phát triển như Việt Nam, việc nghiên cứu triển khai bao thanh toán tại nước này chỉ mới bắt đầu từ tháng 6 năm 2005 Theo thống đốc Ngân hàng Bangladesh, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có tới 72% các giao dịch thương mại dựa trên cơ
sở tín dụng có thời hạn trung bình là 7 tháng Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn vốn và sự hoạt động của các doanh nghiệp này Do vậy, ông yêu cầu các ngân hàng và TCTD nhanh chóng triển khai dịch vụ factoring để khắc phục phần nào tình trạng này (Nguyễn Thị Nhàn, 2007, trang 77) Đây cũng là điều kiện cần thiết để doanh số bao thanh toán tại quốc gia này tăng trưởng không ngừng trong thời gian qua Còn tại pháp, trước đây factoring chủ yếu tập trung vào các công ty
có số nhân công từ 50 – 200 người Theo thời gian, các công ty factoring dần phát triển theo chiều sâu, cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu lớn Tuy nhiên, đối tượng khách hàng mục tiêu vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.4.4 Hoàn thiện hành lang pháp lý
Môi trường pháp lý là rất nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động bao thanh toán Các vấn đề bất cập khi quy định hành lang pháp lý cho dịch vụ này mà các quốc gia như: Bulgari, Áo, Ấn Độ gặp phải là kinh nghiệm quan trọng cho Việt Nam Tại Bulgari, các công ty factoring gặp khó khăn vì không có luật chuyển nhượng các khoản phải thu Còn tại Áo, luật pháp vẫn duy trì điều khoản cấm chuyển nhượng và còn có điều khoản quy định rằng người mua có quyền quyết định các khoản anh ta phải trả có được chuyển nhượng cho bên thứ ba hay không Các đơn vị bao thanh toán tại Bulgari và Áo đều cho rằng các quy định không cung cấp đầy đủ cơ sở pháp lý để các factor có thể đảm nhận rủi ro của người bán hàng trên cơ sở thỏa thuận song phương (Nguyễn Thị Nhàn, 2007, trang 67) Thị trường xuất khẩu phát triển tại Ấn Độ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động bao thanh toán phát triển Tuy nhiên pháp luật điều chỉnh nghiệp vụ này lại không quy định người bán phải thanh toán tiền hàng cho các factor Hiện nay, điều khoản này
đã được bổ sung, nhưng factoring tại Ấn Độ vẫn chưa phát triển đáng kể
1.4.5 Phát triển dịch vụ bảo hiểm tín dụng
Dịch vụ bảo hiểm tín dụng là nhân tố cần thiết phát triển dịch vụ bao thanh toán Nhất là bao thanh toán miễn truy đòi, một dịch vụ rủi ro cao cho đơn vị bao thanh toán Thị trường factoring ở Bỉ, sự cạnh tranh không chỉ giới hạn ở các công
Trang 29ty factoring với nhau mà còn là cuộc chiến giữa các công ty bảo hiểm tín dụng và dịch vụ tài chính liên quan (Nguyễn Thị Nhàn, 2007, trang 76) Được san sẻ rủi ro các đơn vị bao thanh toán tại quốc gia này mạnh dạn tìm kiếm khách hàng tại các thị trường mới, góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng bao thanh toán của quốc gia này
Trong chương 1, khóa luận tốt nghiệp đã giới thiệu khái quát về nghiệp vụ bao thanh toán như: cơ sở ra đời, các khái niệm về bao thanh toán, chức năng, các cách phân loại sản phẩm bao thanh toán phổ biến hiện nay, cũng như phân biệt hoạt động bao thanh toán với các nghiệp vụ tín dụng khác của ngân hàng mà các doanh nghiệp dễ bị nhầm lẫn Đồng thời nêu rõ mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình triển khai nghiệp vụ này cùng các lợi ích và hạn chế mà nghiệp vụ này mang đến cho bên mua, bên bán và đơn vị bao thanh toán Từ đó, khẳng định một lần nữa sự cần thiết phát triển nghiệp vụ bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam Ngoài ra, các kinh nghiệm thành công và bài học thất bại trong triển khai nghiệp
vụ này ở các quốc gia trên thế giới được liệt kê trong Chương 1 cũng là vấn đề quan trọng để NHNN cùng các NHTM Việt Nam rút ra bài học Tất cả các vấn đề này là cơ sở lý luận vững chắc cho sự phân tích, đánh giá thực trạng bao thanh toán tại các NHTM nói chung và Vietcombank nói riêng
Trang 30CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM, KHẢO SÁT THỰC TẾ TẠI VIETCOMBANK GIAI ĐOẠN 2007 – 2011
2.1 Môi trường pháp lý cho hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam
2.1.1 Các văn bản pháp quy hiện hành
Xuất phát từ nhu cầu thị trường, NHNN đã ban hành “Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng” theo Quyết định số 1096/2004/QĐ Đến năm 2008, Quy chế này được sửa đổi và bổ sung một số nội dung theo Quyết định
số 30/2008/QĐ-NHNN Một số quy định cơ bản trong nghiệp vụ bao thanh toán tại Việt Nam hiện nay:
Đơn vị thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán
Tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán là các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng, gồm:
Ngân hàng thương mại Nhà nước
Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng liên doanh
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Công ty tài chính
Điều kiện các khoản phải thu
Những khoản phải phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa/cung cấp dịch
vụ hợp pháp Trong hợp đồng này không có quy định cấm việc chuyển nhượng khoản phải thu Và không thuộc trong những trường hợp dưới đây:
1 Phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng hoá bị pháp luật cấm
2 Phát sinh từ các giao dịch, thoả thuận bất hợp pháp
3 Phát sinh từ các giao dịch, thoả thuận đang có tranh chấp
4 Phát sinh từ các hợp đồng bán hàng dưới hình thức ký gửi
5 Phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng có thời hạn thanh toán còn lại dài hơn 180 ngày
6 Các khoản phải thu đã được gán nợ hoặc cầm cố, thế chấp
7 Các khoản phải thu đã quá hạn thanh toán theo hợp đồng mua, bán hàng
Trang 31 Thời hạn áp dụng
Thông thường thời hạn bao thanh toán căn cứ theo thời hạn còn lại của khoản phải thu nhưng không dài hơn 180 ngày
Phương thức bao thanh toán
Các phương thức được phép sử dụng trong bao thanh toán: bao thanh toán từng lần, bao thanh toán theo hạn mức, đồng bao thanh toán
Bảo đảm cho nghiệp vụ bao thanh toán
Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thỏa thuận áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp bảo đảm cho nghiệp vụ bao thanh toán Các hình thức bảo đảm gồm: ký quỹ, cầm cố, thế chấp tài sản, bảo lãnh và các biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật
Hồ sơ yêu cầu
Hồ sơ đề nghị ngân hàng cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho khoản phải thu gồm có:
Hồ sơ đăng ký: giấy đề nghị cấp hạn mức bao thanh toán, giấy đề nghị bao thanh toán
Hồ sơ về tư cách pháp nhân
Hồ sơ khác theo yêu cầu của ngân hàng
Ngoài các nguồn luật trong nước, hiện nay trên thế giới có 2 Công ước quốc
tế điều chỉnh hoạt động bao thanh toán trên thế giới:
Công ước UNIDROIT về bao thanh toán quốc tế (UNIDROIT
Convention on International Factoring, Ottawa, Canada, 28 May 1988)
Công ước UNIDROIT về bao thanh toán quốc tế ra đời tháng 05/1988 xuất phát từ nhận thức bao thanh toán quốc tế đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển thương mại quốc tế và tầm quan trọng của việc áp dụng chung một quy tắc thống nhất để tạo một khuôn khổ pháp lý chung sẽ tạo điều kiện cho bao thanh toán
Trang 32quốc tế phát triển trong khi vẫn duy trì sự cân bằng hợp lý giữa các bên khi tham gia vào hoạt động này Tính đến tháng 05/2011, Công ước này đã có 15 nước ký, 7 nước phê chuẩn và có hiệu lực, 5 nước tuyên bố thừa nhận Công ước này Công ước chỉ điều chỉnh hoạt động bao thanh toán quốc tế có hiệu lực từ ngày 01/05/1995 tại những quốc gia đã phê chuẩn hoặc thừa nhận công ước
Công ước Liên hợp quốc về việc chuyển nhượng các khoản phải thu
trong thương mại quốc tế (UNCITRAL, tháng 12/2001)
Trên thực tế, có rất nhiều quốc gia không có luật điều chỉnh việc chuyển nhượng các khoản phải thu như Ba Lan, Hungary, Áo… điều này đã gây trở ngại cho hoạt động bao thanh toán Do đó, Hội đồng chung Liên hợp quốc đã thông qua Công ước Liên hợp quốc về việc chuyển nhượng các khoản phải thu trong thương mại quốc tế ngày 12/12/2001 Theo Điều 45 của Công ước thì Công ước sẽ có hiệu lực nếu có 15 nước tham gia kí kết, tuy nhiên hiện nay chỉ mới có ba nước tham gia
kí kết nên Công ước chưa có hiệu lực thi hành
Hiện tại Việt Nam chưa tham gia cả hai công ước này
2.1.2 Rào cản pháp lý đối với hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam
Trên lý thuyết, bao thanh toán là một nghiệp vụ đơn giản, nhưng điều kiện để
nó thực sự đơn giản là được sự hỗ trợ bởi một hành lang pháp lý minh bạch, đầy đủ Chính vì điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay không đáp ứng những yêu cầu trên nên nghiệp vụ bao thanh toán vẫn chưa phổ biến ở Việt Nam
Thứ nhất, theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN, bao thanh toán được định
nghĩa “là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa”
Việc định nghĩa bao thanh toán chỉ là “một hình thức cấp tín dụng” đã khiến toàn bộ nội dung quy chế này lệch ra khỏi bản chất của nghiệp vụ bao thanh toán Quan niệm này không thống nhất với quan niệm phổ biến về bao thanh toán trên thế giới Bên cạnh chức năng tài trợ, đơn vị bao thanh toán còn cung cấp chức năng theo dõi sổ sách, thu nợ tiền hàng và bảo hiểm rủi ro Đây chính là điểm khác nhau
cơ bản của bao thanh toán so với việc cấp tín dụng thông thường Đồng thời, định nghĩa bao thanh toán còn gây khó hiểu cho người sử dụng bởi sự nhập nhằng khi
Trang 33định nghĩa “ bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu” Vì quan hệ tín dụng tách bạch
và khác với quan hệ mua bán
Thứ hai, Một điểm còn yếu trong hệ thống luật của Việt Nam về hoạt động
bao thanh toán được ông Jeroen Kohnstamm nêu ra trong báo cáo của mình tại hội thảo đó là trong hoạt động bao thanh toán sẽ diễn ra một bước quan trọng: “chuyển giao quyền đòi nợ” từ người bán hàng sang đơn vị bao thanh toán nhưng lại không thấy có quy định liên quan nào xác lập mối quan hệ này, như vậy việc chuyển giao này có được thừa nhận không, và trong trường hợp không được thừa nhận thì phải
xử lý như thế nào (Huỳnh Thị Hương Thảo, 2008, Tạp chí Ngân hàng số 19 + 20)
Thứ ba, trong các văn bản pháp luật liên quan đều đề cập chi tiết là việc thực
hiện nghiệp vụ bao thanh toán phải được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận
từ trước trong hợp đồng, điều này đã hạn chế phạm vi hoạt động của các tổ chức bao thanh toán cũng như quyền lợi được sử dụng dịch vụ này của những công ty bán hàng không có thỏa thuận từ trước trong hợp đồng
Thứ tư, tại khoản 6 điều 1 Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN sửa đổi mục d,
đ, e khoản 1 điều 13 của Quy chế 1096 thành như sau:
“d Bên bán hàng gửi văn bản thông báo về hợp đồng bao thanh toán cho bên mua hàng và các bên liên quan, trong đó nêu rõ việc bên bán hàng chuyển giao quyền đòi nợ cho đơn vị bao thanh toán và hướng dẫn bên mua hàng thanh toán cho đơn vị bao thanh toán
đ Bên mua hàng gửi văn bản cho bên bán hàng và đơn vị bao thanh toán xác nhận về việc đã nhận được thông báo và cam kết về việc thực hiện thanh toán cho đơn vị bao thanh toán Trường hợp bên mua hàng không có văn bản cam kết thực hiện thanh toán cho đơn vị bao thanh toán thì việc tiếp tục thực hiện bao thanh toán giữa bên bán và đơn vị bao thanh toán sẽ do hai bên quyết định và tự chịu trách nhiệm khi có rủi ro phát sinh
e Bên bán hàng chuyển giao bảng kê kèm bản gốc hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; chứng từ mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ và các chứng
từ khác liên quan đến các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán Nếu tài liệu nêu trên là bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền thì sẽ do bên bán
Trang 34hàng, đơn vị bao thanh toán thoả thuận và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình khi có rủi ro phát sinh;”
Điều này đã gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng Việt Nam khi thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán Khi người bán gửi văn bản thông báo về hợp đồng bao thanh toán cho bên mua hàng, mà bên mua hàng không đồng ý, không gửi văn bản xác nhận về việc đã nhận thông báo thì sẽ gây khó khăn cho cả người bán và đơn vị bao thanh toán Bởi vì, pháp luật sẽ không thừa nhận dịch vụ bao thanh toán nếu không có sự chấp nhận bằng văn bản của khách hàng phải trả nợ
Thứ năm, một nguyên nhân nữa khiến bao thanh toán chưa được phổ biến ở
Việt Nam là do luật pháp của ta chưa nghiêm Lợi ích của bao thanh toán là chỉ cần
có hợp đồng và các hóa đơn thương mại đã được đóng dấu chuyển quyền sở hữu thì hợp đồng bao thanh toán sẽ được xem là cơ sở pháp lý trong trường hợp có tranh chấp Nhưng ở Việt Nam, Quy chế 1096 chưa thừa nhận mối quan hệ chủ nợ của ngân hàng trong nghiệp vụ bao thanh toán Hơn nữa, thủ tục tố tụng kinh tế và dân
sự còn phức tạp: thời gian kéo dài, khó khăn trong thu thập chứng cứ, tài liệu, chi phí tốn kém, công tác thi hành án còn nhiều bất cập Vì vậy việc khởi kiện tại Tòa
án chưa thực sự là phương thức hiệu quả để bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ
Thứ sáu, Chưa có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan chức năng Hiện nay
các cơ quan như: NHNN, Bộ Tài chính, Tòa án vẫn chưa có nhận thức đồng bộ về bao thanh toán Điều này khiến cho các NHTM dè dặt khi giới thiệu sản phẩm mới cho khách hàng, bởi đây không chỉ là nghiệp vụ ngân hàng mà còn liên quan đến các thủ tục về thuế, kiểm toán Hơn nữa, khi xảy ra tranh chấp thì ngân hàng sẽ là người chịu thiệt vì không thể giải quyết nhanh chóng và hợp lý khi Tòa án chưa hoàn thiện kiến thức về bao thanh toán quốc tế Đây cũng là một nguyên nhân khiến cho bao thanh toán chưa được hoàn thiện và phát triển ở nước ta
2.2 Tình hình triển khai hoạt động bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011
2.2.1 Số lượng các Ngân hàng cung cấp bao thanh toán
Ngày 06/09/2004, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định 1096/2004/QĐ – NHNN về nghiệp vụ bao thanh toán, đánh dấu một bước quan trọng trong việc triển khai dịch vụ này tại Việt Nam
Trang 35Tính từ thời điểm đó đến cuối năm 2011, cả nước có 34 ngân hàng được NHNN cấp phép cho thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán gồm 21 NHTM Việt Nam Khởi đầu là các ngân hàng ACB, Techcombank, VCB, Sacombank, OCB (2005) VietABank, NamABank, Habubank, VIB (2006); HDBank, SCB, Maritime Bank, SeABank, Eximbank (2007); DaiABank, Military Bank, ABBank (2008), Agribank, VietinBank (2009); TienPhong Bank, LienVietBank (2010)… và nhiều chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác Hiện nay, nước ta có 3 NHTM là thành viên của Hiệp hội FCI là VCB, ACB và Techcombank
2.2.2 Mặt hàng bao thanh toán
Các NHTM Việt Nam thực hiện bao thanh toán cho các mặt hàng không nằm trong danh mục hàng hóa cấm giao dịch theo quy định của pháp luật, hạn chế bao thanh toán cho các mặt hàng thực phẩm tươi sống (trừ mặt hàng thủy sản đông lạnh), động vật sống, gia cầm sống, rau củ quả tươi vì đây là các mặt hàng dễ hư hỏng, rất dễ dẫn đến rủi ro, tranh chấp giữa các bên Các ngân hàng ưu tiên bao thanh toán cho các mặt hàng có chất lượng ổn định, ít hư hỏng, thiếu hụt trong quá trình vận chuyển Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp sử dụng bao thanh toán của ngân hàng đối với các mặt hàng giấy tập, gỗ, hàng đông lạnh, dệt may hóa chất, trang trí nội thất
2.2.3 Các thị trường bao thanh toán chủ yếu
Đối với bao thanh toán quốc tế, thị trường chủ yếu các NHTM Việt Nam thực hiện bao thanh toán là Hoa Kỳ, Hồng Kông, Ba Lan, Đức, Nhật, Singapore Đây là những thị trường mang tính ổn định và có uy tín, mặt khác đây là thị trường truyền thống của các doanh nghiệp Việt Nam, có sự tin tưởng lẫn nhau nên xu hướng chuyển từ thanh toán bằng L/C sang thanh toán bằng T/T trả chậm Các NHTM hạn chế hoặc không cung cấp bao thanh toán cho các doanh nghiệp với thị trường xuất khẩu là các quốc gia bất ổn về kinh tế - chính trị, bị cấm vận kinh tế 2.2.4 Doanh số bao thanh toán tại Việt Nam
Theo số liệu thống kê của FCI, doanh số bao thanh toán của Việt Nam năm
2011 là 67 triệu Euro, chỉ tăng 2 triệu euro so với năm 2010 Trong giai đoạn 2007 – 2009, doanh số bao thanh toán cũng đã tăng nhanh đạt 43 triệu Euro, 85 triệu Euro
và 95 triệu Euro lần lượt trong các năm 2007, 2008, 2009
Trang 36Bảng 2.1: Doanh số bao thanh toán tại Việt Nam (2007 – 2011)
Đơn vị: triệu euro, %
(Nguồn: Annual review 2011, Hiệp hội bao thanh toán FCI)
Nhìn vào Bảng 2.1 ta thấy: giai đoạn 2007 – 2009 doanh số bao thanh toán ngày càng tăng, nhất là năm 2008 doanh số bao thanh toán của Việt Nam tăng 97,67% so với năm 2007, tương đương 42 triệu euro Doanh số bao thanh toán của nước ta tăng liên tục trong giai đoạn này là do nền kinh tế trong nước đang trên đà phát triển, xuất khẩu tăng trưởng cao, nhu cầu bao thanh toán nhiều Tuy nhiên, tốc
độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán năm 2009 giảm xuống còn 11,76%, vì thời gian này Việt Nam bắt đầu chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng nên các doanh nghiệp xuất khẩu ít có nhu cầu
sử dụng bao thanh toán, tuy nhiên doanh số bao thanh toán quốc tế vẫn được duy trì mức 5 triệu Euro như năm 2008 Còn bản thân nước ta vẫn chưa hội nhập sâu rộng nên ít bị tác động, hoạt động sản xuất kinh doanh nội địa vẫn diễn ra tương đối bình thường nên doanh số bao thanh toán nội địa vẫn tăng 10 triệu Euro
Năm 2010, doanh số bao thanh toán giảm mạnh, từ 95 triệu Euro xuống còn
65 triệu Euro Điều này có thể lý giải là do lãi suất cho vay trong năm 2010 tăng cao (có khi lên đến 18 – 19%) trong khi lãi suất năm 2009 là 9 – 9,5% Vì lãi suất cho vay tăng cao nên chi phí dịch vụ bao thanh toán cũng tăng tương ứng Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút doanh số bao thanh toán Tuy nhiên, bao thanh toán XNK trong năm này tăng gấp 5 lần so với năm 2009 là do chính sách khuyến khích tăng trưởng tín dụng hỗ trợ xuất khẩu (bao gồm bao thanh toán quốc tế) của NHNN Hơn nữa, xuất khẩu gặp nhiều rủi ro hơn nên các doanh nghiệp xuất khẩu muốn sử dụng bao thanh toán để nhanh thu hồi vốn, tiếp tục sản xuất Mặt khác, các
Trang 37doanh nghiệp XNK thường có tỷ suất lợi nhuận cao nên vẫn có thể sử dụng bao thanh toán để bảo đảm rủi ro tín dụng trong thương mại; trong khi đó các doanh nghiệp sản xuất trong nước gặp không ít khó khăn do biến động về lạm phát và tỷ giá nên khó có thể sử dụng dịch vụ bao thanh toán Điều này đã lý giải tại sao tổng doanh số bao thanh toán giảm, trong khi doanh số bao thanh toán quốc tế thì tăng 400% trong năm 2010
Sang năm 2011, tình trạng chạy đua lãi suất vẫn còn trong 3 quý đầu năm mặc dù NHNN đã ban hành Thông tư số 02/2011/TT-NHNN ngày 03/03/2011 quy định mức lãi suất huy động VND tối đa của các TCTD là 14% Vì vậy NHNN đã tiếp tục ban hànhThông tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28/09/2011 nhằm kiên quyết hạ lãi suất huy động xuống 14% Nhờ sự can thiệp cứng rắn của NHNN thị trường tín dụng cuối năm 2011 đã dần ổn định hơn Nhìn chung, mặt bằng lãi suất cho vay của năm 2011 vẫn cao, dao động trong khoảng 17% – 20% Lãi suất tín dụng giảm không đáng kể dẫn đến chi phí bao thanh toán vẫn cao nên doanh số bao thanh toán của thị trường Việt Nam năm 2011 chỉ tăng 2 triệu euro
Xu hướng phát triển của bao thanh toán được thể hiện qua Biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1: Doanh số bao thanh toán tại Việt Nam (2007 – 2011)
(Nguồn: Annual review 2011, Hiệp hội bao thanh toán FCI)
Mặc dù chiếm tỷ trọng chưa đáng kể nhưng doanh số bao thanh toán quốc tế dần chiếm lại vị thế trong các năm qua, nhất là giai đoạn 2009 – 2010 doanh số bao thanh toán tăng từ 5 triệu Euro lên 25 triệu Euro, chiếm tỷ trọng 38,46% năm 2010 Điều này chứng tỏ các ngân hàng đang ngày càng quan tâm phát triển bao thanh toán quốc tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu đồng thời cũng cho thấy khả năng thực hiện nghiệp vụ này của các NHTM ngày càng nâng cao Đồng thời chính
ĐVT: triệu euro
Trang 38sách hỗ trợ phát triển tín dụng xuất nhập khẩu của NHNN đã có những tác động tích cực đến hoạt động bao thanh toán quốc tế cho nên doanh số bao thanh toán XNK vẫn duy trì tỷ trọng 37,31% trong năm 2011 Doanh số bao thanh toán nội địa luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số bao thanh toán (trên 94% giai đoạn 2007 –
2009 và 61,54% năm 2010) Điều này là do bao thanh toán nội địa dễ dàng thực hiện và ít tiềm ẩn rủi ro hơn bao thanh toán quốc tế
Nếu so sánh với một số nước Châu Á, thì doanh số bao thanh toán của Việt Nam vẫn còn rất thấp
Bảng 2.2: Doanh số bao thanh toán của một số quốc gia châu Á (2007 - 2011)
Đơn vị tính: triệu euro
(Nguồn: Annual review 2011, Hiệp hội bao thanh toán FCI)
Hoạt động bao thanh toán phát triển từ rất sớm ở các nước trong khu vực như: Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia Đây lại là các nước có nền xuất khẩu phát triển nên doanh số bao thanh toán luôn đạt quy mô hơn hẳn thị trường Việt Nam Tuy nhiên nền kinh tế phát triển cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều biến động lớn của doanh số bao thanh toán tại các quốc gia này trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới Điển hình là Trung Quốc, doanh số bao thanh toán của nước này năm 2011 là 274.870 triệu Euro, gấp 8,3 lần con số này của năm 2007, nhưng chủ yếu sự tăng trưởng này là nhờ sự phục hồi kinh tế trong năm 2010 và 2011 Tuy doanh số bao thanh toán của Việt Nam tăng trưởng khá cao và ổn định, nhưng quy
mô của bao thanh toán của Việt Nam so với các nước châu Á khác là rất nhỏ bé
2.3 Tình hình triển khai hoạt động bao thanh toán tại Vietcombank giai đoạn 2007 – 2011
2.3.1 Giới thiệu chung về Vietcombank
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trước đây, nay là Ngân hàng TMCP
2007 2008 2009 2010 2011 Trung Quốc 32.976 55.000 67.300 154.550 274.870
Singapore 3.270 4.000 4.700 5.800 6670
Thái Lan 2.240 2.367 2.107 2.095 3080
Trang 39Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) chính thức đi vào hoạt động ngày 01/04/1963, với tổ chức tiền thân là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Là Ngân hàng thương mại Nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chính thức hoạt động với tư cách là một Ngân hàng TMCP vào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Ngày 30/6/2009, cổ phiếu Vietcombank (mã chứng khoán là VCB) chính thức được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM
Trải qua 48 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank đã có những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vai trò của một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế trong nước
2.3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank từ năm 2007 – 2011
Vì đặc thù của ngành ngân hàng là chịu nhiều ảnh hưởng từ chính sách vĩ mô liên quan đến tỷ giá, lãi suất, lạm phát, cung tiền… nên biến động của nền kinh tế trong thời gian qua ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các NHTM Tuy nhiên, với tiềm lực tài chính vững mạnh và bề dày kinh nghiệm 48 năm hoạt động, VCB đã vượt qua nhiều thách thức và phát triển ổn định hơn
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh của VCB (2007 – 2011)
Đơn vị tính: tỷ đồng
Huy động vốn 144.810 159.989 169.457 208.320 241.000
Dư nợ tín dụng 97.532 112.793 141.621 176.814 209.000 Tổng tài sản 197.408 221.951 255.496 307.496 367.000 Lợi nhuận sau thuế 2.407 2.728 3.945 4.236 5.697
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2011 và định hướng 2012)
Bảng 2.3 cho ta thấy các kết quả hoạt động kinh doanh của VCB tăng trưởng đồng đều các năm qua Lợi nhuận sau thuế tăng trưởng ở mức độ trung bình là 21,7%, một tốc độ tăng trưởng khá cao so với mức tăng trưởng bình quân của tổng tài sản bình quân là khoảng 16% Sau 2 năm tăng trưởng nóng (trên 24% trong năm
2009 và 2010), hoạt động tín dụng năm 2011 có chính sách thận trọng hơn Tính
Trang 40đến hết năm 2011 tổng dư nợ vào khoảng 209 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 18% dưới mức tối đa là 20% do NHNN quy định Đồng thời VCB áp dụng hệ thống phân loại
nợ theo Điều 7 Quyết định 493 (cả định tính và định lượng) nên phản ánh chính xác hơn các khoản vay, vì vậy tỷ lệ nợ xấu năm 2011 giảm xuống còn 2,03%
2.3.3 Thực trạng bao thanh toán tại Vietcombank
2.3.3.1 Đối tượng khách hàng và thị trường
Từ tháng 10/2005 VCB trở thành thành viên của hiệp hội thanh toán quốc tế FCI và cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho các hợp đồng thương mại nội địa và cả hợp đồng thương mại XNK với hầu hết các quốc gia trên thế giới Đối tượng khách hàng sử dụng bao thanh toán tại VCB thuộc hai nhóm chính:
Doanh nghiệp mua hàng
Muốn mua hàng với phương thức thanh toán T/T trả chậm trong vòng 90 ngày
2.3.3.2 Sản phẩm bao thanh toán
Hiện nay, dịch vụ bao thanh toán của VCB là đa dạng nhất hệ thống NHTM Việt Nam, với đầy đủ hai hình thức bao thanh toán có truy đòi và miễn truy đòi Các sản phẩm này thuộc 3 nhóm chính:
Nhóm sản phẩm bao thanh toán xuất khẩu
Sản phẩm nhập khẩu cơ bản (BASIC IMPORT): cung cấp dịch vụ theo dõi khoản phải thu và thu nợ
Sản phẩm nhập khẩu tiêu chuẩn (STANDAR IMPORT): cung cấp dịch vụ theo dõi khoản phải thu, thu nợ, cho vay ứng trước và đảm bảo rủi ro tín dụng (do đại lý bên mua cung cấp)
Sản phẩm ưu đãi (PREMIUM DOMESTIC): cung cấp dịch vụ theo dõi khoản phải thu, thu nợ và cho vay ứng trước
Nhóm sản phẩm bao thanh toán nhập khẩu: